Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

MỞĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Luật các tổchức tín dụng 2010 rađời đãchính thức ghi nhận tổchức tài chính vi mô là một loại hìnhtổ chứctín dụng, đồng thời giao trách nhiệm cho Ngân hàng Nhà nước ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành một số điều quy địnhvềloại chủ thểnày. Tínhđến nay, Luật nàyđãcó hiệu lực đượchơn bốn năm song chưa hề có một văn bản nào về tài chính vi mô được Ngân hàng Nhà nước ban hành đểhướng dẫn thi hành. Trên thựctế, tất cảcác văn bản đangđượcsửdụng đểđiều chỉnhđến các tổ chứctài chínhvi mô đều đượcban hành vào thờiđiểm trướcnăm 2010 và đượcdựatrên nền tảngcủaLuật cáctổchức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật cáctổchức tín dụng năm 2004. Thực trạng pháp luật này đã tạo ra những bất cập lớn trong việc điều chỉnhcác vấn đềliên quan đến

tổchức tài chính vi mô hiện nay – kể từ việc tạo lập tổchức mới cho đến việc thực hiện các hoạt động quản trị, điều hành cũng như hoạt động kinh doanh. Cũng chính vì lý do này nên một trong những giải pháp được nêu lên trong“Đềán xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi môđến năm2020” ban hành kèm theo Quyết định số2195/QĐ-Ttg ngày 6/12/2011 củaThủ tướngChínhphủlà: “Xâydựng môi trường pháp lý đồng bộ, phù hợp với đặc thù của hoạt động tài chính vi mô”.

Để có thể thực hiện được giải pháp trên, rất cần có những nghiên cứu chuyên sâu dưới giác độ pháp lý về tài chính vi mô cũng như tổ chức tài chính vi mô nhằm tìm ra những cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn vững chắc làm nền tảng cho việc xây dựng pháp luật. Trên thực tế, mặc dù đã du nhập vào Việt Nam từ vài chục năm trước song tài chính vi mô ít nhận được sự quan tâm từ phía các nhà khoa học pháp lý, biểu hiện ở việc có khá ít những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này.

Với mong muốn tìm ra nhữngbấtcập của các pháp luật hiện hành về tổ chức tài chính vi mô góp phần xây dựng cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho việc khắc phục nhữngbấtcập đó, nghiêncứusinh đã lựa chọn đề tài: “Pháp luậtvềtổ chức tài chính vi môở ViệtNam”để thực hiệnLuận án tiến sĩ luật học của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trướcthực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô và nhu cầu phát triển ngành tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, để phục vụ cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững, nghiên cứu sinh xácđịnhmụcđích nghiên cứu đề tài “Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam” là nhằm:

Thứ nhất, Đánh giámức độphù hợp, chưa phùhợp củacác quy định pháp luật Việt Nam về tổ chức tài chính vi mô đối với tình hình thực tiễn của ngành tài chính vi mô Việt Nam;

Thứ hai, Xác định rõ ràng cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy địnhcủapháp luật về tổ chức tài chính vi mô hiện hành,

tạo tiền đềcho việc xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;

Thứ ba, với những điều kiện, hoàn cảnh thựctếcủa Việt Nam hiện nay, luậnán phải đề xuất đượcnhững giải pháp, kiến nghị có đủ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn đểxây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổchức tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay phù hợp với mục tiêu xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô ởViệt Nam.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đểđạt đượccác mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

Thứ nhất, phân tích, đánh giá và làm rõ vai trò của tài chính vi mô nói chung và tổ chức tài chính vi mô nói riêng đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;

Thứ hai, làm rõ các khái niệm có liên quan như tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô, pháp luật về tài chính vi mô đồng thời xác địnhrõ sựcần thiết phải tồn tại các quy định của pháp luật điều chỉnh đối với các hoạt động tài chính vi mô cũng như các tổ chức tài chính vi mô;

Thứ ba, phân tích một cách khoa học, đầy đủ và có hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnhđến việcthành lập, giải thể, phá sản một tổ chức tài chính vi mô nhằm tìm ra những điểm hạn chế, bất cập của các quyđịnhnày với thực trạng hiện nay của ngành tài chính vi mô;

Thứ tư, xác định rõ ràng khung pháp luật cho hoạt động kinh doanh của các tổ chứctài chính vi mô, so sánh khung pháp luật này với các hành vi kinh doanh của các chương trình, dự án đang cung cấp dịch vụ tài chính vi mô để qua đó xác định những hợp lý cũng như bất hợp lý của khung pháp luật này;

Thứnăm, trên cơsởnhữngbấtcậpcủa thực trạng pháp luậtvề tổchức tài chính vi mô hiện nay và thực tiễn ngành tài chính vi mô Việt Nam đòi hỏi, phảiđề xuấtđược nhữnggiải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành để điềuchỉnh có hiệu quả hơn đối với các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu củaluận án đượcxácđịnhlà các văn bản pháp luật hiện hành về tổ chức tài chính vi mô và thực tiễn tổ chức và hoạt động của các tổchức tài chính vi mô tại Việt Nam.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu củaluận án đượcxác định làcác vấn đềpháp lý đặt ra đối với cáctổ chứctài chính vi mô Việt Nam bao gồm: (i)vấn đềthành lập, tổ chức

lại; phá sản và giải thể tổ chức tài chính vi mô; (ii) vấn đềquản trị, điều hành tổ chức tài chính vi mô và (iii) hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô.

Thời gian nghiên cứu được xác địnhchủ yếu từnăm 2005 – thời điểm Việt Nam chính thức có văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnhđến tổchức tài chính vi mô – đến nay (2015).

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận được sửdụng đểnghiên cứu là phương pháp luận Mác –Lênin.Cụ thể, vấn đềnghiên cứu sẽđượcxem xét dựatrên quanđiểmcủaChủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật.

Bên cạnh đó, quan điểm đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước ta hiện nay cũng được sử dụng làm phương pháp luận để tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu.

4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận án

Trên cơ sở phương pháp luận nêu trên, luận ánsửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Phương pháp phân tíchđượcsửdụng khi đánh giá, bình luận các quy định pháp luật, các tình huống thực tiễn làm cơ sở cho những kết luận khoa học. Phương pháp này đượcsửdụng chủ yếu tại chương 2 (nhằm làm rõ những cách hiểu về các khái niệm mà luận án cần tìm hiểu và giải thích) và chương 3 (chủ yếu ở mục 3.3 nhằm đánh giávềthực trạng pháp luật về tổchức TCVM ở Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay)

Phương pháp tổnghợpđượcsửdụng khi đánh giá nhằm rút ra những kết luận tổng quan, những quan điểm mang tính cá nhân và là cơ sở đểđưaracác đềxuất, kiến nghị. Phương pháp này cũng đượcsửdụng trải đều trong các chương của luận án nhằm tổng hợp những nội dung đã phân tích nhằm đưa rađượcnhững kiến thức mang tính khái quát vàcảnhững nhận địnhmang tính cá nhân vềvấn đềnghiên cứu.

Phương pháp luậthọcso sánhđượcsửdụng khi phân tích, đánh giá các quyđịnhcủapháp luật hiện hành củaViệt Nam trong mối tương quan với quyđịnh pháp luật của các nước nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sự khác biệt trong các quy địnhcủapháp luật Việt Nam hiện hành. Phương này chủ yếu đượcsửdụng ởchương 2 (mục 2.3) nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng và thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức TCVM và chương 4 (mục 4.2) nhằmđưara những kiến nghị, giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật vềtổ chức TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Phương pháp phân tích logic quy phạm, đượcsửdụng khi đánh giá thực trạng pháp luật, xem xét vềtính thống nhất hoặc phát hiện mâu thuẫn trong nội dung quyđịnhpháp luật vềTCVM. Phương pháp nàyđượcsửdụngở chương 2

(mục 2.3) chương 3 nhằm phân tích, đánh giá các quy địnhcủapháp luật hiện hành nhằm tìm ra những điểm hợp lý và chưahợp lý đểtìm ra phương hướng khắc phục,đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Phương pháp nghiên cứu liên ngành, đượcsửdụng khi nghiên cứu, đánh giávề vai trò củatổchức TCVM đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo tại các mục 2.1

và 2.2 (xã hội học–luật học); vềxây dựng khung pháp luật cho hoạt độngkinh

doanh của các tổ chức TCVM tại mục 3.3 (luật học –kinh tế học). 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, luận án đãlàm rõ mộtsốkhái niệmvốnđangđượctiếp cận rất khác nhau trong thực tế như tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô, pháp luật về tài chính vi mô, pháp luật về tổ chức tài chính vi mô.

Thứ hai, làm rõ bản chất và nêu lên những đặc trưng pháp lý cơ bản của tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô;

Thứ ba, nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay qua đó xây dựng cơ sở lý luận của lĩnh vực pháp luật này;

Thứ tư,đềxuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật vềtổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Với tư cách là một nghiên cứu chuyên sâu dưới giác độ luật học, luận án đãphân tích, đánh giámột cách đầy đủvà hệthống đối vớithực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam quađó,làm rõ cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn của lĩnh vực pháp luật này. Chính vì vậy, luận án đã thể hiện được ý nghĩa khoa học củamình khi những kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực pháp luật này.

Ngoài ra, về mặt thực tiễn,những kiến nghị đượcđưara trong luận án được xây dựng trên cơ sở lý luận chặt chẽ và có kiểm chứng thực tế nên hoàn toàn có thểđượcsửdụng như một nguồn tham khảo tincậytrong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tài chính vi mô cũng như vềtổchức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

7. Cơ cấu của luận án

Đểhoàn thành được nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, ngoài phần lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu thamkhảo, Luận án sẽ đượcbố cục thành bốn (04) chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận của pháp luật về tổ chức tài chính vi mô

Chương 3: Thực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 4: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam
Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tài chính vi mô và pháp luật về tổ chức tài chính vi mô

1.2 Cơ sở lý thuyết của luận án

1.2.1 Lý thuyết sử dụng để nghiên cứu

Để thực hiện việc nghiên cứu, luận án sử dụng một số lý thuyết sau:

Thứ nhất, Học thuyết của Mác về kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa;

Thứ hai, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Phát triển kinh tếđất nướcđượcnêu lên tại Hội nghị lần thứ 9 (mở rộng) của Ban chấp hành Trung ươngĐảngLao động Việt Nam ngày 24/4/1956;

Thứ hai, các quan điểmcủaĐảngvà Nhà nước về công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, kết hợphài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội;

Thứ ba, quan điểmcủaĐảngvà Nhànướcvềđảmbảoan sinh xã hội vàgiảm nghèo bền vững;

Thứ tư, quan điểm của Nhà nước về xây dựng và phát triển hệ thống TCVM ởViệt Nam theo Quyết định 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ;

Thứ năm, lý thuyết về doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp;

Thứ sáu, lý thuyết về TCVM với tư cách là một công cụ xóa đói nghèo màMohamat Yunus đã khởi xướng;

Thứ bảy, lý thuyếtvềvận hành thị trường TCVM vớitính cách là mộtbộ

phận của thị trường tài chính – NH và sựtham giacủaNHNN Việt Nam vào thịtrường này.

1.2.2 Các câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi lớn mà luận án cần trả lời được bao gồm:

Thứ nhất, TCVM là gì? TCVM có thểđượcthực hiện bởi những chủ thể nào trong xã hội? Vai trò của TCVM đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?

Thứ hai, tổ chức TCVM là gì? Tổ chức TCVM có gì khác biệt so với các chủthể không phải là tổ chức TCVM nhưng có thực hiện hoạt động TCVM?

Thứba, hiện nay pháp luật đangđiềuchỉnh nhưthếnàođốivớicáctổchức

18

TCVM ?

Thứ tư, thực trạng pháp luật điều chỉnhđối với cáctổ chứcTCVM ở Việt Nam hiện nay có thực sự phù hợp và đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn?

Thứ năm, để hoàn thiện pháp luật về tổ chức TCVM cần phải thực hiện những giải pháp nào? Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của những giải pháp đó là gì?

1.2.3 Giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên cở sở lý thuyết và những câu hỏi nghiên cứu lớn nêu trên, luận ánđưaragiảthuyết nghiên cứu là pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay chưa thựcsựphù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn ngành TCVM ở Việt Nam. Các quy địnhcủapháp luật còn tồn tại nhiều bất cập, chưa thựcsựtạo rađượcmột môi trường thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các tổ chức TCVM nói riêng vàngành TCVM Việt Nam nói chung.

1.2.4 Kết quả nghiên cứu

Sau khi hoàn thành, luận án sẽmô tảđượcbức tranh toàn cảnh của pháp luật về tổ chức TTCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay quađó,nêu lên những hạn chế, bất cập đangtồn tại và đềxuất những giải pháp khắc phục nhằm làm cơ sở cho việc hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này. Cụ thể, dự kiến luận án sẽ có được những kết quả nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, làm rõ và phân biệt rạch ròi khái niệm TCVM và tổ chức TCVM; Thứ hai, phân tích và đánh giá các quy địnhcủapháp luật hiện hành về tổ

chức TCVM để qua đó tìm ra những hạn chế, bất cập đang tồn tại;

Thứ ba, trên cơ sở nhữnghạn chế, bất cập đã đượcnêu lên, luận án đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy địnhcủapháp luật về tổ chức TCVM nhằm đáp ứng những đòihỏi củathực tiễn ngành TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Kếtluận chương 1

Mặc dù mới chỉ có vài chục năm tồn tại và phát triển song TCVM đã khẳng địnhđượcvai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động xóa đói giảm nghèo một cách bền vững ở nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó, lĩnh vực này cũng thểhiện đượcnhững ưu điểm của mình so với các phương thức xóa đói nghèo mang

19

tính truyền thống trước đây. Chính bởi ý nghĩa xãhội lớnlao này nên TCVMđã nhận đượcsự quan tâmcủacác nhà khoa học trên thế giới nhằm tìm ra giải pháp thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ củalĩnh vực này. Ở Việt Nam, thời gian gần đây những nghiên cứu vềTCVM xuất hiện ngày càng nhiều song phần lớn đều được thực hiện dưới giác độ kinhtếhọc và chủ yếu cũngchỉđềcập đến các hoạt động TCVM. Một nghiên cứu có tính toàn diện, hệthống đối với pháp luật về tổchức TCVM ở Việt Nam nhằm tìm giải pháp hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này, cho đến nay vẫn chưađượcthực hiện. Vì vậy, luận án đãxác địnhrõ hướngnghiên cứu thông qua những câu hỏi nghiên cứu cần phải giải đáp và dự kiến lựa chọn những phương pháp nghiên cứu thích hợpđểgiải quyết những vấn đềđãđượcxác định trong phạm vi nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu: tìm ra những điểm bất cập củacác quyđịnh hiện hành vềtổ chức TCVM vàđềxuất các giải pháp nhằm hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Những kết quả đã đạt được trong chương 1 bao gồm:

Thứ nhất, tổng hợp được tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài của luận án, bao gồm cả những nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài. Trên cơ sở này, xác định những nội dung luận án dự định nghiên cứu làchưa đượcđềcập một cách hệ thống trong các nghiên cứu trước đây;

Thứ hai, xácđịnh rõcơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu và trên cơsở đóđặtra các câu hỏi nghiên cứu lớn để xác định mục tiêucần đạtđược của luậnán.

20

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ

2.1 Khái quát chung về tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của tài chính vi mô

2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của tài chính vi mô trên thế giới

Như chúng ta đã biết, hoạt động tín dụng đã xuất hiện từ khá lâu và có những đóng góp nhất định với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Tín dụng tác động đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế nhưng có lẽ, hoạt động cấp tín dụng cho khuvựcnông thôn (tín dụng nông thôn) luôn có ý nghĩa xã hội vô cùng lớn vìnó giúp cho những bộ phận có thu nhập thấp của xã hội có cơ hội tiếp cận với các nguồn tài chínhcần thiết đểxúc tiến các hoạt động kinhtếcủamình. Chính bởi lýdo này nên các chương trình tín dụng nông thôn đã thựcsựđượcchú trọng và phát triển mạnh trong khoảng thời gian từ những năm 50 đến những năm 70 củathếkỷtrước. Đặctrưng cơ bản củaloại hình tín dụng này là mang nặng tính bao cấp: khoản vay được cấp cho những người có thu nhập thấp mang nặng tính xã hội khi có mức lãi suất khá thấp. Điều này thực sự rất có ý nghĩađối vớikhách hàng vay vốnbởi họ có đượcnhững nguồn tài chínhnhất địnhvới mức lãi nhỏ đểphục vụcuộc sống bản thân và gia đình. Tuy nhiên, cáctổchức tín dụng cho vay thì rất khó khăn trong việc tìm kiếm lợi nhuận từ những đối tượng khách hàng này: Lãi suất thường thấp hơn lãi suất thị trường và mức độ rủi ro trong việc thu hồi nợ luônởmứccao. Do vậy, có thểthấy, tín dụng nông thôn trong khoảng thời gian này có cách tiếp cận không thực sự bền vững khi không thểtựbảo đảm cho sự tồn tại của chính mình.

Đểđảm bảo sự phát triển bền vững của các chương trình cho vay đối với khu vựcnghèo, đói, mộtcách tiếp cận mới, bền vững hơn so vớitín dụng nông thônđươngđại đãxuất hiện vào cuối những năm 70, dầu những năm 80 củathếkỷtrước: Việc cho vay đối với các đối tượng cần giúpđỡsẽkhông dựa trên nền của sựbao cấp mà dựa trên sự tồn tại và phát triển bền vững của chínhtổchức cho vay vàkhách hàng vayvốnqua việc xácđịnhhoạt động cho vay,kểcảđốivới những khách hàng đặc biệt nghèo, cũng phải là một hoạt động kinh doanh thực thụ – có lợi nhuận – và đó chính là cách tiếp cận của TCVM. Cũng chính vì mục tiêu lợi nhuận luônđượcđặt ra bên cạnh mục đích trợ giúp xã hội nên TCVM thường có mức lãi

21

suất cho vay cao hơn, thậm chí là cao hơn khá nhiều so với các chương trình tín dụng nông thôn khác cósựbao cấp của nhà nước. Mặc dù vậy, trong khoảng thời gian này, TCVM ở một số quốc giavẫn tìm đượccho mìnhmộtchỗ đứng trong nền kinh tế bởi mấy lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đối tượngtiếp cận củaTCVM thường là những người đặcbiệt nghèo trong xãhộinhưng nhữngđiều kiện cần thiết đểcó thểtiếp cận đến các nguồn vốn trợ giúpcủacác chương trình tín dụng nông thôn có sự bao cấp của nhànướclại thường không hội tụđủ(ví dụ nhưđiều kiện về tài sản, điều kiện về sựbảo

lãnh bằng tín chấp của một tổ chức chính trị xãhội…)và vì vậy, họ không thể vayđược từ các chương trình tín dụng nông thôn có sự bao cấp của nhà nước;

Thứ hai, khác với các chương trình tín dụng nông thôncó sựbao cấp của nhà nướckhông thựcsựsát sao với việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả của người vay thì TCVM lại “dạy” cho những người vay vốn biết cách sinh lời từ những đồng vốnvay một cách hiệu quả;

Thứ ba, các chương trình tín dụng nông thôn có sự bao cấp của nhà nước khi thực hiện việc thu nợvẫnáp dụng theo cách thức truyền thống: ai vay, người đó trảvà hầu như không cóbất cứcá nhân nào khác phải có trách nhiệm đối với khoản vayđó thì TCVM thường cho vay đến từng cá nhân nhưnglạigắntrách nhiệm trả nợ đến

từng nhóm người3. Điều này tạo sức ép cho khá nhiềungườikhi trong nhóm có thành viên có khả năng không trả được nợ, buộc họphảitạonhữngđiềukiện có thể để thành viên đó kinh doanh có hiệu quả nhằm đảm bảo cho khả năng trả nợ của mình.

Cách tiếp cận mới về tín dụng dành cho các khách hàng có thu nhập thấp ở khu vực nông thônđãđòi hỏi sự xuất hiện của các thể chế mới – các tổ chức TCVM – đểthực hiện điều này. Những tổ chức TCVM đầu tiên trên thế giới ra đời vào cuối

những năm 70, đầu những năm 80 ở Nam Á (Bangladesh – được cấp phép thành lập năm 1976) sau đó phát triển dần sang Mỹ La tinh, Đông Nam Á và gần đây bắt đầu phát triển sang các quốc gia thuộc Châu Phi, Nam Thái Bình Dương, Trung quốc vàcảở cácquốc gia thuộc Liên Xô cũ. Theo khảo sát của SBP (chương trình cho vay bền vữnghộnghèocủaNHthếgiới – WB), cáctổchức TCVM phát triển nhanh

3 Cácnhóm đượcthiết lập theo khuyến nghị của chính tổ chức TCVM với số thành viên nhóm tùy thuộc vào từng tổchức TCVM và có thể là vài người nhưng cũng có thể lên đến vài chục người/nhóm

22

nhất ở Châu Á (chiếm khoảng 80%), đứngthứ hai là Châu MỹLa tinh (chiếm khoảng 15%) và cuối cũng là các quốc gia Châu Phi (với khoảng 5%). Các tổ chức TCVM tồn tại ở các quốc gia khác nhau có những mô hình tồn tại và hoạt động kháđa dạng song nhìn chung, cáctổchức này đều có những đóng góp đáng kể vào công cuộc xóa đói nghèo của quốc gia và trong một chừng mực nhất định, cũngđảm bảo đượcnhững điều kiện cần thiết để có thểdần trở nên độc lập trướccác nguồn vốn tài trợ ban đầu [80]. Về số lượng các tổ chức TCVM thì cũng khó có thểcó được mộtcon số thống kê chính xác song, cũng theo khảo sát của SBP thì ngay từ năm 1995, chỉ tính riêng những tổ chức TCVM có thời gian tồn tại trên 3 năm với trên 1000 khách hàng thì toàn thế giới cũngđãđạt đến con số 1000 tổ chứcvớikhoảng 46 triệu lượt tiết kiệm và 14 triệu lượt cho vay. Sự lan rộng một cách nhanh chóng của các tổ chức TCVM cả về số lượng tổ chức cũng như phạm vi khách hàngđược phụcvụ là một minh chứng hùng hồn chosựthành côngcủacách tiếp cận mới trong công cuộc xóa đói nghèo trên toàn thế giới trong giai đoạn hiện nay.

Mặc dù hoạt động TCVM ngày càng phát triển mạnh mẽ ở các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, nhưng mô hình tổ chứccủacác chủ thể hoạt động TCVM ở thì không giống nhau hoàn toàn mà trái lại, khá đa dạng và phong phú: ởmộtsố nước, hoạt động này đượcthực hiện bởi cáctổchức TCVM,ở mộtsố khác lại được thực hiện bởihệ thống NH hay hợp tác xã tín dụng và cũng có những nước,

TCVMđượcthực hiện bởi các chương trình, dựán xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, một số mô hìnhtổ chứcthực hiện khá thành công hoạt động TCVM trên thếgiới bao gồm:

Một là, mô hình NH Grameen ở Bangladesh (Grameen Bank): Đây là một tổ chức TCVM nhưng được thành lập dưới dạngmột NH thực thụ nhưng hoạt động theo một cơ chế khác biệt so với các NHTM: không phải tuân theo cơ chế lãi suất trần, không bị ràng buộc bởi các quy địnhcủaHiệp hội NH và bắt buộc khách hàng phải chấp nhận mức lãi suất khá cao (lớn hơn tỷ lệ lạm phát+chi phí vốn) đồng thời

phải có tiền gửi tiết kiệm bắt buộc để thay thế cho tài sản bảo đảm…

Hai là, mô hìnhtổ chức phi chínhphủhoạtđộngTCVM: Ởmô hình này, hoạt động TCVM được thực hiện thông qua các chương trình, dự án của các tổ chức phi chínhphủnhằm giúp xóa đói giảm nghèo. Điển hìnhcủamô hình này làBRAAC của Bangladesh.

23

Ba là, mô hình NH làng: Đây là mô hình mà hoạt động TCVM đượccung cấp đến khách hàng thông qua các NHnhỏở địaphương. Thành công với mô hình này có BRI và BPRs của Indonesia và các Bancomunales ở Costarica;

Bốnlà, mô hình các hợp tác xã tín dụng: Ở mô hình này, hoạt động TCVM đượcthực hiện qua hình thức pháp lý là các hợp tác xã tín dụng. Mô hìnhnày đượcáp dụng khá thành công ở Srilanca và Nam Thái Bình dương. Một biến thể của môhình này là CULT – Hội liên hiệp tín dụng Thái lan, hoạt động theo Luật Hợp tác xã Thái lan;

Năm là, mô hình NH phụcvụ nông nghiệp: Hoạt động TCVM đượcthực hiện thông qua một NH đặc biệt – NH chuyên phục vụ hoạt động nông nghiệp. Điển hình của mô hình này là BAAC ở Thái lan.

Như vậy, TCVM mới thựcsựxuất hiện vào khoảng vài chục năm trở lại đây như là một loại hình tíndụng đểthay thế cho vai trò hỗ trợ những thành phần có thu nhập thấp, thuộc diện đói nghèo trong xã hội có thể thoát nghèo. Tuy vậy, TCVM đãdần khẳngđịnhđượcý nghĩa cũng nhưtầmquan trọngcủanó trong các hoạt động với mục đích xã hội đồng thời cũng khẳng định được hiệu quả trong hoạt động như một lĩnh vực kinh doanh thực thụ. Đây chính làđiểm mấu chốt đểcó thể giải thích cho sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này trong thời gian gần đây.

2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của tài chính vi mô ở Việt Nam

Việt Nam làmột đất nướcvới tỷ lệdân số sống bằng nông nghiệp khá cao.Đa phần trong số những người sinh sống bằng nghề này đều có mức thu nhập thấp và cần phải đượctrợ giúp về mặt tài chính và cách tạo thu nhập. Cũng chính bởi lýdo này mà Nhànướcta đã luôn có những chính sách hỗ trợ người nông dân thông quahoạt động củacác NHTM, NH phục vụ người nghèo (nay là NHCSXH) và các Quỹ tín dụng nhân dân. Trong một chừng mực nào đó, các hoạt động trợ giúp nông thôn Việt Namcủacácđịnhchếtài chính này cũng mang dáng dấp củaTCVM nhưng không thực sự là hoạt động TCVM đích thựcbởi lẽtính bao cấp vẫn luôn hiện diện khá rõ ràng trong các hoạt độngnày. Chođến năm 1987, khi Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Namtổchức Hội nghị khuvựcChâu Á – Thái Bình Dương về“Tạoviệc làm và tăng thu nhập cho phụ nữ” thì ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các dự án “tiết kiệm – tín dụng” cho phụ nữ Việt Nam. Đây cũng là lúc mà các đoàn thể, các tổ chức phi chínhphủchính thức tham gia vào công cuộc chống đói nghèo

24

ở Việt Nam qua các chương trình trợ giúp về mặt tài chính (có hoàn trả) đồng thời dạy chophụnữ Việt Nam biết cách tiết kiệm và tạo thu nhập từ những đồng vốnđược tài trợ, đánh dấu mốc thời điểm TCVM xuất hiện tại Việt Nam.

Qua thời gian, các chương trình trợ giúpcủacác tổ chức phi chínhphủnàyđãdần khẳngđịnhđược vai trò và tầm quan trọng trong công cuộc xóađóinghèo ởViệt Nam và, có những chương trình,dựán hoạt độngthựcsựhiệu quảkhi vừa thựchiện đượcmụctiêu xãhội lại vừađảm bảo đượcsựtồn tại và phát triển bền vững của chính mình khi chẳng những bảo toàn mà còn gia tăngđượcsốvốnđược tài trợ ban đầu. Các chương trình này dần trở nên độc lập về mặt tài chính (nhưng không độc lập về tư cách pháp lý) sovớitổ chứcphi chínhphủlàchủ thểtài trợ tài chính của các chương trìnhđó.Tuy nhiên, một khung pháp luật cho sự tồn tại của các hoạt độngnày chưahềxuất hiện tại Việt Nam chođến trướcnăm 2005, thời điểm có sự xuất hiện của Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09/03/2005 của Chính phủvề tổ chứcvà hoạt động của tổ chức TCQMN tại Việt Nam được ban hành.

Với mong muốn phát triển ngành TCVM ởViệt Nam một cách bền vững, NhànướcViệt Namđãtừngbướcxây dựng và dần hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật nhằm điểu chỉnh có hiệu quả đến hoạt động TCVM.Kết quảlà tính đến 31/12/2014, Việt Nam đã chính thức có batổ chứcTCVM được NHNN cấp phép thành lập và hoạt động. Các tổ chứcnày đều đượchình thành từ sự chuyển đổi các chương trình TCVM củacáctổchức phi chính phủ trướcđây:tổ chức TCVM TNHH một thành viên TYMđượcchuyển đổi từ Quỹ TYM(đượcNHNN cấp phép năm 08/2010); Tổchức TCVM TNHH M7 hình thành từ sựchuyển đổi baQuỹthuộc mạng lưới M7 trước đây (Cấp phép tháng 1/2012) và Tổ chức TCVM TNHH Thanh Hóa được chuyển đổi từ Quỹ phụ nữ Thanh Hóa (Cấp phép tháng 8/2014).

Như vậy, chođếnnăm 2015 việc cungứngdịchvụtài chính NH cho người nghèo ở Việt Nam đang được thực hiện bởi rất nhiều các chủ thể khác nhau bao gồm:

Thứ nhất, NHCSXH Việt Nam – một NH thuộc sở hữu Nhà nước được thành lập nhằm trợ giúp người nghèo trong xã hội. Cũng có quan điểm cho rằng hoạt động của NHCSXH là hoạt động TCVM (vì giá trị khoản tín dụng nhỏ và đối tượng phục vụlàngườicó thu nhập thấp) song theo quyđịnhcủapháp luật Việt Nam, đây không phải là tổ chức TCVM;

Thứ hai, NHHTX và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Loại hìnhchủthểnày

25

cũng thực hiện những hoạt động cung ứng các dịch vụ tài chính NH chođối tượng có thu nhập thấp trong xã hội là chủ yếu (với điều kiện người vay tiền phải là thành viên của Quỹ). Tuy nhiên cũng theo quy định của pháp luật Việt Nam, đây không phải là tổ chức TCVM mà là một loại hình TCTD độc lập;

Thứ ba, cáctổchức TCVM. Như phần trên đã nêu, loại chủ thể cho đến nay mới chỉ có ba tổ chức trên toàn lãnh thổ Việt Nam;

Thứ tư, các chương trình, dự án hoạt động TCVM của các tổ chức phi chính

phủhiện đang tồn tại dưới dạng các“Quỹ”, “Hội”hay “Chương trình”… (Quỹkhuyến khích cộng đồngmiền núi phát triển, huyện Mai Sơn, Sơn La (M7 Mai Sơn); Quỹ Dariu; Quỹ Hỗ Trợ Phụ Nữ Phát triển Kinh Tế Tỉnh Tiền Giang; Quỹ

CEP…); các chương trình (Chương trình Anh Chị Em; Chương trình Bàn Tay Vàng; Chương trình Tín dụng tiết kiệm – Hội liên hiệp phụnữPhù Yên, Sơn La) hay các dự án (Dự án Tiết kiệm và vốn vay thôn bản (VSL) củatổchức Plan; Dự án tín dụng và tiết kiệm – Chương trình sinh kế Child Fund Việt Nam); Các Trung tâm (Trung tâmhỗtrợ phát triển doanh nghiệp Nhỏ(SEDA); Trung tâm phát triển vì

người nghèo Can Lộc (PPC); Trung tâm vì phụ nữ và phát triển cộng đồng

(CWCD))…4 Nếu tính về mặt số lượng, nhóm chủ thể này chiếm số lượng lớn nhất và cũng đa dạng nhất về mặt hình thức pháp lý.

2.1.2 Khái niệm và bản chất của tài chính vi mô

Cùng với sự thành công của việc cấp tín dụng nói riêng và cung ứng các dịch vụtài chính nói chung cho người nghèo trở nên thành công ở khá nhiều nơi trên thế giới,

khái niệm TCVM – Microfinance – đã xuất hiện để mô tả các hoạt động này. Có khá nhiều những cách giải thích khái niệm này ở các góc nhìn khác nhau:

Theo cách hiểu củaNhóm tư vấn hỗ trợngườinghèo – The Consultative Group to Assist the Poor (CGAP-) thì:

“TCVM là việc cung cấp các dịchvụtài chính cơbản đápứng nhu cầu người nghèo như: dịchvụgửi tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, lương hưu, chuyểntiền..”[73, Tr. 1].Vớicách tiếpcậnnày, CGAP cho chúng ta thấy TCVM baogồmcác hoạtđộngđược liệtkê như hoạtđộnggửi tiền (chỉ dừnglạiở tiềngửi tiết kiệm mà không

4 Nguồn: Nhóm công tác TCVM Việt Nam (MFWG), Hà nội 2014.

26

có các dịch vụ tiền gửi khác); các hoạt động cấp tín dụng; dịch vụ bảo hiểm và một số các dịchvụ tài chính đơngiản khác. Tuy nhiên, các dịchvụnàychỉđược gọi là TCVM khi cóđối tượngtiếp cận là những người nghèo.

Ở mộtcách tiếp cận khác, J. Ledgerwood cho rằng: “TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế thông qua các dịch vụ tài chính nhằm mang lại lợi ích cho

dân cư có thu nhậpthấp…TCVM thường bao gồmcả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gianxã hội”[87, Tr. 1]. Thông qua cách lý giải này, Ledgerwood cũng cho chúng ta thấy TCVM là việc cung ứng các dịch vụ tài chính cơ bản chođốitượng là những người nghèo (người có thu nhập thấp) nhưng bà cũng khẳng định, TCVM vừa có tính kinh doanh (trung gian tài chính) vừa có tính xã hội (trung gian xã hội)

Cũng có cách lý giải tương tự, NH phát triển Châu Á (ADB) cho rằng: “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảohiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp hoạt động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ của họ” [69, Tr. 2].

Dướigóc nhìncủakinh tế phát triển, PGS.TS Nguyễn Kim Anh và TS LêThanh Tâm thì: “TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội đểphục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư. TCVM vừa là công cụ NH vừa là công cụ phát triển” [4, Tr. 24]. Có thể thấy, hai tác giả này cũng đưa ra cách tiếp cận vềTCVM tương tự như J. Ledgerwood như đã trình bày phần trên.

Ở Việt Nam, mặcdù Luật các TCTD năm 2010 đãchính thứcđềcập đến TCVM5 song mộtsựlý giải đầy đủ về TCVM vẫn chưađượcthực hiện. Các văn bản điều chỉnh lĩnh vực này hiện nay vẫn khá lủng củng và thiếu thống nhất: trong khi Luật các TCTD đãcó hiệu lựcđượcvài năm, đồngnghĩavớiviệc thuật ngữTCVMđãchính thứcđượcluật hóa thì nhữngvăn bản dưới luật đượcban hành từ nhiều năm trước (Nghị định 28/2005/NĐ-CP; Nghị định 165/2007/NĐ-CP vàThông tư 02/2008/TT-NHNN) vẫn tiếp tục có hiệu lực và đương nhiên, thuật ngữ

5Trướckhi Luật các TCTD năm 2010 ra đời, thuật ngữ TCVM không đượcđề cập đến trong bất cứmột văn bản pháp luật nào mặc dù văn bản dùng để điều chỉnh hoạt động này chúng ta đã có nhưng thuật ngữ được sửdụng không phải là TCVM mà là TCQMN (Nghị định28/2005/NĐ-CP; Nghịđịnh165/2007/NĐ-CP vàThông tư 02/2008/TT-NHNN)

27

đượcsửdụng không phải là TCVM mà là tài chính quy mô nhỏ (TCQMN). Dường như, ngành TCVM Việt Nam vẫn chưanhận đượcnhững sự quan tâm cần thiết từ phía các cơ quan công quyền. Tuy nhiên, vớisựtồn tại song song của những văn bản này, chúng ta cũng có thể hiểu, TCVM là khái niệm đượcsửdụng đểthay thếcho khái niệm TCQMNtrướcđây. Như vậy, theo quy định tại Khoản 1 và 4 Điều 2 Nghị định 28/NĐ-CP và Khoản 1 Điều 1 Nghị định 165/NĐ-CP thì:

“Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cungcấp một sốdịch vụ tài chính, NH nhỏ, đơn giản cho cáchộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp,đặcbiệt là hộ giađình nghèo và người nghèo.”

Và“Dịch vụ tài chính, NH nhỏ, đơn giản gồm: tín dụng quy mô nhỏ; nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc; tiền gửi tự nguyện; một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp.”

“Tín dụng quy mônhỏlà khoản cho vay có giá trị nhỏ, có hoặc không có tài sản bảođảmđối với các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấpđểsử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống.”

Sửdụng tới ba (03) quy địnhchỉ đểgiải thích một khái niệm không quá phức tạp cho thấy sự lúng túngcủanhà làm luật khi tiếp cận đến TCVM. Tuy nhiên, khi loại bỏ sự lủng củng, phức tạp của các quy định này chúng ta có thể hiểu, pháp luật Việt Nam hiện nay đang cho rằng:

“TCQMN (TCVM) là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, NH bao gồm: các khoản tín dụng có giá trị nhỏ, tiền gửi tiết kiệm và một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp”. Khoản tín dụng có giá trị nhỏ, theo cách giải thích tại điểm 2.1 Thông tư 02/TT-NHNN6 là: “khi tổngdư nợcho vay của tổ chức tài chính quy mônhỏđối với khách hàng đó không vượt quá ba mươi triệu đồng.”

Như vậy, dù có cácsựdiễn đạt khác nhau, mức độ quy định về phạm vi hoạt động củaTCVM khác nhau song ở gócđộnào thì TCVM cũng là những dịch vụ tài chính, NH cóđối tượngphụcvụ là những người có mứcsống thấp trong xã hội. Xuất phát từ những cách lý giải nêu trên và thực trạng ngành TCVM, Luận án xinđược đưa ra định nghĩa về TCVM như sau:

6 Thông tư này không có Điều, Khoản mà các quy định được đánh số theo thứ tự 1, 2, 3….

28

TCVM là hoạt động kinh doanh thông qua việc cung ứng các dịch vụ tài chính, NH có giá trị nhỏ cho những chủ thể có thu nhập thấp trong xã hội.

Từ cách hiểu này, có thể thấy TCVM có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, TCVM là một hoạt động kinh doanh. Có thể nói, đây làđặc điểm quan trọng nhất để phân biệt TCVM với các hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính, NH cho người nghèo của cácđịnhchếtài chính khác trong xã hội. Nếu như theo cách tiếp cậntruyền thống, chúng ta hiểu những người có thu nhập thấp làđối tượng dễbị tổn thương trong xãhội cần đượctrợ giúp về mặt kinh tế nên các dịch vụ tài chính dành chohọthường có chi phí thấp (khoản vay có lãi suất thấp; dịch vụtài chính có chi phí thấp…), tức là hoạt động này mang nặng tính bao cấp. Trái lại,

TCVM không phải là một hoạt động có tính bao cấp mà có tính kinh doanh – tức là

có lợi nhuận – chi phí mà người nghèo trả cho TCVM không phải là chi phí bao cấp mang tính tượngtrưng mà là nhưng chi phí thực thụ củathị trường. Thựctếcho thấy, các chi phí mà khách hàngcủaTCVM phải chi trả thường cao hơn khá nhiều so với mặt bằng chung của thị trường. Như vậy, TCVM là một ngành kinh doanh thực thụ chứ không phải lĩnh vựcthuần túy cungứngdịch vụ mang tính từ thiện theo đúng như cách nói của Giáo sư Muhammad Yunus, người sáng lập NH Grameen:

“TCVM không phải là từ thiện. Đây là kinh doanh: Kinh doanh với một mụcđích xã hội là giúp con người thoát nghèo”7.

Thứ hai, đối tượng khách hàng của TCVM chủ yếu là những người có thu nhập thấp trong xã hội. Nếu nhìn vào mục đích của hoạt động TCVM ta thấy dường nhưcó sựmâu thuẫn ở đây khi đối tượng tạo ra lợi nhuận cho các hoạt động TCVM lại là nhưng người có thu nhập thấp, thậm chí là nhưng người rất nghèo. Tuy nhiên,đâychính làmặtthứhai củaTCVM: một côngcụ quan trọng giúp ngườinghèo thoát nghèo. Đây cũng chínhlà điều đượcKofi Annan – Nguyên Tổng Thư ký Liên

Hợp quốc – khẳng định: “TCVM là ý tưởng của kỷ nguyên đương đại”8.

Commented [SVN1]: Nhấn mạnh tính có lợi nhuận – Bảo lưu

7 Nguyên gốc: “This is not charity. This is business:Business with a social objective, which is to help people get out of poverty.”Bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Yunus trong chương trình Nightly Business Report 9/3/2005. http://knowledge.wharton.upenn.edu/article/muhammad-yunus-banker-to-the-worlds-poorest- citizens-makes-his-case/

8 Nguyên nghĩa: “Microfinance is an idea whose time has come” www.worldvisionmicro.org/downloads/quotes.pdf

29

Thứ ba, dịch vụ đượccungứngbởi TCVM thường có giá trị nhỏ. Đặc trưng này đượcxuất phát từ chính đối tượng khách hàng của TCVM là những người có mức thu nhập thấp trong xã hội, thậm chí là những người không bao giờ có cơ hộiđượctiếp cận đến các dịch vụ của các NHTM bởi thường họ không có tài sản có thểdùng đểđảm bảo cho các khoản vay. Chính bởi vậy, các hoạt động kinh tếcủahọ đều là nhưng hoạt động nhỏlẻvà dođó,nhu cầu về vốn cũng là không lớn. Bên cạnh đó, các chủ thể cung cấp dịch vụ TCVM cũng không phải là các trung gian tài chínhvới tiềm lực mạnh mẽ nên đểđảm bảo an toàn, các khoản vay của họ luôn cógiá trị khá nhỏ;

Thứ tư, TCVM không chỉ là hoạt động kinh doanh mà luôn kết hợp hài hòa giữamụcđích kinh doanh và mụcđích xã hội. Thông thường, các doanh nghiệp trong xã hội mà hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận (các doanh nghiệp công ích) thì luônnhận đượcsựbao cấp từ phía nhànướcbởi đơn giản họhiếm khi có thể tìmđượcnhững khoản thu nhập đủ để bù đắp những chi phí trong hoạt động của mình. Những doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thì sẽ rất khó khăn trong việc thực hiện các chính sách xã hội bởi tôn chỉ lợi ích kinh tế của mình. Khác với hai hoạt động đó,TCVM không sống dựa vào nguồn lực dồi dào của Ngân sách Nhà nướcmà bằng chính những đồng lợi nhuận kiếm được từ hoạt động kinh doanh của mình và đồng thời cũng không tối đa hóa mục tiêu lợi nhuận khi tìm đến đối tượng khách hàng là tầng lớp đáycủaxã hội với mong muốn giúp họcó đượcnhững nguồn lực tài chínhnhất địnhđểthực hiện hoạt động kinh doanh, thoát đói nghèo. Chính bởi đặc trưng này nên có thể coi TCVM là một phương thức xóa nghèo bền vững trong giai đoạn hiện nay;

Thứ năm, TCVMdạycho người nghèo biết cách làm kinh tế và biết tiết kiệm.Đây có thể coi là một đặc trưng hết sức cơ bản của TCVM,thểhiệnsựkhác biệt căn bản của lĩnh vực này so với các hoạt động tín dụng khác trong xã hội. Quy định của pháp luật cũng như thực tế hoạt động TCVM cho thấy, để có thểđượcvay vốn của TCVM,ngườinghèo buộc phải thực hiện việc gửi tiền tiết kiệm (tiết kiệm bắt buộc) tại chínhchủ thể mà họ dự địnhvay vốn9. Đòi hỏi này tạo sức ép cho chính

9 Phương thức gửi tiền tiết kiệmbắt buộc đượcthực hiện theo ngày/tuần/tháng hay một lần do chính chủ thể cung ướng dịch vụ TCVM quyết định. Trên thực tế, các chủ thể cung ứng dịch vụ TCVM ở Việt Nam thực

30

những người nghèo buộc phải có hành vi tiết kiệm trong chi tiêu của mình và qua

đó,dần tạo thành thói quen tiết kiệm trong cuộc sống hàngngày – tiền đề để những con người này dần thoát khỏi đói, nghèo.

Ở một khía cạnh khác, mặc dù pháp luật không có quy định song trên thực tế, các chương trình, dự án có cung ứng dịch vụ TCVM luôn có những hoạt động dạy cho người nghèo biết cách kiếm tiền thông qua các hoạt động kinh doanh phùhợp10. Thực chất, đây chính làmộtphần của hoạt động TCVM và có những đóng góp không nhỏ vào chính thành công của TCVM này bởi lẽ, việc khách hàng của TCVM biết cách tạo ra thu nhập từ những khoản vay của TCVM chính làtạo khảnăngtrảnợ củanhững người nghèo, đói cho chủ thể cung ứng dịch vụ TCVM. Có thểthấy, đây chính là một trong những khác biệt căn bản của TCVM với các hoạtđộng tín dụng khác, đặc biệt là tín dụng ưu đãi dành cho người nghèo. Cũng chính bởi yếu tố này nên TCVM luôn được coi là phương thức xóa nghèo bền vững11.

Tóm lại, về mặt bản chất thì TCVM là một hoạt động kinh tếhết sức đặc biệt trong lĩnh vực tiền tệ – ngân hàng khi có thể kết hợp một cách hết sức hài hòa giữa mụctiêu tìm kiếm lợi nhuận (để tồn tại) và thực hiện được vai trò xã hội quan trọng củamình (góp phần xóa đói, giảm nghèo). TCVM không phải là hoạt độngkinh doanhtiền tệthuần túy như các NHTM hay bất kỳ một TCTD nào khác đồng thời,

TCVM cũng không phải là một hoạt động mang tính xã hội theo kiểu “bao cấp – từthiện”như cácdịch vụ đượccung ứng bởi NHCSXH hiện nay. TCVM là dịch vụ ngân hàng hướng đến phục vụ những đối tượng nghèo nhất của xã hội nhưng với mứclãi suất đủ caođểTCVM có thểtồn tại đồngthời người thụ hưởngdịch vụ

(người nghèo) cũngđủ khảnăngđểchấp nhận. Nói một cách ngắn gọn, TCVM chính là phương thức xóa đói giảm nghèo bền vững có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay,đặcbiệt ở cácnướcđang phát triển, nơi màsố lượng người nghèo, đói vẫn còn ở mức cao như Việt Nam.

hiện việc này khá linh hoạt và thường thu tiền gửi tiết kiệm bắt buộc cùng với các kỳ hạn trả nợ của khách hàng.

10 Các hoạt động kinh doanh cụ thể thậmchí đượcchính các khách hàng của TCVM phổ biến, truyền đạt lại

cho nhau theo sự hướng dẫn, khích lệ của các cán bộ TCVM – như các chương trình của TYM, M7 hay

Dariu….

11 Người nghèo biết tạo ra thu nhập nên họ sẽ thoát nghèo bởi chính những nguồn thu nhập đó và tổ chức TCVM thu đượcnợ,đảmbảoan toàn vốn và sự an toàn của chính tổ chứcđồng thời có đượcnhững nguồn thu nhập cần thiết để duy trì hoạt động cũng như mở rộng hoạt động của mình.

31

2.1.3 Vai trò của tài chính vi mô

Sự thành côngcủahàng loạt các mô hình TCVMở nhiều nướctrên thế giới thông quasựlớn mạnh bền vững củacác mô hình này cùng với việc thoát cảnh nghèo đói củasố lượng ngườingày càng nhiều hơn đã cho chúng ta thấy tầm quan trọng của TCVM cả dưới khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội. Thực tế cũng chứng minh rằng, ở nhữngnướcđang phát triển, nơi màsốlượngngười nghèo, đói vẫn còn chiếm một tỷ lệ khá lớn thì TCVM càngthểhiện rõ nét hơn vai trò quan trọng của mình như một công cụ chống đói nghèo hiệu quả.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM

Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *