Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Cho đến nay, nguyên tắc tranh tụng chưa được ghi nhận trong BLTTHS. Hoạt động tranh tụng tại các phiên toà hình sự hiện nay chủ yếu thực hiện theo các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Tuy bước đầu Hiến pháp 2013 đã ghi nhận nguyên tắc tranh tụng nhưng tranh tụng cũng chỉ mới được thể hiện một phần tại phiên tòa xét xử mà chưa được thể hiện trong cả quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử. Chất lượng các khâu, các bước tranh tụng trong phiên tòa hình sự còn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Tranh tụng tại các phiên toà còn mang tính hình thức, hầu hết thời gian Hội đồng xét xử hủ yếu dành cho việc xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng nhiều hơn là nghe các bên tranh luận từ đó mới đưa ra phán quyết, dẫn đến nhiều vụ án giải quyết phiến diện, thiếu khách quan, thậm chí xảy ra oan, sai. Bên cạnh đó, vị trí, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và các bên tham gia tố tụng trong trong hoạt động tranh tụng chưa được quy định rõ ràng, minh bạch dẫn đến sự lẫn lộn về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này khi tiến hành tố tụng.

Với mục đích làm rõ thực trạng tranh tụng trong tố tụng hình sự ở tỉnh Quảng Bình, hướng tới việc tăng cường và nâng cao chất lượng tranh tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm, qua đó đưa ra các giải pháp để từng bước nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết các vụ án hình sự, khắc phục triệt để tình trạng để xảy ra sai sót trong các quy trình tố tụng có thể dẫn đến việc kết án oan người không có tội, bỏ lọt tội phạm, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, tác giả đã chọn đề tài Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm rõ lý luận và những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tranh tụng cũng như thực tiễn áp dụng tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự tại tỉnh Quảng Bình, luận văn xác định những bất cập và nguyên nhân của nó, đồng thời kiến nghị những giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Bình.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra với luận văn là :

– Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về tranh tụng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

– Đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật về tranh tụng từ thực tiễn các phiên tòa sơ thẩm hình sự tại tỉnh Quảng Bình, chỉ ra nguyên nhân của những vướng mắc trong thực tế.

– Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tranh tụng trong tố tụng hình sự và các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự tại tỉnh Quảng Bình.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tranh tụng và thực trạng thực hiện tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Tranh tụng là vấn đề lớn trong hoạt động tố tụng, có nhiều nội dung thể hiện ở các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án, nên trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ không thể xem xét và giải quyết hết mọi vấn đề mà chỉ dừng lại nghiên cứu vấn đề tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình. Với phạm vi nghiên cứu này, luận văn nghiên cứu về tranh tụng tại phiên tòa dưới góc độ lý luận, phân tích những quy định của pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa, chỉ ra vướng mắc trong hoạt động thực tiễn của những chế định này và chất lượng phiên tòa sơ thẩm hình sự. Từ đó đưa ra những quan điểm, kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử nói riêng và của các cơ quan tư pháp nói chung.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Để hoàn thành luận văn, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp đàm thoại; phương pháp khảo sát thực tiễn tranh tụng tại những phiên tòa sơ thẩm hình sự.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Làm rõ cơ sở lý luận về tranh tụng tại phiên tòa và một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về tranh tụng.

Nghiên cứu việc thực hiện chế định tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tại địa phương Quảng Bình.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định đó khi xét xử và chỉ ra những hạn chế tồn tại trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, cũng như làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tồn tại, hạn chế.

Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự mà luận văn đưa ra sẽ giúp ích cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nói chung, Toà Hình sự Toà án nhân dân tỉnh và các Toà án cấp huyện tại Quảng Bình nói riêng nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.

7. Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 03 chương và phần kết luận.

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự.

Chương 2: Thực tiễn tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự tại tỉnh Quảng Bình.

Chương 3: Các giải pháp bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ

TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM HÌNH SỰ

    1. 1.1. Những vấn đề lý luận về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự
      1. 1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Tranh tụng có nghĩa là sự “kiện cáo nhau” giữa hai người (bên nguyên và bên bị) có lập trường tương phản yêu cầu Tòa án phân xử. Theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ trang tụng được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng”, có nghĩa là tranh luận trong tố tụng. Trong tiếng Anh, thuật ngữ tranh tụng thường được gắn liền với khái niệm “hệ tố tụng trang tụng” (adversarial system) với hàm ý đối lập với tố tụng thẩm vấn (inquisitorial system).

Tranh tụng trong tố tụng hình sự là hoạt động do các chủ thể có chức năng đối trọng lẫn nhau (buộc tội và bào chữa) thực hiện dựa trên nguyên tắc bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, yêu cầu, lập luận và phản bác chứng cứ, yêu cầu, lập luận của bên đối lập nhằm góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

1.1.2. Đặc điểm tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Tranh tụng có đầy đủ đặc điểm của một nguyên tắc tố tụng hình sự như :

– Tranh tụng tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật.

– Tranh tụng cũng là một trong những tư tưởng chủ đạo và có tính định hướng của hoạt động tố tụng hình sự.

– Tranh tụng là tư tưởng chủ đạo trong tố tụng hình sự nên tranh tụng có tính chi phối, định hướng cho quá trình tố tụng.

– Tranh tụng còn là cơ sở vận hành của các mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn, tố tụng pha trộn.

1.1.3. Phạm vi tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Theo tác giả, tranh tụng phải xuất hiện ngay từ khi người bị tình nghi phạm tội trong vụ án (khi khởi tố bị can hoặc khi tạm giữ người bị tình nghi hoặc bắt người phạm tội quả tang). Bởi vì, khi nào xuất hiện chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội (tức là khi có các hành vi tố tụng như bắt, tạm giữ, tạm giam…) thì khi đó xuất hiện tranh tụng.

      1. Nội dung tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Xuất phát từ bản chất, mục đích của tố tụng tranh tụng nên tại phiên tòa phải giải quyết các nội dung sau:

Thứ nhất, dưới sự chủ trì của Chủ tọa phiên tòa các bên hỏi và trả lời câu hỏi để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

Thứ hai, áp dụng những quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

Thứ ba, đảm bảo việc đưa ra xem xét các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho luận điểm của mỗi bên.

1.1.5. Chủ thể tham gia tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

– Chủ thể thực hiện chức năng trọng tài (xét xử) là Tòa án: bao gồm Thẩm phán, Hội thẩm;

– Chủ thể thực hiện chức năng buộc tội.

– Chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội.

– Các chủ thể khác tham gia tố tụng để giúp các bên và Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án.

1.1.6. Các điều kiện bảo đảm tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Thứ nhất, tham gia vào quá trình tranh tụng bao giờ cũng phải có ba chủ thể của quan hệ tranh tụng. Một bên là Kiểm sát viên nhân danh Nhà nước thực hành quyền công tố (bên buộc tội); một bên là Luật sư, bị cáo (bên gỡ tội) và bên kia là Thẩm phán và Hội thẩm (bên xét xử).

Thứ hai, để việc tranh tụng đạt kết quả cao thì các bên buộc tội và gỡ tội phải có trình độ năng lực cũng như đạo đức nghề nghiệp, có sự chuẩn bị kỹ càng.

Thứ ba, để quá trình tranh tụng đạt kết quả tốt thì cần có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo.

1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

      1. 1.2.1. Quy định về mô hình tổ chức hệ thống cơ quan tư pháp

Hệ thống cơ quan tư pháp được quy định tại Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật Công an nhân dân 2014, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, được quy định như sau :

– Tòa án nhân dân được quy định tại Điều 102 Hiến pháp 2013: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

– Viện Kiểm sát nhân dân được quy định tại Điều 107 Hiến pháp 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định; Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.

– Cơ quan điều tra: Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì cơ quan điều tra hình sự gồm có:

Cơ quan điều tra Công an nhân dân; Cơ quan điều tra Quân đội nhân dân; Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.

1.2.2. Quy định về nguyên tắc có liên quan đến tranh tụng

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn có những quy định nhằm bảo đảm tranh tụng trong tố tụng hình sự như:

Vai trò, vị trí, chức năng của Viện kiểm sát được quy định theo hướng rõ hơn theo hướng phân định rõ chức năng buộc tội của Viện kiểm sát, xác định rõ chức năng công tố là chức năng cơ bản của Viện kiểm sát.

Bổ sung nhiều nguyên tắc quan trọng, thể hiện rõ tư tưởng đề cao tranh tụng trong tố tụng hình sự, lấy kết quả tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ chủ yếu để Tòa án ra phán quyết. Bảo đảm sự tranh tụng bình đẳng giữa các bên trong tố tụng.

Pháp luật tố tụng có nhiều quy định nhằm bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Để bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa, khả năng chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. (Điều 48, Điều 49, Điều 50).

      1. 1.2.3. Quy định về tranh tụng tại phiên tòa

Tranh tụng tại phiên tòa được quy định từ Chương XVIII đến Chương XXI Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nhưng biểu hiện tập trung nhất trong phần tranh luận tại phiên tòa. Điều 184 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định Tòa án xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục, phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa.

Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

Chương 2

THỰC TIỄN TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

HÌNH SỰ TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1. Một số nét về đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội, cơ cấu tổ chức bộ máy của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình là một tỉnh thuộc duyên hải Miền Trung, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào có đường biên giới dài 201,87 km và phía Đông giáp biển Đông có bờ biển dài 116,04 km, có diện tích tự nhiên 8.051,50 km2, trong đó 89% diện tích tự nhiên là đồi núi; Hệ thống giao thông có Quốc lộ 1A , đường Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt Bắc – Nam đi qua, có danh lam thắng cảnh, có sân bay, cảng biển, của khẩu quốc tế thuận tiện cho việc giao thương phát triển về mọi mặt.

Căn cứ vào tổ chức hành chính, Quảng Bình hiện có Toà án nhân dân tỉnh và 8 Toà án nhân dân cấp huyện, tương ứng có Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và 8 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Theo số liệu của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình cho thấy, ngành Tòa án tỉnh Quảng Bình có 43 Thẩm phán trên tổng số 130 cán bộ công chức, trong đó có 16 Thẩm phán Trung cấp và 27 Thẩm phán Sơ cấp (so với những năm trước đây giảm 13 Thẩm phán). Còn theo số liệu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, hiện nay ngành Kiểm sát Quảng Bình có 98 Kiểm sát viên trên tổng số 181 cán bộ công chức, trong đó có 40 Kiểm sát viên trung cấp và 58 Kiểm sát viên sơ cấp.

Về tổ chức luật sư tại Quảng Bình: Theo số liệu của Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình cho thấy, trước tháng 10/2004 số Luật sư ở Quảng Bình là 22 người, song từ sau khi không cho phép công chức kiêm nhiệm Luật sư, số Luật sư có lúc chỉ có 09 người. Đến năm 2015 số Luật sư lại tăng lên 40 người và 3 Luật sư tập sự, ngoài ra có 11 Trợ giúp viên pháp lý hoạt động trong Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Bình. Hiện có 23 tổ chức hành nghề luật sư, trong đó có 22 văn phòng luật sư và 1 công ty luật; 1 Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước và 1 Trung tâm tư vấn pháp luật của Hội luật gia tỉnh đang hoạt động trên địa bàn Quảng Bình. Trong những năm qua, các Luật sư Quảng Bình đã nỗ lực cố gắng khắc phục khó khăn để đáp ứng phần nào nhu cầu giúp đỡ pháp lý của tổ chức, công dân; đóng góp đáng kể cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và những đương sự khác của vụ án khách quan, chính xác, đúng pháp luật, góp phần giữ vừng và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

2.2. Những kết quả đạt được từ thực tiễn tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự tại tỉnh Quảng Bình

    1. 2.2.1. Chất lượng xét xử theo hướng mở rộng tranh tụng ngày càng được nâng cao

Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, các Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng nên hầu hết các vụ án hình sự được đưa ra xét xử trong thời hạn luật định. Chất lượng xét xử được nâng lên, hình phạt áp dụng đối với từng bị cáo là nghiêm minh, thỏa đáng. Các Hội đồng xét xử đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trước xã hội, vận dụng đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt, phán quyết của Tòa án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét toàn diện, khách quan các chứng cứ của vụ án, nên việc xét xử đã cơ bản đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Phiên tòa hình sự đã thể hiện tính tôn nghiêm của pháp luật, Tòa án hai cấp tỉnh Quảng Bình đảm bảo cho những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, cho họ được tranh luận dân chủ tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp và theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Các vụ án có Luật sư bào chữa cho bị cáo và bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho việc thực thi nhiệm vụ của Luật sư khi tham gia tố tụng.

Các phiên tòa sơ thẩm hình sự theo nội dung cải cách tư pháp của Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, đặc biệt là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã điều khiển phiên tòa theo hướng mở rộng tranh tụng, tạo điều kiện cho bị cáo, Luật sư, Kiểm sát viên tranh luận, đối đáp một cách dân chủ, bản án, quyết định của Tòa án phán quyết chính xác, dân chủ hơn. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không còn im lặng hoặc chỉ phát biểu “giữ nguyên nội dung cáo trạng”, đã tham gia đối đáp lại những ý kiến của bị cáo và người bào chữa một cách nhanh nhạy, chính xác, thể hiện tốt vai trò thực hành quyền công tố của cơ quan Viện kiểm sát…

2.2.2. Hạn chế tình trạng oan, sai

Hàng năm, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Bình đã thụ lý và giải quyết một số lượng tương đối nhiều các vụ án hình sự, tổng hợp thống kê của Văn phòng Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình từ năm 2011 đến năm 2015 cho thấy trung bình mỗi năm Tòa án hai cấp tỉnh Quảng Bình thụ lý 475 vụ án hình sự với 859 bị cáo, tỷ lệ trung bình hàng năm số vụ án đã được giải quyết đạt 97,2%. Có thể thấy kết quả tranh tụng tại phiên tòa hình sự đã được phản ánh tích cực thông qua chất lượng hoạt động của các Tòa án. Tổng hợp báo cáo của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình trong hoạt động xét xử từ năm 2011 đến năm 2015 cho thấy :

– Năm 2011: Tổng số án đã thụ lý 470 vụ/ 840 bị cáo. Đã giải quyết: 466 vụ/836 bị cáo. Đạt tỷ lệ: 99,1% (TAND tỉnh 94%, các TAND huyện 99,5%); tỷ lệ án bị hủy là 0,42%, án bị sửa là 1,28% [48].

– Năm 2012: Tổng số án đã thụ lý 506 vụ/959 bị cáo (So với năm 2011 tăng 36vụ/119 bị cáo). Đã giải quyết: 499 vụ/918 bị cáo. Đạt tỷ lệ: 98,6% (TAND tỉnh 100%, các TAND huyện 98,5%); tỷ lệ án bị hủy là 0,6%, án bị sửa là 1,4% [49].

– Năm 2013: Tổng số án đã thụ lý 443 vụ/774 bị cáo (So với năm 2012 giảm 63 vụ/185 bị cáo). Đã giải quyết: 395 vụ/672 bị cáo. Đạt tỷ lệ: 89% (TAND tỉnh 86,2%, các TAND cấp huyện 89,4%); tỷ lệ án bị huỷ là 0,7%, án bị sửa là 1,51% [50].

– Năm 2014: Tổng số án đã thụ lý 446 vụ/806 bị cáo (So với năm 2013 tăng 3 vụ). Đã giải quyết: 444 vụ/798 bị cáo. Đạt tỷ lệ: 99,5% (Trong đó TAND tỉnh đạt tỷ lệ 96,2%; các TAND cấp huyện đạt tỷ lệ 99,8%; tỷ lệ án huỷ là 0,7%, án bị sửa là 1,35% [51].

– Năm 2015: Tổng số án đã thụ lý: 511/919 bị cáo (tăng 65 vụ so với năm 2014). Đã giải quyết: 509 vụ/916 bị cáo. Đạt tỷ lệ: 99,6% (Trong đó TAND tỉnh 96%; các TAND cấp huyện 99,8%); tỷ lệ án bị hủy là 0,59%, án bị sửa là 0,79% [52].

Nhìn chung, tỷ lệ án huỷ, cải sửa vì lý do chủ quan của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong những năm qua giảm nhiều so với những năm trước đây (tỷ lệ án bị huỷ toàn hệ thống Toà án hai cấp tỉnh Quảng Bình năm 2010 là 1,27%, án bị sửa là 2,7% thì bình quân 5 năm từ 2011 – 2015 giảm xuống tỷ lệ án huỷ chỉ còn 0,6%; tỷ lệ án cải sửa chỉ còn 1.27%, thấp hơn mức quy định của hệ thống Toà án (án bị huỷ thấp hơn 0,56% so với mức quy định 1,16%; án bị sửa thấp hơn 1,73% so với mức quy định là 3%).

2.2.3. Nâng cao vị trí, vai trò của Luật sư

Trong thời gian qua, đội ngũ Luật sư tại tỉnh Quảng Bình đã có những bước phát triển vượt bậc. Theo báo cáo của Đoàn luật sư tỉnh Quảng Bình, tính đến tháng 31/12/2015, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình đã phát triển được 23 tổ chức hành nghề luật sư, trong đó có 1 Công ty Luật và 22 Văn phòng luật sư.

Sự phát triển về số lượng Luật sư ở Quảng Bình trong những năm qua rất ấn tượng cả về số lượng và chất lượng. Đến tháng 12/2015 số lượng thành viên tăng lên 40 Luật sư và 3 Luật sư tập sự với 23 tổ chức hành nghề [17].

Trong những năm vừa qua, việc tham gia của Luật sư trong quá trình tố tụng các vụ án hình sự tại phiên tòa đã góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp cho Hội đồng xét xử phán quyết những bản án nghiêm minh, công bằng, dân chủ và đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho tổ chức và công dân. Theo số liệu tổng hợp của Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình trong 05 năm qua (2011 -2015) các tổ chức luật sư đã tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hình sự 1.083 lượt, tham gia trong tố tụng hình sự 559 vụ [17].

    1. 2.3. Những hạn chế, bất cập từ thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự tại tỉnh Quảng Bình

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng nhìn chung chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự chưa thực sự cao, còn nặng về hình thức, phiến diện.

Một số Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa hình sự sơ thẩm thiếu kinh nghiệm điều khiển phiên tòa hình sự sơ thẩm, thậm chí không biết tiến hành việc gì trước, việc gì sau, do đó kết quả đạt được tại phiên tòa hình sự sơ thẩm không cao.

Trong xét hỏi phiến diện, thiếu tính khách quan như chỉ hỏi những tình tiết có ý nghĩa buộc tội (nếu đã có định kiến là bị cáo phạm tội) hoặc ngược lại chỉ hỏi về các tình tiết gỡ tội (nếu đã cho là bị cáo không phạm tội – mặc dù trường hợp này ít xảy ra).

Thực tế tại phiên tòa sơ thẩm hình sự có Thẩm phán còn giải thích những tình tiết về nội dung vụ án đối với những người tham gia tố tụng khác, đây là một nguyên nhân làm cho việc xét xử thiếu khách quan, không đảm bảo dân chủ.

Có trường hợp sau khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, bị cáo không đồng ý với lời luận tội đó chủ tọa cũng không yêu cầu bị cáo, Luật sư đưa ra lý do tại sao không đồng ý, yêu cầu đưa ra những chứng cứ, những căn cứ phản bác lại lời luận tội mà lại công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, như vậy là vi phạm tố tụng và vi phạm tinh thần tranh tụng đã được hướng dẫn.

Vẫn còn tồn tại thiếu sót chủ yếu của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm hình sự là khi xét hỏi bị cáo thường thẩm vấn theo hướng buộc tội như cáo trạng của Viện kiểm sát, giúp Viện kiểm sát bảo vệ cáo trạng.

Có trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm hình sự trong suốt thời gian xét hỏi không hỏi một câu nào mà chỉ đọc bản cáo trạng rồi ngồi xem Hội đồng xét hỏi khi nào kết thúc phần xét hỏi thì đọc bản luận tội.

Có những Kiểm sát viên không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, không có sự chuẩn bị kỹ càng nên ra phiên tòa sơ thẩm hình sự không thể hỏi nhiều và điều hiển nhiên là đến phần tranh luận không thể đối đáp.

Có những phiên tòa sơ thẩm hình sự còn diễn ra một cách đơn điệu và như được sắp đặt trước, kết luận của Kiểm sát viên theo một khuôn mẫu chung, thiếu dẫn chứng cụ thể để lý giải rành mạch, chi tiết, nhất là những vấn đề còn mâu thuẫn.

Một vấn đề còn khá phổ biến là khi chủ tọa yêu cầu Kiểm sát viên tranh luận với Luật sư và bị cáo về vấn đề cần làm sáng tỏ thì đại diện Viện Kiểm sát thường là nêu lại lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đọc lại bản cáo trạng hoặc chỉ kết luận rằng tôi giữ nguyên quan điểm như đã truy tố.

Luật sư là một bên của quá trình tranh tụng nhưng nhiều trường hợp bài bào chữa chỉ mang nặng việc khai thác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc bắt bẻ về câu chữ, hay những lỗi tố tụng nhỏ mà không đi vào những tình tiết của vụ án một cách toàn diện, để khai thác bảo vệ quyền lợi chính đáng của bị cáo.

Có những bài bào chữa hành vi phạm tội đã quá rõ ràng nhưng Luật sư vẫn cố tình bảo vệ quyền và lợi ích không hợp pháp của bị cáo, quên mất rằng Luật sư cũng có nhiệm vụ phải bảo vệ pháp luật. Có những Luật sư ra phiên tòa chỉ vì trách nhiệm được mời theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng nên hiệu quả không cao.

    1. 2.4. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập từ thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự tại tỉnh Quảng Bình

2.4.1. Nguyên nhân từ những quy định của pháp luật

Thứ nhất, trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa quy định tranh tụng là một nguyên tắc của hoạt động xét xử, vì vậy trong từng điều luật tại các chương về xét xử cũng chưa thể hiện hết toàn bộ tinh thần của tranh tụng và như thế việc đảm bảo cho tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự chưa đạt hiệu quả cao nhất.

Thứ hai, còn có quá nhiều bất cập trong các quy định cụ thể dẫn đến vướng mắc, lúng túng cho quá trình tranh tụng.

Thứ ba, sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh tụng chưa được bảo đảm.

Thứ tư, về giới hạn xét xử của Tòa án. Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm qua thẩm tra và đánh giá chứng cứ nếu xét thấy bị cáo phạm tội khác nặng hơn thì Hội đồng xét xử cũng không có quyền ra phán quyết về tội nặng hơn đó.

Thứ năm, Viện kiểm sát là cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hành quyền công tố thế nhưng Viện kiểm sát lại kiêm luôn cả chức năng kiểm sát việc xét xử, như vậy rõ ràng là không thể khách quan.

2.4.2. Nguyên nhân từ những cơ quan và người có thẩm quyền thực thi pháp luật

Những sai lầm dẫn đến việc xét xử oan, sai có một phần đến từ sai lầm nghiêm trọng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự và nó được thực hiện bởi Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên. Hiện nay còn có những trường hợp mà năng lực, phẩm chất của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân dân không đạt yêu cầu. Đây chính là ý thức trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và nghề nghiệp của một số người tiến hành tố tụng chưa cao, một số khác thì sa sút về phẩm chất đạo đức, không chịu rèn luyện bản lĩnh chính trị và nghề nghiệp. Trong quá trình xét xử, chất lượng phụ thuộc rất nhiều vào vai trò điều khiển của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hình sự sơ thẩm, vai trò chủ động xét hỏi tranh luận của Kiểm sát viên. Do đó đòi hỏi họ phải vừa là người có cái tâm trong sáng đồng thời vừa là người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng.

Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị đã có từ ngày 02/01/2002 nhưng tinh thần của nó về tranh tụng không phải là đã được toàn bộ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên quán triệt, việc nắm bắt và vận dụng nó còn tùy thuộc vào ý thức mỗi người, nhất là trong giai đoạn hiện nay cơ chế để tạo ra tranh tụng vẫn còn chưa hoàn thiện.

Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình

Chương 3

CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TRANH TỤNG TẠI PHIÊNTÒA

SƠ THẨM HÌNH SỰ

    1. 3.1. Nâng cao nhận thức về tranh tụng trong tố tụng hình sự

Về mặt nhận thức, cần phải xác định chúng ta đang đứng trước yêu cầu thể chế hoá việc thực hiện quyền dân chủ, quyền con người và các quyền cơ bản của công dân theo quy định của Hiến pháp 2013, để đạt được điều đó, cùng với việc đổi mới đồng bộ các chế độ, chính sách tiến bộ, khoa học phù hợp tiến trình phát triển của đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế chúng ta cần mở rộng và nâng cao tranh tụng trong tố tụng hình sự, coi đây là một trong những nội dung quan trọng để góp phần thực hiện hiệu quả các quy định của Hiến pháp 2013.

Về khái niệm tranh tụng cũng cần nghiên cứu và có sự thống nhất về nhận thức, nhất là về mặt nội dung, ý nghĩa của nó.

Yếu tố tranh tụng xuất hiện trong cả quá trình tố tụng giải quyết vụ án. Nó tương ứng với ba giai đoạn tố tụng, đó là giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Bắt đầu từ giai đoạn điều tra, ngay từ khi xuất hiện yếu tố buộc tội – gỡ tội thì yếu tố tranh tụng đã xuất hiện.

3.2. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự

Thứ nhất, tranh tụng phải được ghi nhận thành một nguyên tắc cơ bản xuyên suốt cả quá trình tố tụng.

Thứ hai, hoàn thiện chế định bảo đảm quyền bào chữa.

Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia phiên toà sơ thẩm hình sự.

Thứ tư, hoàn thiện về thủ tục xét xử tại phiên toà.

      1. 3.3. Nâng cao năng lực tranh tụng của các chủ thể tham gia tranh tụng
      2. Thứ nhất, kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và tổ chức, hoạt động của Toà án.
      3. Thứ hai, kiện toàn đội ngũ Kiểm sát viên và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

Thứ ba, kiện toàn đội ngũ Luật sư và phát triển các tổ chức, dịch vụ pháp lý có chất lượng.

      1. 3.4. Các giải pháp khác

Thứ nhất, tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và ngành Tòa án nói riêng

Xây dựng trụ sở ngành Tòa án đồng bộ từ trung ương đến địa phương nhằm đảm bảo tốt hoạt động xét xử và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Trang bị những phương tiện và những thiết bị thiết yếu ở các cơ quan xét xử nhằm phục vụ nhiệm vụ xét xử được thuận lợi. Những vụ án xét xử lưu động ở cấp huyện cần được cấp đầy đủ kinh phí, phương tiện để đảm bảo hoạt động.

Thứ hai, tăng cường số lượng, chất lượng cán bộ Tòa án

Số lượng cán bộ ở các cơ quan xét xử hiện nay là quá ít, cán bộ luôn phải làm việc trong tình trạng thêm giờ, ngày nghỉ. Đây là một sức ép lớn dẫn đến quá tải công việc. Số lượng cán bộ ở các cơ quan tăng lên không phụ thuộc vào việc tuyển chọn cán bộ của ngành Tòa án mà phải phụ thuộc chỉ tiêu biên chế Quốc hội giao, do đó Quốc hội sớm bổ sung biên chế ngân sách cho ngành Tòa án. Cùng với việc tăng về số lượng thì cũng cần nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức, khuyến khích việc tự học tập nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ, đòi hỏi của cải cách tư pháp.

Thứ ba, tuyên truyền phổ biến pháp luật

Nhà nước và chính quyền địa phương cần đẩy mạnh hơn nữa việc phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân, để họ tham gia vào quá trình tố tụng, có thể tự bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình đồng thời giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan tư pháp. Xây dựng chương trình phối hợp về công tác tuyên truyền pháp luật đối với nhân dân, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của chính quyền địa phương với Đoàn luật sư, để người dân nắm rõ các quy định của pháp luật, chính sách, đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước trong quản lý xã hội, nhằm nâng cao ý thức của người dân trong việc chấp hành pháp luật từ đó sẽ giảm tỷ lệ phạm tội do thiếu hiểu biết về pháp luật.

KẾT LUẬN

Với khả năng nghiên cứu còn hạn chế và trong sự giới hạn cho phép của luận văn, tác giả đã đạt được một số kết quả như sau :

Nghiên cứu và đưa ra nhận định về mô hình tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay là tố tụng thẩm vấn nhưng đan xen các yếu tố tranh tụng trong quá trình tố tụng, đặc biệt là tranh tụng tại phiên tòa.

Việc thừa nhận và áp dụng tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay, đang là yêu cầu mang tính tất yếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng.

Việc ghi nhận và áp dụng tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng là một trong những nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta.

Qua nghiên cứu thực trạng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự tại tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua cho thấy một số mặt tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong tranh tụng đã bộc lộ rõ và có ảnh hưởng không nhỏ đến tính khách quan trong xét xử cũng như kết quả của các phán quyết của Tòa án.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do pháp luật hiện hành còn nhiều quy định chưa phản ánh đầy đủ bản chất của tranh tụng trong tố tụng hình sự, mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp, các quy định về vị trí, chức năng của từng cơ quan trong hệ thống tư pháp chưa thật hợp lý. Năng lực, trình độ, trách nhiệm của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tranh tụng còn hạn chế…

Tranh tụng tại phiên tòa có vai trò lớn trong việc xác định sự thật khách quan vụ án, tránh bỏ lọt tội phạm làm oan người vô tội, do đó, cần có những giải pháp đồng bộ và phù hợp để có thể nâng cao hiệu quả tranh tụng góp phần thực hiện thành công cải cách tư pháp. Những giải pháp đó có thể là hoàn thiện nhiều lĩnh vực khác nhau của pháp luật như những sửa đổi trong Bộ luật tố tụng hình sự, trong các văn bản pháp luật khác về các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp, các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, Tòa án…, tạo ra những cơ chế đảm bảo cho thực hiện tranh tụng tại phiên tòa, có những chế độ về lương và chính sách phù hợp…

Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự ở tỉnh Quảng Bình nói riêng và ở Việt Nam nói chung phải đi đôi với việc kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; đào tạo các chức danh tư pháp theo hướng đáp ứng yêu cầu tranh tụng, bảo đảm cơ sở vật chất và có chế độ đãi ngộ phù hợp với những người tiến hành tố tụng; tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\NGUYEN XUAN DIEU\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *