Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghệ cao từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ trương quan trọng đã được Ðảng và Nhà nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng luôn xác định, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Ðầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển; có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mở ra nhiều nghề, sản phẩm mới; nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu; tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố Đà Nẵng.
Trong năm 2015, Thành phố Đà Nẵng đã thu hút được 79 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 92,34 triệu USD, suất đầu tư bình quân mỗi dự án là 1,16 triệu USD, tăng 3,35lần so với cả năm 2014. Lũy kế đến 30/11/2015, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 383 dự án FDI được đăng ký với tổng vốn đầu tư 3,674 tỷ USD. Nhìn chung tình hình thu hút đầu tư FDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cả năm 2015 có chuyển biến tốt so với cùng kỳ năm 2014, nhưng vẫn còn giảm so với những năm trước đây, mặc dù thành phố Đà Nẵng có nhiều thế mạnh hơn so với các địa phương trong khu vực như về vị trí địa lý, về cơ sở hạ tầng, đầu tư các khu công nghiệp và chế xuất, công nghệ cao; Thành phố Đà Nẵng đã 05 năm liền dẫn đầu xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), đứng đầu về sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin và có môi trường đầu tư khá hấp dẫn.
Chính vì những lý do này, lãnh đạo thành phố phải định hướng, chỉ đạo các sở, ngành cùng nghiên cứu đề ra những giải pháp, tham mưu ban hành chính sách góp phần thu hút vốn FDI vào thành phố, đặc biệt là thu hút vốn FDI vào KCNC Đà Nẵng nhằm thực hiện đúng chủ trương của thành phố là tập trung, ưu tiên thu hút FDI vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ, các ngành dịch vụ chất lượng cao, và dịch vụ giá trị gia tăng cao, góp phần đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng Đà Nẵng trở thành môi trường có nền công nghiệp phát triển.
Việc thu hút vốn đầu tư FDI vào Khu Công nghệ cao Đà Nẵng sẽ giúp cho thành phố Đà Nẵng trở thành một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển khoa học – kỹ thuật của thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả khu vực miền Trung – Tây Nguyên nói chung. Song, để thu hút đầu tư FDI vào KCNC Đà Nẵng, một KCNC còn khá mới so với 02 KCNC của cả nước là KCNC thành phố Hồ Chí Minh và KCNC Hòa Lạc là một điều không dễ dàng. Vì thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao rất khó, rất kén chọn nhà đầu tư do phải đáp ứng các tiêu chí công nghệ cao theo quy định. Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư vào Khu Công nghệ cao đòi hỏi phải có điều kiện về cơ sở hạ tầng, chiến lược phát triển phù hợp và cần thời gian dài.
Từ những lý giải trên, lựa chọn đề tài: “Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghệ cao từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn chính sách công là xuất phát từ thực tiễn của thành phố Đà Nẵng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
– Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách thu hút FDI vào các KCNC, luận văn phân tích chính sách thu hút vốn FDI vào KCNC từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, tập trung vào việc thực hiện chính sách này và từ đó đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách thu hút FDI vào KCNC Đà Nẵng trong thời gian tới.
– Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thu hút vốn FDI vào các KCNC nói chung, KCNC Đà Nẵng nói riêng, tìm hiểu kinh nghiệm về chính sách thu hút FDI vào KCNC.
+ Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCNC tại thành phố Đà Nẵng;
+ Đề xuất hoàn thiện các giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCNC tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu
Chính sách thu hút vốn FDI vào KCNC, cụ thể là nghiên cứu các luật, nghị định, văn bản, quy định việc thu hút vào KCNC và việc thực hiện các chính sách này.
+ Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu vào các KCNC trên cả nước và tại thành phố Đà Nẵng.
+ Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2014 đến tháng 12/2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước.
Ngoài ra, quá trình thực hiện đề tài có sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nhằm tận dụng tính hợp lý và ưu thế của từng phương pháp, bao gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, tham khảo trực tiếp ý kiến các cơ quan quản lý nhà nước và từ kinh nghiệm thực tế của bản thân trong quá trình công tác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
– Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tình hình thu hút vốn FDI vào Khu công nghệ cao trên cả nước và Khu Công nghệ cao Đà Nẵng nói riêng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, và cạnh tranh khốc liệt trong việc thu hút FDI .
– Tìm ra những giải pháp góp phần thu hút nguồn vốn FDI vào KCNC Đà Nẵng tăng cả về chất lượng và số lượng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có kết cấu bao gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCNC;
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCNC tại thành phố Đà Nẵng;
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCNC Đà Nẵng.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHỆ CAO
Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngòai (FDI)
Cho đến nay, vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh khái niệm đầu tư nước ngoài.
Từ những khái nhiệm có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngòai như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý …nhằm mục đích thu lợi nhuận”.
Vai trò của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các nhân tố tác động đến thu hút FDI
1.1.2. Những vấn đề lý luận về công nghệ cao
Khái niệm công nghệ cao
Theo Luật Công nghệ cao 2008, Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
Khái niệm khu công nghệ cao
Theo Luật Công nghệ cao 2008, Khu công nghệ cao là nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao.
Khái niệm hoạt động công nghệ cao
Theo Luật Công nghệ cao 2008, Hoạt động công nghệ cao là hoạt động nghiên cứu, phát triển, tìm kiếm, chuyển giao, ứng dụng công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ cao.
Lĩnh vực công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển
Công nghệ thông tin; Công nghệ sinh học; Công nghệ vật liệu mới; Công nghệ tự động hóa.
Sự cần thiết hình thành các khu công nghệ cao
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt của công nghệ cao trên thế giới trong những thập kỷ vừa qua đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, làm cho công nghệ cao trở thành động lực, một trong những yếu tố và điều kiện chủ yếu bảo đảm tốc độ và chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước trong khu vực và trên toàn thế giới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng cuộc sống của nhân dân ở mỗi quốc gia.
Đảng và Nhà nước ta cũng đã và đang dành sự quan tâm ngày càng nhiều cho sự phát triển khoa học và công nghệ, coi phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đồng thời đặc biệt chú trọng việc ứng dụng, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.
a. Huy động các nguồn lực đầu tư, áp dụng đồng bộ các cơ chế, biện pháp khuyến khích, ưu đãi ở mức cao nhất về đất đai, thuế và ưu đãi khác cho hoạt động công nghệ cao nhằm phát huy vai trò chủ đạo của công nghệ cao trong phát triển khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
b. Đẩy nhanh việc ứng dụng, nghiên cứu, làm chủ và tạo ra công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao; hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao;
c. Tập trung đầu tư phát triển nhân lực công nghệ cao đạt trình độ khu vực và quốc tế; áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để đào tạo, thu hút, sử dụng có hiệu quả nhân lực công nghệ cao trong nước và ngoài nước;
d. Khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ cao, đầu tư phát triển công nghệ cao;
e. Dành ngân sách nhà nước và áp dụng cơ chế tài chính đặc thù để thực hiện nhiệm vụ, chương trình, dự án về công nghệ cao, nhập khẩu một số công nghệ cao có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.
– Gia tăng số lượng dự án đầu tư lấp đầy diện tích khu CNC
– Gia tăng quy mô vốn đầu tư của từng dự án
– Nâng cao ý nghĩa tác động của vốn đầu tư khu CNC đến các mặt đời sống kinh tế – xã hội của địa phương.
– Các hoạt động để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1. Lĩnh vực hoạt động của dự án phải thuộc các lĩnh vực công nghệ cao được khuyến khích đầu tư theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28/8/2003 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế Khu Công nghệ cao.
2. Sản phẩm của dự án được sản xuất tại Khu công nghệ cao phải thuộc Danh mục các sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích đầu tư sản xuất do BQL KCNC công bố.
3. Chi cho nghiên cứu – phát triển của dự án.
4. Số lao động có bằng đại học trở lên trực tiếp tham gia nghiên cứu – phát triển của dự án phải đạt ít nhất 5% tổng số lao động của dự án.
5. Dây chuyền công nghệ của dự án phải đạt trình độ tiên tiến, đảm bảo các yêu cầu sau: sản xuất trên dây chuyền được chuyên môn hóa và tổ chức theo phương pháp tự động hóa, trong đó có ít nhất 1/3 (một phần ba) số lượng thiết bị tự động được điều khiển theo chương trình; được bố trí trong không gian làm việc đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam.
6. Hệ thống quản lý chất lượng của dự án phải đạt các tiêu chuẩn quốc tế chuyên ngành (ví dụ như ISO 9000/2001, CMM hoặc GMP, v.v.); phải áp dụng hệ thống quản lý doanh nghiệp bằng máy tính.
7. Dự án phải tuân thủ các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về môi trường trong lĩnh vực hoạt động của dự án theo quy định của pháp luật Việt Nam.
a. Khu công nghệ cao Hòa Lạc
b. Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh
Môi trường kinh tế, chính trị – xã hội
Cơ chế chính sách và thủ tục hành chính
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội
Nguồn nhân lực
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
VÀO KHU CÔNG NGHỆ CAO TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
a. Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng (GPMB)
b. Công tác đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
– Công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ phần mềm tin học.
– Công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thủy sản và y tế.
– Công nghệ vi điện tử, cơ điện tử và quang điện tử, tự động hóa và cơ khí chính xác.
– Công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano.
– Công nghệ môi trường, công nghệ năng lượng mới.
– Một số công nghệ đặc biệt khác.
– Chính sách của Thành phố Đà Nẵng trong việc thu hút đầu tư vào KCN cao Đà Nẵng được thực hiện theo Quyết định số 36/2013/QĐ-UBND ngày 13/11/2013 về viêc Quy định Chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư vào Khu công nghệ cao Đà Nẵng, trong đó
a. Chuẩn bị mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật dùng chung của KCNC Đà Nẵng
b. Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
c. Ưu đãi Giá thuê đất
d. Tiền sử dụng hạ tầng và tiền xử lý nước thải
e. Ưu đãi về tiền sử dụng hạ tầng
f. Ưu đãi về thuế
Nhà đầu tư được hưởng đầy đủ các chính sách ưu đãi về thuế cho dự án đầu tư vào Khu công nghệ cao theo quy định pháp luật hiện hành.
g. Thuận lợi trong thủ tục giao đất, cho thuê đất
1. BQL KCNC Đà Nẵng là đầu mối tiếp nhận, hướng dẫn nhà đầu tư các thủ tục về: giao đất, cho thuê đất, giao mặt bằng và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
2. Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các dự án đầu tư vào KCNC Đà Nẵng.
h. Chính sách hỗ trợ đầu tư
Hỗ trợ vay vốn
k. Các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
l. Một số việc BQL KCNC Đà Nẵng đã làm để thu hút vốn FDI vào KCNC Đà Nẵng
Trong 3 năm qua, thành phố đã tổ chức các đoàn xúc tiến đầu tư trực tiếp tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan. Các hoạt động này đã mang lại những kết quả khả quan trong việc quảng bá rộng rãi về KCNC đến các thị trường trọng điểm thu hút đầu tưu và các nhà đầu tư.
- Từ khi thành lập đến nay, BQL KCNC đã tiếp đón và làm việc với 102 đoàn trong và ngoài nước đến tìm hiểu môi trường đầu tư để tìm kiếm cơ hội đầu tư, hợp tác; trong đó, riêng 9 tháng đầu năm 2015, có 32 đoàn đến làm việc tại BQL KCNC. Có thể kể đến Công ty Continental AG – Đức (sản xuất linh kiện ô tô), Công ty Hareon Solar – Trung Quốc, chi nhánh Hoa Kỳ (sản xuất tấm năng lượng mặt trời), Công ty Cypress Perform – Hoa Kỳ (sản xuất chip điện tử), Công ty Điện tử Samsung Việt Nam, Tập đoàn Hàng không Vũ trụ Châu Âu (EADS), Công ty Năng lượng mặt trời – Hà Lan…
Tính đến tháng 11/2015, BQL KCNC đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 02 dự án FDI sản xuất CNC với tổng vốn đầu tư 61,78 triệu USD (100% vốn Nhật Bản):
+ Dự án Tokyo Keiki Precision Technology, Chủ đầu tư là Công ty Tokyo Keiki (Nhật Bản), đầu tư trong lĩnh vực:: Sản xuất sản phẩm và linh kiện van chuyển mạch điện từ và bơm cánh quạt áp lực cao, với tổng vốn đầu tư là 40 triệu USD, diện tích thuê đất 03ha.
+ Dự án Niwa Foundry Việt Nam, Chủ đầu tư là Công ty Niwa Foundry (Nhật Bản), đầu tư trong lĩnh vực: Sản xuất sản phẩm và vật liệu đúc dùng trong các bộ phận thủy lực, các bộ phận có độ chính xác cao, với tổng vốn đầu tư là 21,78 triệu USD, diện tích thuê đất 02ha.
– BQL KCNC đang tiếp nhận và thẩm tra công nghệ Dự án sản xuất tấm pin mặt trời màng mỏng với tổng vốn đầu tư 110 triệu USD, diện tích thuê đất 10ha. Dự kiến sẽ cấp Giấy chứng nhận đầu tư cuối năm 2015.
- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tại KCN cao Đà Nẵng hiện nay
– Dự án Tokyo Keiki Precision Technology đã triển khai xây dựng nhà xưởng tại KCNC vào đầu tháng 9/2014 và tháng 4/2015 đã hoàn thành và đưa vào hoạt động.
– Dự án Niwa Foundry Việt Nam triển khai xây dựng nhà xưởng tại KCNC vào đầu năm 2015. Hiện nay nhà đầu tư đang làm thủ tục điều chỉnh dự án nâng vốn đầu tư lên 30 triệu USD, diện tích thuê đất lên 03ha.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
– Xu hướng vận động của FDI thế giới khủng hoảng kinh tế khiến dòng vốn FDI đi vào các nước trên toàn cầu giảm, tình trạng thoái vốn ngày càng xảy ra thường xuyên. Các nước mạnh về đầu tư FDI thì hiện cũng đang nỗ lực để kéo nguồn vốn này quay về đầu tư trên chính nước mình. Và hiện các nước thuộc thị trường mới nổi đang là điểm đến của FDI.
– Xu hướng vận động của FDI Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO, dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam với tốc độ mạnh mẽ. Tính từ năm 2007 đến năm 2009, Việt Nam đã thu hút được 4.098 dự án với tổng vốn đăng ký 114,15 tỷ USD. Tuy nhiên đến năm 2000, nguồn vốn này qua đầu giảm mạnh chỉ còn 173 dự án. Xu hướng giảm tiếp tục kéo dài cho đến năm 2012. Nhiều nhà máy của doanh nghiệp FDI đã phải đóng cửa hoặc di chuyển sang các nước khác trong khu vực như Sony, Toshiba…Trong thời gian đến, xuất hiện xu hướng các nhà đàu tư Nhật Bản và Hàn Quốc muốn chuyển vốn đầu tư sang các nước khác, trong đó có Việt Nam.
– Môi trường đầu tư trong nước: gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất và lạm phát tăng cao.
– Môi trường đầu tư của Đà Nẵng
Đà Nẵng là một thị trường đầy tiềm năng. Ngoài ra, qua cảng Đà Nẵng, các doanh nghiệp có thể hướng tới những thị trường lớn hơn như Đông Á, Châu Âu hay Châu Mỹ.
– Các đối thủ cạnh tranh: 02 khu công nghệ cao ở hai đầu đất nước. Hai đối thủ này có lợi thế lớn so với KCNC Đà Nẵng là cả hai khu công nghệ cao này nằm ở hai cực có trình độ phát triển cao nhất của cả nước, có nhiều điểu kiện để phát triển công nghệ cao. Nguồn nhân lực cũng là một yếu tố đang rất được các nhà đầu tư coi trọng, không chỉ về số lượng mà còn ở chất lượng và tính bền vững.
Thuận lợi
+ Vị trí địa lý: gần trung tâm thành phố, có cảng biển, sân bay v.v…
+ Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng;
+ Sự ổn định chính trị;
+ Có nhiều chính sách ưu đãi khi đầu tư vào Khu CNCao Đà Nẵng;
+ Sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo thành phố và sự phối hợp, hỗ trợ của các sở, ngành có liên quan.
Khó khăn
+ Khó khăn về nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội;
+ KCN cao Đà Nẵng được triển khai đúng vào thời điểm suy thoái kinh tế toàn cầu nên làm cho hoạt động thu hút FDI giảm, ảnh hưởng không nhỏ đến việc huy động nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút FDI vào Khu CNC Đà Nẵng;
+ Hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư chưa cao;
+ Chưa hiểu rõ thế nào là công nghệ cao;
+ Ban quản ký KCN cao đang trong quá trình hình thành nên chưa có nhiều kinh nghiệm;
+ Nguồn nhân lực tuy dồi dào nhưng chất lượng chuyên môn, tay nghề còn hạn chế;
+ Ngành công nghiệp phụ trợ;
Nguyên nhân chính là khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và ngành công nghiệp phụ trợ trong khu vực chưa triển khai đồng bộ và kịp thời, nguồn nhân lực trong lĩnh vực CNC còn hạn chế, kinh phí cho công tác xúc tiến đầu tư quá hạn hẹp.
Một số tồn tại, hạn chế
So với các địa phương khác trong cả nước, số lượng các dự án đầu tư và tổng số vốn đăng ký đầu tư vào Đà Nẵng chưa cao.
Phần lớn các doanh nghiệp có vốn FDI trong lĩnh vực sản xuất có qui mô nhỏ và vừa, thâm dụng lao động và năng lượng, hàm lượng khoa học – công nghệ thấp. Cơ cấu thu hút FDI hiện nay chưa bền vững và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Đà Nẵng trở thành thành phố công nghệ cao và thành phố môi trường.
Phương pháp tiến hành XTĐT, tiếp cận nhà đầu tư chưa thực sự tạo được “sự khác biệt” và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp.
Chưa tạo được mối quan hệ hợp tác hiệu quả với các tổ chức phát triển quốc tế.
Chưa có các nghiên cứu mang tính chiến lược về xu hướng đầu tư, mở rộng sản xuất của các các nhà đầu tư nước ngoài để trực tiếp trao đổi, gặp gỡ và đón đầu.
– Trong giai đoạn ngắn (2010-2015), cần tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng, phát triển năng lực nghiên cứu và đào tạo trên nền tảng hiện có của một số cơ sở đang tồn tại
– Trong giai đoạn trung hạn (2015-2020), bắt đầu triển khai việc xây dựng các cơ sở ươm tạo CNC, và doanh nghiệp CNC tại địa điểm mới của Khu đã được xác định ở ngoại vi thành phố.
– Có thể mở rộng và hoàn chỉnh các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, ươm tạo CNC và doanh nghiệp CNC trong cả KCNC mới và các cơ sở vệ tinh trước đó đã tổn tại trong thành phố.
– Cần phát triển và khai thác tốt các mạng lưới liên kết.
– Liên kết hợp tác chia sẻ nguồn lực và xây dựng các hướng ưu tiên với các KCNC khác và các trung tâm nghiên cứu-đào tạo trong nước.
– Lựa chọn một số đối tác chiến lược hoặc nhà đầu tư lớn (chủ đạo) để làm đầu tàu lôi kéo các nhà đầu tư khác.
– Tập trung nguồn vốn và các điều kiện cần thiết để thực hiện công tác thu hút đầu tư. Cố gắng thu hút ít nhất 10 dự án đầu tư trong giai đoạn 2015-2020.
– Phân theo vị trí địa lý: Các nhà đầu tư đến từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore.
– Phân theo quy mô: tập trung thu hút các tập đoàn quốc tế lớn như IBM, Intel…
– Phân theo ngành ưu tiên: trước mắt thu hút các nhà đầu tư xây dựng hạ tầng, đồng thời thu hút các doanh nghiệp công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ phần mềm tin học là lĩnh vực Đà Nẵng có thế mạnh, tiếp sau đó là các doanh nghiệp thuộc các ngành ưu tiên thu hút đầu tư như quy hoạch.
– Xây dựng hình ảnh một KCNC với cơ sở hạ tầng hoàn thiện, cơ chế linh hoạt, có lợi thế về nguồn lao động dồi dào, có trình độ cao và có tính ổn định.
– Về cơ sở hạ tầng. Huy động mọi nguồn lực để đầu tư thực hiện quy hoạch, xây dựng hạ tầng đồng bộ;
– Về thủ tục:
+ Hoàn thiện quy trình thủ tục liên quan đến đầu tư vào KCNC mang tính ổn định theo hướng dài hạn. Nâng cao chất lượng giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa tại các cơ quan có liên quan.
+ Công khai chính sách ưu đãi đầu tư và quy trình, trình tự thực hiện thủ tục, hồ sơ;
+ Triển khai dịch vụ công phục vụ doanh nghiệp, nhà đầu tư;
+ Thường xuyên nâng cao chất lượng chuyên môn, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức trong BQL;
+ Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp công nghệ cao.
– Hoàn thiện chính sách ưu đãi, đặc biệt là chính sách ưu đãi về thuế đối với các doanh nghiệp FDI.
– Xây dựng bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của BQL KCNC
– Xây dựng quy chế, hướng dẫn quản lý quy hoạch, kiến trúc và bảo vệ môi trường trong KCNC
– Xây dựng cơ chế hỗ trợ đặc thù về huy động vốn đầu tư xây dựng và chính sách ưu đãi đầu tư đối với KCNC (theo kết luận 75-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI và chỉ đạo của UBND thành phố
– Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO TCVN 9001: 2008 vào hoạt động của BQL KCNC.
– Đưa ra các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư hợp lý, mềm dẽo và có tính ổn định cao.
– Nghiên cứu đề xuất ban hành những chính sách ưu đãi FDI mang tính đặc thù và khuyến khích mạnh hơn cho các dự án lớn.
– Đồng hành hỗ trợ nhà đầu tư.
– Thiết lập kênh đối thoại, phản hồi thông tin.
– Chăm sóc các nhà đầu tư chu đáo
– Tạo quỹ đầu tư nhằm hỗ trợ cho các nhà đầu tư trong việc thành lập và phát triển các dự án đầu tư.
– Theo dõi, nghiên cứu, học tập kinh nghiệm thu hút đầu tư để đề xuất những chính sách ưu đãi, hỗ trợ hấp dẫn hơn;
– Xây dựng tiêu chí ưu tiên lựa chọn nhà đầu tư, dự án đầu tư
– Tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận tín dụng.
– VCCI, Trung tâm xúc tiến đầu tư;
– Các phòng công nghiệp và thương mại của các nước;
– Các hiệp hội;
– Các tổ chức phát triển quốc tế như JETRO, JICA, KOTRA…
– Hoàn thiện bộ công cụ phục vụ xúc tiến đầu tư như website, ấn phẩm, giới thiệu bằng các thứ tiếng khác nhau như Anh, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc.
– Tổ chức tuyên truyền, quảng bá về môi trường đầu tư, chính sách đầu tư dưới nhiều hình thức.
– Công tác vận động, xúc tiến phải làm nổi bật hình ảnh của KCNC. Nâng cao chất lượng các ấn phẩm tuyên truyền, tài liệu quảng bá. Cập nhật trang thông tin điện tử…
– Với các tổ chức trung gian: Tạo mối liên hệ trao đổi thông tin với các bộ, ngành trung ương. Phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng xúc tiến cho cán bộ.
– Thiết lập quan hệ và liên kết trao đổi thông tin với các tổ chức, cơ quan có chức năng xúc tiến đầu tư.
– Hiện nay, việc thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực CNC đang là ưu tiên hàng đầu tại thành phố Đà Nẵng.
Ngoài những giải pháp và kiến nghị nêu trên, trong tương lai, chúng ta còn có thể dựa vào một số nguồn hỗ trợ khác như các kiều bào, các doanh nghiệp, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài bằng cách liên lạc thường xuyên để tạo dựng mối quan hệ bền vững và thông qua những tổ chức, cá nhân đó tìm kiếm thêm được những thông tin về những nhà đầu tư đang tìm kiếm những cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài.
– Liên kết với các trường đại học nước ngoài đào tạo các chuyên ngành công nghệ cao.
– Tăng cường chính sách thu hút các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực công nghệ cao.
– Liên kết với các doanh nghiệp sử dụng lao động để đào tạo nghề phù hợp với yêu cầu sử dụng của các doanh nghiệp.
– Khuyến khích các doanh nghiệp ĐTNN đào tạo nghề cho người lao động tại doanh nghiệp.
– Quy định theo hướng tạo thuận lợi hơn đối với việc cấp phép cho lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn, trình độ, công nghệ cao mà lao động trong nước chưa đáp ứng được; đồng thời, có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đào tạo lao động trong nước thay thế đối với các vị trí nghề nghiệp này.
– Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với lao động làm việc trong các dự án ĐTNN.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư sau cấp phép; tập trung vào việc đẩy mạnh vốn giải ngân, giảm khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện.
– Tổ chức thu thập và tổng hợp các ý kiến đề xuất của các doanh nghiệp FDI để kịp thời báo cáo UBND thành phố xem xét giải quyết;
– Tổ chức các buổi Hội thảo, tập huân để tuyên truyền các văn bản pháp luật, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh sau cấp phép;
– Phối hợp với các đơn vị, cơ quan theo dõi, giải quyết kịp thời các vấn đề đình công, bãi công của công nhân trong Khu Công nghiệp, đặc biệt là trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động.
KẾT LUẬN
Trong những năm qua, thành phố Đà Nẵng đã tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, các nguồn lực để kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào thành phố Đà Nẵng, đặc biệt là vào Khu Công nghệ cao Đà Nẵng. Tuy nhiên, kết quả thu hút đầu tư FDI vào thành phố trong thời gian qua chưa cao. Việc thu hút đầu tư vào Khu Công nghệ cao còn hạn chế về số dự án cũng như giá trị đầu tư là do tình hình khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; ngành công nghiệp phụ trợ trong khu vực chưa triển khai đồng bộ và kịp thời; nguồn nhân lực trong lĩnh vực CNC còn hạn chế, kinh phí cho công tác xúc tiến đầu tư quá hạn hẹp. Do đó, luận văn “Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghệ cao từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” được thực hiện với mong muốn là chỉ ra được những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư FDI vào khu công nghệ cao; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện, tăng cường việc thu hút vốn đầu tư FDI vào Khu Công nghệ cao Đà Nẵng trong thời gian tới ngày càng tăng cả về số lượng, lẫn chất lượng.
Hy vọng đề tài này sẽ gợi mở thêm một số nội dung cần thiết cho việc hoàn thiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCNC Đà Nẵng; đồng thời với kết quả thu hút vốn FDI vào thành phố Đà Nẵng ngày càng cao sẽ giúp cho thành phố Đà Nẵng trở thành một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển khoa học – kỹ thuật của thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả khu vực miền Trung – Tây Nguyên nói chung.
Tuy nhiên với năng lực, khả năng của tôi có hạn và thời gian thực hiện còn hạn chế nên Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định. Tôi kính mong thầy cô quan tâm góp ý để tôi có thể chỉnh sửa hoàn chỉnh Luận văn, đồng thời giúp tôi có thêm kinh nghiệm, kiến thức trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ cho công tác của tôi trong thời gian sắp đến./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\CHINH SACH CONG\NGUYEN THI THU TRANG\New folder


