Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam

Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam

Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật với tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nó luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các quan hệ xã hội nói chung và đến các đối tượng mà nó điều chỉnh nói riêng. Để pháp luật phát huy được vai trò, tác dụng và giá trị to lớn của nó thì cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật có tính khoa học, đảm bảo tác động có hiệu quả đến các đối tượng mà pháp luật cần điều chỉnh.

Xét xử vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự đặc biệt quan trọng do Toà án thực hiện trên cơ sở kiểm tra, đánh giá toàn bộ các tình tiết của vụ án theo những quy định của BLTTHS để chứng minh tội phạm, giải quyết vấn đề TNHS, định tội danh và QĐHP đối với người bị kết án. Trong giai đoạn này, QĐHP là hoạt động không thể thiếu sau khi đã định tội danh mà kết quả là HĐXX nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam tuyên người bị kết tội một hình phạt cụ thể. Trong hoạt động thực tiễn, để QĐHP đúng, phát huy được hiệu quả và mục đích của hình phạt không phải là công việc đơn giản vì HĐXX (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân) không bao giờ QĐHP lại dựa trên một khuôn mẫu chung, mang tính định sẵn trong mối quan hệ với tính đa dạng của các loại hành vi phạm tội. Đặc biệt, từ khi BLHS đầu tiên ra đời năm 1985, án lệ không còn được coi là nguồn của pháp luật hình sự thì càng không thể có một hình phạt mẫu với những thông số cho sẵn để hoạt động QĐHP chỉ việc lắp ráp một cách máy móc. Hệ thống hình phạt đa dạng, với các mức độ nghiêm khắc khác nhau được quy định trong BLHS tuy đã phát huy được tác dụng tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng việc quy định khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tù có thời hạn vẫn còn rộng nên dễ tạo ra sự tuỳ tiện trong QĐHP, không đảm bảo công bằng giữa các trường hợp phạm tội. Mặt khác, hoạt động QĐHP cũng không cho phép Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được QĐHP một cách chủ quan, thiếu căn cứ pháp lý hay đi tìm tội danh cho một hình phạt đã có sẵn… vì kết quả sẽ là sự xâm hại các quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc pháp chế của Luật hình sự trong một Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Để thực hiện đúng nguyên tắc xử lý tại Điều 3 BLHS 1999 (Điều 3 BLHS 2015) thì ngoài việc mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, khi truy cứu TNHS phải định tội danh đúng. Định tội danh đúng dẫn đến QĐHP đúng. Muốn QĐHP đúng thì cần phải tuân thủ các nguyên tắc QĐHP và phải bảo đảm đầy đủ các căn cứ QĐHP. Việc Toà án tuyên một hình phạt đảm bảo đầy đủ các căn cứ QĐHP có ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý hết sức to lớn. QĐHP đúng, đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật hình sự, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chính là để bảo vệ pháp chế và chế độ XHCN, là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được các mục đích của hình phạt. Nhìn chung, QĐHP đúng không chỉ có tác dụng đối với người phạm tội mà còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phát huy tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung.

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả nước, tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã chuyển biến tích cực, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, diện mạo xã hội có nhiều thay đổi rõ rệt nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm cho tình hình tội phạm ngày một gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất và mức độ. Một bộ phận thanh thiếu niên hư hỏng, không lo tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ, có lối hành xử theo kiểu xã hội đen, côn đồ, hung hãn; người phạm tội không chỉ trẻ hóa về độ tuổi, sự tinh vi, xảo quyệt trong hành vi mà còn lập băng nhóm phạm tội có tổ chức như: trộm cắp, cướp giật, giết người, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy…. và thậm chí có nhiều loại tội phạm trước đây ít hoặc không thực hiện thì nay có xu hướng gia tăng như: nhóm tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, xân phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng …

Trước diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng, vấn đề nâng cao chất lượng xét xử, áp dụng đúng các căn cứ QĐHP nhằm phục vụ cho đấu tranh và phòng chống tội phạm được đặt ra như là một yêu cầu cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Thực tiễn xét xử cho thấy các cấp xét xử vẫn chưa phải tuân thủ và áp dụng đúng các căn cứ QĐHP. TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng không phải là ngoại lệ, vẫn còn một số trường hợp Tòa án để xảy ra sai sót, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại… Nguyên nhân của những sai sót đó thì nhiều, trong đó phải kể đến một số nguyên nhân chính như: quy định của pháp luật còn hạn chế, bất cập, việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật chưa được kịp thời, kinh nghiệm và năng lực của những người tiến hành tố tụng chưa đáp ứng được yêu cầu …

Nhằm góp phần bảo đảm áp dụng hình phạt đúng, tác giả chọn đề tài “Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sỹ luật học. Đề tài này nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP theo pháp luật hình sự trong quá trình xét xử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Từ đó, khắc phục những vướng mắc, thiếu sót trong thực tiễn QĐHP của Tòa án, đưa ra các giải pháp bảo đảm QĐHP đúng đối với người phạm tội là hết sức cần thiết. Ngoài ra, nghiên cứu hoàn thiện quy định về các căn cứ QĐHP cũng là một nhiệm vụ cấp thiết để xây dựng pháp luật hình sự công bằng, nhân đạo, dân chủ và công minh trong Nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Xuất phát từ tình hình nghiên cứu về các căn cứ QĐHP, tác giả nhận thấy cần có sự nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về các căn cứ QĐHP được quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 và Điều 50 BLHS năm 2015. Dựa trên kết quả nghiên cứu về lý luận và đánh giá thực tiễn vận dụng các căn cứ QĐHP trong hoạt động xét xử của hai cấp Toà án thành phố Đà Nẵng, đưa ra những ý kiến đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự có liên quan đến các căn cứ QĐHP và hoàn thiện quy định về căn cứ QĐHP tại Điều 45 BLHS năm 1999 (Điều 50 BLHS năm 2015). Cũng qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động QĐHP của Toà án để đạt được mục đích của hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề sau:

– Nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện một số vấn đề lý luận chung về các căn cứ QĐHP theo pháp luật hình sự Việt Nam.

– Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP trong quá trình xét xử vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để tìm ra những bất cập của pháp luật hình sự hiện hành về các căn cứ QĐHP.

– Nghiên cứu những bất cập của pháp luật hình sự hiện hành, tác giả đưa ra các giải pháp bảo đảm vận dụng các căn cứ QĐHP đúng trong xét xử các vụ án hình sự.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, quan điểm về QĐHP, căn cứ QĐHP. Quy định của pháp luật về căn cứ QĐHP và thực tiễn áp dụng căn cứ QĐHP trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Bởi vậy, luận văn lấy các quan điểm khoa học của khoa học luật tố tụng hình sự, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta, thực tiễn xét xử hình sự của TAND hai cấp tại thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Để đạt được mục đích đã đề ra, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là những quy định của pháp luật hình sự về các căn cứ QĐHP tại Điều 45 BLHS năm 1999 (Điều 50 BLHS năm 2015). Trong đó, tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận, quan điểm về QĐHP, căn cứ QĐHP ở Việt Nam. Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về căn cứ QĐHP và về thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP trên địa bàn TP Đà Nẵng của Toà án trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án hình sự từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực (ngày 01/7/2000) đến nay. Về thời gian trong 5 năm (2012- 2016), qua đó chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất ý kiến hoàn thiện các căn cứ QĐHP nhằm tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động QĐHP của Toà án đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

+ Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – LêNin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và Nhà nước pháp quyền; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tội phạm, xử lý người phạm tội; Chính sách hình sự, chính sách nhân đạo, các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam; các quy định của BLHS năm 1999 về QĐHP và căn cứ quyết định hình phạt và các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 1999.

+ Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn áp dụng căn cứ QĐHP trong hoạt động QĐHP của TAND hai cấp TP Đà Nẵng từ khi BLHS năm 1999 đến nay.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: Phương pháp lich sử, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp logic, phương pháp khảo sát thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia,phỏng vấn trực tiếp cán bộ làm công tác xét xử tại Toà án.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Các căn cứ QĐHP là những vấn đề được khá nhiều tác giả nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Thực tế đó đã tạo ra những thuận lợi nhất định cho việc nghiên cứu đề tài nhưng cũng chính là khó khăn lớn đối với tác giả vì sẽ không tránh khỏi sự trùng lặp về những kiến thức pháp luật hình sự cơ bản đã được thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý. Mặc dù vậy, dựa trên những nghiên cứu lý luận về QĐHP, tìm hiểu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về căn cứ QĐHP và kết quả đánh giá thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP trong hoạt động xét xử VAHS của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng nhằm góp phần nhận thức đúng các căn cứ QĐHP và tầm quan trọng của nó. Luận văn là tài liệu tham khảo để xây dựng văn bản hướng dẫn áp dụng đúng và thống nhất pháp luật; Xây dựng tài liệu tập huấn; có thể tham khảo trong công tác giảng dạy về luật học; Chỉ ra những sai lầm trong thực tiễn vận dụng và nguyên nhân của việc áp dụng chưa đúng các căn cứ QĐHP.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Điểm mới quan trọng nhất của luận văn là đưa ra các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ QĐHP, bao gồm: Yêu cầu thực hiện đúng các nguyên tắc QĐHP; Yêu cầu của cải cách tư pháp; Yêu cầu bảo vệ quyền con người; Yêu cầu phòng và chống tội phạm; Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ QĐHP gồm: Ban hành các văn bản hướng dẫn, tập huấn thi hành BLHS 2015; Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về các căn cứ QĐHP; Tăng cường năng lực người tiến hành tố tụng, Luật sư; Tăng cường giám đốc, kiểm tra và tổng kết công tác xét xử nói chung việc áp dụng các căn cứ QĐHP nói riêng; Xây dựng án lệ và phổ biến giáo dục pháp luật.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 03 chương.

Chương 1: Những vẫn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về căn cứ quyết định hình phạt

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

    1. 1.1. Những vấn đề lý luận về căn cứ quyết định hình phạt

1.1.1. Khái niệm và các nguyên tắc của quyết định hình phạt

1.1.1.1. Khái niệm quyết định hình phạt

Với vị trí là một chế định quan trọng của Luật hình sự, là một hoạt động cơ bản của HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, QĐHP được xác định là một khái niệm pháp lý cụ thể. Tuy nhiên, điểm đáng nói là cả BLHS năm 1999 và BLTTHS năm 2003 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành hai bộ luật trên đều không đề cập đến khái niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ tồn tại trong lý luận và được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học. Thực tế này đã phần nào làm cho khái niệm QĐHP chưa đạt được sự thống nhất cao trong khoa học pháp lý hình sự. Nhưng, có thể khẳng định rằng, về cơ bản các cách hiểu đều thể hiện sự đồng nhất về nội dung (bản chất) của khái niệm QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội.

QĐHP là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử), nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho chính cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS.

1.1.1.2. Các nguyên tắc của quyết định hình phạt

Có thể định nghĩa các nguyên tắc QĐHP như sau: “Các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng xuất phát, tư tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng chế tài luật hình sự đối với người phạm tội” [51, tr.387]

1.1.2. Khái niệm và vai trò của căn cứ quyết định hình phạt

1.1.2.1. Khái niệm căn cứ quyết định hình phạt

“Căn cứ QĐHP là những đòi hỏi cụ thể, có tính khách quan, do Bộ BLHS quy định mà HĐXX bắt buộc phải tuân thủ để không chỉ đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách khách quan, đúng pháp luật mà còn nhằm đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất khi áp dụng đối với người phạm tội bị kết án”.

  1.1.2.2. Vai trò của căn cứ quyết định hình phạt

Dựa vào các đặc điểm và khái niệm nêu trên, có thể thấy các căn cứ QĐHP có những vai trò sau: Căn cứ QĐHP là cơ sở pháp lý để Tòa án QĐHP tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Căn cứ QĐHP là điều kiện cần thiết để khắc phục tình trạng tuỳ tiện, thiếu thống nhất khi QĐHP, đồng thời đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ pháp lý của hoạt động QĐHP; Việc tuân thủ căn cứ QĐHP là điều kiện tiên quyết để đạt mục đích của hình phạt.

    1. 1.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt

1.2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt chung

Các căn cứ QĐHP được quy định tại Điều 45 BLHS 1999: “Khi QĐHP, Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS”.

1.2.1.1. Căn cứ vào quy định của BLHS

Căn cứ vào quy định của BLHS khi QĐHP là phải căn cứ vào các quy định của cả Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS có liên quan đến việc QĐHP trong trường hợp cụ thể đó. Sau khi xác định bị cáo có phạm tội theo điều, khoản cụ thể của BLHS, để QĐHP đúng cần phải căn cứ vào quy định của BLHS như sau: Căn cứ vào quy định về nguyên tắc xử lý tại Điều 3 BLHS; Căn cứ vào quy định về mục đích của hình phạt tại Điều 27 BLHS; Căn cứ quy định về các hình phạt tại các điều từ Điều 28 đến Điều 40 BLHS; Căn cứ quy định về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS tại Điều 46 và Điều 48 BLHS; Căn cứ quy định về quyết định hình phạt trong một số trường hợp cụ thể tại các điều 47, 50, 52 và 53 BLHS (nếu có); Căn cứ quy định về miễn hình phạt tại Điều 54 BLHS (nếu có); Căn cứ quy định về tội phạm cụ thể tại Điều luật tương ứng trong Phần các tội phạm; Căn cứ vào các quy định khác của BLHS.

1.2.1.2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm đã cho thấy các trường hợp phạm tội diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp và không bao giờ giống nhau một cách tuyệt đối, kể cả các trường hợp cùng phạm một tội cụ thể cũng luôn khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội. Do đó, để QĐHP đối với mỗi hành vi phạm tội cụ thể, luật bắt buộc HĐXX phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đây là yêu cầu có tính chất quyết định đến khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở các mức độ khác nhau khi lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người bị kết án. Nếu chỉ dựa vào căn cứ thứ nhất là các quy định của BLHS thì chưa thể quyết định được loại và mức hình phạt tương xứng với từng trường hợp phạm tội cụ thể. Chính vì vậy, nhà làm luật đã xác định căn cứ thứ hai của việc QĐHP là khi QĐHP, Tòa án phải “cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội”.

1.2.1.3. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội

Nhân thân người phạm tội là một phạm trù lịch sử, bao gồm tổng hợp các đặc điểm về xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh học, nói lên tính chất của con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị quy định trong BLHS là tội phạm. Các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.

1.2.1.4. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

“Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS với tính chất là một căn cứ QĐHP là những tình tiết được quy định trong phần chung của BLHS, có giá trị làm giảm hoặc tăng mức độ TNHS của người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt để tạo tiền đề cho việc cá thể hoá hình phạt đối với người phạm tội được chính xác”.

1.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt

1.2.2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

QĐHP với người chưa thành niên phạm tội là trường hợp đặc biệt. Tính chất đặc biệt của trường hợp này là ở chỗ hình phạt được quy định nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết khác tương đương và mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức tuổi của người phạm tội. Sở dĩ người chưa thành niên được hưởng chính sách giảm TNHS của Nhà nước khi có hành vi phạm tội vì họ có những đặc điểm đặc biệt về nhân thân.

1.2.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về căn cứ quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự

QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng với người phạm tội. Nói chung, về nguyên tắc khi QĐHP, Tòa án chỉ được phép lựa chọn loại và mức hình phạt đã được quy định cụ thể tại khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Bởi lẽ, khi xây dựng luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của những trường hợp phạm tội khác nhau để phân ra thành những tội phạm khác nhau và các khung hình phạt khác nhau. BLHS nước ta không quy định các khung hình phạt cứng, nghĩa là chỉ có một mức hình phạt cố định để áp dụng cho tội phạm, mà bao giờ trong mỗi khung hình phạt cũng có mức tối thiểu và tối đa. Điều này cho phép Tòa án có thể có điều kiện lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể.

Kết luận Chương 1

Quyết định hình phạt là một chế định quan trọng của luật hình sự, một hoạt động không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của Tòa án. Khi QĐHP, HĐXX dựa trên cơ sở xác định đúng TNHS của bị cáo để quyết định một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhằm đảm bảo đạt được các mục đích của hình phạt. Để quyết định được một hình phạt như vậy, đòi hỏi các thành viên của HĐXX phải nhận thức rõ bản chất, mục đích của QĐHP. Chính vì vậy, trong chương này, tác giả đã nêu lên khái niệm, các nguyên tắc, các quy định của BLHS và các căn cứ của QĐHP, trong đó tập trung làm sáng tỏ các nội dung thuộc phạm vi của các căn cứ QĐHP. Đây là vấn đề chưa được các công trình nghiên cứu về căn cứ QĐHP trước đây giải quyết triệt để. Dựa trên các kết quả nghiên cứu đó, tác giả đưa ra khái niệm QĐHP là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử), nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định áp dụng cho chính cá nhân người phạm tội bị kết án, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS.

Vận dụng đúng chế định căn cứ QĐHP có vai trò trong việc đạt được các mục đích của hình phạt, đảm bảo hiệu quả của hình phạt, tính khả thi của hệ thống hình phạt, đồng thời góp phần giữ vững và tăng cường pháp chế trong Nhà nước pháp quyền XHCN.

Xuất phát từ mục đích của hình phạt và tính thống nhất của pháp chế XHCN, hoạt động QĐHP bắt buộc phải được thực hiện dựa trên các căn cứ nhất định đã được luật hình sự quy định. Theo tác giả, căn cứ QĐHP là những đòi hỏi cụ thể, có tính khách quan, do BLHS quy định mà HĐXX bắt buộc phải tuân thủ để không chỉ đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách khách quan, đúng pháp luật mà còn nhằm đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất khi áp dụng đối với người phạm tội bị kết án. Như vậy, căn cứ QĐHP chính là cơ sở pháp lý có tính bắt buộc Tòa án chỉ dựa vào đó mới quyết định được hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Với vị trí là cơ sở pháp lý của hoạt động QĐHP, căn cứ QĐHP nhằm khắc phục tình trạng tuỳ tiện, thiếu thống nhất khi QĐHP, đồng thời đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ pháp lý của hoạt động QĐHP. Ngoài ra, việc tuân thủ căn cứ QĐHP là điều kiện tiên quyết để đạt được các mục đích của hình phạt. Những ý nghĩa này đã khẳng định vị trí, tầm quan trọng của căn cứ QĐHP đến tính đúng đắn của hoạt động QĐHP nói riêng và hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án nói chung. Chính vì vậy, cùng với sự hình thành và phát triển của chế định QĐHP, quy định về căn cứ QĐHP trong pháp luật hình sự Việt Nam cũng ngày càng được hoàn thiện hơn.

Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC CĂN CỨ

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠTTẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Tổng quan kết quả áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng

2.1.1. Kết quả thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng

Thực tiễn áp dụng căn cứ QĐHP của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng là một căn cứ khách quan để đánh giá hiệu quả của hoạt động QĐHP trong công tác xét xử tại nơi này. Thực tiễn đó đã cho thấy trong một số trường hợp, việc áp dụng các căn cứ QĐHP của HĐXX vẫn mắc phải những sai lầm nhất định nên đã làm cho việc QĐHP không chính xác. Bên cạnh số ít những sai lầm trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội thì các sai sót chủ yếu là về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS.

2.1.2. Đánh giá kết quả áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng

Hình phạt được áp dụng đối với người bị kết án đã thể hiện được tính giáo dục, phòng ngừa chung, đáp ứng tốt yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hiện nay. Về tổng thể, các hình phạt được áp dụng tương xứng đối với các trường hợp phạm tội cụ thể đã góp phần khẳng định chất lượng hoạt động xét xử, được đông đảo dư luận đồng tình.

Bảng 2.2. Tổng hợp xét xử và các hình phạt được áp dụng

của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016

NămSố bị cáo bị xét xửCác hình phạt được áp dụng
Cảnh cáoPhạt tiềnCải tạo không giam giữTrục xuấtTù có thời hạnChung thânTử hình
20121.236101512001.1970101
20131.147122219001.0920101
20141.088152016001.0350101
20151.213111821001.1610200
20161.380142125001.3190001
Tổng cộng6.064629693005.8760504
    1. 2.2. Những vi phạm, sai lầm trong việc áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng và nguyên nhân

2.2.1. Những vi phạm, sai lầm trong việc áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng

2.2.1.1. Sai lầm trong việc áp dụng các quy định của BLHS

2.2.1.2. Sai lầm trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội

2.2.1.3. Áp dụng chưa đúng, chưa đầy đủ quy định của Bộ luật hình sự

2.2.1.4. Chưa cân nhắc đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

QĐHP quá nhẹ là việc Tòa án đã quyết định áp dụng loại và mức hình phạt nhẹ hơn so với loại và mức hình phạt mà lẽ ra người phạm tội phải chịu theo quy định của pháp luật.

2.2.1.5. Chưa xem xét đầy đủ, chưa đánh giá đúng nhân thân người phạm tội

2.2.1.6. Chưa cân nhắc đầy đủ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng

2.2.1.7. Áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên chưa đúng

2.2.1.8. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự không có đầy đủ căn cứ

2.2.2. Nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm

Thực tiễn áp dụng BLHS 1999 trong những năm qua đã cho thấy tình trạng QĐHP không đúng vẫn còn tồn tại và là một trong những nhược điểm lớn trong hoạt động xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án. Qua tìm hiểu thực tiễn xét xử các VAHS của Tòa án trong 5 năm trở lại đây (từ năm 2012 đến nay) đã cho thấy tình trạng QĐHP không đúng vẫn xảy ra là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất lại xoay quanh vấn đề tuân thủ và áp dụng các căn cứ QĐHP. Mặc dù, các căn cứ QĐHP đã được quy định rất rõ tại Điều 45 BLHS 1999 và được hướng dẫn khá tỷ mỷ trong các Nghị quyết của HĐTP TANDTC nhưng việc áp dụng khi QĐHP vẫn có những sai sót đáng kể. Cụ thể:

2.2.2.1. Nguyên nhân khách quan

BLHS năm 1999 không cụ thể hoá tất cả các hành vi phạm tội trong các điều luật mà quá trình áp dụng luật phải vận dụng các văn bản hướng dẫn dưới luật. Nhiều văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan Trung ương còn chung chung, chưa cụ thể hoá hành vi phạm tội. Từ đó quá trình áp dụng pháp luật chưa được thống nhất trong các CQTHTT và các cấp xét xử.

2.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân của những sai lầm một phần là do HĐXX chưa thực sự tuân thủ các hướng dẫn của TANDTC, chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án nên đã không đánh giá đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án hoặc bỏ sót các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội khi QĐHP. Thực trạng này có một phần nguyên nhân từ năng lực, trình độ của những người tiến hành tố tụng còn hạn chế trong công tác thu thập, đánh giá, xác minh chứng cứ, khám nghiệm hiện trường, giám định… và cũng do một số tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chưa được giải thích rõ rang; Một số trường hợp, mức án do HĐXX tuyên đối với bị cáo có sự chênh lệch so với đề nghị của KSV thực hành quyền công tố tại tòa. Mức hình phạt mà HĐXX áp dụng đối với bị cáo là quá nhẹ, quá nặng hoặc cho bị cáo hưởng án treo là không phù hợp, nên có kháng nghị đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo quan điềm của VKS. Trong những năm gần đây, tỷ lệ kháng nghị của VKS được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận và sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án đạt tỷ lệ cao; Huỷ án để xác định lại tuổi của bị cáo, chủ yếu do bị cáo không có giấy khai sinh hoặc giấy tờ có liên quan khác để chứng minh, trong khi đó tài liệu điều tra thể hiện độ tuổi của bị cáo không thống nhất.

Kết luận Chương 2

QĐHP là hoạt động thực tiễn của Tòa án được thực hiện trên cơ sở tuân thủ căn cứ pháp lý của việc QĐHP. Theo quy định tại Điều 45 BLHS 1999, các căn cứ QĐHP gồm: Quy định của BLHS; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS. Đây là bốn căn cứ có tính bắt buộc HĐXX phải tuân thủ khi QĐHP nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế XHCN, tính hợp pháp của bản án được tuyên và là điều kiện có tính quyết định đến việc đạt được các mục đích của hình phạt. Nghiên cứu nội dung và giá trị của từng căn cứ, tác giả nhận thấy: Dựa vào căn cứ thứ nhất sẽ giúp cho HĐXX xác định được khung hình phạt chính của điều luật quy định về tội phạm dự kiến áp dụng đối với người phạm tội; Dựa vào căn cứ thứ hai sẽ giúp cho HĐXX lựa chọn được loại hình loại hình phạt với mức độ cụ thể tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đến đây, hoạt động QĐHP đã có thể được thực hiện. Nhưng để hình phạt được tuyên phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của người phạm tội và thực sự tương xứng với tình chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng trường hợp phạm tội thì HĐXX phải cân nhắc đúng nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS. Có như vậy mới đảm bảo cá thể hoá hình phạt được chính xác đối với từng hành vi phạm tội cụ thể. Hàng năm TAND hai cấp TP Đà Nẵng đã xét xử, giải quyết các vụ án và QĐHP đúng quy định pháp luật, không để xảy ra tình trạng oan, sai; bỏ lọt tội phạm hoặc cho hưởng án treo không đúng pháp luật, không để án quá hạn luật định, án tuyên không rõ ràng dẫn đến khó thi hành, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa được nâng cao và đi vào thực chất.

Bên cạnh những kết quả đạt được, TAND hai cấp TP Đà Nẵng đã có những vi phạm, sai lầm trong áp dụng các căn cứ QĐHP như: Áp dụng chưa đúng, chưa đầy đủ quy định của BLHS; chưa cân nhắc đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; chưa xem xét đầy đủ, chưa đánh giá đúng nhân thân người phạm tội; chưa cân nhắc đầy đủ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng; áp dụng các căn cứ QĐHP đối với người chưa thành niên chưa đúng; QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS không có đầy đủ căn cứ. Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, cần phải có những yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ QĐHP. Hình phạt áp dụng tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG

CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

    1. 3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt

3.1.1. Yêu cầu thực hiện đúng các nguyên tắc quyết định hình phạt

3.1.2. Yêu cầu của cải cách tư pháp

3.1.3. Yêu cầu bảo vệ quyền con người

3.1.4. Yêu cầu phòng và chống tội phạm

    1. 3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt

3.2.1. Ban hành các văn bản hướng dẫn, tập huấn thi hành Bộ luật hình sự năm 2015

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành BLHS năm 1999 và trước yêu cầu của giai đoạn đổi mới phát triển đất nước, Quốc hội đã ban hành Luật số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 (BLHS năm 2015). Tuy nhiên, ngày 29/6/2016, Quốc hội đã thông qua Nghị Quyết số 144/2016/QH13 về việc “Lùi hiệu lực thi hành của BLHS năm 2015, BLTTHS năm 2015. Việc nhận thức và áp dụng Nghị quyết 144 như thế nào đang rất cần sự hướng dẫn chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Mặc dù Quốc hội đã quyết định lùi hiệu lực thi hành của BLHS 2015 và một số luật có liên quan nhưng kể từ ngày 01/7/2016 vẫn phải thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành BLHS; tiếp tục áp dụng khoản 2 Điều 1 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số 109/2015/QH13; Áp dụng các quy định của BLTTHS 2015 để thi hành các quy định có lợi cho người phạm tội của BLHS 2015 và Nghị quyết số 109/2015/QH13.

3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự về các căn cứ quyết định hình phạt

3.2.3. Tăng cường năng lực của người tiến hành tố tụng, Luật sư

3.2.4. Tăng cường giám đốc, kiểm tra và tổng kết công tác xét xử nói chung việc áp dụng các căn cứ QĐHP nói riêng

3.2.5. Xây dựng án lệ và phổ biến giáo dục pháp luật

Khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định: “TAND tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.” Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010, xác định: “TANDTC có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Quy định về nhiệm vụ của HĐTP TANDTC, tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014 ghi rõ: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của HĐTP TANDTC, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử;”.

Kết luận Chương 3

Trong 5 năm trở lại đây (2012 – 2016), tình hình tội phạm vẫn diễn biến hết sức phức tạp, một số loại tội phạm mới xuất hiện với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt… đã làm cho công tác xét xử của Tòa án gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả giải quyết các VAHS mà TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng đã đạt được trong những năm qua, có thể khẳng định chất lượng, hiệu quả của hoạt động xét xử các VAHS đã được nâng lên rõ rệt. Nhiều vụ án lớn, tính chất phức tạp đã được Tòa án đưa ra xét xử đúng thời hạn, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đáp ứng được đòi hỏi chung của Tòan xã hội. Số lượng các bản án, quyết định của Tòa án có sai phạm và số người bị kết án oan ngày càng giảm mạnh… đã khẳng định sự cố gắng nỗ lực của các Tòa án trong việc thực hiện mục tiêu xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tiễn và với số liệu cụ thể đã cho thấy việc QĐHP của Tòa án cấp sơ thẩm trong 5 năm qua vẫn không tránh không những sai lầm. Nếu so sánh với hoạt động định tội danh thì sai lầm của hoạt động QĐHP chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều. Nguyên nhân của những sai lầm đó chủ yếu là do các Tòa án chưa áp dụng đúng các căn cứ QĐHP được quy định tại Điều 45 BLHS 1999. Trong việc áp dụng các quy định của BLHS, sai lầm chính là không áp dụng hoặc áp dụng không đúng các tình tiết định khung hình phạt. Sai lầm trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội tuy xảy ra không nhiều nhưng cũng đã dẫn tới hai chiều hướng là QĐHP mức quá nghiêm khắc hoặc QĐHP quá nhẹ đối với người phạm tội. Sai lầm chủ yếu và có tính phổ biến trong việc QĐHP là không áp dụng, áp dụng không đúng hoặc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS một cách tuỳ tiện, thiếu căn cứ. Đánh giá chung, những sai lầm khi QĐHP tuy một phần do những nguyên nhân khách quan nhưng cũng không tránh khỏi những nguyên nhân thuộc về chủ quan của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi thực hiện hoạt động QĐHP.

Chỉ ra được những sai lầm và nguyên nhân của những sai lầm chính là cơ sở để tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, đảm bảo áp dụng đúng các căn cứ QĐHP của HĐXX trong thực tiễn, đó là: Hoàn thiện quy định về căn cứ QĐHP tại Điều 45 BLHS 1999 theo hướng đề nghị sửa căn cứ thứ hai của việc QĐHP là: “…cân nhắc mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội…”. Đối với căn cứ thứ ba của việc QĐHP cần có quy định cụ thể các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội. Ngoài ra, không cần quy định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là một căn cứ QĐHP độc lập; Kiến nghị áp dụng căn cứ thực tiễn của việc QĐHP là: “Khi QĐHP, Tòa án cần tham khảo các bản án mẫu (án lệ) đã được thừa nhận chung do TANDTC tập hợp và phát hành”; Nâng cao ý thức pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong việc áp dụng các căn cứ QĐHP.

KẾT LUẬN

QĐHP là một trong nhiều chế định của luật hình sự, có giá trị đặc biệt quan trọng đối với hoạt động QĐHP trong thực tiễn của Tòa án. Nếu hoạt động định tội danh khẳng định một người phạm tội hay không phạm tội thì hoạt động QĐHP nhằm chỉ ra loại hình phạt cụ thể với mức độ tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Nói cách khác, QĐHP là hoạt động chính thức xác định TNHS của người phạm tội đối với tội phạm mà họ đã thực hiện. Vì vậy, QĐHP là hoạt động có ý nghĩa pháp lý và xã hội hết sức to lớn. Nó không chỉ phản ánh thái độ của Nhà nước đối với người phạm tội mà còn nhằm mục đích cuối cùng là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội. Qua đó, cũng giáo dục người khác ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật và góp phần tích cực vào thắng lợi của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tuy nhiên, QĐHP không phải là một hoạt động tuỳ tiện của Tòa án mà nó phải được dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định. Cơ sở pháp lý đó chính là các căn cứ QĐHP với tính chất là những đòi hỏi của luật có tính bắt buộc Tòa án phải tuân thủ khi QĐHP nhằm đảm bảo đạt được các mục đích của hình phạt khi áp dụng đối với người phạm tội. Chính vì vậy, việc quy định các căn cứ QĐHP tại Điều 45 BLHS 1999 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Quy định đó không chỉ đảm bảo việc áp dụng thống nhất các căn cứ QĐHP của các Tòa án trên phạm vi cả nước mà còn loại bỏ tình trạng tuỳ tiện trong áp dụng, tính thiếu căn cứ pháp lý trong QĐHP. Các căn cứ đó bao gồm: Các quy định của BLHS; Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Nhân thân người phạm tội; Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS.

Việc tuân thủ đúng các căn cứ QĐHP này sẽ giúp cho HĐXX quyết định được hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phù hợp với nhân thân người phạm tội và khả năng giáo dục cải tạo người phạm tội. Đây chính là cơ sở để đạt được mục đích, hiệu quả của hình phạt vì trong mọi trường hợp QĐHP sai đều sẽ dẫn đến thái độ, cách xử sự tiêu cực ở chính người bị kết án và gây ra những hậu quả bất lợi cho gia đình người phạm tội cũng như xã hội. Ngoài ra, việc tuân thủ các căn cứ QĐHP chính là một hình thức biểu hiện sức sống và tính khả thi của các quy phạm pháp luật hình sự và kết quả của sự tuân thủ đó chính là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử VAHS của Tòa án.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\NGUYEN THI NGOC THUY\New folder (2)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *