Giám định tư pháp hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp hình  sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Kết luận giám định được Bộ Luật tố tụng hình sự ghi nhận là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Kết luận giám định đúng đắn giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án được chính xác, khách quan đúng pháp luật, góp phần quan trọng đảm bảo trật tự an toàn xã hội, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định đất nước.

Luật giám định tư pháp năm 2012 ra đời đã tạo hành lang pháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các tổ chức giám định, giám định viên từng bước được hoàn thiện, số lượng chất lượng kết luận giám định được nâng lên; hệ thống các văn bản ngày càng được ban hành đầy đủ… phục vụ kịp thời cho công tác điều tra truy tố, xét xử. Tuy nhiên vẫn còn những khoảng trống trong giám định như: giám định thương tích trong các vụ TNGT, thương tích trong các vụ cố ý gây thương tích, giám định tâm thần…; thực tiễn xét xử cho thấy có vụ án cả bị hại và bị cáo đều yêu cầu được giám định thương tật. Trường hợp nào được thực hiện và việc giám định lại được quyền thực hiện mấy lần? Đây là vấn đề gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án.

Xuất phát từ yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội góp phần tạo môi trường thuận lợi, an toàn, ổn định cho sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng cũng như thực hiện các quyết định của Bộ Công an về tăng cường công tác KTHS trong tình hình mới; việc đánh giá đúng thực trạng công tác giám định tư pháp của lực lượng KTHS – Công an thành phố Đà Nẵng để đưa ra giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này phục vụ tốt cho công tác điều tra là rất cần thiết, góp phần giải quyết các vụ án một cách khoa học, khách quan; đảm bảo truy tố, xét xử đúng người đúng tội.

Với những lý do trên tôi chọn đề tài: Giám định tư pháp hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng để làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học.

  1. Tình hình nghiên cứu đề tài
  2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ nhận thức về giám định tư pháp; phân tích các quy trình giám định KTHS

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát thực trạng hoạt động giám định tư pháp của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, giám định viên, trưng cầu giám định, kết luận giám định và sử dụng kết luận giám định trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Xây dựng các giải pháp.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Lý luận và thực tiễn giám định tư pháp trong tố tụng hình sự tại thành phố Đà Nẵng

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung: Đề tài nghiên cứu các lĩnh vực giám định Kỹ thuật hình sự và pháp y tử thi của phòng KTHS – CATP Đà Nẵng; vai trò của giám định tư pháp hình sự trong giải quyết vụ án hình sự.

– Về địa bàn nghiên cứu khảo sát: địa bàn thành phố Đà Nẵng.

– Về thời gian nghiên cứu, khảo sát: Từ năm 2011 đến năm 2015.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm bảo vệ an ninh trật tự, các nguyên tắc cơ bản về khoa học pháp lý, khoa học điều tra hình sự, lý luận về hoạt động tố tụng, tội phạm học, lý luận về giám định kỹ thuật hình sự trong Công an nhân dân.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng kết, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp chuyên gia, phương pháp thực nghiệm và phương pháp trao đổi tọa đàm

Những đóng góp mới của đề tài

Góp phần nâng cao nhận thức lý luận về Giám định tư pháp của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.Phát hiện những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại của hoạt động giám định tư pháp trong tố tụng hình sự tại thành phố Đà Nẵng. Đề xuất các giải pháp nâng cao hoạt động giám định tư pháp phục vụ điều tra, truy tố xét xử ở thành phố Đà Nẵng.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu tham khảo, giảng dạy và học tập các bộ môn như Khoa học điều tra về tội phạm, Kỹ thuật hình sự ở các trường Công an nhân dân, tài liệu tham khảo tại thư viện Học viện Khoa học xã hội.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Đối với các giải pháp đề xuất trong đề tài này, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại thành phố Đà Nẵng có thể tham khảo và vận dụng trong thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giám định tư pháp

Chương 2: Thực trạng hoạt động giám định tư pháp tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Giải pháp nâng cao giám định tư pháp.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

1.1.Tổng quan tình hình

1.1.1.Giám định tư pháp ở các quốc gia và ở Việt Nam

Tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, tôn giáo, sắc tộc đều đặt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm thành nhiệm vụ quan trọng nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế, chính trị và phát triển xã hội. Với tư cách là công cụ đấu tranh phòng, chống tội phạm các quốc gia đều quy định hoạt động giám định tư pháp trong Bộ luật TTHS của nước mình về: cơ quan trưng cầu giám định, tổ chức giám định, người giám định, kết luận giám định… là bộ phận quan trọng trong hệ thống giám định tư pháp ở một số nước trên thế giới như: Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Pháp, Trung Quốc, Cộng hòa Singapore, Nhật Bản, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Liên bang Nga và Việt Nam.

Những thông tin trêncho thấy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi trọng giám định tư pháp, đều quy định tổ chức mô hình giám định tư pháp tương tự nhau. Có rất nhiều loại giám định khác nhau như giám định pháp y, giám định AND, giám định đường vân, chữ viết… đều hướng đến mục tiêu là xác định sự thật khách quan, khoa học của sự việc; xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm làm căn cứ khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự từ đó không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội.

Ở Việt Nam sự ra đời của Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các văn bản dưới luật như Nghị định số 117/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 21 tháng 7 năm 1988 về giám định tư pháp và Điều lệ giám định kỹ thuật hình sự ngày 11 tháng 3 năm 1987; Pháp lệnh giám định tư pháp năm 2004; Nghị định số 67/2005/NĐ-CP, ngày 19/5/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giám định tư pháp; đặc biệt, theo quy định của Luật giám định Tư pháp năm 2012 thì Giám định Kỹ thuật hình sự và giám định pháp y trong CAND chỉ được tiến hành ở Viện KHHS và các phòng KTHS công an cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra các Trung tâm pháp y, pháp y tâm thần khu vực thuộc Bộ y tế; các lĩnh vực giám định tài chính, xây dựng, văn hóa, truyền thông… thuộc các Sở ban ngành chuyên môn tương ứng.

1.1.2.Khái niệm và cơ sở pháp lý của giám định tư pháp

Theo từ điển Tiếng Việt 2015 – nhà xuất bản Đà Nẵng, thì “giám định” là xem xét và xác định bằng phương pháp nghiệp vụ để đưa ra kết luận.

Theo khoản 1 Điều 2 Luật giám định Tư pháp, giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của luật này.

Điều 60 Bộ luật TTHS năm 2003 và Điều 68 Bộ Luật TTHS năm 2015 quy định người giám địnhlà người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật.

Người giám định từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự. Người giám định kết luận gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 của Bộ luật hình sự 2003 và Điều 383 – Bộ luật hình sự 2015 .

Điều 155 – Bộ luật TTHS năm 2003 và Điều 206 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định một số trường hợp sau đây bắt buộc phải trưng cầu giám định bao gồm:

Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;Nguyên nhân chết người; tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ; mức độ ô nhiễm môi trường.

1.3. Các lĩnh vực giám định Kỹ thuật Hình sự và pháp y CAND

Hiện nay giám định Kỹ thuật hình sự và pháp y CAND gồm các chuyên ngành:

1.3.1. Giám định dấu vết đường vân

Là quá trình người giám định tiến hành nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp các đặc điểm chung và các đặc điểm riêng của dấu vết đường vân có ở hiện trường với đường vân của đối tượng nghi vấn hoặc những người có liên quan với sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học kỹ thuật và công nghệ để truy nguyên đồng nhất nhằm xác định người đã để lại dấu vết đường vân ở hiện trường vụ án phục vụ hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự.

1.3.2. Giám định dấu vết cơ học

Là xác định các dấu vết hình thành do các công cụ phương tiện lên một đối tượng khác nhờ một lực cơ học và nó phản ánh lại đặc điểm bề mặt tác động của đối tượng tác động (thường giám định trong các vụ TNGT, hủy hoại tài sản…), đáng lưu ý là các việc giám định: dấu vết bánh xe lăn, dấu vết phanh, dấu vết cày, chà xướt, trượt, dấu vết khớp.

1.3.3. Giám định súng, đạn

Là nghiên cứu các dấu vết có liên quan đến súng và đạn; giám định tình trạng kỹ thuật của súng, tình trạng kỹ thuật của đạn; giám định dấu vết súng để lại trên đầu đạn, võ đạn đã bắn, các viên đạn đã bắn nhưng không nổ, giám định tầm hướng bắn; lỗ đạn vào; lỗ đạn ra.

1.3.4.Giám định tài liệu

Là quá trình nghiên cứu nhằm xác định rõ bản chất các loại tài liệu có liên quan đến tội phạm hoặc những sự việc mang tính hình sự. Trong giám định tài liệu có các dạng giám định: giám định hình dấu, chữ đánh máy, ấn phẩm, bản in(tiền, văn bằng, chứng chỉ…), giám định tài liệu nghi bị tẩy xóa, dán ghép tài liệu, giám định tài liệu cần khôi phục nội dung, giám định chữ viết, chữ ký.

1.3.5.Giám định cháy nổ

Là chuyên ngành giám định KTHS nhằm xác định nguyên nhân cháy nổ, cũng như vật liệu, chất liệu và các hiện tượng có liên quan đến cháy, nổ.

1.3.6. Giám định kỹ thuật ( sự cố kỹ thuật, ký tự đóng chìm trên kim loại)

Là chuyên ngành giám định KTHS, nhằm xác định nguyên nhân gây ra sự cố kỹ thuật, xác định chất lượng các công cụ phương tiện liên quan đến kỹ thuật. Giám định kỹ thuật bao gồm: Giám định dấu vết sự cố kỹ thuật; giám định ký tự đóng chìm trên kim loại nghi bị tẩy xóa, sửa chữa(số khung số máy xe mô tô, ô tô, số súng quân dụng…); giám định dấu vết về điện, điện tử, sét… trong đó thường xuyên giám định ký tự đóng chìm trên kim loại.Loại giám định này thường được sử dụng trong giám định số khung, số máy xe ô tô, xe máy, biển số xe… trong các vụ trộm xe, tội phạm đã phá xóa số khung, số máy, làm giả biển số xe… để tiêu thụ.

1.3.7. Giám định âm thanh

Là chuyên ngành giám định KTHS nhằm truy nguyên con người, phương tiện trên cơ sở âm thanh do các đối tượng này phát ra.Bao gồm:

– Giám định tiếng nói được ghi trong các thiết bị lưu trữ âm thanh (băng đĩa, thẻ nhớ…);

– Xác thực nội dung tiếng nói trong các thiết bị lưu trữ có biên soạn lại(cắt, dán, ghép, nối);

– Dịch nội dung tiếng nói liên quan đến nội dung cần giám định trong các thiết bị âm thanh lưu trữ trong các thiết bị ra văn bản;

– Nâng cao chất lượng tiếng nói bằng các thiết bị chuyên dụng phục vụ giám định…

1.3.8. Giám định sinh học

Là nhằm truy nguyên nhóm hoặc cá thể người, động vật, thực vật, côn trùng, vi sinh vật, bao gồm: Giám định dấu vết máu, mô, lông, tóc, chất bài tiết, chất tiết có nguồn gốc từ cơ thể người và động vật; giám định gen (AND – Axit Deoxyribo Nucleic) từ các dấu vết mẫu vật có nguồn gốc từ người và động vật; giám định vải sợi và dấu vết vải sợi; giám định thực vật và dấu vết thực vật; giám định các loại côn trùng, vi sinh vật; giám định các chất ma túy nhóm opiate trong mẫu máu.

1.3.9. Giám định hóa học

Là chuyên ngành giám định KTHS, nghiên cứu phân tích nhằm xác định nguồn gốc, thành phần, định lượng… các loại dấu vết hóa học, bao gồm: giám định hóa chất, giám định độc chất, giám định sơn, kim loại, thủy tinh, đất; giám định các chất có liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm và chăn nuôi gia súc gia cầm, giám định các sản phẩm công nghiệp môi trường; giám định dược phẩm, hàng giả, giám định hóa tài liệu (mực viết, mực dấu, mực in), giám định các chất ma túy và tiền chất, giám định các chất doping. Hai loại giám định thường gặp là giám định độc chất và giám định các chất ma túy và tiền chất ma túy.

1.3.10. Giám định pháp y (tử thi)

Là quá trình xem xét toàn diện các dấu vết, dấu hiệu tổn thương bên ngoài (khám ngoài) và bên trong (mổ tử thi), kết hợp với các xét nghiệm phụ trợ (xét nghiệm mô bệnh học, độc chất phủ tạng, xét nghiệm tìm rượu trong máu, tìm ma túy trong máu…) phục vụ công việc xác định: tung tích nạn nhân, nguyên nhân chết, xác định cơ chế hình thành thương tích, vật gây thương tích, xác định tổn thương có trước hay sau chết, thời gian chết, xác định công cụ, phương tiện gây án, tính chất diễn biến vụ việc nhằm phục vụ truy nguyên hung thủ, đưa ra cơ chế gây thương tích, tỷ lệ thương tích, tuổi của bị can, bị cáo… cũng như cung cấp các chứng cứ khác cho việc xác định lỗi, định tội danh, định khung hình phạt…

1.4. Nguyên tắc giám định KTHS, quy trình giám định

1.4.1. Nguyên tắc

Điều 3 Luật giám định Tư pháp quy định cụ thể các nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp. Quá trình tổ chức giám định KTHS cũng tuân theo các quy tắc này bao gồm:

-Nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tuân theo quy chẩn chuyên môn

– Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời

– Nguyên tắc chỉ kết luận về chuyên môn trong phạm vi yêu cầu

– Nguyên tắc chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định

1.4.2. Các hình thức giám định KTHS

1.4.2.1.Căn cứ theo trình tự thời gian tiến hành, giám định KTHS có các hình thức sau

– Giám định lần đầu (giám định thông thường).

– Giám định bổ sung.

– Giám định lại.

1.4.2.2.Căn cứ vào số lượng chủ thể tiến hành giám định, giám định KTHS có 02 hình thức giám định

– Giám định cá nhân

– Giám định tập thể

1.4.3. Quy trình giám định, hồ sơ giám định KTHSchung

1.4.3.1. Quy trình giám định

Để hoạt động giám định tư pháp đạt kết quả, đúng quy định của pháp luật đòi hỏi GĐV phải tuân thủ đúng các phương pháp và quy trình giám định được ban hành kèm theo Thông tư số 52/TT-BCA ngày 20 tháng 7 năm 2011,Thông tư số 46/TT – BCA, ngày 5/11/2013và Thông tư 51/TT – BCA, ngày 11/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Công an.

1.4.3.2. Hồ sơ giám định

Hồ sơ giám địnhđược quy định tại Điều 34 Luật giám định tư pháp, bao gồm: những tài liệu phản ánh, ghi nhận lại quá trình giám định và kết quả giám định kỹ thuật hình sự do giám định viên trực tiếp xác lập và các tài liệu khác có liên quan.

Hồ sơ Giám định được đánh số lưu trữ theo số thứ tự tiếp nhận vụ việc trong năm; có sổ theo dõi tiếp nhận, sổ ghi tình hình vụ việc và có biên bản giao nhận đối với từng vụ việc cụ thể. Hồ sơ được đăng ký với phòng PV27 – CATP Đà Nẵng (theo Hướng dẫn số 3557/HD – C41 – C53 quy định về công tác hồ sơ, thống kê nghiệp vụ Cảnh sát ).

1.5. Vai trò của giám định tư pháp trong việc giải quyết vụ án hình sự

Giám định KTHS giúp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng xây dựng giả thuyết điều tra; định hướng cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trong phòng ngừa tội phạm, xây dựng tàng thư nghiệp vụ… Những thông tin được cung cấp trong quá trình tổ chức giám định KTHS, ví dụ như: giám định dấu vết đường vân, dấu vết máu… có thể giúp cơ quan CSĐT đưa ra giả thuyết số lượng thủ phạm, về công cụ, phương tiện gây án, đồng thời đưa ra những nhận định về diễn biến, quá trình thực hiện hành vi phạm tội của thủ phạm trên hiện trường, làm cơ sở tiến hành hoạt động điều tra một cách khoa học, hiệu quả; thông qua kết quả giám định kết hợp với các chứng cứ khác Tòa án giải quyết, xét xử một cách công minh các vụ án hình sự trên cơ sở khoa học chắn chắc các vấn đề cần chứng minh.Sử dụng kết luận giám định trong những vụ án (nhiều vụ án kết luận giám định mang tính chất quyết định duy nhất để khởi tố hay không khởi tố vụ án; xét xử thấu tình đạt lý) là chìa khóa mở ra công tác điều tra, xử lý tội phạm nhiều vụ án lớn, khai thông bế tắc các vụ án phức tạp. Đặc biệt là kết luận giám định sẽ chứng minh sự thật của vụ án, là nguồn chứng cứ để tiến hành khởi tố buộc tội hoặc minh oan cho người vô tội,giúp cho việc xử lý đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

Giám định tư pháp hình  sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Giám định tư pháp hình  sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Đặc điểm tình hình ANCT và TTATXH trên địa bàn thành phố liên quan đến hoạt động giám định tư pháp

Đà Nẵng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của Miền trung Tây nguyên, có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông và phát triển kinh tế. Chính quyền thành phố rất quan tâm đến quy hoạch đô thị, phát triển kinh tế, du lịch; có những cách làm hay và sáng tạo, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, phấn đấu trở thành thành phố bình yên và đáng sống. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình hoạt động của tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, gây thiệt hại đáng kể đến tài sản của nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của địa phương. Đây là vấn đề nhức nhối, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân và là thách thức đối với toàn lực lượng Công an thành phố Đà Nẵng.

2.2. Thực trạng hoạt động giám định tư pháp trong việc giải quyết, xử lý các vụ án hình sự tại thành phố Đà Nẵng

Hiện nay phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng và các giám định viên tổ chức hoạt động theo luật Giám định tư pháp, Nghị định 85/2013 – NĐ- CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp. Giám định viên được tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, bổ nhiệm đúng chuyên ngành, đúng tiêu chuẩn theo Điều 7 Luật giám định tư pháp. Hiện có 14 giám định viên tư pháp, trong đó có 09 giám định viên 02 lĩnh vực.

Điều 7 Luật Giám định tư pháp quy định tiêu chuẩn bổ nhiệm GĐV tư pháp. Theo đó người được bổ nhiệm GĐV tư pháp phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ đại học trở lên và đã qua hoạt động thực tế chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ 5 năm trở lên.

Trên cơ sở quy định chung về tiêu chuẩn bổ nhiệm GĐV tư pháp, Thông tư số 33/2014/TT-BCA, ngày 05/8/2014 của Bộ trưởng Bộ công an quy định chi tiết tiêu chuẩn trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm GĐV KTHS. Tại Điều 4 – Thông tư 33/2014/TT – BCA đã quy định tiêu chuẩn GĐV KTHS cụ thể đối với 10 chuyên ngành giám định KTHS như: là sỹ quan nghiệp vụ công an, sỹ quan quân đội nhân dân tại ngũ; có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; có chứng chỉ đã qua đào tạo hoặc bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ giám định ở chuyên ngành được đề nghị bổ nhiệm do Viện KHHS hoặc cơ quan Khoa học hình sự ở nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định về giáo dục và Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Trong 5 năm từ 2011 đến 2015 phòng KTHS công an thành phố Đà Nẵng đã tiếp nhận và giải quyết 26039 yêu cầu giám định, trong đó giám định tập trung ở các lĩnh vực: dấu vết đường vân, chữ ký, chữ viết, hình dấu, kỹ thuật tài liệu, ma túy, ký tự đóng chìm trên kim loại, dấu vết công cụ, dấu vết súng đạn, giám định pháp y và giám định sinh học, kết quả như sau:

– Kết luận có tội phạm :6937 yêu cầu, chiếm 26,64 %

– Kết luận loại trừ: 19102 yêu cầu, chiếm 73,36 %

Tất cả các yêu cầu giám định đều được tiến hành giám định đúng quy trình quy chuẩn, kết luận chính xác, đáp ứng được những yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan khác, làm cơ sở quan trọng giải quyết các vụ việc hình sự trên địa bàn thành phố.

2.2.1. Những kết quả giám định làm thay đổi toàn diện vụ án

Vụ giết người tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng: bà Hoa trú tại P. Mỹ An, Đà Nẵng đến quán Nhậu Mười trên đường Ngô Quyền đòi nợ. Trong lúc xảy ra cải vã, xô xát thì con bà Hoa là Trần Văn Sơn đi từ ngoài đường vào rút dao đâm chủ quán Nguyễn Hai tử vong trên đường đi cấp cứu. tại cơ quan công an bà Hoa đã khai nhận tội mình đã dùng dao đâm chết ông Hai để che dấu tội của con trai. Tại hiện trường vụ án cơ quan điều tra đã thu được một dao dính máu và một số dấu dép để lại tại hiện trường (lúc này quán vắng không có người chứng kiến). Tiến hành giám định loại dấu vân tay của bà Hoa trên cán dao và phát hiện nhiều dấu vết dép không phải của bà Hoa và ông Hai, đã định hướng cho cơ quan điều tra là còn một đối tượng nữa tại hiện trường. Trước những kết luận giám định bà Hoa buộc phải thừa nhận, Sơn đã dùng dao đâm chết ông Hai.

2.2.2. Hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có liên quan đến hoạt động trưng cầu giám định

2.2.2.1. Quyết định trưng cầu giám định

Trưng cầu giám định là một biện pháp điều tra với mục đích tìm kiếm chứng cứ, chứng minh những điều cần phải chứng minh theo Điều 85 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Đây là điều kiện đầu tiên để thực hiện hoạt động giám định.

Điều 25 – Luật giám định tư pháp quy định người trưng cầu giám định quyết định trưng cầu giám định bằng văn bản và gửi quyết định kèm theo đối tượng giám định và tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) đến cá nhân tổ chức, thực hiện giám định.

2.2.2.2. Công tác thu lượm, xử lý, bảo quản các dấu vết, tài liệu phục vụ giám định

Việc thu mẫu đúng trình tự tố tụng và đảm bảo số lượng, chất lượng là cơ sở vững chắc để tiến hành hoạt động trưng cầu giám định cũng như quyết định đến hiệu quả hoạt động này. Ví dụ: quá trình khám nghiệm hiện trường thu được vết máu nghi vấn của đối tượng gây án để lại. Sau đó ta thu được mẫu máu của đối tượng nghi vấn và trưng cầu giám định. Kết quả sẽ khẳng định ngay vết máu thu ở hiện trường là máu của đối tượng hoặc không phải của đối tượng. Chỉ có kết luận như vậy thì dấu vết mới được xem là chứng cứ và có giá trị chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án.

Theo thống kê từ năm 2011 đến 2015, phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành giám định 24857 yêu cầu giám định, trong đó: Tòa án chỉ trưng cầu 474 yêu cầu giám định; trong khi đó trên toàn thành phố Đà Nẵng từ 2011 đến 2015, Tòa án nhân dân các cấp xét xử án hình sự là 3882 vụ, chiếm tỷ lệ 12, 21% trong tổng số vụ án được xét xử; Viện kiểm sát các cấp hầu như không trưng cầu giám định lần đầu, giám định bổ sung hoặc giám định lại. Như vậy, yêu cầu giám định chủ yếu là từ phía cơ quan điều tra các cấp.

2.2.2.3. Đánh giá, sử dụng kết luận giám định

Hoạt động giám định là hoạt động khoa học dựa trên những thành tựu khoa học được pháp luật chấp nhận. Do đó, kết quả của hoạt động giám định là rất đáng tin cậy và là nguồn chứng cứ quan trọng, có giá trị chứng minh rất cao trong quá trình giải quyết vụ án. Thực tiễn trong nhiều vụ án, hoạt động trưng cầu giám định là cơ sở giúp cho Cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, nhanh chóng và chính xác, hạn chế oan, sai cũng như bỏ lọt tội phạm. Ngoài ra, kết quả của hoạt động trưng cầu giám định còn là cơ sở để Cơ quan điều tra xác định có hay không có tội phạm xảy ra để tiến hành các hoạt động điều tra.Tòa án, VKS dựa vào sự chứng minh khoa học của các kết luận giám định, những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự được chứng minh logic khoa học giữa mối quan hệ giữa các chứng cứ khác, từ đó thực hiện quyền công tố và ra quyết định xét xử một cách chính xác.

Giám định tư pháp hình  sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Giám định tư pháp hình  sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁM ĐỊNH

TƯ PHÁP

3.1.Dự báo về tình hình liên quan

Từ năm 2016 nước ta sẽ hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, nhất là việc tham gia các cơ chế của Cộng đồng ASEAN, triển khai Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU… sẽ có nhiều tác động ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế và ANTT trên địa bàn thành phố. Mặt khác trên thế giới hiện nay biện pháp điều tra, xét xử dựa theo “vật chứng” ngày càng phát huy hiệu quả. Pháp luật tố tụng hoàn thiện hơn, sự tham gia của luật sư từ quá trình điều tra, xét xử…Do vậy việc trưng cầu giám định ngày càng được quan tâm và coi trọng, vai trò của giám định tư pháp ngày được nâng cao nên đòi hỏi cao về trình độ chuyên môn và phương tiện kỹ thuật hỗ trợ giám định của lực lượng KTHS.

Mô hình tổ chức giám định KTHS và pháp y CAND sẽ đồng bộ và hợp lý hơn; cơ sở vật chất, các thiết bị kỹ thuật chuyên dùng trong giám định từng bước được trang bị đồng bộ, hiện đại hơn giúp công tác giám định triển khai tất cả các chuyên ngành mà luật cho phép nhất là các chuyên ngành giám định mới.

Công tác đào tạo bồi dưỡng GĐV tư pháp, cán bộ làm công tác giám định được quan tâm hơn; được tham dự nhiều lớp tập huấn chuyên sâu trong và ngoài nước. Vấn đề hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội để công tác giám định tiếp cận với các nền khoa học kỹ thuật trên thế giới.

Đảm bảo các mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan giám định KTHS với các cơ quan trưng cầu giám định

Để đảm bảo và thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp này cần chú ý một số vấn đề sau:

-Nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan giám định KTHS và các cơ quan trưng cầu; đồng thời bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức khám nghiệm hiện trường thu thập, bảo quản dấu vết (mẫu vật cần giám định, thu mẫu so sánh), kỷ năng ra quyết định trưng cầu giám định cho lực lượng điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán.

-Xây dựng quy chế (cơ chế, nội dung, chế tài) phối hợp cụ thể, chặt chẽ giữa cơ quan trưng cầu giám định và cơ quan giám định KTHS trong hoạt động giám định tư pháp để giải quyết các vụ án hình sự.

3.2. Các giải pháp

3.2.1. Giải pháp chung

3.2.1.1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của công tác giám định tư pháp

Cần tổ chức quán triệt về sự cần thiết của hoạt động trưng cầu giám định trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; về tầm quan trọng của kết quả giám định trong công tác điều tra , khởi tố vụ án, khởi tố bị can, định tội danh, định khung hình phạt để cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng nhận thức đúng đắn hơn về vai trò của công tác giám định và coi trọng sử dụng biện pháp nghiệp vụ này trong hoạt động tố tụng.

3.2.1.2. Đảm bảo các mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan giám định KTHS với các cơ quan trưng cầu giám định

Để hoạt động giám định KTHS được tiến hành đúng quy định của pháp luật và có hiệu quả thì cần có những điều kiện cần thiết nhất định, một trong những điều kiện quan trọng đó là phải thiết lập được mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan giám định KTHS với các cơ quan trưng cầu giám định. Trên thực tế kết giám định chịu ảnh hưởng lớn của mối quan hệ phối hợp này; nếu quan hệ phối hợp càng chặt chẽ, thì kết quả giám định KTHS càng nhanh chóng và đạt hiệu quả cao và ngược lại.

3.2.2. Giải pháp cụ thể

3.2.2.1. Kiện toàn cơ cấu tổ chức, đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ giám định viên; đổi mới chế độ chính sách, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hỗ trợ giám định

Hiện nay, trên toàn thành phố Đà Nẵng có 44 GĐV tư pháp, trong đó phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng là 22 biên chế, có 14 giám định viên thực hiện 8/10 lĩnh vực giám định, trong đó 9 GĐV thực hiện 2 lĩnh vực giám định, so với thực tế công việc thì mỗi GĐV thực hiện 1,4 yêu cầu giám định/1 ngày làm việc. Như vậy là một khối lượng công việc rất lớn đòi hỏi sự nổ lực rất lớn của GĐV để đáp ứng yêu cầu của các cơ quan trưng cầu. Bên cạnh đó, một số lĩnh vực giám định chưa được triển khai như: giám định hóa học (sơn, dầu, bụi, đất, độc chất…), sự cố kỹ thuật, cháy nổ và AND.

3.2.2.2. Kiện toàn cơ cấu tổ chức

Cần chủ động phối hợp với các Sở ban ngành nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển lực lượng GĐV KTHS; đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho lực lượng KTHS, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao; xây dựng phương án báo cáo Giám đốc CATP về biên chế và có định hướng phát triển theo lộ trình hàng năm cho phù hợp; đồng thời bồi dưỡng cán bộ giám định thành GĐV tư pháp cho các chuyên ngành giám định đang thiếu hoặc thay thế GĐV sắp nghỉ hưu. Theo lộ trình phát triển thì đến năm 2020 cần có 20 – 25 GĐV tư pháp KTHS và pháp y, triển khai 10/10 lĩnh vực giám định phục vụ yêu cầu hoạt động tố tụng tại thành phố Đà Nẵng.

3.2.2.3.Thực hiện nghiêm túc quy trình giám định trong quá trình giám định KTHS

Hiện nay Bộ công an đã ban hành 38 quy trình giám định thuộc các chuyên ngành cụ thể của các lĩnh vực giám định KTHS thể hiện: Thông tư số 52/2011/TT – BCA, ngày 20/7/2011, Thông tư số 46/2013/TT –BCA, ngày 5/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành các tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực an ninh thuộc Bộ công an và Thông tư số 51/2015/TT-BCA, ngày 13/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành các tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực an ninh đối với các quy trình giám định tư pháp trong CAND. Các quy trình này đã được nghiên cứu và đúc kết từ thực tiễn công tác giám định nên cơ bản đảm bảo phù hợp với thực tiễn. Đây chính là những quy chuẩn về chuyên môn trong từng lĩnh vực giám định KTHS.

3.2.2.4. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng; chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn

Bộ Luật hình sự, Bộ luật TTHS năm 2015 sắp có hiệu lực, đã quy định quyền im lặng của bị can, bị cáo; càng đề cao xu hướng điều tra, truy tố, xét xử phải dựa trên vật chứng, chứng cứ khoa học. Tuy nhiên với tình trạng kiến thức và phương tiện kỹ thuật như hiện nay thì khó mà đáp ứng được yêu cầu của hoạt động tố tụng. Vì vậy việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ GĐV tư pháp là rất cần thiết; đồng thời tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn có ý nghĩa nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám định. Khi cán bộ có trình độ chuyên môn cao thì sẽ phát hiện được các thủ đoạn tội phạm mới, hạn chế được những tồn tại trong công tác giám định hiện nay.

3.2.2.5.Về chế độ chính sách, đầu tư trang thiết bị chuyên dùng

Thực tế cho thấy, trong nhiều lĩnh vực giám định, nếu không có phương tiện giám định hiện đại thì không thể tiến hành giám định và đưa ra kết luận giám định chính xác được nhất là giám định AND, giám định hóa học, giám định âm thanh, giám định kỹ thuật số và điện tử…Với phương tiện được trang cấp như hiện nay thì phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng chỉ tiến hành giám định 7/10 lĩnh vực giám định, chủ yếu là giám định các lĩnh vực truyền thống. Vì vậy trong thời gian tới, cần tăng cường cơ sở vật chất, trang bị đầy đủ và hiện đại hóa các phương tiện giám định cho lực lượng KTHS như Máy sắc khí khí GS – MS để thực hiện các giám định hóa học, Labo xét nghiệm vi thể…

3.2.2.6. Đẩy mạnh, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học hình sự nói chung, giám định KTHS nói riêng

Có thể khẳng định, khi giám định tư pháp KTHS có được nền tảng khoa học công nghệ tiên tiến, phương tiện giám định, cơ sở vật chất hiện đại, cán bộ giám định có năng lực, có điều kiện phát huy được hiệu quả chuyên môn thì chất lượng công tác giám định KTHS được nâng cao, từ đó khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong trong công tác phòng chống tội phạm.

KẾT LUẬN

Giám định KTHS có vị trí, vai trò quan trọng trong điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Trung bình mỗi năm phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành hơn 4600 yêu cầu giám định của các cơ quan tiến hành tố tụng và xu hướng ngày càng tăng. Kết quả giám định đã góp phần tích cực vào hoạt động điều tra, xử lý tội phạm. Tuy nhiên công tác giám định tư pháp của lực lượng KTHS còn bộc lộ nhiều hạn chế; công tác thu lượm dấu vết phục vụ trưng cầu giám định còn nhiều bất cập; đánh giá và sử dụng kết luận trong giải quyết các vụ án hình sự chưa đạt yêu cầu cao. Xuất phát từ thực tiễn công tác giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng tại thành phố Đà Nẵng và nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giám định tư pháp hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ luật học. Quá trình nghiên cứu Luận văn cho phép rút ra những kết luận sau:

Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống lý luận khoa học điều tra hình sự và những khoa học có liên quan, nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về hoạt động giám định tư pháp, hoạt động phát hiện, thu lượm, bảo quản dấu vết phục vụ trưng cầu giám định. Và trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước, luận văn đã tìm tòi xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về vị trí, vai trò của công tác giám định tư pháp trong tố tụng hình sự ở Việt Nam.

Luận văn nghiên cứu những quy định pháp luật về hoạt động giám định tư pháp trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật TTHS năm 2003, Bộ luật TTHS năm 2015, Luật giám định tư pháp năm 2012 và các văn bản liên quan đến công tác giám định; nêu quy trình, thủ tục bổ nhiệm GĐV, quy trình giám định… để khẳng định kết luận giám định là nguồn chứng cứ mang tính khoa học và chính xác cao.

Qua khảo sát thực tế, trao đổi, toạ đàm với nhiều cán bộ làm công tác thực tiễn ở địa phương; nghiên cứu, phân tích các báo cáo tổng kết; nghiên cứu 150 bản Kết luận giám định ở các lĩnh vực được tiến hành giám định tại thành phố Đà Nẵng, tác giả đã khái quát được tình hình hoạt động giám định KTHS ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ 2011 đến 2015; phân tích làm rõ thực trạng tổ chức lực lượng, trang bị phương tiện kỹ thuật phục vụ hoạt động giám định KTHS của phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng; thực trạng quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động phát hiện, thu lượm, bảo quản dấu vết phục vụ công tác trưng cầu giám định; việc sử dụng kết luận giám định trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.

Tác giả đã nhận xét, đánh giá về những ưu điểm, kết quả đã đạt được, những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục, tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót từ hoạt động hoạt động giám định tư pháp trong tố tụng hình sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

Luận văn trình bày những dự báo về tình hình liên quan và các yếu tố tác động đến công tác giám định; phân tích những khó khăn, thuận lợi trong thời gian tới.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động giám định của cơ quan tiến hành giám định, cơ quan trưng cầu giám định, luận văn đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực GĐV tư pháp; công tác trưng cầu giám định, việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định của cơ quan tiến hành tố tụng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\NGUYEN THI THANH THUY\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *