Hòa giải các tranh chấp hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ những nămđầuphát triển nền kinh tế thị trường Đảng đãchủ trương là: “phải tăng cường bảo vệ người lao động, trọng tâm làởcác doanh nghiệp”. Và để cụthể hóa chủ trương nàycủa Đảng, tạiHiến pháp năm 1992 đã có những quyđịnhghi nhậnsự bình đẳng, bảovệngười laođộng(Điều 3, Điều56).Từ cơsở chủtrương của ĐảngvàHiến pháp năm 1992, mà Bộ luật lao động năm 1994 (sau nàylà Bộluật laođộng năm 2012) và Hiến pháp năm 2013 ra đời đềucó những quyđịnh, để cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ người lao động.
Phát triển khu công nghiệp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhànước. Phát triển khu công nghiệp gắn liền với hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, trung tâmđôthị lớn, thu hút laođộng,tạoviệc làm cho người lao động. Đặc biệt, người laođộnglàm việc tại các Khu công nghiệpđược hưởngnhiều ưu thế hơnhẳnso với doanh nghiệp ngoài.Ðâylà khu vực vừa tạora củacảivật chất cho xã hội, vừa giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiệnđại hóa đất nước. Tuy nhiên, trong thời giangầnđây, tình trạng đình công, bãi công của người lao động trong nhiều doanh nghiệp ở các khu công nghiệp đã và đang gia tăng đáng kể, trong đó có nguyên nhân, quyền và lợiích hợp pháp của người laođộngở các khu công nghiệp chưa được người sử dụng laođộngthực hiệnđầyđủnhư: nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện việc xây dựng, đăng ký Thỏa ước laođộngtập thể, Nội quy laođộngvà thang lương, bảng lương theo quy định, dẫnđếnviệc thực hiệnkỷluật laođộngchưa nghiêm, chưa đúng quyđịnh pháp luật, cơ chế đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước laođộng tập thể còn nhiềuhạnchế, việc giải quyết các tranh chấp lao động thông qua conđườnghòa giải, đàmphán chưa được doanh nghiệp quan tâm. Một bộ phậnngười lao động do cóhạnchế về nhậnthức nênđã bị người sửdụng lao động lợi dụng không ký kết hợp đồng lao động, hoặc có ký kết nhưng không đảm bảo quy định, phổ biến nhất là tình trạng kéo dài thời gian thử việc…
Trong những năm qua, pháp luật điềuchỉnhvề các biện pháp bảo vệ người laođộng đã cónhững kết quả bước đầuđáng ghi nhận. Người laođộng được tự mình thực hiệnquyền đình công, được thực hiện quyền
tự do liênkết để bảovệ quyềnlợicho chính bản thân mình. Pháp luật đã tạolậpmột hành lang pháp lý thông qua việc quy định các vănbảnđiều chỉnhvề lĩnh vực này. Tuy vậy, nhìnmộtcách khách quan, hành lang pháp lý hiện hành vẫn chưa điều chỉnh theokịpđược những yêu cầu đòi hỏi của thị trường lao động Việt Nam và thế giới.
Do vậy, tôi chọnđề tài “Phápluật về bảođảm quyềncủangười lao động – qua thực tiễn các khu công nghiệp của tỉnh BìnhĐịnh” làmđề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận vănđược thực hiệntrên cơ sở của phương pháp luận là phép biện chứng duy vật; quanđiểmđườnglối, chủtrương, chính sáchcủaĐảng, pháp luật của Nhà nướcvề bảođảmquyềncủangười laođộng trong các khu công nghiệp.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai luận văn, tác giả đã sử dụngđồngbộmộtsốcác phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Phương pháp lịchsử khảocứu các nguồn tư liệu, đặc biệt là các tưliệuvề pháp luật về bảovệ quyền của người laođộngtrong các khu
công nghiệp; các Báo cáo của Ủyban nhân dân tỉnh, Sở Lao động–Thương binh và Xã hội, Ban quản lý Khu kinh tế, Liên đoàn laođộng
tỉnh Bình Định…
Phương pháp phân tích các quy phạm của luật thựcđịnhcó liên quan đến tên đề tài của luận văn.
Phương pháp tổng hợp các quanđiểmkhác nhauvềnhận thức khoa học xung quanh các khái niệm, các quy phạm pháp lý có liên quanđến bảo đảm quyền của người lao động trong các khu công nghiệp.
Phương pháp thống kê các số liệu thực tiễn trong quá trình áp dụng các quy phạm có liên quan đến tên đề tài của luận văn.
Phương pháp so sánh luật học nhằmđối chiếu với các quyđịnh pháp luật về quyền của người lao động…
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của phápluật vềbảođảm quyềncủa người lao động trong các khu công nghiệp; các Nghịquyết, chính sách ban hành của tỉnh BìnhĐịnhvềbảođảmquyền của người lao động trong các khu công nghiệp.
– Thực tiễnbảođảmquyền của người lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về không gian: lý luận và thực tiễnvề bảođảm quyền của người lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Bình Định.
– Về thời gian: từ năm 2013 đến nay.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiêncứu những vấn đề lýluận và các quy định của pháp luật về bảođảmquyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật nàytại tỉnh Bình Định để từ đóphân tích, đánh giá, tổng hợp nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquả bảođảm quyềncủa người lao động trong các khu nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm sáng tỏ đặc điểm của người lao động làm việc trong các khu công nghiệp;
– Phân tích các cách thức, biện phápbảođảmquyền của người laođộngcũng như các yếutốtác độngđếnbảođảmquyền của người laođộng trong các khu công nghiệp;
– Phân tích, đánh giá thực trạngvề các cách thức, biện phápbảođảmquyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định để chỉra những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và luận giải nguyên nhân của chúng;
-Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquảbảo đảm quyền của người lao động trong các khu công nghiệp.
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 6.1. Câu hỏi nghiên cứu
– Tại sao cần phải bảođảmquyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp?
4
– Các cách thức, biện phápbảovệ quyền của người laođộng được quy định như thế nào?
– Thực trạng việc thực thi pháp luậtvề các cách thức, biện pháp bảovệ quyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp qua thực tiễn tỉnh Bình Định như thế nào?
– Nguyên nhân của nhữnghạnchế của việc thực thi pháp luật vềcác cách thức, biện phápbảovệ quyền của người lao động trong các khu công nghiệp qua thực tiễn tỉnh Bình Định như thế nào?
– Đề xuất các giải pháp tháo gỡ các vướng mắc như thế nào? 6.2.Giảthuyết nghiên cứu
– Hoạt độngcủa các khu công nghiệp nói chung và trên địa bàn tỉnh Bình Định đã ảnh hưởng đến quyền của người lao động.
– Các cách thức, biện phápbảođảmquyền của người laođộng trong các khu công nghiệp được áp dụng không có hiệu quả trên thực tế.
7. Bố cục của luận văn
Với mục đích, phạm vi nghiên cứu đã được xác định như trên, luận văn được xây dựng theo bố cục như sau:
Phầnmở đầu
Chương 1: Những vấnđề lýluậnvề bảođảm quyềncủa người laođộng trong các khu công nghiệp và pháp luật điều chỉnh.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảođảmquyền của người laođộng trong các khu công nghiệp và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Định.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquảbảođảmquyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀBẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1.1. Đặc điểm của lao động làm việc trong các khu công nghiệpĐặc điểm của lao động trong các khu công nghiệp:
– Lao động nhập cư đến làm việc tại các khu công nghiệp
Phát triển khu công nghiệptạora một kênh thu hút laođộngrất cótiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho người lao động. Sự gia tăng nhanhvề sốlượngcủa các dự ánđầutưtrongnước và nước ngoài thực hiện tại các khu công nghiệp trong các ngànhsử dụng nhiều laođộngđã tạora lực hút mạnhđối với laođộng nhập cư đếnlàm việc tại các khu công nghiệp. Lao độngdi cư tới các khu công nghiệpđã đóng một vai trò khôngnhỏtrong việc cung ứng nguồn laođộngvà bùđắpsự thiếu hụt lực lượnglao động, đặc biệt lànguồn laođộnggiản đơn và không có chuyên mônkỹthuật, góp phần quan trọng vào sự phát triển sản xuất, kinh doanh và thành công của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thuộc các ngành gia công xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động.
– Vị trí làm việc công nghiệp của họ.
Mỗi công nhânđảmnhiệm công việc cụthể, ở một khâucụthểtrong một dây chuyềnsảnxuất hàng loạt. Nênhọ được nhà máy đàotạo nghề trong một thời gian ngắn (tối đa chỉ khoảng 1 tháng với nhữngvịtrí yêu cầu trìnhđộkỹthuật, có nhữngvị trí đơn giản chỉ cần 2 ngày). Chính vì công việc đòi hỏi thao tác công nghiệpcụthể nên trong số laođộngđược tuyển vào doanh nghiệp thì laođộnggiản đơn và không cóchuyên mônkỹthuật chiếmchủyếu. Với hành trang, trìnhđộhọc vấn cũng như kỹ năng tay nghề hạn chế như vậy, họ rất khó khăn trong tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống nơi đô thị. Ðồng thời do hiểu biết còn
6
hạnchế nên không ít người lao động thường chỉ quantâm đếnthu nhập thực tế chứ không chú ý tới các chế độ, chính sách, quyền lợi được pháp luật lao động bảo vệ.
1.2. Khái niệmbảođảmquyền củangười laođộngtrong các khu công nghiệp
Quyền của người lao động là những quyền liên quan đến người laođộng và người sử dụng lao động. Dưới góc độ pháp lý, quyền chủ thể là khảnăng của chủthểxửsựtheo một cách thức nhất địnhkhi tham gia quan hệ pháp luật.
Theo cách hiểu thông thường trong tiếng Việt,“bảođảm” cónghĩa là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìnđược hoặc cónhững gì cầnthiết. Do vậy, bảođảmquyền của người laođộngtrong các khu công nghiệpđược hiểu: là các cách thức, biện pháp làm cho các quyền của người lao động trong các khu công nghiệp không chỉ là các quy định trong pháp luật mà phải được thực hiện trên thực tế cuộc sống và cókhảnăng phục hồi các quyền của người lao động nếu nó bị xâm hại.
1.3. Nội dung pháp luật về các cách thức, biện pháp bảođảm quyền của người lao động trong các khu công nghiệp
1.3.1. Người lao động tự bảo vệ
Tự bảovệ củangười laođộnglà trạng thái tâm lý pháp luật của người laođộng đối với phápluật, được thể hiệnở sự yêu, ghét, quan tâm
hay thờ ơ … đối với pháp luật. Thành ngữ tiếng La-tinh có câu Nemo cencetur ignorare legem có nghĩa là Không ai được coi như không biết pháp luật. Do đó, biện pháptự bảovệ là biện pháp thể hiện tínhđịnhđoạt cao nhất của chủ thể, là việc người lao động tự mình tiến hành các biện pháp trong khuônkhổpháp luật nhằmbảovệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Ngay khi phát hiện ra có hành vi xâm phạm, người laođộng cóthể tự mình thực hiệnđể bảovệ, ngăn chặn các hành vi xâm hại tới quyền của mình hoặc cũng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc chấm dứt những hành vi đó hoặc đi kiện.
7
1.3.2. Bảođảmquyền củangười laođộngbằng việc ghi nhận các quyền cụ thể của người lao động
Hệ thống quy phạm pháp luật bảođảm quyềncủa người laođộng trong các khu công nghiệp ở Việt Nam không nằm gọn trong một ngành luật nào, mà tồn tại ở nhiều ngành luật khác nhau. Xem xét về quyền của người lao động trong các vănbảnpháp luật cho thấy, nội dung bảođảm quyền của người lao động trong các khu công nghiệp bằng việc ghi nhận các quyền cụ thể của người lao động như sau:
– Bảo đảm việc làm cho người lao động
–Bảođảm quyền được hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ laođộng, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh laođộng; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương vàđược hưởngphúc lợi tập thể
– Bảo đảm quyền được thành lập, gia nhập, hoạt động Công đoàn của người lao động
– Bảo đảm quyền đình công của người lao động
1.3.3. Bảođảmquyền củangười laođộngthông qua các thiết chế quản lý nhà nước
Một trong những hoạt động thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong quan hệ laođộng là tổchức thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật laođộngtại các doanh nghiệp. Đâylà một hoạt độngcó tác dụng tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao nhận thức thi hành nghiêm túc các qui địnhcủa pháp luật lao động, kịpthời uốnnắncác lệch lạc, sai trái, giúp các doanh nghiệp phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật laođộng,tranh chấp laođộng.Theonộidung này, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động, bảohiểm xã hội sẽ bịxử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực laođộng, bảohiểm xã hội như: tuyển, quản lýlao động; giaokếthợp đồng lao động; thử việc; thực hiện hợp đồng laođộng; về sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động; tiền lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất; lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp.
8
1.3.4. Bảođảmquyền củangườilaođộngthông quatổchức công đoàn
Nguyên tắc quanhệ laođộnglà quanhệ mang tính bình đẳng. Người laođộngmuốn làm việc cho người sử dụng laođộnghay không là quyền của họ. Nhưng một khi đã tham gia vào một quan hệ lao động cụthể nào rồi thì dù muốn hay không thì người lao động cũng ở vào “thếyếu” hơn so với người sử dụng laođộng. Điềunày cũng dễ hiểu bởi trên thực tế hiện nay, người lao động do sức ép của việc làm, thu nhậpmà họthường chấp nhận thua thiệt. Do vậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người laođộngkhông chỉ là trách nhiệmcủariêng ai mà là vấnđề chung của toàn xã hội, trong đó thiết thực nhất vẫnlà tổchức công đoàn. Công đoàn là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam và công đoàn có quyền cùng với cơ quan Nhà nước, tổchức kinh tế, tổchức xã hội chăm lo và bảovệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác. Công đoàn cơsởthực hiện vai trò đại diện, bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước laođộng tậpthể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dânchủở doanh nghiệp, cơ quan, tổchức; tham gia, hỗtrợgiải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với người sử dụng laođộng xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơquan, tổchức. Như vậy, pháp luật Việt Namđã thừa nhận và quyđịnh cho tổ chức công đoàn có một vị trí, vai trò to lớn trong hệ thống chính trị – xã hội. Công đoàn có nhiều chức năng như tham gia quản lý Nhànước; chức năngbảovệ lợi ích công nhân, viên chức, lao động; chức năng giáo dục nhưng cơbảnvà trung tâm nhất vẫn là chức năng bảovệngười lao động.
9
1.3.5. Bảo đảm quyền của người lao động thông qua con đường tòa án
Tranh chấp laođộng nếuchỉ phát sinh giữa một người laođộng vàngười sử dụng lao động, hoặc đối tượngtranh chấp chỉ liên quanđến một người – cá nhân người lao động, thì đólà tranh chấp laođộngcánhân. Sự ảnh hưởngcủa nó đến hoạt động sảnxuất của doanh nghiệpchỉở mức độ hạnchế. Tuy nhiên, nếu tranh chấpxảyra giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động trong phạm vi toàn doanh nghiệp thìlúc đótranh chấpsẽ có tác độngtiêu cực rất lớn đếnsảnxuất và nhiều khi còn ảnh hưởng đến cả an ninh trật tự công cộng. Vì thế hậu quả pháp lý cũng có những biểu hiện khác nhau và vì tính chất ấy các quy định áp dụng để giải quyết, các cơ chế giải quyết cũng có sự khác nhau.
Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều định ra một cơ chếgiải quyết những bất đồng, xung đột của hai bên chủ thể trong mối quan hệ laođộng.Việc giải quyết tranh chấp laođộngtạitòa ánđượcthực hiệnbởitòa ánvớitư cách là cơ quan tài phán mang tính quyềnlựcnhànướcvàđượctiến hành theo trìnhtự,thủtụctốtụng chặt chẽ. Xét về nguyên tắc, các vụtranh chấp lao động, đình công chỉ được giải quyết tại Tòa án sau khi đã qua hòa giải hoặc trọng tài không thành.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người laođộng và đại diện cho người lao động được quyền khởi kiệnvụ ánlao động, quyền yêu cầu giải quyết đình công. Đây là cơ sở để người lao động tự bảo vệ quyền lợi của mình khi có sự xâm hại từ phía người sử dụng lao động.
1.4. Các yếu tố tác độngđếnviệc bảo đảm quyền của người laođộng trong các khu công nghiệp
1.4.1. Ý thức pháp luật của người lao động
Ý thức pháp luật của người laođộng thể hiệnở sự hiểubiết về các quyền cơbảnvà cơ chế bảovệ quyền của người lao động. Sựhiểu biết pháp luậttrướchếtsẽgiúphọtựphòng, tránhsựvi phạm pháp luậttừphíangườisửdụng laođộng;đấutranhbảovệquyềnlợihợppháp,
10
chính đángcủamình khibịngườisửdụng laođộnghoặc cácchủthểkhác xâm phạm.
Do vậy,bảođảmquyền của người laođộngchỉ thực sự có hiệu quả nếungười laođộng thể hiệnvai trò chủ động của mình trong việc tựbảovệ. Nếungười laođộngkhông cóýthức tự bảovệ mình, thờ ơ quyền lợi chính đáng của mình thì Nhà nước haybấtkỳchủthể nào cũng không thể can thiệp được với mục đích bảo đảm quyền cho họ.
1.4.2. Yếu tố chính sách, pháp luật lao động
Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế củanướcta cùng với việc hoàn thiện thể chế kinhtế thị trườngđịnhhướngxã hội chủnghĩa, hệthống chính sách, pháp luật về laođộngcũngđược đổi mới, sửa đổi, bổsung cho phù hợp. Hệ thống chính sách, pháp luật vềlaođộngđã được sửa đổi, bổsung phù hợp với chủtrương, đườnglối củaĐảng về phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủnghĩa, phùhợp với Hiến pháp năm 2013; phù hợp với các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao độngquốc tế (ILO) và quá trình phát triển kinhtế – xã hội của đất nước. Năm 1994, Quốc hội đã ban hànhBộluật Lao độngvà đã qua 4
lần sửa đổi, bổ sung. Năm 2012, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động sửa đổi trên cơ sở kế thừa những nhân tố phù hợp của Bộ luật Laođộng năm 1994 và sửađổi nhữngđiểmbất hợp lý,bổsung nhiềuđiểmmới cho phù hợp với quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghềnghiệp năm 2014, LuậtBảohiểm xã hội năm 2014, Luật An toàn, vệ
sinh laođộngnăm 2015,… Theo đó, Chínhphủvà các bộ, ngành cũng ban hành các vănbảnquyđịnhchi tiết và hướngdẫnthi hành các luật nêu trên. Việc tạo ra hành lang pháp lýđã tạođiềukiện quan trọng cho việc hình thành và phát triển thị trường lao động. Tuy nhiên, để bảođảm quyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp cần phải tiếptụcđược đánh giá để sửa đổi,bổ sung cho phù hợp với các thông lệ quốc tế và cam kết quốc tế của Việt Nam, nhất là các chính sách liên quan trực
11
tiếpđếnngười lao động và chi phí của doanh nghiệp như tiền lương tối thiểu, giờ làm thêm,bảohiểm xã hội… Đâylà những chính sách liên quan chặt chẽ giữa lợi ích của người laođộngvà người sử dụng laođộng. Vì vậy, cần phải tăng cường đối thoại, thương lượng để phương án lựa chọnbảođảmtính hài hòa, tạođộnglực làm việc cho người laođộng và sự tồn tại,phát triển của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp hoạt động.
1.4.3. Yếu tố năng lực quản lý nhà nước về lao động
Nănglựcquản lý nhànướcvềlaođộngthểhiệnởchấtlượngvàhiệuquảthực hiện cácnộidung quản lýđãđượcđềcậptrên đây. Trên phạm vi toàn quốc haytạimột địaphương cụ thể,nếuthực hiện các nội dungđócó chất lượng và hiệuquảthì đương nhiên nósẽcó ảnh hưởng tốt tớiviệc thực thi pháp luật và ngược lại. Nguồn lựcđảmbảothực hiện làyếutốquyếtđịnhtrực tiếpđếnchấtlượngvà hiệuquảcủatấtcảcác công việc trên, trongđóđiềukiệnvềnhân lực, cơsởvậtchất và tài chính là những nguồn lựcđặcbiệt quan trọng.
12
Qua nghiên cứu chương 1, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
Một là, phát triển khu công nghiệp tạo ra một kênh thu hút laođộng rất có tiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho người lao động. Sự gia tăng nhanh về số lượng của các dự ánđầutư trongnước và nước ngoài thực hiện tại các khu công nghiệp trong các ngànhsử dụng nhiều laođộngđã tạora lực hút mạnhđối với laođộng nhập cư đếnlàm việc tại các khu công nghiệp. Nên trongsốlaođộngđược tuyểnvào doanh nghiệp thì laođộng giảnđơn và không có chuyên môn kỹ thuật chiếm chủ yếu. Với hành trang, trình độ học vấn cũng nhưkỹ năng tay nghề hạn chế như vậy, họ rất khó khăn trong tìm kiếm việc làm, ổnđịnhcuộc sống nơi đôthị. Ðồngthời do hiểu biết cònhạnchếnên không ít người laođộngthường chỉ quan tâmđếnthu nhập thực tếchứ không chú ý tới các chế độ, chính sách, quyềnlợi được phápluật laođộng bảo vệ.
Hai là, trong mối quanhệ với người sử dụng lao động, người laođộng luôn ở vị trị yếuthế hơn, cósựphụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hànhcủangười sử dụng laođộng.Như vậy, xuất phát từ vị thế của người laođộng làchủthể rấtdễ bị xâm hại tới quyền, lợiích. Từ đó, muốntạora quanhệ laođộngđược bìnhđẳnghơn, pháp luật laođộngđã cónhững quy định để bảo vệ người lao động , qua đó hạnchế sự lạm quyền của người sử dụng lao động.
Ba là,bảođảmquyền của người laođộngtrong các khu công nghiệpđược hiểu: là các cách thức, biện pháp làm cho các quyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp khôngchỉlà các quyđịnh trong pháp luật mà phải được thực hiện trên thực tế cuộc sống và có khả năng phục hồi các quyền của người lao động nếu nó bị xâm hại.
Bốnlà, các cách thức, biện phápbảođảmquyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp, bao gồm: người laođộngtự bảovệ;
13
bảođảm quyềncủa người lao động bằng việc ghi nhận các quyềncụthể của người lao động; bảođảmquyền của người laođộngthông qua các thiết chế quản lý nhà nước; bảođảmquyền của người laođộngthông qua tổchức công đoàn; Bảođảmquyền của người laođộngthông qua con đường tòa án.
Năm là, các yếutốtác động đến việc bảo đảm quyềncủa người laođộngtrong các khu công nghiệp, bao gồm:ýthức pháp luậtcủangười laođộng;yếutốchính sách, pháp luật laođộng; yếutốnăng lực quản lýnhà nước về lao động.
14
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1. Tình hình về hoạt độngcác khu công nghiệp trên địabàn tỉnh Bình Định
Theo quy hoạch phát triển các khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Bình Địnhsẽ có 08 khu công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch 1.761 ha, hai khu công nghiệp mới sẽ được hình thành Cát Khánh, Bồng Sơn. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh BìnhĐịnhđãhình thành 05 khu công nghiệp. Trong đó, 03 khu công nghiệp (Phú Tài, LongMỹ,Nhơn Hòa) đã cơ bảnđược lấpđầy; khu công nghiệp Bình Nghi đang chuẩn bị thủ tục chuẩnbị đầutư; khu công nghiệp Hòa Hội, khu công nghiệp Cát Trinh đang kêugọi đầu tư.
2.2. Thực trạng pháp luật về bảođảmquyền củangười laođộng trong các khu công nghiệp qua thực tiễn của tỉnh Bình Định
2.2.1. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện vềbiện pháp tự bảo vệ của người lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
Trong những nămgầnđây,ngườilaođộngđãbiết cách phản ứng trước sựxâm hạiđếnlợiích chính đáng của mình. Hiện tượng này một phầnlớnlà donềnkinh tế – xãhộiViệt Nam đã phát triển vượt bậc trong thời giangầnđây, cơhộiđểtiếpcậnthông tin, hiểu biết pháp luật laođộng,cơhộiđểtiếp cậnvớicác dịchvụpháp lý, trong đó cócảtrợgiúp pháp lý ngày càngtrởnên thuậnlợivàdễdàng đốivớingười lao động. Tuy nhiên, theo các chuyên gia đánh giá vềsựhiểu biết pháp luật laođộngnói chungcủangườilaođộngcũng nhưcủacánbộcông đoàn cơsởcòn rất hạn chế.Dườngnhư người laođộng khôngtựđánh giáđược mộthành vi haymộtquyếtđịnhcủangườisửdụng laođộngđốivới
15
mình là đúng hay sai, mọi việcđốivớingười laođộnghầunhư chỉ dừng lạiở chỗ “chấpnhậnđược”hay là “không thể chấpnhận được”,còn yếu tốpháp lý ítđượctínhđến.Người laođộngđãđứngtrong dây chuyền sảnxuất rồi mà vẫn không biết gì về Bộ luật lao động, hoặc biết có luật nhưng không biết nội dung cụ thể.
2.2.2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện vềbảođảm quyền củangười laođộngbằng việc ghi nhận các quyền cụthểcủa người lao động trên địa bàn tỉnh Bình Định
Trong quá trình thực hiện chính sách Lao động – Tiền lương – Bảo hiểm xã hội – Bảo hiểm y tế vẫn còn vướng mắc như sau:
-Về chính sách lao động: vẫncòn nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện việc xây dựng, đăng ký Thỏa ước laođộngtậpthể, Nội quy laođộng và thang lương, bảng lương theo quy định, dẫn đến việc thực hiện kỷ luật lao động chưa nghiêm, chưa đúng quy định pháp luật, cơchế đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước laođộng tậpthể còn nhiềuhạnchế, việc giải quyết các tranh chấp laođộngthông qua conđườnghòa giải,đàmphán chưa được doanh nghiệp quan tâm. Một bộphận người laođộng do cóhạnchế về nhận thức nênđã bị người sử dụng laođộnglợi dụng không ký kết hợp đồng lao động, hoặc có ký kết nhưng không đảm bảoquy định, phổbiến nhất là tình trạng kéo dài thời gian thử việc. Những vấnđề trên đã làm ảnh hưởng đếnquyền và lợi ích của người laođộng.
– Về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế: tình trạng nợ bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế kéo dài vẫn diễn ra thường xuyênở một sốdoanh nghiệp làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.
– Công tác bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe người laođộng tuy có tiến bộ nhưng tai nạn laođộng vẫnchưa giảm, bệnh nghề nghiệp vẫn còn nhiều nguy cơ tiềm ẩn.
Nguyên nhân của những vướng mắc trên, là do:
16
Mộtlà, việc đóngbảohiểm xã hội,bảohiểm thất nghiệp và bảo hiểm ytếchongườilaođộnglàm tăng chi phí hoạt độngcủa doanh nghiệp, ảnhhưởngtrực tiếp tới lợi nhuậnđạt được.Vì vậy, một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp, cốtình kýhợpđồnglaođộngcóthờihạndưới3 tháng khôngcầnbiết tính chấtcủacông việc theohợpđồng(vi phạm khoản 3Điều22Bộluật laođộngnăm 2012)đểkhông phải đóngbảohiểm xã hội,bảohiểm thất nghiệp,bảohiểm ytếcho ngườilaođộngvàdễxửlý khi không muốn tiếptục sửdụngngườilaođộng.
Hai là, công tác thanh tra, kiểm travề chính sách lao động, tiền lương, bảohiểm xã hội, bảohiểm ytế của các cơ quan chức năngđối với các cơ sởsảnxuất kinh doanh, dịchvụtrong các khu công nghiệp dườngnhư vẫnmang tính hình thức, hiệntượng“phạtđể tồntại” còn phổ biến.
2.2.3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện vềbảođảm quyền của người lao động thông qua các thiết chế quản lý nhànước
Hoạt độngthanh tra, kiểm tra trong thời gian qua đã chỉ ra những sai sót, vi phạm của người sử dụng lao động, người lao động trong việc thực hiện những qui địnhcủa pháp luật lao động. Thông qua công tác thanh, kiểm tra, các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động còn phát hiện nhữngvấnđề vướngmắc trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật lao động, những vấn đề bất hợp lý, chồng chéo, mâu thuẫn trong những qui định của phápluật để từ đó đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổsung cho phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương. Tuy đã có nhiều cốgắng, song phải thừa nhận rằng công tác thanh tra, kiểm tra và kể cả giám sát thực hiện pháp luật laođộngcòn nhiềuhạnchế và tồntại, cụthể: độingũ cánbộlàm công tác thanh tra laođộngvẫncòn mỏng (05 cán bộthanh tra laođộng)sovớikhốilượngnhiệmvụđượcgiao (157 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp vàhộkinh doanh). Do vậy, hàng năm mới cótừ 10đến 15% số doanh nghiệp trong các khu công nghiệpđượcthanh tra, kiểm tra về lao động. Việc thực hiện thanh tra laođộngkhông thường xuyên
17
nên không kịp thời phát hiện ra những sai phạm và giải quyết triệt để các vi phạm của doanh nghiệp.
2.2.4. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện vềbảođảm quyền của người lao động thông qua tổ chức công đoàn
Quan hệ lao động ngày càng ổn định, từ năm 2013 đến nay không xảyra đình công. Tuy nhiên, trong năm 2015 có 2vụlãn công: Vụthứnhất là của ngườilaođộngtại Công ty trách nhiệmhữuhạnsinh hóa Minh Dương Việt Namđể đòi quyền lợi về việc phụcấp làm đêm, vụthứ hai là của Công ty trách nhiệmhữuhạnOlam Việt Nam tại Quy Nhơn. Điềunày cho thấy, tổchức công đoàn không thực sự đồnghành với người lao động. Nguyên nhân là do, tínhđộc lậpcủa cán bộcông đoàn trong doanh nghiệp không có, bản thân cán bộ công đoàn tại doanh nghiệp chỉ là người làm công ăn lương của chủ doanh nghiệp.
2.2.5. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện bảođảm quyền của người lao động thông qua con đường tòa án
Trong năm 2015 chỉ có 5 vụ khiếu nại về lao động (có đơn) và giải đáp, hướngdẫnđối với những trườnghợpkhông có đơn, nội dungchủyếucủa những đơn khiếu nại này liên quanđếnvấnđề chủ doanh nghiệp cho người laođộngthôi việc nhưng không chốt được sổbảohiểm xãhội, vì lý do doanh nghiệpnợ bảohiểm xã hội nên cơ quanBảohiểm xãhội không chịu chốt sổ. Qua trao đổi, làm việc với Bảohiểm xã hội, Công đoàn Khu kinhtế và doanh nghiệp, các bênsẽphối hợptạođiều kiện để người lao động được chốt sổ bảo hiểm xã hội.
Trên thực tế, khi có tình trạnglạmdụng vị thếcủa người sử dụng laođộnglàmảnhhưởngđếnquyền và lợi ích của người laođộng thìngười laođộngthường lựa chọn khiếu nại hơn là khởi kiện người sử dụng lao động. Đối với các tranh chấp lao động công đoàn có quyền khởi kiện tại tòa ángồmtranh chấp laođộngcá nhân, tranh chấp laođộngtậpthể về quyền, tranh chấp liên quanđếnlao động. Trongđócócác nội dung tranh chấpvề hợp đồnglao động, tiền lương, kỷluật laođộng, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi; quyền công đoàn, kinh phí công
đoàn; an toàn lao động, vệ sinh lao động… thì việc thu thập bằng chứng, chứng cứ cần xác minh là rất khó khăn. Ngoài ra muốn tham gia tố tụng
18
để bảovệ quyềnlợingười lao động thì cán bộ công đoàncầnphải cókỹnăng của luật sư và am hiểu luật.
Kết luận chương 2
Qua phân tích, đánh giá về thực trạngbảođảmquyền của người lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Thứ nhất,sựhiểu biết pháp luật laođộngnói chung của người laođộngcũng như của cánbộcông đoàn cơsởcòn rất hạn chế. Dường nhưngười laođộng không tự đánh giá được một hành vi hay một quyếtđịnh củangườisửdụng laođộngđốivớimình là đúng hay sai,mọiviệcđối vớingười lao động hầu như chỉ dừng lạiở chỗ “chấp nhậnđược”hay là“không thể chấp nhậnđược”,còn yếutốpháp lý ítđược tính đến. Người lao động đã đứng trong dây chuyềnsảnxuất rồi mà vẫn không biết gì vềBộ luật lao động, hoặc biết có luật nhưng không biết nội dung cụ thể.
Thứhai, một sốnội dung nghiên cứu về thực tiễnbảođảmquyền của người laođộngtrong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh BìnhĐịnh cóviệndẫncác vụ việc thựctếđể chứng minh cho các lập luận vàqua đóphân tích những nguyên nhân của nhữnghạnchế của việc thực hiệnbảođảm quyềncủa người lao động trong các khu công nghiệp trênđịa bàn tỉnh Bình Định.
Thứba, khung pháp lý có liên quanvề bảođảmquyền của người lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định đã chứa đựng khá đầyđủ các quy định về thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm để điềuchỉnh những quanhệ phức tạpphát sinh trong lĩnh vực laođộng. Tuy nhiên thực tế cho thấy, việc thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn những hành vi làm ảnh hưởng đến quyền của người laođộng chưa được triệt để và khivụviệc đã rồi thì cơ quan nhà nước mới áp dụng những
19
hình thức xử lý, mức độxử lý hành vi nàydườngnhư vẫnmang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2 Hòa giải các tranh chấp hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam
Hòa giải các tranh chấp hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam Hòa giải các tranh chấp hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam Hòa giải các tranh chấp hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam


