Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Tham nhũng là một hiện tượng có tính lịch sử, đang là vấn đề nhức nhối không chỉ ở các nước có tỷ lệ tham nhũng cao mà còn là vấn nạn của tất cả các nước trên thế giới. Theo Thống kê của Tổ chức minh bạch quốc tế năm 2015 (Transparency International), Việt Nam xếp hạng 112 trong số 167 nước được điều tra về tham nhũng – một con số đáng để những lãnh đạo của đất nước phải quan tâm và suy ngẫm. Tham nhũng ở nước ta ngày càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích. Tội phạm kinh tế, tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tín dụng, chứng khoán tiếp tục diễn biến phức tạp, gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước. Thiệt hại do tham nhũng gây ra đối với ngân sách nhà nước, tài sản của nhân dân, doanh nghiệp rất lớn nhưng giá trị tài sản thu hồi thấp. Tham nhũng làm thay đổi mọi lãnh vực trong trong xã hội như kinh tế, luật pháp quốc gia, dân chủ, luân lý, giáo dục… Những tổn thất do tham nhũng gây nên thật khó đo lường cho hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ vì nó không mang gươm mang súng mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng ta là cần- kiệm – liêm – chính”. Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của công dân đối với bộ máy và công chức, viên chức Nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Điều này đã được V.I. Lênin khuyến cáo: “Nếu có cái gì đó có thể triệt tiêu được chủ nghĩa xã hội thì đó chính là tham nhũng, quan liêu”. Đây cũng là bài học mà ông cha ta đã truyền lại cho con cháu. Trần Quốc Tuấn đã từng nói: “để dân khinh là mất nước”.
Chính vì những lý do đó, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) đã trở thành một yêu cầu bức xúc của toàn xã hội, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Ngay từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII và các lần Đại hội Đảng sau này, Đảng ta đã chỉ ra tham nhũng là một trong bốn nguy cơ dẫn đến sự tồn vong của chế độ, làm tụt hậu xa hơn về kinh tế. Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều biện pháp bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm phòng ngừa và xử lý tình trạng tham nhũng; tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tình hình tham nhũng vẫn còn phức tạp, tồn tại ở nhiều cấp, nhiều ngành và chưa được đẩy lùi, nhưng công tác đấu tranh phát hiện tham nhũng lại giảm dần qua các năm, điều này chỉ ra một thực tế rằng công tác phòng ngừa, đấu tranh với vấn nạn tham nhũng vẫn còn những hạn chế, việc sử dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng tham nhũng vẫn chưa hiệu quả, mà cụ thể là việc sử dụng các biện pháp hành chính nhằm phòng ngừa tham nhũng vẫn chưa được các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước nhận thức và áp dụng một cách đồng bộ, khả thi, thiết thực trên thực tế. Việc áp dụng các biện pháp hành chính nặng về hình thức, văn bản, chế tài không đủ mạnh nên chưa có tác dụng rõ rệt, thậm chí mờ nhạt so với các biện pháp khác như dân sự, hình sự.
Đối với tỉnh Quảng Nam – một địa phương còn nhiều khó khăn, được xem là một tỉnh nghèo của đất nước, nguồn thu eo hẹp, đời sống kinh tế – xã hội của nhân dân còn nhiều khó khăn, chủ yếu còn dựa vào phân bổ ngân sách của Trung ương, cũng giống như mặt bằng chung của đất nước, tình trạng tham nhũng vẫn còn những phức tạp, công tác PCTN bằng các biện pháp hành chính tuy có những bước chuyển biến nhưng chưa thật rõ nét; vì vậy, nghiên cứu đề tài “Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” mang tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện pháp hành chính PCTN từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác PCTN bằng các biện pháp hành chính, góp phần đấu tranh với vấn nạn tham nhũng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng và phức tạp hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa, phân tích, làm rõ thêm cơ sở lý luận, pháp lý và cơ sở thực tiễn các biện pháp hành chính PCTN.
Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng và hiệu quả của các biện pháp hành chính trong công tác PCTN ở Quảng Nam; tìm ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn, vướng mắc đó.
Đề xuất các quan điểm, giải pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp hành chính PCTN tại thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
PCTN là một lĩnh vực có phạm vi nghiên cứu tương đối rộng, song dưới góc độ lý luận và pháp lý, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các biện pháp hành chính trong công tác PCTN; đánh giá thực trạng áp dụng và hiệu quả áp dụng các biện pháp hành chính trong công tác PCTN từ năm 2005 đến nay (10 năm Luật PCTN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006); yêu cầu khách quan, chủ quan của địa phương; đề ra các kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCTN bằng các biện pháp hành chính.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Trong phạm vi địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Về thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích – tổng hợp; thống kê, so sánh. Cụ thể:
Chương 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp để làm rõ nội hàm các khái niệm, nội dung của đề tài.
Chương 2: Sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê nhằm phân tích thực tế phòng, chống tham nhũng bằng các biện pháp hành chính tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh để thể hiện tính hiệu quả của các biện pháp này từ lý luận đến thực tiễn.
Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích để đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng của các biện pháp phòng, chống tham nhũng bằng các biện pháp hành chính trong pháp luật thực định nói chung và thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung, làm rõ thêm lý luận về PCTN nói chung, các biện pháp hành chính PCTN nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn này đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp hành chính đối với công tác PCTN tại địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới và đóng góp thêm một tài liệu nghiên cứu cho hoạt động nghiên cứu khoa học về luật học nói chung và chuyên ngành luật hành chính nói riêng.
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận về các biện pháp hành chính PCTN
Chương 2: Thực trạng biện pháp hành chính PCTN tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Giải pháp bảo đảm biện pháp hành chính PCTN từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH
1.1. Khái quát chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng
1.1.1. Quan niệm về tham nhũng
1.1.1.1. Khái niệm
“Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật đã lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi, nhằm đạt được những lợi ích vật chất, tinh thần hay những lợi ích khác, cho bản thân hay cho người khác”.
1.1.1.2. Nguyên nhân, tác hại của tham nhũng
a. Nguyên nhân của tham nhũng
Thứ nhất, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách ở nước ta còn nhiều kẽ hở
Thứ hai, do những sai lầm khuyết điểm trong hoạt động của một số cơ quan Đảng và Nhà nước
Thứ ba, những yếu kém trong công tác tổ chức cán bộ do sự buông lỏng, yếu kém trong quản lý Nhà nước
b. Tác hại của tham nhũng
– Tác hại về chính trị
– Tác hại về mặt kinh tế
– Tác hại về xã hội
1.1.2. Phòng, chống tham nhũng
1.1.2.1. Quan niệm về phòng, chống tham nhũng
PCTN là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và là quyết tâm rất lớn của cả hệ thống chính trị Việt Nam trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay.
1.1.2.2. Các loại biện pháp phòng, chống tham nhũng
1.1.2.3. Vai trò của phòng, chống tham nhũng
– PCTN góp phần bảo vệ chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền
– PCTN góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân
– PCTN góp phần duy trì các giá trị đạo đức truyền thống, làm lành mạnh các quan hệ xã hội
– PCTN góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ và pháp luật
1.2. Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng
1.2.1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm các biện pháp hành chính PCTN
1.2.1.1 Khái niệm
Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng là các biện pháp do luật hành chính quy định (không bao gồm các chế tài dân sự, hình sự), được cụ thể hóa trong Luật PCTN, bao gồm:
– Nhóm các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.
– Nhóm các biện pháp phát hiện tham nhũng.
– Nhóm các biện pháp xử lý tham nhũng.
1.2.1.2 Mối quan hệ giữa biện pháp hành chính với các biện pháp dân sự, hình sự trong phòng, chống tham nhũng
– Mối quan hệ trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng.
– Mối quan hệ trong phòng ngừa tham nhũng.
– Mối quan hệ trong xử lý hành vi tham nhũng.
1.2.1.3 Đặc điểm các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng
– Các biện pháp hành chính PCTN phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng
– Các biện pháp hành chính PCTN phải có tính đa dạng, thích hợp
– Các biện pháp hành chính PCTN phải mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo
1.2.1.4. Phân loại các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng
1.2.2. Nội dung các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng
1.2.2.1. Biện pháp phòng ngừa tham nhũng
Quan điểm, tư tưởng PCTN của hệ thống chính trị Việt Nam là lấy phòng ngừa là chính, qua các biện pháp như công khai, minh bạch hoạt động, xây dựng các chế độ, định mức, tiêu chuẩn…
1.2.2.2. Biện pháp phát hiện tham nhũng
Phát hiện tham nhũng qua công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm toán, giải quyết tố cáo.
1.2.2.3. Biện pháp xử lý tham nhũng
Xử lý tham nhũng không chỉ hướng tới người có hành vi tham nhũng mà còn hướng đến việc thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.
1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng
Pháp luật phải bảo đảm tính hệ thống, nhất quán, làm cho hoạt động của toàn xã hội được vận hành thống nhất và theo những quy tắc nhất định.
1.3.2. Điều kiện về tổ chức bộ máy, nhân lực
Bộ máy, nhân lực đáp ứng được tiêu chuẩn của Công ước LHQ về PCTN và phù hợp với thực tiễn chính trị, pháp lý ở Việt Nam.
1.3.3. Điều kiện về quyết tâm chính trị
Phải biến quyết tâm và hành động chính trị chống tham nhũng của toàn Đảng Nhà nước ta thành quyết tâm và hành động chính trị của tất cả các tổ chức Đảng, cấp ủy, các tổ chức trong hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân; phải thu hút, huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị vào cuộc đấu tranh này.
1.3.4. Điều kiện về sự tham gia của người dân
Chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Việc đấu tranh PCTN phải huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị; khuyến khích, động viên sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Do đó vai trò và sự tham gia của nhân dân trong PCTN là một yếu tố thiết yếu để PCTN hiệu quả.
Qua nghiên cứu một số nội dung về lý luận của các biện pháp hành chính trong PCTN, phần nào có thể thấy các biện pháp hành chính, là một công cụ quan trọng trong tổng thể các biện pháp khác trong hệ thống pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong việc đấu tranh, PCTN. Bởi các biện pháp hành chính dễ đi sâu sát và dễ tiếp cận nhất với cán bộ, công chức – những người có chức vụ, quyền hạn và thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước, những đối tượng duy nhất có thể gây nên hành vi tham nhũng
Mặc dù các biện pháp hành chính chưa phải là biện pháp nghiêm khắc nhất, có vai trò tối ưu nhất trong PCTN, nhưng có tác động rất lớn trong việc ngăn ngừa hành vi tham nhũng.
Việc nghiên cứu các biện pháp hành chính trên khía cạnh lý luận giúp hiểu rõ hơn nguồn gốc, đặc điểm cũng như vai trò quan trọng của biện pháp này. Tuy nhiên, để hoàn thiện các biện pháp hành chính, cần xem xét trên khía cạnh áp dụng và thi hành trong thực tế.

THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM
Điều kiện kinh tế quyết định quyết định động cơ tham nhũng của công chức và quy định các phương tiện PCTN. Nếu kinh tế phát triển, Nhà nước có khoản thu lớn thì có điều kiện nâng cao thu nhập cho cán bộ, công chức, giảm thiểu áp lực thu nhập thấp khiến công chức tham nhũng. Sức mạnh tài chính cũng cho phép Nhà nước thành lập cơ quan độc lập chống tham nhũng và cung cấp phương tiện cho cơ quan này hoạt động tốt hơn.
Ở Việt Nam, các tỉnh nghèo, nguồn thu ngân sách ít, chủ yếu dựa vào phân bổ của Trung ương thường gặp khó khăn, thách thức không nhỏ khi chống tham nhũng, tỉnh Quảng Nam là một trường hợp như vậy, năm 2015, Quảng Nam vẫn được xem là một tỉnh nghèo của cả nước. Có thể kể đến là việc hỗ trợ một phần thu nhập như phụ cấp, thưởng cuối năm cho cán bộ, công chức; thiếu phương tiện kiểm tra, giám sát công chức; chi thường xuyên cho các hoạt động PCTN bằng biện pháp hành chính còn hạn hẹp.
Ngày 10 tháng 5 năm 2007, Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quy chế về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng… như là một biện pháp hành chính nhằm hạn chế và ngăn ngừa các biến chứng của tham nhũng. Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt việc này cần xét đến sự tác động yếu tố văn hóa.
Theo đạo lý thông thường, người dân quan niệm ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Đó là quan niệm đạo lý đã đi sâu vào tiềm thức thành truyền thống. Người dân cảm thấy không yên lòng khi nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ vô tư, tận tình của người khác để vượt qua một khó khăn nào đó, mà rồi khi đạt được thành quả lại ung dung thụ hưởng một mình. Nhưng qua thời gian, dưới sự tác động của nhiều yếu tố, nét văn hóa thông thường ấy đã bị lợi dụng, làm cho trắng đen lẫn lộn, khó phân biệt. Lâu nay chúng ta thường nghe nhắc đến giải pháp lượng hóa món quà: món quà lớn, phong bì dày là biểu hiện của tiêu cực, tham nhũng.
Yếu tố văn hóa đã ảnh hưởng rất nhiều đến các biện pháp PCTN mà biện pháp hành chính có tác động hơn cả.
Trình độ dân trí cao và có ý thức tuân thủ pháp luật là hậu thuẫn vững chắc cho công tác PCTN. Ở những địa phương phát triển, dân cư có khả năng và ý thức tham gia quản lý xã hội nên họ thường xuyên quan tâm đến các thông tin về hoạt động của bộ máy nhà nước. Nếu có thông tin về công chức tham nhũng, họ có ý thức đấu tranh đòi xử lý thích đáng các công chức phạm lỗi. Ngược lại, nếu địa phương dân trí có trình độ chưa cao, không tự tổ chức thành các tổ chức xã hội có khả năng tham gia quản lý, nhất là ở những nơi dân cư bàng quang với tình hình chính trị, chỉ quan tâm đến lợi ích ngắn hạn của bản thân thì hầu như công chức chỉ chịu sự kiểm soát của nội bộ. Trong bối cảnh đó, công tác PCTN sẽ rất khó khăn do người chống tham nhũng không được hậu thuẫn xã hội, thiếu phương tiện làm việc, còn công chức lại có điều kiện để che giấu hành vi.
Quảng Nam là tỉnh đa dân tộc, có 4 tộc người thiểu số cư trú lâu đời là người Cơ Tu, người Co, người Gié Triêng, người Xê Đăng và một số tộc người thiểu số mới di cư đến với tổng số dân trên 10 vạn người, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh. Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước. Lực lượng lao động dồi dào, với trên 887.000 người (chiếm 62% dân số toàn tỉnh), trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành công nghiệp và xây dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95%. Toàn tỉnh có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, nhưng có đến 9 đơn vị thuộc huyện miền núi. Hệ thống điện, đường, trường, trạm đã có sự đầu tư nhất định, nhưng vẫn tồn tại những khó khăn. Với đặc điểm dân cư và xã hội như vậy, chưa thể khẳng định Quảng Nam có trình độ dân trí thấp nhưng cũng không thể kết luận rằng có dân trí cao. Người dân quan tâm nhiều đến các thông tin về chính sách kinh tế, an sinh xã hội hơn quyền và nghĩa vụ PCTN.
2.2. Thực trạng tình hình tham nhũng và PCTN bằng các biện pháp hành chính tại tỉnh Quảng Nam
2.2.1. Tình hình tham nhũng tại tỉnh Quảng Nam từ năm 2005 đến nay
Các biện pháp PCTN được triển khai đồng bộ, thường xuyên nhưng hiệu quả chưa thật sự rõ nét, chưa có tác động lớn trên thực tế.
2.2.2. Tình hình phòng, chống tham nhũng bằng các biện pháp hành chính tại tỉnh Quảng Nam
2.2.2.1. Biện pháp phòng ngừa tham nhũng
Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có nhiều sự chỉ đạo tích cực trong việc phòng ngừa tham nhũng, trong đó đề cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, xây dựng và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn về tài chính và quản lý, sử dụng tài sản công, thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức…
2.2.2.2 Biện pháp phát hiện tham nhũng
Các biện pháp phát hiện tham nhũng ở Quảng Nam được thực hiện qua hoạt động tự kiểm tra nội bộ, qua công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Qua thanh tra đã kiến nghị các địa phương, đơn vị triển khai các giải pháp để phòng, chống tham nhũng một cách đồng bộ như: Thực hiện chương trình cải cách hành chính; tuyên truyền, phổ biến Luật PCTN; phát huy vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân và các tổ chức xã hội, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các cơ quan báo, chí; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, điều tra xử lý các vụ việc tiêu cực, tham nhũng; tập trung chỉ đạo xử lý dứt điểm các vụ việc tham nhũng đã phát hiện. Đồng thời xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Luật PCTN; đưa công tác PCTN thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của các cấp, các ngành và của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, CBCCVC và của nhân dân về công tác PCTN.
2.2.2.3. Biện pháp xử lý tham nhũng
Các biện pháp xử lý tham nhũng chưa đáp ứng được yêu cầu, kỳ vọng, số vụ và số người bị xử lý kỷ luật còn hạn chế, tài sản thu hồi chỉ được một nửa so với thiệt hại do tham nhũng gây ra.
2.3. Nhận xét chung về các biện pháp hành chính PCTN tại tỉnh Quảng Nam
2.3.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân
– Các vụ việc tham nhũng được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh chỉ đạo xử lý quyết liệt, mức án dành cho các đối tượng tham nhũng được tuyên nghiêm khắc, đúng pháp luật, thể hiện sự nghiêm minh trong xử lý, đồng thời thông qua đó tạo được sự đồng thuận trong dư luận xã hội, được nhân dân đồng tình ủng hộ cũng như đạt được tính răn đe đối với các đối tượng khác.
Nguyên nhân có những kết quả này là do sự tập trung chỉ đạo, lãnh đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các cấp ủy đảng và chính quyền tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục các giải pháp, biện pháp mà biện pháp hành chính luôn được quan tâm, chú trọng.
– Đã áp dụng, thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong hoạt động quản lý khi phát sinh các tình huống thực tế mà theo quy định của pháp luật phải áp dụng thực hiện.
– Các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh đã ban hành các văn bản quy định về cơ chế thu thập thông tin, kiểm tra, xử lý các trường hợp không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không kịp thời các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.
2.3.2. Hạn chế, bất cập và nguyên nhân
2.3.2.1 Về biện pháp phòng ngừa tham nhũng
– Thứ nhất, công tác cải cách hành chính đã được triển khai thực hiện hầu hết ở các đơn vị, địa phương nhưng kết quả chưa cao; một số nơi chưa đổi mới cách làm, còn gây khó khăn, phiền hà trong giải quyết công việc của người dân, tổ chức, doanh nghiệp; một bộ phận CB,CC,VC còn có thái độ nhũng nhiễu, cửa quyền trong thi hành nhiệm vụ.
– Thứ hai, tinh thần, ý thức trách nhiệm trong công việc của một số CB,CC,VC chưa tận tâm, tận lực với nhiệm vụ được giao, chưa thật sự là công bộc của dân; cá biệt một số CB,CC,VC còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, tham ô tài sản gây bất bình trong nhân dân, làm giảm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước.
– Thứ ba, việc kê khai tài sản, thu nhập của CB,CC,VC có nơi triển khai thực hiện chưa nghiêm túc. Một số đối tượng thuộc diện kê khai tài sản, thu nhập còn thờ ơ, xem nhẹ hoặc nhận thức chưa đúng về trách nhiệm và nghĩa vụ kê khai, nên việc kê khai chậm trễ, kê khai quá sơ sài làm ảnh hưởng tiến độ theo quy định.
2.3.2.2 Về biện pháp phát hiện tham nhũng
Thứ nhất, hoạt động của Thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu cấp thiết PCTN, chủ yếu thực hiện công tác thống kê, báo cáo, chưa mạnh dạn thực thi công vụ PCTN theo thẩm quyền.
Thứ hai, một số đơn vị, địa phương còn xem nhẹ việc kiểm tra và tự kiểm tra, việc đôn đốc và chỉ đạo thực hiện. Các vụ việc tham nhũng tại đơn vị, địa phương được phát hiện, xử lý chủ yếu thông qua việc thanh tra, điều tra, báo chí đưa tin và đơn thư tố cáo; việc phát hiện tham nhũng hoặc người có hành vi tham nhũng thông qua hình thức tự kiểm tra nội bộ của các đơn vị, địa phương là không có.
2.3.2.3 Về biện pháp xử lý tham nhũng
Hiệu quả phát hiện, xử lý tham nhũng qua công tác thanh tra chưa cao; hiệu lực các kết luận, kiến nghị, quyết định về thanh tra còn thấp, nhất là việc thu hồi tiền, tài sản về tham nhũng; ngành thanh tra tiến hành nhiều cuộc thanh tra, phát hiện nhiều sai phạm, nhưng phát hiện tham nhũng còn ít.
Việc xử lý kỷ luật chưa có tác dụng răn đe, rất ít trường hợp xử lý kỷ luật với hình thức cách chức, đa số là cảnh cáo hoặc khiển trách
2.3.3. Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Một là, việc chuyển đổi vị trí công tác trong thực tiễn vẫn còn một số vướng mắc như: Một số cán bộ, công chức, viên chức đã quen việc với công tác chuyên môn ở lĩnh vực cần được chuyên sâu, song đến thời hạn lại phải chuyển đổi cán bộ công chức, viên chức khác đảm nhiệm, sẽ ít có kinh nghiệm chuyên môn sâu và sẽ gặp khó khăn trong công tác. Khi chuyển đổi đến cơ quan, đơn vị khác thường xa nhà, đi lại khó khăn nhất là ở các huyện miền núi, ảnh hưởng đến cuộc sống của công chức, viên chức được chuyển đổi. Từ đó đã làm ảnh hưởng đến tâm lý của công chức, viên chức; đối tượng được chuyển đổi ở các thành phố, thị xã thường e ngại không muốn chuyển đến công tác ở một số huyện vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Vì vậy cần xem xét và có chính sách khuyến khích, động viên công chức, viên chức chuyển đổi vị trí công tác như: nhà ở công vụ, nâng bậc lương trước thời hạn, đặc biệt là khi hết thời hạn chuyển đổi thì có được trở lại đơn vị cũ hay không.
Hai là, trình tự báo cáo, nộp lại quà, nhất là đối với quà tặng bằng hiện vật còn phức tạp, khó thực hiện, không khuyến khích các cơ quan, cá nhân thực hiện, chế tài xử lý chưa nghiêm; ranh giới giữa quà tặng và tài sản hối lộ khó phân biệt dẫn đến khó khăn cho việc xử lý và kiểm soát. Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện còn thiếu nghiêm túc, không mang lại hiệu quả thiết thực. Vì vậy, cần xem xét ban hành mới Nghị định quy định việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng theo hướng khuyến khích các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện việc nộp lại quà tặng; cần phân định rõ khái niệm về quà tặng và tài sản hối lộ; trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị, địa phương trong thực hiện tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; đồng thời quy định chế tài nghiêm khắc đối với hành vi báo cáo không trung thực trong việc thực hiện tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng.
Kết luận chương 2
Qua nghiên cứu những quy định cụ thể về các biện pháp hành chính PCTN và thực tế áp dụng các biện pháp đó trên thực tế; có thể nhận thấy được mối quan hệ giữa lý luận chung (Chương 1) và các quy định thực định (Chương 2), từ đó nhìn nhận khái quát về lý luận các biện pháp hành chính PCTN.
Tuy nhiên, việc nhìn nhận trên cơ sở lý luận thì chưa toàn diện và chưa đầy đủ; cần phải có cái nhìn sâu hơn trên khía cạnh áp dụng và thi hành, từ đó mới thể thấy được sự phù hợp giữa lý luận và thực tiễn, tìm ra các ưu và khuyết điểm của lý luận.
Mặc dù, việc ghi nhận các biện pháp hành chính trong pháp luật hành chính đã khá đầy đủ, nhưng chưa sâu rộng, và cũng chỉ mang tính chất lý luận, khi được thực tế soi đường, và kiểm chứng mới thấy được tầm quan trọng của các biện pháp trên. Việc áp dụng thực tiễn đã cho thấy, việc quy định lý luận, cũng như áp dụng thực tiễn có mối quan hệ không thể tách rời, có tầm quan trọng nhất định; là tổng thể chung góp phần đấu tranh PCTN. Qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở Chương 2, có thể thấy bản thân lý luận và thực tiễn vẫn còn những khoảng cách, cần phải được bổ sung, làm rõ và hoàn thiện hơn. Do đó, cần xem xét đến phương hướng, các điều kiện về chính trị và pháp luật để tìm ra giải pháp hoàn thiện các biện pháp hành chính trong công tác PCTN.

GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PCTN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
3.1. Giải pháp chung bảo đảm biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
3.1.1. Hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng
3.1.2. Nâng cao năng lực phòng, chống tham nhũng của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Một là, tăng cường kiểm tra hành chính.
Hai là, nâng cao chất lượng giám sát hành chính.
Ba là, tăng cường công tác thanh tra hành chính
3.1.3. Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ
– Nâng cao công tác quản lý, đánh giá cán bộ.
– Sửa đổi, bổ sung các quy định về công tác cán bộ, đảm bảo công khai, dân chủ, đảm bảo công khai, dân chủ.
– Áp dụng tư tưởng “hồi tỵ” vào bổ nhiệm, quy hoạch cán bộ.
3.1.4. Minh bạch hóa hoạt động phòng, chống tham nhũng
3.1.4.1 Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật
– Minh bạch hóa quá trình soạn thảo, trình, ban hành chính sách, pháp luật; quá trình chuẩn bị, trình, ban hành quyết định, văn bản hành chính gắn liền với việc cải cách thủ tục hành chính
– Tổng rà soát, sửa đổi pháp luật về bí mật nhà nước theo hướng thu hẹp phạm vi bí mật nhà nước ở mức cần thiết
– Cụ thể hóa và tăng cường kiểm tra nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của Luật PCTN về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức ở tất cả các ngành, các cấp và trong các lĩnh vực nhất là trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội
– Công khai, minh bạch các quyết định trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
– Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; hoàn thiện và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế người phát ngôn của cơ quan nhà nước; xây dựng và ban hành luật về tiếp cận thông tin; có chế tài đối với người vi phạm quyền được thông tin của công dân
– Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật
3.1.4.2 Hoàn thiện chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lượng thực thi công vụ
– Thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng; quy định cụ thể, rành mạch chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp quản lý, khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống trong hoạt động quản lý. Quy định chức trách của từng vị trí công tác, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và căn cứ vào kết quả thực hiện chức trách đó để đánh giá cán bộ, công chức
– Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện cơ chế về trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; cơ chế miễn nhiệm, bãi nhiệm, cho từ chức, tạm đình chỉ chức vụ của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách
– Công bố công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn và công khai việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản công của cán bộ, công chức, trước hết là của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Sửa đổi các quy định về quản lý, sử dụng nhà công vụ; xử lý nghiêm minh các vi phạm trong việc quản lý, sử dụng nhà công vụ
– Sửa đổi, bổ sung các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập theo hướng từng bước công khai và quy định trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập; thực hiện việc chi trả qua tài khoản đối với tất cả các khoản chi từ ngân sách nhà nước cho cán bộ, công chức
– Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nhất là việc minh bạch tài sản, thu nhập.
3.1.4.3 Hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, công bằng, minh bạch
Hoàn thiện cơ chế, chính sách về hải quan, tín dụng, xuất nhập khẩu và một số lĩnh vực khác nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Thực hiện các chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp một cách minh bạch và nhất quán
3.2. Các giải pháp riêng bảo đảm biện pháp hành chính pctn đối với tỉnh Quảng Nam
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý nhà nước ở các ngành, các cấp; đề cao trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng và chịu trách nhiệm khi để cơ quan, đơn vị, địa phương do mình lãnh đạo, phụ trách xảy ra tham nhũng.
3.2.2. Tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân về phòng, chống tham nhũng; thực hiện nghiêm những điều đảng viên không được làm; xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật nhằm phòng ngừa tham nhũng, thực hiện tốt việc công khai minh bạch hoạt động của cơ quan, đơn vị.
3.2.3. Triển khai thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở tại địa phương, cơ quan, đơn vị; rà soát, đánh giá, quy hoạch, sắp xếp, luân chuyển, bố trí cán bộ để tăng cường củng cố, kiện toàn các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các đơn vị trọng yếu; thực hiện nghiêm việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức.
3.2.4 Tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, hoạt động của các cơ quan có chức năng PCTN; thường xuyên nắm tình hình dư luận, cử tri về hiệu quả, tác động các chủ trương, giải pháp PCTN, tình hình tham nhũng để kiến nghị các cấp ủy đảng chấn chỉnh.
Kết luận chương 3
Việc nghiên cứu phương hướng hoàn thiện, các điều kiện về chính trị và pháp luật tại Chương 3 đã chỉ ra được cơ sở lý luận và thực tiễn về việc tạo ra cơ chế để các biện pháp hành chính có tác dụng trên thực tế.
Mặc dù các giải pháp hoàn thiện các biện pháp hành chính nếu trên chưa thật sự hoàn hảo, nhưng bản thân chúng cũng có rất nhiều ưu điểm, có tính khả thi cao, và cần thiết cho việc đấu tranh, phòng, chống tham nhũng.
KẾT LUẬN
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn đã đóng góp thêm lý luận về các biện pháp hành chính nói chung, các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng nói riêng; thực tiễn áp dụng những biện pháp hành chính trên thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Nam, qua đó rút ra được những ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm, là một nguồn tư liệu đóng góp vào công tác PCTN nói chung và khoa học pháp lý PCTN nói riêng.
Bên cạnh đó, luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp hành chính trong lĩnh vực PCTN, phải thừa nhận rằng việc sử dụng các biện pháp hành chính để PCTN trong thời gian qua có những chuyển biến khả quan, song vẫn còn hạn chế, tính phòng ngừa và răn đe không thiết thực trên thực tế, mang nặng tính hình thức, nhưng nếu xét về nội hàm, nếu lấy phòng ngừa là trọng tâm trong công tác PCTN thì các biện pháp hành chính là phương thức “sâu sát” và có hiệu quả nhất bởi nó gắn liền và đi đôi với hoạt động công vụ, hành vi của cán bộ, công chức. Tăng cường hiệu quả áp dụng các biện pháp hành chính cũng gián tiếp hoàn thiện chế độ công vụ, tính trong sạch, minh bạch của bộ máy hành chính, qua đó tạo sự đột phá, bước ngoặc không nhỏ trong công tác PCTN ở Việt Nam hiện nay ./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HANH CHINH\NGUYEN HUU HOAI BAO\SAU BAO VE


