Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đất nước, các khu công nghiệp, khu dân cư phát triển nhanh trên cả nước, nhất là nhu cầu thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia và đầu tư xây dựng các công trình công cộng, phát triển đô thị, các dự án sản xuất, kinh doanh là một tất yếu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Thực tế hiện nay công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế – xã hội. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, không chỉ là chính sách giải tỏa bồi thường, mà nó nằm trong tất cả các chính sách và pháp luật liên quan đến cải tạo và phát triển đô thị từ khâu quy hoạch, đến đầu tư xây dựng, tới quản lý các khu dân cư mới.

Từ thực tiễn cho thấy, việc thu hồi đất để thực hiện dự án là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội và chính trị. Giải quyết không tốt, không thỏa đáng quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất dễ dẫn đến khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đông người, vấn đề là phải giải quyết như thế nào để dung hòa được những mâu thuẫn giữa lợi ích của người dân có đất bị thu hồi và lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư. Vì vậy, để đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên liên quan, Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện và đổi mới pháp luật về đất đai và đặc biệt chú trọng đến các quy định về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và bố trí tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

Trong thời gian qua mặc dù chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong việc thu hồi đất luôn được nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng đã bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc như:

Đơn cử công tác kiểm kê, hiệp thương bồi thường rất chậm so với thời điểm ban hành phương án bồi thường (trên 01 năm, thậm chí trên 03 năm), dẫn đến việc áp giá bồi thường tại thời điểm hiệp thương đã khác xa thị trường bất động sản.

Về trình tự thu hồi đất, về giá bồi thường đất, tái định cư thiếu chặt chẽ và còn nhiều bất cập. Pháp luật về đất đai, về bồi thường thiệt hại đối với người dân bị thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế thiếu ổn định, luôn thay đổi, nhưng chưa có cơ chế cho phép áp dụng hoặc điều chỉnh theo quy định mới mà vẫn thực hiện theo phương án bồi thường đã phê duyệt.

Việc xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chưa phù hợp với thực tế, chưa vận dụng hết chính sách theo quy định của Nhà nước.

Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn, gây bức xúc trong dư luận, tác động tiêu cực đến các lĩnh vực kinh tế – xã hội của đất nước.

Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ngãi đang mở rộng thành phố Quảng Ngãi sang các vùng lân cận của các huyện (ngoại thành), trong quá trình đô thị hóa ngày càng mạnh của thành phố Quảng Ngãi. Việc mở rộng thành phố ra các vùng ngoại thành, dẫn đến việc sáp nhập các vùng nông thôn lân cận, biến các vùng này thành một bộ phận mới của đô thị, cơ sở hạ tầng được đầu tư mở rộng trên phương diện số lượng và chất lượng; giao thông trở nên thuận tiện.

Bên cạnh đó cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề xung quanh việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Do vậy, một số dự án đã không được triển khai theo tiến độ dự kiến ban đầu do không hoàn tất được công tác bồi thường đúng kế hoạch. Mặt khác, cuộc sống và sản xuất của người dân bị thu hồi đất, phải di dời nơi ở gặp phải một số xáo trộn trong quá trình thực thi pháp luật đất đai.

Để góp phần khắc phục tình trạng này, việc đi sâu nghiên cứu quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất của là rất cần thiết. Qua đó có thể phân tích được thực trạng pháp luật, đồng thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành gắn với thực tiễn hiện nay tại tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, việc chọn đề tài “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sỹ Luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế là có tính cấp thiết.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định đối với người dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đi sâu tìm hiểu, đánh giá việc thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đồng thời nêu ra những bất cập hiện nay, đề xuất giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt hơn các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất tại các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở tỉnh Quảng Ngãi để nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu:

– Các văn bản pháp luật có liên quan đã được ban hành từ trước cho đến nay về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

– Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất trên địa tỉnh Quảng Ngãi.

– Nghiên cứu những ảnh hưởng của các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đến đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

– Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất và nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi sâu các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm các quy định của Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003; Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2013.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: là pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất; các số liệu từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2010 đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đặt biệt là quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp 2013. Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử để phân tích những vấn đề đặt ra trong luận văn; tuân theo quy luật logic, tổng hợp, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, khảo cứu tài liệu và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có để giải quyết những vấn đề trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất một cách tổng hợp, toàn diện; phân tích làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến thu hồi đất, việc giải quyết hài hòa giữa chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của luật đất đai 2003 và chính sách mới về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Luật Đất đai 2013. Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đi sâu phân tích, luận giải những điểm tiến bộ, hợp lý cũng như những vấn đề còn bất cập, vướng mắt, khó khăn khi áp dụng vào thực tiễn của các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hiện hành.

6.2. Ý nghĩa thưc tiễn: Đề tài có ý nghĩa áp dụng ở địa phương, nhất là thực tế tại tỉnh Quảng Ngãi.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

Chương 2: Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN BỊ

THU HỒI ĐẤT

    1. 1.1. Quan niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất:
      1. 1.1.1. Quan niệm về Nhà nước thu hồi đất đối với người dân

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng “Thu hồi: Lấy lại cái đã đưa ra, đã cấp phát ra hoặc bị người khác lấy” [32, tr.759].

Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là: “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” [21].

Có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi đất như sau: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai”.

      1. 1.1.2. Quan niệm về bồi thường, hỗ trợ đối với người dân bị thu hồi đất

1.1.2.1. Quan niệm về bồi thường đối với người dân bị thu hồi đất

Theo quy định của pháp luật đất đai, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục đích phát triển kinh tế.

Có thể hiểu một cách đầy đủ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như sau: Bồi thường đối với người dân bị thu hồi đất là việc Nhà nước thu hồi đất của tổ chức, cá nhân để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra, cho người sử dụng đất tuân theo những quy định của pháp luật đất đai.

Bồi thường đối với người dân bị thu hồi đất mang một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục tiêu phát triển kinh tế.

Thứ hai, về đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: chỉ những người có quyền sử dụng đất hợp pháp.

Thứ ba, về phạm vi bồi thường đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất phải được Nhà nước xem xét, giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như được hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sản xuất, chuyển đổi việc làm thông qua đào tạo nghề mới, …

1.1.2.2. Quan niệm về hỗ trợ đối với người dân bị thu hồi đất

Khi Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất bị mất nơi ở, đảo lộn cuộc sống vốn bình yên, thậm chí nó có thể dẫn đến hệ quả mất việc làm, mất kế sinh nhai,… Để giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định đời sống thì bên cạnh việc bồi thường, Nhà nước phải thực hiện việc hỗ trợ. Với ý nghĩa đó, Luật Đất đai năm 2013 quan niệm: Hỗ trợ đối với người dân bị thu hồi đất” là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” (Khoản 14, Điều 3).

      1. 1.1.3. Quan niệm về tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Có thể hiểu tái định cư là việc một lần nữa chuyển đến một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn ổn định.

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay ở Việt Nam, tái định cư cho người dân bị mất đất ở là một vấn đề rất bức thiết, được dư luận quan tâm.

Từ những cơ sở trên, có thể đưa ra khái niệm về tái định cư như sau: Tái định cư là một trong các trách nhiệm của Nhà nước bố trí nơi ở mới cho người bị Nhà nước thu hồi đất và phải di chuyển chỗ ở bằng một trong các hình thức: Bồi thường bằng nhà ở mới hoặc bồi thường bằng giao đất ở hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới, tái định cư là hậu quả pháp lý của hành vi thu hồi đất của Nhà nước.

Từ khái niệm nêu trên, tái định cư có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tái định cư là một phương thức bồi thường thiệt hại về tài sản khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ hai, tái định cư như phân tích ở trên là một phương thức bồi thường thiệt hại về tài sản.

Thứ ba, những thiệt hại phát sinh từ hành vi thu hồi đất ở của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật không phải là thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật nên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với những thiệt hại do hành vi thu hồi đất gây ra khác với trách nhiệm của các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại và phải bồi thường.

Thứ tư, tái định cư là biện pháp nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế – văn hóa – xã hội đối với một bộ phận dân cư phải di chuyển nơi ở vì sự phát triển chung của đất nước.

Thứ năm, tái định cư có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức bồi thường khác khi Nhà nước thu hồi đất ở.

    1. 1.2. Những ảnh hưởng đối với người dân bị thu hồi đất và nhu cầu được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
      1. 1.2.1. Những ảnh hưởng đối với người dân bị thu hồi đất

Khi vấn đề thu hồi đất đã được đặt ra sẽ ảnh hưởng nhiều đến chủ thể liên quan, trong đó người bị thu hồi đất là người chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất. Nếu không quan tâm giải quyết nhanh chóng, đúng mức, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất thì việc thực hiện thu hồi đất chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Điều này đã được kiểm nghiệm trên thực tế:

Mất chỗ ở, chỗ ở của người dân không chỉ đơn thuần là nơi họ sinh sống mà còn gắn với tài sản, môi trường, các quan hệ kinh tế-xã hội, văn hóa đã gắn bó họ với địa bàn đó.

Thiệt hại về tài sản là thành quả lao động và kết quả đầu tư của người bị thu hồi đất được tạo ra trong quá trình sử dụng đất

Thiệt hại về công sức đầu tư mà người bị thu hồi đất bỏ ra để làm tăng giá trị quyền sử dụng đất.

Thiệt hại do ngừng việc, ngừng sản xuất kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất

Về việc làm (tư liệu sản xuất), do bị thu hồi tư liệu sản xuất nên một bộ phận lao động có độ tuổi cao, trình độ lao động thấp không còn đất để sản xuất, kinh doanh dịch vụ và không có khả năng tìm việc làm mới.

Về thu nhập, có những hộ mất đất nhưng không chuyển đổi được việc làm sẽ dẫn tới không có thu nhập

Về văn hóa – xã hội: Các khu công nghiệp, khu kinh tế xuất hiện có thể làm mất đi những phong tục tập quán tốt của địa phương.

      1. 1.2.2. Nhu cầu khách quan cần phải bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Việc giải quyết tốt vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề rất cần thiết, mang ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện:

Thứ nhất, về phương diện chính trị: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất.

Thứ hai, về phương diện kinh tế – xã hội: Thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là điều kiện để doanh nghiệp sớm có mặt bằng triển khai các dự án đầu tư góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta.

    1. 1.3. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Đất đai là một loại tài sản đặt biệt đối với người dân, tài nguyên đặt biệt của quốc gia, là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước; Nhà nước giao cho người dân sử dụng. Vì thế, Nhà nước đã tuyên bố bảo hộ quyền sử dụng chính đáng của mình bằng việc ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để bảo vệ, bảo hộ và điều tiết loại tài sản đặt biệt này.

Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia; lợi ích công cộng và các mục đích phát triển kinh tế không chỉ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai của người dân mà còn “đụng chạm” đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Do vậy, trên thực tế việc giải quyết hậu quả của việc thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp.

Từ phân tích nêu trên, có thể nêu khái quát khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (đất và tài sản).

  Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ, tạo điều kiện cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống sản xuất, vượt qua khó khăn khi bị Nhà nước thu hồi đất (hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; hỗ trợ khác).  

Tái định cư là người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định mà phải di chuyển chỗ ở thì được tái định cư bằng các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở, bồi thường bằng giao đất ở mới, bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.

Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất của người dân thì phải bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người dân theo quy định.

    1. 1.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất có tính chất thời sự, phức tạp và bao gồm nhiều nội dung cấu thành. Tuy nhiên về cơ bản, các vấn đề pháp lý đặc thù về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất gồm những nhóm chính sau:

Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định về nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi.

Thứ hai, nhóm quy phạm quy định về nội dung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi.

Thứ ba, nhóm quy phạm quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ tư, nhóm quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

    1. 1.5. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất
      1. 1.5.1. Giai đoạn trước khi ban hành Luật Đất đai năm 1993
      2. 1.5.2. Giai đoạn từ năm 1993 đến trước khi ban hành Luật Đất đai năm 2003
      3. 1.5.3. Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay

Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển khá lâu dài, gắn liền với việc Nhà nước ban hành các đạo luật: Luật Đất đai 1987; Luật Đất đai 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và năm 2001, Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai năm 2013. Các quy định trong lĩnh vực này thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống.

Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ

TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT VÀ

THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

    1. 2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất
      1. 2.1.1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Thứ nhất, Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có đủ điều kiện thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ.

Thứ hai, Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND tỉnh quyết định.

Thứ ba, việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư.

Thứ tư, việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Thứ năm, ngoài ra trong Luật Đất đai 2013 còn ghi nhận tại Điều 85 về Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất.

      1. 2.1.2. Về điều kiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Thứ nhất, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận.

Thứ hai, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng trực tiếp sản xuất nông nghiệp và đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004.

      1. 2.1.3. Nội dung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

2.1.3.1. Nội dung bồi thường đối với người dân bị thu hồi đất

2.1.3.2. Nội dung hỗ trợ đối với người dân bị thu hồi đất

2.1.3.3. Nội dung pháp luật về tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

      1. 2.1.4. Trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Bước 1: Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.

Bước 2: Lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Bước 3: Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Bước 4: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt bằng.

Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vẫn tồn tại một số vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, vướng mắc ở việc giao trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho tổ chức làm nhiệm vụ giải phóng mặt bằng nói chung mà không chỉ rõ là tổ chức phát triển quỹ đất hay Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Thứ hai, việc lấy ý kiến của người bị thu hồi đất đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trở nên hình thức, mà chưa bảo vệ triệt để quyền của người dân bị có đất bị thu hồi.

      1. 2.1.5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về bồi thường đối với người dân bị thu hồi đất thực hiện theo quy định tại Điều 204, Điều 205 Luật Đất đai 2013.

Bên cạnh quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai, cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

    1. 2.2. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất tại tỉnh Quảng Ngãi
      1. 2.2.1. Những điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ngãi có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất
      2. 2.2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất tại tỉnh Quảng Ngãi

2.2.2.1. Các quy định bồi thường, hỗ trợ về tài sản và những vấn đề đặt ra

2.2.2.2. Các chính sách hỗ trợ khác và những vấn đề đặt ra

2.2.2.3. Các chính sách tái định cư và những vấn đề đặt ra

      1. 2.2.3. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất tại tỉnh Quảng Ngãi

2.3.2.1. Ưu điểm

– Nhìn nhận dưới góc độ tổ chức thực hiện pháp luật:

Thứ nhất, sau mỗi văn bản của Chính phủ được ban hành, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn chi tiết để thực hiện và hàng loạt các văn bản liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đây là điều kiện tiền đề và thuận lợi để triển khai trong thực tế.

Thứ hai, nhiều quy định đã được cụ thể hóa, chi tiết hóa trên cơ sở phù hợp với các văn bản của Chính phủ và phù hợp với thực tế đặc điểm, tình hình quản lý đất đai của địa phương.

Thứ ba, về giá bồi thường thiệt hại về đất và các tài sản gắn liền với đất, cây cối, hoa màu đã có những quy định linh hoạt hơn, phù hợp với mỗi vị trí, địa bàn trên toàn tỉnh.

Thứ tư, trình tự, thủ tục hành chính cũng đã được đơn giản hóa giúp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác thu hồi đất đạt hiệu quả.

Thứ năm, vấn đề minh bạch, công khai hóa quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được chính quyền quan tâm chú trọng.

– Nhìn từ góc độ hiệu quả ở các mặt kinh tế – xã hội:

Thứ nhất, góp phần giảm bớt tiêu cực đối với người dân khi bị thu hồi đất, góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi.

Thứ hai, một số dự án lớn đã tạo điều kiện và động lực thúc đẩy nhanh hơn sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhiều dự án lớn và quan trọng mang tính chất đột phá làm cho tỉnh Quảng Ngãi có sự thay đổi cả lượng và chất.

Thứ ba, nhiều dự án khi đi vào hoạt động đã giải quyết công văn, việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương; giúp họ tăng thêm thu nhập, ổn định cuộc sống hơn so với trước đây.

* Đạt được kết quả nêu trên là do:

– Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã tương đối hợp lý và tuân thủ các quy định chung của Nhà nước.

– Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã kết hợp khá tốt với các quy định pháp luật khác.

2.3.2.2. Hạn chế, bất cập

Thứ nhất, về giá đất bồi thường hiện nay, đa số các trường hợp giá đất tính bồi thường thấp hơn giá thị trường rất nhiều, thông thường giá đất tại tỉnh Quảng Ngãi công bố chỉ bằng khoảng 50-60% giá thị trường.

Thứ hai, vướng mắt trong công tác tái định cư

Thứ ba, tiến độ lập hồ sơ, thẩm định phương án và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn châm so với yêu cầu. Thực tế đó gây nên bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân.

Thứ tư, việc lập hồ sơ bồi thường, giải phóng mặt bằng của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở một số dự án trong tỉnh nhiều khi không đầy đủ.

Thứ năm, sau khi thu hồi đất cuộc sống của người dân không được cải thiện nhiều.

* Nguyên nhân xuất phát từ các quy định của pháp luật:

Thứ nhất, các văn bản pháp luật điều chỉnh về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được ban hành nhiều, nhưng thiếu đồng bộ, chồng chéo, gây khó khăn khi áp dụng trên thực tế.

Thứ hai, do cơ chế xác định giá đất còn nhiều bất cập, nặng về tính nguyên tắc và áp đặt hành chính.

Thứ ba, pháp luật về đất đai thiếu các chế tài xử lý đối với những trường hợp chậm thực hiện dự án, tình trạng dự án bỏ hoang, đắp chiếu nhiều năm gây lãng phí tài nguyên đất cần phải được điều tra, thanh tra, kiểm soát chặt chẽ để có hướng xử lý đúng đắn, hợp lý và nghiêm túc.

Thứ tư, pháp luật về đất đai thiếu quy định làm cơ sở thực hiện đo đạc, kiểm đếm bắt buộc để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi có quyết định thu hồi đất nên khó khăn trong thực hiện, nhất là đối với trường hợp người bị thu hồi đất không hợp tác để thực hiện đo đạc, kiểm đếm.

Thứ năm, pháp luật hiện hành cho phép hai cơ chế bồi thường cùng song song tồn tại là bồi thường theo giá Nhà nước quy định và bồi thương trên cơ sở thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người dân, đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo dẫn đến việc thực hiện dự án kéo dài.

Thứ sáu, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai còn nhiều quy định chưa thống nhất.

* Nguyên nhân xuất phát từ quá trình thực thi và áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền:

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân các cấp vừa là chủ thể có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, vừa là chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai của tổ chức, cá nhân, dẫn đến tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi.

Thứ hai, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai liên quan đến thẩm quyền của nhiều cơ quan, ban ngành khác nhau như Tài nguyên và Môt trường, Thanh tra, Trung tâm Phát triển Quỹ đất … Trong khi đó, cơ chế phối hợp chưa tốt dẫn đến tình trạng đơn khiếu nại, tố cáo còn tồn đọng, vi phạm thời gian giải quyết theo quy định của pháp luật diễn ra phổ biến.

Thứ ba, các cấp chính quyền chưa thật sự vào cuộc, chưa quyết liệt dẫn đến các khiếu kiện kéo dài không được giải quyết

Thứ tư, công tác hòa giải ở cấp cơ sở chưa phát huy hiệu quả.

Thứ năm, việc chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức.

Thứ sáu, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành.

Thứ bảy, các vụ khiếu nại về đất đai liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phần lớn tập trung vào đất không có các loại giấy tờ theo quy định, nên việc xác định về loại đất, thời điểm sử dụng đất gặp rất nhiều khó khăn.

Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

    1. 3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Từ thực trạng về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất như đã nêu tại chương 2 cho thấy:

Thứ nhất, trong thời gian qua, công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở tỉnh Quảng Ngãi chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vướng mắc, tồn đọng không được kịp thời giải quyết.

Thứ hai, các văn bản pháp lý quản lý nhà nước về đất đai nói chung, chính sách, thủ tục trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nói riêng thiếu tính ổn định, chưa thực sự hoàn chỉnh và còn chưa phù hợp thực tế.

Thứ ba, chính quyền các cấp không có đầy đủ hồ sơ quản lý, không cập nhật biến động thường xuyên, không quản lý được những vụ việc mua bán, chuyển nhượng đất đai không theo đúng quy định của pháp luật, đã gây nhiều khó khăn cho công tác kiểm kê, thẩm định làm chậm trễ, ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng.

Thứ tư, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhiều trường hợp còn thiếu chính xác.

Thứ năm, một số cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng chưa được đào tạo nghiệp vụ, mức độ nghiên cứu và áp dụng đúng các văn bản pháp luật hiện hành còn hạn chế.

Thứ sáu, giá đất để bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong thời gian qua quá thấp so với giá chuyển nhượng thực tế tại địa phương làm cho người dân cảm thấy bị thiệt thòi.

Thứ bảy, một số phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa thực hiện chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề nghiệp, tuyển dụng tạo việc làm cho các các đối tượng bị ảnh hưởng.

Thứ tám, việc xây dựng các khu tái định cư của các dự án thường bị động, cơ sở hạ tầng không được đầu tư đồng bộ theo quy định…

Thứ chín, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về đất đai và chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất ở các địa phương còn hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức.

    1. 3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Thứ hai, phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, Chủ đầu tư và người dân bị thu hồi đất.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch.

Thứ tư, kế thừa, phát triển những quy định hiện hành về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất để hoàn thiện pháp luật.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên sự nghiên cứu một cách khoa học pháp luật của các quốc gia trên thế giới và tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm bổ ích của nước ngoài về vấn đề này nhưng phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội của Việt Nam.

    1. 3.3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
      1. 3.3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất

Thứ nhất, về nguyên tắc bồi thường xem xét sửa đổi những vấn đề liên quan đến giá đất làm cơ sở để tính giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

Thứ hai, về điều kiện bồi thường đối với người dân bị thu hồi đất cần có những hướng dẫn làm rõ những quy định áp dụng như đất không có tranh chấp, sử dụng theo quy hoạch kế hoạch để áp dụng điều kiện được thống nhất khi thực hiện công tác.

Thứ ba, về nội dung bồi thường, hỗ trợ cần hoàn thiện các quy định về hỗ trợ theo hướng tập trung, thống nhất và hiệu quả.

Thứ tư, về trình tự thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, trong thời gian tới cần nghiên cứu, sửa đổi, nhằm phát huy hơn nữa quyền của người bị thu hồi đất được tham gia vào quá trình xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đồng thời tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình thực thi pháp luật.

Thứ năm, về giải quyết khiếu nại, tố cáo khi Nhà nước thu hồi đất, nên cụ thể hóa những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề này.

Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hiện hành về cấp giấy chứng nhận, trong đó quy định rõ cách thức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ bảy, nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện.

      1. 3.3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Thứ nhất, tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai nói chung và pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng cho cán bộ và nhân dân.

Thứ hai, kiện toàn tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ ba, tăng cường minh bạch trong quá trình thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện các quy định về trật tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Để góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quy trình thu hồi đất và bồi thường, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau.

Một là, tăng cường kiểm tra, thanh tra (định kỳ hoặc đột xuất) nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những yếu kém, sai phạm và xử lý nghiêm minh các vi phạm.

Hai là, thực hiện việc giám sát thi hành thông qua Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc tại địa phương nhằm giúp các cơ quan có liên quan được giao nhiệm vụ thực hiện công tác.

Ba là, kiểm tra, thanh tra việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ năm, nâng cao năng lực, trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện đại hóa hệ thống bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính.

Thứ bảy, chú trọng công tác giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất.

Thứ tám, giải quyết nhanh, dứt điểm các khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

KẾT LUẬN

Thời gian qua, Nhà nước đã thường xuyên ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất cho phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của đất nước. Đặc biệt, ngày 01/7/2014 Luật Đất đai 2013 đã chính thức có hiệu lực thi hành. Theo đó, các phương thức bồi thường được quy định đa dạng hơn; mức bồi thường, hỗ trợ được nâng lên nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất, các quy định, trình tự, thủ tục khi Nhà nước thu hồi đất, thực hiện bồi thường, hỗ trợ được quy định cụ thể, rõ ràng theo hướng minh bạch và công khai hóa, các quy định về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực này được xác lập rõ ràng, cụ thể và dân chủ hơn nhiều so với quy định trước đây.

Luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận cũng như các quy định pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất, chỉ ra những ưu điểm đã đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân còn tồn tại trong nội tại những quy định và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

Việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được nhiều kết quả tích cực góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, thực tiễn, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế, những quy định đã sửa đổi nhưng cần tiếp tục được làm rõ như đã phân tích trong luận văn. Đặc biệt, từ thực trạng tại tỉnh Quảng Ngãi có thể thấy quá trình tổ chức thực thi pháp luật trên thực tế còn nhiều vướng mắc, chưa phát huy hiệu quả, nhiều trường hợp vi phạm quy định của pháp luật nhưng chưa được xử lý nghiêm, dẫn đến đa số các trường hợp giải phóng mặt bằng còn chậm tiến độ, khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài, phức tạp và mang tính thời sự nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội; có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, tâm lý của người dân và tác động không nhỏ đến sự ổn định chính trị. Pháp luật về nội dung này luôn được rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn.

Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

Tôi cho rằng, tiếp cận pháp luật về đất đai, trong đó có pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất là vấn đề về lý luận và thực tiễn, đây là lĩnh vực phức tạp và khá rộng lớn đòi hỏi phải đi sâu phân tích, đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ, khách quan nhiều khía cạnh, cả về lý luận và thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất, chính vì vậy cần tiếp tục có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện nhất là giới nghiên cứu khoa học được tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT KINH TE\NGUYEN CONG HUY\New folder

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *