Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển hàng ngàn năm nay. Trong quá trình tồn tại và phát triển, dù chủ ý hay tự nhiên, tôn giáo đã tác động khá sâu sắc và toàn diện đến đời sống xã hội, từ thiết chế chính trị đến pháp luật; từ văn hóa, xã hội đến tâm lý, đạo đức, lối sống; từ các quan điểm triết học nhận định thế giới đến những ứng xử xã hội; từ các dạng thức nghệ thuật đến phong tục, tập quán… của nhiều quốc gia, dân tộc. Ở nước ta, tôn giáo là vấn đề lớn liên quan đến chính sách luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện. Hiến pháp năm 2013 tại Điều 24 quy định về Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. 

Có thể thấy Nhà nước sử dụng các công cụ giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo hay không theo tôn giáo nào của công dân, bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của công dân. Vì Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, Nhà nước đã ban hành chính sách tôn giáo đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.

Triển khai thực hiện chính sách tôn giáo của nhà nước trong thời gian qua trong cả nước nói chung cũng như thành phố Đà Nẵng nói riêng đã đạt những kết quả đáng ghi nhận. Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân được đảm bảo, tuyệt đại đa số các tín đồ, chức sắc tôn giáo đều tin tưởng và chấp hành tốt thể chế, chính sách tôn giáo của nhà nước, sống “ tốt đời, đẹp đạo”, tích cực tham gia phát triển kinh tế xã hội, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, đóng góp công sức vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được đáng ghi nhận tình hình hoạt động tôn giáo trong cả nước nói chung còn hạn chế, bất cập còn những diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch, các phần tử cực đoan trong các tôn giáo lợi dụng vấn đề tôn giáo và tự do tôn giáo để tuyên truyền nhằm chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Tình trạng khiếu kiện, tranh chấp, xin lại các cơ sở có nguồn gốc tôn giáo tiếp tục diễn ra và trở thành hiện tượng phổ biến trong hầu hết các tôn giáo. Có những trường hợp đã giải quyết xong hoặc theo quy định của pháp luật không thể trả lại, nhưng các tôn giáo vẫn tiếp tục đặt vấn đề khiếu kiện….còn những hạn chế, bất cập trên là do nhiều nguyên nhân trong số đó có nguyên nhân do tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo làm chưa tốt. Trong khâu tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo từ khâu phổ biến tuyên truyền chính sách, đôn đốc kiểm tra đến tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm thực hiện không kịp thời đầy đủ… bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ đảng viên nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu tập trung và đồng bộ; biện pháp giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo còn nhiều bất cập, chưa triệt để.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễnThành phố Đà Nẵng là hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay do đó tôi chọn vấn đề “Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng ” để làm luận văn thạc sĩ với mong muốn đóng góp làm giàu thêm lý luận thông qua kinh nghiệm thực tiễn về thực thi chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.

  1. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
  2. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1. Mục đích

Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta nói chung và Thành phố Đà Nẵng nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo hiện nay; Khảo sát, đánh giá thực trạng chỉ rõ những hạn chế bất cập, nguyên nhân của các hạn chế bất cập trong tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo tại Thành phố Đà Nẵng; Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện nâng cao, hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta nói chung và ở Thành phố Đà Nẵng nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

  1. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

– Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình hoàn thiện chính sách và thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.

– Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng, từ năm 2010 đến nay.

  1. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với tôn giáo; Hiến pháp 2013, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Nghị định 92/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08 tháng 11 năm 2012 Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, xuất phát từ thực tiễn tình hình thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp chính sách công, luận văn sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành như tôn giáo học, xã hội học tôn giáo, chính trị học tôn giáo kết hợp với các phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp tổng kết thực tiễn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo nói riêng.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở các kết quả, kết luận rút ra rừ việc nghiên cứu đề tài luận văn, đề xuất các giải pháp thiết thực giúp UBND, sở nội vụ và các cơ quan chức năng của UBND thành phố Đà Nẵng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực tiễn chính sách tôn giáo.

Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo tại Thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao, hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng

Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa.

1.1.2. Khái niệm tôn giáo

Trong Văn kiện của Đảng nêu “Tôn giáo là hệ thống các quan niệm tín ngưỡng sùng bái một hay nhiều vị thần linh nào đó và những hình thức, lễ nghi thực hiện sự sùng bái ấy. Tôn giáo thuộc hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ hoàn cảnh kinh tế – xã hội cụ thể, trình độ nhận thức và tâm lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử”[1].

1.2. Quan niệm về vấn đề tôn giáo

1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo

Khi nghiên cứu về bản chất của tôn giáo, quan điểm của Mác – Ăngghen cho rằng:

Tôn giáo với những quan điểm, ý tưởng, quan niệm gắn liền với sự tồn tại của con người trong đời sống sản xuất vật chất và đời sống tinh thần của họ. Nói cách khác” Cơ cấu kinh tế của xã hội luôn luôn là cơ sở hiện thực mà xét đến cùng ta phải dựa vào mới giải thích được tất cả thượng tầng kiến thức là chế độ pháp quyền và chế độ chính trị cũng như những quan niệm tôn giáo, triết học và các quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định”..

Khi nghiên cứu về nguồn gốc của tôn giáo, C.Mác đã chỉ ra rằng: Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc lại đánh mất bản thân mình một lần nữa. Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người. Nhưng con người không phải là một “sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là Nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo” [45, tr.569].

Kế thừa những tư tưởng của Mác-Ăngghen, Lênin trình bày quan điểm của mình về tôn giáo: “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc” [48, tr.169]

1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo, tín ngưỡng và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam. Nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đó là tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân cũng là nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về tôn giáo. Quyền tự do tín ngưỡng là quan điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo. Tư tưởng đó thể hiện nhất quán cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Người và đã trở thành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.

    1. 1.2.3. Quan điểm của Đảng về tôn giáo

Chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, một mặt, được xây dựng dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng tôn giáo; mặt khác, căn cứ vào tình hình quốc tế, đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và nhu cầu của cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử. Quan điểm của Đảng về tôn giáo thể hiện ở các nội dung sau:

Một là, Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Ba là, Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.

Bốn là, Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị [9, tr.51-52].

Năm là, Vấn đề theo đạo và truyền đạo.

1.3. Thể chế Chính sách tôn giáo

Trên cơ sở quan điểm Đảng của đảng về tôn giáo, Nhà nước thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật như: Hiến pháp, pháp luật và Nghị định….

Đây là những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cũng như quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ trong việc tổ chức thực hiện các chính sách tôn giáo. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật khác cũng đã có các quy định điều chỉnh các hoạt động liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo tinh thần của Điều 24 Hiến pháp 2013 như Bộ luật dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật cư trú, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Phòng chống HIV/AIDS…

Như vậy thể chế chính sách của Nhà nước về tôn giáo khá đầy đủ, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước ban hành các chính sách tôn giáo.

    1. 1.4. Khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo

1.4.1. Khái niệm chính sách tôn giáo

Chính sách tôn giáo: là quan điểm, thái độ, các quyết định của Nhà nước với các công cụ giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo hay không theo tôn giáo nào của công dân, bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của công dân. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nhà nước ban hành chính sách tôn giáo là để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

1.4.2. Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo

Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, chính sách tôn giáo nói riêng là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực. Đây là khâu, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách tôn giáo: Nó có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách tôn giáo của Nhà nước, đưa chính sách tôn giáo của Nhà nước vào cuộc sống. Tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách tôn giáo…

1.4.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo

Hoạch định, xây dựng được chính sách tôn giáo đúng có chất lượng là rất quan trọng nhưng thực hiện đúng chính sách tôn giáo còn quan trọng hơn. Có chính sách tôn giáo đúng, nếu nó không được tổ chức thực hiện trên thực tế nó cũng trở thành vô nghĩa, trở thành khẩu hiệu suông. Nếu chính sách tôn giáo của Nhà nước không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng, thậm chí sự chống đối của các chức sắc tôn giáo và tín đồ đối với Nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây khó khăn bất ổn cho Nhà nước trong công tác quản lý. Qua thực hiện chính sách tôn giáo mới biết được chính sách tôn giáo đó đúng hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp, chính sách đó có đi vào cuộc sống hay không đi vào cuộc sống. Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định và xây dựng chính sách tôn giáo chưa phát sinh hoặc đã phát sinh ra nhưng các nhà hoạch định chưa nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực hiện mới phát hiện ra. Chính quá trình thực hiện chính sách tôn giáo với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và nguyện vọng của tín đồ tôn giáo. Đồng thời việc phân tích đánh giá một chính sách tôn giáo (mức độ xấu, tốt) chỉ có cơ sở đầy đủ, có sức thuyết phục sau khi thực hiện chính sách tôn giáo đó.

    1. 1.5. Nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo

1.5.1. Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách tôn giáo

Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung và chính sách tôn giáo nói riêng là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch triển khai một cách cụ thể để các cơ quan nhà nước thực hiện chính sách được chủ động, mang lại hiệu quả cao. Đây là nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo: Hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch thực hiện chính sách.

1.5.2. Phổ biến tuyên truyền chính sách tôn giáo

Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực hiện chính sách. Vì chính sách tôn giáo là chính sách đặc thù nhạy cảm nên công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách tôn giáo tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi ngưfffời dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách. Qua đó để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước.

1.5.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách tôn giáo

Trong tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo phân công, phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng, tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách. Muốn tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo có hiệu quả cần phải tiến hành phân công phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương. Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp..

Hoạt động phân công phối hợp thực hiện chính sách tôn giáo cần được thực hiện theo tiến trình, có kế hoạch một cách chủ động, sáng tạo để duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách

1.5.4. Duy trì chính sách tôn giáo

Duy trì chính sách tôn giáo là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách tôn giáo được tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế. Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực hiện và môi trường tồn tại.

1.5.5. Điều chỉnh chính sách tôn giáo

Điều chỉnh chính sách tôn giáo là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo. Nó được thực hiện bởi cơ quan QLNN về tôn giáo cấp trung ương để chính sách tôn giáo ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của đất nước. Theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh bổ sung chính sách. Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách tôn giáo là để chính sách tiếp tục tồn tại chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu chính sách tôn giáo hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế. Nếu điều chỉnh là thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách tôn giáo, thì coi như chính sách tôn giáo không tồn tại.

1.5.6. Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách tôn giáo

Kiểm tra về thực hiện chính sách tôn giáo nhằm bảo đảm được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo đúng qui định của pháp luật của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Phát hiện kịp thời, kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm về tôn giáo, các vi phạm trong quản lý nhà nước về tôn giáo nhằm bảo đảm các chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước được thực hiện, cững như phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá – đạo đức của tôn giáo.

1.5.7. Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách tôn giáo

Đánh giá tổng kết trong tổ chức thực hiện chính sách là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách của các cơ quan nhà nước trong hệ thống chính trị; các tổ chức, cá nhân tôn giáo và toàn xã hội.

Việc xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách tôn giáo của các cơ quan nhà nước trong hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở. Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo điều hành của các cơ quan nhà nước còn phải xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách tôn giáo của các tổ chức, cá nhân tôn giáo và toàn xã hội, đó là đánh giá tinh thần hưởng ứng mục tiêu và ý thức chấp hành những quy định của chính sách tôn giáo.

1.6. Những vấn đề đặt ra từ việc thực hiện chính sách tôn giáo

1.6.1. Thực hiện chính sách tôn giáo, phải có quan điểm toàn diện trong việc phát huy vai trò, quyền lực của tất cả các cơ quan nhà nước

1.6.2. Vấn đề tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân vẫn phải được chú trọng hơn

1.6.3. Phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo, để đồng bào tôn giáo sống “tốt đời đẹp đạo”

1.6.4. Tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của mình và đúng quy định của pháp luật

1.6.5. Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước

1.6.6. Chủ động phòng ngừa với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc

    1. 1.7. Các phương pháp thực hiện chính sách tôn giáo
    2. – Phương pháp kinh tế
    3. – Phương pháp thuyết phục
    4. – Phương pháp hành chính
    5. – Phương pháp kết hợp giữa các phương pháp
    6. 1.8. Năng lực của các chủ thể tham gia thực hiện chính sách

Công tác tôn giáo là mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hội nước ta, trước hết và chủ yếu là Đảng và Nhà nước, tiếp đó là các tổ chức chính trị-xã hội khác thuộc hệ thống chính trị còn khách thể là đồng bào các tôn giáo trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

1.9. Kinh nghiệm thực hiện chính sách tôn giáo ở một số địa phương

1.9.1 Thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Thừa Thiên Huế

1.9.2. Thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Nam

Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Chương 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Những yếu tố về vị trí địa lý, tự nhiên, xã hội và văn hóa ảnh hưởng đến thực hiện chính sách tôn giáo ở thành phố Đà Nẵng

2.1.1. Ảnh hưởng của vị trí địa lý, tự nhiên, xã hội

Thành phố Đà Nẵng phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên- Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông. Diện tích toàn thành phố Đà Nẵng là 1.256,54km2 (tính cả diện tích huyện đảo Hoàng Sa), trong đó có 08 đơn vị hành chính cấp huyện và 56 đơn vị hành chính cấp xã.

2.1.2. Sự tác động của bản sắc văn hóa

Thành phố Đà Nẵng cũng là nơi quần cư của cư dân nhiều địa phương khác đến; là nơi giao lưu và hội tụ những nét văn hóa của nhiều vùng miền trong cả nước. Ngoài ra, các di tích lịch sử văn hóa phụ cận như khu di tích Cố đô Huế, Phố Cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn cũng đã ít nhiều đưa đến những tác động các tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có những đặc trưng riêng.

2.1.3. Sơ lược các tôn giáo chính ở Thành phố Đà Nẵng

Tổng số cơ sở tôn giáo: 186. Trong đó:

– Phật giáo: 105 ; Công giáo: 54 ; Cao đài: 12 ; Các hệ phái Tin lành: 13

Tổng số chức sắc, tu sỹ: 984. Trong đó có 541 chức sắc và 443 tu sỹ

– Phật giáo: 699 chức sắc ; Công giáo: 239 ; Cao đài: 75; Các hệ phái Tin lành: 44  ;Tôn giáo khác: 13

Tổng số tín đồ: 171.960 Trong đó:

– Phật giáo: 120.68; Công giáo: 36.533; Cao đài: 6.523; Các

hệ phái Tin lành: 7.484; Tôn giáo khác: 740

    1. 2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng

2.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng

Để triển khai thực hiện Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành, thời gian qua Thành ủy, UBND thành phố ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy đảng, chính quyền, các sở ngành có liên quan và hội đoàn thể phối hợp triển khai thực hiện.

2.2.2. Thực trạng phổ biến, tuyên truyền chính sách tôn giáo ở thành phố

Tính đến nay, Ban Tôn giáo thành phố đã chủ động mở 6 đợt quán triệt và phổ biến Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 22 cho gần 1800 lượt người tham dự, trong đó phổ biến cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo là hơn 1000 người; phối hợp với Vụ Pháp chế – Thanh tra và Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng nghiệp vụ tôn giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ tổ chức 09 lớp phổ biến Pháp lệnh và Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cho 870 cán bộ làm tôn giáo trong hệ thống chính trị các cấp, 570 chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo (trong đó chủ yếu là tín đồ Tin lành). Các đoàn thể, lực lượng vũ trang, các địa phương mở 15 đợt tuyên truyền, phổ biến Pháp lệnh và Nghị định cho 3234 lượt hội viên, cán bộ và chiến sỹ tham dự.

2.2.3. Thực trạng phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng của Thành phố Đà Nẵng trong thực hiện chính sách tôn giáo

Để nhằm tăng cường trách nhiệm của các sở, ban, ngành, địa phương trong thực hiện chính sách tôn giáo. UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 256/QĐ-UBND ngày 02/06/2013 của UBND thành phố ban hành quy định công tác phối hợp xử lý, giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. BTG thành phố xây dựng và ký kết chương trình phối hợp với các tổ chức hội, đoàn thể như: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố; Ban Dân vận Thành ủy.

2.2.4. Thực trạng duy trì chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng

Quá trình triển khai thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn thành phố đã nâng cao được nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của cá hệ thống chính trị về vấn đề tôn giáo; giúp cán bộ các cấp, các ngành nắm rõ đặc thù từng tôn giáo để tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước, tuân thủ các quy định của địa phương và đúng Hiến chương của Giáo hội.

2.2.5. Thực trạng điều chỉnh chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng

Quá trình thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Nghị định số 22/2005/NĐ-CP đặt ra một số tồn tại, hạn chế, như: có nội dung quy định không khả thi, có nội dung chưa phù hợp với thực tiễn hoặc đến nay không còn phù hợp; có nội dung của Pháp lệnh chưa được hướng dẫn hoặc hướng dẫn nhưng chưa cụ thể, gây khó khăn trong quá trình triển khai, thực hiện. Ngày 08/11/2012, Nghị định số 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ ra đời, thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013.

2.2.6. Thực trạng theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách tôn giáo Thành phố Đà Nẵng

Thông qua việc kiểm tra thường xuyên giúp cho UBND thành phố nắm chắc được tình hình thực hiện chính sách tôn giáo, từ đó đánh giá khách quan về những điểm mạnh, những điểm yếu của công tác tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn; Đồng thời giúp cho BTG phát hiện những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách tham mưu cấp có thẩm quyền để điều chỉnh; tạo điều kiện phối hợp nhịp nhàng BTG và các cấp chính quyền, các hội đoàn thể trong hệ thống chính trị và tổ chức, cá nhân tôn giáo cùng toàn thể nhân dân thực hiện chính sách tôn giáo tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu của chính sách tôn giáo.

2.2.7. Thực trạng tổ chức đánh giá, tổng kết chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng

Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện thành phố đã chú trọng tới công tác đánh giá, định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế hoạch có liên quan đến công tác tôn giáo như: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; tổng kết 08 năm thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; tổng kết 20 năm thực hiện Thông báo số 34 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác quản lý Nhà nước đối với đạo Cao đài….

    1. 2.3. Kết quả thực hiện chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng

2.3.1. Thực hiện chính sách đối với tín đồ

2.3.2. Thực hiện chính sách đối với chức sắc nhà tu hành

2.3.3. Thực hiện chính sách đối với các tổ chức tôn giáo

2.3.4. Thực hiện chính sách đối với nơi thờ tự

2.3.5. Thực hiện chính sách đối với việc đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành

2.3.6. Thực hiện chính sách đối với hoạt động xã hội của tổ chức, cá nhân tôn giáo

2.3.7. Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế (quan hệ quốc tế) của tổ chức tôn giáo tín đồ, nhà tu hành, chức sắc

    1. 2.4. Những tồn tại và nguyên nhân trong việc thực hiện chính sách tôn giáo

2.4.1 Những tồn tại

Thứ nhất, nhận thức về tôn giáo và chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo trong một bộ phận cán bộ chủ chốt của cấp ủy, chính quyền cơ sở còn hạn chế. Một số ít cấp ủy Đảng, chính quyền ở cơ sở còn biểu hiện cứng nhắc, mặc cảm đối với tôn giáo.

Thứ hai, công tác nắm tình hình và phản ánh tình hình hoạt động tôn giáo của một số cấp ủy, chính quyền còn chậm, chưa thường xuyên và kịp thời. Công tác thực hiện chính sách tôn giáo của một số chính quyền cơ sở còn lỏng lẻo, chưa sâu sát.

Thứ ba, công tác chính sách về đất đai có liên quan đến tôn giáo ở một số nơi còn hạn chế. Việc xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự và đặt các biểu tượng tôn giáo chưa có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan có liên quan từ việc cấp giấy phép, thanh tra, kiểm tra việc xây dựng.

Thứ tư, bộ máy cán bộ, công chức làm công tác thực hiện chính sách tôn giáo chưa đồng bộ, còn bất cập. Cơ quan thực hiện chính sách tôn giáo cấp thành phố (Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo) và cấp quận (Phòng Nội vụ) còn bị động trong công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét giải quyết các yêu cầu tôn giáo.

Nguyên nhân, hạn chế

Thực tế hoạt động tôn giáo rất đa dạng, phức tạp, nhạy cảm, thường xuyên phát sinh những vấn đề mới, trong khi hệ thống pháp luật về tôn giáo đang trong quá trình hoàn thiện nên chưa bao quát hết được mọi nội dung hoạt động tôn giáo.

Hiện nay, nước ta chưa có Luật Tôn giáo, mới chỉ có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và các Nghị định nên việc cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước ở địa phương còn gặp nhiều khó khăn.

Việc đầu tư, quan tâm giải quyết cho thực hiện chính sách tôn giáo chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao. Vẫn còn rất nhiều bất cập về tổ chức bộ máy. Sự phối hợp của các cơ quan làm công tác thực hiện chính sách tôn giáo có lúc thiếu đồng bộ, chặt chẽ. Năng lực thực hiện chính sách tôn giáo của cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu.

Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Chương 3

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 3.1. Phương hướng đổi mới thực hiện chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới

3.1.1. Triển khai và thực hiện đúng, đầy đủ các quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương

Đối với Thành phố Đà Nẵng, để làm tốt và có hiệu quả công tác này, trên cơ sở bám sát các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, đồng thời căn cứ vào thực tế tình hình diễn biến hoạt động của các tôn giáo tại địa bàn, Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ đã tham mưu cho UBND thành phố từng bước xây dựng và triển khai có hiệu quả hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước về tôn giáo thực tế tại địa phương.

3.1.2. Thực hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết 25 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo

Để thực hiện tốt công tác này, định kỳ vào dịp tết Nguyên đán hằng năm Lãnh đạo thành phố do chính đồng chí Bí thư Thành ủy chủ trì đều có cuộc gặp gỡ và đối thoại trực tiếp với chức sắc tất cả các tôn giáo trên địa bàn thành phố, qua cuộc gặp gỡ này, các tôn giáo được bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình đối với chính quyền thành phố, được trực tiếp chia sẻ, đề xuất với lãnh đạo thành phố những vấn đề còn vướng mắc, chưa được giải quyết thỏa đáng, đúng mức.

3.1.3. Chú trọng kiện toàn tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo

Trong thời gian qua, trên địa bàn thành phố, được sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố, công tác tổ chức, bộ máy làm công tác tôn giáo về cơ bản đã được kiện toàn, củng cố, cụ thể ở các khối: Đảng, Chính quyền và Đoàn thể và lực lượng vũ trang.

3.1.4. Nâng cao chất lượng của công tác phối hợp giữa các Ban, Ngành và chính quyền các cấp tại địa phương trong công tác tôn giáo

Sở dĩ cần xem trọng vấn đề này là vì hiện nay vấn đề tôn giáo có ảnh hưởng đến hầu hết các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì thế để có quan điểm toàn diện và giải quyết hợp lý, hợp tình, đúng chủ trương chính sách, đúng pháp luật, hầu hết các vấn đề lớn, quan trọng liên quan đến lĩnh vực tôn giáo trên địa bàn thành phố trước khi được tham mưu đến lãnh đạo Thành ủy, UBND, đều có sự phối hợp thống nhất của các Ban, Ngành liên quan.

3.1.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về tôn giáo cho cán bộ cơ sở và chức sắc, tín đồ, đồng bào theo đạo

Để góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật về tôn giáo cho cán bộ cơ sở và đồng bào theo đạo tại Thành phố Đà Nẵng. Hằng năm, Ban Tôn giáo thành phố luôn chủ động xây dựng Kế hoạch chi tiết về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo và chức sắc, tín đồ, chức việc các tôn giáo.

3.1.6. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về tôn giáo

Ban Tôn giáo Thành phố Đà Nẵng đã triển khai xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2008 với việc thành lập Ban Chỉ đạo ISO của Ban Tôn giáo. Đồng thời, chính thức ban hành áp dụng các tài liệu của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 từ ngày 18 tháng 3 năm 2009.

    1. 3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Thứ nhất, tiếp tục tăng cường công tác chỉ đạo hệ thống chính trị có sự thống nhất trong nhận thức, quan điểm về các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo, từ đó tạo được sự đồng thuận, đồng bộ trong triển khai, quản lý của các cấp trong hệ thống chính trị đối với các tôn giáo tại địa phương.

Thứ hai, tăng cường củng cố, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là lực lượng cốt cán trong vùng đồng bào có đạo, đẩy mạnh công tác củng cố kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo nhất là ở các vùng trọng điểm, theo hướng ổn định, đảm bảo tiêu chuẩn về năng lực, đạo đức, nhiệt tình và có trình độ chuyên môn liên quan đến tôn giáo.

Thứ ba, tiếp tục chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, chủ trương, quy định pháp luật về tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo và chức sắc, chức việc của các tổ chức tôn giáo.

Thứ tư, không ngừng nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể và chính quyền các cấp trong công tác tôn giáo, trong quá trình xử lý công việc.

Thứ năm, quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo hợp pháp sinh hoạt theo đúng Hiến chương, Điều lệ của Giáo hội, đảm bảo cho các tôn giáo trên địa bàn thành phố diễn ra thuần túy, bình thường và trong khuôn khổ pháp luật.

3.3. Một số kiến nghị, đề xuất

3.3.1. Kiến nghị đối với công tác tôn giáo của Đảng

3.3.2. Kiến nghị đối với công tác tôn giáo của Nhà nước

3.3.3. Kiến nghị đối với công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội của nhân dân

* Đối với thành phố Đà Nẵng

Để đảm bảo tình hình tôn giáo giáo trong thời gian đến được ổn định, đề nghị Thành ủy, UBND thành phố tiếp tục quan tâm

tiếp tục chỉ đạo thực hiện một số nội dung sau:

Một là, thống nhất nhận thức và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác tôn giáo, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hai là, coi trọng công tác vận động quần chúng, tôn trọng đức tin và vấn đề sinh hoạt tôn giáo hợp pháp của công dân.

Ba là, chủ động trong thông tin, bao gồm chủ động nắm và kịp thời trao đổi thông tin để thống nhất trong toàn hệ thống chính trị.

Bốn là, công tác đối với các hiện tượng tôn giáo mới, tôn giáo mới du nhập cần thận trọng, làm thí điểm cho kết quả tốt mới thực hiện diện rộng, không chạy theo số lượng và ấn định thời gian hoàn thành.

Năm là, đối với những trường hợp sinh hoạt đạo, truyền đạo trái pháp luật thì phải kiên trì và sử dụng nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn, xử lý kịp thời đúng pháp luật thì sẽ có hiệu quả.

Sáu là, định kỳ sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và tổ chức bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác tôn giáo, nhất là cán bộ cơ sở để đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình hiện nay./.

KẾT LUẬN

Chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nguyên tắc cơ bản của đảng và nhà nước ta về tôn giáo. Thực hiện chính sách tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng của chính sách tôn giáo. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu làm thế nào để quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo và chính quyền các cấp phải phục vụ tốt nhất cho quá trình đổi mới ở nước ta, vừa đảm bảo quyền tự tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân vừa ngăn chặn, đẩy lùi những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng đến lợi ích, danh dự quốc gia.

Trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng thời gian qua, việc thực hiện chính sách tôn giáo đã được các cấp uỷ đảng, chính quyền từ thành phố đến cơ sở quan tâm và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ.

Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn thành phố cũng còn một số hạn chế, chưa đáp ứng kịp yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tôn giáo trong tình hình mới. Do vậy, việc quan tâm tới thực hiện chính sách tôn giáo, từ vấn đề thể chế hoá chính sách tôn giáo của Nhà nước, tăng cường các yếu tố, điều kiện vật chất cho đến xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ vẫn là vấn đề luôn đặt ra với cả tính chất tình thế và lâu dài.

Từ những yêu cầu trên, luận văn đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp cụ thể đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng, qua đó nhằm phát huy những thành tựu và khắc phục những hạn chế của thực hiện chính sách tôn giáo ở Thành phố Đà Nẵng. Hy vọng rằng luận văn sẽ góp một phần nhỏ để cùng các cơ quan chức năng của thành phố làm tốt việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời gian tới trên địa bàn./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\CHINH SACH CONG\TAO GIA CAT LINH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *