Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề cải cách tư pháp luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, đẩy mạnh. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06 thánG 12 năm 2013 về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm,theo đó yêu cầu toàn ngành KSND, tập trung thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu: Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.
Với sự ra đời của Hiến pháp năm 2013cùng với Luật tổ chức VKSNDvà BLTTHS sự mới ra đời đã từng bước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng bằng việc quy định rõ và tăng thêm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này.
Trên cơ sở đó, trong thời gian gần đây, toàn ngành kiểm sát đã thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, các quy định của pháp luật liên quan đến việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau cả khách quan lẫn chủ quan, chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố cũng như chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội.
Mặt khác, là một cán bộ đang công tác trong ngành KSND tại địa bàn tỉnh Bình Định, tác giả nhận thấy trong những năm gần đây, tình hình tộiphạmxâm phạm sở hữu diễn biết phức tạp. Do đó, với tư cách là một cán bộ trong ngành KSND đang công tác tại tỉnh Bình Định, bản thân tác giả mong muốn nghiên cứu cả lý luận về quyền công tố, thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sở hữu cũng như thực trạng công tác thực hành quyền công tố từ thực tiễn tỉnh nhà để qua đó có sự thấu đáo hơn về lý luận thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, pháp luật thực định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, đồng thời, lấy thực tiễn công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, để từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sở hữu đối với tỉnh Bình Định nói riêng và cả nước nói chung. Do đó, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích của Luận văn là từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định; đánh giá những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định, Luận văn hướng đến đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về thực hành quyên công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình đối với các tội xâm phạm sở hữu, góp phần đảm bảo hơn nữa chất lượng công tác thực hành quyền công tố, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích đề ra, Luận văn đề cập và tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: Nghiên cứu về mặt cơ sở lý luận của công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu; Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế của công tác này cũng như những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó;Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm đảm bảo thực hành quyền công tố đúng trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, quy định của BLTTHS năm 2003 và thực trạng về công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh bình Định.
Tuy nhiên, do BLTTHS năm 2015 đã được ban hành, nhưng theo Nghị quyết 144/2015/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của…BLTTHS số 101/2015/QH13… từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành…, nên khi phân tích quy định thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án xâm phạm sở hữu tác giả còn đối chiếu với BLTTHS năm 2015 và chỉ ra những điểm đã được khắc phục.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:Luận văn nghiên cứu về lý luận và thực tiễn công tác trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định trong phạm vi nghiên cứu 5 năm (từ 01tháng 12 năm 2011 đến ngày 30 tháng 11 năm 2015).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, tư tưởng, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, về nâng cao chất lượng công tố trong giai đoạn điều tra và đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, tác giả vận dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Thống kê và phân tích số liệu, so sánh, tổng kết thực tiễn… để làm rõ những yêu cầu, nhiệm vụ của Luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu như khái niệm về thực hành quyền công tố, đánh giá thực trạng công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu và đặt ra một số yêu cầu cũng như giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy địnhcủa pháp luật liên quan đến công tác thực hành quyền công tố.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Các kiến nghị, đề xuất của Luận văn có thể là tài liệu tham khảo để ngành KSND tỉnh Bình Định đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn. Bên cạnh đó, Luận văn có thể được dùng là tài liệu chuyên khảo trong các trường đào tạo Luật, có thể là tài liệu tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề cho cán bộ công chức ngành KSND.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận…và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 Chương với cấu trúc như sau:
Chương 1: Lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu;
Chương 2: Quy định pháp luật và thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định;
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo thực hành quyền công tố đúng trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
Chúng tôi cho rằng: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu là việc Viện kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước trong giai đoạn từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật TTHS đối với người thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ.
– Đối tượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu: Đối tượng tác động của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu chỉ là tội phạm và người phạm tội xâm phạm sở hữu theo quy định pháp luật hình sự.
– Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu: gồm những hành vi, quyết định tố tụng mang tính buộc tội của Viện kiểm sát đối với những hành vi xâm phạm sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ, được bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi quá trình điều tra kết thúc (Kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra).
Thứ nhất, thực hành quyền công tố là chức năng Hiến định duy nhất thuộc về Viện kiểm sát trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ hai, thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra sử dụng các quyền năng thuộc quyền công tố theo quy định của pháp luật hình sự, được thể hiện thông qua các hành vi, các quyết định tố tụng mang tính công khai theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng do pháp luật quy định.
Thứ ba, thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là hoạt động nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, bảo đảm việc truy cứu hình sự đối với người phạm tội có căn cứ và hợp pháp, bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều phải khởi tố, điều tra, xử lý theo pháp luật.
Thứ tư, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Kiểm sát viên chịu sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng VKSND mỗi cấp và chịu sự chỉ đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC.
Thứ năm, thực hành quyền công tố là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc chức năng buộc tội trong TTHS, chức năng này thường đối lập với chức năng bào chữa nhưng đều có mục đích chung là tìm đến sự thật và đảm bảo công lý, công bằng, lẽ phải.
Thứ sáu, hoạt động thực hành quyền trong giai đoạn điều tra có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát điều tra.
Thứ bảy, các tội xâm phạm sở hữu có khách thể là quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ và đối tượng tác động là tài sản cụ thể. Do đó, trong hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu cần xác định đúng hành vi khách quan của tội phạm, quyền cụ thể về tài sản bị xâm hại..để từ đó định tội danh và thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu một cách chính xác.
Thứ nhất, những hoạt động mang tínhphát động công tố để mở cuộc điều tra hình sự đối với sự kiện phạm tội, bao gồm các chức năng liên quan đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Thứ hai, hoạt động thực hành quyền công tố tiếp tục được thực hiện bởi Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự bằng một số biện pháp pháp lý cụ thể như đề ra yêu cầu điều tra, yêu cầu truy nã, tiến hành một số hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp ngăn chặn…
Thứ ba, quyết định tiếp tục, tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng (truy tố, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra).

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1.1.1. Thực hành quyền công tố trong hoạt động khởi tố vụ án
Theo quy định BLTTHS năm 2003: Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này. Quyền năng tố tụng này được quy định tại Điều 104 BLTTHS năm 2003. Theo đó, Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án trong hai trường hợp: một là, sau khi quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự; hai là, nếu thấy yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của HĐXX vụ án hình sự là có căn cứ.
Theo khoản 3 Điều 153 BLTTHS năm 2015 quy định: Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong bốn trường hợp, (1)Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; (2)Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; (3)Viện Kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; (4) theo yêu cầu của HĐXX.
Ngoài ra, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự; nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra thì Viện kiểm sát tự ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án, nếu có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát có quyền bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự (khoản 1 Điều 112 BLTTHS năm 2003).
2.1.1.2. Thực hành quyền công tố trong hoạt động khởi tố bị can
Trách nhiệm của Viện kiểm sát theo BLTTHS năm 2003 thể hiện trên ba phương diện sau:
Một là, xét phê chuẩn quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra.
Theo quy định BLTTHS năm 2003, khi Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can thì quyết định đó có hiệu lực ngay. Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát chỉ có giá trị xác định hiệu lực của quyết định khởi tố bị can có còn tiếp tục hay không. Hiện nay, theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015, quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát đối với quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền điều tra có giá trị xác định hiệu lực của quyết định khởi tố bị can. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 127 BLTTHS năm 2003, thì trường hợp trong quá trình điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc có hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Theo Điều 180 BLTTHS năm 2015, quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can trong hai trường hợp: (1) khi tiến hành điều tra xác định hành vi của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố; (2) Quyết định khởi tố ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can. Đồng thời, quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải bổ sung quyết định khởi tố bị can nếu có căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.
Hai là, quyền yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố bị can (khoản 5 Điều 126 BLTTHS năm 2003)
Ba là, trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Theo quy định tại Điều 126 BLTTHS năm 2003, quyền khởi tố bị can trong giai đoạn điều tra chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ có quyền khởi tố bị can trong trường hợp sau khi nhận hồ sơ và bản kết luận điều traphát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa được khởi tố.
BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát có quyền khởi tố bị can trong trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm chưa bị khởi tố để điều tra mà Viện kiểm sát đã yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can nhưng không thực hiện; trường hợp sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra nếu Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.
2.1.2.1. Thực hành quyền công tố trong việc đề ra yêu cầu điều tra
Viện kiểm sát phải đề ra những yêu cầu điều tra để làm rõ tội phạm và người phạm tội (khoản 2 Điều 112 BLTTHS năm 2003). Đây là một nội dung quan trọng của thực hành quyền công tố, nhằm đảm bảo việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ, tạo cơ sở vững chắc để Viện kiểm sát phê chuẩn, ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền bảo đảm có căn cứ và hợp pháp.
2.1.2.2. Thực hành quyền công tố trong việc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Viện kiểm sát có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra khi cần thiết (khoản 2 Điều 112 BLTTHS năm 2003). BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể những trường hợp Viện kiểm sát tiến hành một số hoạt động điều tra để kiểm tra, thẩm định và củng cố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem có căn cứ để ra những quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiện oan sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm phát luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định truy tố (khoản 7 Điều 165 BLTTHS năm 2015).
2.1.2.3. Thực hành quyền công tố trong việc quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn
– Quyền phê chuẩn, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đã được Cơ quan điều tra áp dụng: Theo quy định tại khoản 4 Điều 81 BLTTHS năm 2003, quy định việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản cùng với các tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn. Khi được Cơ quan điều tra hoặc người có thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 81 BLTTHS năm 2003 ban hành thì lệnh bắt khẩn cấp có hiệu lực và được thi hành ngay nhưng để nó tiếp tục còn hiệu lực thì cần phải được Viện kiểm sát phê chuẩn. Hiện nay, BLTTHS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua quy định biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chỉ được thực hiện khi được Viện kiểm sát phê chuẩn. Ngoài ra, theo quy định điểm d, khoản 1 Điều 80 BLTTHS năm 2003, Viện kiểm sát có quyền phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam theo đề nghị của Cơ quan điều tra. Sau khi Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp ban hành lệnh bắt bị can để tạm giam thì lệnh này chưa có hiệu lực để thi hành. Mọi trường hợp bắt bị can để tạm giam khi chưa có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát đều là trái pháp luật.
Theo quy định tại Điều 87 BLTTHS năm 2003, khi gần hết thời hạn tạm giữ Cơ quan điều tra xét thấy cần thiết phải kéo dài việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ nhằm quyết định việc khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra ra quyết định gia hạn tạm giữ. Trường hợp Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ (Điều 86 BLTTHS năm 2003). Ngoài ra, Khoản 3 Điều 88 BLTTHS năm 2003 quy định khi Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can phải được Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 93 BLTTHS năm 2003, quy định quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn này của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành. Hiện nay, BLTTHS năm 2015 chỉ quy định sử dụng tiền là tài sản để đảo đảm đối với bị can để thay thế biện pháp tạm giam. Bên cạnh biện pháp ngăn chặn đặt tiền để bảo đảm, theo quy định tại khoản 4 Điều 121 BLTTHS năm 2015 bổ sung trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cũng cần phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thi hành.
2.1.2.4. Quyền hủy bỏ các quyết định của Cơ quan điề tra và yêu cầu truy nã bị can
Theo BLTTHS năm 2003, Viện kiểm sát tuy không phê chuẩnmột số quyết định, lệnh của Cơ quan điều tra nhưng có thẩm quyền kiểm tra tính có căn cứ và đúng pháp luật của các quyết định, lệnh này. Nếu thấy các quyết định, lệnh của Cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sáthủy bỏ các quyết định tố tụng này. Trong mọi trường hợp hủy bỏ các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải nêu rõ lý do trong quyết định hủy bỏ (khoản 5 Điều 112 BLTTHS năm 2003).
Theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 36 và khoản 3 Điều 112 BLTTHS năm 2003 thì quyền yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên thuộc nội dung quyền công tố trong giai đoạn điều tra, quy định này nhằm đảm bảo quá trình điều tra vụ án hình sự được tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Hiện nay, theo quy định của BLTTHS năm 2015, thẩm quyền thay đổi Điều tra viên đã được quy định thuộc chức năng kiểm sát hoạt đông tự pháp (khoản 7 Điều 166 BLTTHS năm 2015) chứ không phải thuộc chức năng công tố theo BLTTHS năm 2003.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 160 BLTTHS năm 2003, Cơ quan điều tra chỉ có quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra theo căn cứ luật định, đồng thời quy định nếu xét thấy quyết định tạm đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra không có căn cứ, trái pháp luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra đồng thời phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 165 BLTTHS năm 2003. Trong trường hợp Cơ quan điều tra không phục hồi điều tra theo yêu cầu của Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ và yêu cầu phục hồi điều tra (khoản 4 Điều 112 BLTTHS năm 2003).
Trong việc đình chỉ điều tra vụ án hình sự, theo BLTTHS năm 2003, Viện kiểm sát giữ quyền đồng thời cũng trách nhiệm quyết định. Theo đó, khi có những căn tại khoản 1 Điều 164 BLTTHS năm 2003, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Tuy nhiên, nếu thấy quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra là có căn cứ, đúng pháp luật thì Viện kiểm sát ban hành kết luận kiểm sát và trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu xét thấy quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra không có căn cứ, trái pháp luật thì hủy bỏ quyết định đình chỉ, trường hợp có đủ căn cứ để truy tố thì Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra, ra quyết định truy tố bị can (khoản 4 Điều 164 BLTTHS năm 2003).
2.2. Thực trạng công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định
- Yếu tố địa lý, kinh tế, xã hội ở tỉnh Bình Định
Bình Định là 1 trong 5 tỉnh, thành phố ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên là 6.025 km2, tổng dân số hơn 1,5 triệu người; với mật độ là 247 người/km2; gồm 01 thành phố Quy Nhơn, 01 thị xã và 09 huyện, toàn tỉnh có 159 xã, phường và thị trấn; trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Quy Nhơn.
Trong những năm gần đây, với chính sách kêu gọi thu hút đầu tư phát triển kinh tế, đã có nhiều doanh nghiệp trong nước và ngoài nước ký kết đầu tư vào địa bàn tỉnh nên Bình Định đã có sự tăng trưởng kinh tế, phát triển về đời sống văn hóa..các vấn đề xã hội ngày càng được đảm bảo….Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu từ điều kiện kinh tế – xã hội đem lại cho tỉnh Bình Định thì biểu hiện của những hiện tượng tiêu cực, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tạo ra lối sống thực dụng, ích kỷ, tự do, coi thường kỷ cương, pháp … đã tác động xấu đến một bộ phận, tầng lớp nhân dân trong xã hội, trở thành nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự trong đó đặc biệt là nhóm tội xâm phạm sở hữu.
- Về Tổ chức VKSND ở tỉnh Bình Định
Từ những ngày mới được thành lập (Tháng 10/1975), ngành KSND tỉnh Bình Định chỉ có 09 cán bộ, hầu hết được chuyển ngành từ quân đội và một số đồng chí được điều động từ VKSNDTC về; đến nay đã có 11 Phòng nghiệp vụ và 11 Viện KSND cấp huyện, với 234 cán bộ, Kiểm sát viên. Trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự xâm phạm sở hữu hiện nay tại VKSND tỉnh Bình Định được giao cho Phòng 3 – Phòng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự về kinh tế, chức vụ và tham nhũng. Tại VKSND cấp huyện thuộc tỉnh Bình Định do bộ phận kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự đảm nhận.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố
Trong tổng số 234 cán bộ đang công tác tại VKSND tỉnh Bình Định tính đến tháng 11 năm 2015 có 108 Kiểm sát viên (01 Kiểm sát viên cao cấp, 40 Kiểm sát viên trung cấp, 67 Kiểm sát viên sơ cấp). Trong đó, 80% cán bộ có trình độ Cử nhân, Trung – Cao cấp lý luận chính trị hoặc tương đương; 100% cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác nghiệp vụ có trình độ Cử nhân luật, có 32 cán bộ, Kiểm sát viên đang theo học và đã tốt nghiệp Thạc sỹ trong và ngoài nước, chiếm tỷ lệ 14% cán bộ, công chức trong ngành. Đây là thuận lợi lớn về nguồn nhân lực để ngành KSND tỉnh Bình Định thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, theo Quyết định số 53/QĐ-VKSTC-V9 ngày 02 tháng 4 năm 2015 của Viện trưởng VKSNDTC về giao biên chế và số lượng Kiểm sát viên cho VKSND tỉnh Bình Định thì hiện nay Viện KSND tỉnh Bình Định còn thiếu 26 chỉ tiêu Kiểm sát viên cả trung cấp và sơ cấp.
* Yếu tố xã hội ảnh hưởng đến công tác thực hành quyền công tố
– Ảnh hưởng từ công luận và dư luận xã hội;
– Ảnh hưởng từ văn hóa người Việt với tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ”, “nhất thân, nhì quen” .
– Ảnh hưởng bởi nhưng tiêu cực xã hội với mặt trái của nền kinh tế thị trường.
2.2.2. Tình hình thực hiện công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Bình Định
2.2.2.1. Kết quả đạt được
Theo thống kê của VKSND tỉnh Bình Định thì từ ngày 01/12/2011 đến ngày 30/11/2015, Cơ quan điều tra hai cấp đã thụ lý giải quyết 1654 vụ/ 2931 bị can. Trong đó, năm 2011 các Cơ quan điều tra thụ lý 289 vụ/ 530 bị can; sang năm 2012, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu với chiều hướng gia tăng, theo đó Cơ quan điều tra thụ lý giải quyết 300 vụ/ 584 bị can, tiếp đến năm 2014, 2015, lần lượt số vụ án, bị can là 331 vụ/ 605 bị can và 343 vụ/ 622 bị can.
Trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự: Viện kiểm sát đã khởi tố vụ án hình sự và gửi cho Cơ quan điều tra để điều tra. Cụ thể, từ 01/12/2011 đến 30/11/2015 trong tổng số 1654 vụ Cơ quan điều tra thụ lý, có 04 vụ án Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố 32 vụ, trong đó Cơ quan điều tra chấp thuận khởi tố 24 vụ án chiếm tỷ lệ 75%; hủy bỏ 12 quyết định khởi tố vụ án.
Thực hành quyền công tố đối với việc khởi tố bị can: Trong kì thống kê, đã có 16 quyết định không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu; ra quyết định hủy 18 quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra. Qua thực tiễn thực hành quyền công tố nhận thấy, các quyết định tố tụng nhằm thực hành quyền công tố nêu trên của VKSND hai cấp tỉnh Bình Định đều đúng pháp luật, chưa có quyết định nào bị VKSNDTC hủy bỏ theo quy định của pháp luật TTHS.
Về thực hiện quyền đề ra yêu cầu điều tra: Hiện nay, chưa có thống kê cụ thể về bản yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra, tuy nhiên theo kết quả báo cáo nghiệp vụ hàng năm của Phòng 3- VKSND tỉnh Định định, đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có trên 90% trên tổng số vụ án được khởi tố, điều tra VKSND hai cấp có yêu cầu điều tra.
Về thực hiện quyền năng phê chuẩn, không phê chuẩn; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn được quy định tại khoản 4 Điều 112 BLTTHS năm 2003: Thực tế hiện nay trong công tác giải quyết vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trên địa bàn tỉnh Bình Định hay lạm dụng biện pháp bắt khẩn cấp khi tiến hành điều tra tội phạm. Theo số liệu thống kê của VKSND tỉnh Bình Định thì từ ngày 01/12/2011 đến 30/11/2015, VKSND hai cấp tỉnh Bình Định đã không phê chuẩn 17 Lệnh bắt khẩn cấp của Cơ quan điều tra và người có thẩm quyền ra Lệnh bắt khẩn cấp.
Trong kỳ thống kê đã có 08 Lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan điều tra không được VKSNDhai cấp tỉnh Bình Định phê chuẩn; 16 Lệnh gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra và người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ không được Viện kiểm sát hai cấp phê chuẩn;07 Lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra đối với các bị can phạm tội xâm phạm sở hữu cũng không được Viện kiểm sát phê chuẩn. Ngoài ra, trong thời gian từ 01/12/2011 đến 30/11/2015 VKSND hai cấp tỉnh Bình Định đã không gia hạn tạm giam 09 trường hợp.
Về thẩm quyền hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các quyết định tố tụng không có căn cứ của Cơ quan điều tra theo quy định BLTTHS năm 2003: Theo số liệu thống kê của VKSND tỉnh Bình Định từ ngày 01/12/2011 đến ngày 30/11/2015, VKSND hai cấp tỉnh Bình Định đã ra quyết định hủy bỏ 14 quyết định tạm giữ của Cơ quan điều tra và những người có thẩm quyền ra quyết định này; quyết định hủy bỏ 12 quyết định khởi tố vụ án hình sự; 15 quyết định không khởi tố vụ án hình sự các tội xâm phạm sở hữu của Cơ quan điều tra.
2.2.2.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
– Những tồn tại, hạn chế trong hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
Thứ nhất, VKSND hai cấp tỉnh Bình Định chưa thực hiện tốt việc xét phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong các vụ án xâm phạm sở hữu. Theo thống kê của VKSND tỉnh Bình Định trong ba năm 2011,2012,2013 số người bị Cơ quan điều tra lạm dụng bắt khẩn cấp là 21 người; 14 trường hợp bắt quả tang không đúng pháp luật; việc lạm dụng bắt khẩn cấp chủ yếu vi phạm căn cứ để bắt khẩn cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 81 BLTTHS năm 2003. Việc lạm dụng biện pháp tạm giam còn xảy ra, các bị can phạm tội xâm phạm sở hữu bị áp dụng biện pháp tạm giam theo căn cứ “gây khó khăn, cản trở quá trình điều tra” chiếm tỷ lệ trên 80%.
Thứ hai, một số VKSND cấp huyện tỉnh Bình Định còn thụ động, chưa thể hiện vai trò quyết định trong việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu. Theo số liệu thống kê của VKSND tỉnh Bình Định từ 01/12/2011 đến ngày 30/11/2015, VKSND hai cấp tỉnh Bình Định đã yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố 31 vụ án xâm phạm sở hữu, Cơ quan điều tra chỉ chấp nhận 17 vụ còn 14 vụ Cơ quan điều tra không chấp nhận.
Thứ ba, tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Định tuy từng bước được hạn chế song chuyển biến còn chậm. Theo thống kê từ 01/12/2011 đến ngày 30/11/2015 có trên 57% số lượng án trả hồ sơ điều tra bổ sung thuộc về các vụ án xâm phạm sở hữu. Theo số liệu thống kê, từ ngày 01/12/2011 đến ngày 30/11/2015, VKSND hai cấp tỉnh Bình Định đã quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 26 vụ án xâm phạm sở hữu, trên tổng số 1382 vụ án mà Cơ quan điều tra đề nghị truy tố.
Thứ tư, những hạn chế, thiếu sót trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ các vụ án xâm phạm sở hữu đình chỉ còn nhiều. Chẳng hạn, tính từ ngày 01/12/2011 đến ngày 30/11/2015 VKSND hai cấp tỉnh Bình Định đã đình chỉ điều tra 23 vụ với 41 bị can. Số vụ án xâm phạm sở hữu bị đình chỉ không đúng quy định 6 vụ/ 13 bị can.
– Nguyên nhân những tồn tại trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
a. Nguyên nhân phát sinh từ những quy định của pháp luật
(1) Quy định làm hạn chế thẩm quyền khởi tố vụ án của Viện kiểm sát; không có cơ chế bảo đảm yêu cầu của Viện kiểm sát được Cơ quan điều tra thực hiện; (2) thời hạn tố tụng để Viện kiểm sát xem xét phê chuẩn các quyết định, lệnh của Cơ quan điều tra là quá ngắn;(3) quy định thẩm quyền của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra quá ít; (4) theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2003 về biện pháp ngăn chặn tạm giam, quy định này mang tính định tính, do đó Cơ quan điều tra thường lạm dụng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam khi hợp thức hóa tài liệu, chứng cứ chứng minh bị can đã gây khó khăn, cản trở quá trình điều tra; (5) không quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra đình nã bị can; phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can khi bắt được bị can, phát hiện lý do đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra không còn…
b. Những nguyên nhân khác làm hạn chế hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án án hình sự
Thứ nhất, một bộ phận Kiểm sát viên, cán bộ lãnh đạo của Viện kiểm sát chưa nhận thức đúng về quyền công tố cũng như trách nhiệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự xâm phạm sở hữu nói riêng và trong vụ án hình sự nói chung, về mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Thứ hai, quan hệ phối hợp trong giải quyết án trong nhiều trường hợp còn thiếu tính chặt chẽ, có trường hợp còn đùn đẩy trách nhiệm.
Thứ ba, xuất phát quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy và cơ chế đảm bảo đấu tranh chống tội phạm còn thiếu đồng bộ, có điểm chưa hợp lý.
Thứ tư, cơ chế quản lý, điều hành việc giải quyết án hình sự của Viện kiểm sát luôn có sự biến động trong thời gian qua gây khó khăn và không tạo tính ổn định trong việc thực hiện chức năng của ngành.
Thứ năm, hoạt động tổng kết thực tiễn, hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ và đúc kết kinh nghiệm thành các chuyên đề tập huấn còn thiếu và yếu.
CHƯƠNG 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐÚNG TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ XÂM PHẠM SỞ HỮU
3.1. Yêu cầu đối với hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
– Đổi mới thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp bảo đảm tôn trọng quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân, không để xảy ra các trường hợp oan, sai.
– Đổi mới thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đảm bảo tăng cường hiệu lực, hiệu quả các cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra
– Cải cách thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra đáp ứng yêu cầu xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của các chủ thể tố tụng, đề cao trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng; công khai minh bạch, dân chủ và giản tiện các thủ tục TTHS.
3.2.1.1. Triển khai thi hành và kịp thời hướng dẫn áp dụng đối vớiBLTTHS năm 2015, BLHS năm 2015
Cần thay đổi nhận thức đối với lãnh đạo Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đảm bảo tuân thủ quy định Điều 37, Điều 42 BLTTHS năm 2015 về việc mở rộng quyền năng pháp lý của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án. Ngoài ra, trong thời gian tới toàn ngành KSND cần quán triệt những nội dung mới của BLTTHS năm 2015 đến cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Các ngành, Liên ngành tố tụng trung ương cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản hướng dẫn thi hành luật, triển khia thực hiện quy định về ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với bị can, bị cáo theo quy định của BLTTHS năm 2015.
3.2.1.2. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật
– Về khởi tố vụ án hình sự: Chúng tôi cho rằng cần bổ sung thẩm quyền khởi tố vụ án của Viện kiểm sát trong trường hợp “đã yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án nhưng không được thực hiện” vào khoản 3 Điều 153 BLTTHS năm 2015. Ngoài ra, để đảm bảo phù hợp với chức năng tố tụng của Tòa án được Hiến pháp năm 2013 quy định; đảm bảo cho Tòa án tập trung thực hiện chức năng xét xử, không tham gia thực hiện chức năng buộc tôi, đảm bảo vụ án được xem xét và phán quyết khách quan, đúng pháp luật cần sửa đổi quy định khoản 4 Điều 153 BLTTHS năm 2015 như sau: “HĐXX kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”.
Chúng tôi cho rằng cần bổ sung một số hành vi phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm quan hệ sở hữu vào trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại theo Điều 155 BLTTHS năm 2015. Cụ thể, cần bổ sung khoản 1 Điều 173, Điều 176, Điều 177, Điều 180 BLHS năm 2015 vào khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015.
– Về thẩm quyền khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can: Việc ra quyết định khởi tố bị can là để tiến hành điều tra với một người phạm tội mà cơ quan có thẩm quyền chưa hoàn toàn có đủ chứng cứ chứng minh họ đã phạm tội, và cơ quan có thẩm quyền khởi tố bị can ngoài Cơ quan điều tra còn có Viện kiểm sát, do vậy cần sửa đổi khoản 1Điều 179 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “Khi có đủ căn cứ để xác định một người bị nghi thực hiện hành vi mà BLHS quy định là phạm tội thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can”.
Ngoài ra, để tránh tình trạng truy tới cùng, tức khi xác định hành vi của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố, các cơ quan tố tụng “chữa cháy” bằng cách thay đổi quyết định khởi tố bị can một cách tùy tiện. Theo đó, cần sửa đổi Điều 180 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “Khi tiến hành điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can về tội có cùng tính chất. Trường hợp xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác không cùng tính chất thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can về tội danh đã khởi tố và ra quyết định khởi tố bị can về tội danh mới để tiến hành điều tra nếu đủ căn cứ”.
– Để đảm bảo việc điều tra, thu thập các tài liệu, chứng cứ trong những trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can được khách quan, toàn diện thì cần sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 163 BLTTHS năm 2015 theo hướng bổ sung cho Cơ quan điều tra VKSNDTC “có thẩm quyền điều tra những vụ án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được Viện kiểm sát các cấp khởi tố vụ án, khởi tố bị can yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra nhưng không được đảm bảo”.
Về thẩm quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự nên tách thẩm quyền ý cuối điểm c “quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn và trái pháp luật của Kiểm sát viên” và điểm d, khoản 1 Điều 41 chuyển sang khoản 2 Điều 41 BLTTHS năm 2015.
– Về trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát. Cần sửa đổi Điều 162 BLTTHS năm 2015 như sau:
“1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát.
2. Đối với quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 159, điểm b khoản 1 Điều 161 của Bộ luật này, nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp…”.
– Thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Theo đó, cần bỏ khoản 1 Điều 112 BLTTHS năm 2015; cần thay đổi khoản 5 Điều 119 BLTTHS năm 2015 theo hướng giao Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp tạm giam theo đề nghị của cơ quan điều tra hoặc tự mình ra quyết định khi cần thiết trong giai đoạn điều tra, truy tố, Tòa án quyết định tạm giam trong giai đoạn xét xử. Tương tự với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can để thay thế biện pháp tạm giam như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm theo quy định tại Điều 121, Điều 122 BLTTHS năm 2015, cũng cần quy định Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất quyết địnhviệc áp dụng các biện pháp ngăn chặn này trong giai đoạn điều tra, truy tố.
3.2.2.1. Nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo điều hành công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Thứ nhất, quản lý chặt chẽ việc thụ lý, giải quyết các vụ án, không để án tồn đọng kéo dài hoặc không có hình thức xử lý.
Thứ hai, lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong TTHS của Cơ quan điều tra cùng cấp.
Thứ ba, tăng cường theo dõi, tổng hợp vi phạm, ban hành kiến nghị Cơ quan điều tra đề ra biện pháp chấn chỉnh, khắc phục, hạn chế những vi phạm trong hoạt động điều tra.
Thứ tư, các cấp kiểm sát phải coi trọng đi sâu phân tích, tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tình trạng tội phạm; từ đó tăng cường công tác phòng ngừa tội phạm; gắn thống kê tội phạm với phân tích tội phạm để có cơ sở tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
3.2.2.2. Nhận thức đúng đắn về trách nhiệm công tố trong giai đoạn điều tra
Thứ nhất, trách nhiệm công tố trong giai đoạn điều tra là sự chủ động của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra.
Thứ hai, thực hiện tốt hoạt động kiểm sát điều tra là cơ sở thực hiện hiệu quả trách nhiệm công tố.
Thứ ba, tăng cường trách nhiệm công tố là nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, trước sinh mệnh chính trị của con người và nhiệm vụ được giao.
3.2.2.3. Đổi mới phương thức phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra
3.2.2.4. Đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng và không ngừng nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
Thứ nhất, đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Kiểm sát viên:
Thứ hai, quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực tội phạm cụ thể; nghiên cứu giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố cho từng cán bộ, Kiểm sát viên với những thế mạnh nhất định, đồng thời ban hành chế độ đãi ngộ đặc thù đối với các nhóm tội đặc biệt.
Thứ ba, tăng cường công tác tập huấn chuyên sâu về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra theo hướng tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra.
Thứ tư, tăng cường công tác đào tạo tại chỗ, tự đào tạo cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra tại các Viện kiểm sát địa phương.
Thứ năm, mỗi Kiểm sát viên phải tự mình thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, trau dồi các kiến thức pháp lý và các tri thức khoa học khác cần thiết cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
3.2.2.5. Đảm bảo các điều kiện về vật chất cho công tác thực hành quyền công tố

KẾT LUẬN
– Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được thực hiện từ khi khởi tố vụ án đến khi quá trình điều tra kết thúc.
– Theo quy định BLTTHS năm 2003, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyền đề ra yêu cầu điều tra và trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; quyền phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc áp dụng một số biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của con người; quyền áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; quyền hủy bỏ các quyết định cả Cơ quan điều tra theo luật định và quyền yêu cầu truy nã bị can; quyền quyết định việc tiếp tục hay chấm dứt quá trình tố tụng đối với vụ án. BLTTHS năm 2015 ra đời với những sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những khó khăn, bất cập đã tồn tại liên quan đến trình tự, thủ tục thực hành quyền công tố luật định, đồng thời Bộ luật cũng có những điều chỉnh liên quan đến việc xác định các hoạt động thuộc chức năng công tố
– Thực tiễn công tác thực hành quyền công tố của VKSND hai cấp tỉnh Bình Định trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu nói riêng và đối với vụ án hình sự nói chung còn bộc lộ những sai sót, vị trí vai trò của Ngành kiểm sát chưa được thể hiện, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Những hạn chế thiếu xót đó xuất phát từ những nguyên nhân lẫn khách quan và chủ quan trong quá trình áp dụng pháp luật. Đó có thể là nguyên nhân phát sinh từ những vướng mắc, bất cập từ khía cạnh pháp luật, đó cũng có thể là do năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố…Do đó, để giúp Viện kiểm sát thể hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót dẫn đến oan, sai,bỏ lọt tội phạm chúng ta cần nghiên cứu đưa vào áp dụng một cách đồng bộ những giải pháp nhằm triệt tiêu những nguyên nhân làm phát sinh những hạn chế trong công tác thực hành quyền công tố nêu trên như: Hoàn thiện quy định pháp luật, triển khai thi hành và hướng dẫn áp dụng các đạo luật mới được Quốc hội thông qua, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên và tạo những điều kiện thuận lợi nhất để ngành KSND thực hiện tốt chức năng được giao.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\PHAN VAN QUOC\SAU BAO VE


