Định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Định tội danh là một vấn đề hết sức quan trọng, là giai đoạn cơ bản trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự. Tất cả những việc làm trước đó (từ khởi tố, điều tra, truy tố) suy cho cùng là nhằm phục vụ cho việc định tội được chính xác. Định tội đúng có ý nghĩa quyết định quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi vì nó là cơ sở cần thiết đầu tiên cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.
Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động định tội danh trong nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động áp dụng và xây dựng pháp luật. Nghiên cứu về định tội danh trong các tội xâm phạm sức khỏe của người khác đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về đề tài này gắn với thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi. Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng, tác giả đã chọn đề tài: “Định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác, thực tiễn định tội danh nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2010 đến năm 2014, luận văn đề xuất hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp khác đảm bảo định tội danh đúng, chính xác đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, cơ sở pháp lý của định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
– Đánh giá thực trạng định tội danh đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Quảng Ngãi để tìm ra những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn xét xử cần phải khắc phục.
– Xây dựng giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo định tội danh đúng, chính xác đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Cơ cở khoa học, pháp luật và thực tiễn định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2010 đến năm 2014 là đối tượng nghiên cứu của luận văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề định tội danh về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy định từ Điều 104 đến Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 trên địa tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2010 đến năm 2014.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn lấy phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền con người, về tội phạm, về hình phạt, về phòng chống tội phạm…
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, nghiên cứu án điển hình,.v.v…
6. Ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối toàn diện về vấn đề lý luận và hoạt động thực tiễn ở tỉnh Quảng Ngãi về định tội danh đối các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng đối với hoàn thiện lý luận về định tội danh, cũng như hoạt động thực tiễn về định tội danh đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác cho các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp hình sự khi áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
Chương 2: Thực tiễn định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Các biện pháp để định tội danh đúng đối với định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm
Có nhiều khái niệm liên quan tới định tội danh, đều thống nhất ở chỗ, định tội danh thực chất là việc xác định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế hay nói cách khác là sự xác định sự phù hợp (đồng nhất) giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự.
Từ các quan điểm về định tội danh như đã trình bày trên có thể đi đến kết luận về định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác là việc xác định sự phù hợp, của hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác đã thực hiện trên thưc tế với những dấu hiệu cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự.
Định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác là một trường hợp cụ thể của hoạt động định tội danh nói chung. Do vậy, ngoài những đặc điểm chung về định tội danh, còn có những đặc điểm riêng.
1.1.2. Ý nghĩa
Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các QPPL hình sự. Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị – xã hội, đạo đức và pháp luật rất lớn. Hoạt động định tội danh của các chủ thể có thể theo hai xu hướng: định tội danh đúng hoặc định tội danh sai.
1.2. Quy trình (các bước) định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
1.2.1. Đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Ở vấn đề này thể hiện bằng việc phân tích các dấu hiệu cơ bản nhất của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện xem có dấu hiệu vi phạm pháp luật hay không. Nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì phải xác định có dấu hiệu tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác hay chỉ là vi phạm pháp luật khác.
Để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác dựa vào các căn cứ cụ thể như: Tính chất, phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm; tính chất của động cơ, mức độ lỗi và nhân thân của người phạm tội.
1.2.2.Làm sáng tỏ các dấu hiệu của hành vi phạm tội để xác định hành vi đó thuộc hành vi phạm tội nào
Những người tiến hành định tội danh làm sáng tỏ các dấu hiệu của hành vi phạm tội, tức là làm sáng tỏ hành vi phạm tội đó thuộc loại tội phạm nào và được quy định ở chương nào của BLHS. Chính vì thế, giai đoạn này chính là giai đoạn xác định khách thể loại mà hành vi được thực hiện, để từ đó tìm ra nhóm QPPL hình sự cần kiểm tra.
1.2.3. Làm rõ những hành vi phạm tội thuộc các cầu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ
Việc định tội thể hiện trên cơ sở thông qua việc kiểm tra, đối chiếu, so sánh các dấu hiệu của tội phạm và chỉ rõ CTTP cụ thể trong từng hành vi phạm tội đã được thực hiện nhằm xác định chính xác tội phạm đã được thực hiện trên thực tế thuộc loại cấu thành cơ bản, cấu thành tăng năng hay cấu thành giảm nhẹ trong giới hạn của một điều luật nào đó đã được lựa chọn.
1.2.4. Làm rõ cơ sở định tội danh trong trường hợp đặc biệt
Tội phạm chưa hoàn thành là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Đối với tội phạm chưa hoàn thành thì mặt chủ quan và mặt khách quan của CTTP về nội dung là trùng nhau. Còn đối với tội phạm chưa đạt lỗi cố ý chỉ thể hiện qua hành vi bên ngoài của người phạm tội và hậu quả của hành vi đó, và hậu quả phạm tội mà chủ thể mong muốn đạt được chưa xảy ra, hành vi đã thực hiện chưa thoả mãn hết các dấu hiệu trong mặt khách quan, và mặt chủ quan của cấu thành tội phạm chưa hoàn thành bao giờ cũng là lỗi cố ý trực tiếp.
1.3. Cơ sở pháp luật và khoa học của định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
1.3.1. Cơ sở pháp luật của định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
Để định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe người khác được chính xác, đòi hỏi phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định. Xuất phát từ bản chất của định tội danh, chúng tôi cho rằng BLHS là cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh, có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với việc định tội danh. Như vậy, khi tiến hành định tội danh cần căn cứ vào các QPPL hình sự của Phần chung cũng như Phần các tội phạm BLHS. Đồng thời phải viện dẫn chính xác, đầy đủ các điều, khoản được áp dụng.
1.3.2. Cơ sở khoa học của định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
Dù quan niệm CTTP là cơ sở pháp lý hay cơ sở khoa học về việc định tội danh như thế nào đi chăng nữa, CTTP vẫn là mô hình pháp lý duy nhất của việc định tội danh. Từ sự phân tích trên, để định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, không thể không dựa vào CTTP của các tội xâm phạm sức khỏe của người khác. Xét về mặt cấu trúc, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được cấu thành bởi bốn yếu tố: Mặt khách thể của tội phạm; mặt khách quan của tội phạm; mặt chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm.
Như vậy, bằng việc xác định đúng các loại khách thể của các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, người định tội danh sẽ biết được là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phải là tội phạm hay không; nếu là tội phạm thì có thuộc nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác hay không và là tội phạm cụ thể nào trong số các tội phạm đó để tìm điều luật tương ứng trong Chương XII, Phần các tội phạm BLHS áp dụng đối với người phạm tội.
Trong ba loại khách thể nêu trên thì khách thể trực tiếp là loại khách thể cho phép người định tội danh khẳng định rõ hơn cả tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể được thực hiện, để từ đó định tội danh được chính xác.
Tội phạm là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, vì vậy khi nghiên cứu định tội cho các tội xâm phạm sức khỏe của người khác phải xác định mặt khách quan của các tội phạm này.
Như vậy, việc xác định, đánh giá về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu thuộc bốn yếu tố của các tội xâm phạm sức khỏe của người khác có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó giúp cho việc định tội danh được đúng, chính xác và đầy đủ, không để lọt tội phạm, không là oan người vô tội. Đồng thời, việc đánh giá về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu của các tội xâm phạm sức khỏe của con người còn giúp cho việc quyết định hình phạt được công bằng, bởi có định tội danh đúng thì quyết định hình phạt mới đúng.

Chương 2
THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TẠI ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Thực tiễn định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo cấu thành tội phạm cơ bản và tăng nặng
2.1.1 Tổng quan tình hình điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Định tội danh đúng sẽ loại bỏ việc kết án vô căn cứ những người có hành vi không nguy hiểm cho xã hội, không trái pháp luật hình sự và tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội. Nhận thức được ý nghĩa của việc định tội danh đúng, trong 05 năm qua từ năm 2010 – 2014 cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi đã thụ lý điều tra 2.691vụ/4.841 bị can và giải quyết 2.549 vụ/4.708 bị can, chiếm tỷ lệ 94,72% so với các vụ án và 97,25% so với số bị can (xem bảng 2.1 Phụ lục).
Qua số liệu cho thấy kết quả thụ lý và giải quyết của các cơ quan điều tra tỉnh Quảng Ngãi đã đạt hiệu quả cao so với chỉ tiêu mà Bộ công an giao với tỷ lệ là từ 85% trở lên. Với số lượng án nhiều, nhưng qua đó cho thấy sự nổ lực của đội ngũ cán bộ, Điều tra viên đã tích cực giải quyết các vụ án một cách chóng, đảm bảo đúng quy trình theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.
2.1.2. Những khó khăn, vướng mắt, sai lầm trong định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
Công tác định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Ngãi còn những khó khăn, vướng mắc, sai lầm nhất định. Qua nghiên cứu thực tiễn nhận thấy vẫn còn tình trạng nhầm lẫn giữa tội danh này với tội danh khác nhiều trường hợp hành vi cấu thành tội này, nhưng cơ quan có thẩm quyền lại khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội về một tội phạm khác. Thực trạng trên gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng, tác động rất đến trật tự an toàn xã hội, bị dư luận phản ánh, lên án.
Các cơ quan chức năng rất quan tâm đưa ra nhiều biện pháp khắc phục tình trạng này, nhưng vẫn chưa chấm dứt gây sự hoài nghi về trình độ, năng lực, sự khách quan, thận trọng và công tâm trong sử dụng quyền lực Nhà nước của những người tiến hành tố tụng. Thực trạng ấy là vật cản quá trình cải cách tư pháp ở nước ta.
Trong 5 năm từ năm 2010 đến 2014 Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên hủy đề điều tra lại đối với tổng số các vụ án xâm phạm sức khỏe của người khác là 51 vụ/964 vụ, chiếm tỷ lệ là 5,29% (xem bảng 2.6 phụ lục). Bên cạnh đó, việc xét xử cấp sơ thẩm còn nhiều sai sót dẫn đến mà số lượng các vụ án bị Viện kiểm sát kháng nghị tuy không cao nhưng vẫn còn, cụ thể trong 5 năm từ 2010 đến 2014 Viện kiểm sát đã kháng nghị 39 vụ/964 vụ chiếm chỉ lệ 4,04% (xem bảng 2.7 phụ lục). Qua số liệu thống kê trên, thực tiễn quá trình định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian quan vẫn còn sai sót.
2.2. Thực tiễn định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong các trường hợp đặc biệt
2.2.1. Trong trường hợp tội phạm chưa hoàn thành
Trong BLHS năm 1999 không có khái niệm tội phạm chưa hoàn thành mà chỉ có khái niệm phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 18 BLHS.
Tội phạm chưa hoàn thành là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Tức là tội phạm chưa hoàn thành bao gồm hai giai đoạn đầu và của hoạt động phạm tội sơ bộ do cố ý. Đối với tội phạm hoàn thành thì mặt chủ quan và mặt khách quan của CTTP về nội dung là trùng nhau. Còn đối với tội phạm chưa hoàn thành lỗi cố ý chỉ thể hiện qua hành vi bên ngoài của người phạm tội và hậu quả của hành vi đó, hậu quả phạm tội mà chủ thể mong muốn đạt được chưa xảy ra, hành vi đã thực hiện chưa thõa mãn hết các dấu hiệu trong mặt khách quan và mặt chủ quan của CTTP chưa hoàn thành bao giờ cũng là lỗi cố ý trực tiếp.
2.2.2. Trong trường hợp đồng phạm
Thực tiễn định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua có hạn chế nhất định, chủ thể định tội danh đã không cân nhắc trong một tổng thể các hành vi mà các bị cáo thực hiện trong một vụ án, hơn thế là trong cùng thời gian với những công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm khác nhau.
2.2.3. Trong trường hợp phạm nhiều tội
Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác có không ít trường hợp: cùng một người thực hiện hai hoặc nhiều tội phạm và người phạm tội cùng một lúc bị truy cứu trách nhiệm hình sự cùng một lúc về các tội phạm đó hoặc bị truy cứu vào những thời gian khác nhau sau khi bị kết án về hành vi phạm tội trước đó.
Do vậy, nhiều tội phạm hay việc một người phạm nhiều tội phạm làm nảy sinh hàng loạt vấn đề pháp lý đặc biệt cần được giải quyết cả ở giai đoạn điều tra lẫn ở giai đoạn xét xử. Trong số những vấn đề đó, thì vấn đề định tội danh đối với trường hợp nhiều tội phạm có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Tính phức tạp của quá trình định tội danh trong trường hợp có nhiều tội phạm biểu hiện ở chỗ chế định pháp lý này bao gồm rất nhiều hành vi, hình thức phạm tội khác nhau. Phạm nhiều tội có các dấu hiệu cơ bản nhất định.
Việc định tội danh trường hợp phạm nhiều tội rất khó xác định, đòi hỏi các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng cần phân biệt rõ vấn đề nhiều tội phạm với phạm tội nhiều lần. Ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2010 – 2015 xảy ra ít, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng vẫn gặp một số khó khăn trong quá trình định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trường hợp phạm nhiều tội. Do đó, vẫn còn những sai sót nhất định dẫn đến định tôi danh sai, bỏ lọt tội phạm.
Kết luận Chương 2

Chương 3
CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ ĐỊNH TỘI DANH ĐÚNG ĐỐI VỚI
ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC
3.1. Các yêu cầu đối với định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
3.1.1. Định tội danh đúng
Định tội danh đúng là sự thể hiện việc đánh giá chính trị – xã hội và pháp lý đối với những hành vi nhất định. Định tội danh đúng sẽ loại trừ việc kết án vô căn cứ những người có hành vi không nguy hiểm cho xã hội, không trái pháp luật hình sự và tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội. Để định tội danh đúng những người tiến hành định tội danh cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Một là, người tiến hành định tội danh cần xác định đúng sự thật khách quan của vụ án, tức là tiến hành điều tra, truy tố, xét xử các vụ án một cách khách quan dựa trên cơ sở chứng cứ đã được thu thập, đánh giá theo đúng quy định của pháp luật.
Hai là, người tiến hành định tội danh cần phải đánh giá đầy đủ mọi chứng cứ một cách khách quan và toàn diện, đầy đủ các tình tiết của vụ án.
Ba là, những người tiến hành định tội danh phải phải có năng lực chuyên môn vững chắc. Việc có năng lực chuyên môn sẽ đảm bảo sự tự tin cần thiết trong hoạt động chuyên môn của mình.
3.1.2. Định tội danh chính xác
Để định tội danh chính xác đòi hỏi những người tiến hành định tội danh phải nắm rõ những điều luật và viện dẫn một cách đầy đủ các điều luật ở Phần các tội phạm của BLHS, nếu các điều luật bao gồm nhiều khoản, điểm thì phải nêu rõ các khoản, điểm nào tương ứng với điều luật đó. Trong trường hợp phạm tội do đồng phạm, phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội, ngoài việc viện dẫn điều luật quy định tội phạm tương ứng ở Phần các tội phạm, còn phải viện dẫn cả các điều luật ở
Để định tội cho một hành vi cụ thể, người áp dụng luật hình sự phải căn cứ vào CTTP được rút ra từ những quy định của BLHS. Yêu cầu cơ bản của việc định tội danh được chính xác đối với các quy định của pháp luật hình sự là: Trong cấu thành cơ bản của từng tội, nhà làm luật phải chỉ ra được các dấu hiệu pháp luật cơ bản đặc trưng cần và đủ của từng tội, hạn chế đến mức thấp nhất các quy định có thể dẫn đến việc hiểu theo nhiều cách khác nhau và phải có sự giải thích.
3.1.3. Định tội danh đầy đủ
Để việc định tội danh đầy đủ các tội xâm phạm sức khỏe của người khác người tiến hành định tội danh cần phải căn cứ vào thực tiễn có bao nhiêu hành vi nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm sức khỏe của người khác đã thực hiện và các điều luật của BLHS quy định là tội phạm thì phải được định bấy nhiêu tội danh. Việc này đòi hỏi người định tội danh không được phép áp dụng nguyên tắc thu hút hành vi phạm tội này vào hành vi phạm tội khác trong việc định tội danh. Khi định tội danh một hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải căn cứ vào cả quy phạm Phần chung và quy phạm Phần các tội phạm của BLHS, đồng thời phải viện dẫn một cách chính xác, đầy đủ điều, khoản, điểm hay một số điều luật liên quan, bao quát được toàn bộ hành vi nguy hiểm cho xã hội được nêu trong Phần các tội phạm của BLHS, nhưng cần đặc biệt chú ý đến hiệu lực về không gian và thời gian của điều, khoản được viện dẫn.
Để định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được đầy đủ người tiến hành định tội danh cần phải nắm rõ các trường hợp có sự tranh chấp giữa các quy định của BLHS.
Tuy nhiên, trong thực tiễn định tội danh ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đội ngũ những người làm công tác định tội danh nhận thức đầy đủ về mặt lý luận nhưng vẫn còn có những trường hợp định tội danh sai, dẫn đến tình trạng bỏ lột tội phạm và người phạm tội.
3.2. Các giải pháp đảm bảo hiệu quả của định tội danh đúng, đầy đủ, chính xác
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe
Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000. Kể từ năm 2000 đến nay, BLHS đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, qua hơn 15 năm thi hành, BLHS hiện hành, các QPPL của BLHS quy định các tội xâm phạm sức khỏe của con người đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế đòi hỏi phải được khắc phục, cụ thể như sau:
Thứ nhất, sửa đổi BLHS để phù hợp với Hiến pháp năm 2013, nhất là những sửa đổi liên quan đến bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành để làm cho các quyền này của người dân được thực hiện trên thực tế. BLHS phải quy định xử lý nghiêm các hành vi xâm hại quyền con người, quyền cơ bản của công dân và phải bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của BLTTHS năm 2003, luật Thi hành án hình sự năm 2010 và các luật khác có liên quan.
Thứ hai, do ban hành từ năm 1999, nên BLHS chưa thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Thứ ba, một số quy định của BLHS tỏ ra không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện mới. Cần đổi mới tư duy về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của TNHS, khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Quy định của BLHS về cấu thành của một số tội xâm phạm sức khỏe của con người còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này trên thực tế. Việc sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người theo hướng: Hạn chế các tình tiết định tội, định khung mang tính chất định lượng (ví dụ: quy định về tỷ lệ thương tích); bổ sung thêm tình tiết “phạm tội trong thời gian đang chấp hành án phạt tù”.
Trên cơ sở nghiên cứu các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, chúng tôi có một số kiến nghị hoàn thiện như sau:
Đối với “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” Điều 104 Bộ luật hình sự.
Một là, về tình tiết gây cố tật nhẹ cho nạn nhân. Trong lý luận cũng như thực tiễn áp dụng về tình tiết định khung tăng nặng “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” có nhiều cách hiểu khác nhau, trong trường hợp người phạm tội gây ra cố tật cho đối tượng bị xâm hại với tỷ lệ thương tật vĩnh viễn trên 11% có bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” hay không?
Có quan điểm cho rằng trường hợp người phạm tội gây ra cố tật cho đối tượng bị xâm hại mà tỷ lệ thương tật trên 11% thì không thể coi là cố tật nhẹ được mà phải là cố tật nặng, do pháp luật chỉ quy định là gây cố tật nhẹ cho nạn nhân nên đối với trường hợp này không thể áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân.
Theo chúng tôi thống nhất với quan điểm này, bởi lẽ người phạm tội gây ra cố tật với tỷ lệ thương tật vĩnh viễn từ 11% trở lên không thể coi là cố tật nhẹ được nên không có căn cứ pháp luật để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” đối với trường hợp này. Mặt khác, theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội nên không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” trong trường hợp gây ra cố tật với tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên.
Do vậy, chúng tôi kiến nghị sửa đổi tình tiết định khung tăng nặng “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” thành “gây cố tật cho nạn nhân” sẽ đảm bảo được khả năng bao trùm cũng như thể hiện được quan điểm nghiêm trị người phạm tội có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà hậu quả gây ra cố tật cho nạn nhân
Hai là, về tình tiết dùng hung khí nguy hiểm.
Tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/04/2003 và Nghị quyết số 01/2006/NQHĐTP ngày 12/5/2006 đã hướng dẫn cách hiểu về công cụ phương tiện nguy hiểm, tuy nhiên, trong lý luận cũng như thực tiễn xét xử vẫn còn cách hiểu khác nhau về tình tiết định khung tăng nặng dùng hung khí nguy hiểm. Theo Nghị quyết, quy định về hung khí nguy hiểm theo cách liệt kê nên không làm sáng tỏ được nội hàm cũng như phạm vi của khái niệm phương tiện nguy hiểm. Do quy định theo phương pháp liệt kê nên chưa thực sự khoa học dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất. Có quan điểm cho rằng, chỉ có thể áp dụng tình tiết dùng hung khí nguy hiểm nếu bản thân phương tiện mà người phạm tội là hung khí nguy hiểm và phải căn cứ vào cách thức sử dụng phương tiện đó của người phạm tội. Cũng có quan điểm khác cho rằng áp dụng tình tiết này nếu người phạm tội sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm trong quá trình gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà không phụ thuộc vào cách thức sử dụng của người phạm tội, chỉ cần xem xét bản thân phương tiện mà người phạm tội sử dụng là hung khí nguy.
Theo chúng tôi, phương tiện nguy hiểm là những vật dụng do con người chế tạo ra hoặc có sẵn trong tự nhiên mà bản thân nó chứa đựng khả năng gây nguy hiểm. Còn tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” được hiểu là người phạm tội có hành vi sử dụng phương tiện phạm tội mà bản thân phương tiện đó mang tính chất nguy hiểm, không phụ thuộc vào cách thức sử dụng gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân. Chỉ áp dụng tình tiết này nếu thỏa mãn hai điều kiện sau:
* Phương tiện mà người phạm tội sử dụng là hung khí nguy hiểm.
* Người phạm tội trực tiếp sử dụng hung khí nguy hiểm đó gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Ba là, phạm tội đối với nhiều người.
Phạm tội đối với nhiều người ở đây được hiểu là tất cả những người bị thương đều phải có tỷ lệ từ 31% trở lên thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 106 BLHS. Nếu có nhiều người bị thương, nhưng chỉ có một người bị thương tật với tỷ lệ từ 31% trở lên thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 106 BLHS. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy có những trường hợp chỉ có một người bị thương có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên và có nhiều người khác bị thương tật dưới 31% nhưng tổng tỷ lệ thương tật của những người này từ 31% trở lên, thậm chí có trường hợp trên 61%. Vậy có truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội theo khoản 2 Điều 106 BLHS hay không?
Theo chúng tôi, để bảo đảm nguyên tắc công bằng, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu hướng dẫn theo hướng: Phạm tội đối với nhiều người, trong đó chỉ có một người bị thương có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên và còn nhiều người khác bị thương tật dưới 31% nhưng tổng tỷ lệ thương tật của những người này từ 31% trở lên thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 106 BLHS.
Bốn là, về hình phạt.
Tại Điều 104 BLHS quy định 4 khung hình phạt khác nhau. Tuy nhiên, cách quy định mức hình phạt của mỗi khung hình phạt tại Điều này chưa thực sự hợp lý. Bởi lẽ, tại khoản 1 quy định mức hình phạt: “phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” mà tại khoản 2 quy định mức hình phạt: “phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Như vậy, chúng ta thấy tuy khoản 2 là khung tăng nặng nhưng mức thấp nhất của khung hình phạt này lại thấp hơn mức cao nhất của khung cơ bản tại khoản 1. Tương tự khi so sánh khoản 2 và khoản 3 thì mức hình phạt thấp nhất của khoản 3 lại thấp hơn mức cao nhất của khoản 2. Theo chúng tôi, việc quy định như trên là chưa thực sự hợp lý, nên sửa đổi quy định về mức hình phạt ở mỗi khung hình phạt theo nguyên tắc kế tiếp.
3.2.2. Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
các ngành Trung ương cần ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời, phù hợp không chồng chéo với Bộ luật hiện hành:
Một là, tại Điều 108 BLHS quy định hậu quả do hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phải có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên thì người phạm tội mới bị truy cứu TNHS, thương tích có thể gây ra cho một người hoặc có thể gây ra cho nhiều người nhưng không có trường hợp dẫn đến chết người, nếu người bị hại bị thương dẫn đến chết người thì người phạm tội bị truy cứu TNHS về tội vô ý làm chết người được quy định tại Điều 98 BLHS. Tuy nhiên, đối với trường hợp do vô ý làm chết một người và bị thương tích một người có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên thì việc truy cứu người phạm tội như thế nào?
Nếu chỉ truy cứu về tội vô ý làm chết người, còn việc gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật là 31% trở lên chỉ là tình tiết khi quyết định hình phạt thì sẽ bỏ lọt một hành vi phạm tội, còn nếu truy cứu người phạm tội về tội vô ý làm chết người và tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì có trái với nguyên tắc một hành vi phạm tội không thể truy cứu TNHS về hai tội danh.
Theo chúng tôi, cơ quan có thẩm quyền cần sớm có hướng dẫn cụ thể trường hợp trên để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình truy tố, xét xử, tránh bỏ lọt tội phạm. Hướng dẫn áp dụng trường hợp này theo hướng: Cần nghiên cứu người phạm tội về hai tội đó là tội vô ý làm chết người và tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà không bị coi là vi phạm nguyên tắc một hành vi phạm tội không thể truy cứu trách nhiệm hình sự hai lần vì trong trường hợp này người phạm tội có hai hành vi phạm tội chứ không phải chỉ có một hành vi phạm tội mặc dù cả hai hành vi này đều được thực hiện cùng một lúc.
Hai là, tiếp tục phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao khẩn trương ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn một số nội dung còn có ý kiến khác nhau về các tội xâm phạm sức khỏe của con người; Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng. Cần xây dựng quy chế phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, định kỳ họp trao đổi, thống nhất những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật, nhằm đảm bảo giải quyết tốt vụ án, tránh tình trạng trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhiều lần giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn tới kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Ba là, ban hành văn bản quy định các chế tài đối với các trường hợp người bị hại từ chối giám định tỷ lệ thương tật, có thể quy định các chế tài như: tiến hành áp giải, xử lý hành chính.
Bốn là, nên bỏ quy định đình chỉ đối với tội phạm cố ý gây thương tích quy định tại Khoản 1 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự khi người đã yêu cầu khởi tố hình sự rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa.
Năm là, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về việc giám định tỷ lệ thương tật, nhất là trường hợp các kết quả giám định tỷ lệ thương tật của các cơ quan giám định về tỷ lệ thương tật có sự khác nhau.
Sáu là, liên ngành Trung ương đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP về quy chế phối hợp công tác giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS. Cần phải hoàn chỉnh quy chế này, quy định đầy đủ và cụ thể hơn quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong từng giai đoạn tố tụng hình sự để các cơ quan này có căn cứ vận dụng, thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất và có hiệu quả trên thực tiễn.
Bảy là, trong các văn bản hướng dẫn, cần chú ý đến sự giải thích các dấu hiệu pháp lý của đặc trưng tội phạm, đặc biệt đối với tội phạm mới, các tình tiết định khung hình phạt, các dấu hiệu hoặc ranh giới để phân biệt giữa tội phạm giết người chưa đạt với tội cố ý gây thương tích, giữa tội giết người với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng….
3.2.3. Chú trọng tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
Trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; ban hành, sửa đổi, bổ sung, giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật kịp thời. Tiếp tục đổi mới hoạt động để nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật tạo ra hệ thống pháp luật đồng bộ, mang tính khả thi cao, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Luôn coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, kiểm tra giải quyết án hình sự của cấp sơ thẩm; phúc thẩm; giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện bị kháng nghị. Để bảo đảm chất lượng của hoạt động này, chủ yếu phải thông qua công tác kiểm tra và giải quyết khiếu nại của các cơ quan tố tụng trung ương.
3.2.4. Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ định tội danh
Thực trạng đội ngũ cán bộ, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ngãi
Về điều tra viên có tổng số: 450 Điều tra viên. Trong đó, có 15 Điều tra cao cấp; 78 Điều tra viên trung cấp và 346 Điều tra viên sơ cấp. Trong đó có 24 thạc sĩ, 259 đại học, 147 cao đẳng và trung cấp.
Về lực lượng Kiểm sát viên có tổng số: 97 Kiểm sát viên. Trong đó có Kiểm sát viên cao cấp: 0; 45 Kiểm sát viên trung cấp; 52 Kiểm sát viên sơ cấp bao gồm: 05thạc sĩ; 92 cử nhân luật.
Về Thẩm phán có tổng số 68 Thẩm phán. Trong đó, có 18 Thẩm phán trung cấp; 50 Thẩm phán sơ cấp. Trong đó có 02 thạc sĩ; 66 cử nhân luật.
Lực lượng này còn thiếu về số lượng so với chỉ tiêu biên chế được giao, còn hạn chế trình độ, năng lực và kinh nghiệm công tác thực tiễn, công tác cán bộ của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình nhiệm vụ hiện nay.
Một lý do nữa cũng tác động rất lớn đến quá trình thực hiện hoạt động định tội là sự tác động của kinh tế thị trường làm nhiều cán bộ tha hóa, biến chất, vì những động cơ khác nhau họ sẵn sàng bẻ cong pháp luật, cố tình đưa ra hướng nhận định không đúng bản chất của vụ án.
Đối với hoạt động điều tra. Để hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sức khỏe của con người có hiệu quả, cơ quan điều tra cần:
– Không ngừng nâng cao và hoàn thiện cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin về tội phạm, tạo mọi điều kiện cho các cá nhân, tổ chức có thể cung cấp thông tin về tội phạm được thuận lợi nhất. Tăng cường và bố trí cán bộ có năng lực, có tinh thần trách nhiệm phụ trách ở những địa bàn trọng điểm, kịp thời nắm bắt thông tin và có phương án xử lý thông tin hiệu quả nhất.
– Công tác điều tra thu thập chứng cứ phải đảm bảo khách quan, toàn diện, đầy đủ và cụ thể, trước khi tiến hành điều tra phải lập kế hoạch, phương án điều tra cụ thể.
– Phải xử lý kiên quyết, kịp thời đối với các hành vi phạm tội, tránh tình trạng lạm dụng việc hòa giải giữa các bên thúc đẩy người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án dẫn đến vụ án bị đình chỉ, người phạm tội không bị xử lý hình sự trong các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.
Đối với hoạt động truy tố. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động truy tố các vụ án xâm phạm sức khỏe của con người, Viện kiểm sát nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cần:
– Tham gia và kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra gắn hoạt động điều tra với công tố, chủ động đề ra yêu cầu điều tra với cơ quan điều tra những vấn đề cần điều tra làm rõ.
– Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho Kiểm sát viên, có khả năng nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các dấu hiệu CTTP, xác định rõ các hành vi lỗi cố ý hay vô ý.
Đối với hoạt động xét xử.
– Tiếp tục kiện toàn về tổ chức, tăng cường hơn nữa công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án trong sạch, vững mạnh; có lộ trình từng bước để bổ sung đội ngũ cán bộ, Thẩm phán đủ về số lượng, nhất là các Tòa án nhân dân cấp huyện và các đơn vị có số lượng lớn các vụ án phải giải quyết.
3.2.5. Các bảo đảm khác
Một là, chú trọng công tác đào tạo, tiếp tục chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, giáo trình, tài liệu để thực hiện tốt công tác đào tạo theo Thông báo kết luận số 116-TB/TW ngày 27/12/2012 của Bộ Chính trị. Kết hợp đào tạo trong nước với đào tạo ở nước ngoài để tăng cường đội ngũ cán bộ phục vụ yêu cầu hội nhập quốc tế. Nghiên cứu triển khai đề án đào tạo nguồn cán bộ Viện kiểm sát, Tòa án là con em dân tộc thiểu số, gia đình chính sách ở các huyện vùng sâu, vùng xa để bổ sung cán bộ cho Tòa án ở các địa phương này.
Hai là, thực hiện tốt việc bố trí , rà soát, đánh giá cán bộ, luân chuyển cán bộ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đảm bảo phát huy tốt sở trường công tác.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong các cơ quan tiến hành tố tụng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Cần phải xử lý nghiêm khắc các trường hợp tiêu cực.
Bốn là, đổi mới chế độ tiền lương, phụ cấp trách nhiệm, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ ngành Kiểm sát, Tòa án, đảm bảo phù hợp với trách nhiệm và hoạt động đặc thù của từng ngành.
Kết luận Chương3
KẾT LUẬN
1. Việc phân tích khái niệm, ý nghĩa đinh tội danh đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người cho phép chúng ta nhận thức rõ ràng, đầy đủ hơn về các đặc điểm và bản chất pháp lý của loại tội này, nhận thức đầy đủ hơn về tính nguy hiểm cao cũng như yêu cầu phải xử lý nghiêm khắc và phòng ngừa đối với các tội phạm này.
2. Trên cơ sở số liệu thống kê hình sự của cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, cũng như số liệu tổng hợp từ việc nghiên cứu 150 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm, ta có thể thấy rõ được “bức tranh toàn cảnh” về các tội xâm phạm sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 5 năm (2010 – 2014). Có thể thấy, nhóm tội xâm phạm sức khỏe của con người chiểm tỷ lệ tương đối cao theo kết quả báo cáo của ngành Kiểm sát số lượng án đã được xét xử chiếm 50,2 % so với tổng số án hình sự đã xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 5 năm (2010 – 2014).
3. Luận văn đã phân tích những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn liên quan đến định tội các tội xâm phạm sức khỏe của con người cho thấy những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng xử lý tội này, thấy rõ yêu cầu cấp bách cần phải hướng dẫn xử lý hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan tới các tội danh này.
4. Tác giả đưa ra nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc, từ đó mạnh dạn đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS liên quan đến các tội xâm phạm sức khỏe của con người cũng như các biện pháp nhằm định tội danh đúng, chính xác và đầy đủ góp phần váo việc phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả loại tội phạm này.
5. Việc nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ lý luận và thực tiễn định tội danh nhằm đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sức khỏe của con người là yêu cầu cấp thiết hiện nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\NGUYEN THANH HA\SAU BAO VE


