Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết củađề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay. Đây cũng là chủ trương nhất quán, xuyên suốt và là nội dung tr ng tâm trong chính sách đối ngoại, hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam trong quá trình đ i mới đất nước.Từ khi chính thức trở thành thành viên của T chức Thương mại thế giới (năm 2007), tiến trìnhchủđộng, tích cực hộinhập kinhtế quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng hơn, đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện trên các
l nh vực [6], Việt Nam đã tham gia hầu hết các t chức, định chế quốc tế và khu vựcchủyếu trên thế giới. Riêng l nhvựcsở hữutrí tuệ, thực ra hoạtđộnghội nhập quốc tế của Việt Namđã được bắtđầu sớmhơn nhiều [31]. Việt Nam đã là thành viêncủaT chứcSởhữutrí tuệ thế giới từ năm 1976, tham gia các điềuước quốc tế (ĐƯQT) như Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp từ năm 1949. Mặcdầuvậy, với việc tham gia WTO và nhiều hiệp định hợp tác kinh tếđa phương, song phương và khuvựckhác nhau, đặcbiệt là việc kýkếtnhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà trong đó sở hữu trí tuệ (SHTT) luôn là một trong những nội dung quan tr ng và không thể thiếu, đã, đang và sẽmanglạinhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức cho Việt Nam trong đó có việc hoàn thiện chính sách, thể chế pháp luật, cảicách thủtục hành chính, tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Trong quá trình đ i mới đấtnước, để thựchiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiệnđạihoá, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngh a, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủngh a Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Việt Nam có rất nhiều mục tiêu phải thực hiện mà một trong những mục tiêu tr ng tâm là phải xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch. Pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyềnsở hữucông nghiệp (QSHCN)đốivới nhãn hiệu -mộtbộphận của pháp luật SHTT – được hình thành rõ nét từ những năm 80 của thế kỷtrước, khi Việt Nambắtđầu thựchiện công cuộc đ i mới dưới sự lãnh đạo củaĐảngCộngsảnViệt Nam. Tiến trìnhđóđược đánhdấubởi sự ra đời của Luật Sởhữu trí tuệ (LSHTT) năm 2005. Trải qua quá trình phát triển, pháp luậtvề xửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo hành lang pháp lý cho các t chức, cá nhân trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT), tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho hoạtđộng sản xuất- kinh doanh, góp phần khuyến khích hoạt động sáng tạo, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội củađấtnước đồng thời góp phần tạo nền tảng đưa hệ thống bảo hộ SHTT của Việt Namđạtchuẩnmựcph cậpcủa thế giới theo Hiệp địnhvề các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (TRIPS) của T chức Thương mại thế giới (WTO). Tuy nhiên, qua quá trình thi hành, thực tiễn cuộc sống liên quan đến các vụ việcxử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu nhiều khi vượt khỏi nhữngdự liệu của nhà làm luật khiđópháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cũng bộc lộ một số vướng mắc, bất cập nhấtđịnh cầnđược sửađ i, b sung nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, yêu cầu của cải cách thủtục hành chính cũng như để bảođảmthi hành các camkếtvề SHTT trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và đang đàm phán hoặcký kết.
Trên thựctế,tuy hệ thống pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu đã được xây dựng và thực thi một thời gian không ngắn nhưng tình trạng xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu vẫn không ngừng gia tăng. Việc kiểm soát không hiệu quả tình hình xâm phạm quyềnđốivới nhãn hiệu khiến môi trường cạnh tranh méo mó, uy tín doanh nghiệp bị thiệt hại, môi trường đầu tư kémhấpdẫn, người tiêu dùngbịchỉ dẫnsai, không thể sử dụng lợi ích của việc bảo hộ nhãn hiệu phục vụ cho phát triển doanh nghiệp, phát triển kinh tế đất nước.Tình trạng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu diễn ra ph biến bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không kể đến hệ thống pháp luật còn
chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ giữa các văn bản luật, giữa các văn bản luậtvới hệ thống văn bản hướng dẫn, giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, các chếtàixử phạt còn chưađủsứcrăn đe; hoạtđộngcủa các cơ quan thực thi còn chồng chéo, nănglựccủa cánbộcó thẩm quyền cònhạnchế, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa hiệu quả; ý thức tự bảo vệ quyền của chủ thể quyền chưa cao;hệ thống cơ quan, t chức hỗtrợ cho hoạtđộngphát hiện và xử lý xâm phạm quyền còn thiếu và yếu;ýthức chung của xã hộitrong việc bàitrừhàng xâm phạm quyền còn thấp. Để có thể góp phần xử lý hiệu quả các hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cần phải thực hiện đồng bộ nhiều thay đ i trongđó việchoàn thiện các quy định pháp luật có ý ngh a quan tr ng.
Đểquyềnsở hữutrítuệ(QSHTT) phát huy vai trò làmộtcôngcụhữu hiệu thúc đẩyhoạtđộngsảnxuất, kinh doanh, phát triển kinhtế – xã hội, QSHTT trởthành “thực quyền” mà không phải là sự “thừa nhận/ghi nhận trên giấy” thìhệthống các quyđịnhpháp luậtvềxửlý các hành vi xâm phạm QSHTT phải được thường xuyên hoàn thiện. Xây dựng pháp luật là hoạt động thường xuyên, liên tục,đócũng chính là quá trình hoàn thiện và phát triểnhệ thống pháp luật thực định [81].
Xuất pháttừ tầm quan tr ng của việcbảovệ QSHCNđốivới nhãn hiệu chốnglạicác hành vi xâm phạm, thực tiễn của quá trình thi hành pháp luật, lýluận về hoàn thiện pháp luật, nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao nănglựccạnh tranh quốc gia, việc nghiên cứucóhệ thống và chuyên sâu các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệuđể từ đóđưara những quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này là nội dung quan tr ng và cóýngh a lý luận và thực tiễn đốivới Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay. Việc hoàn thiện các quyđịnhpháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm quyềnđốivới nhãn hiệu mộtmặtlàđòihỏitấtyếu của tiến trìnhhộinhập quốc tế,mặtkhác chính là nhu cầu nội tại của chính nền kinh tế nhằm mục đích không chỉ tạo cơsở pháp lý cho việc xử lý hiệu quả các hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu tại Việt Nam mà từ đó còn bảo vệ hiệu quả quyền lợi của người tiêu dùng,
tạo sự yên tâm cho các chủ nhãn hiệu trong việc tạo dựng uy tín cho hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể kinhtế đồngthời tạoniềm tin cho các nhàđầutư trong và ngoàinướcđể các thànhtốnày cùng tham gia vào quá trìnhđầu tư kinh doanh, phát triển kinhtế đấtnước,để vấn đề bảo hộ QSHTT không còn là rào cản đối với tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam.
Vì những lý do nêu trên, tác giả đã ch n đề tài “Hoàn thiện pháp luật về xửlý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến s , chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật.
2. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích củaluận án là trên cơ sở nghiên cứunhữngvấnđề lý luận vềhoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu,đánh giá thực trạng và mứcđộhoàn thiện của pháp luậtvềxử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam, từ đó góp phần hình thành những tri thức lý luận và những luậncứkhoa h cđể đề xuất quanđiểmvà giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu ở Việt Nam.
Để đạt được mục đề ra, luận án cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Mộtlà, nghiêncứulàm sángtỏnhữngvấnđề lý luận của pháp luật vàhoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu trên các phương diện sau: khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò của pháp luậtvề xửlý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu; phân tích các tiêu chí hoàn thiện, các điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu; tìm hiểu các cam kết quốc tế của Việt Nam cóchứa các nội dung liên quan đến xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài trongxử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu để rút ra những giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật của Việt Nam.
Hai là, phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, cóhệthống thực trạng pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay để từ đó rút ra được những ưu điểm, bất cập và nguyên nhân những bất cập đó;
Ba là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích thực tiễn trong và ngoài nướcđề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu của luận án
– Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu dưới góc độ lý luận và lịch sử nhànước và pháp luật, bao gồm những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về xửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu của Việt Nam, một số nước trên thế giới và một số cam kết quốc tế của Việt Nam có liên quan đến việc xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu; các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
– Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu các quy định về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia (Việt Namvà một sốnước) dưới góc độ khoa h c pháp lý và phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu.
Ở góc độ pháp luật quốc tế: luận án nghiên cứu các quy định có liên quanđếnxử lý hành vi xâm phạm quyềnđốivới nhãn hiệu trong Hiệp địnhvề các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS), Hiệp địnhđốitác xuyên Thái ình ương (TPP), Hiệp địnhthương mạitự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA). Đây là những điềuướcquốc tế có ảnh hưởnglớntới Việt Nam trong hoạtđộng xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Ở góc độ pháp luật Việt Nam: hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivớinhãn hiệu là mộtđề tài rộng, chưađựngnhiềuvấnđềphức tạp về lý luận và thực tiễn. Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lýluận và thực tiễn về pháp luậtxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệutạocơ sởcho việc đưa ra những quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN ở Việt Nam trong giaiđoạnhiện nay, đặc biệt tập trung vào LuậtSởhữu trí tuệ 2005 (sửa đ i năm 2009) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với những vấn đề có liên quan đến thủ tục xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivớinhãn hiệu quyđịnhtrong các vănbảnluật chuyên ngành khác, luận án chỉ đề cập ở mức độ nhất định, cụ thể là tập trung vào những quyđịnhpháp luậtđặcthùđượcquyđịnhriêngđốivớil nhvựcsởhữutrítuệtrong mối tương quan với các vấn đề chính mà luận án nghiên cứu và trong tương quan tham chiếu với những yêu cầu trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Ởgóc độpháp luật, thực tiễnnước ngoài, luận ántậptrung vào việc nghiêncứupháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm quyềnđốivới nhãn hiệu của một sốquốc gia có trình độ phát triển cao trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng như có ảnh hưởng lớn trong quanhệ quốc tế,một số nướccóđiều kiệnkinh tế, xã hộitương đồngvớiViệt Nam, cụthểlà Trung Quốc, Thái Lan, Nhật ản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ. Lý dolựach n các quốc gia trên làmđốitượngnghiên cứu là các nước đó có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu (gồm đăng ký xác lậpquyền và bảovệ quyền)rấtphát triểnđồngthời cóảnh hưởng nhiều tới việc xây dựng pháp luật và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ởViệt Nam hoặc là những nước có hoàn cảnh kinh tế – xã hội khá tương đồng với Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiêncứupháp luậtnước ngoàichỉtập trung vào mộtsốnộidung: các biện phápxử lý hành vi xâm phạm quyềnđốivới nhãn hiệu; căncứxácđịnhhành vi, đánh giá yếutốxâm phạm quyềnsở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu; sự tham gia của cácchủthể có liên quan trong việcxửlý hành vi xâm phạm quyềnđốivớinhãn hiệu, cơ chế xử lý hành vi phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Về thời gian, luận án nghiêncứupháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam từ năm 1981 đến 2016 trong đó giaiđoạn 1981 – trước 2005 chỉ giới thiệu một cách khái quát, tập trung chủ yếu vào giaiđoạn từ2005 đến 2016.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ ngh a Mác – Lê nin, tưtưởngHồChí Minhvềnhànướcvà pháp luật; các quanđiểm,định hướng của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, hoàn thiện pháp luật, hội nhập kinh tế quốc tế, cải thiện môi trường kinh doanh.
Phương pháp nghiêncứuđượcsửdụng trong luận án là phương pháp luận của chủ ngh a Mác – Lê nin, theo đó kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn, sử dụng các phương pháp phân tích, t ng hợp, lịch sử và logic, so sánh, thống kê.
Các phương pháp nghiên cứu khoa h c cụ thể được sử dụng trong luận án gồm:
– Chương 1sử dụng phương pháp lịchsử-cụthể, phân tích – t ng hợp, quy nạp – diễn dịchđể làmrõ các nghiên cứu có liên quan tới đề tài, rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoàn thiện pháp luật xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu đã được nghiên cứu trong và ngoàinước,từ đóxác định những nội dung còn chưa được nghiên cứu hoặc đã nghiên cứu nhưng chưa thấu đáo và chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
– Chương 2 sử dụng phương pháp t ng hợp, quy nạp – diễn dịch, lịch sửnhằm làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề luận án đang nghiên cứu; phân tích, t ng hợp và so sánh các quy định về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu trong pháp luật Việt Nam và trong các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên có quyđịnhvề vấnđề này, so sánh quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam.
– Chương 3sử dụng phương pháp t ng hợp, thống kê, so sánh có minh h a từ thực tiễn, phân tích tài liệu thứ cấp để thấy rõ những ưu điểm và bất cập trong các giai đoạn phát triển của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệuởViệt Nam cũng như nguyên nhân của những ưu điểm, bất cập đó.
– Chương 4chủyếu sử dụng phương pháp phân tích và suy luậntừ bối cảnh đã được chỉ ra ở chương 3để từ đó đề xuấtcác quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
5. Những đóng góp mới của luận án
Mộtlà, trên cơ sở nghiên cứut ng quan tình hình nghiên cứutrong vàngoàinước có liên quanđếnđề tài, luận án xácđịnhnhững vấn đề đã được nghiên cứu, độ sâu nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Kết quả của việc t ng hợp, phân tích, đánh giá những công trìnhđã côngbốliên quanđến đề tàinghiên cứu làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Hai là, luận án đã nghiên cứu đưa ra khái niệm pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu; từ khái niệm đó, luận án phân tích được nămđặcđiểm, tám nhómnộidungcủapháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cũng như vai trò của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu trong việc tạo cơ sở pháp lý đảm bảo tổ chức và thực thi hiệu lực, hiệu quả QSHCNđốivới nhãn hiệu nói riêng, QSHTT nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, t chức, bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thu hút đầu tư, góp phần quan tr ng vào việcđưaViệt Namhộinhập sâu rộng vàonềnkinhtế thế giới. Những vấn đề này cóýngh a quan tr ng, tạo nềntảng lý luậnvề pháp luật vàhoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Đây cũng chính là đóng góp về mặt lý luận của công trình nghiên cứu.
Ba là, luận án đã phân tích, chỉ rõ được các tiêu chí hoàn thiện của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu và những điều kiệnđảmbảo cho việc hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu để phù hợp với hoàn cảnh chính trị, kinh tế,xã hội của đấtnước. Ngoài những tiêu chí chung khi hoàn thiện pháp luật, luận án cũng đưa ra những tiêu chí đặcthù nhằm xây dựng các quy phạm pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu bảo vệ một cách hài hoà lợi ích chính đang của chủthể quyền đốivớinhãn hiệu, ngườitiêu dùng và toàn xã hội, tránh hiện tượng lạmdụng quyền để cảntrở hoạt động kinh doanh lành mạnh của các chủthể khác trong xã hộivà đápứngyêucầuhộinhập quốc tế.Đâylà điểmmới chưa được nêu ra trong công trình nghiên cứunào trước đây, là đóng góp của luận án vào l nh vực pháp luật SHTT, có ý ngh a tham khảo cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện và áp dụng pháp luật.
Bốnlà, qua nghiên cứu nhữngđiềuước quốc tế Việt Nam kýkếthoặc tham gia cónộidung liên quanđếnxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu đặc biệt là những hiệpđịnhthươngmạithế hệ mới gần đâyđược kýkếtgần đây như Hiệp định TPP, EVFTA luận án đã chỉ ra những điểm còn chưa tương thích giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, những nội dung có tácđộnglớntới hệ thống pháp luậtvề xửlý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu ở Việt Nam; qua nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn xử lýhành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu của mộtsốnướcluận án rút ra những giá trị tham khảo có thể vận dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam.
Năm là, thông qua việc nghiên cứu lịchsửhình thành, phát triển của các quy định pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, luậnán đã hệ thống hoá được những nội dung cơ bản của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu qua các giai đoạn phát triển tương ứng với những dấu mốc quan tr ng của Việt Nam trong phát triển kinh tế, hội nhập quốc
tế;chỉ ra được những ưu điểm, cũng như bất cập của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu và nguyên nhân của nhữngbấtcậpđó. Trên cơ sở đó, luận ánđã xác địnhnhữngvấnđề bấtcậpcầnkhắc phục trong xây dựng và hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay.
Thứ sáu, qua nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, luận án đề xuấtđược baquan điểm và hai nhóm giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu nhằmđápứngđòihỏicủathực tiễn và các yêu cầu trong các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Các giải pháp đưa ra trong luận án này là kết quả nghiên cứu của tác giả, chưa từng công bố ở những nghiên cứu khoa h c trước đó.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Cáckếtquả nghiên cứu của luận án góp phần b sung vào tri thức lý luận về bảohộ và thực thi QSHTT cũng như pháp luật về SHCN và pháp luậtvề xửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Luận án là sự nhìn nhận, đánh giá khoa h c về những ưu điểm, hạn chế, bấtcập của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Kết quả của luận án cung cấp các luận cứ khoa h c và thực tiễn có giá trị tham khảo cho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, góp phần thúc đẩy hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạtđộngnghiên cứu, giảngdạyvà h ctậptrong các cơ sở đào tạoluật và nghề tư pháp, các cơquan và cán bộ thực thi QSHTT, các nhà làm luật.
7. Kết cấu của luận án
Ngoàiphần mở đầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luậnán gồm 4 chương, 9 tiết.

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
1.1.2. Tình h nh nghi n c u nước ngo i
1.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNGVẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1. Khái quát ết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những công trình khoa h c đã được côngbốởtrong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án, có thể rút ra một số nhận xét:
Thứ nh t, các công trình nghiên cứu trong hai nhóm đầu tiên là công trình liên quan đến pháp luật và hoàn thiện pháp luật về SHTT và công trình liên quanđến pháp luật và hoàn thiện pháp luậtvềthực thi QSHTT, QSHCN đều nghiên cứuhoạtđộngxử lý xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu trongmộtt ngthểchung của hoạt động bảo hộ quyền SHTT từ xáclập quyền đếnthực thi quyền, khai thác và phát triển quyền trongđópháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu là mộtbộphậncấuthành các thể chếpháp luật nói trên đồngthời là mộtnộidungcầnđược hoàn thiện để đảmbảochohệ thống pháp luật về SHTT toàn diện, thống nhất, khả thi, đầy đủ và hiệu quả. o phạm vi nghiên cứu rộng nên nội dung về pháp luật xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệuchỉđược nghiên cứumộtcách khái quát trong t ng thể pháp luậtxử lý xâm phạm quyền SHCN nói chung, các kiến nghịđưara mang tínhđịnh hướng mà chưa đi sâu nghiên cứu được các vấn đề liên quanđến đối tượng QSHCNcụ thể là nhãn hiệu. Tuy vậy, các công trìnhđềucó giá trịtham khảo tốt, gợi mở cho nghiên cứu sinh những vấn đề lý luận về hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu trong t ng thể chung của hoạt động hoàn thiện pháp luật SHTT, SHCN.
Thứ hai, nhóm thứ ba – các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật và hoàn thiện pháp luật xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu – là có nội dung gần gũi nhấtvới đề tàinghiên cứu. Tuy nhiên, các công trình chỉ tập trung nghiên cứu những hợp phần riêng rẽ của phápluật xửlý hành vi xâm phạm quyền SHCNđốivới nhãn hiệu hoặc nghiêncứupháp luật và hoạtđộngxử lýhành vi xâm phạm quyền SHCN nói chung hoặc nghiêncứumang tính gợi mởvấn đề,do vậy các kiến nghị hoàn thiện pháp luậtđưara trong nhóm công trình
này chỉ liên quanđếnmộtsốnộidung riêngrẽ của pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu hoặc có ýngh a gợi mở để nghiên cứu sinh thực hiện nghiêncứuchi tiết và toàn diện hơn. Có nghiên cứunhằmđến mục tiêu tươngtự như đề tài luận án nhưngđược tiếpcậntừ góc độpháp luật kinhtế và vẫn còn những khoảng trống chưađược khai thác như xácđịnhthếnào là hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu, thế nào là sử dụng nhãn hiệu để bịcoi là xâm phạm QSHCNcủamộtnhãn hiệu khác, quyền lợi của ngườitiêu dùng phảiđượcbảo vệ thế nào, pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệucầnchuyển dịch theo xu hướng nào để phù hợp với bảnchất của quan hệpháp luật mà nóđiều chỉnh, phùhợpvớithực tiễn cuộc sống và năng lực của cơ quan có thẩm quyền, cần hoàn thiện pháp luậtvề xử lýhành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu để tuân thủcác camkếtquốc tế trong quá trình hội nhập…
Thứ a, phần tài liệu khoa h c nước ngoài là những nghiên cứu t ng quan về vai trò của pháp luật thực thi QSHTT đốivới hệ thống pháp luật SHTT nói chung và sự phát triển kinh tế – xã hội, xu hướng phát triển của pháp luật thực thi QSHTT trong tương lai hoặc những bộ phận nhỏ của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Các nghiên cứu này có giá trị tham khảo cho luận án trong quá trình nghiêncứulý luậnvề pháp luậtxử lý hành vi xâm phạm QSHTT góp phần hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
Thứ tư, qua phân tích t ng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án cho thấy những công trìnhđã côngbốở trên có những đóng góp quan tr ngở những khía cạnh nhất định, trong những giaiđoạn lịchsử nhất định, trong việc giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCNđốivới nhãn hiệu, là nguồn tài liệu tham khảohữuích đểnghiên cứusinhkếtthừa có ch n l c và phát triển trong nghiêncứucủa mình. Các công trình này hầu hếtđềucó nội dungđề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền SHTT (trong đó có nhãn hiệu).
Qua các công trình nghiên cứu đã biết, có thể thấy, nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu về pháp luật xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu làmộtđềtài còn mới.Mặcdùđãcó công trình khoa h c bậctiến s luật kinhtế
nghiên cứu về xử lý vi phạm nhãn hiệu nhưng luận án này vẫn còn để ngỏ nhiều khoảng trống cần nghiên cứu tiếp. Các nghiên cứu liên quan khácnếu có đều chỉnghiêncứunhững khía cạnh, yếutốcủa quá trìnhxử lý hành vi xâm phạm quyền;mộthoặcmộtsốbiện phápbảovệQSHCNđốivới nhãn hiệu hoặc lànhững nghiên cứu đảm bảo thực thi chung quyền SHTT hoặc SHCN thựchiện ởdạng luận án, luận văn thạc s , khoá luận tốt nghiệp hoặc bài nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong các nghiên cứu này chủ yếu riêng rẽ cho từng vấn đề hoặc chỉ mang tính định hướng, chưa mang tính t ng thể.
Hơn nữa, các nghiên cứu còn thiếu vắng các công trình mang tính lý luận vềpháp luậtxửlý hành vi xâm phạm QSHTT, cóthểnóiđâylàmộttrong những nguyên nhân làm cho pháp luật về xử lý xâm phạm QSHTT thiếu hệ thống lý luận vững chắc làm cơ sở cho hoạt động hoàn thiện pháp luật về xử lý xâm phạm QSHTT. Thêm vào đó, mộtphần các công trìnhđược thực hiện ngay sau khi
LSHTT ra đời năm 2006, các công trình khác tuycó được thực hiện trong thời gian gần với thời gian thực hiện luận án này hơn nhưng vẫn chưa cập nhật nhữngđiều ước quốc tế mà ViệtNam mới tham gia gần đây có chứa đựng những cam kết của Việt Nam trong thực thi QSHTT.
Từ thựctế trênđặtra yêucầucầnphải có thêm nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật thực thi QSHTT đặc biệt là nghiên cứu về mặt lý luận để đưa ra những quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềxửlý hành vi xâm phạm QSHTT nói chung, QSHCN đối với nhãn hiệu nói riêng phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam, đáp ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Kết quả của các công trình nghiên cứu có trước đã gợi mở, cung cấp thông tin, hướng tiếp cận, nghiên cứu cho nhiều nội dung của luận án. Tuy nhiên, vấnđề hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu chưa được nghiên cứu một cách t ng thể, toàn diện và cụ thể trong các công trình nghiêncứucó trước.Mặtkhác, nhiều công trìnhđã được thực hiện trước khi luật SHTT ra đời năm 2005, nhiều văn bản pháp luật có liên quan được ban hành thậmchí đã được sửađ i từ thời điểm đó đến nay, hơn nữa Việt Nam mới kýkếtnhiều FTA có chứa đựngnhững camkếtảnhhưởnglớnđến hệ thống
pháp luật Việt Nam trong đó có pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu.
Vìlẽ đó, từ t ng quan tình hình nghiêncứuliên quan đến đề tài luận án ” oàn thiện pháp luật về xử l hành vi xâm phạm quyền s h u công nghiệpđối với nhãn hiệu Việt Nam”, tác giả xácđịnh việcnghiên cứu đề tài luận án là rất cần thiết. Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả xây dựng một số giả thuyết nghiên cứu như sau:
– Pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu sẽ hoàn thiện nếu chứa đựng các quy phạm pháp luật xử lý đúng và hiệuquả đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu; bảo vệ thỏa đáng quyền và lợiích chính đángcủachủthểquyềnđốivới nhãn hiệu; bảovệquyền lợi ngườitiêu dùng;đảmbảosự cân bằng lợi ích giữachủthể quyền, người tiêu dùng, xã hội, bên thực hiện hành vi bị cho là xâm phạm quyền; đảm bảo trậttự kinh doanh lành mạnh; khuyến khích, thu hút đầu tư; phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội và tuân thủ các cam kếtquốc tế. Để thựchiện đượcnhững nộidung nêu trên thì việccầnthiết phải xác định đúng những hành vi bị coi làhành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu, những hành viđượcloại trừ, không bị coi là xâm phạm; trả quan hệ pháp luật QSHCN đối với nhãn hiệu vềđúng với bản chất là quan hệ pháp luật dân sự; nghiên cứu những cam kết quốc
tế mà Việt Nam có tham gia có quyđịnhvề việcxử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài.
-Để pháp luậtvề xửlý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu hoàn thiện thì pháp luật phảiđảmbảo tính toàn diện,đồngbộ,thống nhất, nđịnh, khả thi, minh bạch, đơn giản, ít tốn kém và phù hợp với pháp luậtquốc tế.
-Để hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu thì trong phương hướng, đườnglốicủa Đảng, chính sách của Nhà nước phải thể hiện rõ quanđiểmvề sự thừa nhận và bảohộtàisảntrí tuệ nói chung, bảo hộ nhãn hiệu nói riêng; chỉ khi các cơ quan nhà nướcđủ nguồn lực (năng lực và nhân lực), người dân trong xã hội có ý thức tuân thủ và bảo vệ pháp luật, xã hội phát triển tới một trình độ nhất định với một điều kiện kinh tế tương xứng thì pháp luậtvềxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệumớiđạt được sự hoàn thiện.
Để chứng minh cho những giả thuyết nêu trên, những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu, b sung và phát triển được xác định như sau:
Về m t l luận, các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ gồm:
– Kháiniệm, đặcđiểm, nội dung điều chỉnh và vai trò của pháp luậtvề xửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu;
-Đề xuất các tiêu chí đánh giá mứcđộhoàn thiện và các điều kiện bảođảm cho sự hoàn thiện của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu;
– Phân tích các camkếtliên quanđếnviệcxử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu trong các điều ước quốc tế Việt Nam mới ký kết hoặc tham gia;
– Nghiên cứu, tham khảo pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu của một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị tham khảo hữuích phục vụviệc xây dựng và hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam.
Trên cơ sở các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ, luận án sẽ phảitrảlời những câu hỏi sau:
– Pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là gì, có đặc điểm, nội dung, vai trò như thế nào?
– Tiêu chí hoàn thiện pháp luậtvề xửlý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu là gì?
– Cácđiềukiện bảođảmcho việc hoàn thiện pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là gì?
– Các camkếtquốctế củaViệt Namvềvấnđềxửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu như thế nào? Có thể tham khảo được những gì từ kinh nghiệm lập pháp của các nước trong xử lý xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu?
Về m t thực ti n, các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ gồm:
– Phân tích, đánh giá toàn diện, có hệ thống quá trình hình thành, phát triển của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu;
– Phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong các quy định pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở nước ta hiện nay và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế đó;
Kết quả nghiên cứu các vấn đề nêu trên nhằm trả lời các câu hỏi:
– Quá trình phát triển của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu thể hiện sự hoàn thiện như thế nào?
– Những ưu điểm, bấtcậpcủa pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu là gì và nguyên nhân của những bấtcậpcủa pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu của Việt Nam?
Về quan điểm, giải pháp
Luận án cần nghiên cứu đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, hoàn thiện pháp luật, hội nhập kinh tếquốc tế, bảo hộQSHTT, bảo vệ người tiêu dùng để dựa vào đó làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích toàn diện những vấn đề lý luận trongđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, hoàn thiện pháp luật, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo hộ QSHTT, bảo vệ người tiêu dùng, thực trạng pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCNđốivới nhãn hiệu, tham khảo có ch n l c pháp luậtnước ngoài, đốichiếu với các quyđịnhcủa các điềuước quốc tế có liên quan, luận ánđề xuất các quanđiểmvàgiải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, góp phần thu hút đầu tư và đảm bảo thựchiện đầyđủ và hiệu quả các cam kết quốc tế, thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Luận án sẽ trả lời các câu hỏi:
– Để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ hài hoà lợi ích của chủthể QSHTT, người tiêu dùng và xã hội, quanđiểmhoàn thiện pháp luậtvềxử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam là gì?
– Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu ở Việt Nam là gì?
Kết luận Chƣơng 1
Trong Chương 1 luận án đã t ng quan tình hình nghiên cứu liên quan đếnđềtài luận án ” oàn thiện pháp luậtvềxửl hành vi xâm phạm quyền s h u công nghiệp đối với nhãn hiệu Việt Nam” ở ba cấp độ: pháp luật về xử lý hành
vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu trong các công trình nghiên cứu t ng thểpháp luật và hoàn thiện pháp luật về SHTT; pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu trong các công trình nghiên cứu về pháp luật và hoàn thiện pháp luật về thực thi QSHTT, QSHCN; các công trình nghiên cứu trực tiếp vềpháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Có thể thấy, hiện nay, có một số công trình khoa h c, bài viết nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, đa phần các công trình liên quan mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung và khái quát về hoàn thiện pháp luật SHTT, pháp luậtvềthực thi QSHTT, QSHCN nói chung hoặc nghiêncứunhững khía cạnh khác nhaucủapháp luậtvềxửlý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu như xử lý xâm phạm bằng biện pháp dân sự, hành chính, hình sự. Trong khoa h c pháp lý còn thiếu vắng các công trình mang tính lý luậnvềhoàn thiện pháp luật trong xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Có những nội dung cần được nghiên cứu, làm sáng tỏ nhưng chưađược đề cập trong các công trình nghiên cứu trước đó như: kháiniệm, đặcđiểm, nội dung và của pháp luật xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu;đặcđiểm, nội dung, ý ngh a, tiêu chí và nguyên tắc hoàn thiện pháp luậtvề xử lýhành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu; quyền lợi của người tiêu dùng khi bịthiệthạibởi hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu; hệ thống b trợcho hoạt động xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu… Đây là một sốkhoảng trống và đang đặt ra yêu cầu cần phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu vàlàm rõ trong quá trình nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Qua đánh giá t ng quan tình hình nghiên cứu, có thể nói, đề tài “Hoàn thiện pháp luậtvềxử l hành vi xâm phạm quyền s h u công nghiệp đốivới nhãn hiệu Việt Nam” là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách toàn diện, cóhệ thống cả về lý luận và thực tiễn để đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệuở Việt Namđápứngyêu cầu hội nhập quốc tế.
Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬLÝ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
2.1.1. Khái niệm đặcđiểm của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
2.1 Kh i ni h nh vi ph qu n s h u c ng nghi p i với nh n hi u
Trong xã hội hiện đại ngày nay, tàisảnvô hình đang ngày càng chiếmvịtrí quan tr ng trong khối tài sản chung của mỗi doanh nghiệp và của cả nền kinh tế quốc dân. “Đối với doanh nghiệp, giá trị tàisảnhữu hình của h có thể rất ít, nhưng tài sản vô hình của h (ví dụ danh tiếng của nhãn hiệu và/hoặc quyền sởhữu độc quyền các công nghệ quan tr ng, các kiểu dáng hấp dẫn) – những nhân tố chính cho thành công của h – lại có giá trị rất cao” [65]. Tài sản vô hình tồn
tạidướinhiều dạng khác nhau mà QSHTT là mộtdạng trongsốđó. Cần phải nhấn mạnh rằng QSHTT không bao gồm tấtcảm i tài sản vô hình mà chỉ gồm những loại là yếu tố để phân biệt các đối thủ cạnh tranh với nhau mà thôi [127]. QSHTT chủyếu baogồmhai nhánh, mộtnhánh là QSHCN (baogồmcó sáng chế, giải pháphữuích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu…) và nhánh kia là quyền tác giả [94, tr.10-11]. QSHTT đượcghi nhận là mộtloại quyền tàisảnđượcpháp luậtbảovệ [91, Điều 181]. Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụcủa các t chức, cá nhân khác nhau [84] và thuộc nhánh QSHCN. Trong các loại QSHCN, dobảnchất “vô hình và đặctính thông tin”
[25] của nhãn hiệu cũng như đặc tính luôn gắn liền chặt chẽ với uy tín của doanh nghiệp và từ đó gắn với cơ hội chiếm l nh thị trường nên nhãn hiệu thường là đối tượngbịxâm phạm và dễ bịxâm phạm [49, tr.43-49]. Việc sao chép hoặc lấy nhãn hiệu của người khác đã đạt được uy tín, danh tiếng nhất định trên thị trườngđể sử dụng cho hàng hoá, dịchvụcủa mìnhđưavào lưu thông là hiện tượng không hiếmgặptrong thực tiễn kinh doanh. Những hành vi như vậy đã xâm phạm tới QSHCN đối với nhãn hiệu của chủ thể quyền được pháp luật bảo vệ.
Xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là một dạng vi phạm pháp luật đối với tài sản vô hình là nhãn hiệu. Mang đặc trưng giống như các vi phạm pháp luật nói chung, xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là hiện tượng xã hội, tệ nạn trong xã hội, là những hành vi phảnứngtiêucựccủamộtsốcá nhân hoặc t chức đi ngược lại với ý chí của nhà nước được quy định trong pháp luật. Những hành vi có tính chất tiêucựcđóluôn gâyhạicho nhànước,xãhộivà nhân dân, do vậy chúng luôn bị nhà nước, xã hội và nhân dân lên án, đấu tranh đòi hỏi phải loại bỏra khỏi đời sống xã hội [107, tr.105]. Xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cần phải bị xử lý để bảo đảm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, bảo đảmmôi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ lợi ích của toàn xã hội.
Như vậy, có thể hiểu xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu là việcchủthể không phải là người n m gi quyền thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật xâm hạiđến quanhệ pháp luậtvềQS CNđốivớinhãn hiệuđược pháp luật S TT xác lập và ảo vệ.
Từ đócó thể đưa ra khái niệm, hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu là hành vi vi phạm pháp luật iểu hiện qua xử sự trái pháp luật của chủ thểhình thành trên cơ s nhận thức, được thể hiện trên thực tế dưới dạng hành động xâmhạiđến quanhệpháp luậtvềQS CNđốivớinhãn hiệu được pháp luật S TT xác lập và ảo vệ.
Định ngh a một cách cụ thể thì hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu là hành vicủa người thứ a không phải chủ s h u nhãn hiệu (ho c ngườiđược chủ s h u nhãn hiệu cho phép sửdụng một d u hiệu cho hàng hoá, dịch vụ theo cách thức xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của chủ s h u nhãn hiệu đang được nhà nước thừa nhận và ảo vệ.
Hành vi xâm phạm QSHCN chính là căn cứ thực tế để tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý. Điều này có ngh a,xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu chính là việc truycứutrách nhiệm pháp lýđốivớihành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Hoạtđộng này được thựchiện bởi các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào quy định thế nào là hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền xác định tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, những thiệt hại thực tế (nếu có) xảy ra do tác động của hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, ý chí của chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệutừ đólựach n hình thức và biện phápxử lý phù hợp. Hoạtđộngxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật.
Xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu thực chất là hoạtđộng áp dụng các biện pháp chế tài đã được quy định trong pháp luật của các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền với chủthể thực hiện hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Đây chính là việc truy cứu trách nhiệm pháp lýđối với các chủ thể có hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Hoạtđộng này thể hiện ở việc các cơ quan nhà nước hay người có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục luật định tiến hành các hoạt động cần thiết để yêu cầu chủ thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý giải thích rõ về hành vi của mình và buộc chủ thể vi phạm phải gánh chịu hậu quả bất lợi (về nhân thân, về tài sản, về tự do…) đã được quyđịnh trong các quy phạm pháp luật [107, tr.217]. Căn cứ thực tiễn để xử lý chính là hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Như vậy, có thể xây dựng khái niệm xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu như sau:xử l hành vi xâm phạm QS CNđốivớinhãn hiệu làhoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền, mang tính cư ng chế và thể hiện quyền lực nhà nước, nh m ngăn ch n và truy cứu trách nhiệm pháp l đốivớicác hành vi xâm phạm QS CNđốivớinhãn hiệu ng nh ng hình thức, iệnpháp khác khác nhau và tổ chức thi hành việc ngăn ch n và truy cứu trách nhiệm hành vi xâm phạm QS CN đó theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.
2.1 Kh i ni ph p u t v h nh vi ph qu n s h u c ng nghi p i với nh n hi u
Sử dụng nhãn hiệu là mộtnhucầukhách quanđể tạo điều kiện cho các nhà sản xuất, kinh doanh cá biệt hóa sản phẩm, dịch vụ của mình, đồng thời nhãn hiệu cũng giúp người tiêu dùngcó địnhhướng khi ch nlựasảnphẩm, dịch vụphù hợp. “Để người tiêu dùng có thể dùng để phân biệtmột sảnphẩm, nhãn hiệu
phảichỉ ra đượcnguồn gốc của hàng hóa” [133, tr.68]. o đó không thể tồn tại cùng lúc những nhãn hiệu của các chủ thể khác nhau trùng hoặc tương tự nhau sử dụng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau hoặc tương tự với nhau hoặc việc sử dụng một dấu hiệu của một chủ thể bất kỳ có thể khiến chủ sở hữu nhãn hiệu bị suy giảm danh tiếng hoặc người tiêu dùng bị định hướng sai về nguồn gốc sản phẩm, dịch vụ. Để đảm bảo được điều này cần có một cơ chế nhất định đảmbảo chức năng phân biệt của nhãn hiệu, chống lại các hành vi gây nhầm lẫn hoặc cónguy cơ gây nhầmlẫnnhư hành vi sao chép, giả mạo nhãn hiệu. Xuất phát từ vai trò quan tr ng của QSHCN đối với nhãn hiệu đối với hoạt động thương mại vàbuôn bán nên các quốc gia đều xây dựng nên các quy định pháp luật làmcơ sởpháp lý để bảo vệ loại tài sản này.
o tính vô hình đặc thùcủatàisảnnhãn hiệu nên QSHCN đối với nhãn hiệu được pháp luật quy định cụ thể bằng một số những quyền nhất định cho chủthể quyền, phạm vi bảo hộtươngứngvới các quyềnđóvà cũng có những quyđịnh cụ thể về những hành vi bị coi là xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu và các biện phápxử lý tương ứng. Tuy nhiên, có hành viđược coi là hợpphápở quốc gia này nhưng lại là bất hợp pháp ở các quốc gia khác bởi mức độ phân hoá pháp luật của các quốc gia khác nhau là khác nhau [78, tr.36-42].
Khi một chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu
tứclà chủ thể này đã ch n cách xử sự trái với ý chí của nhà nước thể hiện trong quy phạm pháp luật thì chủ thể phải chịu trách nhiệmvề việclàm của mình tức là phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu chính là căn cứ thựctế đểtiến hành truycứutrách nhiệm pháp lýđốivới chủthể thực hiện hành viđó.Điều này có ngh a,xử lý hành vi xâm phạm QSHCN nhãn hiệu chính là việc truycứutrách nhiệm pháp lýđốivới chủthể thực hiện hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào quy định thế nào là hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền xác định tính chất và mứcđộ nguy hiểm của hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, những thiệthại
thực tế xảy ra do tác động của hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu,ýchí của chủsở hữunhãn hiệu trong việcxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu từ đó lựa ch n hình thức và biện pháp xử lý phù hợp. Hoạtđộng xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật.
Hành vi xâm phạm QSHCN có thể bịxử lý bằng những biện pháp khác nhau là biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu được quy định bởi các quy phạm pháp luật khác nhau thuộc các ngành luật tương ứng.Để bảovệ các quanhệ xã hộiphát sinh trong l nh vực QSHCN đối với nhãn hiệu là không chỉ các quy phạm pháp luật SHTT mà còn là các quy phạm pháp luật nội dung và thủ tục của ngành luật dân sự, hành chính, hình sự. Việc xác định hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cần phải xem xét và áp dụng t ng hợp quy phạm pháp luật của nhiều chuyên ngành luật khác nhau. T ng thể các quy phạm pháp luật đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu tạo ra một trậttựpháp luật thống nhấtđảmbảolợi ích củachủthểQSHCNđốivới nhãn hiệu, người tiêu dùng và toàn xã hội.
Từ những phân tích nêu trên, có thể rút ra khái niệm pháp luậtvềxử l hành vi xâm phạm QS CNđốivớinhãn hiệu làhệ thống các quy t c xử sựchung do nhà nước an hành ho c thừa nhận nh m điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình phát hiện, ngăn ch n và truy cứutrách nhiệm pháp l đối với chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu.
2.1 ặc iể củaph p u t v h nh vi ph qu n s h u c ng nghi p i với nh n hi u
Pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là một bộphận của hệ thống pháp luật nói chung nên cũng có đầy đủ những dấu hiệu (đặc điểm)của hệ thống pháp luật nói chung là mang tính quyền lựcnhà nước,tính bắtbuộc chung, tính quy phạm ph biến, tính hệ thống và tính xácđịnh chặt chẽvề mặthình thức. Ngoài ra, pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu có một số những đặc điểm (dấu hiệu) đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nh t, hệ thống quy phạm pháp luậtvềxử l hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu phản ánh tính đ c th trong tổ chức và thực hiện xửl xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu.
Các quan hệ xã hội trong l nh vực xử lý xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu rất đa dạng và phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, vừa mang tính hành chính, vừamang tínhtốtụng. Tính hành chính thể hiện ở chỗ, việc tiến hành xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là một trong các nội dung quản lý nhà nước liên quanđến vấn đề SHCN của nhiều cơ quan hành chính có liên quan như cơ quan thanh tra khoa h c và công nghệ, cơ quan quản lý thị trường, cơ quan hải quan, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và tỉnh. Tính tố tụng thể hiện ở chỗ, hoạt động xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu phảiđược thựchiện theo trình tự, thủ tục nhất định bởi các cơ quan tố tụng có thẩm quyền thể hiện trong việc điều tra, truy tố, xét xử, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời… với sự tham gia của hệ thống toà án, cơ quan công an cũng như hệ thống các cơ quan thực hiện việchỗ trợ hoạtđộng tư pháp. Hơn nữa, dođặcthù của vi phạm pháp luật QSHCNđốivới nhãn hiệu, đốitượng, chủthểđược pháp luật bảo vệ mà các quy phạm pháp luật trong l nh vực xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu sẽ cónhững đặcthù riêng. o vậy, có thểthấy hệ thống các quy phạm pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu khi bao quáthếttoàn bộ các nội dung của hoạt động xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu thì cũng phản ánh sự đặc thù trong t chức và thực hiện xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
í ổ ị ô ễ ó ô .
Xuất pháttừ việc hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu có thểdiễn ra ở tấtcảcác giaiđoạncủaquá trình kinh doanh từ sản xuất, lưu thông đến mua bán, tiêu dùng; hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu không chỉ gây thiệthạicho chủ sở hữu nhãn hiệu mà còn ảnh hưởng xấu tới người tiêu dùng vàtrật tự quản lý của nhà nước; các chủ thể có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm
QSHCN đối với nhãn hiệu cũng như tham gia hỗ trợ hoạt động xử lý xâm phạm rấtđa dạng, thuộc nhiều l nh vực khác nhau của đời sống xã hội; tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của các hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu sẽcó những biện pháp xử lý tương ứng nên hệ thống quy phạm pháp luật xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu rất đa dạng, phong phú, thuộc nhiều l nh vực pháp luật khác nhau như pháp luật SHTT, pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự,pháp luật hìnhsự,pháp luậttốtụng hìnhsự,pháp luật hành chính, pháp luật thương mại, pháp luật hải quan, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng…
Cùng chung lý do khiến nộidungcủapháp luậtvềxửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu đa dạng, phong phú thì hình thức của hệ thống quy phạm pháp luật xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cũng rấtđa dạng. Các quy phạm pháp luậtvề xửlý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu khôngchỉnằmtrong các vănbảnluật mà cònở trong các văn bản dướiluật thuộc nhiều ngành luật khác nhau, văn bản liên tịch hay trong các quy chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan có thẩm quyền.
ởi lý do các quy phạm pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu có thể nằm trong các văn bản luật thuộc các ngành luật khác nhau, ở nhữngthứbậckhác nhau nênrấtdễ xảyra tình trạng không thống nhất vàkhông n định. Có thể lấy ví dụ: Nghị địnhsố97/2010/NĐ-CP [20] về xử phạt vi phạm hành chính trong l nh vực SHCN quy định về các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền, thủ tục giải quyết đơn yêu cầu xử lý vi phạm; thẩm quyền xử phạt và thi hành quyếtđịnh xửphạt vi phạm hành chính trong l nh vực SHCN nhưngtấtcảcác nộidung của Nghịđịnhnàyđềuphải tuânthủquyđịnhcủa Pháp lệnhXử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đ i năm 2008 [110; 111]. Khi Pháp lệnh này bị thay thế bởi Luậtxử lý vi phạm hành chính năm 2012 [87] thì Chínhphủđã phảiban hành Nghị định số99/2013/NĐ-CP [22] để thay thế cho Nghị định số 97 mà một trong những lý do dẫn tới việc thay thế nàylà để đảmbảo sự phù hợp với LuậtXử lývi phạm hành chính năm 2012.
Thứ a, pháp luật về xử l hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu vừalàmột ộphậncủapháp luật S TT vừalàmột ộphậncủapháp luật chuyên ngành có liên quan khác
Hệ thống quy phạm pháp luậtxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu là t ng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong t chức và thực hiện xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu. Pháp luật SHTT có điểmđặcthù là vừachứa đựngnhững quy phạm nội dung, vừa chứa đựng những quy phạm thủ tục. Những vấn đề đặc thù trong xử lýhành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu như xác định hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, hành vi không bị coi là xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, chủ thể QSHCN đối với nhãn hiệu, các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđối với nhãn hiệu, nguyên tắc xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền, căn cứxácđịnh mứcbồi thường thiệthạido hành vi xâm phạm quyền, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạmthời, giámđịnhQSHCNđốivới nhãn hiệu…được quy định trong Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn. Những vấn đề khác liên quanđếnxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu khôngđượcquyđịnhtrong pháp luật SHTT thìnằmtrong các vănbảnpháp luật chuyên ngành như luật hìnhsự,luậttốtụng hìnhsự,luậttốtụng dânsự,luậthảiquan, luật thương mại, luậtxử lý vi phạm hành chính… và các văn bản hướngdẫnvídụnhư xácđịnhtộiphạm xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu, thẩm quyền, thủ
tục xử lý vi phạm pháp luật nói chung. Như vậy, có thể thấy, pháp luậtvề xử lýhành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu chính là mộtbộphận củapháp luật SHTT và các pháp luật chuyên ngành có liên quan.
ợí
ản chất của hoạtđộngxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu là việc áp dụng các biện pháp chế tàiđốivới nhữngchủthể xâm phạm quyền SHCN của chủnhãn hiệu. Tuy nhiên, như đã phân tích ởphía trên, một trong những chức năng cơbảncủa nhãn hiệu là giúpngườitiêu dùng xácđịnh nguồn gốc của sản phẩm, dịch vụ cũng như lựa ch n được đúng sản phẩm, dịch vụ h mong muốn nên khi một chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu h không những xâm phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu mà đã xâm phạm đến quyền lợi của người tiêu dùng. Hơn nữa, các hành vi xâm phạm
QSHCNđốivới nhãn hiệu cònảnhhưởng đếnmôi trườngđầutư, kinh doanh lành mạnh do việc những chủ thể kinh doanh chân chính bị người khác làm giả, bắtchước nhãn hiệu mình đã dày công tạo dựng uy tín từ đó các nhà đầu tư mất niềm tin vào môi trường kinh doanh. Tác giả Lê Nết [72] đã nhận định việc thực thi QSHTT phải thoả mãn lợi ích của bốn chủ thể là người tiêu dùng (không bịnhầm lẫn giữa hàng thật và hàng giả), chủ sở hữu đối tượng SHTT (bảo vệ uy tín sảnphẩm), các nhà sản xuất khác (được cạnh tranh bình đ ng) và Nhà nước (bảođảmmột hệ thống pháp luật công bằng và hiệu quả). Các quy định pháp luậtvềxử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu luôn được xây dựng sao chođảmbảo sự hài hoà lợi ích của các chủ thể nêu trên. Chính bởi những lý do đó, có thể nói pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu vừa mộtmặttrực tiếp bảovệ quyền lợi của chủsở hữu nhãn hiệu nhưngmặtkhácđồng thời gián tiếp bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng và toàn xã hội.
Thứ năm, pháp luật về xử l hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu có mức độ hội nhập quốc tế r t cao
Pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là một bộphận của pháp luật SHTT do vậy cũngcó đặctrưng của pháp luật SHTT. L nh vựcSHTT là một trong những l nh vực Việt Nam có sự hội nhập cao với quốc
tế.Việt Nam đã ký kết, gia nhập nhiều điều ước song phương và đa phương về SHTT. Rất nhiều những hiệp định thương mạithế hệ mới gần đây ViệtNam kýkếtnhư Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc,Hiệp địnhthương mạitự do Việt Nam – EU, Hiệp địnhđốitác xuyên Thái ình ương (TPP)… trongnộidungđềukhông thể thiếu phần đề cập đến các vấn đề SHTT, trong đó yêu cầu về thực thi hiệu quả quyền SHTT luônđược quyđịnhở tiêu chuẩnrấtcao, chiếmvịtrí quan tr ng. Hiện nay, hệ thống SHTT của Việt Namđã vượtchuẩn mực ph cập của thế giới, màkhông chỉ đạt chuẩn tối thiểu của WTO (theo quy định của TRIPS) [33], có thể sánh với cácnước tiên tiến trong khuvực[32]. Đảmbảothực hiện đầyđủvà hiệu quả các cam kết quốc tế trong l nh vực SHTT hoặc liên quan đến l nh vực SHTT chính là yêu cầu bắt buộc đối với các thành viên tham gia cácĐƯQT điềuđócũngđồngngh a với việc pháp luật SHTT nói chung và pháp luậtvề xử lý
hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu nói riêng phải được quy định phùhợpvới các camkếtquốc tế. Điềuđókhiến cho pháp luật SHTT nói chung vàpháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu nói riêng có đặcđiểm n i bật là có tính hội nhập quốc tế cao.
2.1.2. Nộidung pháp luậtvề xử lý hành vi xâm phạm quyềnsởhữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là t ng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau nhằmđiều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong quá trình tiến hành xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Có thể chia nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu thành các nhóm sau:
Mộtlà, nhóm các quy phạm pháp luật xác địnhhành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu và nh ng trường hợp ngoại lệ.
Khi xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu vấn đề quan tr ng cốt yếulà phải xácđịnhđược hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Để tiến hành xácđịnh hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu thì các chủ thể có thẩm quyền xử lý xâm phạm phải căncứvào phạm vibảohộcủa nhãn hiệubịxâm phạm, dấu hiệu bị nghi ngờ xâm phạm để so sánh, đánh giá mức độ tương tự gây nhầm lẫn giữa nhãn hiệu vàdấuhiệubịnghingờxâm phạm, giữa hàng hoá, dịchvụmang dấu hiệu đang xem xét với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký k m theo nhãn hiệu được bảo hộ. Nếu nhãn hiệu bị nghi ngờ xâm phạm là nhãn hiệu n i tiếng thì phải xácđịnh việcsử dụng của dấu hiệu bị nghi ngờ xâm phạm cógây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữangườisửdụng dấu hiệu đó với chủ sởhữu nhãn hiệu n i tiếng hay không hoặc có nhằm lợi dụng uy tín, danh tiếng của
nhãn hiệu n i tiếng hay không. Ngoài ra, chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm và mục đích, địa điểmthực hiện hành vi xâm phạm cũng là thông tin cần xem xétđể xác định hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
o vậy, nhóm quy phạm này xácđịnhnhững dạng hành visử dụng dấu hiệu đang xem xét bị coi là xâm phạm quyền của một nhãn hiệu đang được bảo hộ, căn cứ xác định hành vi xâm phạm (đối tượng được bảo hộ, chủ thể thực hiện hành vi, địa điểmthực hiện hành vi). Ngoài ra, những trườnghợpsử dụng dấu
hiệu nhưng không bị coi là hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cũngđược dự liệu cụ thể để loạitrừ trách nhiệm pháp lý cho những chủ thể thực hiện những hành vi đó phù hợp với bản chất của nhãn hiệu cũng như đặc thù về giới hạn QSHTT đối với nhãn hiệu.
Công nghệ ngày càng phát triển thì khả năng bắt chước, làm giả nhãn hiệu càng cao. Đặc biệt sự phát triển của Internet, thương mại điện tử khiến cho dường như không còn ranh giới giữa các quốc gia, chính vì vậy các quy phạm pháp luật xác định hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cần phải bao quát được hết những hành visửdụngdấuhiệu phân biệt cho hàng hoá, dịchvụcókhảnăng khiếnchủnhãn hiệubịthiệt hại,ngườitiêu dùngbịnhầm lẫn, môi trường kinh doanh bị bóp méo, không đảm bảo được yếu tố cạnh tranh lành mạnh.
Hơn thế nữa, nhãn hiệu với tư cách là một dạng chỉ dẫn thương mại nhằm hướngdẫnhoạtđộngthươngmạirấtdễ có hiện tượngxungđộtquyền với các chỉ dẫnthương mạikhác như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp… cũng được bảo hộ theo pháp luật SHTT hoặc tên miền, do đó, pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu cần phải chứa đựngcảnhững quy phạm giải quyết mối xung đột này.
ai là, nhóm các quy phạm pháp luật quy định của các chủ thể có quyền yêu cầu xử l hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu
ấtkỳ t chức, cá nhân nào bị thiệthạido hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu hoặc phát hiện ra hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu gây thiệthạicho người tiêu dùng hoặc cho xã hộiđềucó quyền yêucầuxử lýhành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu [84; 85]. Các chủ thể nàyrấtđa dạng không chỉ giới hạnở các chủthể QSHCN (chủsở hữunhãn hiệu hoặc ngườiđược chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép) [LSHTT, Điều 121, Khoản 1 Điều 198], [NĐ 103, Điều 15], [NĐ 99, Khoản 1 Điều 22] mà còn cả người tiêu dùng bịthiệt hại bởi hành vi xâm phạm nhãn hiệu hoặc bất kỳ cá nhân hoặc t chức nào phát hiện ra hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu gây thiệt hại cho xã hội [LSHTT, Khoản 2Điều198], [NĐ 99, Khoản 2Điều22], [Luật VQL NT , Khoản 6 Điều 8] [88]. Mặtkhác, việcxửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu cóthểđượctiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhautuỳthuộc vào tính chất và mức độ xâm phạm nên nhóm quy phạm này xác định quyền và ngh a
vụcủamỗichủthểkhi tham gia quanhệpháp luậtvềxửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu tương ứng với mỗi biện pháp xử lý xâm phạm.
Có thể thấy, các quy phạm pháp luật trong nhóm này luôn chịusự điều chỉnh của pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật chuyên ngành có liên quan. Ví dụ, nếuhành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệuđược xử lý bằng biện pháp dânsự thìchủthể có quyền yêu cầuxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu, quyền của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật này được quy định trong [LSHTT, Điều 121, 206, 208], [NĐ103, Điều 15] nhưng đồng thời với đócác quyđịnhtươngứngtrong ộluậtTốtụng dân sự 2015 [92] cũng được áp dụng [ LTT S, Điều 4, 5, 6, Điều 211-213].
Nhóm quy phạm nàycầnbao quátđầyđủcác chủthểcó quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệuđể đảmbảoquyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể có liên quan, bảo vệ trật tự kinh doanh lành mạnh.
Ba là, nhóm các quy phạm pháp luật quy định iện pháp xử l dân sựđối với hành vi xâm phạm QS CNđối với nhãn hiệu
Quyền sở hữu trí tuệ là một quyền tư hữu [103], đối tượng bị hành vi xâm phạm xâmhạilà QSHCN đối với nhãn hiệu nên thiệthạitrước tiên là các lợi ích kinh tế của chủ sở hữu nhãn hiệu, sau đó là thiệthạivề uy tín của chủ thể này, ngoài ra trong những trườnghợpnhấtđịnhngười tiêu dùng và xã hộicũngbịthiệthạibởi hành vi xâm phạm gây ra, vì thế nên xu hướng chung của thế giới làluôn ưu tiên áp dụng biện pháp dân sự khi xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu.
Các quy phạm pháp luật trong nhóm này quyđịnhcác biện pháp dânsựcụ thể được áp dụng để xử lý t chức, cá nhân có hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. “Việc dânsựcốtởđôibên” là nguyêntắccốtlõicủatrong giải quyết việc dân sự được luật hoá tại Điều 3 ộ luật ân sự 2015 “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, ngh a vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. M i cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên vàphải được chủ thể khác tôn tr ng” [92], do đó, các quy phạm pháp luật trong nhóm này cần phải đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên đương sự, bảo vệ kịp thời và
đúng đắn quyền và lợi ích chính đáng của bên có quyền, khắc phục hoặc bù đắpđược tình trạng ban đầu về tài sản và nhân thân cho chủ thể bị vi phạm.
Nhóm này bao gồm các quy phạm xác định các biện pháp dân sự có thể đượcáp dụng để xử lý đối tượng có hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu nhưbuộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện ngh a vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại, buộc xử lý hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu [72, Điều 202], [18, Điều 29-32]; các nguyên tắc, căn cứxác định thiệt hại, t n thất về tài sản, giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, t n thất về cơhội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, quy định về giá trịhàng hoá xâm phạm làm cơ sở xác định mức phạt [72, Điều 204, 205], [18, Điều 16-20]; xác định giá trị hàng hoá xâm phạm [NĐ 105, Điều 28]; quyền và ngh a vụchứng minhcủađươngsự[92,Điều6, 91-210], [18,Điều23-25]; các biện pháp khẩncấptạmthời và quyền và ngh avụcủacác bên liên quan khi áp dụng biện pháp khẩncấptạmthời [72,Điều207, 208, 209], [92,Điều111, 112, 123, 114]; thẩm quyền, thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm [72, Điều 210], [92, Điều 133-142]; trình tự, thủ tục xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu tại toà án áp dụng trình tự chung giải quyết vụ án dân sự trong ộ luật TT S.
Ngoài ra,để đảmbảo đúng với bảnchất dânsự của quan hệ pháp luật SHCN thì pháp luật phải đảm bảo phát huy quyền tự định đoạt của chủ thể quyền trong việc yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu, hạn chếxử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự. Ch ng hạn như pháp luật phải cócác quy định để khuyến khích, tạo điều kiện nhiều hơn cho việc thực hiện xử lýhành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu được xử lý bằng biện pháp dân sự.
Yêu cầu đối với nhóm quy phạm pháp luật này là phảiđảmbảo sự thống nhất giữa pháp luật SHTT, pháp luật dânsự và pháp luậttốtụng dânsự.Hơn nữa, đốivới nhữngvấnđề dù áp dụng biện phápxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu nào (hành chính, hìnhsự hay dânsự)thì cũng phải xem xétđếnnhư chứng cứ, cách thức xácđịnhgiá trịhàng hoá, dịchvụxâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu để làm căn cứ xử lý hành vi xâm phạm thì các quy phạm quyđịnh về nhữngvấnđề nàycòn phảiđảmbảosựthống nhất giữa các quy định pháp luật của các ngành luật có liên quan với nhau.
Bốnlà, nhóm quy phạm pháp luật quyđịnh iệnphápxửl hành chínhđối với hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu
Hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu không chỉ trực tiếp gây t n hạiđến quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ quyền mà còn có thể ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều người khác cũng như tác động tiêu cực đến sự lành mạnh của môi trường kinh doanh do những thành quả đầu tư, danh tiếng, uy tín của chủ nhãn hiệu có thể bị chiếmđoạthoặc lợi dụng một cách bất hợp pháp bởi ngườisử dụng nhãn hiệu giả mạo, phá vỡ trật tự quản lý của nhà nước. Các biện pháp hành chính để xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu với mục tiêu của trình tự hành chính là bảo vệ lợi ích của xã hội.
” ản chất biện pháp hành chính là sử dụngsứcmạnh quyền lực của các cơ quan hành chính (nằm tronghệthống hành pháp) thông qua các quyếtđịnh hành chính và t chức thực hiện các quyếtđịnhhành chínhđóđể xử lý các vi phạm hành chính” [39] nên nếu như với biện pháp dân sự có thể áp dụng với bất kỳhành vi nào xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu thì biện pháp hành chính chỉ được áp dụng trong những trường hợp hành viđótheo quyđịnhpháp luật phải bị xử lý hành chính.
Các quy phạm pháp luật trong nhóm này bao gồm các quy phạm xácđịnh hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu bị xử phạt vi phạm hành chính [84, Điều 211], [18, Khoản 2 Điều 4, Điều 5, Điều 11]; hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả [84, Khoản 1, 2, 3 Điều 214], [22, Điều 3], [11, Điều 4] [11]; các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính [84, Điều 215]; cách xác định giá trị hàng hoá xâm phạm [22, Điều 28]; mức phạt và thủ tục xử phạt, thẩm quyền xửphạt, trìnhtự,thủtụcáp dụng biện pháp hành chính, thẩm quyềncủacác cánhân, t chứcđượcáp dụng biện pháp hành chínhđểxửlý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính [84, Điều 214], [22, Điều 11, 12, 13, 15-28].
o có nhiềuchủthểcùng có thẩm quyềnxử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu bằng biện pháp hành chính nên nhóm quy phạm này còn quyđịnhcơ chế phốihợpgiữa các chủthể nàyđể đảmbảophát huy hiệu quả cao nhất công tác xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu [22,
Điều 29]. Các quy phạm này cần được thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp luật có giá trị cao để đảm bảo hiệu quả của hoạt động phối hợp tránh tình trạng chỉ quyđịnhchung chung hoặcchỉthể hiệndưới hình thức các Quy chế phối hợp hoạtđộng.
Các quy phạm xácđịnhchủthể có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu và các quy phạm xác định cơ chế phối hợp giữa các chủ thể này có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau tạo thành một t ng thể nhằmxử lý hiệuquảcác hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu vừa không có sự chồng chéo vừa không bỏ l t hành vi xâm phạm.
o bản chất của quan hệ pháp luật QSHCN đối với nhãn hiệu là quan hệdân sựthuộc đối tượng điềuchỉnh của ngành luật tư trong khi bản chất của biện pháp hành chính là sử dụng quyền lực nhà nước (quyền lực công) để điều chỉnh các quanhệ xã hộithuộc phạm viđiềuchỉnh của nó nên nhóm các quy phạm pháp luật quyđịnhbiện phápxử lý hành chínhđốivới hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu phảiđảmbảo sao cho tránh tình trạng “hành chính hoá” quan hệ dân sự.
Yêucầuđặtra đốivới các quy phạm này là đảmbảo hình thứcxử phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ gây thiệthạicho chủ thể quyền, người tiêu dùng và xã hội, vừa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội, vừa cótính răn đe, phòng ngừa xâm phạm, cósự phân biệt rõ ràng ranh giứa giữa trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính và trường hợp bị áp dụng biện pháp hình sự…; phải phùhợpvới các quyđịnhvề cùngnộidung trong các văn bản pháp luật của các ngành luật có liên quan.
Năm là, nhóm quy phạm pháp luật quy định iệnphápxửl hìnhsự đối với hành vi xâm phạm QS CNđối với nhãn hiệu
Trong trườnghợpviệc xâm phạm QSHCNđốivớinhãn hiệu gây tác hại nghiêm tr ng cho xã hội thì việc áp dụng các chế tài hành chính không đủ để trừng phạt và răn đe người xâm phạm, Nhà nước thấy cần thiết phải sử dụng các chế tài nghiêm khắc hơn thì Nhà nước quy định các yếu tố cấu thành tội phạm này trong pháp luật hình sự. Trong cuộc chiến chống lại những hành vi xâm phạm có quy mô, gây thiệt hại đáng kể, biện pháp hình sự là một công cụ không thể thiếu [2].
Các quy phạm pháp luật trong nhóm này bao gồm các quy phạm xácđịnh hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệubịtruycứutrách nhiệm hình sự, các hình phạt áp dụng với chủ thể có hành vi xâm phạm [70, Điều 156-158] [82], [82, Điều 171] [86], trình tự, thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sựđối với chủ thểcó hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu quy định trong ộ luậtTố tụng hình sự .
Các quy phạm pháp luật trong nhóm này cần thể hiện rõ chính sách của nhànước trong việc xử lý hình sự hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Yêu cầuđặtrađốivớicác quy phạm trong nhóm này làđảmbảohình thứcxửphạt phải tương xứng với tính chất và mức độ gây thiệt hại cho chủ thể quyền, người tiêu dùng và xã hội, vừa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội, vừa cótính răn đe, phòng ngừa xâm phạm, có sự phân biệt rõ ràng ranh giới giữa trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính và trường hợp bị áp dụng biện pháp hình sự.
Sáu là, nhóm quy phạm pháp luật quy định iện pháp kiểm soát iên giớiđối với hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu
iện pháp kiểm soát biên giới đối với hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là một biện phápđặcthù được thựchiện bởi cơ quan duy nhất là Cơquan hải quan. Thực chất biện pháp kiểm soát biên giới chính là biện pháp hành chính. Tuy nhiên, do đặc thù việc áp dụng biện pháp này chỉ ở phạm vi khu vực biên giới đối với hàng hoá xuất nhập khẩu nên hiện nay biện pháp này được nhắcđến với tư cách là một biện pháp độc lập, tách biệt với biện pháp hành chính.
Các quy phạm pháp luật trong nhóm này quyđịnhcác biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất, nhập khẩu liên quan đến SHCN; chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất, nhập khẩu liên quanđếnSHCN vàngh avụ củah ; các biện pháp kiểm soát hàng xuất khẩu, nhập khẩu liên quanđến sở hữu trí tuệ;thẩm quyền, trình tự, thủ tục, áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất, nhập khẩu liên quan đếnSHCN [84, Điều 216-219,], [18, Điều 34-38], [22], [90, Điều 73-76], [13] .
Bảy là, nhóm các quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động h trợ xửl hành vi xâm phạm QS CN đối với nhãn hiệu.
Thực tiễn cho thấy, đến nay pháp luật về SHTT và những hoạt động liên
quan đến SHTT vẫn còn là khá mới m và tương đối phức tạp không chỉ đối với không ít cá nhân, t chức là chủthể hoặc có khả năng trở thành chủ thể quyền SHTT hoặc là chủ thể có nguy cơ trở thành chủ thể xâm phạm quyền SHCN mà còn với cả những chủ thể có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Để hỗ trợ cho hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệmvụ của mình đảmbảo xử lý xâm phạm kịp thời, chính xác, đúng pháp luật nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập những t chức hoặc cho phép các cá nhân thực hiện chức năng b trợ tư pháp (luật sư, tưvấn pháp luật, giám định…). o l nh vực SHTT là l nh vực đặc thù, hoạt động b
trợ tư pháp cho l nh vực này cũng có những đặc thù tương ứng, bởi thế nên mặc dù có Luật giámđịnhtư pháp nhưng hoạtđộnggiámđịnhSHTT trongđócónhãn hiệu lại được quy định riêng trong Luật SHTT. Nhóm quy phạm pháp luật về t chức và hoạtđộnghỗtrợxửlý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu quyđịnhvề phạm vi quyền, trách nhiệm của đạidiện SHCN, tiêu chuẩn,điều kiện để hành nghề đạidiện sở hữu công nghiệp; nội dung và l nh vực giámđịnhSHTT [84,Điều151-156, 201], thẩm quyền trưngcầugiámđịnhSHTT vàquyền yêu cầu giám định SHTT, quyền và ngh a vụ của người trưng cầu giám định, ngườiyêucầugiámđịnhvàcủat chức giámđịnhSHTT, trìnhtự,thủtụcgiámđịnh, giá trị pháp lý của văn bản kết luận giám định, tiêu chuẩn, điều kiện để hành nghề giám định [18, Điều 39-53]; vai trò của các t chức đoàn thể xã hội trong việc xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu [88, Điều 27-29].
Yêucầuđặtra đốivới nhóm quy phạm này là phải có càng nhiều hình thứchỗ trợ hoạtđộng xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu càng tốtvì như thế sẽ đảmbảo hỗtrợ hiệu quả hoạtđộngxử lý hành vi xâm phạm QSHCNđốivới nhãn hiệu, bảovệ được quyền và lợi ích của chủsở hữunhãn hiệu, người tiêu dùng và toàn xã hội
Tám là, nhóm quy phạm pháp luật ảo vệngười tiêu d ng trước hành vi xâm phạm quyền s h u công nghiệp đối với nhãn hiệu
Hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu không chỉ gây t n hạiđến quyền và lợi íchhợppháp của chủsở hữu nhãn hiệu mà còn gây thiệthạicho ngườitiêu dùng khi h chính là chủthể bịnhận thông tin sai do hành vi xâm
phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu gây ra khiến h mua phải hàng hoá, dịch vụ trái với mong muốn của h thậm chí là hàng kém chất lượng.
Người tiêu dùng là tất cả các chủ thể sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong xãhội. Người tiêu dùng là nhóm kinh tế lớn nhất bị ảnh hưởng gần như bởi tất cả các quyết định công cũng như tư. Tuy nhiên, h là nhóm quan tr ng mà ý kiến của h thường khôngđượclắng nghe [51].Ởnướcta hiện nay, tình trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng đang có xu hướng mở rộng về phạm vi, gia tăng về sốlượng và nghiêm tr ng về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi [61, tr.27-30].
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM
Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam


