Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
- Tính cấp thiết của đề tài
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế, tại Điều 106, Hiếp pháp năm 2013 khẳng định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
Thi hành án dân sự là một hoạt động đã, đang và sẽ là “vấn đề nóng” của xã hội, do đó đòi hỏi các ngành, các cấp cần phải có sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời để tìm ra giải pháp đúng đắn cho lĩnh vực còn gặp nhiều trắc trở này. Tầm quan trọng của hoạt động thi hành án còn được thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 như sau: “xây dựng cơ chế đảm bảo mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Trong các biện pháp cưỡng chế mà Luật thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì biện pháp kê biên tài sản là phức tạp và thường gặp khó khăn nhất khi áp dụng. Việc ban hành Luật thi hành án dân sự – Một văn bản chuyên ngành có giá trị pháp lý cao với cơ chế mới và chặt chẽ cho thấy công tác thi hành án dân sự đã dần đi vào lề lối.
Thể hiện tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên bên cạnh các kết quả đạt được vấn đề áp dụng biện pháp kê biên tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn những khó khăn vướng mắc, bất cập nhất định, như nhiều bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng chậm tổ chức thi hành; việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản còn tồn tại…, các nguyên nhân chủ quan và khách quan liên quan đến vấn đề này có thể xuất phát từ những bất cập của pháp luật về kê biên tài sản. Hay công tác phối hợp kê biên tài sản còn chưa được chính quyền địa phương chú trọng; điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành thi hành án dân sự chưa được quan tâm tốt.
Vì những lý do trên việc chọn lựa đề tài “Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế của mình là cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
- Tình hình nghiên cứu đề tài
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm rõ nhĩng cơ sở lý luận về thi hành án và kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
– Phân tích về pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, thực tiễn thi hành án dân sự và tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó.
– Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuân khổ luận văn thạc sĩ luật học, tôi tập trung nguyên cứu cở sở lý luận và thực tiễn về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, từ đó rút ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại địa phương tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với vụ việc mà Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp kê biên tài sản dựa vào Luật thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổ, bổ sung năm 2014, và văn bản hướng dẫn thi hành tại tỉnh Quảng Ngãi.
Thời gian nghiên cứu trong phạm vi từ 2011 -2015.
- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối của Đảng, luật pháp của Nhà nước, vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành và luận văn triệt để vận dụng phương pháp nghiên cứu kê biên tài sản để thi hành án dân sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp liệt kê, thống kê, sử dụng các trang web để tìm kiếm tài liệu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã đặt ra và luận giải một số quan điểm cơ quản về khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, tìm hiểu đặc điểm, bản chất của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, góp phần bổ sung làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án dân sự từ tỉnh Quảng Ngãi.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Từ việc đánh giá thực trạng pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, tác giả đã đưa ra được những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án dân sự.
Từ việc đánh giá thực tiễn kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, tác giả đã phân tích những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ tỉnh Quảng Ngãi
- Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu luận văn này có kết cấu 03 Chương.
Chương 1. Những vấn đề lý luận về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
Chương 2. Thực trạng kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3. Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng Pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
* Khái niệm kê biên tài sản
Có rất nhiều cách hiểu về kê biên chẳng hạn như theo từ điển bách khoa toàn thư thì [kê biên là cưỡng chế của Nhà nước đối với tài sản của người vi phạm pháp luật. Kê biên tài sản trong thi hành án là một trong những biện pháp cưỡng chế và CHV có quyền áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành].
* Đặc điểm của kê biên tài sản
Thứ nhất, kê biên là giai đoạn đầu của một trong sáu biện pháp cưỡng chế THADS. Với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án là cá nhân, tổ chức, cơ quan và lợi ích của Nhà nước thì CHV sẽ quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp đối với từng điều kiện của người phải THA, trong đó có biện pháp cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản.
Thứ hai, quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án thuộc về CHV phụ trách hồ sơ khi xác định được có căn cứ cho rằng tài sản đó là của người phải thi hành án.
Thứ ba, trình tự, thủ tục kê biên được tiến hành theo những qui định của pháp luật thi hành án dân sự và các văn bản pháp luật khác.
Thứ tư, chủ thể áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong hoạt động THADS, chủ thể được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các sở bản án, quyết định của Tòa án là cơ quan thi hành án dân sự.
* Vai trò của kê biên tài sản
Kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế được quy định trong Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 tại Điều 71.
Thứ nhất, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và khôi phục lại những quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ.
Thứ hai, góp phần cho người dân nâng cao nhận thức về pháp luật. Thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân đặc thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động.
Thứ ba, là thước đo của quá trình xét xử nhân danh toà án.
- Phân Loại kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Khi kê biên phải đảm bảo được nguyên tắc tài sản kê biên tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành và các chi phí có liên quan,
Các loại tài sản kê biên theo qui định của pháp luật.
Thứ nhất, kê biên tài sản thuộc sở hữu chung
Thứ hai, kê biên đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
Thứ ba, kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc đăng kí giao dịch bảo đảm.
Một là, kê biên tài sản là quyền sử dụng đất:
Hai là, kê biên tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm:
Thứ tư, kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp.
Thứ năm, kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ.
Thứ bảy, kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói.
Thứ tám, kê biên tài sản gắn liền với đất.
Thứ chín, kê biên nhà ở.
Thứ mười, kê biên phương tiện giao thông.
Tài sản không được kê biên theo khoản 1 điều 87 LTHADS như sau: “Tài sản bị cấm lưu thông theo qui định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức”. Cho nên, LTHADS 2008 đã không cho phép kê biên đối với những tài sản loại này.
CHV không được kê biên các tài sản theo qui định tại khoản 3 điều 87 LTHADS 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 [Khoản 3 điều 87 LTHADS 2008 qui định “Tài sản sau đây của người phải THA là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở xản xuất, kinh doanh, dịch vụ: a/ Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động; b/ Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh; c/ Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường].
1.3. Nội dung của Pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
1.3.1. Nguyên tắc kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Thứ nhất, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực thi hành án dân sự.
Thứ hai, không có sự phân biệt đối xử.
Thứ ba, cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên là chủ thể đặc biệt khi tiến hành kê biên tài tài sản trong thi hành án dân sự.
- Trình tự, thủ tục kê biên tài sản.
Trường hợp người phải THA không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để THA, CHV có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải THA đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế THA.
Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 3 ngày làm việc, CHV thông báo theo (khoản 1 điều 88 LTHADS 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014).
1.3.3. Thẩm quyền kê biên tài sản, thời hạn áp dụng biện pháp kê biên và định giá tài sản kê biên.
* Thẩm quyền kê biên tài sản
Theo qui định tại khoản 5 điều 20 LTHADS 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì “CHV có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế”.
Nếu đương sự không tự nguyện thi hành thì sau 10 ngày sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Theo qui định tại khoản 2 điều 9 LTHADS 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì: “người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế THA”. Thời hạn tự nguyện THA là 10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA (khoản 1 điều 45).
- Các yếu tố ảnh hưởng đến kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Thứ nhất, yếu tố chính trị, pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá nhân.
Thứ hai, yếu tố kinh tế là tình trạng tình hình kinh tế, sản xuất kinh doanh chuyển biến chậm, thị trường biến động, trầm lắng nên nhiều tài sản đã kê biên đưa ra bán đấu giá nhiều lần, thậm chí có việc đến 23 lần nhưng chưa bán được. Đây là các yếu tố chính gây khó khăn cho cơ quan thi hành án, dẫn đến nhiều tài sản kê biên để thi hành án “đã giảm giá nhiều lần” nhưng không bán được, nhất là các tài sản có giá trị lớn, tài sản là bất động sản; Bên cạnh đó ý thức tuân thủ pháp luật của một số tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhất là cán bộ thi hành án và trung tâm đấu giá móc nối với người mua tài sản kê biên không ninh bạch trong việc bán đấu giá tài sản có liên quan đến kinh tế và lợi ích nhóm nhưng chưa được chấn chỉnh kịp thời dẫn đến khiếu nại.
Thứ ba, yếu tố địa lý, văn hoá, trình độ dân trí, có một số địa phương vùng cao vùng xa của tỉnh địa lý rất hiểm trở, rất khắc nguyệt, văn hoá chậm phát triển trình độ dân trí của một số bộ phận đương sự ít hiểu biết, tiết cận pháp luật khó khăn, không biết gì đến pháp luật, chỉ hành xử theo tập tục tập quán trong cuộc sông hàng ngày, từ thực tế nêu trên cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc kê biên tài sản để thi hành án
Thứ tư, đội ngũ cán bộ, CHV của ngành còn thiếu về số lượng, hạn chế về kỹ năng, nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi
2.1.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự ở nước ta
Một là, giai đoạn trước năm 1993. Thủ tục thi hành án dân sự trước ngày 01/7/1993 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân và được coi là một giai đoạn của thủ tục tố tụng.
Từ năm 1945 đến trước năm 1960
Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng giêng năm 1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán. Sắc lệnh số 185-SL ngày 26/5/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Đến năm 1950, Chủ tịch Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ban hành Sắc lệnh số 85-SL ngày 22 tháng 5 năm 1950
– Từ năm 1960 đến trước năm 1993
Thông tư số 187/TC ngày 13/10/1972 của Tòa án Nhân dân tối cao [Tiến sĩ Lê Thu Hà – bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng].
Đến năm 1980, sau khi Hiến pháp được ban hành, nhiều văn bản pháp luật qui định về tố tụng dân sự cũng ra đời như Luật tổ chức Tòa án năm 1981. Điều 13 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1981.
Bên cạnh đó còn có Thông tư 637 ngày 28/5/1985 của BTP.
Hai là, giai đoạn từ năm 1993 trở về sau.
Từ ngày 01/7/1993, nhiệm vụ thi hành án được chuyển từ Tòa án nhân dân sang cho hệ thống cơ quan thi hành án dân sự thuộc BTP.
Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993
Cụ thể như đã ban hành ra PLTHADS 1993 và rất nhiều những văn bản hướng dẫn thi hành như đã liệt kê.
Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ban hành PLTHADS 2004 thay thế cho PLTHADS 1993. So với PLTHADS 1993, PLTHADS 2004 đã soạn thảo và ban hành trong giai đoạn nền kinh tế có sự phát triển vượt bậc, các giao dịch về tài sản, hàng hóa, dịch vụ…
Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 về kê biên và bán đấu giá QSD đất để đảm bảo thi hành án.
PLTHADS 1989, PLTHADS 1993, PLTHADS 2004 thì biện pháp kê biên được qui định khá tập trung, ngắn gọn và dễ hiểu.
Luật thi hành án dân sự 2008
Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự.
2.1.2. Các quy định của pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi hiện nay
Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014;
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự;
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay
2.2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tại tỉnh Quảng Ngãi có liên quan đến kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Những đặc điểm tự nhiên của tỉnh Quảng Ngãi. Tỉnh Quảng Ngãi được tái lập vào ngày 01 tháng 7 năm 1989 trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Ngày mới tái lập tỉnh, Quảng Ngãi có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thị xã và 10 huyện. Đến nay, Quảng Ngãi có 14 huyện, thành phố.
2.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ngãi
Là một tỉnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá, phân bố dọc theo quốc lộ 1A và có đường sắt Bắc Nam đi, tỉnh Quảng Ngãi có ưu thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thuận lợi phát triển giao thông vận tải, có Cảng biển sau, có diện tích rừng nhiều, phát triển du lịch và là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp và khu kinh tế lớn là Dung Quất và Tịnh Phong.
2.3. Tình hình kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi.
2.3.1. Số lượng cán bộ, công chức, cơ cấu tổ chức Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi
Hiện nay, Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi đã được Tổng Cục thi hành án dân sự – Bộ Tư pháp giao biên chế 148 cán bộ công chức
2.3.2. Số liệu về kê biên tài sản của Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015
Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi số việc, số tiền trong những năm: Năm 2011 số việc 5.189, số tiền 206.945.276.000 đồng, năm 2012 số việc 6.130, số tiền 308. 204. 457.000 đồng, năm 2013 số việc 7.488, số tiền: 435.657.060.000 đồng, năm 2014 số việc 7.228, số tiền: 600.901.843.000 đồng, năm 2015 số việc 6.872, số tiền: 490.298.840.000 đồng.
Những việc kê biên tài sản có xu hương tăng cao vào những năm 2012: 230 việc; năm 2013: 51 việc; năm 2014: 4 việc; năm 2015: 91 việc và chiếm tỷ lệ % trên số lượng áp dụng biển pháp kê biên cao lần lượt là 29%, 36%, 37%, 42%. Về tiền thì giá trị của những việc áp dụng biện pháp kê biên cũng tăng theo từng năm nhất là năm 2013: 160.890.320.000 đồng; năm 2014: 193.980.770.000 đồng; năm 2015: 201.555.675.000 đồng tỷ lệ % trên số tiền áp dụng kê biên lần lượt 56%, 44%, 62%.
Còn số tiền 845.493.258.000 đồng là số tiền chưa có điều kiện thi hành được phần lớn là Ngân hàng cho vay tín chấp không có tài sản thế chấp và một số chủ nợ kinh doanh thua lỗ không có tài sản.
2.3.3. Tài chính cho việc kê biên tài sản
Ngân sách Nhà nước bảo đảm các chi phí kê biên được quy định tại điều 2, khoản 3 Thông tư liên tịch số: 184/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 19/12/2011 hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự.
2.3.4. Trụ sở, phương tiện hoạt động
Riêng Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi điều kiện vật chất về trụ sở làm việc đang xây dựng mở rộng, nên phòng tiếp công dân, nhà để xe …còn chưa được bố trí hợp lý, phù hợp.
2.4. Những ưu điểm và hạn chế bất cập về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi
2.4.1. Những ưu điểm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi
Thứ nhất, góp phần giữ vững an ninh trật tự xã hội, sự nghiêm minh của pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Nếu các vụ việc đã được kê biên tài sản mà chấp hành viên chưa xử lý thẩm định bán đấu giá tài sản xong thì xem như vụ việc đó chưa hoàn thành nhiệm vụ năm.
Thứ hai, giải quyết khiếu nại tố cáo
So với các tỉnh khác trong nước Việt Nam là địa phương ít xảy ra tình trạng khiếu kiện, khiếu nại tố cáo và vượt cấp đối với vấn đề kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
Thứ ba, công tác phối hợp thi hành án
Vai trò chỉ đạo tổ chức thi hành án của Ban chỉ đạo thi hành án dân sự ngày càng được tăng cường.
Nguyên nhân của những ưu điểm:
Một là, có sự lãnh đạo kịp thời, đúng đắn của Tổng Cục thi hành án dân sự – Bộ Tư pháp
Hai là, sự nỗ lực quyết tâm phấn đấu của các cán bộ, công chức trong Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Ba là, các cơ quan, tổ chức và nhân dân đã có sự phối hợp với Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi trong việc kê biên tài sản.
Bốn là, công tác phối kết hợp với các Ban, Bộ, Ngành Trung ương, với cấp ủy và chính quyền địa phương được chú trọng hơn
2.4.2. Những hạn chế, bất cập về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi
Bên cạnh những kết qủa đạt được ở trên thì hoạt động áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án từ thực tiễn Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. còn tồn tại một số hạn chế như sau:
Thứ nhất, hoạt động của Ban Chỉ đạo về thi hành án dân sự hiệu quả chưa đáp ứng được kỳ vọng. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật thi hành án dân sự còn chưa được hợp lý, nhận thức của một bộ phận các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và nhân dân còn hạn chế, thiếu tự nguyện trong việc thực hiện biện pháp tự kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
Thứ hai, cũng có một số trường hợp cụ thể CHV tiến hành ra quyết định kê biên tài sản đối với người phải thi hành chưa kịp thời chưa hợp lý mặc dù thời gian tự nguyện của người phải thi hành án đã hết, qua công tác giải quyết, xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án có tài sản nhưng không tự nguyên thi hành án hoặc nếu có tự nguyện bán tài sản để thực hiện nghĩa vụ của mình trong Bản án, Quyết định nhưng không có người mua.
Thứ ba, việc thực hiện công tác phối hợp theo Điều 11 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 của các cơ quan: Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh, Văn phòng đăng ký đât đai tỉnh, toà án, công an, viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi…. nhiều lúc nhiều nơi còn chưa đạt hiệu quả, chưa hoàn thành trách nhiệm và phối hợp thực hiện trong áp dụng biện pháp kê biên tài sản để thi hành án.
Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế:
Một là, hệ thống pháp luật về kê biên tài sản còn nhiều bất cập thiếu sót trong thi hành án dân sự chưa thực sự hoàn chỉnh có nhiều qui định chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục thi hành án còn nhiều quy định rườm rà, phức tạp.
Hai là, sự lãnh đạo, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc của Lãnh đạo Cục Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi đối với các phòng chuyên môn thuộc Cục và các Chi cục thi hành án dân sự trực thuộc Cục chưa quyết liệt chưa kịp thời, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ công việc của ngành thiếu linh hoạt.
Ba là, một số cán bộ công chức và cán bộ lãnh đạo còn hạn chế về năng lực, nghiệp vụ chuyên môn, chưa phát huy vai trò, trách nhiệm trong công tác quản lý, điều hành, triển khai thực hiện nhiệm vụ. Tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu chủ động, sáng tạo trong công tác, ngại va chạm, chưa kiên quyết áp dụng biện pháp cưởng chế đối với những vụ việc có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện dẫn đến hiệu quả thực hiện công tác thi hành án trong những năm gần đây giảm mạnh.
Bốn là, việc giám sát tuân theo Pháp luật của Viên kiểm sát nhân dân tỉnh, của Hội đồng Nhân dân, Mặt trận tổ quốc tỉnh về vấn đề kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi còn chưa cao, kế hoạch giám sát chưa phù hợp mang nhiều hình thức.
Năm là, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật thi hành án dân sự đến vơi nhân dân và đương sự chưa thật sự hiệu quả, chưa đi vào đời sống xã hội.

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI.
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Thứ nhất, phát xuất từ tính cần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
Hiệu quả của việc kê biên tài sản là cơ sở, tiền đề cho sự thành công khi đương sự không tự nguyện thi hành, đảm bảo tính hiệu lực của các bản án, quyết định của tòa án.
Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực pháp luật từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 đã đánh dấu một sự thừa nhận rất lớn của Nhà nước.
Thứ hai, phát xuất từ nhu cầu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
Quyết định của Tòa án là căn cứ pháp lý cao nhất trong trường hợp có tranh chấp giúp CHV yên tâm hơn trong việc xử lý tài sản để thi hành án.
Do đó, việc tiến hành kê biên tài sản gặp nhiều trở ngại ví dụ: như tại khoản 1, Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định: [Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, … CHV có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó].
Nhóm thứ nhất gồm các hành vi: bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho của người phải thi hành án cho người khác kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm.
Nhóm thứ hai gồm các hành vi: Thế chấp, bảo lãnh và cầm cố tài sản cho người khác kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm.
Thứ ba, xuất phát từ nhu cầu đảm bảo an toàn pháp lý cho CHV.
Trước hết, để có kỹ năng nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự thì chấp hành viên, ngoài trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào đó, được thể hiện qua những trình độ như sơ cấp, trung cấp, cao cấp…
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng Pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự phải trên cơ sở quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng và chiến lược xây dựng pháp luật của Nhà nước về thi hành án dân sự.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25 tháng 04 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 [xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án; xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất công tác thi hành án; từng bước xã hội hoá hoạt động thi hành án].
Thứ hai, bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, sức mạnh tổng hợp đuợc phát huy từ các tổ chức trong hệ thống chính trị trong giáo dục thuyết phục, hoà giải trong quá trình hoạt động kê biên tài sản.
3.3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
3.3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Thứ nhất, cần phải được hoàn thiện các quy phạm pháp luật kê biên tài sản trong Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014
Nghị định số: 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Tại khoản 1, Điều 24 Nghị định này quy định: [Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác].
Đồng thời đảm bảo quyền con người, quyền công dân đã được quy định tại Điều 22 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam [Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý”.
Thứ hai, hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến việc kê biên tài sản trong thi hành án.
Một là, Bộ luật dân sự 2015 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/1/2017.
Quy định về giao dịch vô hiệu khi mục đích giao dịch giữa các chủ thể nhằm tẩu tán tài sản.
Hai là, Luật đất đai năm 2013. Bổ sung các quy định về trường hợp hủy giấy chứng nhận QSDĐ theo yêu cầu của CHV; Bổ sung quy định thời điểm chuyển QSDĐ.
Ba là, Luật doanh nghiệp
Bổ sung trách nhiệm của thành viên cổ đông, hội đồng quản trị phải liên đới chịu trách nhiệm về mặt pháp lý với giám đốc công ty hoặc người đại diện theo pháp luật của công ty.
Bốn là, Luật thi hành án dân sự cần quy định thêm về trách nhiệm của UBND xã (phường) trong việc cung cấp thông tin, nếu cung cấp không đúng về tài sản hoặc cung cấp sai bao che phải chịu trách nhiệm về hình sự.
Năm là, Luật thi hành án dân sự cần bổ sung thêm người phải thi hành án nhưng cố tình tẩu tán tài sản trốn nghĩa vụ thi hành án cần phải được xử lý nghiêm khắc bằng hình sự.
3.3.2. Các Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Một là, Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Viện kiểm sát nhân dân, Mặt trận tổ quốc tỉnh Quảng Ngãi. cần tăng cường công tác chỉ đạo kiểm tra, thanh tra, giám sát.
Tổng Cục thi hành án dân sự – Bộ Tư pháp cần chỉ đạo về mặt nghiệp vụ cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Hai là, nâng cao chế độ chính sánh tiền lương của cán bộ, công chức ngành thi hành án dân sự
Ba là, kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan thi hành án và nâng cao năng lực hoạt động của đội ngũ Chấp hành viên, Cán bộ giúp việc ở Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Bốn là, tăng cường phối hợp giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi với các cơ quan hữu quan trong việc kê biên tài sản.
Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Vai trò của Ban chỉ đạo thi hành án dân sự vẫn rất quan trọng vì trên thực tế công tác kê biên tài sản được xem như “ miếng ăn trong dạ dày nhưng bị mất đi” đó vẫn là công tác khó khăn, phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương,…
Sáu là, tăng cường công tác động viên thuyết phục đối với người phải thi hành án trong quá trình kê biên tài sản.
Vận động, thuyết phục thoả thuận thành là lợi cho cả hai bên, người được thi hành án và người phải thi hành án. Cơ quan THA cũng thoát khỏi gánh nặng và đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương hoặc các khiếu nại.
Vì vậy Tăng cường công tác động viên thuyết phục thoả thuận đối với người phải thi hành án và người được thi hành án trong quá trình kê biên tài sản là hương hướng nâng cao về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn, tác giả đưa ra một số kết luận sau:
Một, đề tài kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi đã đưa ra và hệ thống được một số lý luận về kê biên tài sản cách tiếp cận nghiên cứu về vấn đề này, bằng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lê Nin, phương pháp điều tra thực tế thống kê so sánh, phân tích đánh giá về thực tiễn và lý luận khoa học. Đã chỉ ra được Khái niệm kê biên tài sản là tính toán và ghi chép lại theo một thứ tự nhất định tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành và chỉ ra được đặc điểm, phân loại về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự; vai trò của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự thứ nhất là nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và khôi phục lại những quan hệ xã hội mà pháp luật bảo. Thứ hai là nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, thứ ba là thước đo của quá trình xét xử của Tòa án; Các yêu cầu về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
Hai, người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết định được đưa ra thi hành hoặc phải nộp phí thi hành án, thứ hai người phải thi hành án có tài sản. Thứ hai, tài sản kê biên không có tranh chấp; cơ chế bảo đảm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự. Thứ ba, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực thi hành án dân sự, không có sự phân biệt đối xử. Cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên là chủ thể đặc biệt khi tiến hành kê biên tài tài sản trong thi hành án dân sự.
Trên nền tảng lý luận đó, tác giả vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Quảng Ngãi, đánh giá thực trạng kê biên tài sản trong thi hành án từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi trong Chương 2 của luận văn và đã chỉ ra được thực trạng quy định pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi, thứ nhất khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, thứ hai căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản, thứ ba, nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên tài sản, thứ tư trình tự thủ tục áp dụng biện pháp kê biên tài sản; tình hình thực hiện quy định pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi; Những ưu điểm và hạn chế bất cập về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Ngãi. Tìm ra được những nguyên nhân và chỉ ra những vấn đề thực trạng về kê biên tài sản trên địa phương tỉnh Quảng Ngãi.
Ba, Trên cơ sở và thực tiễn vấn đề thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự, căn cứ vào đặc điểm tình hình địa phương và thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua, trong Chương 3 tác giả tập trung xây dựng; phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao về kê biên tài sản trong thi hành án dân và giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, trên cơ sở phân tích đánh giá đó để tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi. Góp phần nâng cao kết quả, hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
Tuy nhiên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế tác giả huy vọng sẽ nhận được sự góp ý, phản biện chân thành để luận văn được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao hiệu quả biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT KINH TE\HOANG MINH HUE\New folder


