Quản lý nhà nước về văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát triển ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
Là một bộ phận hữu cơ trong toàn bộ hoạt động của một chế độ xã hội mà nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước việc quản lý nhà nước về văn hóa là một trong những lĩnh vực vô cùng quan trọng. Với các đặc trưng từ yếu tố văn hóa nên hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa có phạm vi, phương thức khác hẳn so với việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác. Sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay lại đòi hỏi đưa văn hóa vào mọi lĩnh vực từ chính trị đến kinh doanh. Do vậy việc xây dựng hệ thống phương thức quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm từ thể chế đến tổ chức bộ máy đến các chính sách các văn bản pháp luật phải đáp ứng được nhu cầu đặt ra của xã hội.
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Vǎn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được thành tựu to lớn và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Góp phần vào những thành tựu to lớn ấy có đóng góp không nhỏ của lĩnh vực văn hoá. Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, Nhà nước ta luôn coi trọng các chính sách đầu tư cho văn hoá, đầu tư nhân tố con người, khuyến khích và tạo điều kiện để nhân dân tham gia sáng tạo văn hóa và hưởng thụ văn hóa ngày càng nhiều hơn, các dịch vụ văn hóa được khuyến khích đầu tư phát triển, chủ trương xã hội hoá trên lĩnh vực văn hoá được triển khai rộng rãi. Khẳng định chính sách của Nhà nước ta đã ban hành là phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội và khẳng định nền tảng tinh thần được quan tâm nhiều hơn.
Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập sự tiếp cận văn hoá đã nảy sinh không ít các biểu hiện tiêu cực tác động xấu đến tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là đối tượng thanh thiếu niên. Dư luận xã hội và các phương tiện truyền thông đại chúng đã phản ánh với nhiều mức độ khác nhau. Cơ quan chức năng cũng rất khó khăn, lúng túng và bị động trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa nhất là đối với một số loại hình dịch vụ văn hóa…
Cấp hành chính địa phương là cấp thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước trung ương là nơi mà các quy định pháp luật được áp dụng thực tế, là nơi mà các hoạt động xã hội trên mọi lĩnh vực diễn ra nên cũng là nơi để căn cứ là thực tiễn để xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh xã hội.
Ủy ban nhân dân quận Cẩm Lệ là cấp quản lý hành chính nhà nước ở địa phương có chức năng quản lý nhà nước trên tất cả lĩnh vực trong đó có lĩnh vực văn hóa. Với đặc thù của một đơn vị mới thành lập trực thuộc TP. Đà Nẵng với những nét đặt thù về tổ chức bộ máy hành chính lẫn đặc trưng văn hóa công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa tại quận Cẩm Lệ vừa mang những đặc điểm chung theo quy định pháp luật lại vừa phản ánh đặc điểm riêng gắn với thực tiễn địa phương.
Với những lý do trên tác giả lựa chon đề tài “Quản lý nhà nước về văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp cao học Luật hành chính. Qua luận văn này tác giả móng muốn sẽ hệ thống được cơ sở lý luận lĩnh vực quản lý nhà nước về văn hóa; thông qua việc phân tích thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại địa bàn quận Cẩm Lệ sẽ đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là khảo sát, nghiên cứu, làm rõ vai trò, chức năng, thẩm quyền của cấp quản lý hành chính nhà nước tại địa phương mà cụ thể là công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Thông quan đó phát hiện nhu cầu của thực tiễn và xây dựng luận cứ khoa học tiếp tục nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa tại địa phương đặc biệt là trong tình hình tổ chức thực hiện Luật Tổ chức chính quyền 2016 gắn với thực hiện định hướng phát triển địa phương đến 2020 tầm nhìn 2030.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt mục đích trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau:
– Nêu và phân tích vị trí, vai trò, chức năng tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa tại địa phương.
– Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND quận Cẩm Lệ trong quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa.
– Đề xuất một số giải pháp về đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của UBND cấp phường trong điều kiện Luật tổ chức chính quyền 2016 có hiệu lực phù hợp với định hướng phát triển của địa phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu liên quan đến tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước của UBND quậnquaanjthuwcj tiễn hoạt động này tại UBND quận Cẩm Lệ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
– Phạm vi thời gian: Để có cơ sở đánh giá chính xác thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND phường trong điều kiện không tổ chức HĐND quận, huyện, phường, luận văn xác định phạm vi thời gian nghiên cứu từ thời điểm 2010 đến 2015.
– Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu tổ chức và hoạt động của UBND quận Cẩm Lệ, các phòng ban chuyên môn, UBND các phường trực thuộc trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có mở rộng phạm vi không gian trong một số nội dung nghiên cứu nhằm tạo ra một góc nhìn so sánh để kiểm chứng các kết quả nghiên cứu của luận văn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, chính quyền địa phương nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng chủ yếu trong luận văn là các phương pháp: phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm sâu sắc thêm khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, đồng thời làm sáng tỏ nhận thức lý luận về vị trí, vai trò của UBND cấp quận huyện trong thực hiện công tác trên.
Luận văn đánh giá thực tiễn điều chỉnh về mặt tổ chức và hoạt động của Phòng văn hóa xã hội, trung tâm văn hóa thông tin, UBND các phường tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong điều kiện hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nêu ra và lập luận cho một số giải pháp xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện chuyển đổi từ thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường sang thực hiện luật Tổ chức chính quyền 2016 phù hợp với định hướng phát triển mới của địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 chương,.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Văn hóa là một quá trình hoạt động của con người tự do, biến đổi thế giới tự nhiên thành thế giới tự nhiên thứ hai có cấu trúc cao hơn, có tính người, trong quá trình đó con người hình thành thiên nhiên bên trong, đồng thời thể hiện thái độ ứng xử đối với chính mình.
Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh “Cultus” mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là “gieo trồng ruộng đất” và Cultus Animi là “gieo trồng tinh thần” tức là “sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người“.
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Trước hết chúng ta làm rõ về khái niệm quản lý như sau :
Quản lý là: “Tiến trình, hoạt động hoặc giám sát việc thực thi nhiệm vụ để đảm bảo rằng các hoạt động trong tổ chức được thực hiện theo hướng đạt được các mục tiêu đã đề ra của tổ chức – đặc biệt là nhiệm vụ tạo ra và duy trì các điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu thông qua việc kết hợp những nỗ lực của các nhóm khác nhau trong tổ chức, cũng là một nhóm người trong tổ chức liên quan đến việc quản lý tổ chức đó“.
Quản lý Nhà nước có thể được định nghĩa như sau: QLNN là sự tác động mang tính tổ chức, điều chỉnh trên cơ sở khoa học và kế hoạch của các chủ thể QLNN đối với quá trình phát triển xã hội, được tiến hành một cách thường xuyên liên tục nhằm hướng xã hội theo mục tiêu định trước. Theo quan niệm này thì QLNN là hoạt động của tất cả các cơ quan NN từ Quốc hội, Chính phủ đến các cơ quan NN khác thông qua pháp luật. Nhà nước có thể trao quyền của mình cho các cá nhân hay các tổ chức xã hội, để các chủ thể đó thay mặt NN tiến hành hoạt động QLNN.
Với đặc thù và mục tiêu của nền pháp luật nước ta thì quản lý Nhà nước về văn hóa là sự tác động của nhà nước đối với văn hóa thông qua việc tổ chức điều khiển mọi hoạt động của văn hóa nhằm điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển nó trong quá trình quản lý phát triển kinh tế xã hội theo mục tiêu định hướng nhất định của mỗi quốc gia mà đối với Việt Nam thì định hướng này là đi lên xây dựng CNXH. (Đổi mới quản lý nhà nước về văn hoá trong điều kiện hiện nay, ThS. Phùng Quang Luyến, 2004)
Thứ nhất, nếu không có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật thì hoạt động văn hoá sẽ vận động theo hai hướng vừa tích cực, vừa tiêu cực.
Thứ hai, cần phải có sự quản lý của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho hoạt động văn hoá phát triển phù hợp với định hướng của Nhà nước.
Thứ ba, trong quá trình tham gia lĩnh vực VH, tổ chức và cá nhân thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận riêng của mình mà không quan tâm đến việc gìn giữ, bảo vệ, bảo tồn tài nguyên văn hóa.
Thứ tư, hiệu quả QLNN về văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực liên quan phát triển.
Tóm lại, vai trò QLNN đối với văn hóa là tất yếu và vô cùng quan trọng. Nhờ có pháp luật và bằng pháp luật mà hoạt động của các cơ quan NN, các tổ chức và mọi công dân tham gia xây dựng và phát triển VH được vận hành theo đúng định hướng xây dựng là nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đảm bảo được kỷ cương trong lĩnh vực VH nói riêng và đảm bảo trật tự xã hội nói chung.
Cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về văn hoá là Chính phủ; Bộ văn hoá, thể thao và du lịch (cấp trung ương); UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá trong địa phương mình theo quy định của pháp luật. Hoạt động này bao gồm các công việc như:
– Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;
– Xây dựng và chỉ đạo quy hoạch, kế hoạch;
– Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy;
– Hướng dẫn, tuyên truyền; thẩm định;
– Cấp giấy phép, giấy chứng nhận…
Đây là những hoạt động trên thực tế để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về văn hoá theo mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra.
Quản lý nhà nước đối với văn hóa trong mỗi giai đoạn phát triển của nền KT-XH ở nước ta được xác định cụ thể, phản ánh những nhu cầu khách quan của từng giai đoạn đó.
Mục đích QLNN về văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Xây dựng đời sống văn hóa
Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản văn hóa
Tổ chức thực hiện và quản lí các hoạt động nghệ thuật văn nghệ quần chúng
Tổ chức và quản lí hoạt động của các câu lạc bộ, nhóm nghệ thuật
Thành lập, bảo đảm Hoạt động thư viện, đọc sách báo, thiết chế văn hóa thông tin cơ sở
Xây dựng nếp sống văn hóa mới
Quản lý các dịch vụ văn hóa
Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hoá. Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự nghiệp phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển văn hoá chung của đất nước.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đề ra những nhiệm vụ thuộc chức năng QLNN về văn hóa như sau:
Thứ nhất, xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nhằm quản lý thống nhất các hoạt động văn hóa.
Thứ hai, xây dựng các thiết chế QLNN về văn hóa và thiết chế văn hóa:
Thứ ba, ban hành và thực thi hệ thống các chính sách về văn hóa
Thứ tư, đầu tư xây dựng và phát triển văn hóa
Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực văn hóa:
Thứ sáu, hợp tác quốc tế về văn hóa:

Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng – cơ quan cấp trên trực tiếp là cơ quan quản lý Nhà nước đối với các hoạt động văn hoá, thông tin, quảng cáo, báo chí, xuất bản, thể dục thể thao theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân quận Cẩm Lệ, xây dựng các chương trình, đề án phát triển văn hoá, giáo dục, thông tin, thể dục thể thao, y tế, phát thanh trên địa bàn quận và tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Quản lý các công trình công cộng được phân cấp; hướng dẫn các phong trào về văn hoá, hoạt động của các trung tâm văn hoá – thông tin, thể dục thể thao; bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh do địa phương quản lý.
Cụ thể tại UBND quận Cẩm Lệ, phòng Văn hóa – thông tin là cơ quan tham mưu giúp UBND quận thực hiện công tác quản lý Nhà nước về văn hóa và trung tâm văn hóa quận là đơn vị sự nghiệp.
Phòng văn hóa và thông tin Quận Cẩm Lệ có 01 Trưởng phòng và 02 Phó Trưởng phòng.
Bố trí 01 công chức văn hóa xã hội và 01 cán bộ chuyên trách văn hóa thể thao giúp UBND phường thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và tổ chức hoạt động văn hóa tại địa phương.
Để triển khai có hiệu quả các văn bản, UBND quận đã xây dựng nhiều kế hoạch, hướng dẫn cụ thể UBND các phường, các cơ quan chuyên môn và các đối tượng hoạt động văn hóa tổ chức thực hiện. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật;chỉ đạo các phòng, ban, ngành, đoàn thể của quận, cấp uỷ, chính quyền, UBMTTQ và các đoàn thể phường xây dựng kế hoạch tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn quận.
2.3.2.1. Công tác tuyên truyền xây dựng đời sống văn hóa
Công tác thông tin tuyên truyền góp phần quan trọng trong việc động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức và quan điểm chính trị, chung tay ra sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Ngoài ra, phòng VH-TT cũng thường xuyên phối hợp với Đài truyền thanh quận tuyên truyền về Nếp sống văn hóa – văn minh đô thị bằng nhiều hình thức qua đài quận, phường, bằng xe lưu động và cung cấp đĩa CD cho các phường tuyên truyền.
2.3.2.2. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.
Được sự chỉ đạo của Quận ủy, UBND quận đã tập trung đầu tư cho việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của địa phương. Kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát huy di sản với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch; chú trọng việc giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng cho các thế hệ công dân.
2.3.2.3. Các hoạt động nghệ thuật, văn nghệ quần chúng
Các hoạt động nghệ thuật, văn nghệ quần chúng là dạng hoạt động rất hấp dẫn, phong phú, đa dạng, không thể thiếu ở cơ sở, thu hút đông đảo quần chúng ở mọi lứa tuổi tham gia. Hoạt động nghệ thuật văn nghệ quần chúng bao gồm cả việc sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa-nghệ thuật, biểu diễn, lưu giữ và truyền bá những giá trị đó kể cả văn hóa-văn nghệ dân gian truyền thống.
2.3.2.4. Văn nghệ không chuyên
Trong các năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn, trang thiết bị còn thiếu thốn nhưng hằng năm các đội văn nghệ không chuyên của các cơ quan đơn vị trên địa bàn quận đều xây dựng chương trình tham gia các hội thi, hội diễn, liên hoan, các cuộc giao lưu văn nghệ… do thành phố và quận tổ chức.
Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh, một mặt vừa phục vụ tốt cho công tác tuyên truyền, qua đó các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được phổ biến sâu rộng đến nhân dân.
2.3.2.5. Hoạt động các câu lạc bộ, nhóm nghệ thuật
Tổ chức Câu lạc bộ để thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào hoạt động văn hóa tại các cơ sở văn hóa một cách tích cực theo nguyên lý học mà chơi, chơi mà học, góp phần tự hoàn thiện mình. Nó còn hướng dẫn để công chúng tự đáp ứng các nhu cầu văn hóa của họ theo hướng lành mạnh và tiến bộ.
2.3.2.6. Hoạt động thư viện, đọc sách báo
Hiện nay, ngoài thư viện trung tâm của quận, ở cơ sở có 1 điểm bưu điện – văn hóa phường Hòa Thọ Đông, được trang bị tủ sách, quầy báo, tạp chí các loại để phục vụ bạn đọc. Ngoài ra còn 4 tủ sách pháp luật ở 4 phường, 4 phòng đọc tại các phường, 1 phòng đọc bưu điện, 18 phòng đọc tại các trường tiểu học và trung học sở, trung học phổ thông. Cán bộ thư viện quận chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, luân chuyển và bổ sung sách định kỳ cho các phòng đọc sách liên tổ.
2.3.2.7. Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Quận Cẩm Lệ đã đề ra các chương trình, kế hoạch để xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở ngày càng phát triển, nâng cao về chất, theo đúng định hướng của Đảng và nhà nước.
Hằng năm UBND quận ký kết giao ước thi đua với Sở VHTT&DL thành phố về xây dựng các mô hình “Tổ dân phố không rác”, “Tuyến đường văn minh đô thị”, “Phường đạt chuẩn văn minh đô thị”.
Đồng thời việc biểu dương các danh hiệu văn hoá tiêu biểu, nhân rộng điển hình đã được tổ chức chu đáo tại cơ sở hằng năm nên đã phát huy tác dụng rõ rệt.
2.3.2.8. Thiết chế văn hóa thông tin cơ sở
UBND quận đã từng bước quan tâm đầu tư xây dựng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của quần chúng nhân dân nhằm xây dựng nền tảng chính trị, tư tưởng, bảo đảm thực hiện quy chế dân chủ để cùng xây dựng và tổ chức thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
2.3.2.9. Công tác quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
Trong những năm qua, UBND quận cũng đã ban hành nhiêu quy định để định hướng, điều chỉnh những hoạt động dịch vụ văn hoá theo đúng hướng, đúng mục đích theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hoá trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Bảng 2.4. Kết quả thanh tra, kiểm tra một số dịch vụ văn hóa qua các năm
| Stt | Dịch vụ | Năm 2010 | Năm 2013 | Năm 2015 | ||||||
| Cơ sở kiểm tra | Vi phạm | Xử lý Phạt tiền (ngàn đồng) | Cơ sở kiểm tra | Vi phạm | Xử lý Phạt tiền (ngàn đồng) | Cơ sở kiểm tra | Vi phạm | Xử lý Phạt tiền (ngàn đồng) | ||
| 01 | Karaoke | 24 | 34 | 04 | 4.850 | 30 | 5 | 8.500 | ||
| 02 | Internet | 32 | 45 | 120 | 25 | 45.000 | ||||
| 03 | Café Giải khát | 65 | 03 | 1.800 | 43 | 04 | 9.500 | |||
| 04 | Nhà trọ, nhà nghĩ, khách sạn | 15 | 02 | 1.000 | 24 | 9 | 5.100 | |||
| 05 | Tổng cộng | 136 | 05 | 2.800 | 146 | 17 | 19.450 | |||
Nguồn: Phòng văn hóa – Thông tin quận Cẩm Lệ năm 2015
Quá trình kiểm tra có thể thấy với chức năng là cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực hoạt động văn hóa, thời gian qua đã có những nỗ lực và biện pháp để xử lý những vi phạm trong hoạt động lĩnh vực này.
2.4.1.1. Những kết quả đạt được
– Về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, giáo dục truyền thống yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc: Thông qua các hoạt động thiết thực và có ý nghĩa, các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức khác, quận đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, tăng cường nhận thức cho cộng đồng về bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của địa phương.
– Về nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần cho nhân dân: Quận thường xuyên tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan, triển lãm và các hình thức khác thu hút đông đảo các đối tượng tham gia; làm cho phong trào văn nghệ quần chúng trên địa bàn quận phát triển mạnh mẽ trong các địa phương, cơ quan, trường học với qui mô khác nhau đã góp phần không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân trong quận.
– Về xây dựng môi trường văn hóa, nếp sống văn hóa văn minh đô thị: Trong bối cảnh chung của toàn thành phố, các phong trào của quận Cẩm Lệ trong những năm qua đã có những bước phát triển mới. Mục tiêu xây dựng một quận mới trẻ trung, năng động, phát triển bền vững với một môi trường sinh thái và nhân văn hài hoà đã và đang thể hiện đầy quyết tâm và rõ nét hơn bao giờ hết.
– Về hiệu quả hoạt động trên lĩnh vực văn hoá đã tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội của quận: Bằng nhiều hình thức tuyên truyền sinh động, các hoạt động văn hoá văn nghệ đã chuyển tải các nội dung về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách kịp thời và sâu rộng đến cơ sở.
2.4.1.2. Nguyên nhân những kết quả đạt được
– Thứ nhất, hầu hết các địa phương, các ngành, các cấp đều quan tâm đến lĩnh vực văn hoá, đưa vào kế hoạch, chương trình công tác của mình.
– Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước trong quản lý, xây dựng và phát triển văn hoá từ quận đến cơ sở được chú trọng.
– Thứ ba, đạt được kết quả như trên là nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành liên quan trong công tác quản lý và chấn chỉnh các hoạt động văn hoá.
– Thứ tư, các đội kiểm tra liên ngành đã tập trung tăng cường công tác kiểm tra, góp phần ổn định an ninh, trật tự và giảm tệ nạn xã hội.
– Thứ năm, các ban, ngành đoàn thể và nhân dân trên địa bàn quận đã có chuyển biến nhận thức, xác định vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc thực hiện Chỉ thị 17 của Thủ tướng Chính phủ.
– Thứ sáu, bộ máy quản lý Nhà nước về hoạt động dịch vụ văn hoá trên địa bàn quận từng bước được sắp xếp lại, đã có sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn của quận trong việc xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực này.
– Thứ bảy, trong quá trình triển khai và thực hiện, đã kịp thời tổ chức hội nghị sơ kết nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm những mặt được và chưa được, đề ra biện pháp thực hiện trong thời gian tới.
– Việc phân cấp QLNN về văn hóa và các hoạt động văn hóa tuy có quy định rõ ràng nhưng trên thực tế thì việc thực hiện chưa đồng bộ.
– Việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác của một số phường chưa được coi trọng đúng mức.
– Về đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa vừa thiếu vừa không đồng bộ từ quận đến phường.
– Về cơ chế, chính sách tài chính hàng năm cho hoạt động văn hoá: tuy con số tuyệt đối, có tăng dần theo từng năm nhưng tỷ lệ chi phát triển văn hóa trong tổng chi của ngân sách địa phương vẫn ở mức quá thấp;
– Chương trình TDĐKXDĐSVH và nếp sống văn minh đô thị chưa được đầu tư kinh phí riêng biệt.
– Chưa xây dựng được nếp sống văn minh nơi công cộng, trình độ dân trí giữa các tầng lớp nhân dân còn chênh lệch.
– Công tác tuyên truyền giáo dục để tăng cường ý thức bảo vệ và phát huy di sản văn hoá trong các tầng lớp nhân dân thiếu thường xuyên. Công tác trùng tu tôn tạo, xếp hạng, quản lý di tích gặp phải một số khó khăn, trở ngại.
– Chưa có tham mưu, sưu tầm để bảo tồn các loại hình văn hoá phi vật thể. Các lễ hội đình làng và sinh hoạt văn hoá truyền thống ở cơ sở chưa được định hướng hợp lý.
– Việc đầu tư xây dựng một số công trình, thiết chế văn hóa trọng điểm và cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa chưa được đầu tư thoả đáng nhất là ở cơ sở.
– Việc triển khai chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội đạt kết quả thấp do các hoạt động văn hoá trên địa bàn quy mô còn nhỏ. Chậm xây dựng phương án triển khai các hoạt động sự nghiệp có thu.
2.4.2.2. Nguyên nhân những hạn chế
Về khách quan:
Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn.
Các cơ chế chính sách, văn bản pháp luật về văn hóa chưa được xây dựng đồng bộ, chưa có luật văn hóa.
Về chủ quan:
Nhận thức của một bộ phận cán bộ đảng viên về hoạt động văn hoá nói chung còn hạn chế.
Đội ngũ làm công tác văn hóa từ quận đến cơ sở còn thiếu và yếu, không ngang tầm với nhịp phát triển kinh tế-xã hội của quận.

- CHƯƠNG 3
- GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Tháng 6 năm 2015 UBND quận Cẩm Lệ đã tổ chức Hội thảo và xây dựng được định hướng phát triển kinh tế xã hội quận Cẩm Lệ đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.
Về tầm nhìn: quận Cẩm Lệ đến năm 2020 sẽ là Quận có đầy đủ tiêu chuẩn của đô thị loại I với hạ tầng đô thị tương xứng với đô thị của thành phố Đà Nẵng.
Mục tiêu tổng quát: Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển cân đối giữa các ngành, phấn đấu đến năm 2020 chuyển dịch cơ cấu kinh tế quận từ Công nghiệp – Dịch vụ – Nông Nghiệp sang Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp; phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội.
Mục tiêu cụ thể: phấn đấu giữ vững tốc dộ tăng trưởng tổng giá trị sản xuất hằng năm đạt 18 – 19%/năm giai đoạn 2015-2020.
Thứ nhất xác định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.
Thứ hai nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Thứ ba cần xác định tính thống nhất và đa dạng của nền văn hóa. Các giá trị và các sắc thái văn hóa đó bổ sung cho nhau, làm phong phú cho nền văn hóa Việt Nam.
Thứ tư xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
Thứ năm văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.
Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Đồng thời, phát huy vai trò chủ thể, tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân.
UBND thành phố cần sớm tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện đề án hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012-2015 để từ đó xây dựng đề án quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở của thành phố giai đoạn 2016-2020.
UBND quận Cẩm Lệ sớm khảo sát, lập hồ sơ đề xuất bố trì quỹ đất xây dựng các công trình, thiết chế văn hóa cơ sở (nhà sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi giải trí…) theo quy hoạch của thành phố để tư vấn, giới thiệu và kêu gọi đầu tư theo hình thức xã hội hóa.
Nhà nước giữ vai trò phát triển, hoàn thiện chính sách và cơ chế QL nhằm tạo ra môi trường xây dựng và phát triển văn hóa thuận lợi, theo đúng định hướng.
Về chính sách đầu tư: Khuyến khích các địa phương có những biện pháp thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào khai thác và bảo vệ tài nguyên của mình.
Về chính sách thuế: Cần có cơ chế khuyến khích phát triển văn hóa thông qua việc miễn giảm thuế, nhất là trong những năm đầu.
Đối với các cơ chế, chính sách về xúc tiến, phát triển thị trường văn hóa: Cần có chính sách động viên, khuyến khích các tổ chức, các nhân tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị, đáp ưu ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, đồng thời có chính sách để đưa các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài.
Về các chính sách xã hội hoá văn hoá và hợp tác quốc tế:
Chính sách xã hội hoá hoạt động văn hoá đánh dấu bước phát triển về quản lý trên lĩnh vực văn hóa của Nhà nước nhằm chuyển giao quyền tổ chức điều hành các hoạt động văn hoá vốn tập trung trong tay Nhà nước sang hướng đa dạng hoá chủ thể quản lý.
Chính sách hợp tác quốc tế trong các dự án bảo tồn tôn tạo các di sản văn hoá vật thể cần được đẩy mạnh hơn nữa nhằm thu hút nguồn lực về tài chính từ nước ngoài.
Về chính sách phát triển khoa học, kỹ thuật liên quan đến văn hóa: Cần tăng cường đầu tư nghiên cứu và áp dụng công nghệ vào tổ chức, thực hiện và quản lý văn hóa ở các cấp.
– Sớm hoàn thiện, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật để điều chỉnh các quy định trong quản lý văn hóa theo hướng phân cấp rõ, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp chính quyền
– Hình thành khuôn khổ pháp lý bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia phát triển văn hóa.
– Xây dựng cơ chế pháp lý để quản lý hiệu quả tài nguyên văn hóa.
– Hoàn thiện các quy định về quản lý hoạt động quảng bá, quảng cáo, xúc tiến và thông tin văn hóa; các quy định về quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển văn hóa.
Một là, củng cố tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước từ quận đến cơ sở gắn với việc cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về văn hoá, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính có liên quan.
Hai là, tăng cường sự phối hợp giữa phòng Văn hoá và thông tin với các ngành, các cơ quan chuyên môn trong quản lý Nhà nước, cũng như việc tham mưu cho UBND quận quản lý Nhà nước về văn hoá trên địa bàn.
– Về việc tuyển chọn: Thực hiện chế độ dân chủ công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyển chọn cán bộ, đảm bảo tuyển chọn đúng người có tiêu chuẩn theo chức danh.
– Về việc sử dụng cán bộ: Tiêu chuẩn cán bộ là chuẩn mực, thước đo để đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ.
– Về bố trí, phân công, luân chuyển cán bộ: Thực hiện phân công cán bộ phù hợp với từng vị trí, đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi để cho cán bộ yên tâm làm việc.
– Về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải trên cơ sở kế hoạch hoá nhu cầu chất lượng và số lượng gắn với quy hoạch cán bộ hằng năm, dài hạn. Kết hợp với đào tạo chính quy và đào tạo tại chức và các hình thức bồi dưỡng khác.
– Về nhận xét, đánh giá: Phải được thực hiện thường xuyên, đúng quy trình, tránh hình thức. Gắn việc nhận xét đánh giá với tự phê bình, phê bình theo nguyên tắc tập thể, dân chủ công khai.
Để tạo điều kiện cho công tác quản lý Nhà nước về văn hóa thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, Chính phủ, Bộ, Ngành ở Trung ương cần tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị đối với các cơ quan QLNN về văn hóa.
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng làm việc và các phương tiện khác cho cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa để tạo điều kiện cho cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Đầu tư về các bảng thông tin điện tử cho các địa phương để thực hiện công tác quảng bá văn hóa và các hoạt động văn hóa ngay tại địa phương mình.
Ngoài các yêu cầu trên, Cẩm Lệ cần phải huy động, kêu gọi hỗ trợ vốn từ các cơ quan Trung ương, các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước để hỗ trợ cho các chủ di tích cùng bảo tồn, tôn tạo các di tích đảm bảo được an toàn, cũng như tài trợ cho các công trình vui chơi, giải trí; tổ chức các hoạt động văn hóa..v.v.
Công tác kiểm tra phải có hình thức răn đe, xử phạt đối với những cơ sở cố tình không chấp hành, vẫn hoạt động trá hình, lén lút, cần thiết phải thu hồi giấy phép kinh doanh và truy tố trước pháp luật đối với những cơ sở vi phạm nghiêm trọng luật pháp nhà nước. Để đạt được những nội dung trên, cần tập trung vào một số công việc chủ yếu như:
– Cơ cấu và biên chế của lực lượng kiểm tra cần gọn nhẹ.
– Cần tăng cường đẩy mạnh công tác thanh tra kiểm tra, xây dựng kế hoạch hoạt động theo chế độ định kỳ, bất thường.
– Kế hoạch tổ chức kiểm tra phải được bảo mật, không nên thông báo trước.
– Cần xây dựng quy chế phối hợp giữa các lực lượng thanh tra, kiểm tra trên địa bàn thị xã.
– Cần xử lý nghiêm khắc đúng mức đối với những cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra trên lĩnh vực văn hóa có sai phạm để đảm bảo công bằng xã hội.
- KẾT LUẬN
Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của Nhà nước nhằm tác động mang tính tổ chức lên các hoạt động văn hóa, bảo đảm cho lĩnh vực này phát triển phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội. Sự quản lý đối với lĩnh vực này được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước.
Đặc điểm quản lý Nhà nước đối với văn hóa trong điều kiện hiện nay ở nước ta đó là Nhà nước tổ chức và quản lý các hoạt động văn hóa diễn ra trong nền kinh tế thị trường; pháp luật là cơ sở và công cụ hàng đầu để Nhà nước tổ chức và quản lý; sự quản lý của Nhà nước đòi hỏi phải có một bộ máy nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh để quản lý.
Để đảm bảo quản lý đối với các hoạt động văn hóa Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể để can thiệp vào các hoạt động này nhằm tạo ra môi trường lành mạnh, phân bổ nguồn lực một cách tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hòa, phù hợp với giá trị truyền thống và văn hóa của đất nước, trong đó, pháp luật nổi lên với tư cách là công cụ có uy lực nhất để đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước.
Do vậy Nội dung chủ yếu của hoạt động quản lý Nhà nước về văn hóa là xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật về VH; xác định vị trí pháp lý, quy định tổ chức, bộ máy quản lý Nhà nước về văn hóa; xây dựng hệ thống các loại nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan QLNN về văn hóa; tổ chức thực hiện quản lý đối với các hoạt động văn hóa trên thực tế và tiến hành thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật.
Thực tiễn quản lý Nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng cho thấy: có những quy định trong lĩnh vực văn hóa còn có những điểm thiếu hợp lý, thiếu đồng bộ. Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước các cấp trong việc tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa phát triển chưa được pháp luật quy định rõ ràng. Việc ban hành cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, thủ tục liên quan đến lĩnh vực văn hóa chậm được nghiên cứu, giải quyết, triển khai thiếu đồng bộ ở các ngành và các địa phương.
Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về văn hóa trước yêu cầu đổi mới chưa ngang tầm nhiệm vụ. Công tác cán bộ chưa đáp ứng tốt yêu cầu trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Trình tự, thủ tục, cấp giấy phép đối với một số loại hình kinh doanh dịch vụ văn hóa và các loại hình kinh doanh có điều kiện có lúc còn chậm, sự phối hợp giữa các cơ quan liên đới còn chưa nhịp nhàng, đồng bộ. Hoạt động thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật còn chưa được quan tâm đúng mức.
Trước thực trạng quản lý Nhà nước về văn hóa trên địa bàn cả nước nói chung, của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng, luận văn đã phân tích, chỉ rõ nhu cầu cấp bách đổi mới và hoàn thiện quản lý Nhà nước về văn hóa, luận văn cũng đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các hoạt động văn hóa trên địa bàn quận Cẩm Lệ.
Với luận văn này tác giả hy vọng phản ánh được thực trạng công tác quản lý nhà nước về văn hóa tại địa phương trên cơ sở một vài luận điểm đóng góp nhỏ nhoi trong đề tài công tác quản lý Nhà nước về văn hóa tại địa phương sẽ sớm được hoàn thiện hơn, đáp ứng đòi hỏi sự phát triển của nền kinh tế thị trường, mà vẫn giữ được thuần phong mỹ tục con người Việt Nam góp phần Xây dựng thành công nền văn hóa, Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HANH CHINH\TRAN VIET HUNG


