Khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được sớm quy định trong các bản Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và kế thừa trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Mặc dù, khiếu nại trong tố tụng hình sự là một chế định hết sức quan trọng, tuy nhiên, vấn đề này hiện nay vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách xác đáng và toàn diện, còn nhiều nội dung chưa thống nhất, rõ ràng, cụ thể trên cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn, kết quả của khiếu nại trong tố tụng hình sự…Đây chính là lý do tôi chọn đề tài “Khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích, nhiệm vụ, nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận của khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự như: khái niệm, đặc điểm, chủ thể, đối tượng, quy trình giải quyết của khiếu nại và thực tiễn áp dụng các quy định của khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam.
Phân định rõ ràng, có hệ thống những nội dung cơ bản khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự, so sánh với các quy định khác có liên quan. Mặt khác, phân tích những tồn tại còn bất cập và đưa ra các giải pháp về mặt lý luận và hoàn thiện các quy định này trong thực tiễn áp dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng cũng như khuyến khích người dân tham gia giám sát phát hiện những hạn chế, thiếu sót trong quá trình tố tụng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Xem xét có hệ thống sự phát triển của các quy định khiếu nại của pháp luật tố tụng hình sự qua các giai đoạn lịch sử, phân tích khái niệm, đưa ra nội hàm và các đặc trưng về bản chất của khiếu nại trong tố tụng hình sự… từ đó làm rõ bản chất của khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá, so sánh kết quả áp dụng thực tiễn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam của khiếu nại trong tố tụng hình sự, đồng thời phân tích những nguyên nhân khách quan, chủ quan đối của những tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tế cũng như hoàn thiện các quy định khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận của khiếu nại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, thực tiễn áp dụng khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành; xác định những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của tồn tại, hạn chế và phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Khiếu nại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: là những nội dung cơ bản của khiếu nại trong tố tụng hình sự hiện hành, bên cạnh đó có so sánh, đối chiếu với Luật Khiếu nại 2011 và các quy định khiếu nại trong lĩnh vực khác nhằm cho việc xác định bản chất và hướng hoàn thiện của các quy định khiếu nại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Phạm vi về thời gian: Các vấn đề lý luận nghiên cứu trong giai đoạn từ 1988 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988) đến nay.
Về thực tiễn: Nghiên cứu khiếu nại và các vấn đề có liên quan trong tố tụng hình sự trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như đảm bảo cơ chế hoạt động đúng, đầy đủ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như đảm bảo về các quyền của công dân được khiếu nại, khi thấy người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có những hành vi, quyết định tố tụng trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản sau để làm rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu:
– Phương pháp so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp so sánh đặc trưng để phân biệt về mặt lý luận cũng như thực tiễn của khiếu nại qua các giai đoạn được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
– Phương pháp phân tích: Phương pháp này thể hiện trong luận văn là những lý giải về cơ chế đặc thù của khiếu nại trong pháp luật tố tụng hình sự, đặc trưng, bản chất và các điều kiện áp dụng, cũng như lý giải về những nguyên nhân và các giải pháp hoàn thiện các quy định về khiếu nại trong pháp luật tố tụng hình sự.
– Phương pháp thống kê xã hội học: được thể hiện là những tài liệu được tổng hợp qua thực tiễn áp dụng như tổng hợp các kết quả giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự, tổng hợp các vụ việc trong đó có khiếu nại để làm cơ sở phân tích về nguyên nhân và giải pháp.
– Ngoài các phương pháp trên, đề tài còn sử dụng các phương pháp tiếp cận khác như: phương pháp lịch sử, tổng hợp… đồng thời đề tài còn sử dụng các nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước, những vụ việc của Toà án, tài liệu của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong quá trình thực hiện các giai đoạn tố tụng có liên quan đến khiếu nại trong tố tụng hình sự.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài có những đóng góp nhất định về mặt lý luận về Khiếu nại trong pháp luật tố tụng hình sự cũng như đưa ra những khái niệm pháp lý và các đặc trưng có liên quan trong tố tụng hình sự.
6.2. Ý n ghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn cũng như làm rõ bản chất của khiếu nại theo pháp luật tố tụng hình sự, phân tích những nguyên nhân của tồn tại và đưa ra những giáp pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện các quy định về khiếu nại trong pháp luật tố tụng hình sự.
Ngoài ra, luận văn còn ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các học sinh, sinh viên và những ai quan tâm đến vấn đề này cũng như nâng cao hiểu biết pháp luật đối với người dân, những người có quyền khiếu nại trong các giai đoạn tố tụng hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHIẾU NẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH KHIẾU NẠI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM.
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHIẾU NẠI
1.1. Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại trong tố tụng hình sự
- 1.1.1. Khái niệm khiếu nại trong tố tụng hình sự
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Khiếu nại là việc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không đồng ý” [34, tr.501].
Quan niệm này đã đúng, khi ghi nhận thái độ “không đồng ý” bằng sự phản ứng của chủ thể có quyền khiếu nại đối với việc làm cơ quan có thẩm quyền, mà cho rằng đó là trái phép hay không hợp lý, nhưng khái niệm này lại chưa chỉ ra mục đích chính của khiếu nại là nhằm khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp mà họ cho rằng bị xâm hại.
Ngoài ra, Từ điển Luật học của Viện khoa học Pháp lý còn xác định: “Khiếu nại hành chính được phân biệt với khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp bởi đối tượng của khiếu nại. Khiếu nại hành chính hướng tới các quyết định hành chính, hành vi hành chính, còn khiếu nại tư pháp hướng tới các quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp”. Quan niệm này đã đúng, khi phân loại khiếu nại thành hai loại là khiếu nại hành chính và khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp, đồng thời, xác định căn cứ phân loại đó dựa vào đối tượng của khiếu nại cũng như xác định đối tượng của khiếu nại tư pháp là quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp. Nhưng chưa đủ, vì Bộ luật TTHS năm 2003 còn quy định thêm hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng là đối tượng của khiếu nại (Điều 48-59).
Tương tự khái niệm khiếu nại trong các lĩnh vực khác, có thể đưa ra khái niệm khiếu nại trong tố tụng hình sự như sau:
Khiếu nại trong tố tụng hình sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, có quyền đề nghị người có thẩm quyền giải quyết, xem xét lại các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ nhất, người có quyền khiếu nại là cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc đại diện hợp pháp của họ bị quyết định tố tụng, hành vi tố tụng xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ mới có quyền khiếu nại.
Thứ hai, khiếu nại trong tố tụng hình sự được giới hạn bởi một phạm vi nhất định, phạm vi này được thể hiện rất rõ và cụ thể.
Thứ ba, đối tượng khiếu nại là những hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng. Các hoạt động tố tụng này thường thể hiện ra bên ngoài thành những dạng cụ thể bằng: quyết định tố tụng, hành vi tố tụng, hành vi này có thể bằng hành động cụ thể hoặc hành vi không hành động khi pháp luật quy định phải hành động.
Thứ tư, người bị khiếu nại chính là chủ thể có quyền tiến hành tố tụng hoặc chủ thể được quyền thực hiện một số hoạt động tố tụng. Đây là những chủ thể đặc biệt, chỉ có những chủ thể này, theo Bộ luật Tố tụng hình sự mới có thẩm quyền thực hiện các hoạt động tố tụng mà thể hiện bằng các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng.
Thứ năm, chủ thể có quyền phải có hành vi đề nghị người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng. Theo khái niệm trên, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là những người do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định có trách nhiệm trả lời những đề nghị (khiếu nại) của người khiếu nại. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là người không ra các quyết định hoặc không thực hành vi tố tụng trực tiếp bị khiếu nại.
Thứ sáu, không có vụ án hành chính trong tố tụng hình sự. Khiếu nại được coi là tiền đề của một vụ án hành chính.
Khiếu nại theo quy định tại Luật khiếu nại năm 2011, có những đặc điểm khác vo với khiếu nại trong tố tụng hình sự sau:
Đối tượng của khiếu nại hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, không phải các hoạt động của cơ quan tư pháp.
Đối tượng của khiếu nại trong tố tụng hình sự là quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Quy trình giải quyết khiếu nại trong Luật Khiếu nại cũng khác biệt với việc giải quyết khiếu nại được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Có thể thấy, do tính chất phức tạp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bao trùm trong nhiều lĩnh vực, nên việc giải quyết khiếu nại theo Luật Khiếu nại cần có thời gian dài hơn.
Ngoài ra, trong mỗi pháp luật chuyên ngành, do tính đặc thù của nó mà pháp luật quy định cụ thể về đối tượng, chủ thể và quy trình giải quyết khiếu nại phù hợp với lĩnh vực đó như khiếu nại trong lĩnh vực báo chí, sở hữu trí tuệ, lao động, tố tụng dân sự…và mỗi lĩnh vực khiếu nại có tính đặc thù riêng.
Việc phân biệt khiếu nại hành vi tố tụng, quyết định tố tụng với khiếu nại bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án được thể hiện ở các đặc điểm sau:
– Về chủ thể: Chủ thể là mọi công dân, cơ quan, tổ chức đều có quyền khiếu nại, không phải chỉ là người bị ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp trực tiếp từ quyết định, bản án trên.
– Không có chủ thể bị khiếu nại. Theo quy định trên, Toà án ra quyết định, bản án nhân danh Nhà nước, nên không phải là quyết định tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
– Đối tượng khiếu nại là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án. Bản án, quyết định này là những quyết định, bản án đặc biệt, được Toà án Nhân danh Nhà nước ban hành sau khi đã thực hiện xong các hoạt động tố tụng.
– Chỉ có một số chủ thể đặc biệt mới có quyền kháng nghị các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trên. Các chủ thể đặc biệt có quyền kháng nghị được quy định cụ thể tại Điều 275, Bộ Luật Tố tụng hình sự.
– Quy trình giải quyết khiếu nại bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án được giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011.
Về bản chất, kháng cáo cũng là một dạng của khiếu nại trong tố tụng hình sự, vì bản án sơ thẩm thực chất cũng là quyết định tố tụng do Hội đồng xét xử ra quyết định; quyết định của Toà sơ thẩm cũng là quyết định tố tụng. Những người có quyền kháng cáo đã làm đơn kháng cáo vì họ cho rằng bản án hoặc quyết định sơ thẩm là không đúng thực tế, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
- 1.2.4. Phân biệt khiếu nại trong tố tụng hình sự với tố cáo trong tố tụng hình sự
Tố cáo trong tố tụng hình sự theo quy định trên có những điểm đặc thù so với khiếu nại trong tố tụng hình sự như sau:
Thứ nhất, phạm vi tố cáo trong tố tụng hình sự chỉ là hành vi của người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng.
Thứ hai, chủ thể có quyền tố cáo là công dân. Pháp luật không quy định tổ chức là chủ thể của tố cáo.
Thứ ba, chủ thể có quyền tố cáo trong tố tụng hình sự cũng tương tự như tố cáo trong các lĩnh vực khác là quyền của mọi công dân có đủ năng lực pháp luật.
Thứ tư, hành vi vi phạm pháp luật này trước khi bị tố cáo chưa bị phát hiện ra. Bất cứ người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng có hành vi vi phạm pháp luật đều có thể bị phát hiện và bị tố cáo.
Thứ năm, hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo trong tố tụng hình sự phải chưa có dấu hiệu của tội phạm.
Việc quy định và thực hiện quyền khiếu nại của luật tố tụng hình sự qua các giai đoạn lịch sử, chúng ta cần phải xem xét, đánh giá quyền này thông qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 và 2013.
Khiếu nại nói chung và khiếu nại trong tố tụng hình sự nói riêng được xuất phát điểm từ tư tưởng “dân chủ, nhân quyền” của chủ tịch Hồ Chí Minh và thể hiện rất đậm nét ngay từ những ngày đầu lập nước.

QUY ĐỊNH KHIẾU NẠI THEO PHÁP LUẬT
Theo nội dung của điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đối tượng của khiếu nại là quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Những quyết định và hành vi trên được biểu hiện ra bên ngoài trong quá trình hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng. Có thể nêu lên các đặc điểm của đối tượng khiếu nại sau:
– Là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động tố tụng.
– Quyết định, hành vi tố tụng trên phải được người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thực hiện.
– Những quyết định, hành vi này có thể không đúng, hoặc không phù hợp với pháp luật, hoặc trái luật, song, đều ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của các nhân, tổ chức dưới các hình thức đe doạ xâm hại hoặc xâm hại.
Trên cơ sở đó, sau khi xem xét các đặc điểm của đối tượng khiếu nại trong tố tụng hình sự, có thể đưa ra khái niệm như sau:
Đối tượng khiếu nại trong tố tụng hình sự là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Những hình thức biểu hiện này gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
GS.TSKH Lê Cảm đưa ra khái niệm về chủ thể có quyền khiếu nại như sau: Người có quyền khiếu nại trong tố tụng hình sự là thể nhân hoặc pháp nhân có liên quan đã thực hiện quyền khiếu nại đối với cơ quan hoặc (và) người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về quyết định, hành vi mà họ có căn cứ cho rằng quyết định và hành vi đó trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của họ [5].
Về cơ bản, khái niệm trên đã giải quyết được phạm vi của các chủ thể có quyền khiếu nại. Tuy nhiên, một trong những đối tượng của khiếu nại theo khái niệm trên, tác giả cho rằng, quyết định của cơ quan là đối tượng của khiếu nại phù hợp với Điều 325, Bộ luật Tố tụng hình sự. Mọi cá nhân đều có quyền khiếu nại trong trường bị đối tượng khiếu nại xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình kể cả cá nhân bị hạn chế về năng lực hành vi (những người này có quyền khiếu nại thông qua người đại diện hợp pháp của mình).
Như vậy, quyết định tố tụng do các chủ thể theo quy định trên ban hành là các quyết định của người tiến hành tố tụng và họ là chủ thể bị khiếu nại nếu quyết định tố tụng đó có căn cứ là trái luật.
Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm về chủ thể có quyền khiếu nại như sau:
Người có quyền khiếu nại là cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự đã khiếu nại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng khi có căn cứ cho rằng, quyết định tố tụng, hành vi tố tụng đó xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, chủ thể có quyền khiếu nại gồm: Người bị tạm giữ; Bị can; Bị cáo; Người bị hại; Nguyên đơn dân sự; Bị đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại; Người làm chứng; Người bào chữa; Người bảo vệ quyền lợi của đương sự; Đại diện của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức tham gia phiên toà.
Về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được quyền khiếu nại:
Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định về người có quyền khiếu nại như sau: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [17].
Như vậy, theo Điều 325, để cụ thể hơn quy định này của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Thông tư liên tịch số 02 đã xác định: Người khiếu nại phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong điểm b, mục 1.1, Thông tư liên tịch số 02 lại quy định: “Trường hợp người khiếu nại mắc bệnh tâm thần hoặc có nhược điểm về thể chất không thể tự khiếu nại thì việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp” [29]. Nếu theo quy định trên thì người đại diện hợp pháp bị giới hạn trong trường hợp người khiếu nại mắc bệnh tâm thần hoặc có nhược điểm về thể chất không thể tự khiếu nại. Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định tư cách người đại diện hợp pháp cho người chưa thành niên, và về mặt nguyên tắc, người chưa thành niên cũng có thể bị các quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật làm phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp đối với người chưa thành niên và họ cũng có quyền được khiếu nại.
Kết quả giải quyết khiếu nại phải chấp hành là kết quả giải quyết cuối cùng. Quy định này nhằm ngăn chặn những trường hợp khiếu nại kéo dài, vượt cấp.
Như vậy, về cơ bản, các quyền và nghĩa vụ này không có gì khác so với quyền, nghĩa vụ của người có quyền khiếu nại trong lĩnh vực hành chính, đó là các quyền tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp khiếu nại, được khiếu nại và rút khiếu nại trong các giai đoạn tố tụng, quyền được nhận văn bản trả lời về việc giải quyết khiếu nại, được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại; có nghĩa vụ trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày, việc cung cấp các thông tin, tài liệu đó và chấp hành kết quả giải quyết khiếu nại.
Chủ thể bị khiếu nại trong tố tụng hình sự là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc một số chủ thể khác có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng. Những chủ thể này trong quá trình thực hiện hoạt động tố tụng có những quyết định tố tụng, hành vi tố tụng bị coi là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích của chủ thể có quyền khiếu nại. Liên quan đến đối tượng khiếu nại trong chủ thể bị khiếu nại, quyết định tố tụng, hành vi tố tụng đều do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện.
Đối với hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cấp Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trở xuống, thẩm quyền giải quyết thuộc Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Luật cũng quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng do Viện kiểm sát phê duyệt. Mặc dù Viện kiểm sát không phải là cơ quan cấp trên trực tiếp của Cơ quan điều tra, song xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, nhiều quyết định tố tụng phải thông qua Viện kiểm sát phê chuẩn mới có giá trị pháp lý.
Viện trưởng Viện kiểm sát là người vừa thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính đối với tất cả các thành viên dưới quyền, đồng thời là người quyết định cao nhất. Do vậy, khi quyết định, hành vi tố tụng của cấp dưới bị khiếu nại thì Viện trưởng có thẩm quyền giải quyết lần đầu. Nếu người khiếu nại không đồng ý với kết quả khiếu nại thì có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong trường hợp khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết cuối cùng, như vậy trong trường hợp này, nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Viện kiểm sát cấp trên trực thì người Khiếu nại cũng không có quyền khiếu nại lên cấp có thẩm quyền cao hơn, theo tác giả, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như vậy là chưa đảm bảo đầy đủ quyền được khiếu nại hai cấp đối với các quyết định, hành vi tố tụng của người có thẩm quyền.
Đối với khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Mặc dù quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại có nét tương đồng với những chủ thể thuộc Viện kiểm sát. Tuy nhiên, trường hợp này lại khác. Thẩm phán toà án cấp trên trực tiếp không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Phó Chánh án Toà án nhân dân cấp dưới. Trường hợp có khiếu nại lần hai đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Phó Chánh án thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại thuộc về Chánh án của Toà án cấp trên trực tiếp.
Những chủ thể khi bị khiếu nại đều do Viện kiểm sát giải quyết. Lý do để trao thẩm quyền giải quyết khiếu nại cho Viện kiểm sát là xuất phát từ những hoạt động chuyên biệt của các chủ thể này. Bên cạnh đó, Viện kiểm sát có quyền truy tố nên Viện kiểm sát có quyền giải quyết khiếu nại.
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là người không thực hiện hành vi tố tụng, ra quyết định tố tụng. Đồng thời, người có thẩm quyền giải quyết phải là cấp trên trực tiếp của người thực hiện hành vi tố tụng, ra quyết định tố tụng.
Bộ luật Tố tụng hình sự xác định giải quyết khiếu nại như một phần trách nhiệm của người đứng đầu các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án. Chủ thể có trách nhiệm giải quyết khiếu nại trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải tiếp nhận, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại và thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại biết và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của mình.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, ngoài hai chủ thể là người bị khiếu nại, người có quyền khiếu nại còn một chủ thể khác đó là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Có thể coi đây là chủ thể đặc biệt của khiếu nại trong tố tụng hình sự.
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là người theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại của người có quyền khiếu nại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng. Theo quy định của Luật khiếu nại năm 2011, thẩm quyền giải quyết khiếu lần đầu thuộc về chính cá nhân, cơ quan ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính nhưng trong khiếu nại trong tố tụng hình sự thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là người không trực tiếp ra các quyết định tố tụng, không thực hiện trực tiếp các hành vi tố tụng bị coi là trái pháp luật.
Xuất phát từ tính đặc thù của khiếu nại trong tố tụng hình sự, các chủ thể trong khiếu nại có quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau. Trên cơ sở phạm vi được quyền khiếu nại là các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Những chủ thể này gắn bó, ràng buộc với nhau, hỗ trợ cho nhau để nhằm:
– Có cơ chế ràng buộc trách nhiệm theo quy định của pháp luật, đảm bảo việc giám sát các hoạt động tố tụng diễn ra một cách bình thường, đúng pháp luật.
– Hạn chế tới mức tối đa những quan hệ xã hội được pháp luật bảo hộ không bị xâm phạm bởi những quyết định tố tụng, hành vi tố tụng và những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng.
– Tránh hoặc khôi phục những hậu quả do quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong hoạt động tố tụng.
– Thúc đẩy và phát triển những hoạt động tố tụng đúng pháp luật, kiềm chế và loại bỏ những vi phạm do các hoạt động tố trái pháp luật gây ra.
Cũng theo quy định tại các Điều từ 329 đến Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự, có thể chia thành hai loại mô hình giải quyết khiếu nại đó là: thứ nhất, mô hình chỉ có sự tham gia của một loại cơ quan tiến hành tố tụng; thứ hai, mô hình có sự tham gia của hai loại cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, ở mô hình nào thì về mặt thủ tục cũng chia làm hai trình tự:
Khiếu nại cấp I: Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại ở cấp I có thể khiếu nại tới cấp II. Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt, quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng mà người khiếu nại không thể khiếu nại lên cấp cao hơn.
Khiếu nại cấp II: Quyết định giải quyết khiếu nại ở cấp II là quyết định giải quyết cuối cùng.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 cũng đã quy định nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo của công dân đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và một số điều luật quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, quy định về khiếu nại và quy trình giải quyết khiếu nại còn hạn chế. Có thể nói quy định về giải quyết khiếu nại trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 còn nhiều bất cập, không cụ thể và không rõ ràng, không chặt chẽ và còn tản mạn.
- 2.3.2.2. So sánh thủ tục giải quyết khiếu nại theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 dành toàn bộ Chương XXXIII để quy định về Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, trong đó có 09 điều luật quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự. Các quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chủ yếu mang tính kế thừa và cụ thể hóa các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên, so với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng có một số điểm mới.

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung. Với đặc thù là địa phương có địa bàn rộng, cơ cấu dân cư phức tạp, trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức pháp luật của người dân ở nhiều nơi còn nhiều hạn chế. Đây là những nguyên nhân chính dẫn đến việc tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật vẫn còn phổ biến, tình hình khiếu nại trong giai đoạn 2010 – 2015 không giảm so với những năm trước mà có chiều hướng gia tăng; đặc biệt là đơn khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp còn nhiều diễn biến phức tạp.
Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015, mặc dù được Đảng và Nhà nước luôn quan tâm chỉ đạo, ra nhiều văn bản hướng dẫn chế độ chính sách, chấn chỉnh các mặt công tác để nâng cao chất lượng tiến hành tố tụng hình sự, nhưng tình hình khiếu nại dân trong hoạt động tố tụng hình sự vẫn diễn ra phức tạp.
Qua khảo sát thực tế về giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự trong giai đoạn 2010 – 2015 [3], [4] cho thấy:
– Về hình thức khiếu nại: Công dân thường khiếu nại trước cơ quan, người có thẩm quyền dưới hai hình thức: khiếu nại trực tiếp và khiếu nại gián tiếp.
– Về những nội dung, vấn đề thường bị khiếu nại: có thể phân ra thành hai nhóm, đó là các quyết định tố tụng trái pháp luật và các hành vi tố tụng trái pháp luật. Trên thực tế địa bàn tỉnh Quảng Nam, những quyết định tố tụng thường bị khiếu nại là:
+ Các quyết định tố tụng thường bị khiếu nại tại cơ quan công an trên địa bàn tỉnh: quyết định tạm giữ, lệnh bắt khẩn cấp, quyết định khởi tố bị can, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, …
+ Các quyết định tố tụng thường bị khiếu nại tại các Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh: Khiếu nại kết luận của cơ quan điều tra; Quyết định phê chuẩn lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu giám định lại;…
+ Các hành vi tố tụng trái pháp luật thường bị khiếu nại tại Công an tỉnh gồm: bắt người biến tướng, bắt người khi chưa có lệnh; sử dụng công cụ hỗ trợ như khoá cùm không đúng đối tượng, không theo quy định của pháp luật; …
+ Các hành vi tố tụng trái pháp luật thường bị khiếu nại đến các Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh: khiếu nại hành vị không thông báo về việc bắt người; không thực hiện đúng chế độ lao động, nghỉ ngơi của phạm nhân; …
+ Các quyết định, hành vi tố tụng thường bị khiếu nại tại các Toà án nhân dân trên địa bàn tỉnh: Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam; thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; …
– Về hình thức văn bản khiếu nại: Một đặc điểm trong hình thức đơn khiếu nại, văn bản gửi đến các cơ quan tư pháp là người gửi đơn không phân biệt rõ là đơn khiếu nại hay tố cáo, thậm chí nhầm lẫn giữa khiếu nại và tố cáo. Đây cũng là một trong những khó khăn trong việc phân loại, xử lý đơn khiếu nại.
– Về đối tượng thường bị khiếu nại:
Đối với các quyết định tố tụng: Không chỉ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Thi hành án hình sự Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định tố tụng mà cả Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký, Thẩm phán cũng có một số quyền nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền tố tụng lại tập trung vào Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng, Viện trưởng và Phó Viện trưởng, Chánh án và Phó Chánh án, do đó các quyết định tố tụng bị khiếu nại thường là các quyết định của Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án, Viện kiểm sát, Toà án do lãnh đạo các cơ quan này ký. Đối với các hành vi tố tụng thì ngược lại. Mặc dù, cả Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án hình sự, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án đều có những hành vi tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhưng trên thực tế thường là những hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ thi hành án, Kiểm sát viên, Thư ký, Thẩm phán bị khiếu nại.
Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ngành tư pháp đã tiếp hàng chục ngàn lượt công dân, nhận hàng nghìn đơn khiếu nại, như:
– Công an tỉnh tiếp 8493 lượt công dân đến khiếu nại, tiếp nhận 3908 đơn khiếu nại; trong đó có 2902 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra, 1006 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án hình sự.
– Toàn ngành kiểm sát tỉnh tiếp nhận 5507 lượt công dân đến khiếu nại, tiếp nhận 2641 đơn khiếu nại; trong đó có 1029 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát tỉnh, 1612 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát cấp huyện.
– Toàn ngành Toà án tỉnh tiếp 3429 lượt công dân đến khiếu nại, tiếp nhận 1817 đơn khiếu nại; trong đó có 844 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án tỉnh, 973 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện.
– Các cơ quan tư pháp quân đội tiếp 417 lượt người, nhận được 119 đơn khiếu nại; trong đó có 51 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các Cơ quan điều tra hình sự quân đội, 23 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các Viện kiểm sát quân sự, 15 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các Toà án quân sự, 30 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các Cơ quan thi hành án hình sự quân đội.
Mặc dù, còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, con người nhưng kết quả giải việc giải quyết các đơn thư khiếu nại của công dân trong lĩnh vực tư pháp đạt kết quả khả quan và tỉ lệ giải quyết khiếu nại trên tổng số vụ việc khiếu nại chiếm tỷ lệ rất cao, cụ thể:
– Ngành Công an tỉnh đã giải quyết được 3820/3908 đơn khiếu nại, đạt tỷ lệ 97,74%.
– Các Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh đã giải quyết 2511/2641 đơn khiếu nại, đạt tỷ lệ 95,07 %.
– Các Toà án trên địa bàn tỉnh đã giải quyết được 1812/1817 đơn, đạt tỷ lệ 99,72%.
– Các cơ quan tư pháp trong quân đội đã giải quyết được 119/119 đơn, đạt tỷ lệ 100%.
Thứ nhất, BLTTHS quy định thời hiệu khiếu nại là 15 ngày, thời hạn giải quyết khiếu nại là 07 ngày, nhưng thực tiễn giải quyết nhiều trường hợp đã không đáp ứng được thời hạn này, đặc biệt là đối với những trường hợp giải quyết khiếu nại về oan có thể kéo dài đến hàng năm.
Thứ hai, nhiều bị can, bị cáo, người có quyền khiếu nại trong quá trình tố tụng hình sự không biết được mình có quyền khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tư pháp.
Thứ ba, giải quyết khiếu nại không khách quan, hiện nay vẫn chưa có quy định về chế tài để xử lý trong các trường hợp này nên đã tạo kẽ hở cho những kẻ cơ hội lợi dụng.
Thứ tư, còn có cán bộ trong các cơ quan tư pháp chưa đảm bảo trình độ, năng lực, chuyên môn do đó dẫn đến những thiếu sót nhất định trong công tác giải quyết khiếu nại tố tụng hình sự.
Thứ năm, việc phân loại, thụ lý đơn chưa chính xác, người giải quyết đơn khiếu nại không đúng thẩm quyền.
Thứ sáu, Công tác giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự chủ yếu do chính những cán bộ của các cơ quan tư pháp kiêm nhiệm.Công tác theo dõi, sơ kết, tổng kết tình hình khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự chưa được quan tâm đúng mức.
Thứ nhất, pháp luật quy định về khiếu nại trong tố tụng hình sự còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tế, chưa đầy đủ, chưa thống nhất và nhất quán giữa Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ hai, nhiều cá nhân, tổ chức lợi dụng quyền khiếu nại để khiếu nại không có cơ sở, không đúng để gây khó khăn cho người tiến hành tố tụng. Không tin tưởng người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nên khiếu nại không đúng thẩm quyền, vượt cấp. Ý thức pháp luật chưa cao của người dân, trình độ còn hạn chế.
Thứ ba, Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự chưa được quan tâm đúng mức. .
Thứ tư, công tác phân loại, thụ lý, xử lý đơn khiếu nại còn nhiều thiếu sót, hạn chế.
Thứ năm, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết khiếu nại còn thiếu có trách nhiệm trong công tác.
Thứ sáu, các cán bộ tham mưu giải quyết khiếu nại chủ yếu là các cán bộ kiêm nhiệm nên hiệu quả giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự còn nhiều hạn chế.
Thứ nhất, trong một vài năm tới, tình hình khiếu nại vẫn chưa giảm, thậm chí có thể còn tăng lên, do quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 có nhiều quy định tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng mà họ cho là vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ hai, tính dân chủ trong xã hội và vai trò làm chủ của người dân ngày càng được phát huy cho nên sẽ có tác động tích cực đến việc phát hiện những hành vi sai phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp.
Thứ ba, trình độ nhận thức về pháp luật của người dân ngày càng được nâng cao sẽ tạo điều kiện cho công dân dễ nhận thức được tính đúng đắn hoặc sai phạm của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng.
Thứ tư, sự hoàn thiện của hệ thống các văn bản pháp luật sẽ hạn chế được các kẽ hở mà những người có tư tưởng tiêu cực thường nhằm vào để lợi dụng, làm ảnh hưởng tới hiệu quả, tính công minh khách quan của việc giải quyết khiếu nại.
Thứ năm, đội ngũ luật sư ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng cùng với sự mở rộng dân chủ trong xã hội sẽ được pháp luật quy định tham gia vào quá trình tố tụng hình sự thuận lợi hơn.
Thứ sáu, mô hình tổ chức của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Cơ quan thi hành án hình sự sẽ được cải tổ lại cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời đại.
Thứ bảy, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp hiện nay có chiều hướng gia tăng về số vụ lẫn mức độ nghiêm trọng. Do đó, số lượng khiếu nại trong tố tụng hình sự trong những năm tới có xu hướng tăng lên.
3.3.2.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự
3.3.2.2. Nâng cao trình độ, năng lực và tăng cường trách nhiệm đối với người giải quyết khiếu nại
3.3.2.3. Xây dựng quy trình công tác, quy chế tiếp nhận giải quyết đơn thư khiếu nại về tố tụng hình sự thống nhất trong các cơ quan tư pháp và hệ thống sổ sách, biểu mẫu cần thiết
KẾT LUẬN
1. Có thể nói quyền khiếu nại là một trong những quyền hết sức quan trọng của công dân, hoạt động khiếu nại là một phương thức để người khiếu nại tự bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân mình và của người khác.
2. Việc phát hiện và loại trừ những hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm minh bạch hóa, dân chủ hóa hoạt động tố tụng hình sự..
3. Như trong luận văn đã đề cập, những mặt trái, những bất cập của tố tụng hình sự là những tiêu cực của xã hội, đó là sự mất lòng tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp và bộ máy nhà nước, và như vậy, hậu quả tiêu cực không chỉ đối với công dân mà còn đối với cả bộ máy nhà nước. Do vậy, việc bảo đảm quyền khiếu nại của công dân không những thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với công dân, thể hiện bộ mặt dân chủ và thân dân của nhà nước, mà còn góp phần vào sự ổn định của đời sống xã hội.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\NGUYEN DUY HIEU\SAU BAO VE


