Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, hoạt động giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốchộidựatrên cơsởquyđịnhcủaHiến pháp năm 1992, Luậttổchức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; mới đây Quốc hội đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật mới về hoạt động giám sát như: Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hộiđồng nhân dân năm 2015,… và nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Các văn bản quy phạm pháp luật này được ban hành nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quáđộ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết của Đảng về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong thời kỳ đổi mới và trên thực tế đã phát huy tác dụng, khẳng định vị trí, vai trò của giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệuquảhoạtđộngcủabộmáy nhànước,tinh thần, trách nhiệmcủacánbộcông chức, viên chức khi thi hành nhiệmvụ,côngvụ.Trên thực tế việc thực hiện pháp luật về giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội đã đạtđược nhiều thành tựu. Qua giám sát và kết luận giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào hoạt động củacác cơ quan lập pháp, hành pháp, tưpháp; góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách vàquản lý điều hành kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước, được dư luận và nhân dân đồngtình, ủng hộ,quan tâm, đánh giá cao, qua đó góp phần nâng cao vai trò, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là hoạt động giám sát của Quốc hội.
Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành pháp luật vềgiám sát và kết luận giám sát của Quốc hội cũng bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập, cụ thể như:
Một là, hệ thống pháp luật về giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội cònđược quy định trong nhiều văn bản khác nhau; một số quyđịnhvề nội dung, hình thức kết luận giám sát còn trùng lặp, chưa rõ ràng, cụ thể; về trình tự, thủ tục chưa có các biện pháp pháp lý hữu hiệu để thực hiện các kết luận giám sát này. Phạm vi giám sát của Quốc hội quá rộng với nhiều chủ thể, nhiều hình thức giám sát, nhưng lại chưa phân định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi chủ thể với từng đối tượng chịu sự giám sát, từng hình thức kết luận giám sát, cũng như sự phối hợp giữa các chủ thể giám sát dẫn tới sự chồng chéo trong thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội; thậm chí một số hình thức giám sát chưa bao giờ được thực hiện trên thực tế, hoặc thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao.
Hai là, nhiều quyđịnh pháp luật về hình thức kết luận giám sát và giá trịpháp lý kết luận giám sát của Quốc hội chưa được thực thi hoặc tính khả thi còn thấp, như quy định về việc Quốc hội,Hộiđồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữchức vụdo Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; quy định Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra về mộtvấn đềnhất định để đảm bảo tính khả thi và chính xác của kết luận giám sát; quy định Quốc hội xem xét báo cáo của Uỷban thường vụQuốc hội về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; hoạt động giám sát văn bản pháp luật chưa được thực hiện thường xuyên, chưa mang lại hiệu lực, hiệu quả cao; chưa có biện pháp hữu hiệu để theo dõi, kiểm tra việc tiếp thu, giải quyết các kết luận sau giám sát.
Ba là, các điều kiện bảo đảmcho hoạt độnggiám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội như: cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực, bộ
máy giúp việc… chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát; Và giá trị pháp lýcủacác hình thức kết luận giám sát chưa được quy định một cách cụ thể, chi tiết, gây không ít khó khăn trong việc thực hiện các kết luận giám sát, không quy định trách nhiệm pháp lý khi các đối tượng bị giám sát không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các kết luận giám sát của Quốc hội.
Hoạt độnggiám sát không chỉ tính đến kết quả có bao nhiêu nội dung được giám sát, bao nhiêu hình thức giámsát được sửdụng mà phải tính đến việc sử dụng các hình thức giám sát đó một cách khoa học và hiệu quả như thế nào, quy trình, thủ
tục giám sát có đảm bảo tính khách quan, chặt chẽ, công khai mà nó còn phải được luật hóa, mà quan trọng hơn cả đó là việc thực hiện các kết luận giám sát đó nhưthếnào? Với vị trí công tác của mình và những lý do nêu trên tôi đã lựa chọn đề tài luậnán của mình là: “Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn” để làm đề tài luận án nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, đồng thời qua đó cũng góp phần giải quyết một vấn đề lớn còn nhiều vướng mắc, khó khăn trong việc tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật về giám sát và việc thực thi kết luận giám sát của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
– Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về kếtluận giám sát của QuốchộiViệt Nam. Trên cơsởđó,Luận án đưa ra những quan điểm, định hướng, kiến nghị và một số giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện, thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong thời gian tới.
– Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:
Một là, làm rõ những vấn đề lý luận vềkếtluận giám sát của Quốc hội. Quađó, giải quyết một số nội dung: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung hình thức, các yếu tố, điều kiện đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng việc ban hành, tổ chức thực thi và các quy định của pháp luật về kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam;
Ba là, phân tích và làm rõ những kết quả làm được, những tồn tại hạn chế vànguyên nhân của tồn tại hạn chế trong quá trình tổ chức thực thi kết luận giám sát của Quốc hội;
Bốnlà, phân tích, làm rõ những quan điểm, định hướng và đề xuất một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tínhkhảthi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận ánĐối tượng nghiên cứu
– Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam sẽ được làm rõ trong nghiên cứu này.
– Các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam về kết luận giám sát vàcác điều kiện đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Để đáp ứng mục đích chính của đề tài là nghiên cứu về nhữngvấn đềlý luận và thực tiễn về kết luận giám sát củaQuốc hội Việt Nam, Luận án sẽ chủ yếu tập trung phân tích, tìm hiểu và giải thích những nhận thức hiện tại về kết luận giám sát, các điều kiện đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội trong bối cảnh nước ta hiện nay.
Luận án tập trung phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam (thông qua các chủ thể: Quốc hội, Ủy ban thường vụQuốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đoàn Đại biểu Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội); thời gian: nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, XIII đến nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Phương pháp luận:
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; pháp luậtvề Hiến pháp và luật hành chính; đườnglối, chủ trươngcủaĐảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước làm nền tảng phương pháp luận đểluận giải các vấn đề liên quan đến kết luận giám sát thuộc đề tài luận án. Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số lý thuyết độc lập như lý luận về Nhà nước pháp quyền;quyền con người; lý thuyết quản trị Nhà nước, quản trị quốc gia; tâm lý học; …
Phương pháp nghiên cứu:
Luận ánsửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp kếthừa; phương phân tích quy phạm; phương pháp hệ thống; phương pháp thống kê; phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp mô tả; phương pháp giải thích; phương pháp dự báo; phương pháp lịch sử; phương pháp quy nạp, diễn dịch; phương pháp nghiêncứu hồsơ, phương pháp nghiên cứu
đa ngành, liên ngành; …Trong quá trình hoàn thành luận án, các phương pháp này sẽ được kết hợp áp dụng cho phù hợp.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vềlý luận và thực tiễn các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay. Luận án có những đóng góp mới về khoa học như sau:
Một là, xây dựng được Khái niệm, đặc điểm, vai trò, các điều kiệnđảmbảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam;
Hai là, làm rõ cơ sở pháp lý, giá trị pháp lý của kết luận giám sát Quốc hội Việt Nam;
Ba là, xây dựng được một cách khoa học và tổng thể các yếu tố và các điều kiện bảo đảmthực thi kết luận giám sát củaQuốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Bốn là, Phân tích và làm rõ thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội; Kết quả đạt được, tồn tại hạn chế, nguyên nhân của tồn tại hạn chế trong việc thực tổ chức thực thi các kết luận giám sát này;
Năm là, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quan điểm và định hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát và kết luận giám sát; Qua đó đưa ra nhóm các giải pháp nhằm nâng cao việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
a. Ý nghĩa lý luận của luận án
– Làm rõ vấn đề lý luận: Khái niệm, đặc điểm, vai trò kết luận giám sát của Quốc hội; làm rõ phương thức, hình thức và các điều kiện đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong thể chế chính trị một Đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền ở nước ta.
– Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về chức năng giám sát; pháp luật về giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam, xác định rõ về nội dung, đối tượng, hình thức thực hiện và giá trị pháp lý kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.
b. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
– Nghiên cứu so sánh quy định của pháp luật và hoạt động giám sát của Nghịviện một số nước trên thế giới và Việt Nam để rút ra kinh nghiệm và có thể là bài học cho Quốc hội Việt Nam.
– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luậtvềgiám sát, hoạtđộnggiám sát và thực hiện cáckếtluận giám sátcủaQuốchộiViệt Namtừđó,đềxuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát và việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay; đề xuất, sửa đổi, bổ sung đểhoàn thiện các quy định của pháp luật về giám sát; đề xuất thay đổi, cải cách các điều kiện bảo đảm thi hành các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam, cụ thể:
– Xây dựng đường lối, chính sách:Đề tài xác lập cơ sở khoa học cho việc triển khai thi hành văn bản luật có liên quan, ví dụ như: LuậtTổchức Quốc hội 2015, Luật tổ chức hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015…; là cơ sở khoa học góp phần phục vụ công tác xây dựng pháp luật về giám sát;đồng thời hoàn thiện cơ sở pháp lý của việc thực hiện pháp luật giám sát ở nước ta.
– Với các nhóm giải pháp cụ thể được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu lý luận vàphân tích thực trạng pháp luật về giám sát và việc tổ chức, thực hiện pháp luật giám sát và kếtluận giám sát, luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà xây dựng pháp luật, nhà quản lý giúp tăng cường hiệu lực, hiệuquảcông táctổ chức thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
– Luận án hoàn thành sẽ là cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn giúp cho các cơquan ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Quốc hội, Chính phủ) sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn, mang lại hiệu quả, hiệu lực cao trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, nâng cao địa vị pháp lý và quyền lực thực sự của Quốc hội Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án: Ngoài phầnMởđầu thì luận án bao gồm 4 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC
HỘIVIỆT NAM
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ VIỆC THỰC HIỆN KẾT
LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC KẾTLUẬN GIÁM SÁTCỦAQUỐC HỘI
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ GIÁM SÁT VÀ KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2. Tình hình nghiên cứu quốc tế
1.3. Đánh giá chungvềtình hình,kếtquảnghiêncứuliên quanđến luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
1.3.1. Đánh giá chung về tình hình, kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Các công trình nêu trên ở những mức độ khác nhau đã trình bày khái quát vềtổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là các hoạt động giám sát
của Quốc hội Việt Nam nói riêng, hoạt động giám sát của một số Nghị viện trên thế giới. Luận giải được vai trò, vị trí hoạt động giám sát, bước đầu đã nghiên cứu đến giá trị pháp lý kết luận giám sátcủa Quốc hội Việt Nam trong việc thực hiện quyền
lực Nhà nước của đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu đã bước đầu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam,nêu những khái niệm và các yếu tốtác động đến hiêụ quả hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đã xác định hoạt động giám sát là yêu cầu tất yếu của quá trình thực thi dân chủ, đảm bảo quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, trong đó Quốc hội Việt Nam giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong giám sát quyền lực nhà nước.
Nhìn chung, có thể thấy rằng: đã có một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan khá chặt chẽ đến nội dung đề tài mà Luận án đặt ra. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đi sâu nghiên cứu một cách tổng thể và có sự so sánh với kinh nghiệm của nước ngoài một cách hệ thống để từ đó có cách nhìn nhận đầy đủ về pháp luật giám sát, giá trị pháp lý và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế quyền lực nhà nước, trong mối quan hệ với thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước; chưa có sự phân tích đầy đủ để làm rõ vai trò, phạm vi quyền giám sát tối cao và hệ thống pháp luật về kết luận giám sát của Quốc hội. Do giới hạn bởi phạm vi và định hướng nội dung nghiên cứu nên vấn đề mà các tác giả nêu lên mới chỉ đềcập đến mộtvài khía cạnh liên quanđếnlý luận, thực tiễn hoạt động giám sát, pháp luật về giám sát của Quốc hội và một phần rất nhỏ về việc thực hiện các kết luận giám sát, các giải pháp cũng mới chỉ tập trung hoặc khía cạnh lý luận hoặc ở cơ chế pháp lý hoặc ở kinh nghiệm thực tiễn, chưa đi sâu vào các giải pháp căn cơ, hiệu quả để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện và xác định giá trị pháp lý các kết luận giám sát của Quốc hội.
Đồng thời, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đề xuất các tiêu chícụthể để xác định hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội để từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp tổng thể cả về lý luận, nhận thức, pháp lý,điềukiệnhỗtrợ đảm bảocho hiệu lực và hiệu quảhoạt động giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội.
1.3. . Những nội ung uận án c n tập t ung nghiên cứu tiếp
Tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động Quốc hội Việt Nam, hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào luận chứngmộtcách sâusắcvềpháp luậtkếtluận giám sátcủaQuốc hội, việc thực hiện và giá trị pháp lý của các kết luận giám sát do Quốc hội ban hành; việc kết hợp với việc nghiên cứu, so sánh hoạt động giám sát của Nghị viện các nước trên thế giới vàViệt Nam; kinh nghiệm thực hiện các kết luận giám sát và các yếu tố bảo đảm thực thi kết luận giám sát của các Nghị viện trên thế giới là bài học quý báu cho Việt Nam.
Những điều kiện, yếu tố đảm bảo thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội, nhất là vấn đề pháp lý, hành lang pháp luật và hiệu lực, hiệu quả thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội; hậu quả của việc không thực thi các kết luận giám sát của Quốc hộichưa được các tácgiảbàn sâu. Tuy nhiên, chưađược hệthống hóa thànhcác văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh.
Vấn đềthực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nướccủaQuốchội; hệthống pháp luật giám sát và giá trị pháp lý của các kết luận giám sát chưa được các tác giả tập trung phân tích, trình bày một cách thấu đáo, toàn diện và có hệ thống. Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu giải quyết các vấn đề trên dựa trên các cơ sởlý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong Luận án là:
a. Về mặt lý luận :
– Làm rõ vấn đề lý luận: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, chủ thể ban hành vàhình thức kết luận giám sát và phương thức, hình thức và giá trị pháp lý các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong thể chế chính trị một Đảng duy nhất lãnh đạo và cầmquyền ở nước ta; nghiên cứu, phân tích quá trình hình thành và phát triển của pháp luật và hoạt động kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong lịch sử.
– Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về chức năng giám sát; pháp luật về giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam, xác định rõ về nội dung, đối tượng, hình thức thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội. Cần phân tích, nghiên cứu làm rõ các điều kiện đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.

b. Về mặt thực tiễn:
– Nghiên cứu so sánh quy định của pháp luật và hoạt động giám sát và thực thi các kết luận giám sát của Nghị viện một số nước trên thế giới, rút ra bài học cho Quốc hội Việt Nam.
– Tiếpcậntrên các phương diện, gócđộ,bám sát tinh thần vànộidung Hiến pháp năm 2013, quy định pháp lý về tổ chức, hoạt động giám sát của Quốc hội, quanđiểm, đường lối của Đảng và các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý trong việc thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.
– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luậtvềgiám sát, hoạtđộnggiám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam;
c. Về mặt ứng ụng của uận án:
Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quảhoạt độnggiám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay; đề xuất, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các quy định của pháp luật về giám sát; đề xuất các yếutố bảo đảm thi hành các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam, cụ thể:
– Xây dựng đường lối, chính sách:Đề tài xác lập cơ sở khoa học cho việc triển khai thi hành văn bản luật có liên quan, ví dụ như: LuậtTổchức Quốc hội 2015, Luật tổ chức hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015…; là cơ sở khoa học góp phần phục vụ công tác xây dựng chính sách pháp luật vềgiám sát; đồng thời hoàn thiện cơ sở pháp lý của việc thực hiện pháp luật giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội.
– Với các nhóm giải pháp cụ thể được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu lý luận vàphân tích thực trạng pháp luật về giám sát và việc tổ chức, thực hiện pháp luật giám sát và kếtluận giám sát, luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà xây dựng pháp luật, nhà quản lý giúp tăng cường hiệu lực, hiệuquảcông táctổ chức thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
– Luận án hoàn thành sẽ là cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn giúp cho các cơquan ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Quốc hội, Chính phủ) sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn, mang lại hiệu quả, hiệu lực cao trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, nâng cao địa vị pháp lý và quyền lực thực sự của Quốc hội Việt Nam.
24
1.4. Câu hỏi nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 1.4.1 Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về kết luận giám sát của Quốc hội dưới góc độ pháp lý, các giả thuyết khoa học cần đặt ra như sau:
Bảo đảm thực thi kết luận giám sát của Quốchộitheo Hiến pháp, pháp luật Việt Nam là vấn đề được Đảngvà Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Việc ghi nhận, bảo đảm thực thi kết luận giám sát của Quốc hộiđã được Hiến phápvà các văn bản pháp luật khác ghi nhận. Tuy vậy, những vấn đề lý luận về kết luận giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hộichưa đượcnghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện nên việc thể chế hóa các nội dung này trong hệ thống pháp luật nước ta chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế. Hiện nay các quy định pháp luật về kết luận giám sát, đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội và việc bảo đảm thực hiện trên thực tế hiệu quả chưa cao, còn nhiều bất cập, vướng mắc, chưa tạo điều kiện thuận lợi để chủ thể giám sát, đối tượng giám sát thực hiện đúng quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với việc thực thi kết luận giám sát của Quốc hội. Việc tăngcườngnâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi kết luận giám sát của Quốc hộiđang đặt ra cấp bách, là một trong nhữngyếu tố quyết định đến xâydựng nhànước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy an ninh chính trị – xã hội. Do vậy, cần có hệ thống các giải pháp đồng bộ, đặc biệt làviệc hoàn thiện pháp luật để tăng cường bảo đảm hiệu lực, hiệu quả việc thực thi kết luận giám sát của Quốc hội.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, những vấn đề lý luận nào về kết luận giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sátcủaQuốchộitheo pháp luật Việt Nam cần phải được phân tích vàgiải quyết để tạo lập nền tảng nhận thức về quyền lực tối cao của Quốc hội Việt Nam? Cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng về kết luận giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay là gì?
Thứ hai, thực trạng quyđịnh của pháp luật và thực trạng việc tổ chức thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hộitheo pháp luật Việt Nam hiện nay đang diễn ra như thế nào? Việc tổ chức thực thi kết luận giám sát và cácyếu tố,điềukiệnđảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội theo pháp luật có ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân nào?
Thứ ba, những quan điểm, giải pháp nàocầnđề xuất đểnâng cao hiệu lực, hiệu quả kết luận giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội
25
theo pháp luật Việt Nam tốt hơn hiện nay? giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật vềkết luận giám sát của Quốc hội là gì?
Tiểu kết chương 1
Qua khảo sát có thể nhận thấy các nghiên cứu về Quốc hội nước ta từ trước đến nay chủ yếu tập trung vào các chức năng được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp mà ít đề cập đến kết luận giám sát của Quốc hội. Các công trình nghiên cứu vềkết luận giám sát của Quốc hội ở Việt Nam chủ yếu mới là các bài viết nghiên cứu ngắn, đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành hoặc tại một số cuộc hội thảo khoa học mà chưa có những công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về nội dung này. Một sốbài viết đã tập trung làm rõ những vấn đề lí luận về giám sát của Quốc hội. Tuy nhiên, xung quanh hoạt động giám sát của Quốc hội còn có khá nhiều tranh luận. Như vậy, có thể thấy rằng trong các nghiên cứu đã có hiện nay, xung quanh việc nhận thức về kết luận giám sát của Quốc hội còn có những vấn đề lí luận chưa được giải quyết. Qua nghiên cứu Chương 1, tác giả đãtìm hiểu tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng, giải phápvềkết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong thời gian vừa qua qua một số tác phầm nổi tiếng có liên quan. Tác giảcũng bướcđầuđánh giá khách quanvềnhững kếtquảnghiêncứucủa các công trình nghiên cứu đó. Qua đó, tác giả làm rõnhững vấn đềgì đã nghiên cứu? Những vấn đề gì mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ.
Từviệc khảo sát các nghiên cứu hiện nay có liên quan đến đề tài luận án, nhiệm vụđặt ra đốivới Luận án là phải làm rõ khái niệm về kết luận giám sát của Quốc hộitrên cơ sởnghiên cứu, làm rõnềntảng lý luận về quyền lực Nhà nước; xác định yêu cầu của việc bảo đảmthực thi kếtluận giám sát của Quốc hội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa; xác định các yếu tố, điều kiệncụ thể đểbảo đảm thực thi kết luận giám sát của Quốc hội; đánh giá một cách tổng thể thực trạng của việc tổ chức thực thi kết luận giám sát của Quốc hội trong giai đoạn hiện nayđể qua đó hình thành nên các kiến nghị, giải phápcụthểnhằm tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thikếtluận giám sát của Quốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
26
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò kết luận giám sát của Quốc hội
.1.1. Khái niệm giám sát và Kết luận giám sát của Quốc hội
Theo Từđiển Tiếng Việt, 2003, NXB Đà Nẵng do Hoàng Phê chủ biên thì“Giám sát là theo dõi và kiểm tra có thực hiện đúng những điều quy định không”.Đại Từđiển Tiếng Việt, 2009, NXB Giáo dục Việt Nam do Nguyễn NhưÝchủbiên thì “Giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”. Theo Từ điển Luật họccủa Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, NXB Tư pháp, thì giám sát là: Sựtheo dõi, quan sát mang tính chủ độngthường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tíchcực để bắt buộcvà hướng các hoạtđộngđó đi đúng quỹ đạo,quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từtrước đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh. Về bản chất quyền lực Nhà nước thìgiám sát là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thu thập thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước hữu quan và xem xét, đánh giá thông tin thu thập được. Việc xem xét, đánh giá này là cơ sở để Quốc hội, Hội đồng nhân dân có thể biểu dương hoặc phê phán các chủ thể có liên quan và trong những trường hợp nhất định, bày tỏsựtín nhiệm của mình đối với các chủ thể đó. Như vậy, khái niệm giám sát bao hàm những nội dung sau đây:
– Giám sát là theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đó đúng hay sai so với những điều đã quy định;
– Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định (ai giám sát) và gắn với đối tượng cụ thể (giám sát ai và giám sát cái gì);
– Giám sát được tiến hành trên cơ sở những quy định cụ thể;
– Giám sát là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhấtđịnh.
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, giám sát được hiểu là hoạtđộng củacác cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) thực hiện việc theo dõi, xem xét hoạtđộng của những cơ quan, cá nhân do cơ quan dân cửbầu, thành lập hoặc phê chuẩn việc bổ nhiệm nhằm đảm bảo các cơ quan này thực hiệnđúng các quy định của Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và vănbảncủa cơ quan quản lý nhànước cấp trên. Theo cách hiểu này, giám sát
27
của cơ quan dâncửđược phân biệt vớihoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơquan quản lý nhà nước bởi một số tiêu chí như: chủ thể thực hiện; phạm vi, đối tượng chị sựgiám sát, kiểm tra, thanh tra; nội dung giám sát, thanh tra, kiểm tra và nhất là hiệu lực, hiệu quả, hệ quả giá trị pháp lý của hoạt động giám sát, thanh tra,
kiểm tra … Ngoài ra, theo quy định pháp luật, nhân dân và các cơ quan, tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng có chức năng giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức và bộ máy nhà nước.
Khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định: “Giám sát là việc chủthểgiám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịusựgiám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, pháp luậtvề việc thực hiện nhiệmvụ,quyền hạncủamình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị các cơquan có thẩm quyềnxử lý”[34].
Điều quan trọng nhất trong hoạt động giám sát của Quốc hội đó là kết luận giám sát và việc thực thi các kết luận giám sát này. Kết luận giám sát phản ánh hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát. Ở Việt Nam, theo các quyđịnh hiện hành vềhoạt động giám sát của Quốc hội, là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động củacác đối tượng chịu sựgiám sát trong việc thi hành các quy định nhất định. Như vậy, giám sát được hiểu bao gồmhành vi quan sát (theo dõi, xem xét, cân nhắc) và hành vi phán quyết (đánh giá) đối với hoạt động (hành vi) của đối tượng chịu sựgiám sát. Các biện pháp nhằm tác động vào hành vi của đối tượng bịgiám sát (kiến nghị, yêu cầu, đề nghị chấm dứt hành vi viphạm, đềnghị bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm người giữ chức danh do Quốc hộibầuhoặc phê chuẩn v.v.) sẽdẫn tới hệ quả trách nhiệm của hoạt động giám sát. Hệ quả trách nhiệm, giá trị pháp lý (chủ yếu là hệ quảpháp lý) của hoạtđộnggiám sát tối cao của Quốc hội là sựthểhiện ý chí và thái độ của Quốc hội đối với kết quả giám sát tối cao của Quốc hội. Hệquả pháp lý của hoạt động giám sáttốicao của Quốchộimang tính đặc thù, khác với hệ quảpháp lý của các hoạt động giám sát khác ở chỗ nó được thể hiện dưới hình thức văn bản. Hơn thế nữa, hệ quả pháp lý được thể hiện không chỉ là những kiến nghị mà trong một số trường hợp còn là những biện pháp xử lý trực tiếp như là hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết, pháp lệnh.
Hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội thể hiện dưới hình thức kết luận giám sát. Quốc hội biểu quyết thông qua một kết luận giám sát tại kỳ họp Quốc hội. Thông quakếtluận giám sát, Quốchộithểhiện tháiđộbằng các biện pháp tácđộng đến các đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội. Do đó, nội dung hệ quả pháp lý
28
của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm các biện pháp chế tài phù hợp với Hiến pháp, Luật hoạt động giám sát của QH và HĐND và Luật tổ chức Quốc hội.
Các biện pháp, chế tài thể hiện nội dung hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam bao gồm:
– Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và việc trả lời chất vấn, trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết;
– Nghị quyết Ủyban thường vụ Quốc hộiyêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản cụ thể hóa hoặc hướng dẫn thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
– Nghị quyết bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòaán nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
– Nghị quyếtvềviệcbỏphiếu tín nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệmđốivớiChủtịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy
ban thườngvụQuốc hội,ThủtướngChính phủ, Chánh án Tòa án nhân dântốicao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dântốicao; phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. [34].
Như vậy, có thể hiểu kết luận giám sát của Quốc hội là khâu cuối của hoạtđộng giám sát, thể hiện bằng văn bản ý kiến tổng quát của Quốc hội, UBTVQH, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH được rút ra từ việc theo dõi, xem xét,đánh giá tổ chức vàhoạt động của đối tượngchịu sự giám sát nhằm xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, đề nghị, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.
.1. . Đặc điểm Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam
Thứ nhất, kết luận giám sát phản ánh tính thực tế, khách quan giữa pháp luật, Nghị quyết củaQuốchộivớithực tiễn thực hiện tại củacơ quan, đơn vị,địa phương là đối tượng chịu sự giám sát.
Kết luận giám sát là văn bản phản ánh các kết quả đã làm được tại bộ ngành,địa phương, đơn vị là đối tượng chịu sựgiám sát so với các quy định của pháp luật, các văn bản pháp lý, nghị quyết của Quốc hội về các vấn đề thuộc trách nhiệm. Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng để Quốc hội tiếp tục có các chỉđạo thực hiện trong thời gian tiếp theo, ban hành các chính sách mới. Các kết luận được đưa ra phải đảmbảo tính khách quan, thực tế những gì làmđược, chưa làmđược, những
29
sai phạm, các thành tích, sáng tạo cũng như phản ánh trung thực các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật, các hành vi gây hậu quả về mọi mặt cho đời sống xã hội. Phát hiện và phản ánh những vấn đề được cho là tồn tại tại các đối tượng chịu sựđược giámsát như tác phong làm việc, hệ thống cơ sở hạ tầng, sự đoàn kết nội bộ, công tác phối hợp, hợp tác quốc tế và trong nước có đúng quy định, thẩm quyền hay không. Đồng thời, kết luận giám sát cũng phản ánh những vấn đề khách quan, thực tiễn mới hình thành, phát sinh, các vấn đề đang trở nên phức tạp cần được quan tâm giải quyết, nghiên cứu, hoàn thiện; phản ánh những vấnđề tồntại,sở hở,bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, các quyết sách của Quốc hội sau quá trình thực hiện trên thực tiễn tại đối tượng chịu sự giám sát.
Thứ hai,kếtluận giám sát luôn được đưa ra gắn liền với một đơn vị, tổ chức, cá nhân cụ thể là đối tượng chịu sự giám sát.
Nhằm tránh tình trạng chung chung, không rõđịa chỉkhi đưa ra các kết luận giám sát, đảmbảo việc xác định rõ trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhâncụthể, các quyết định về việc giao nhiệm vụ giám sát cho các chủ thể tiến hành giám sát, thành lập các đoàn giám sát, tư cáchđại biểu Quốchội thực hiện việc giám sát luôn xác định các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát cụ thể. Việc xác định rõ cơ quan, tổ chức, đơn vị, vị trí công tác sẽ tiến hành giám sát từQuốc hội sẽ đảm bảo rằng không có “vùng cấm”trong hoạtđộng giám sát,hạnchế tuyệt đối tình trạng né tránh đối tượng giám sát, bao che cho các đơn vị, cơ quan có mối quan hệ riêng tư, người có quyền lực hoặc tránh gây nên tâm lý e ngại, cả nể từ phía chủ thểtiến hành giám sát, các thành viên của Đoàn Giám sát, Đại biểu quốc hội. Bên cạnhđó, việc xácđịnhcụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị, chức danh chịu giám sát sẽ giúp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn Giám sát, Đại biểu Quốc hội có điều kiện để tập trung thời gian, nguồn lực, trình độ chuyên môn, huy độngsựtham gia của các chuyên gia, người có uy tín, chọn lọc những người đảmbảo sẽ thực hiện công tâm trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát và đưa rađược kết luậngiám sát khách quan, khoa học, phản ánh đúng trọng tâm, bản chất của vấn đề, tình hình thực tế tạicơ quan, tổ chức, đơn vị chịu sự giám sát đó.
Thứ ba, kết luận giám sát thể hiện quyền lực Nhà nước.
Tính quyền lực nhà nước trong kết luận giám sát phản ánh quyền của chủ thể thực hiện hoạt độnggiám sát do Quốchộivới tư cách là cơ quan quyền lựccao nhất, cơ quan đại biểu tối cao, đại diện Nhân dân giao phó. Chủ thể giám sát gắn liền với quy định, nhiệm vụ đó phải tôn trọng, thực hiện nghiêm các quy định của
30
Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, các văn bản luật có liên quan trong suốt quátrình thực hiện hoạt động giám sát, đảmbảo kết luận giám sát do mình đưa ra làđúng luật. Từ những nội dung của kết luận giám sát, đối với các trường hợp phạm tội, vi phạm pháp luật trong công tác quản lý, điều hànhsẽ chịusựxửlý theo các
hình thức như đình chỉcông tác, khiển trách, cảnh cáo, buộc thôi việc,… Đến các hình thức xử lý của pháp luật hình sự như bị truy tố, xét xử, thi hành án hình sựđể nghiêm trị cácđốitượng phạm tội;xửlývềhành chính, dân sự đối với các trường hợp vi phạm gắn với mức độ đã được pháp luật quy định.
Các yêu cầu do cơ quan, cá nhân thực hiện việc giám sát của Quốc hội đưa rađối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được giám sát là yêu cầu bắt buộc, đòi hỏi các đối tượng giám sát phải thực hiện nghiêm túc. Chủ thể giám sát có thể yêu cầu đối tượng đã có kết luận giám sát phải thực hiện việc báo cáo kết quả thực hiện những yêu cầu trong kết luận giát sát.
Kết luận giám sát cũng chính là văn bản có tính pháp lý để Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các ủybản của Quốc hội, đoàn Đại biểu Quốc hội và ĐBQH, các cơ quan có liên quan sử dụng làm tài liệu mang tính pháp lý để xửlý hậu giám sát, làm cơ sở xây dựng, hoạch định chính sách, ban hành văn bản điều hành, quản lý mới.
Thứ tư, kết luận giám sát là cơsở phát sinh các hệ quả pháp lý đối với các chủ thể có liên quan; đồng thời, mang tính định hướng trong công tác hoạch định chính sách của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan khác.
Từcác kết luận giám sát sẽ nảy sinh các hệ quả pháp lý cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Các trường hợp vi phạm pháp luật hoặc có dấu hiệu tội
phạm như tham ô, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếmđoạt tài sản,… được phát hiện qua giám sát của các cơ quan của Quốc hộiđượcchuyểnđếncơ quanđiềutra, các cơ quan tố tụng để thực hiện việc điều tra, làm rõ, truytố,xétxửtheo đúng pháp luật hiện hành. Các hành vi vi phạm về mặt dân sự, hành chính sẽ được chuyển tới các cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính Nhà nước, làm việc với các cơquan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp giải quyết theo phạm vi thẩm quyền. Những quyết định hành chính vi phạm được phát hiện từ các chủ thể chịu sựđược giám sát sẽ được Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội yêu cầu, kiến nghịChính phủ, các cơ quan có thẩm quyền quyết định đình chỉ, bãi bỏ, điều chỉnh phù hợp nhằm khắc phục, chấmdứtcác bất cập, sai phạm. Các trường hợp người giữcác chức vụlãnhđạo,những ngườigiữchứcvụ do Quốc hộibầuhoặc phê chuẩn
31
phát hiện có vi phạm pháp luật thì Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội quyết định việc xửlý trên cơ sở khung pháp lý hiện hành, tiến hành việc miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức, đình chỉ, tạm đình chỉ vị trí công tác.
Từnhững kiến nghị, yêu cầu được đưa ra trong kết luận giám sát, Quốc hội, Ủyban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, Ngành sẽ xem xét, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luậtđể quản lý tốt xã hội. Xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động, thông qua các Nghị quyết, ban hành các quyết sách đảm bảo quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội. Yêu cầu đặt ra đối với các chủ thể chịu sựgiám sát là qua nội dung trong văn bản kết luận giám sát sẽ làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân là cơ sở để lãnh đạo,người đứng đầu cógiải pháp chấn chỉnh kịp thời, định hướng, điều chỉnh, đổi mới trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt độngcủa cấp dưới,đối với lĩnh vực được phân công quản lý trong phạm vi thẩm quyền.
Thứ năm, Kết luận giám sát của Quốc hộivừamang trách nhiệm pháp lý, vừa mang trách nhiệm chính trị.
Về trách nhiệm pháp lý: Trước hết, khái niệm “trách nhiệm pháplý” bao hàm những yếu tố cơ bản: “i) trách nhiệm nàyđược pháp luật quy định; ii) trách nhiệm này chỉ xảy ra khi có vi phạm pháp luật; iii) cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành trên cơ sở xem xét, giải quyết vụ việc vi phạm đã có hiệu lực pháp luật; iv) có chế tài là các biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc thù được áp dụng chỉ trên cơ sở những quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền”[25]. Trên cơ sởnhững đặc điểm này có thể thấy, trách nhiệm thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội thể hiện qua nghị quyết của Quốc hội mang đầy đủ yếu tố trách nhiệm pháp lý. Trong Báo cáo 10 năm thực hiện Luật về hoạt động giám sát có nhận định một trong những nguyên nhân hiệu quả giám sát chưa đạt được kết quảmong muốn làviệc theo dõi, đánh giá, đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau giám sát và sự chuyển biến trong thực tế thực hiện kiến nghị giám sát chưa được thực hiện thường xuyên nên hiệu lực, hiệu quả giám sát chưa cao; thiếu chế tài cho việc tiếp thu, giải quyết
kiến nghị sau giám sát…
Về trách nhiệm chính trị: Trên thực tế, việc theo dõi, đôn đốc các đối tượng chịu sựgiám sát của Quốc hội ngày càng được chú trọng, tình trạng “đánh trốngbỏdùi” hay “nương nhẹ, cho qua”đãgiảm dần, thay vào đó làsựtheođuổiđến cùngđể truycứutrách nhiệm cá nhân, tổchức chịu sựgiám sát có vi phạm pháp luật
32
đang được thực hiện có những tín hiệu đáng mừng. Những vấn đề đã được đưa vào trong các nghị quyết giám sát tại kỳ họp, kết luận của các đoàn giám sát chuyên đề, các kiến nghị của các cơ quan của Quốc hội đã được quan tâm theođuổi đếncùngđể làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan. Trách nhiệm này nhiều khi không phải là những sai phạm, vi phạm pháp luật, mà nó là trách nhiệm trong quản lý điều hành trước Quốc hội, trước cử tri và nhân dân cả nước. Điều này ngày càngđược chú trọng,thểhiện ởnhững phiên chất vấn, giải trình, xem xét báo cáo. Tại các kỳ họp, việc Quốc hội yêu cầu một số Bộ trưởng báo cáo việc thực hiện những kiến nghị chấtvấnhoặc giải trình về trách nhiệm của cơ quan cũng như của cá nhânđã thể hiện được quyền lực củaQuốchộitrong việc bắt buộc các cơ quan, cá nhân phải thực hiện các kết luận giám sát. Tuy nhiên, hiệu quả việc thực hiện trách nhiệm chính trị đối với các kết luận, kiến nghị giám sát của Quốc hội phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức và tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sát, bởi vì việc thực hiện các chế tài thực hiện các biện pháp cưỡng chế, xử lýtrách nhiệm không nằm ở phía Quốchộimà nằm ở phía cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền. Các chủ thể giám sát chỉ có thể theo dõi, đôn đốc, đề nghị báo cáo kết quảthực hiện các kết luận, kiến nghị giám sát. Tình trạng các kết luận giám sát của Quốc hội khôngđược thực hiệnmộtcác nghiêm túc, trách nhiệm chínhtrịcủa các đối tượng chịu sựgiám sát của Quốc hội chưa được xác định nghiêm minh vàxửlý triệt để vẫn tồn tại khá phổ biến. Việc Quốc hội bỏ phiểu tín nhiệmđối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầy hoặc phê chuẩn là một phương thức hữu hiệu đểđánh giá uy tín và trách nhiệm của các chức danh này. Tuy nhiên, hiệu quả thực sựcủa công việc này vẫn cần được minh chứng rõ ràng hơn nữa trên thực tế.
2.1.3. Vai t ò Kết luận giám sát của Quốc hội
– Kết luận giám sát đóng vai trò quan trọng để hạn chế sự lạm quyền từ phía các cơ quan Nhà nước, bảođảmpháp luậtđược thực thi,bảođảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.
Từnguyên tắc tổ chức và hoạt động của quyền lực Nhà nước và mối tương quan giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, chúng ta có thể thấy chức năng giám sát của Quốc hội, theo quan niệm của các nhànướctư sản, là một phương thức hữu hiệu để cân bằng quyền lựcvà bảo đảmcho quyền lực mà nhân dân trao cho Nhànướcđược thực thi có hiệu quả. Tuy ở những mức độ khác nhau nhưng phần lớn các nước trên thế giới đều xác định đối tượng chủ yếu của giám sát là nhánh quyền lực hành pháp, hay nói cách khác: Quốc hội thực hiện chức năng
33
giám sát đối với cơ quan hành pháp, cụ thể là Chính phủ, các thiết chế của Chính phủ. Đây là một cách hiểu mang tính lịch sử và gắn liền với chế định Quốc hội được xác lập là để kiểm tra và khống chế vương quyền, mà thực chất là một công cụ đểkhống chếsựlạm quyền từ phía cơ quan thực thi quyền lực. Đây cũng là lý do giải thích tại sao ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới giám sát của Quốchội được hiểu là giám sát các cơ quan hành pháp. Ngoài ra, với nguyên tắc làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, giám sát của cơ quan đại diện, cơ quan thực hiện quyền lập pháp, đảm bảo thực thi quyền lực mà nhân dân tin tưởng trao cho Quốc hội. Mọi quốc gia khi hình thành Nhà nước đều phải chú trọng việc giữ gìn, duy trìvà bảo vệ pháp chế tức là đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, viên chức Nhà nước, các tổ chức và mọi công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật do Nhà nước ban hành. Tất cả là nhằmbảo đảm trậttự, an ninh xã hội, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi. Và quan trọng hơn cả là các kết luận giám sát phải được thực thi đầy đủ, chính xác. Mục tiêu cao nhất của hoạt động
giám sát thực thi pháp luật trong một xã hội dân chủ – cho dù cơ quan nào tiến hành
giám sát đi chăng nữa – cũng là để bảo đảm rằng các cơ quan hành pháp và các cơquan nhà nước khác hành động vì lợi ích của người dân. Quốc hội được trao chức năng giám sát bởi vì, trước hết, trong một nhà nước dân chủ, ý ý chí của người dân chủ yếu được thể hiện thông qua Quốc hội. Chính phủ, cũng như những cơ quan nhà nướckhác chịu trách nhiệm trướcQuốc hội và phảiđượcQuốc hội giám sát. Kết luận giám sát sẽ là công cụ quan trọng, là biện pháp hữu hiệu để kiểm soát quyền lực Nhà nước, hạn chế việc lạm dụng quyền lực Nhà nước và đảm bảo việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật do mình ban hành.
Thông qua hoạtđộnggiám sát, kết luận giám sát buộc các cơ quan Nhànước khác phải giải trình, báo cáo làm rõ trách nhiệm khi phát hiện bất cứ ai, đối tượng nào có dấu hiệu vi phạm, nhất là những thành viên trong Chính phủ, cán bộ công chức, lực lượng vũ trang lạm dụng sự tín nhiệm trong các công việc được giao phó hay thực hiện chúng theo cung cách xung đột với nhân dân, với thái độ thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật,… thì họ phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Có thể thấy rằng, mục tiêu của giám sát là để vừa bảo đảm rằng hoạt động của các cơ quan Nhà nước tuân thủ những quyđịnhcủa Hiến pháp và pháp luật vừa bảođảm hiệu quả hoạt động công vụ và lợi ích của nhân dân được bảo đảm. Mục tiêu quan trọng hàng đầu của hoạt động giám sát là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thực hiện nền dân chủ xã hội. Điều này được thể hiện rất rõ tại Quốc hội các nước
34
bắcÂu như ThụyĐiển,Đan Mạch, Na Uy…[57], [58], [60].Tạicácnướcnày, việc theo dõi và giải quyết đơn thư khiếu nại của cử tri được giao chomột số uỷban đặc biệt hoặc cơ quan thanh tra Quốc hội. Theo xu hướng này, kết luận giám sát không còn mang tính chung chung, hình thức mà được thực hiện bởi những tổ chức cụ thể, chuyên trách và chịu trách nhiệm báo cáo thường xuyên trước Quốc hội.
Xem xét một cách toàn diện có thể thấy mục tiêu giám sát của Quốc hội được thể hiện trên 3 phương diện sau: “1) Quốc hội giám sát là nhằm đảm bảo các quyếtđịnh củaQuốchộinhất là cácđạo luậtđược thực thi đúng với các mục đích, yêu cầuđề ra; 2) Quốc hội giám sát nhằm chống lại sựđộc đoán, quan liêu và không công bằng trong quản lý nhà nước để đảmbảo các nguyên tắc pháp quyền và các quy trình, thủ tục đề ra được tuân thủ; 3) Quốc hội giám sát nhằm chống lại sự lãng phí, tham nhũng nhất làbảo đảmtính hiệu quả trong quá trìnhtổ chứcthực thi các chính sách. Tất cả ba mục tiêu nói trên đều quan trọng trong hoạt động giám sát [24]”. Tuy nhiên, trong một nhà nước pháp quyền, mục tiêu thứ hai: pháp luật phải được thượng tôn, thực thi một cách nghiêm chỉnh, công bằng, bình đẳng và tuân thủ những nguyên tắc, thủ tục đã đề ra có ý nghĩa quan trọng hơn cả. Điều này đòi hỏi các cơ quan trong hệthống công quyền phải có tính trunglậpvà không thiênvịrấtcao, tránhsựđặc quyền, đặc lợi. Đối với các nước trên thế giới, giám sát các cơ quan hành pháp là quan trọng nhất, vì đây thực chất là các cơ quan nắm thực quyền cai trị. Việc thiết lập và duy trìmộthệthống các cơ quan hành pháp và hành chínhkỷluật,kỷcương, công tâm, công bằng là không dễ dàng. Để làm được điều đó, các Nhà nước đều tìm cách thiết lập một cơ chế giám sát hữu hiệu nhất để kiểm soát quyền lực, ngăn chặn sự vi phạm pháp luật,đặcbiệt là chốnglạisựlạmquyềntừphía các cơ quan công quyền. Chức năng giám sát và những quyền hạn về giám sát điển hình cho mọi mô hình Nghị viện, không phụ thuộc vào hình thức chính thể. Vì vậy, việc đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội mỗi quốc gia cũng có sự khác nhau.
Giám sát của Quốc hội thực chất là việc Quốc hội sử dụng các phương tiện và công cụ của mình để tìm hiểu xem chính sách, pháp luật do Quốc hội ban hành được thực thi như thế nào, và các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng luậtđịnh ra sao trên cơ sở đó mà bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân. Qua nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy: chức năng giám sát của Quốc hội được thể hiện chủ yếu thông qua các hoạt động và cơ chế tổ chức cụ thể nhằm kiểm soát Chính phủ trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Kết quả cuối cùng của hoạt động giám sát thể hiện quyền lực tập trung của Quốc hội thông qua
35
các quyết định tập thểnhằm thayđổi, huỷbỏ hoặc kiến nghị sửa đổi, huỷbỏ các hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan hành pháp hay của những người đứng đầu cơ quan hành pháp, các quyết định này thường là Nghị quyết. Cao hơn nữa, thông qua kết quả giám sát Quốc hội có thể ra các kết luận giám sát như: quyết định bãi miễn, bãi nhiệm các chức vụ trong Chính phủ, những người do QH bầu hoặc phê chuẩn; thậm chí đưa ra quyếtđịnhbấttín nhiệm đối với Chính phủ. Trong khái niệm giám sát hoạt động Chính phủ ở các nước, nhìn chung cũng giống nhưở Việt Nam, hai yếu tố chính là nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội luôn song hành với nhau. Đó là: quyền kiểm tra, theo dõi, đánh giá việc thi hành Hiến pháp, pháp luật của Chính phủ, quyền sửa đổi hayhuỷbỏcác văn bản trái pháp luật, quyền miễn
nhiệm hoặc bãi nhiệm, quyền kiến nghị hoặc chất vấn…. thông qua các kết luận
giám sát của Quốc hội.
Thông qua các kết luận giám sát mà tính trách nhiệm của các đối tượngbị giám sátđược đề cao.Chính bởi vậy, khi Quốc hội có khả năng áp đặt chế độ trách nhiệm chocác đốitượng chịu sựgiám sát buộc họ phải tuân thủ thìđiều đó chứng
tỏ giám sát của Quốc hội có hiệu lực, hiệu quảvà Quốc hội có thực quyền. Việc “Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội – lập pháp, cơ quan đại diện của nhân dân, tức là Chính phủ – hành pháp, cơ quan duy nhất trong toàn bộ bộ máy nhànước có trách nhiệm chính trong việcđiềuhành và quản lý đất nước phải chịu trách nhiệm gián tiếp trước nhân dân là một thành công lớn trong lịch sửphát triển dân chủ của nhân loại” [6 tr. 451].
– Kết luận giám sát góp phần nâng cao việc thực hiện chức năngđại diện của Quốc hội, thể hiện được là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội Việt Nam.
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ở Nhà nước Cộng hòa xãhội Việt Nam, là cơ quan đại diện cho quyền và lợi ích của các tầng lớp nhân dân vàtính đại diện ngày càng được mở rộng do cách thức bầu Quốc hội ngày càng dân chủ hơn. Do vậy, vai trò đại diện cho xã hộicủa Quốc hội nói chung và mỗi đại biểu Quốc hội nói riêng ngày càng trở nên rộng hơn. Và cũng chính vì vậy, việc đấu tranh hay và dung hòa quyền lợi của cả quốc gia, của địa phương nơi mình ứng cửvà của cửtri bầu ra mình là một vấn đề mà các đại biểu Quốc hộiluôn phải cân nhắc. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội, đặc biệt là các đại biểu Quốc hộiở địa phương. Việc xácđịnhvà thực hiện đúng đắn vai trò đại diện sẽ giúp cho Quốc hội có khả
36
năng giám sát hiệu lực và hiệu quả, xác định đúng vấn đề cần giám sát và theo đuổi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị giám sát.Mặtkhác, việc thực hiện có hiệulựcvàhiệu quả quyền giám sát được trao sẽ khẳng định được vai trò đại diện cho lợi ích quốc gia và toàn dân của Quốc hội. Ở nhiều quốc gia, tính chuyên nghiệp của các đại biểu Quốc hội đã giúp họ thực hiện vai trò đại diện và hoạt động giám sát tương đối thuận
lợi khi các đại biểu được chuyên tâm cho các hoạt động này mà không bị phân tâm bởi gánh nặng cơcấuhay trọng trách khác. Trong khiđó,đạibiểu Quốchộinướcta khoảng 70% là kiêm nhiệm, đa phần đại biểu phải gánh nhiều vai trò cùng một lúc (nhà đại diện, nhà lập pháp và nhà hành pháp/hành chính, nhà tư pháp, giáo viên, bác sĩ, …) nên động lực cũng như điều kiện giám sát và theo dõi, đảm bảo thực thi kết luận giám sát có phầnbịhạnchế. Vàmộtkhi cáckếtluận giám sát khôngđượcthực thi, hoạtđộng giám sát coi như không hiệu quả, không bảo vệ được quyền và lợi ích của cử tri thì vai trò đại diện cũng bị hạn chế và lu mờ.
Ngoài ra, với việc thực hiện quyền giám sát và ban hành các kết luận giám sát, Quốc hội luôn giữ vai trò như “cầu nối” giữa nhân dân với Chính phủ – cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Thông qua các hoạt động giám sát, đặc biệt là chất vấn, khi kết hợp đượcvới công luận một cách hữu hiệu thì khả năng kiểm soát Chính phủ của Quốc hội sẽ tăng lên. “Hoạt động giám sát hành pháp của Quốc hội
(cầu nối giữa dân với bộ máy hành pháp) chỉ thực sự mang lại lợi ích cho người dân
khi họ biết được quá trình giám sát đó diễn biến ra sao và có kết quả gì – nghĩa làkết luận giám sát phải được công khai hóa; mặt khác, nhờ có công khai nên hiệu lực giám sát tăng lên gấp bội nhờ có thêm sức ép của công luận xã hội” [9 tr. 65].
– Kết luận giám sát có quan hệ chặt chẽ hoạt động giám sát và tác động trực tiếp đến chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Lập pháp và giám sát là hai chức năng cơ bản của Quốc hội. Từbất cứgócđộ tiếp cận nào đối vớichức năng lập pháp và giám sát của Quốc hội đều cho chúng ta thấy mối quan hệ giữa quyền lập pháp và giám sát – hai chức năng cơ bản của Quốc hội. Về vấn đề này cũng có cách nhìn nhận mang tính “thiên vị” đối với chức năng giám sát của Quốc hội khi coi“lập pháp thực chất là hành vi giám sát hành pháp” [39 tr 17]. Tác giả của quan niệm này cho rằng quy trình lập pháp của Quốc hội là “mộtquá trình giám sát hành pháp. Lập pháp không phải là tìm ra các quy tắc xửsựhợp lý của xã hội mà chỉ là hành vi kiểm tra, giám sát xem quy tắc xửsựmàhành pháp tìm ra có hợp luật tự nhiên hay không” [39 tr17,18]. Tuy nhiên, cũng nhưchính tác giả đã nhìn nhận: giám sátở đây được hiểuchính là hành vi lập pháp của
37
Quốc hội chứ không phải với tư cách là một trong những chức năng của Quốc hội –tức là giám sát việc thi hành pháp luật.
Quốc hộiđược biết đến nhưmộtcơ quanlậppháp xuất phát từ nguyên nhân ra đời của nó trên cơ sở phân chia quyền lực trong hệ thống quyền lực nhà nước. Dựa vào các kết luận giám sát của Quốc hộiđể Quốc hội quyết định sửa đổi luật hoặc sửa đổi, bổsungmột sốđiều của luật nào đó. Lập pháp vốn được coi như một quyền căn bản mang tính truyền thống của Quốc hội vì Quốc hội có quyền quyếtđịnh cuối cùng để thông qua một đạo luật và việc thông qua các đạo luật này thìphải dựa nhiều vào nội dung các kết luận giám sát liên quan. Về thực chất quyền lập pháp của Quốc hội không đồng nghĩa với quyền làm luật (cho dù các sáng kiến vàviệc soạn thảo một dự luật phần lớn bắt nguồn từ cơ quan hành pháp) ở Việt Nam, Quốc hội ngày càng làm tốt vai trò này. Nếu xét về quy trình quản trị quốc gia thìgiám sát của Quốc hội sẽ gồm 2 giai đoạn liên quan chặt chẽ với việc ban hành pháp luật: giám sát trước và giám sát sau khi ban hành chính sách. Giám sát trước: làđể xem xét, cho ý kiến về việc ban hành quyết định (chính là khâu thẩm tra và cho ýkiến về các dựán luật); giám sát sau là xem xét, đánh giá việc thực hiện tổ chức thực hiện chính sách (thực hiện pháp luật).
Hoạt độnglập pháp tạo cơ sở pháp lý và cơsở chính trị để Quốc hội tiến hành hoạt động giám sát. Vềphần mình, giám sátvớimụcđích là nhằmđảm bảo việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật nhưng đồng thời kết luận giám sát còn nhằm phát hiện ra những sơ hở, thiếu sót, những quyđịnh pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống hoặc có những vấn đề cuộc sống mới phát sinh mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh đểkịp thời cósựsửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hoặc ban hành mới giúp Quốc hội có những quyếtđịnhđúng đắn, phù hợp với yêu cầu cuộc sống. Kết luận giám sát cũng còn là nguồn để nắmtình hình đất nước, thu thập ý kiến công chúng về các chính sách quan trọng của quốc gia để sửađổi,hình thành các chính sách mới, tạo nên một nguồn quan trọng để hình thành những kiến nghị lập pháp hoặc kiến nghị những chính sách mới trên cơ sở tập hợp những kiến nghị của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức trong xã hội đối với việc thực hiện chính sách của Chính phủ. Ở khía cạnh này, kết luận giám sát là nguồn của kiến nghị lập pháp và là cơsở kiến nghị quyết định về chính sách mới[30]. Vì vậy, có thể phần nào hiểu rằng vì sao ở nhiều nước người ta không tách riêng hoạt động giám sát thành một chức năng độc lập bởi ở khía cạnh này giám sát là cơ sởcủa lậppháp. Suy cho cùng, chất lượng của pháp luật và các quyếtđịnh củaQuốchộigắnbó mật thiếtvới
38
hiệu quả của hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát.
Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước là một trong ba chức năng cơbản củaQuốchộiViệt Nam, trong khi ở nhiều nước khác chức năng này được hoànhập trong chức năng lập pháp khi mà các quyết định quan trọng tầm chính sáchđều đượcluật hoá. Thực tế cho thấy, hầuhếtnhững vấn đềquantrọng đượcQuốc hội nước ta quyết địnhđều dựa trên các hoạtđộng giám sát, khảo sát những đánh giá, thẩm tra, hoạch định chính sách vĩ mô. Do vậy, kết luận giám sát cũng làcơ sởđể Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng. Ngược lại, khi những vấn đề quan trọng được thông qua tại Quốc hội lại trở thành những nội dung định hướng cho hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát.
Như vậy, có thể thấy rằng: Kết luận giám sát của Quốc hội có mối quan hệchặt chẽ, hữu cơ, gắn bó, có tính tương hỗ đến hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đềquan trọngcủađất nước; hiệuquảhoạt độnggiám sát có tác động trực tiếpđến chất lượng của hoạt độnglập pháp và các quyếtđịnhcủa Quốchộitrong cácđạo luật và nghị quyết.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn


