Tái phạm tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam

Tái phạm tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

  1. 1. Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại trong mọi xã hội có giai cấp. Đấu tranh phòng, chống tội phạm là để bảo vệ lợi ích hợp pháp và duy trì trật tự xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước ta, Bộ luật hình sự được ban hành trong đó các chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo nguyên tắc không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội.

Trong những năm qua, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng đã xét xử nhiều hành vi phạm tội đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có tác dụng cải tạo, giáo dục người phạm tội, đảm bảo mục đích đấu trang phòng ngừa chung, phục vụ nhiệm vụ chính trị của thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong điều tra, truy tố, xét xử vẫn có nhiều trường hợp không đúng với quy định của pháp luật và còn có những ý kiến chưa thống nhất, có trường hợp hành vi phạm tội chỉ là tái phạm nhưng các cơ quan tiền hành tố tụng lại xác định là tái phạm nguy hiểm, có trường hợp hành vi phạm tội là tái phạm nguy hiểm nhưng lại xác định là tái phạm hoặc có trường hợp thì xác định tính tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong khi đó nó phải là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt… Áp dụng pháp luật về tái phạm, tái phạm nguy hiểm sai đã dẫn đến những hậu quả pháp lý tiêu cực cho chính người phạm tội và cho cả Nhà nước, từ đó làm suy giảm hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và không thể hiện được nguyên tắc xử lý người phạm tội của Nhà nước ta đó là: Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

Nguyên nhân của những sai sót này là do chưa nhận thức đúng bản chất của chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Mặc khác, do chưa được hướng dẫn đầy đủ nên việc xác định cũng như việc áp dụng chế định này còn nhiều vướng mắc, cần có sự hướng dẫn thống nhất. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặc khoa học các quy định hiện hành của Bộ luật hình sự Việt Nam về chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm và thực tiễn áp dụng, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định của chế định này có ý nghĩa về mặt lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng.

Đây là lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài “Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ Luật học.

  1. 2. Tình hình nghiên cứu
  2. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận của chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong luật hình sự, thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng chế định tái phạm và tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

– Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của vấn đề tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8 (năm 1945) đến nay, nghiên cứu, làm sáng tỏ khái niệm tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phân biệt chế định này với chế định phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, phân tích các dấu hiệu pháp lý của chế định này trong Bộ luật hình sự hiện hành để làm sáng tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ bản của chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam.

– Về mặt thực tiễn:

+ Khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, phân tích những tồn tại, hạn chế xung quanh việc quy định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong luật hình sự Việt Nam hiện hành.

+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong công tác xét xử.

  1. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Tác giả luận văn lấy các quan điểm khoa học về tái phạm, tái phạm nguy hiểm đã được nêu ra trong khoa học luật hình sự; các quy phạm pháp luật hình sự về tái phạm, tái phạm nguy hiểm; thực tiễn áp dụng các quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm có thể được nghiên cứu bởi nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau như: khoa học luật hình sự, khoa học thi hành án hình sự, tội phạm học. Trong luận văn này, đề tài được tác giả nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình sự. Các số liệu phục vụ nghiên cứu được tác giả luận văn thu thập từ thực tiễn xét xử trên phạm vi thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Cơ sở lý luận của luận văn là lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; chủ nghĩa Mác- Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đang về chiến lược cải cách tư pháp, về chính sách đấu tranh, phòng, chống tội phạm; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin; kết hợp các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, logic, thống kê, so sánh pháp luật, xã hội học để hoàn thành các nhiệm vụ mà tác giả luận văn đã đặt ra.

  1. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: đây là công trình nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và toàn diện về chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong luật hình sự Việt Nam ở cấp độ một luận văn Thạc sỹ Luật học.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn những điều kiện cụ thể của việc áp dụng chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, đưa ra các kiến nghị hoàn thiện chế định này ở khía cạnh lập pháp, cũng như việc áp dụng trong thực tiễn, góp phần phân hóa tội phạm, người phạm tội, phân hóa trách nhiệm hình sự, tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm.

Bởi vậy, luận văn có thể được sử dụng trong công tác giảng dạy về luật hình sự và trong thực tiễn khởi tố, điều tra, truy tố xét xử các vụ án hình sự ở nước tái phạm nguy hiểm.

  1. 7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận về tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam.

Chương 2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tái phạm, tái phạm nguy hiểm và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Chương 3. Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam và một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ TÁI PHẠM, TÁI PHẠM

NGUY HIỂM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

    1. 1.1. Khái niệm, đặc điểm và điều kiện của tái phạm, tái phạm nguy hiểm
      1. 1.1.1. Khái niệm tái phạm

Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm tái phạm được sử dụng trong nhiều ngành luật nhưng nội dung của khái niệm này lại được giải thích hoặc được hiểu khác nhau. Trong các khái niệm tái phạm có các dấu hiệu chung đó là:

+ Người phạm tội trước đây đã từng phạm tội và bị kết án;

+ Người phạm tội thực hiện hai hành vi trở lên;

+ Người phạm tội đang chấp hành hình phạt đối với hành vi phạm tội trước đây;

+ Người phạm tội đã chấp hành xong một phần hoặc toàn bộ hình phạt của bản án đã tuyên đối với hành vi phạm tội trước đó;

+ Người phạm tội có thể được xóa án tích hoặc chưa được xóa án tích đối với tội phạm đã thực hiện trước đây.

Chúng ta có thể đưa ra định nghĩa khoa học về tái phạm sau:

Tái phạm là một hành vi phạm tội lặp lại do một người đã bị xử phạt bằng một bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thực hiện, mà bản án đó chưa được xóa theo quy định của pháp luật.

      1. 1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của tái phạm

Thứ nhất, tái phạm là hành vi phạm tội lặp lại.

Thứ hai, người phạm tội trước đây đã bị kết án và bị xử phạt.

Thứ ba, người phạm tội lại phạm tội mới trong một khoảng thời gian nhất định sau khi bị kết án lần thứ nhất.

Thứ tư, tái phạm là một tình tiết tăng nặng TNHS thuộc về nhân thân của người phạm tội

Thứ năm, tái phạm là thước đo hiệu quả của hình phạt.

      1. 1.1.3. Khái niệm tái phạm nguy hiểm

Khái niệm tái phạm nguy hiểm lần đầu tiên được định nghĩa trong dự thảo Thông tư ngày 16/3/1973 của liên bộ Tòa án nhân dân tối cao, Viên kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an đó là: “Trường hợp trước đã bị xử án về một tội nghiêm trọng sau cũng phạm tội nghiêm trọng hoặc trước đã bị xử án về tội không nghiêm trọng nay phạm vào một tội nghiêm trọng” [42, tr.240].

Trong cuốn Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập II (1975- 1978) do Tòa án nhân dân tối cao xuất bản năm 1979 thì trường hợp tái phạm nguy hiểm được hiểu như sau: “Đối với những tội nghiêm trọng chỉ cần tái phạm thêm một lần nữa đã được coi là tái phạm nguy hiểm. Đối với những tội ít nghiêm trọng hơn, tái phạm hai, ba lần trở lên mới coi tái phạm nguy hiểm” [42, tr.108,109].

Theo quan điểm này, thì tái phạm nguy hiểm được coi là một trường hợp của tái phạm, là trường hợp tái phạm nhiều lần và điều kiện của tái phạm nguy hiểm gồm có:

+ Chủ thể trước đây đã từng phạm tội và bị kết án;

+ Đã tái phạm;

+ Lại phạm tội từ hai ba lần trở lên. Khái niệm này chứa đựng tương đối đầy đủ các điều kiện của tái phạm nguy hiểm.

    1. 1.2. Phân biệt tái phạm, tái phạm nguy hiểm với phạm nhiều tội và với phạm tội nhiều lần
      1. 1.2.1. Phân biệt tái phạm, tái phạm nguy hiểm với phạm nhiều tội

+ Người phạm tội phải thực hiện từ hai tội trở lên hoặc hành vi của người đó phải có đầy đủ các dấu hiệu của từ hai cấu thành tội phạm độc lập trở lên;

+ Những tội phạm ấy được quy định tại các điều khác nhau hoặc tại các khoản khác nhau của cùng một điều luật;

+ Đối với những tội phạm ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số các tội đó.

      1. 1.2.2. Phân biệt tái phạm, tái phạm nguy hiểm với phạm tội nhiều lần

Qua các văn bản hướng dẫn cũng như nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về phạm tội nhiều lần nêu trên, có thể thấy “phạm tội nhiều lần” bao gồm các nội dung sau:

+ Người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên;

+ Nếu tách ra từng hành vi phạm tội riêng lẻ thì mỗi hành vi ấy đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập;

+ Tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong các phần riêng BLHS, có thể cùng một khoản, có thể phạm tội ở các khoản khác nhau của cùng một điều luật;

+ Các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

    1. 1.3. Khái quát lập pháp hình sự Việt Nam về tái phạm, tái phạm nguy hiểm
      1. 1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

Trong hệ thống các Sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa từ năm 1945 đến năm 1959, lần đầu tiên vấn đề “tái phạm” và chính sách hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp tái phạm được quy định trong Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 quy định về tội đánh bạc.

      1. 1.3.2. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1985

Trong giai đoạn này, chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định trong Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970.

      1. 1.3.3. Trong giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Năm 1985, BLHS Việt Nam đầu tiên và cũng là Bộ luật đầu tiên của chúng ta được ban hành. Trong Bộ luật hình sự năm 1985, lần đầu tiên khái niệm pháp lý về tái phạm, tái phạm nguy hiểm được ghi nhận và được quy định thành một chế định độc lập trong Phần chung của BLHS và tại Điều 40.

BLHS năm 1985 còn quy định tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (quy định tại điểm I khoản 1 Điều 39) và la tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong 1 số loại tội phạm.

Kết luận Chương 1

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Chương 2

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

HIỆN HÀNH VỀ TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM VÀ THỰC TIẾN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm
      1. 2.1.1. Quy định về tái phạm

Bộ luật hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện BLHS năm 1985 nhưng có kế thừa những nội dung hợp lý tích cực của BLHS này qua bốn lần sửa đổi, bổ sung. So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam. Đặc biệt chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm cũng đã được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu trang phòng, chống tội phạm.

Trong Bộ luật hình sự năm 1999, chế định tái phạm cũng được quy định thành một chế định độc lập (Điều 49), cũng như được ghi nhận là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 48) và là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của một số loại tội như Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng có thay đổi căn bản về mặt lý luận. Theo đó, Bộ luật hình sự năm 1999 đã thay điều kiện “bị phạt tù” thành “đã bị kết án “; sửa điều kiện “chưa được xóa án” thành ” chưa được xóa án tích” cho chặt chẽ hơn. Cụ thể, theo quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999 thì tái phạm được định nghĩa như sau: “1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội dặc biệt nghiêm trọng do vô ý [34, tr.72].

Theo quy định này, có ba trường hợp được xác định là tái phạm. Cụ thể là:

Trường hợp 1: Đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý.

Trường hợp 2: Đã bị kết án, chưa được xóa án tích, mà tại phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý.

Trường hợp 3: Đã bị kết án, chưa được xóa án tích, mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trong do vô ý.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS thì tội đặc biệt nghiêm trọng là tội gây nguy hại rất lớn cho xã hội, mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình [34, tr.52]. Tuy nhiên, theo quy định trong BLHS hiện hành thì tội đặc biệt nghiêm trọng chỉ do cố ý, mà không có trường hợp do vô ý.

Ngoài việc quy định tái phạm một chế định riêng trong Bộ luật hình sự, Quốc Hội, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn việc xác định tái phạm làm cơ sở cho việc áp dụng chế định này trong thực tiễn:

* Nghị quyết số 32/1999/NQ- QH ngày 21/12/1999 của Quốc Hội về thi hành BLHS năm 1999.

* Nghị quyết số 01/2000/HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để hướng dẫn việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong một số trường hợp cụ thể. Theo đó:

* Nghị quyết số 01/2006/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự. Theo đó, tại mục 7.3 hướng dẫn áp dụng tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” là:

      1. 2.1.2. Quy định về tái phạm nguy hiểm

Cũng giống như tái phạm, trong Bộ luật hình sự năm 1999 chế định tái phạm nguy hiểm cũng được quy định thành một chế định độc lập (Điều 49), cũng như được ghi nhận là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 48) và là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của một số loại tội.

Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

– Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

– Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý [34, tr. 39,40].

Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 viện dẫn ở trên thì có ba trường hợp được xác định là tái phạm nguy hiểm.

Trường hợp 1: Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý.

Trường hợp này có ba yếu tố.

Yếu tố 1: Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội đã bị Tòa án kết tội và bị xử phạt do thực hiện tội phạm là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý mà không phân biệt hình phạt đã áp dụng là hình phạt gì. Như vậy, đối với những trường hợp đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do vô ý, như tội quy định tại khoản 2 Điều 98 (tội vô ý làm chết người), tội quy định tại khoản 2 Điều 99 (tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính) thì không thuộc trường hợp này.

Yếu tố 2: chưa được xóa án, là trường hợp bị can, bị cáo đang phải chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mới hoặc đã chấp hành xong hình phạt và quyết định của bản án nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại các Điều từ 64 đến 67 Bộ luật hình sự mà lại phạm tội mới.

Yếu tố 3: mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án và xử phạt, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới là tội rất nghiêm trọng do cố ý. Như vậy nếu tội mới mà người đó phạm phải là tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng thì không thuộc trường hợp này.

Trường hợp 2: Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

Trường hợp này có ba yếu tố.

Yếu tố 1: Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội đã bị Tòa án kết tội và bị xử phạt do thực hiện tội phạm là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý mà không phân biệt hình phạt đã áp dụng là hình phạt gì. Như vậy, đối với những trường hợp đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do vô ý, như tội quy định tại khoản 2 Điều 98 (tội vô ý làm chết người), tội quy định tại khoản 2 Điều 99 ( tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính) thì không thuộc trường hợp này.

Yếu tố 2: chưa được xóa án, là trường hợp bị can, bị cáo đang phải chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mới hoặc đã chấp hành xong hình phạt và quyết định của bản án nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại các Điều từ 64 đến 67 Bộ luật hình sự mà lại phạm tội mới.

Yếu tố 3: mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án và xử phạt, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới là tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

Trường hợp 3: Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý.

Trường hợp này có ba yếu tố bắt buộc

Yếu tố 1: Đã tái phạm, là trường hợp bị cáo đã hoặc đang chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật, mà bản án đó kết luận bị cáo là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 49 BLHS.

Yếu tố 2: chưa được xóa án tích, là trường hợp bị can, bị cáo đang chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc đã chấp hành xong bản án (bản án này xác định bị cáo tái phạm – bản án thứ 2) nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại các Điều 64 đến 67 BLHS.

Yếu tố 3: Mà lại phạm tội do cố ý, là trường hợp bị can, bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý. Tội phạm mới do cố ý không phân biệt là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy nếu tội mới phạm này là tội do vô ý thì không phải là tái phạm nguy hiểm.

Nghị quyết số 32/1999/NQ- QH ngày 21/12/1999 của Quốc Hội về thi hành BLHS năm 1999; Nghị quyết số 01/2000/HĐTP ngày 04/8/2000 và Nghị quyết số 01/2006/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là những văn bản hướng dẫn chung về tái phạm và tái phạm nguy hiểm nên khi áp dụng trong thực tiễn xét xử cần phải vận dụng các văn bản này và cần lưu ý: trong BLHS năm 1999 thu hẹp phạm vi trấn áp đối với hình thức tái phạm nguy hiểm, tức là có lợi hơn cho người phạm tội nên quy định về tái phạm nguy hiểm sẽ được áp dụng để xem xét TNHS đối với hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/7/2000.

    1. 2.2. Thực tiễn áp dụng quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
      1. 2.2.1. Tình hình áp dụng về tái phạm, tái phạm nguy hiểm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về các mặt của đời sống xã hội, tình hình an ninh, trật tự tuy giữ được ổn định nhưng tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường; tình hình tội phạm vẫn diễn ra phức tạp theo chiều hướng tăng.

Bảng 2.2: Số lượng các vụ án hình sự có bị cáo tái phạm, tái phạm nguy hiểm của Tòa án hai cấp thành phố Đà Nẵng

từ năm 2011 – 2015

NămTổng số bị cáo đã xét xửSố bị cáo bị áp dụng tái phạm, tái phạm nguy hiểmTỷ lệ bị cáo bị áp dụng tái phạm, tái phạm nguy hiểm
20111013212,07 %
20121179231,95%
20131154413,55%
20141140383,33%
20151019161,51%
Tổng55051392,52%

(Nguồn: Văn phòng- TAND thành phố Đà Nẵng)

Số liệu trên phản ánh tình trạng số bị cáo bị áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm có biến động, lúc tăng, lúc giảm.

      1. 2.2.2. Những khó khăn, vướng mắc sai lầm trong áp dụng quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm và nguyên nhân

Trên thực tiễn xét xử xác định hành vi phạm tội của bị can, bị cáo có phải là tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay không còn có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, dẫn đến việc định tội danh khác nhau giữa Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm hoặc ngay trong cùng Tòa án một cấp, mỗi Hội đồng xét xử cũng có quan điểm khác nhau. Các trường hợp đó thường là:

– Xác định tái phạm không đúng;

– Xác định tái phạm nguy hiểm không đúng;

– Không xác định tái phạm không đúng;

– Không xác định tái phạm nguy hiểm không đúng;

Những tồn tại hạn chế trong thực tiễn áp dụng những quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau.

Thứ nhất, do sự chưa hoàn thiện của những quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong Luật hình sự nước ta hiện nay.

Thứ hai, do quy định của pháp luật về cách tính thời hạn xóa án tích còn chưa được rõ ràng.

Thứ ba, do tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trong khi đó biên chế của Tòa án nhân dân các cấp không được bổ sung kịp thời.

Thứ tư, do chế độ chính sách đối với cán bộ ngành Tòa án nhân dân còn nhiều khó khăn chưa thu hút được những người có trình độ cao vào phục vụ cho ngành Tòa án đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa. Công tác đào tạo, bổ nhiệm thẩm phán còn nhiều bất cập.

Thứ năm, do các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng pháp luật còn để xảy ra những thiếu sót trong việc xác định nhân thân (tiền án, tiền sự) của bị can, bị cáo. Trên thực tế, có rất nhiều vụ án trong quá trình điều tra có thể do vô ý hoặc cố ý đã điều tra không khách quan, toàn diện dẫn đến việc bỏ sót tiền án, tiền sự của bị cáo trước đây dẫn đến việc truy tố, xét xử không đúng với tội danh, mức hình phạt của bị can, bị cáo.

Thứ sáu, do sự yếu kém về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ áp dụng pháp luật.

Kết luận Chương 2

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Chương 3

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC BẢO ĐẢM ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÁI PHẠM VÀ TÁI PHẠM NGUY HIỂM

    1. 3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Thứ nhất, làm rõ những hành vi khách quan theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật chính xác, công minh.

Thứ hai, quyết định hình phạt là một hoạt động rất quan trọng khi Tòa án xét xử một vụ án hình sự, mang lại sự công bằng cho xã hội, giáo dục, răn đe người phạm tội, giáo dục răn đe chung đối với xã hội.

Thứ ba, mặc dù chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đã được ghi nhận chính thức về mặt lập pháp trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trường hợp áp dụng không đúng mà nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc áp dụng không đúng các quy định của pháp luật là do chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm chưa được hoàn thiện.

Quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Điều 49 BLHS có sự chồng chéo, mâu thuẩn khiến các cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong áp dụng pháp luật. Do đó để thống nhất nhận thức pháp luật, thấy cần thiết phải sửa đổi, bổ sung nội dung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 49.

Điều kiện của tái phạm được xác định trong BLHS hiện nay chưa chặt chẽ. Do chưa có sự hướng dẫn thống nhất nên trong nhận thức vẫn có cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng.

Thứ tư, Đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm việc quyết định hình phạt đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm đúng, công bằng, hợp lý là tiền đề, điều kiện cho việc đạt được mục đích của hình phạt. Do đó, cần phải quy định vấn đề quyết định hình phạt đối với trương hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

    1. 3.2. Một số giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng các quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Thứ nhất, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần phải ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết hơn nữa những dấu hiệu chưa rõ ràng trong chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm như “dấu hiệu đã bị kết án” đểthống nhất trong việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.

Thứ hai, cần phải hướng dẫn về trường hợp tội thực tiễn trướng khi bị xét xử sau, tội thực hiện sau xét xử trước.

Thứ ba, cần phải hướng dẫn về trường hợp phạm tội trong thời gian thử thách của án treo.

– Giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ

+ Thứ nhất, tăng cường cho việc đào tạo, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.

+ Thứ hai, thường xuyên tổ chức các hội nghị sơ kết, tổng kết thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nói chung, tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm nói riêng để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong công tác xét xử.

+ Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám đốc án của Tòa án nhân dân địa phương.

– Giải pháp về tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án trong công tác giải quyết vụ án hình sự

+ Phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của pháp luật nói chung, các quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm nói riêng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa sự phối hợp giữa cá cơ quan trong việc giải quyết các vụ án hình sự cần phải:

– Nâng cao ý thức, trách nhiệm của Lãnh đạo các đơn vị được phân công thụ lý hồ sơ phải nghiên cứu kỹ nội dung vụ án khi thấy còn những vấn đề thiếu sót không thể tự mình khắc phục cần phải trả hồ sơ để cơ quan Điều tra bổ sung thì báo cáo lãnh đạo và tiến hành họp trù bị theo đúng Quy chế.

– Viện kiểm sát và Tòa án chủ động phối hợp chọn một số vụ án đưa ra xét xử mẫu làm tiêu chí cho các Kiểm sát viên và Thẩm phán học tập rút kinh nghiệm, từng bước phấn đấu nâng cao chất lượng tranh tụng ở các phiên tòa.

Ngoài ra, cũng cần phải đặt ra các yêu cầu đối với những người tiến hành tố tụng đó là: các Điều tra viên phải thu thập, điều tra, ghi chép, sắp xếp các tài liệu, chứng cứ, vật chứng một các hợp lý, chính xác vô tư, trung thực, theo thứ tự thời gian, không gian khách quan, cả chứng cứ buộc tội, và chứng tứ gỡ tội, cả hình thức và nội dung, theo đúng trình tự, thủ tục mà BLTTHS đã quy định.

– Các giải pháp khác

Thứ nhất, giải pháp về tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán và hội thẩm nhân dân đồng thời, hoàn thiện các quy định về quyền năng tố tụng của các chủ thể này.

Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những quy định của pháp luật về tình tiết tăng nặng nói chung, tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm nói riêng.

– Ba là, tiếp tục truyên truyền pháp luật qua công tác thi hành án và các phiên tòa xét xử lưu động.

– Bốn là, tăng cường hơn nữa công tác xây dựng ngành, đảm bảo đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án trong sạch, bững mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật, có phẩm chất đạo đức trong sáng, bản lĩnh chính trị, nghê nghiệp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng.

– Năm là, cần đề ra các giải pháp phòng ngừa tái phạm tội. Tình trạng tái phạm tội đối với những người bị kết án nói chung, những người bị kết án tù nói riêng là một vấn đề quan trọng xuyên suốt toàn bộ quá trình thi hành án và “hậu” thi hành án hình sự.

Kết luận Chương 3

KẾT LUẬN

Việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong điều tra, truy tố, xét xử vẫn có nhiều trường hợp không đúng với quy định của pháp luật và còn có những ý kiến chưa thống nhất, có trường hợp hành vi phạm tội chỉ là tái phạm nhưng các cơ quan tiền hành tố tụng lại xác định là tái phạm nguy hiểm, có trường hợp hành vi phạm tội là tái phạm nguy hiểm nhưng lại xác định là tái phạm hoặc có trường hợp thì xác định tính tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong khi đó nó phải là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt… Áp dụng pháp luật về tái phạm, tái phạm nguy hiểm sai đã dẫn đến những hậu quả pháp lý tiêu cực cho chính người phạm tội và cho cả Nhà nước, từ đó làm suy giảm hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và không thể hiện được nguyên tắc xử lý người phạm tội của Nhà nước ta đó là: Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

Nguyên nhân của những sai sót này là do chưa nhận thức đúng bản chất của chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Mặc khác, do chưa được hướng dẫn đầy đủ nên việc xác định cũng như việc áp dụng chế định này còn nhiều vướng mắc, cần có sự hướng dẫn thống nhất. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặc khoa học các quy định hiện hành của Bộ luật hình sự Việt Nam về chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm và thực tiễn áp dụng, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định của chế định này có ý nghĩa về mặt lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng.

Để khắc phục tình trạng này, đề tài nghiên cứu đã bám sát lý luận cơ bản, kết hợp với khảo sát thực tế, từ đó làm rõ một số nội dung, khái miện và đặc điểm cơ bản của tái phạm, tái phạm nguy hiểm và từ những kết quả trên, đề tài cũng mạnh dạn đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật, đảm bảo việc xét xử công bằng, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, đây là một vấn đề có phạm vi nghiên cứu rộng, nhiều quan điểm khác nhau nên chắc chắn sẽ không tránh được những thiếu sót hạn chế. Rất mong nhận được sự đóng góp của Hội đồng và anh chị em học viên để đề tài được hoàn thiện hơn . /.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\PHAM THI NGOC HA\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *