Quản lý nhà nước về văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ

Quản lý nhà nước về văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng

Quản lý nhà nước về  văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát triển ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.

Là một bộ phận hữu cơ trong toàn bộ hoạt động của một chế độ xã hội mà nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước việc quản lý nhà nước về văn hóa là một trong những lĩnh vực vô cùng quan trọng. Với các đặc trưng từ yếu tố văn hóa nên hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa có phạm vi, phương thức khác hẳn so với việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác. Sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay lại đòi hỏi đưa văn hóa vào mọi lĩnh vực từ chính trị đến kinh doanh. Do vậy việc xây dựng hệ thống phương thức quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm từ thể chế đến tổ chức bộ máy đến các chính sách các văn bản pháp luật phải đáp ứng được nhu cầu đặt ra của xã hội.

Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Vǎn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được thành tựu to lớn và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Góp phần vào những thành tựu to lớn ấy có đóng góp không nhỏ của lĩnh vực văn hoá. Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, Nhà nước ta luôn coi trọng các chính sách đầu tư cho văn hoá, đầu tư nhân tố con người, khuyến khích và tạo điều kiện để nhân dân tham gia sáng tạo văn hóa và hưởng thụ văn hóa ngày càng nhiều hơn, các dịch vụ văn hóa được khuyến khích đầu tư phát triển, chủ trương xã hội hoá trên lĩnh vực văn hoá được triển khai rộng rãi. Khẳng định chính sách của Nhà nước ta đã ban hành là phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội và khẳng định nền tảng tinh thần được quan tâm nhiều hơn.

Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập sự tiếp cận văn hoá đã nảy sinh không ít các biểu hiện tiêu cực tác động xấu đến tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là đối tượng thanh thiếu niên. Dư luận xã hội và các phương tiện truyền thông đại chúng đã phản ánh với nhiều mức độ khác nhau. Cơ quan chức năng cũng rất khó khăn, lúng túng và bị động trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa nhất là đối với một số loại hình dịch vụ văn hóa…

Cấp hành chính địa phương là cấp thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước trung ương là nơi mà các quy định pháp luật được áp dụng thực tế , là nơi mà các hoạt động xã hội trên mọi lĩnh vực diễn ra nên cũng là nơi để căn cứ là thực tiễn để xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh xã hội.

Ủy ban nhân dân quận Cẩm Lệ là cấp quản lý hành chính nhà nước ở địa phương có chức năng quản lý nhà nước trên tất cả lĩnh vực trong đó có lĩnh vực văn hóa. Với đặc thù của một đơn vị mới thành lập trực thuộc TP. Đà Nẵng với những nét đặt thù về tổ chức bộ máy hành chính lẫn đặc trưng văn hóa công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa tại quận Cẩm Lệ vừa mang những đặc điểm chung theo quy định pháp luật lại vừa phản ánh đặc điểm riêng gắn với thực tiễn địa phương.

Với những lý do trên tác giả lựa chon đề tài “Quản lý nhà nước về văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp cao học Luật hành chính. Qua luận văn này tác giả móng muốn sẽ hệ thống được cơ sở lý luận lĩnh vực quản lý nhà nước về văn hóa; thông qua việc phân tích thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại địa bàn quận Cẩm Lệ sẽ đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực này.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1. Mục đích của đề tài

Mục đích của luận văn là khảo sát, nghiên cứu, làm rõ vai trò, chức năng, thẩm quyền của cấp quản lý hành chính nhà nước tại địa phương mà cụ thể là công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Thông quan đó phát hiện nhu cầu của thực tiễn và xây dựng luận cứ khoa học tiếp tục nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa tại địa phương đặc biệt là trong tình hình tổ chức thực hiện Luật Tổ chức chính quyền 2016 gắn với thực hiện định hướng phát triển địa phương đến 2020 tầm nhìn 2030.

3.2. Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt mục đích trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau:

– Nêu và phân tích vị trí, vai trò, chức năng tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa tại địa phương.

– Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND quận Cẩm Lệ trong quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa.

– Đề xuất một số giải pháp về đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của UBND cấp phường trong điều kiện Luật tổ chức chính quyền 2016 có hiệu lực phù hợp với định hướng phát triển của địa phương.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu liên quan đến tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước của UBND quậnquaanjthuwcj tiễn hoạt động này tại UBND quận Cẩm Lệ.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi thời gian: Để có cơ sở đánh giá chính xác thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND phường trong điều kiện không tổ chức HĐND quận, huyện, phường, luận văn xác định phạm vi thời gian nghiên cứu từ thời điểm 2010 đến 2015. Đây là nhiệm kỳ khá đặc thù với việc UBND quận Cẩm Lệ thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận huyện xã phường và đánh dấu giai đoạn chuẩn bị chuyển tiếp sang tổ chức lại HĐND cấp huyện theo luật tổ chức chính quyền địa phương.

– Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu tổ chức và hoạt động của UBND quận Cẩm Lệ, các phòng ban chuyên môn, UBND các phường trực thuộc trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có mở rộng phạm vi không gian trong một số nội dung nghiên cứu nhằm tạo ra một góc nhìn so sánh để kiểm chứng các kết quả nghiên cứu của luận văn.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, chính quyền địa phương nói riêng.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng chủ yếu trong luận văn là các phương pháp: phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, tổng kết thực tiễn.

6. Điểm mới khoa học của luận văn

Luận văn có một số điểm mới sau đây:

Một là, luận văn làm sâu sắc thêm khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, đồng thời làm sáng tỏ nhận thức lý luận về vị trí, vai trò của UBND cấp quận huyện trong thực hiện công tác trên.

Hai là, luận văn đánh giá thực tiễn điều chỉnh về mặt tổ chức và hoạt động của Phòng văn hóa xã hội, trung tâm văn hóa thông tin, UBND các phường tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong điều kiện hiện nay.

Ba là, luận văn nêu ra và lập luận cho một số giải pháp xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện chuyển đổi từ thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường sang thực hiện luật Tổ chức chính quyền 2016 phù hợp với định hướng phát triển mới của địa phương.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 chương,.

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA

1.1. Khái quát về văn hóa và quản lý nhà nước về văn hóa

1.1.1. Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một quá trình hoạt động của con người tự do, biến đổi thế giới tự nhiên thành thế giới tự nhiên thứ hai có cấu trúc cao hơn, có tính người, trong quá trình đó con người hình thành thiên nhiên bên trong, đồng thời thể hiện thái độ ứng xử đối với chính mình.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,…và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều. Một trong những cách đó phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây:

Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh “Cultus” mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là “gieo trồng ruộng đất” và Cultus Animi là “gieo trồng tinh thần” tức là “sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người“.

Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 – 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội.

Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa. Một trong những định nghĩa đó là của Edward Sapir (1884 – 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.

Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó, ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 – 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau.

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.

Trong tiếng việt,văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức,lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng,thì văn hóa bao gồm tất cả,từ những sản phẩm tinh vi,hiện đại,cho đến tín ngưỡng,phong tục,lối sống.

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam – Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”.

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa:

Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. -văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sng1 tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội.

Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát);

Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);

Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh;

-Văn hóa còn là cum từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau…

Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa

Trước hết chúng ta làm rõ về khái niệm quản lý như sau ;

Quan niệm trước đây cho rằng: Quản lý chủ yếu là giữ cho đối tượng nguyên vẹn, không xoay chuyển, bắt nó vận động theo ý muốn chủ quan của chủ thể quản lý. Quan niệm hiện nay cho rằng: “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [1, tr.11].   

Như chúng ta đã biết, QL là một chức năng xã hội đặc biệt, xuất hiện từ khi lao động con người được xã hội hóa. C.Mác đã viết: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh trước hết từ bản chất của quá trình lao động xã hội” [12, tr.29].

Quản lý đó là khả năng mà xã hội có thể sử dụng để tổ chức và điều chỉnh cuộc sống của mình. Người ta có thể nói rằng: lao động, trí thức, quản lý là ba nhân tố tạo nên sự phát triển của xã hội, trong đó có vai trò kết hợp trí thức với lao động. Tuy nhiên, trong thực tế ba nhân tố đó liên kết rất chặt chẽ với nhau. Quản lý nói cụ thể hơn là phương tiện tổ chức cuộc sống xã hội, nhằm hướng nó phát triển theo mục đích đã định trước một cách có trật tự, kỷ luật.

Như vậy, Quản lý là: “Tiến trình, hoạt động hoặc giám sát việc thực thi nhiệm vụ để đảm bảo rằng các hoạt động trong tổ chức được thực hiện theo hướng đạt được các mục tiêu đã đề ra của tổ chức – đặc biệt là nhiệm vụ tạo ra và duy trì các điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu thông qua việc kết hợp những nỗ lực của các nhóm khác nhau trong tổ chức, cũng là một nhóm người trong tổ chức liên quan đến việc quản lý tổ chức đó“.

Quản lý Nhà nước có thể được định nghĩa như sau: QLNN là sự tác động mang tính tổ chức, điều chỉnh trên cơ sở khoa học và kế hoạch của các chủ thể QLNN đối với quá trình phát triển xã hội, được tiến hành một cách thường xuyên liên tục nhằm hướng xã hội theo mục tiêu định trước. Theo quan niệm này thì QLNN là hoạt động của tất cả các cơ quan NN từ Quốc hội, Chính phủ đến các cơ quan NN khác thông qua pháp luật. Nhà nước có thể trao quyền của mình cho các cá nhân hay các tổ chức xã hội, để các chủ thể đó thay mặt NN tiến hành hoạt động QLNN .

Quản lý nhà nước về  văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng

Ở nước ta hoạt động QLNN có mục đích là tổ chức và chỉ đạo thực hiện trong thực tế các đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Mặt khác QLNN còn được hiểu theo nghĩa hẹp đó là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp gọi là quản lý hành chính NN.

Quản lý hành chính Nhà nước là một hình thức hoạt động của NN được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính NN, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành Luật, pháp lệnh và các Nghị quyết của cơ quan quyền lực NN, nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên đối với công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội, hành chính – chính trị của nước ta.

Nói ngắn gọn, quản lý hành chính NN là hoạt động chấp hành – điều hành của các cơ quan hành chính NN hoặc các tổ chức được NN trao quyền và được điều chỉnh bằng ngành Luật Hành chính.

Như vậy quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về văn hoá là quản lý các hoạt động văn hoá bằng chính sách và pháp luật.

Với đặc thù và mục tiêu của nền nền pháp luật nước ta thì quản lý Nhà nước về văn hóa là sự tác động của nhà nước đối với văn hóa thông qua việc tổ chức điều khiển mọi hoạt động của văn hóa nhằm điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển nó trong quá trình quản lý phát triển kinh tế xã hội theo mục tiêu định hướng nhất định của mỗi quốc gia mà đối với Việt Nam thì định hướng này là đi lên xây dựng CNXH. (Đổi mới quản lý nhà nước về văn hoá trong điều kiện hiện nay, ThS. Phùng Quang Luyến, 2004)

1.1.3. Vai trò của công tác quản lý nhà nước về văn hóa

Quản lý văn hóa là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước. Theo đó, nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể có để quản lý văn hóa nhằm gìn giữ một nền văn hóa lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc,nhằm tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hòa, phù hợp với giá trị truyền thống và văn hóa của đất nước, trong đó pháp luật nổi lên với tư cách là công cụ có uy lực nhất để đảm bảo vai trò QL của NN.

Vai trò quản lý Nhà nước về văn hoá được thực hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, nếu không có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật thì hoạt động văn hoá sẽ vận động theo hai hướng vừa tích cực, vừa tiêu cực. Nền văn hóa nước ta là một nền văn hóa phong phú, đa dạng với nhiều dân tộc, tôn giáo, vùng miền. Vai trò QLNN thể hiện ở chỗ, Nhà nước trên cơ sở nắm bắt những đặc trưng riêng, định hướng cho hoạt động văn hoá phát triển theo hướng tích cực, lành mạnh, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hạn chế và loại bỏ các hủ tục để nhanh chóng đạt được các mục tiêu đã đề ra. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, Nhà nước tạo cơ sở pháp lý, có chính sách khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia xây dựng và phát triển văn hóa.

Thứ hai, trong quá trình tham gia hoạt động văn hoá, các tổ chức và cá nhân không thể tự giải quyết những vấn đề vượt quá khả năng của mình trong quá trình hoạt động cũng như vấn đề thủ tục hành chính trong hoạt động văn hoá. Do đó, cần phải có sự quản lý của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho hoạt động văn hoá phát triển phù hợp với định hướng của Nhà nước.

Thứ ba, trong quá trình tham gia lĩnh vực VH, tổ chức và cá nhân thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận riêng của mình mà không quan tâm đến việc gìn giữ, bảo vệ, bảo tồn tài nguyên văn hóa. Do vậy Nhà nước sẽ phải tham gia vào việc phân phối và sử dụng tài nguyên bằng việc ban hành các qui định về việc gìn giữ,bảo vệ và bảo tồn tài nguyên văn hóa.

Thứ tư, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, do đó VH là một ngành KT-XH liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, hiệu quả QLNN về văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực liên quan phát triển.

Tóm lại, vai trò QLNN đối với văn hóa là tất yếu và vô cùng quan trọng. Nhờ có pháp luật và bằng pháp luật mà hoạt động của các cơ quan NN, các tổ chức và mọi công dân tham gia xây dựng và phát triển VH được vận hành theo đúng định hướng xây dựng là nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đảm bảo được kỷ cương trong lĩnh vực VH nói riêng và đảm bảo trật tự xã hội nói chung.  

1.2. Chủ thể của quản lý nhà nước về văn hóa

Cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về văn hoá là Chính phủ; Bộ văn hoá, thể thao và du lịch (cấp trung ương); UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá trong địa phương mình theo quy định của pháp luật. Hoạt động này bao gồm các công việc như:

– Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;

– Xây dựng và chỉ đạo quy hoạch, kế hoạch;

– Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy;

– Hướng dẫn, tuyên truyền; thẩm định;

– Cấp giấy phép, giấy chứng nhận…

Đây là những hoạt động trên thực tế để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về văn hoá theo mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra.

Quản lý nhà nước đối với văn hóa trong mỗi giai đoạn phát triển của nền KT-XH ở nước ta được xác định cụ thể, phản ánh những nhu cầu khách quan của từng giai đoạn đó. Bước vào thời kỳ đổi mới, để đảm bảo xây dựng nền văn hóa nước ta là nền vǎn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, đòi hỏi phải có một tổ chức bộ máy QLNN về VH ổn định với những chức năng QLNN về VH được xác định rõ.

Năm 2007, Chính phủ đã tổ chức lại hệ thống QL nhà nước về VH và mới đây nhất là tháng 07/2013, theo đó: “Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN về văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật” [11, Điều 1]. Theo đó ở các cấp chính quyền địa phương sẽ là các Sở văn hóa thể thục thể thao và du lịch ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng văn hóa thông tin ở các cấp quận huyện, công chức văn hóa xã hội ở cấp xã.

Mục đích QLNN về văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý Nhà nước về văn hóa ở từng cấp, từng địa phương, từng hoạt động cụ thể thì mục đích QLNN về văn hóa phải được xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh cụ thể từ đó có những phương pháp quản lý phù hợp để đạt được mục tiêu đề ra.

Cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước về văn hóa là hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Như vậy quản lý Nhà nước nói chung và QLNN về văn hóa nói riêng có công cụ là hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy. Quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng ý chí của nhà quản lý.

Nhà nước quản lý hoạt động văn hóa bằng pháp qui, bằng Luật pháp nhằm giám sát, quản lý về lĩnh vực văn hóa văn nghệ, đó là: xây dựng các luật, pháp lệnh, và hoàn chỉnh các văn bản luật pháp về hoạt động văn hóa nghệ thuật, thông tin trong điều kiện nền KT theo cơ chế thị trường. Ban hành các chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Đồng thời, hoàn thành hệ thống thanh tra chuyên ngành, thanh tra nhân dân, thanh tra văn hóa và kiên quyết chống tình trạng lợi dụng văn hóa làm xói mòn nền văn hóa dân tộc.

Thông qua các văn bản QPPL và văn bản áp dụng pháp luật để quản lý Nhà nước về văn hóa nhằm đảm bảo hành vi xử sự cần thiết của đối tượng QL nhằm duy trì quản lý theo đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Hoạt động xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp luật về văn hoá, Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hoá. Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự nghiệp phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển văn hoá chung của đất nước. Các chính sách về quản lý và phát triển văn hoá hiện nay có thể kể đến: sáng tạo các giá trị văn hoá; bảo tồn, phát huy tài sản văn hoá; phát triển văn hoá cơ sở; giao lưu văn hoá quốc tế; hiện đại hoá kỹ thuật và phương thức sản xuất, phân phối sản phẩm văn hoá; đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ; đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hoá; nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hoá. Chính sách văn hoá có ý nghĩa quan trọng trong công tác QLNN về văn hoá song chính sách văn hoá không thể thay thế pháp luật. Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về văn hoá nhằm phát huy tác dụng của văn hoá tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất hượng cuộc sống tinh thần của con người.

Bộ Văn hoá – Thể thao và du lịch là cơ quan của Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn QLNN về văn hóa trên phạm vi cả nước. Bộ Văn hoá – Thể thao và du lịch chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo văn bản QPPL về văn hóa và các văn bản QPPL khác liên quan đến văn hóa theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, các chương trình, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm cho việc xây dựng và phát triển văn hóa, bao gồm các công việc như đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; xây dựng và chỉ đạo quy hoạch, kế hoạch; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy; hướng dẫn, tuyên truyền; thẩm định; cấp giấy phép, giấy chứng nhận… Đây là những hoạt động trên thực tế để thực hiện các chức năng QLNN về văn hoá theo mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra.

Ngoài ra, hoạt động đầu tư tài chính cho văn hoá cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Từ 1998 đến nay, việc xây dựng chính sách đầu tư văn hoá ở Việt Nam được triển khai theo quan điểm “Tăng mức đầu tư cho văn hoá từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách Nhà nước. Tỷ trọng chi ngân sách cho văn hoá phải tăng tương ứng nhịp độ tăng trưởng kinh tế”. Nguồn ngân sách chi cho văn hoá đã tăng đáng kể theo đà tăng trưởng kinh tế, kinh phí cho sự nghiệp văn hoá đạt ít nhất 1,8% tổng chi ngân sách Nhà nước hàng năm. Điều 50, Hiến Pháp năm 2013 nêu rõ “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Trong đầu tư tài chính cho văn hoá, xuất phát từ vấn đề quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực nên nhà nước chú trọng đầu tư ngân sách cho giáo dục. Đầu tư cho hoạt động văn hoá với tư cách là đầu tư cho hoạt động sản xuất cần được tính toán đến hiệu quả, cần xem văn hoá cũng làm ra lợi nhuận cho nhà nước, cho nhân dân, đồng thời cũng cần tận dụng cơ chế thị trường cho sự phát triển văn hoá đúng hướng. Điều 61 Hiến pháp 2013 nêu “ Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục…”

1.3. Các hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa

Xây dựng đời sống văn hóa

Nhiệm vụ chủ yếu của công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động là phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, động viên nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương, nêu gương người tốt, việc tốt, phê phán thói hư, tật xấu góp phần tạo dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở cơ sở.

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản văn hóa

Di sản văn hóa là tài sản vô cùng quý giá, gắn kết cộng đồng dân tộc là cốt lõi của bản sắc dân tộc. yêu cầu quản lý văn hóa đặt ra là phải kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát huy di sản với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch; chú trọng việc giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng cho các thế hệ công dân.

Bên cạnh công tác bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hoá vật thể, các di sản văn hoá phi vật thể, cũng từng bước được quan tâm đầu tư nghiên cứu, bảo tồn ví dụ: văn hóa cồng chiêng…

Tổ chức thực hiện và quản lí các hoạt động nghệ thuật văn nghệ quần chúng

Các hoạt động nghệ thuật, văn nghệ quần chúng là dạng hoạt động rất hấp dẫn, phong phú, đa dạng, không thể thiếu ở cơ sở, thu hút đông đảo quần chúng ở mọi lứa tuổi tham gia là nhân tố quan trọng làm nên sức sống của một đơn vị văn hóa ở cơ sở.

Tổ chức và quản lí hoạt động của các câu lạc bộ, nhóm nghệ thuật

Câu lạc bộ là một tổ chức xã hội tập hợp theo nguyên tắc tự nguyện của những người cùng sở thích hoặc cùng giới thuộc các lĩnh vực chính trị-xã hội-kinh tế, khoa học-kỹ thuật, văn học-nghệ thuật và các hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi, thể dục thể thao khác. Tổ chức Câu lạc bộ để thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào hoạt động văn hóa tại các cơ sở văn hóa một cách tích cực theo nguyên lý học mà chơi, chơi mà học, góp phần tự hoàn thiện mình. Nó còn hướng dẫn để công chúng tự đáp ứng các nhu cầu văn hóa của họ theo hướng lành mạnh và tiến bộ.

Thành lập, bảo đảm Hoạt động thư viện, đọc sách báo, thiết chế văn hóa thông tin cơ sở

Sách báo là nguồn tri thức, là bạn tốt của mỗi người, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao hiểu biết cho mọi đối tượng. Vì vậy, thư viện, phòng đọc thường xuyên chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động khai trí của các cơ quan văn hóa. Hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống thiết chế văn hóa thông tin của cả nước, là công cụ tuyên truyền, vận động sắc bén, sâu rộng tại cơ sở của Đảng, Nhà nước, đồng thời là nơi hưởng thụ, sáng tạo và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Xây dựng nếp sống văn hóa mới

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta; là một trong những nhiệm vụ then chốt của ngành văn hóa, thể thao và du lịch. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: “Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đưa văn hóa văn nghệ đến các vùng kinh tế mới, vùng căn cứ cách mạng, vùng dân tộc thiểu số và các vùng xa xôi, hẻo lánh”.

Quản lý nhà nước về  văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về văn hóa thực tiễn tại quận Cẩm Lệ Tp. Đà Nẵng

Quản lý các dịch vụ văn hóa

Có thể nói rằng các loại dịch vụ trong xã hội ngày càng phát triển đa dạng, vừa tạo cơ hội cho người kinh doanh, lại vừa đáp ứng nhu cầu tinh thần của chính bản thân con người. Hoạt động dịch vụ văn hóa trong xã hội càng phát triển thì nhu cầu hưởng thụ của con người càng được đáp ứng. Xã hội phát triển càng cao, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người càng lớn. Văn hóa nói chung và dịch vụ văn hóa nói riêng có tác động lớn trong sự phát triển và chiến lược xây dựng con người như là: Hoạt động karaoke, ca múa nhạc, hoạt động kinh doanh dịch vụ Internet, game Online; hoạt động dịch vụ nhạc cụ, âm thanh; hoạt động kinh doanh văn hóa phẩm:

1.4. Nội dung hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa

Như đã nêu ở mục 1.1 Quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam. Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm các mảng cơ bản là quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật; quản lý nhà nước đối với văn hoá – xã hội; quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá. Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm những nội dung sau:

1.4.1. Hoạt động xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp luật về văn hoá

Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hoá. Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự nghiệp phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển văn hoá chung của đất nước.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân…Tạo chuyển biến mạnh trong việc xây dựng văn hoá, đạo đức và lối sống”; “Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước…Thực hiện quản lý Nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp…Phát triển mạnh các dịch vụ công cộng: giáo dục, khoa học, công nghệ, y tế, văn hoá và thể dục thể thao” Trên những cơ sở định hướng đó, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đề ra những nhiệm vụ thuộc chức năng QLNN về văn hóa như sau:

Thứ nhất, xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nhằm quản lý thống nhất các hoạt động văn hóa.

Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là hướng tới xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội; tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, góp phần xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bởi vậy, việc xây dựng và ban hành một hệ thống pháp luật cần và đủ để đảm bảo sự vận hành tự do, an toàn cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhântham gia hoạt động trong lĩnh vực văn hóa là một trong những nội dung lớn của QLNN về văn hóa.

Trên thực tế, nội dung này đòi hỏi NN, trước hết phải giành sự ưu tiên cho hoạt động lập pháp. Văn hóa chỉ có thể xây dựng và phát triển và công tác QLNN về văn hóa chỉ đạt hiệu quả khi NN có trong tay một hệ thống pháp luật đầy đủ, thông thoáng, phù hợp với nội dung và tính chất của các hoạt động VH trong nền kinh tế thị trường.

Trong hoạt động xây dựng VBPL về quản lý văn hóa, theo quy định của Chính phủ, Bộ Văn hoá – Thể thao và du lịch là cơ quan của Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn QLNN, trong đó có lĩnh vực VH trên phạm vi cả nước. Bộ Văn hoá – Thể thao và du lịch chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo văn bản QPPL về văn hóa và các văn bản QPPL khác liên quan đến văn hóa theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, các chương trình, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm …

Thứ hai, xây dựng các thiết chế QLNN về văn hóa và thiết chế văn hóa:

Trong lĩnh vực QLNN về văn hóa thì Bộ Văn hóa- Thể thao – Du lịch là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về văn hóa trong cả nước. Chính quyền địa phương các cấp tỉnh (thành phố) – quận (huyện) – phường (xã) với cơ quan QLNN chuyên ngành về văn hóa cùng tên có chức năng quản lý sự nghiệp văn hóa trên địa bàn theo sự phân cấp quản lý giữa Trung ương – địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương.

Sự hoạt động hiệu quả của các thiết chế quản lý ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và phát triển văn hóa, do vậy nhà nước luôn quan tâm củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ của các cơ quan lãnh đạo, quản lý; thường xuyên điều chỉnh, xác định rõ cơ cấu, chức nǎng nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các thiết chế quản lý để đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa.

Hệ thống thiết chế văn hóa từ trung ương, tỉnh, thành phố đến thôn, bản, làng, xã, phố, phường được nhà nước quan tâm quy hoạch, đầu tư nâng cấp và xây mới, đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hóa của các tầng lớp nhân dân. Trong quy hoạch xây dựng các công trình lớn cũng phải tính đến một số thiết chế vǎn hóa cần thiết nhất như thư viện, nhà văn hóa, khu giải trí, bảo đảm cảnh quan môi trường cho các di tích lịch sử, vǎn hóa và danh lam thắng cảnh.

Thứ ba, ban hành và thực thi hệ thống các chính sách về văn hóa

Nghiên cứu, xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách văn hóa để tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng và phát triển văn hóa; trong quản lý Nhà nước về văn hóa, nhà nước ta đã có các chính sách như:

Chính sách kinh tế trong hoạt động văn hóa: gắn kinh tế với hoạt động văn hóa, khai thác các tiềm năng kinh tế trong hoạt động văn hóa, hỗ trợ tài chính cho hoạt động văn hóa. Đảm bảo cho vǎn hóa thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế, đồng thời thúc đẩy các hoạt động kinh tế tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển vǎn hóa.

Chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa nhằm động viên sức người, sức của của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội để xây dựng và phát triển vǎn hóa.

Chính sách bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa nhằm giữ gìn, bảo đảm khai thác hiệu quả mà không gây ảnh hưởng đến di sản, làm cho di sản xuống cấp.

Chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa nhằm tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị cao về tinh thần và vật chất, mang lại hiệu quả về kinh tế và xã hội.

Chính sách ưu đãi, tham gia hưởng thụ văn hóa cho các đối tượng đặc biệt (người tàn tật, nghèo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo…).

Thứ tư, đầu tư xây dựng và phát triển văn hóa

Văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, nên đầu tư cho văn hóa thực chất là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững. Trong đó chính sách đầu tư và xây dựng văn hóa trở thành các chính sách đòn bẩy thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với đời sống văn hoá của người dân, đảm bảo cho người dân quyền hưởng thụ văn hoá tốt nhất trong điều kiện cho phép.

Ngoài nguồn ngân sách từ Trung ương, các địa phương đều có nguồn ngân sách cho văn hoá. Kinh phí đầu tư cho văn hóa được nhà nước triển khai hàng năm theo các chương trình mục tiêu cấp Quốc gia bao gồm các lĩnh vực phát triển văn hoá cơ sở, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hoá tiêu biểu của dân tộc, phát triển các ngành công nghiệp văn hoá như điện ảnh, du lịch. Chính sách nhà nước đầu tư cho các phương tiện văn hoá theo 2 hướng: Đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá, các công trình văn hoá, nhà văn hoá, thư viện và Đầu tư phát triển các ngành nghệ thuật, ngành công nghiệp văn hoá.

Các chính sách tăng nguồn lực cho hoạt động văn hoá của nhà nước được phát triển theo quan điểm “thể chế văn hoá mới khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp xây dựng văn hoá trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng thụ; giúp đội ngũ văn nghệ sĩ chuyên nghiệp làm tốt vai trò nòng cốt trong việc sáng tạo các giá trị văn hoá mới, tạo điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới” [17, Tr 78,45]. Chính sách tăng nguồn lực cho hoạt động văn hoá, đó là Ưu tiên phát triển nguồn lực hoạt động văn hoá và Các chính sách xã hội hoá văn hoá và hợp tác quốc tế.

Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực văn hóa:

Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hoá, đây là một hoạt động có vai trò quan trọng của công tác QLNN về văn hoá, sự tác động trực tiếp của cơ quan kiểm duyệt và thanh tra có vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi vì văn hoá có mối quan hệ trực tiếp với chính trị, nó có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Trong xu hướng xã hội hoá văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảy sinh ngày càng nhiều, vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý cần phải được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ với các bộ, ngành khác. Như vậy mới có khả năng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý Nhà nước về văn hoá đã đề ra.

Thứ sáu, hợp tác quốc tế về văn hóa:

Giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa là hoạt động có vai trò quan trọng để xây dựng và phát triển nền văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi tộc người. Giao lưu, hợp tác là nhằm giới thiệu văn hóa, đất nước con người Việt Nam với cộng đồng nhân loại. Phổ biến những kinh nghiệm tốt xây dựng và phát triển vǎn hóa của các nước. Qua đó tiếp thu chọn lọc những cái hay, cái tốt để làm giàu đời sống tinh thần của nhân dân và bản sắc văn hóa dân tộc. Kiên quyết tránh tình trạng tiếp thu một chiều thiếu chọn lọc, ngăn ngừa sự xâm nhập các trào lưu tư tưởng có hại, lối sống lai căng, mất gốc không phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc. Giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết tình hình nước nhà, thu nhận thông tin và sản phẩm vǎn hóa từ trong nước ra, nêu cao lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống, bản sắc dân tộc, phát huy trí tuệ, tài nǎng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.

1.5. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về văn hóa

1.5.1. Định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là nhiệm vụ và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Bởi vì, Nhà nước pháp quyền trước hết là NN quản lý xã hội bằng pháp luật và các tổ chức, cá nhân đều phải tuân thủ pháp luật.

Đối với lĩnh vực văn hóa, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đảm bảo việc tổ chức QLNN đối với lĩnh vực này được thống nhất trên phạm vi cả nước, tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hóa đều phải tuân thủ pháp luật, kể cả các cơ quan NN; đồng thời, đảm bảo được sự công bằng giữa các tổ chức, cá nhân khi tham gia lĩnh vực văn hóa tạo môi trường văn hóa lành mạnh và tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của công dân được pháp luật thừa nhận và quy định.

Trong thời kỳ hội nhập sâu rộng với thế giới, tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải phối hợp và phụ thuộc lẫn nhau, tác động đan xen để phát triển kinh tế. Vì vậy, việc hợp tác với nhau dựa trên các văn bản ký kết như Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và các Hiệp định mà từng quốc gia ký kết sao cho phù hợp với hệ thống pháp luật của nước mình để có thể phát huy giá trị vǎn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hóa nhân loại.

1.5.2. Xu thế hội nhập kinh tế

Trong quản lý Nhà nước về VH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, vấn đề quan trọng là định hướng xây dựng và phát triển văn hóa. Nếu không có định hướng tốt, nếu buông lỏng sự hướng dẫn của cơ quan chức năng và vai trò quản lý của nhà nước, và ảnh hưởng của mặt trái của cơ chế thị trường sẽ dẫn đến phát triển VH chệch hướng, tác động tiêu cực trong xã hội và ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Hội nhập kinh tế toàn cầu là một xu thế tất yếu. Việc hội nhập kinh tế toàn cầu luôn kéo theo sự hội nhập về văn hóa. Đây là quy luật mang tính lịch sử. Có thể thấy qua các nét tương đồng văn hóa, tôn giáo, kiến trúc giữa các quốc gia qua quá trình lịch sử hình thành phát triển và giao thương kinh tế. Ví dụ: Nho giáo Trung Quốc trong văn hóa Việt Nam hay Nhật Bản….

Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ với ngày càng nhiều hiệp định thương mại được ký kết và sắp đến đây nhất là Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương – TPP càng minh chứng rõ nét cho điều này. Bên cạnh những thuận lợi mang lại từ hội nhập cho cả kinh tế và văn hóa thì đặt ra những thách thức và khó khăn nhất định cho quản lý nhà nước về văn hóa, đó là:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa buộc phải hội nhập kịp thời và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây là yếu tố cấp thiết và tất yếu. Vì chỉ như vậy mới đảm bảo hội nhập mạnh mẽ, phá bỏ những rào cản gây chậm tiến độ hội nhập ví dụ: việc sửa đổi và cập nhật Luật sở hữu trí tuệ, các vấn đề về bản quyền, thương hiệu…ở khía cạnh khác quan trọng hơn là yêu cầu hội nhập và phải bảo tồn được các giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa của dân tộc.

Cùng với những giá trị tốt đẹp mang lại từ hội nhập, giao thoa giữa các nền văn hóa thì những tệ nạn vấn nạn về văn hóa cũng du nhập theo. Đây là những nguy cơ uy hiếp đến việc bảo vệ thuần phong mỹ tục đến bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước về văn hóa.

Hội nhập tất yếu sẽ đem lại sự phát triển về kinh tế trên địa bàn lãnh thổ quốc gia nhưng chắc chắn sẽ mang lại những biến động không nhỏ về xã hội do sự chuyển dịch thay đổi về cơ cấu nền kinh tế, sự thay đổi về tỷ trọng các ngành nghề cả về chất lẫn lượng. Những điều này đặt ra yêu cầu về hiệu quả chất lượng công tác quản lý nhà nước về văn hóa.

1.5.3. Tình hình kinh tế- xã hội của địa phương

Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội. Chǎm lo vǎn hóa là chǎm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu vǎn hóa, vì xã hội công bằng, vǎn minh, con người phát triển toàn diện. Vǎn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố vǎn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương, … biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.

Sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật hiện đại và sự phát triển của kinh tế, cơ sở vật chất của phát triển văn hóa cũng có nhiều biến đổi sâu sắc. Một mặt, hàm lượng khoa học – kỹ thuật của sản phẩm văn hóa ngày càng cao, phương thức chuyển tải hiện đại liên tục xuất hiện, sản xuất và truyền bá văn hóa ngày càng mở rộng và hiệu quả nhờ vào những thành tựu mới như máy tính, thông tin vệ tinh, mạng.

Tuy nhiên, sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, dẫn đến tăng trưởng kinh tế cũng có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến lối sống, đạo đức xã hội nói riêng và văn hóa nói chung. Nếu chỉ chú trọng phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao trình độ khoa học – kỹ thuật mà không chú trọng đến yếu tố đạo đức, lối sống … thì không có một xã hội phồn vinh, hạnh phúc. Phát triển kinh tế phải hướng vào mục tiêu văn hóa, hướng vào sự hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Đó là sự phát triển hiện đại.

Nhưng ở khía cạnh khác sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật đồng thời tạo ra điều kiện thuận lợi về mặt phương tiện công cụ phục vụ công tác thanh tra kiểm tra văn hóa và cũng tạo ra những lịch vực quản lý văn hóa mới ví dụ như internet, các mạng xã hội và vấn đề bản quyền…

1.5.4. Hệ thống công cụ, phương tiện quản lý

Muốn quản lý phải có công cụ quản lý, muốn quản lý nhà nước về văn hóa bên cạnh các quy định của nhà nước và pháp luật phải cáo các phương tiện công cụ trang thiết bị phục vụ hoạt động quản lý.

Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý văn hóa là một trong những công cụ quản lý quan trọng bởi lẽ quản lý là hoạt động được thực hiện thông qua con người. Điều này đặt ra yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nhà nước trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có đủ trình độ, năng lực để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên các vị trí, lĩnh vực công tác luôn là mục tiêu phấn đấu của hệ thống chính trị cả nước, của các cấp, các ngành.

Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước nói chung, phải là người có năng lực và phẩm chất đạo đức, như cách nói của Bác Hồ là những người “vừa hồng, vừa chuyên”.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân ta, đồng thời là một quá trình cải biến xã hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy khả nǎng và trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tǎng nhanh về vǎn hóa của các tầng lớp dân cư, quá trình dân chủ hóa, v.v… là những yếu tố làm thay đổi nhiều mặt đời sống vǎn hóa dân tộc, kéo theo nhu cầu vǎn hóa của nhân dân tăng lên và ngày càng lớn. Điều này cũng dặt ra yêu cầu về phương tiện kỹ thuật hiệ đại phục vụ tốt cho các hoạt động thanh tra kiểm tra trên lĩnh vực văn hóa.

Hiện nay kỹ thuật công nghệ nước ta có bước phát triển mạnh nhưng một số mặt vẫn chưa đảm bảo; sự phát triển kinh kế-xã hội giữa các vùng miền, giữa các tỉnh thành, giữa nông thôn và thành thị có sự không đồng đều và chênh lệch nhất định, bên cạnh đó các công cụ, phương tiện phục vụ cho công tác xây dựng và phát triển văn hóa còn thiếu, việc đầu tư còn nhỏ giọt, thiếu đồng bộ cũng làm cho công tác quản lý thiếu hiệu quả; việc đầu tư cho xây dựng và phát triển văn hóa chưa tương xứng với tiềm năng dẫn đến thiếu những điều kiện và phương tiện vật chất cần thiết để có thể khả nǎng đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hoá là nền tảng tinh thần của đời sống ấy, và vì thế hai lĩnh vực đó luôn luôn giữ vị trí quan trọng và quyết định đối với sự vận động và phát triển của xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, sức ép của cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận, càng làm cho các quan hệ KT-XH trở nên sôi động, quyết liệt hơn có thể làm chệch hướng xây dựng và phát triển văn hóa.

Vì vậy việc Quản lý Nhà nước đối với văn hóa là tất yếu và vô cùng quan trọng. Thời gian qua Đảng và nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách nhằm phát triển văn hóa một cách bền vững. Bên cạnh hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy nhà nước còn đề ra các chính sách cụ thể để thúc đẩy văn hóa phát triển mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.

Nhờ có pháp luật và bằng pháp luật mà hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân tham gia xây dựng và phát triển văn hóa được vận hành theo đúng định hướng xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đảm bảo được kỷ cương trong lĩnh vực văn hóa nói riêng và đảm bảo trật tự xã hội nói chung.

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA Ở QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Đặc điểm kinh tế – xã hội quận Cẩm Lệ

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Cẩm Lệ là một quận mới của thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định 102/NĐ-CP ngày 05/8/2005 của Chính phủ, trên cơ sở phường Khuê Trung của quận Hải Châu và 03 xã Hoà Thọ, Hoà Phát, Hoà Xuân của huyện Hoà Vang để lập 06 phường: Khuê Trung, Hoà Thọ Đông, Hoà Thọ Tây, Hoà Phát, Hoà An và Hoà Xuân thuộc quận Cẩm Lệ với diện tích tự nhiên là 3.375 ha, dân số 66.318 người.

– Phía Bắc giáp quận Hải châu, quận Liên Chiểu.

– Phía Đông giáp quận Hải Châu, quận Thanh Khê và quận Ngũ Hành Sơn.

– Phía Tây và Nam giáp huyện Hòa Vang

Hiện toàn quận còn có đến 829,5 ha đất nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp 2.062 ha trong đó đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 238,2 ha; đất chưa sử dụng 231,6 ha là thuận lợi để đầu tư xây dựng các dự án, các công trình, các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

Có hai nhánh sông bao bọc phía Đông Nam của quận và chảy giữa 3 phường Hoà Xuân, Hoà Thọ Đông và Hoà Thọ Tây với chiều dài: 16km, có các bãi bồi tự nhiên có thể kết hợp thuỷ thổ trong việc khai thác đầu tư các công trình, dự án dịch vụ, sinh thái, du lịch như: Đồng Nò, Đảo Nổi, bãi La Hường gắn kết với với đường sông Cẩm Lệ – Làng sinh thái Hoà Xuân – Các dịch vụ dọc tuyến Sông Hàn – Đảo Xanh – Tuyên Sơn – Cẩm Lệ – Túy Loan.

Với vị trí địa lý là quận nằm ở trung tâm của thành phố, tiếp giáp với 5/8 quận huyện còn lại của thành phố lại nằm ở vị trí cửa ngỏ Tây Nam là địa bàn trọng tâm trong việc mở rộng không gian đô thị của Thành phố Đà Nẵng về phía Tây Nam nên Cẩm Lệ có nhiều thuận lợi trong giao lưu tiếp cận và đầu tư phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội.

2.1.2. Đặc điểm và tình hình phát triển kinh tế – xã hội

Là quận nằm ở cửa ngõ Tây Nam thành phố, có nhiều trục giao thông chính đi qua như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 14B, tuyến giao thông nối liền cảng hàng không Quốc tế Đà Nẵng, cảng Tiên Sa,…có các công trình phát triển kinh tế như: Khu công nghiệp, cụm kho tàng, khu du lịch sinh thái, Trung tâm triển lãm Hội chợ Quốc tế, Bến xe Trung tâm,…rất thuận lợi để giao lưu, tiếp cận và đầu tư phát triển trên các lĩnh vực, đồng thời cũng là địa bàn trọng tâm của sự phát triển không gian đô thị của thành phố.

Trong những năm qua tốc độ triển khai quy hoạch của thành phố khá nhanh cộng với lượng di dân tự nhiên ngày càng tăng nên tốc độ đô thị hóa của Quận được đẩy nhanh. Theo đó các lĩnh vực văn hóa xã hội ngày càng được đầu tư và có những chuyển biến để đưa Cẩm Lệ mang hình hài của một đô thị thật sự, cụ thể:

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có nhiều chuyển biến tích cực, đội ngũ cán bộ giáo viên, cơ sở vật chất nhà trường cơ bản được đảm bảo. Tỷ lệ học sinh huy động ra lớp trong các độ tuổi đạt so với yêu cầu, đảm bảo 100% trẻ trong độ tuổi được đến trường. Tiếp tục thực hiện có kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2011-2015, nâng số trường đạt chuẩn lên 13/21 trường đạt chuẩn quốc gia.

Lĩnh vực văn hóa thông tin, truyền thanh: triển khai kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 1973/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đến tất cả các cấp, các ngành, địa phương. Thực hiện tốt công tác trang trí, cổ động trực quan nhân các ngày lễ, Tết của đất nước, duy trì phục hồi các lễ hội truyền thống mang bản sắc của địa phương, thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện nếp sống văn hoá, văn minh đô thị” tiếp tục được triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng. Tiếp tục trùng tu, bảo tồn các di tích văn hóa. Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động thể thao, chú trọng phát triển thể thao phong trào, thể thao thành tích cao. Về y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình: Ngành y tế đảm bảo các điều kiện phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho hơn 243.000 người dân, điều trị 12550 lượt bệnh nhân. Tập trung chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh, tăng cường giám sát dịch bệnh, kịp thời xử lý các trường hợp dịch bệnh bùng phát trên địa bàn.

Qua hơn 10 năm hoạt động và phát triển, tình hình kinh tế-xã hội của quận đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: tổng giá trị sản xuất tăng bình quân 19,5%/năm giá trị ngành công nghiệp-xây dựng tăng bình quân 18,3%/năm, trong đó công nghiệp dân doanh tăng trưởng bình quân gần 31,8%/năm giá trị ngành thương mại – dịch vụ tăng bình quân 25%/năm giá trị ngành nông nghiệp bình quân giảm 3,2%/năm các lĩnh vực quy hoạch đô thị, văn hoá xã hội được tập trung giải quyết tốt, mức sống người dân tăng lên đáng kể, thu nhập bình quân đầu người từ 13,2 triệu đồng năm 2006 lên gần 30 triệu đồng quốc phòng-an ninh được giữ vững. 

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HANH CHINH\TRAN VIET HUNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *