Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam

Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam

Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một trong số mười sáu quốc gia có nền đa dạng sinh học cao bậc nhất thế giới [17] với khoảng 30% [28] trong số gần 20.000 loài thực vật và hơn 100 loài chim, gần80 loàiđộngvậtcó vú là loài đặc hữu của Việt Nam [30]. Trong một vài thập kỷ gần đây, nền kinh tế của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh và mạnhở hầuhết các ngành, lĩnh vực,tạora tác động không nhỏ lên mọi mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, song song với đó, ý thứcbảovệ môi trường nói chung và bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nói riêng của người dân Việt Namvẫnchưa được nâng cao tương ứng khi một bộphận không nhỏ ngườiViệt Namvẫncoiđộngvật nguy cấp, quý, hiếm là thực phẩm, thuốc hay trang sức. Hiện nay,Việt Nam đang phải đối mặtvới tình trạng suy thoái đa dạng sinh học ở mức độ nghiêm trọng. Tính đến năm 2021, theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Việt Nam có 75 loài thú, 57 loài chim, 75 loài bò sát, 53 loài lưỡng cư và 136 loài cá được liệt kê là các loài bị đe doạ (nghĩa là thuộc mức cực kỳ nguy cấp, nguycấpvà sắp nguy cấp) [17]. Một phần nguyên nhânđếntừ thực trạng khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, buôn bán trái phép các loàiđộngvật nguy cấp, quý, hiếm cũng như các hoạt động sản xuất kinh tế khác phục vụ cho nhu cầu ngày càng gia tăng của con người, ảnh hưởng không nhỏ đến sự an toàn của hệ sinh thái động vật nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam.

Đốimặt với nguy cơ đó, Việt Nam đã tham gia vào các Điều ước quốc tếcũng như xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luậtđểđiều chỉnh việc quản lý và xử lý hành vi vi phạm trong việc bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nhằmcụ thểhóa chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Chủđộng ứngphó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên vàbảo vệmôi trường” được nêu trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013, trong đó có Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Kể từ khi Bộluật hình sự có hiệu lực vào ngày 01/01/2018 đến hết năm 2020, đã có 374 vụán về độngvật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm được khởi tố trên toàn lãnh thổViệt Nam, riêng năm 2020 là 111 vụ [21], cho thấy nhiều chuyển biến tích cực trong công tác xử lý tộiphạm vềđộng vật hoang dã của nước ta. Tuy nhiên, so với số lượng vi phạm pháp luật xảy ra trong lĩnh vực này trên thực tế thì tỷ lệcác vụ án được khởi tố vẫn còn thấp, nhiều vụ việc còn gặp khó khăn ngay từgiaiđoạntiếp nhận, giải quyết nguồn tin vềtộiphạm chođếnquá trình giải quyết vụ án.

Viện kiểm sát nhân dân với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vụ án về động vật nguy cấp, quý, hiếm, trong đó chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được thực hiện xuyên suốt trong giai đoạn điều tra kể từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến khi kết thúc giai đoạn điều tra, góp phần đảm bảo việc xử lý tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khôngđể lọt tội phạm và ngườiphạm tội, không làm oan người vô tội. Tuy nhiên, trước tình trạng ngày càng gia tăng cảvề sốlượnglẫn tính chất phức tạp của tộiphạmvề độngvật nguy cấp, quý, hiếm, các quy định của pháp luật liên quan đến loại tội này còn nhiều bất cập như về công tác giámđịnh, xử lý vật chứng… đã khiếncông tác kiểm sát hoạtđộngtư pháp trong giai đoạnđiều tra tội phạm này trên thực tiễn vẫncòn những thiếu sót, làmảnh hưởng đến chất lượng giảiquyết các vụ án, một số vi phạm khôngđượcphát hiện triệtđể, việc ban hành kháng nghị, kiến nghịyêu cầu khắc phục, sửa chữa không được chính xác, nhanh chóng, kịp thời.

Về mặtlý luận, đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến kiểmsát điều tra đối với các vụ án liên quan đến động vật nguy cấp, quý, hiếm mà chủyếulà nghiên cứuchung vềthực hành quyền công tốđối với loại án này hoặc nghiên cứu về kiểm sát điềutra đối với các tội phạm nói chung hay các tội phạm khác,do đó rất cần có công trình nghiên cứu riêng từgóc độ kiểmsát điều tra và gắn với loại tội phạmcụthể như tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm.

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọnđề tài “Kiểm sát điềutra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ Luật học.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứumột số vấn đề lý luận, khảo sát thực tiễn nhằm phát hiện những bất cậptrong quyđịnh của pháp luật, khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện các quy định này, cũng như nguyên nhân của nó để từ đó đưara các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra các vụán Vi phạm quy định về bảovệ độngvật nguy cấp, quý, hiếm.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạtđược mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

– Nghiên cứu các quy định pháp luật về tội Vi phạm quy định về bảovệ động vật nguy cấp, quý, hiếm;

– Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảovệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm;

– Khảo sát thực tiễn, phân tích thực trạng của công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quyđịnh về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếmtạiViệt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, vướng mắc gặp phải và nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó;

– Đề xuấtnhững giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm trong thực tiễn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như việc áp dụng quyđịnhcủa pháp luật đốivớicông tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo Bộ luậttốtụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Bộ luật tố tụng hình sự quy định có rất nhiều các hoạt động điều tra khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, tác giảchỉ đề cậpđếnnội dung kiểm sát điềutra đối với những biện phápđiềutra cơ bảnthường được áp dụngđối với các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.

Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác kiểm sát điều tra các vụ án Vi phạmquy định về bảo vệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm theo quyđịnh của Bộ luậttốtụng hìnhsự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021 trên lãnh thổ Việt Nam.

Phạm vi về thời gian: Các sốliệu được luận văn khảo sát và xem xét thực tiễn trong vòng 4 năm từ năm 2018 đến năm 2021.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềNhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhànước pháp quyền.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứuđề tài, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác bao gồm:

– Phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch, quynạp… sẽ được sửdụng trong Chương 1 khi nghiên cứuvề một sốvấnđề lý luậnvề kiểm sátđiều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nhưkhái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung của kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảovệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm;

– Phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê, tổnghợp… đượcsử dụng trong Chương 2 và 3 khi nghiêncứu về thực tiễn kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm tại các Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên toàn quốc trong giai đoạn năm 2018 – 2021, trên cơ sởđó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảovệ độngvật nguy cấp, quý, hiếm.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kếtquả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận vàthực tiễn vì đâylà công trình nghiêncứuchuyên sâuđầutiên ở cấpđộmột luận văn thạc sĩ luật học về công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảovệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Luận văn góp phần làm sáng tỏ vàphong phú thêm lý luậnvề công tác kiểm sát điềutra của ngành Kiểm sát,đồngthời còn cóthểđược sử dụng như một tài liệu tham khảo phụcvụ cho việc nghiên cứu, giảngdạyvà học tập của các nhà nghiêncứulập pháp, các cánbộgiảng dạypháp luật, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc ngành Luật.

Vềmặtthực tiễn,kếtquảnghiêncứucủaluận văn cóthểđượcáp dụng trong thực tiễn nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm sát điều tra vụ án hình sự nói chung và vụ án Vi phạm quyđịnh về bảo vệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm nói riêngtạiViện kiểm sát nhân dân cáccấptrêncảnước.

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1:Mộtsốvấn đề lý luậnvề Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảovệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm

Chương 2: Thực tiễn Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ độngvật nguy cấp, quý, hiếm

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụán Vi phạm quy định về bảovệ độngvật nguy cấp, quý, hiếm

 

Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam
Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂMSÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI

PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM

1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của công tác kiểm sát điều travụán Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

1.1.1. Khái niệm động vật nguy cấp, quý, hiếm

Động vật là những sinh vật đa bào, nhân chuẩn thuộc giới Động vật.Hiện trên toàn cầu có nhiều loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng, phần lớn do bịcon người sănbắtquá mức hoặc phá hoại môi trường sống. Một sốloài khác có nguy cơ tuyệt chủng cục bộ, nghĩa là chúngtrởnên nguy cấp, quý, hiếm ở một địa phương này nhưng lại có số lượng lớn ở địa phương khác.

Trong số các văn bản pháp luật hiện hành củaViệt Nam, không có văn bảnnào đưa ra địnhnghĩacụthểcho khái niệm“độngvật nguy cấp, quý, hiếm”. Khoản 1Điều2 Nghịđịnhsố32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính Phủ quy định về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có quy định: “Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, sốlượng còn ít trongtựnhiên hoặc có nguy cơ bịtuyệt chủng, thuộc danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quyđịnh” [5], tuy nhiên văn bản này đã hết hiệu lực vào ngày 10/3/2019.

Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hộiđồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫnáp dụng Điều234vềtội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội Vi phạm quy định vềbảo vệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộluật hình sự(Nghị quyết số05/2018/NQ-HĐTP) không đưa ra định nghĩa mà chỉ xác định loài nào được coi là động vật nguy cấp, quý, hiếm, theođó, “động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Điều244củaBộ luật Hình sự là các loài độngvật thuộc Danh

10

mục loài nguy cấp, quý, hiếm đượcưu tiênbảovệhoặc Danh mục thực vật rừng, độngvật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy địnhcủaChính phủ hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp” [11].

Như vậycóthểhiểu,động vật nguy cấp, quý, hiếm là loàiđộngvật cógiátrịđặc biệt vềkinh tế, khoa học và môi trường, sốlượng còn ít trong tựnhiên hoặc có nguy cơ bịtuyệt chủng tại Việt Nam, thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quyđịnh của Chính phủhoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dãnguy cấp.

1.1.2. Khái niệm tội Vi phạm quy địnhvề bảo vệ độngvật nguy cấp, quý, hiếm

Pháp luật hình sự quyđịnh tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hộiđược quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thươngmạithực hiện một cáchcốý hoặc vô ý, xâm phạmđến các quan hệ xã hội được Bộ luật hình sự bảo vệ mà theo quyđịnh của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Kể từ khi Việt Nam gia nhập Côngước về thương mạiquốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguycấp(Công ước CITES) vào năm 1994 đến nay, nước tađã rấttích cực trong việc xây dựng và ban hành các văn bản luật vàdướiluật khác nhau để bảo vệ và ngăn chặn hành vi tàng trữ, buôn bán, vận chuyển động vật nguy cấp, quý, hiếm. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổsung năm 2017 (BLHS) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018đãdành riêng một điều luật (Điều 244) nhằm hình sự hóa hành vi vi phạm quy định vềbảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.

11

Tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mụcloài nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiênbảovệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước CITES, hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép cáthể, bộ phận cơ thể không thể táchrờisựsống hoặc sản phẩm của loài động vậtđó, do người có năng lực trách nhiệm hìnhsự thực hiện một cáchcốý, xâm phạmđếnchế độ quản lý của Nhà nước về bảovệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm, làm mất cân bằng hệ sinh thái cũng như đa dạng sinh học của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm trong tự nhiên.

Để xem xét một hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của một người có phải là hành vi phạm tội hay không, cơ quan tiến hànhtốtụng, người tiến hànhtốtụng cầnphải đánh giá xem hành vi đó có thỏa mãn cấu thành tộiphạmcủatộiVi phạm quyđịnh về bảovệđộngvật nguy cấp, quý, hiếm quyđịnhtạiĐiều244 BLHS hay không thông qua các dấuhiệu pháp lý của tội phạm, baogồmdấuhiệu khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể.

1.1.2.1. Khách thể

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hộiđược luậthình sự bảo vệ khỏi sự xâmhạicủa tội phạm và bị tội phạm xâmhạiđến[1, tr. 82]. Khách thể của tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là quan hệ xãhội về chế độ quản lý của Nhà nước trong việc bảo vệ hệ cân bằng sinh thái,đa dạng sinhhọc củacác loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quyđịnh của Chính phủ hoặc Phụ lục I Côngước CITES nói chung và bản thân các loài động vật đó nói riêng.

12

Đối tượng tác động của tội phạmlà bộ phận của khách thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động và qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [10, tr. 110]. Như vậy, đối tượng tác động trực tiếp của tộiVi phạm quyđịnhvề bảovệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm là các loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếmđượcưu tiên bảovệhoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước CITES. Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiênbảo vệ được quy định

trong Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ về Tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiênbảovệ (Nghị định số160/2013/NĐ-CP). Danh mục này sau đó được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính Phủ (Nghị định số 64/2019/NĐ-CP).

Danhmụcthựcvậtrừng,động vậtrừng nguy cấp, quý, hiếmđượcquyđịnh trong Nghịđịnhsố 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019củaChính Phủ vềQuản lý thựcvậtrừng,động vậtrừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Côngước vềbuôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Nghịđịnh số 06/2019/NĐ-CP), sau đó được thay thếtại Nghị địnhsố 84/2021/NĐ- CP ngày 22/9/2021củaChính Phủ (Nghịđịnhsố 84/2021/NĐ-CP). Tuy nhiên, không phải loài nào thuộc danhmụcnày cũng làđốitượng tácđộngcủatội phạm này màchỉcác loài thuộc nhóm IBcủaDanh mụcnày,tứclà các loàiđộng vậtrừng đangbịđedọatuyệt chủng nghiêmcấmkhai thác,sửdụng vìmục đích thương mại và các loài thuộcPhụ lụcI CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam.

Công ước về thương mạiquốc tếcác loài động, thựcvậthoang dã nguy cấp, hay còn gọi là Côngước CITES, là một hiệp ước quốc tếđa phươngđược ký kết vào năm 1973vớimục tiêu bảo vệ các loài động, thực vật nguy

13

cấpthông qua việc đảmbảorằng các hoạt độngthương mạiquốc tếđối với mẫuvật củacác loài động, thực vật này không làm đe dọa đếnsự sống còn của loài đó trong tự nhiên. Công ước CITES bao gồm ba phụ lục, lầnlượt làPhụlục I, II và III, trong đó Phụlục I liệt kê những loài động vật, thực vật hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng, bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫuvật khai tháctừtự nhiên vì mục đích thương mại [6]. Chỉ những loài thuộc Phụ lục I của Công ước CITES mới làđối tượng tácđộngcủa tội Vi phạm quyđịnh về bảo vệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm.

1.1.2.2. Mặt khách quan

Mặtkhách quan của tội phạm là mặtbên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, đólà hành vi khách quan có tính gây thiệt hại cho xã hội, hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi khách quan gây ra, mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi khách quan và hậu quả, và các điều kiện bên ngoài khác gắn liền với hành vi

khách quan như công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm phạmtội…[12, tr. 115].

Đối vớihành vi khách quan có tính gây thiệt hại cho xã hội, theo quyđịnh của Điều 244 BLHS, người phạm tội có thể thực hiện một hoặc một số hành vi khách quan sau:

– Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danhmụcloài nguy cấp, quý, hiếmđượcưu tiênbảovệhoặcđộngvậtthuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụlục I Công ước CITES mà không thuộc loài trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác;

14

– Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thểtách rờisự sống hoặc sảnphẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rờisự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể

lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể độngvậtlớp khác thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước CITES mà không thuộc loài trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01 kilôgam;

– Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rờisự sốnghoặc sản phẩmcủa động vật có số lượng dưới mứcquy định nêu trên nhưngđã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi nêu trên hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Hậuquả của tội phạm này là sự đe dọa đến đa dạng sinh học và sự phát triển bình thường của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm vốn đã đứng trên bờ vực tuyệt chủng. Điều 244 BLHS không mô tảhậuquả của tội phạm này nhưng đã cụ thể hóa bằng các tình tiết định lượng như khối lượng, số lượng cáthể hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống. Hậu quả của tội phạm này phải trực tiếp do các hành vi khách quan nêu trên gây ra.

Một sốbiểu hiện bên ngoài khác của mặtkhách quan được quyđịnh làdấuhiệuđịnhkhung tăng nặng của tội này như: “Sử dụng côngcụhoặc phương tiện săn bắt bịcấm”, “Săn bắttrong khu vựcbị cấm hoặc vào thời

gian bị cấm”, “Buôn bán, vận chuyển qua biên giới”…

1.1.2.3. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm là người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự coi là tội phạm khi đã đạt những điều

15

kiện nhất định do luật hình sự quy định [1, tr. 116].Như vậy, chủ thể của tội phạm này phải có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tức là không bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làmmấtkhảnăng nhận thức vàđiềukhiển hành vi, và phảiđủtuổi chịu trách nhiệm hìnhsự.Khoản 1Điều244 BLHS quyđịnhcấuthành cơbản của tội này có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, do đó người thực hiện hành vi chỉ cần từ đủ 16 tuổi trở lên là phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này.

Theo Điều 76 BLHS thìtộiVi phạm quyđịnh vềbảo vệđộngvậtnguy cấp, quý, hiếmnằmtrong phạm vi chịu trách nhiệm hình sựcủapháp nhân thương mại, dođópháp nhân thươngmạicũng làmộtchủthểcủatộiphạm này.

1.1.2.4. Mặt chủ quan

Mặtchủ quancủatộiphạm làmặtbên trongcủatộiphạm, là trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội dongười đóthực hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hộicủahành vi ấy, biểu hiện ởdấu hiệu lỗi,độngcơ phạmtộivàmụcđích phạmtội[1, tr. 130].Người thực hiện hành vi Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm phải cólỗicố ý trực tiếp,tức là người đónhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành viđóvà mong muốn hậu quả xảy ra.

1.1.2.5. So sánh tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm và tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã

Tội Vi phạmquy định về bảo vệ độngvật nguy cấp, quý, hiếm và tội Vi phạm quy định về bảovệ động vật hoang dã ở BLHS năm 1999, sửa đổi bổsung năm 2009 được quy định chung trong một điều luật do có khách thể đều là động vật, tuy nhiên đến BLHS năm 2015 chúng lại được các nhà làm luật tách thành hai điều luật khác nhau ở hai chương khác nhau: Tội Vi phạm quyđịnh về bảo vệ động vậthoang dã nằmở Điều234 thuộc Chương XVIII Các

16

tội xâm phạm trậttựquản lý kinh tế, còn tội Vi phạm quyđịnh về bảovệđộngvật nguy cấp, quý, hiếm là Điều 244 thuộc Chương XIX Các tội phạm về môi trường. Sở dĩ hai tội này tuy cùng chung tính chất nhưng lại được quyđịnh ở hai chương khác nhau là do Điều 234 hành vi phạm tội cần có dấu hiệu định lượng về mặttrịgiá còn ở Điều 244 thì không cần, do đó Điều 234 được xếp vào Chương Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

Ngoài ra, sựkhác biệt rõ rệt nhất củahaitộinàynằmở khách thể, nếu như Điều 244 có khách thể là động vật nguy cấp quý, hiếm được quy định tại Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vậtrừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Côngước CITES thì Điều234 có khách thể là độngvật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước CITES hoặc động vật hoang dã khác.

1.1.3. Khái niệm kiểm sát điều travụ án Vi phạm quy định về bảo vệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm

Vụ án hình sự là vụ án được thụ lý và giải quyết theo thủ tục doBộluật Tố tụng hình sự quyđịnh. Vụán hình sự phát sinh khi có quyếtđịnh khởitố vụ án và kết thúc khi vụ án bị đình chỉ hoặc khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật [9].

Căn cứ vào Hiến pháp năm 1959, vào ngày 15/7/1960 Quốc hội khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đánh dấu sự chính thức rađờicủa cơ quan Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), trong đó quyđịnhrõvề chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạtđộng tư pháp của VKSND. Qua các lầnsửa đổi Hiến pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp vẫn được khẳng định là một trong hai chức năng của VKSND tại Điều 107 Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, theo đó, “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố,

17

kiểm sát hoạt động tư pháp”[13]. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạtđộng tư pháp để bảovệ Hiến pháp và pháp luật, bảovệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm phápluật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Phạm vi của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp rất rộng, được thể hiện trong khái niệmcủahoạt động nàytạiKhoản 1Điều4 Luật tổchức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay

từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyếtvụán hình sự; trong việc giải quyếtvụán hành chính, vụviệc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [15]. Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự,mà cụthể hơn làtrong hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự là một phần của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát (VKS).

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự là hoạtđộng của VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý do luật định đảm bảo tính hợp pháp đối với các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự,được thực hiện ngaytừ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự.

Như vậyta có thể hiểu khái niệm công tác kiểm sát điều tra vụán Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là: Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là hoạt động

18

của VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý do luật định đảm bảo tính hợp pháp đối với các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (sau đây gọi chung là Cơ quan điều tra), các chủ thể có thẩm quyền điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảovệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm trong hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự,được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự.

1.1.4. Đặc điểmkiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm

Công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm có một số đặc điểm sau đây:

– Là hoạt động chỉ có thể được thực hiện bởi VKSND theo trình tự thủ tục quyđịnh tạiBộ luậttố tụng hìnhsựnăm 2015,sửađổibổ sung năm 2021 (BLTTHS). Trong quá trình kiểm sát, Kiểm sát viên chỉ được áp dụng các biện pháp kiểm sát quyđịnh trong Luậttổ chức Viện kiểm sát năm 2014 vàBLTTHS;

– Luôn gắn với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm cũng như phòng ngừa,đấutranh vàxử lýtội phạmvề độngvật nguy cấp, quý, hiếm, được nêu trong các văn bản như Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về Chủđộng ứngphó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Kết luận số 56-KL/TW ngày 23/8/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI,Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 23/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp

bách quản lý động vật hoang dã…

– Bắt đầu ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trong suốt quá trình khởi tố, điều tra cho đến khi kết thúc

19

điều tra vụ án hình sự. Việc kết thúc điều tra vụ án có thể bằng Bản kết luậnđiều tra đề nghị truy tố, Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra vụ án. Xuyên suốt quá trình này, Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát điều tra bám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra (CQĐT), thể hiện mối quan hệ phối hợp và chế ước với cơ quan này;

– Do có đối tượng tácđộngđềulà động vật nên tội Vi phạm quyđịnh vềbảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếmthường dễ bị nhầmlẫn với tội Vi phạm quy định về bảovệ động vậthoang dã quy định tại Điều 234 BLHS;

– Luôn kết hợp chặt chẽ vớichức năng thực hành quyền côngtốtrong giai đoạnđiềutra, bởi lẽmục đích của cả chức năng kiểm sát và thực hành quyền côngtốđềulà nhằm phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật hành vi phạmtội, bảo đảmviệc khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử được đúng người, đúng tội, không oan sai, bỏ lọt tội phạm. Nếu nhưthực hành quyền công tốlà bảođảmmọi tội phạmđềuphải được xử lý thìkiểm sát điều tra đảm bảo việc xử lý tội phạm phải được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng luật định.

1.1.5. Ý nghĩa kiểm sátđiềutra vụ án Vi phạm quyđịnh về bảovệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm

Công tác kiểm sát điều tra vụ án nói chung và vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nói riêng giúp bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm việc khởi tố, điều tra phảikịpthời, khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác,đúng pháp luật để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật. Ngoài ra, nó cũngđảmbảokhông để ngườinàobị khởi tố, bị bắt, tạmgiữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật.

20

Công tác kiểm sátđiều travụ án Vi phạm quyđịnhvềbảo vệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm cũng đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng, hoàn thiện cũng như tuyên truyền pháp luật. Quyđịnh củapháp luật có phù hợp hay không, có căn cứ hay không,có cần phải sửa đổi, bổsung quy định nào không thì cần phải thông qua quá trình áp dụng pháp luật của những người tiến hành tố tụng mà cụ thể là các Kiểm sát viên (KSV), Điều tra viên (ĐTV). Đồng thời, trong quá trình kiểm sátđiều tra, VKS thường có kiến nghị phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật nói chung cũng nhưđốivớivụ án Vi phạm quyđịnh vềbảo vệđộng vậtnguy cấp, quý, hiếm nói riêng, giúp tácđộng không nhỏ tới nhận thức pháp luật của người dân cũng như việc áp dụng pháp luật của người làm luật.

Công tác kiểm sát điềutra cũng góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm vì nó góp phần giải quyếtvụ ánđúng đắn, nhanh chóng, kịp thời, giúp phát hiện các vi phạm, sai phạmđể kịpthời yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm, sai phạmđó đảm bảoquá trình giải quyết vụ án hình sự tuân thủ đúng quy định pháp luật, được giải quyết đúng đắn nhanh chóngkịpthời, góp phần nâng cao chất lượng đấu tranh với tội phạm.

1.2. Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tốtrong giai đoạn điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

Kiểm sát điềutra và thực hành quyền công tốđềulà chức năng của VKSND trong tốtụng hình sự, đượcthực hiện ngaytừquá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Tuy là hai chức năng khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ biện chứng hết sức mật thiết, gắn bó với nhau trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật tố tụng hình sựđược chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong khi thực hành quyền

21

công tố đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, xửlýkịpthời, nghiêm minh, đúng người đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không đểlọt tộiphạm và ngườiphạm tội thì kiểm sát điều tra nhằm đảm bảo việc giải quyết nguồn tin cũng như điều tra vụ án hình sự được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, mọi vi phạm trong hoạt động điều tra phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Từ đó, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật. Hai chức năng kiểm sát điều tra và thực hành quyền công

tố khi kết hợp lại sẽ bổ sung cho nhau đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự được thực hiện một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.

1.3. Nội dung kiểm sát điều travụ án Vi phạm quy định về bảovệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm

1.3.1. Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởitố

Do tính chất của hành vi vi phạmquy định về bảo vệ độngvật nguy cấp, quý, hiếm là cần phải tiến hành giámđịnhcá thể, mẫuvậtthu giữ được mới có thể xác định có phạm tội hay không nên hầu hết các vụ việc có dấu hiệu tội phạmđềusẽđược tiếp nhận và thụ lý trước hếtdướidạng tố giác, tin báo vềtội phạm hoặc kiến nghị khởi tố (gọi chung là nguồn tin về tội phạm). Nguồn tin về tội phạm có thể do VKS trực tiếp tiếp nhận hoặc do CQĐT tiếp nhận,

VKS phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, phân loại và giải quyết nguồn tin về tội phạm của CQĐT đối với cả hai loại nguồn tin này.

Trườnghợpphát hiện nguồn tinvề tội phạmđược tiếp nhận, thụ lý không đúng thẩm quyền, VKS phải có văn bản yêu cầu cơ quan đã tiếp nhận, đang tiến hành kiểm tra, xác minh chuyểnđếncơ quan có thẩm quyền giải quyết;đồng thời thông báođếnViện kiểm sát có thẩm quyềnđể thực hiện

22

việc kiểm sát. Nếu xảyra tranh chấpvề thẩm quyền giải quyết nguồn tinvềtội phạm, việc giải quyết được thực hiện theo quy định tại Điều 150 BLTTHS.

Quá trình CQĐT tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, VKS phải kiểm sát chặtchẽcác biện pháp kiểm tra, xác minh mà CQĐT tiến hành, nếuthấycầnphải kiểm tra tính xác thựccủanguồn tinvềtộiphạm; thu thập, củng cố chứng cứ, tài liệu, đồ vật để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại Điều 85 và Điều 441 BộluậtTốtụng hìnhsự,VKS phảikịpthờiđềra yêucầukiểm tra, xác minh [25].

1.3.2. Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sựKiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ kết quả giải quyết của CQĐT theo

quy định của pháp luật. Kết thúc việc kiểm tra, xác minh, nếu CQĐT không ra một trong các quyếtđịnh quyđịnh tạikhoản 1 Điều147 BLTTHS thì VKS yêu cầu CQĐT ban hành một trong các quyết định đó.

Sau khi CQĐT ra Quyếtđịnh không khởi tốvụán hình sự,VKS phải kiểm tra xem quyếtđịnh đó cócăn cứ và hợp pháp theo quy định tại Điều 157 BLTTHS không, nếu không thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ ánhình sự hủy bỏ quyết định đó và ra quyếtđịnh khởi tố vụ ánhình sự; nếucơ quanđókhông thực hiện thì VKS ra quyếtđịnh hủybỏquyếtđịnh không khởitốvụ án hình sự và ra quyết địnhkhởi tốvụ án hình sự [25].

Tương tự, khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hìnhsự mà VKS thấy chưa rõ căn cứ để khởi tốvụ án thì yêucầucơquan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ, nếu thấy không có căn cứ thì VKS ra văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyếtđịnh khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó; nếu cơ quan đã ra quyết định không nhất trí thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

23

Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì VKS yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đã ra quyết định khởi tố không nhất trí thì VKS ra quyết định thayđổihoặc bổsung quyếtđịnh khởi tốvụán hìnhsự.Nếu thấy quyết định thayđổihoặc bổ sung quyết địnhkhởi tố vụán hình sự của CQĐT không có căn cứthì VKS yêu cầu CQĐThủybỏquyếtđịnhđó.Nếu cơ quanđãra quyếtđịnh thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự không hủybỏthì VKS trực tiếp ra quyết định hủy bỏ [25].

1.3.3. Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp điều tra

BLTTHS quy định hệ thống các biện pháp điều tra như hỏi cung bị can,

lấylời khai người bị hại, người làm chứng, khám nghiệm hiện trường, trưng

cầugiám định, định giá, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra… Có thểhiểu, biện pháp điều tra là hệ thống những thủ thuật có mối liênhệ vớinhau do Điều tra viên và những người theo luật định tiến hành nhằm phát hiện, thu thập theo trình tự của Tố tụng hình sự những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm [12, tr. 13]. Tuy nhiên, do đặcđiểm, tính chất của tội phạm nên trong vụán Vi phạm quyđịnh về bảovệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm không tiến hành biện pháp điều tra lấy lời khai người bị hạivà khám nghiệm tử thi.

1.3.3.1. Kiểm sát việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Hỏi cung và lấy lời khai là những biện pháp điều tra phổ biến, được tiến hành ở mọi vụ án, do người theo luật định tiến hành bằng cách thu thập, mô tảtheo trìnhtự tốtụng hìnhsự lờikhai của bị can, ngườibị hại, ngườilàm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

24

quan về vụ án, hành vi phạmtội của bịcan cũng như những tình tiết khác có ýnghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm.

Nhìn chung, VKS có thể tiến hành kiểm sát trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các hoạt động này. Kiểm sát gián tiếp việc hỏi cung, lấy lời khai là công tác kiểm sát thông qua biên bản hỏi cung, lấy lời khai hoặc dữ liệu ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với hoạt động hỏi cung. KSV cần kiểm sát chặtchẽ vềmặt nội dung và hình thức biên bản.

Trong trường hợp cần thiết, KSV có thể trực tiếp tham gia vào việc hỏi cungbị can của ĐTV hoặc tự mình tiến hành hỏi cung bị can, lấylời khai người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trước khi tiến hành hỏi cung, lấy lời khai, KSV cầnnghiên cứu kĩ hồ sơ, nắm vững nội dung vụ việc, lên kế hoạchvà yêu cầu đối với việc hỏicung, lấylờikhai. Trong quá trình hỏicung,lấylời khai, KSV phải thực hiện đúng các quyđịnh tại các điều từ Điều 183 đến188 BLTTHS.

1.3.3.2. Kiểm sát việc trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản Trưng cầu giám định là một biện pháp điều tra đóng vai trò hết sức quan

trọng trong các vụ án Vi phạm quyđịnh về bảovệ động vật nguy cấp, quý, hiếm do muốn xác địnhcó hành vi phạm tội xảyra hay không thì nhất thiết cầntiến hành trưngcầugiámđịnh đối với cá thể độngvật, bộ phận cơthểkhông thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật thu giữ được xem cóphải làđộng vật nguy cấp, quý, hiếm theo quyđịnh hay không. Thông thường, việc trưng cầu giám định mẫu vật động vật hoang dã được tiến hành ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạmđể làmcăncứ khởi tố vụán.

KSV được phân công phải kiểm sát chặt chẽ nội dung và hình thức của quyếtđịnh trưng cầu giámđịnh như căncứ,đối tượng, phạm vi trưng cầu,

25

thời hạn, và đặc biệt là tổchức được trưngcầugiám định. Đối với mẫuvật động vật hoang dã, theo Điều 34 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, chỉ Cơ quan khoa học CITES Việt Nam có thẩm quyền tiến hành giámđịnh đối với mẫu vật động vật hoang dã. Theo Quyết định số 2249/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/6/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (BNNPTNT) về Chỉ định Cơ quan Khoa học CITES Việt Nam, các cơ quan cụ thể có thẩm quyền giámđịnhmẫuvật động vậthoang dã là: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vậtvà Viện Nghiên cứu Hải sản [4].

Việc tiến hành giám định, thờihạngiám định và trả kết luận giám định cũng phải được KSV kiểm sát chặtchẽ đảm bảotheo đúng quyđịnh tại Điều 208, Điều209 BLTTHS năm 2015, Luật Giámđịnh tư pháp năm 2012, sửađổi bổ sung năm 2020 (Luật Giámđịnh tư pháp năm 2012) và các quyđịnh pháp luật có liên quan.

Sau khi nhậnđược kết luận giám định, KSV cầnđối chiếuvớicác yêu cầugiámđịnh đã đề ra trong quyếtđịnh trưngcầugiám định, vậtchứng, tài liệu có liên quan để đánh giá kết quả giám định, trường hợp cần thiết phải yêu cầutổ chức tiến hành giám định giải thích kết luận giám định hoặc trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại.

Kếtquả của hoạt động yêucầuđịnh giá tài sản trong vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm tuy không phải là căn cứ để định

tội nhưng KSV vẫn cần phải kiểm sát chặt chẽ tương tự như đối với hoạtđộng trưng cầu giám định.

1.3.3.3. Kiểm sát việc khám xét, tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét, thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm

Khám xét là một biện phápđiềutra quan trọng trong quá trình điềutra vụán Vi phạm quyđịnh về bảovệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm, chỉ được thực hiện sau khi đã khởitốvụ án.

26

KSV phảiđảmbảothẩm quyền và trường hợp khám xétđược thực hiện theo đúng quyđịnh tại Khoản 1, Khoản 2Điều193 và Khoản 3Điều194 BLTTHS. Việc khám xét phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành, trong trường hợp khẩncấpthì có thể tiến hành khám xét luôn nhưng trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho VKS biết. Khi khám xét, KSV phải có mặtđể trực tiếpkiểm sát việc khám xét mà cụ thể là kiểm sát về thành phần tham gia, trình tự,thủ tục

thực hiện, đối tượngkhám xét, việc tạmgiữ, thu giữ… đồ vật, tài liệu khi khám xét. Trong trường hợpKSV không trực tiếp kiểm sát việc khám xét hoặc khám xét khẩn cấp, KSV cầnkiểm sát thông qua biênbảnkhám xét, biên bản tạm giữ và các tài liệu có liên quan.

Đối với hoạt động thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, ngay sau khi ĐTV thực hiện việc thu giữ, KSV phải yêu cầu ĐTV chuyển ngay biên bản thu giữ và các tài liệu liên quan cho KSV để kiểm

sát về mặt hình thức, nội dung biên bản, trình tự, thủ tục thi hành lệnh thu giữ…

1.3.3.4. Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

Đối với hoạt động khám nghiệm hiện trường, KSV phải trực tiếpđến hiện trường và kiểm sát thành phần tham gia khám nghiệm, trìnhtự,thủ tục khám nghiệm hiện trường theo đúng quyđịnh tạiKhoản 2 và Khoản 3Điều 201 BLTTHS. KSV phải ghi chép các tình tiết, đặc điểm,vị trí của dấu vết, vậtchứng, đồ vật, tài liệu quan trọng tại hiện trường để kiểm tra, đối chiếu với biên bản, sơ đồ khám nghiệm. Trong quá trình kiểm sát, KSV cũng cóthể

đề ra yêucầukhám nghiệm bằng lời nói đối với ĐTV, giám định viên… đồng thời phải đảmbảo việc lập biên bản khám nghiệm hiện trường, vẽ sơ đồ, chụp

ảnh, đo dạc, mô tả thực trạng hiện trường… của ĐTV, Cán bộ điều traphải vẽtạinơi khám nghiệm đúng theo thực trạng hiện trường và theo quyđịnh của BLTTHS.

27

1.3.3.5. Kiểm sát việc thực nghiệm điềutra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói

Trong quá trình kiểm sát điềutra vụ án Vi phạm quyđịnh về bảo vệđộngvật nguy cấp, quý, hiếm, nếuthấy việc thực nghiệmđiều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói là cần thiết mà CQĐT chưa tiến hành thì VKS ra văn bản yêu cầu CQĐT tiến hành. KSV phải có mặtđể kiểmsát thành phần tham gia, trình tự,thủtục thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói theo đúng quyđịnhtại BLTTHS và Quy chế số111. Sau khi kết thúc các hoạt động này, KSV cầnlưu ý kiểm sát nội dung và hình thức của biên bản thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, đảm bảo hoạt động này được phản ánh đầy đủ, chính xác vào biên bản.

1.3.4. Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế

Biện pháp ngăn chặn là biện pháp được quy định trong BLTTHS do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyếtđịnh, áp dụng đối với người bịbuộc tội nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc gâycảntrở cho quá trình điều tra, truy tố, xétxử vàđể bảo đảmthi hành án hình sự [23, tr. 57], bao gồm các biện pháp: giữ người trong trườnghợpkhẩn cấp, bắt, tạmgiữ, tạmgiam, cấmđi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh.

Tương tự, biện pháp cưỡng chế là biện pháp được quy định trong BLTTHS do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định, áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị buộc tội và một sốngườitham giatốtụng khác để đảmbảohoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bao gồm các biện pháp: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

Công tác kiểm sát việc áp dụng, thayđổi, hủybỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của CQĐT luôn đượcthực hiện song song với

28

hoạt động thực hành quyền công tố, trong đó KSV cần phải kiểm sát chặt chẽhình thức,nộidung của các lệnh, quyết định, vănbảnđề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chếcũng như căncứ,điềukiện, thẩm

quyền, thờihạn… áp dụng. Ngoài ra, KSV cũng cầnkiểm sát việc CQĐT chuyển các lệnh, quyết định, vănbảnđề nghị cũng như hồ sơ, tài liệu cần thiếtđến VKS có đúng thời hạn theo quy định không.

1.3.5. Kiểm sát việc xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra

Đốivớicác vụ án Vi phạm quyđịnhvềbảo vệđộngvật nguy cấp, quý, hiếm, xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra là mộtvấn đềquan trọng và cầnđược kiểm sátmộtcách chặt chẽ do vật chứng trong các vụ án này thường làcác cá thể (còn sống hoặc đã chết), bộ phận cơ thể khôngthểtách rời sự sống hoặc sản phẩm củađộngvật nguy cấp, quý, hiếm. Về bản chất, động vật hoang dã bị thu giữ là tài sản nhà nước thuộc sở hữu toàn dân,do đó, để xửlý loại tài sản này, ngoài các quyđịnhchuyên ngành vềđộngvậthoang dã, KSV cũng cần nắm chắc các quy địnhvềtrìnhtự, thủ tụcxác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản tại Nghị định số 29/2018/NĐ-CP ngày 05/3/2018 của Chính phủ quyđịnh trìnhtự, thủ tụcxác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và xử lý đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân và quyđịnhvề xửlý đối với tài sảnđược xác lập quyền sở hữu toàn dân tại Luật Quản lý sử dụng tài sản công vàcác văn bản hướngdẫn thi hành. Nhìn chung, có ba phương án đểxửlý vật chứng là cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm củađộng vậtnguy cấp, quý, hiếmgồmgiao cho cơ quan quản lý chuyên ngành, tiêu hủy hoặc bán.

TheoĐiều7 Nghị quyếtsố05/2018/NQ-HĐTP, vậtchứng là độngvật hoang dã, độngvậtnguy cấp, quý, hiếm còn sống thì ngay sau khi cókếtluận giámđịnhphải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành để trả về tự nhiên, giao cho trung tâm cứu hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia hoặc giao

29

cho cơ quan, tổchức khác theo quyđịnh của pháp luật. Vật chứng là cá thểđộngvật chết hoặc sảnphẩmđộng vậthoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản thì tiêu hủy hoặc giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Vật chứng khác thì tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật [11].

1.3.6. Kiểm sát việc kết thúc điều tra

Việc điều tra kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bảnkếtluậnđiều tra và quyếtđịnh đình chỉ điều tra. Lúc này, KSV phối hợpvớiĐTV giao nhậnhồ sơ vụ án kèm theobảnkết luận điều tra đềnghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra vụ án vàvậtchứng (nếu có) theo đúng quy định tại Điều 232 hoặc Điều 238 BLTTHS.

KSV phải kiểm sát chặt chẽ nội dung, hình thức của bản kết luận điều trađề nghị truytố,bản kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra, quyếtđịnh đình chỉ điều tra, bảo đảm có đầyđủnội dung theo quy định tại khoản 2Điều 132, khoản 2 Điều 230, khoản 3 Điều 232, Điều 233, Điều 234 BLTTHS và được lập theo Mẫu số 227, 230, 233, 235, 236 ban hành kèm theo Thông tưsố 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 củaBộ Công an quyđịnh biểu mẫu, giấytờ,sổ sách vềđiều tra hìnhsự.Ngoài ra, KSV cũng cầnkiểm sát việc CQĐT chấp hành thời hạn giao, gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kếtluậnđiềutra kèm theo quyếtđịnhđình chỉđiềutra cùng hồ sơvụán cho VKS,bịcan hoặcngườiđạidiện củabịcan,ngườibào chữa; thông báo chobị hại, đương sự và người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của họ. [27, tr. 201].

Riêng đối với trường hợp đình chỉ điều tra, ngoài những mục trên, KSV còn cần phải kiểm sát chặt chẽ các trường hợp, thẩm quyền ra quyết định đình chỉđiềutra, đảmbảođúng theo quyđịnh tạiKhoản 1Điều230 và khoản 1 Điều443 BLTTHS [27, tr. 206].

30

1.3.7. Kiểm sát việc chấp hành pháp luật củacơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng và xử lý vi phạm

VKSND thực hiện kiểm sát điều tra thông qua hai cách thức là kiểm sát trực tiếp và kiểm sát gián tiếp. Trong đó, KSV kiểm sát trực tiếp các hoạtđộng điều tra bằng cách cùng với CQĐT tham gia các hoạt động điều tra theo quy định, trực tiếp chứng kiến quá trình thực hiện biện pháp điều tra của ĐTV như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệmtử thi, thực nghiệmđiều tra, nhận biết giọng nói, đối chất, nhận dạng, khám xét… hay trực tiếp giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra nhằmđảm bảocác hoạtđộng điềutra được tiến hành theo pháp luật tốtụng hình sự.Ngoài ra, KSV còn thực hiện gián tiếp kiểm sát điều tra qua công tác kiểm sát hồsơ; nghiên cứu, đánh giá kết quả của ĐTV thực hiện theo yêu cầu điều tra được đề ra, nếu cần thiết yêu cầu CQĐT tiếp tục cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra đạt hiệu quả cao.

Trong quá trình kiểm sát điều tra, khi phát hiện CQĐT vi phạm pháp luật, VKS có thể áp dụng các quyền năng pháp lýbaogồmquyền yêu cầu, quyền kiến nghị và quyền kháng nghị.

VKS có quyền yêucầuCQĐT thực hiện hoạt độngđiềutra theo đúng quy định của pháp luật;tự kiểmtra việc tiến hành hoạt động điều tra và thông báo kết quả cho VKSND; cungcấphồsơ, tài liệuđể VKSNDkiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động điều tra; yêu cầu CQĐT khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra.

Quyền kháng nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành vi, quyếtđịnh của CQĐT có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi íchhợpphápcủa

tổ chức, cá nhân. Khi nhận được kháng nghị của VKSND cơ quan, người có

31

thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của VKSND theo quy định của pháp luật.

Tươngtự,quyền kiến nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành vi, quyết định của CQĐT có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị nêu trên thì VKSND phải kiến nghị CQĐT khắc phục vi phạm pháp luật vàxử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị CQĐT khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tộiphạm. Khi nhậnđược kiến nghị của VKSND,CQĐT liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKSND theo quy định của pháp luật. [15]

32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và quyđịnh của pháp luật xoay quanh công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quyđịnh về bảo vệ động vậtnguy cấp, quý, hiếm, đưa ra khái niệmvề độngvật nguy cấp, quý, hiếm, khái niệm của tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, trình bàydấuhiệu pháp lý của tội này; trình bày khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa cũng như nội dung của công tác kiểm sát điều tra vụán Vi phạm quyđịnh về bảovệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của VKSND như: Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự, kiểm sát việc áp dụng các biện pháp điều tra, kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, kiểm sát việc xử lý vật chứng trong giaiđoạnđiều tra, kiểm sát việc kết thúcđiềutra cũng như kiểm sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc xử lý vi phạm.

33

Chương 2

THỰC TIỄN KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ

BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM

2.1. Khái quát tình hình độngvật nguy cấp, quý, hiếm và tộiphạm liên quan đến lĩnh vực này tại Việt Nam

2.1.1. Tình hình động vật nguy cấp, quý, hiếm ở nước ta

Động vật và thựcvậthoang dã đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì các hệ sinh thái của Việt Nam, mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồngđịa phương. Nềnkhí hậu nhiệt đớiđã khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đa dạng về mặt sinh học nhất trên thế giới, đa dạng các hệ sinh thái tự nhiên, các loài động vật hoang dã và các nguồn gen đặc hữu. Dựa theo Báo cáo quốc gia lần thứ sáu về Công ước Đa dạng sinh học, nước ta có khoảng 51.400 loài, bao gồm 7.500 vi sinh vật, 20.000 loài thực vật trên cạnvà dướinước, 10.900 loàiđộng vật trên cạn, 2.000 loàiđộng vậtkhông xương sống và cá nước ngọt, và hơn 11.000 loài sinh vật biển khác [32]. Một số loài có giá trị bảo tồn cao đã đặc biệt khẳng định tầm quan trọng toàn cầu của đa dạng sinh học Việt Nam, chẳng hạn như sao la (Pseudoryx nghetinhensis), cheo cheo Việt Nam (Tragulus versicolor), mang Vũ Quang (Muntiacus vuquangensis)cùng với các loài linh trưởng, rùa biển, rùa cạnvàrùa nước ngọt khác.

Từ năm 1997 đếnnay, các cuộc điềutra được thực hiện trên các vùng lãnh thổ khác nhauở Việt Nam và đã ghi nhận, phát hiện nhiều loài mới. Theo thống kê của Tổ chức Quốc tếvềBảotồnThiên nhiên (WWF), năm 2020 tại Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (gồm Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam) phát hiện tổng cộng 224 loài mới thì có 91 loàiđược phát hiện ở Việt Nam, trong đó có 85 loài đặc hữu [29]. Tuy nhiên, các số liệu thống kê cũng cho thấy sự suy giảm mạnh về số lượng loài và quần thể hoang

34

dã loài ở Việt Nam. Nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng cao như rùa Hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) chỉ có ba cá thể còn sống được biết đến trên thế giới — một ở Trung Quốc và hai ở Việt Nam [7]. Sao la, một loài đặc hữu của dãy Trường Sơn, cũng đang trên đà tuyệt chủng. Các loàiđộng vật cóvú lớn khác như voi hay các loài mèolớnchâuÁđều cầncó các biện phápcấpbáchđểbảo vệ.

Việt Nam có 276 loài được xếp vào danh sách bị đe dọa trong SáchĐỏcủa IUCN, bao gồm 59 loàiđộngvật có vú, 57 loài chim, 75 loài bò sát, 51 loài lưỡng cư loài, và 32 loài cá. Có tổng số 882 loài được ghi tên trong Sách ĐỏViệt Nam (2007), trongđósốloài độngvậtquý, hiếm tăng từ 365 loài (1992) lên 418 loài (2007). Sách Đỏ bao gồm 116 loài cực kỳ nguycấpvà 9 loài đã tuyệtchủng ởViệt Nam. Kiểm kê loài năm 2016 đã đề xuất bổ sung 1.211 loài vào Sách Đỏ, bao gồm 600 loài thực vật và 611 loài động vật, tăngđáng kể so vớinăm 2007 [32].Tấtcả những loài nàyđềucần một sự quan tâm, bảo vệ đặc biệt của Nhà nước để có thể tiếp tục duy trì số lượng cá thểloài.

2.1.2. Tình hình tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm ở nước ta Theo nhiều chuyên gia quốc tế đánh giá, Việt Nam đã và đang trở thành

một điểm nóng về buôn bán và sử dụng sản phẩmtừ động, thựcvậthoang dãở Đông Nam Á nói riêng và trên thế giới nói chung; đồng thời cũng được biếtđến là địabàn trung chuyển trong khu vực về buôn bán các sản phẩmtừ động vậthoang dã. Theo báo cáo của Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) năm 2020, Việt Namlà điểmđếncủa 42% các vụbuôn lậungà voi (giaiđoạn2015-2019) và 41% các vụbuôn lậu sừng têgiác (giaiđoạn2002-2019) trên toàn thế giới [31]. Trong thời gian qua, nhiều vụ án buôn bán xuyên quốc gia khối lượng lớn các sảnphẩm từ độngvậtnguy cấp, quý, hiếm đã bị các cơ quan chức năng của Việt Nam phát hiện và xử lý.

35

Tuy vậy, tình trạng giết hại các loài độngvậtnguy cấp, quý, hiếm để phục vụtạimột số nhà hàng hay sử dụng sử dụng ngà voi, sừng tê giác làm thuốc,đồ

trang sức… vẫnkhông códấuhiệu suy giảm mà thậm chí đã trở thành thói quen xấu trong sinh hoạt tiêu dùng của một bộ phận người dân.

Là một quốc gia thành viên Công ước CITES, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, Chính phủ Việt Nam đã và đang nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp khác nhau nhằm phòng, chống loại tội phạm mang tính chất toàn cầu này, trong đócó giải pháp cải cách chính sách pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã. Điển hình là Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từngày 01/01/2018 đã cụ thể hóa các hành vi vi phạm so với BLHS năm 1999 với khung hình phạt nghiêm khắc hơn và lầnđầu tiên quyđịnhthêm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mạiđối với cả hai tội danhvề bảovệđộng vật hoang dã. Đồng thời, vào ngày 17/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số28/CT-TTgvề một sốgiải phápcấpbách phòng ngừa,đấu tranh với hành vi xâmhạicác loài độngvậthoang dã trái pháp luật. Chỉthị nàyđã được các bộ, ngành và địaphương, trong đó có các cơ quan tưpháp, các cơ quan thực thi pháp luật khác như Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Quản lý thị trường quán triệt và thực hiện nghiêm túc. Quá trình thực hiện chức năng, nhiệmvụcủa mình, các cơquan chức năng của Việt Namđã phát hiện, thu giữ được nhiềucá thể động vật nguy cấp, quý, hiếm và các sảnphẩmtừ động vật nguy cấp, quý, hiếm

như ngà voi, sừng tê giác, vảytê tê, xương và dahổ…vàđã tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo đúng quyđịnh của pháp luật các đối tượngphạm

tội,nhiều vụ án thể hiện tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm nàytừ nước ngoài về Việt Nam cũng như trong nội địa thời gian qua.

36

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm ngày càng gia tăng tại Việt Nam, mà nguyên nhân chủ yếuđếntừviệc người dân Việt Namvẫnsử dụngsảnphẩm có nguồn gốc từ độngvật hoang dã. Độngvật hoang dã thường được tiêuthụchủyếuđể làm thực phẩm, đồtrang trí, quà biếu, quà lưu niệm, hoặcsảnphẩm tăng cường sức

khỏe…Thực tế, việc người dân tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã xuất phát phần lớn từ nhận thức, trong khi đó các yếutốnhư địavị, mức thu nhập, trình độ học vấn hay giới tính đều ảnh hưởng tới cơ cấu tiêu dùng [20].

2.2. Những kết quả đạt được,hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cậptrong công tác kiểm sát điều tra vụ án về động vật nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam

2.2.1. Những kếtquả đạt được

Từ năm 2018 đếnnăm 2021,các VKSND toàn quốcđã thụlý kiểm sátđiềutramớitổngsố 634 vụ/795 bị can về tộiVi phạm quyđịnh về bảovệđộng vật nguy cấp, quý, hiếm, cụ thể kết quả kiểm sát điều tra từng năm nhưsau:

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam

Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *