KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM

KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM

PHÁT HUY VAI TRÒ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT HUY VAI TRÒ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 10 NĂM QUA

1.1. Vai trò chủ thể và trách nhiệm xã hội của người dân trong xây dựng nông thôn mới

Phát huy vai trò người dân trong xây dựng nông thôn mới (NTM) là vấn đề cótính nền tảng và bao trùm, bởi lẽ, một là mọi vấn đề liên quan, tácđộng đến chủ thể của bất cứ hoạt động nào cũng luôn là quan trọng, là yếu tố chủ quan có tính nền tảng; hai là người dân tham gia toàn bộ mọi hoạt động xây dựng NTM, là người đề xuất nhu cầu, tham gia thực hiện, hưởng thụ, kiểm tra giám sát mọi tiêu chí NTM, vì thế đây là vấn đềbao trùm, liên quan đến toàn bộ các lĩnh vực của NTM, là đối tượng nghiên cứu của tất cả các chuyên ngành khoa học. Có thể nói, bàn về bất kỳ chuyên đề nào của xây dựng NTM cũng được quy chiếu đến vai trò chủ thể của người dân, đều có một góc nhìntừphía người dân.

Việc phát huy sức dân trong xây dựng NTM phải dựa trên vai trò chủ thể và trách nhiệm xã hội có tính đặc thù của người dân nông thôn. Mức độ phát huy phụ thuộc vào cả hai phía tương tác: Chủ thể nhà nước (Chủ thể công) và Chủ thể người dân. Trongđó, các cơ quan nhà nước phải nhận thức đầy đủ về vai trò chủ thể của người dân, thiết lập hệ thống thể chế, chính sách và các quy định cụ thể, tạo điều kiện và tổ chức thực hiện quyền làm chủ của người dân; người dân có quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện quyền làm chủ của mình.

Vai trò chủ thể của người dân nông thôn trong xây dựng NTM được thể hiện ởcác góc độ:

(i) Chủ thể nhận thức chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng vàNhà nước về xây dựng nông thôn mới. Từ coi dân là đối tượngcủa tuyên truyền, phổ biến trở thành chủ thểnhận biết (dân biết) là sự khác biệt lớn về tư tưởng phát huy sức dân;

(ii) Chủ thể thực hiện mọi hoạt động xây dựng NTM: Người dân trực tiếp tham gia trong phát triển kinh tế, tổ chức lại sản xuất, xây dựng hạ tầng nông thôn, xây dựng văn hóa và quản lý xã hội, xây dựng và giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường, giữ gìn

an ninh trật tự… Họ góp ý, góp công, góp sức, góp tiền, góp đất, góp hiện vật, thời gian và nhiều loại tài sản hữu hình, vô hình khác trong các hoạt động này;

(iii) Chủ thể kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội trong xây dựng NTM;

(iv) Chủ thể xây dựng hệ thống chính trị cơ sở “của dân, do dân và vì dân”. Họlà lực lượng chính xây dựng tổ chức và tích cực tham gia hoạt động của chính quyền,đoàn thể các cấp, qua đó thể hiện trách nhiệm xã hội của mình;

(v) Chủ thể hưởng thụ thành quả xây dựng NTM. Đây chính là chủ thể thực chất, thúc đẩy người dân tích cực tham gia, kiểm tra, giám sát quá trình xây dựng NTM.

Trách nhiệm xã hội là một khung đạo đức gợi ý rằng một thực thể, dù là cá nhân hay tổ chức, thì đều có bổn phận phải hành động vì lợi ích của xã hội nói chung. Những hành động đó vượt lên trên các trách nhiệm pháp luật. Trách nhiệm xã hội của từng cánhân bao gồm sự tham gia của người dân vào cộng đồng, các tổ chức đoàn thể xã hội. Việc người dân tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội thể hiện trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của họ. Mọi công việc trong xây dựng NTM ở xã,thôn đều cần đến sự tham gia của người dân với trách nhiệm xã hội của họ. Đặc biệt, khi gặp khó khăn, trở ngại, nhất là trong xây dựng hạ tầng ở địa bàn khó khăn, việc phát huy trách nhiệm xã hội của người dân là giải pháp quan trọng “khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Thực trạng phát huy vai trò chủ thể người dân trong xây dựng NTM 10 năm quaở nước ta nhìn từ hai phía Nhà nước và Người dân thể hiện khá nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết. Giữa nhận thức và thực hành vai tròchủthểcủa người dân luôn cókhoảng cách và khoảng cách đó luôn biến đổi qua các thời kỳ với tư cách vừa là yếu tốtác động, vừa là hệ quả của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn.

1.2. Thực tế phát huy vai trò người dân trong xây dựng NTM 10 năm qua a) Tổ chức thực hiện vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM Trong xây dựng NTM, chủ trương, đường lối và hành động thực tiễn của chúng

ta về phát huy vai trò người dân có những chuyển biến tích cực.

Về nhận thức, chúng ta đã sớm khẳng định vai trò chủ thể của người dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, mà rõ nhất là trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X:“Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển”2. Trong xây dựng NTM Đảng, Nhà nước đã chủ trương phải dựa vào dân: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởngthụ” và chủ trương đó được cụ thể hóa thành quy định của Chương trình MTQG xây dựng NTM: “Phát huy vai trò tham gia của cộng đồng dân cư nông thôn là chính,

mọi hoạt động do người dân bàn bạc, quyết định…”.

Về mặt thực tiễn, chúng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước, chuyển từ cách làm chương trình MTQG kiểu cũ sang phong trào sâu rộng của dân, đẩy mạnh tuyên truyền để dân biết, lấy dân làm chủ thể, dựa vào sức dân, thi đua tạo động lực thay cho áp lực.

Từ đó đã chọncách tiếp cận và phương pháp phù hợp. Đây là vấn đề lớn đángđể nghiên cứu sâu hơn, chỉ xin đề cập đến một số khía cạnh. Chương trình xây dựng NTM là chương trình toàn quốc, nhưng chọn địa bàn triển khai thực hiện là cấp xã/thôn, lấy đó địa bàn cơ bản, là nơi hội tụ các nguồn lực, là đối tượng để xây dựng Bộ tiêu chí NTM. Điều đó là đúng đắn, bởi xã/thôn là nơi gần với cộng đồng nhất, phát huy tốt nhất vai trò của dân, người dân có điều kiện tham giatừ đầu đến cuối,thực sự được làm chủvà hưởng thụ thành quả. Từ xác định địa bàn đúng, Chương trình xây dựng NTM được chuyển thành các dự án phát triển, dự án xây dựng cụ thể ở xã/thôn. Điều này giúp cho Chương trình MTQG được thực hiện có sự tham gia tích cực của người dân, đảm bảo tính thiết thực, tiết kiệm, chất lượng và hiệu quả, đáp ứng nguyện vọng của dân.

Từ cách tiếp cận đó, chúng tathiết lập được hệ thống các quyđịnhcụ thể cho các chủ thể, làm rõ cơ chế hoạt động, vận hành của Chương trình, quy định rõ ràng chức

trách của các chủ thể Nhà nước và chủ thể người dân3. Ví dụ, trong Sổ tay của Chương trình xây dựng NTM quy định rõ cách thức tham gia của người dân vào các công trình của địa phương4. Toàn bộ các giải pháp phát huy vai trò người dân xét cho cùng được hiện thực hóa nhờ cách thức tổ chức quản lý, dẫn dắt của hệ thống chính quyền các cấp và các cơ quan chỉ đạo, điều hành xây dựng NTM. Điểm tiến bộ là người dân được coi là chủthểhưởng thụ. Vì thế, công tác chỉđạo thực hiện Chương trình thường xuyênđược rà soát, cải tiến để hướng về người dân, tập trung vào những vấn đề thiết thực nhất với người dân, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

b) Đánh giá gián tiếp sự đóng góp của người dân qua những thành tựu nổi bật của xây dựng NTM

Các thành tựu nổi bật của xây dựng NTM 10 năm qua đều nhờ sự đóng góp to

lớn của người dân. Có thể nói, các thành tựu đó thực sự là những chuyến biến to lớn, toàn diện, có tầm chiến lược, tạo ra bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển nông thôn Việt Nam.

Về tổng thể, đến nay (hết 6/2019), cả nước đã có 4.458 (50,01%) xã đạt chuẩn NTM; bình quân cả nước đạt 15,26 tiêu chí/xã; có 76/664 (11,45%) đơn vị cấp huyện thuộc 34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn NTM; cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí, không còn nợđọng xây dựng cơ bản. Xây dựng NTM đã vềđích trước 1,5 năm so với mục tiêu năm 2020 (50% sốxã đạt chuẩn; bình quân 15 tiêu

chí/xã…).Đặc biệt,Đồng Nai, Nam Định, Bình Dương vàĐàNẵng là 04 tỉnh, thành phố đầu tiên có 100% số xã đạt chuẩn NTM, trong đó, tỉnh Đồng Nai có 100% xã và100% đơn vị cấp huyện đạt chuẩn. Nhiều địa phương đang chuyển sang xây dựng NTM nâng cao, kiểu mẫu, theo hướng bền vững.

Trong những lĩnh vực cụ thể, nơi thể hiện rõ nét sự đóng góp của người dân, đãcó các thành tựu nổi bật:

– Kết quả huy động nguồn lực thực hiện Chương trình thể hiện mức độ tham gia trực tiếp của người dân. Trong 3 năm qua (2016-2018), nguồn lực đóng góp của người dân chiếm 6,9% (56.799 tỷđồng) trong tổng nguồn lực huyđộngkhoảng 820.964 tỷđồng.Bên cạnhđó,nguồn vốn doanh nghiệp đóng góp chiếm 4,81%. Nếu coi doanh nghiệp cũng thuộc nhóm chủ thể người dân (cùng với các chủ kinh tế hộ khác), thì nguồn đóng góp của người dân nói chung chiếm 11,71%, trong khi nguồn NSNN cấp trực tiếp cho xây dựng NTM chỉ chiếm 2,9%.

Mặc dù tỷ lệ đóng góp của người dân trong 3 năm qua (6,9%) nhỏ hơn so với 12,62% của giai đoạn I (2010-2015), nhưng không có nghĩa mức độ đóng góp của người dân bị sụt giảm. Khi so mức đóng góp đó với tiến độ xây dựng hạ tầng nông thôn qua hai giai đoạn sẽ thấy tính tích cực của nó5.

– Kết quả xây dựng hạ tầng kinh tế – xã hội: Nhờ huy động tốt các nguồn lực cho phát triển hạ tầng, diện mạo nông thôn đã khởi sắc rõ rệt. Đến nay (6/2019), cả nước có63,75% số xã đạt tiêu chí giao thông; 90,7% số xã đạt tiêu chí thủy lợi; 62,8%số xã đạt tiêu chí trường học; 60,3% số xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa… Theo Tổng cục Thống kê, giao thông nông thôn 8 năm qua đã hoàn thành một khối lượng lớn hơn 5 lần của 10 năm (2001-2010).Tại một số địa phương xuất hiện “đại lộ nông thôn”.Tương

tự, các hạ tầng thiết yếu khác ở nông thôn cũng được xây dựng với tốc độ nhanh hơn6.

– Kết quả phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Đến nay (6/2019), cả nước có 67,3% số xã đạt tiêu chí thu nhập; 67,5% sốxã đạt tiêu chí về hộ nghèo; 97,6% số xã đạt tiêu chí lao động có việc làm; 78,7% số xãđạt tiêu chí về tổ chức sản xuất. Sự tham gia của người dân không chỉ giúp đạt các tiêu chí về số lượng, mà còn thúc đẩy phát triển về chất, như xây dựng chuỗi giá trị liên kết sản xuất đối với các nhóm sản phẩm chủ lực 3 cấp tỉnh, huyện, xã và OCOP7, gắn với nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX, phát triển nông nghiệp sạch, du lịch sinh thái…

– Kết quả về văn hóa – xã hội, đến 6/2019 cả nước đã có 81,6% số xã đạt tiêu chívăn hóa, 91,6% số xã đạt tiêu chí quốc phòng và an ninh. Môi trường lành mạnh, đa màu sắc văn hóa của người dân, cùng với các phong trào văn hóa đang tạo ra cuộc sống tinh thần mang tính cộng đồng cao trong làng xã, góp phần gìn giữ, bảo tồn bản sắc dân tộc, từng bước trở thành nhân tố tích cực, trực tiếp đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của các miền quê.Đãxuất hiện nhiều mô hình điển hình về xây dựng đời sống văn hóa8, lễ hội truyền thống lành mạnh, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao9

– Về môi trường, đến 6/2019 cả nước đã có 61,1% số xã đạt tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm. Công tác bảo vệ môi trường nông thôn vốn có nhiều khó khăn, rào cản, nay đã có bước đột phá lớn, nhất là vấn đề xử lý rác thải khu dân cư và cải tạo cảnh quan nông thôn xanh – sạch – đẹp, trong đó ý thức và sự tham gia của người dân

5 Nếu trong 5 năm đầu tiên bắt tay xây dựng NTM hầu hết các xã đều vận động người dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, khiến tổng mức huy động khá lớn, trong khi nguồn NSNN thì ít, nên tỷ lệ này khá cao, thì 3 năm qua sự huy động chủ yếu ở các xã chưa đạt chuẩn về xây dựng hạ tầng, còn ở các xã đã đạt tiêu chí này chỉ duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp để đạt chuẩn mới (trong khi nguồn NSNN lại tăng lên). Tuy tỷ lệ nhỏ, nhưng tổng mức huy động thì xấp xỉ, bình quân dân đóng góp 19.000 tỷ đồng/năm, so với 21.489 tỷ đồng/năm giai đoạn I.

6 Theo Tổng cục Thống kê, đến nay 99,4% số xã cả nước cóđường ô tôđến trung tâm xã; mạng lưới điện quốc gia đã bao phủ đến 100% số xã và 97,8% số thôn; 99,7% số xã có trường tiểu học, trường mẫu giáo; 99,5% số xãcó trạm y tế xã; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số xã có nhà văn hoá. Hệ thống thuỷ nông được xây dựng mới và hoàn thiện với trên 18.100 trạm bơm, bình quân 2,0 trạm/xã. 4.498 xã có công trình nước sạch tập trung, cả nước có16.092 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung. được coi là có nhiều tiến bộ10. Đã có 38 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch xử lý rác thải tập trung ở nông thôn. Số xã, thôn có hệ thống thoát nước thải sinh hoạt, có thu gom, xửlý rác thải tăng rõ rệt11. Mô hình khu dân cư kiểu mẫu, vườn mẫu đã được Trung ương chỉ đạo và các địa phương trên cả nước chủ động nhân rộng.

– Hệ thống chính trị và quốc phòng – an ninh ở các địa phương được xây dựng gắn với phát huy vai trò chủ thể của người dân. Tính đến 6/2019) đã có 78,4% số xãđạttiêu chívềhệthốngtổchức chínhtrị- xã hội; 91,6% số xã đạt tiêu chí về quốc phòng và an ninh. Với sự tham gia tích cực của người dân, nhiều địa phương đã thành lập các đội tự quản an ninh trật tự, CLB phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống tội phạm

và các tệ nạn xã hội, bảo vệ tài sản12…

c) Đánh giá sự tham gia của người dân qua kết quả điều tra

Theo kết quả khảo sát thực tế ở các tỉnh đại diện cho các vùng miền, dân tộc của một số đề tàikhoa học thực hiện trong 8 năm qua (2011-2019), vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM được thể hiện ở nhiều mặt và rộng khắp.

– Về đóng góp nguồn lực cho xây dựng NTM. Mặc dùtỷ lệ đónggóp của cộng đồng, người dân tính chung trong cả nước nêu trong báo cáo là khá thấp, nhưng trong thực tế, mức đóng góp của dân vào xây dựng hạ tầng thiết yếu cấp thôn, bản lớn hơn nhiều. Theo kết quả khảo sát13, có thể rút ra các kết luận:

+ Tỷ lệ đóng góp của người dân trong các công trình cấp thôn, bản rất cao, trên 40-50%;

+ Các công trình cấp thôn, bản và những công trình quy mô nhỏ, áp dụng theo cơchế đặc thù, thì sự tham gia của cộng đồng, người dân là rất tích cực, thậm chí côngđồng được tự tổ chức thi công, hiệu quả rất cao, dân đóng góp được nhiều nhất, khẳng định cấp thôn, bản, ấp là thích hợp nhất để phát huy vai trò người dân;

+ Trong thực tế hiện rất khó quy đổi tương đương giá trị đóng góp của người dân,

như công lao động, góp đất, góp cây cối và các loại tài sản…

– Trong xây dựng hạ tầng cơ bản, đời sống văn hóa, quản lý xã hội, giữ gìn cảnh quan, môi trường, an ninh trật tự ở nông thôn, vai trò chủ thể của người dân được phát huy ở nhiều hình thức, trong đó, tham gia các hoạt động đoàn thể, xã hội là chỉ báo quan trọng xác định trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của người dân. Ở đây có mấy nhận định đáng lưu ý:

+ Người dân còn rất khó thể hiện vai trò chủ thể một cáchđộc lập.Họ tham gia các hoạt động xây dựng NTM một cách có điều kiện, cần có sự tuyên truyền, khởi xướng, dẫn dắt của chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương;

+ Số lượng các tổ chức đoàn thể ở địa phương ngày một tăng nhanh và đa dạng. Trong vòng 20 năm, từ chỗ chỉ có 300 tổ chức hội cấp tỉnh trong cả nước năm 1990 đãtăng lên 15.000 hội hoạt động ở các địa phương năm 2010, thể hiện khái quátmức độtham gia của người dân trong các tổ chức này;

+ Đại đa số người dân đều tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương, bình quân mỗi người dân tham gia ít nhất một tổ chức/đoàn thể/hội nào đó và khoảng 04 hoạt động xã hội. Trong đó Hội nông dân, Hội Phụ nữ và các Nhóm tôn giáo, tín ngưỡng là 3 tổchức có số người tham gia đông nhất;

Luận văn uy tín và chuyên nghiệp nhất thị trường hiện nay. Liên hệ ngay hôm nay
Luận văn uy tín và chuyên nghiệp nhất thị trường hiện nay. Liên hệ ngay hôm nay

+ Nội dung tham gia hoạt động xã hội của người dân chủ yếu là từ thiện, nghềnghiệp, đảm bảo an ninh trật tự, văn hóa tín ngưỡng. Người dân các tỉnh phía Bắc tham gia nhiều hoạt động xã hội hơn phía Nam, nhưng ở phía Nam nội dung hoạt động thiên về sản xuất hơn. Nhìn chung, không có sự khác biệt đáng kể về sự tham gia của người dân vào hai nhóm hoạt động vì lợi ích công đồng và vì nhu cầu cá nhân. Những người có trình độ học vấn cao, người có điều kiện kinh tế hơn thì có xu hướng tham gia các hoạt động vì cộng đồng, trong khi người có trình độ học vấn thấp, ít có điều kiện kinh

tế thì nghiêng về phục vụ nhu cầu cá nhân14;

+ Nhận thức của người dân về lợi ích tham gia các hoạt độngxã hội được cải thiện hơn. Đa số (trên 50%) cho rằng tham gia các hoạt động xã hội mang lại lợi ích chođịa phương, đóng góp cho cộng đồng trên địa bàn.

+ Mức độ tích cực tham gia các hoạt động xây dựng NTM của người dân cũng có sựkhác biệt giữa nói (đóng góp ý kiến) và làm (trực tiếp tham gia thực hiện) tùy thuộc vào loại hoạt động, nói chung là dân làm nhiều hơn nói, ít lý luận, nhiều thực hành15.

+ Vai trò chủ động của chủ thể công là khá tích cực. Đa số người dân đều cho rằng họ ngày càng được hỏi ý kiến nhiều hơn đối với các hoạt động liên quan đến đời sống của họ. Gần một nửa số người được hỏi cho rằng phần lớn các quyết định quan trọng về đời sống người dân của đảng ủy, chính quyền, HĐND xã chủ yếu phản ánhýkiến của đa số nhân dân. Các cuộc họp thôn/ấp được đa số người dân đánh giá tích cực16

14 Bùi Quang Dũng, Đặng Thị Việt Phương: Điều tra nông dân Việt Nam 2009-2010. Viện HL KHXH, 2011.

15 Ví dụ, đối với xây dựng hạ tầng cơ bản, trong khi chỉ có 40,6% người dân có đóng góp ý kiến (nói ít), thì tỷ lệtham gia xây dựng lại cao tới 89,3% (làm nhiều hơn). Đối với xây dựng và thực hiện hương ước, tỷ lệ người tham gia là 71%, cũng nhiều hơn tỷ lệ đóng góp ý kiến (44,2%). Tương tự là bảo vệ an ninh trật tự (65,3% so với 32,9%). Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia vào kế hoạch phát triển KT-XH của xã thì người lại, tỷ lệ người góp ý (62,4%) cao hơn tỷ lệ tham gia (39,7%), phải chăng người dân chưa được tạo điều kiện để tham gia thực hiện kế hoạch.

16 Có 92,5% thừa nhận họp thôn/ấp đã giúp họ nắm được thông tin đời sống của thôn/xã. Nhiều người (41,6%) cho là nhờ họp biết rõ trách nhiệm của hộ gia đình với cộng đồng

6

– Về mức độ hài lòng của người dân trong xây dựng NTM17. Với tư cách là chủthể hưởng thụ, mức độ hài lòng của người dân là chỉ báo quan trọng trong đánh giá kết quả phát huy vai trò của họ. Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của người dân của một số đề tài khoa học đã giúp nhận ra một số nhận xét độc lập:

+ Sự hài lòng về quá trình triển khai và phát huy vai trò tham gia của người dân. Người dân có mức hài lòng rất cao đối với công tác lãnh đạo và tổ chức thực hiện tại địa phương, bình quân 8,3 điểm (thang điểm 10) đối với công tác chỉ đạo thực hiện; 8,5/10điểm đối với việc phát huy vai trò tham gia của người dân. Trong đó, mức hài lòng có khác nhau đối với một số hoạt động cụ thể của chính quyền.

+ Sự hài lòng về kết quả xây dựng NTM. Đối với các kết quả xây dựng cơ sở hạ

tầng, hoạt động văn hóa – xã hội, phát triển sản xuất, sự hài lòng của người dânlà trung bình (7,1/10 điểm). Mức hài lòng này tăng dần theo loại xã: từ xã khó khăn đến xã đạt chuẩn. Theo từng loại kết quả thì: xây dựng hạ tầng thiết yếu, môi trường, thị trường,đào tạo nghề và khuyến nông có mức độ hài lòng thấp (dưới 6/10 điểm), trong đóhạ

tầng và sản xuất thấp hơn so với mảng văn hóa – xã hội (trừ yếu tố môi trường).

+ Sự hài lòng chung về NTM có mức bình quân khá cao (7,8/10). Trong đó xãphấn đấu đạt chuẩn và xã đạt chuẩn có mức hài lòng cao (8/10) hơn xã khó khăn (7,1).

Vấn đề chưa hài lòng nhất được nhiều người dân lựa chọn là môi trường và điều kiện sinh hoạt trong gia đình. Chỉ có gần 14% cho biết không có điều gì chưa hài lòng.

+ Sự khác biệt trong đánh giá mức độ hài lòng của người dân giữa các khảo sát thực tế và số liệu báo cáo từ các địa phương là đương nhiên, lý do nằm ở cách đánh giá và đặc điểm tham gia của người dân trong đánh giá. Theo các chuyên gia khảo sát, cáchđánh giá sự hài lòng của người dân còn một số điểm chưa hợp lý18.

1.3. Một số vấn đề đáng lưu ý về phát huy vai trò của người dân trong xây dựng NTM

a) Từ phía Nhà nước, người tổ chức thực hiện

– Về hệ thống chính sách. Hầu hết các giải pháp chính sách hiện nay đều hướng tới người dân như là nhóm đối tượng đặc biệt, đưa ra những cơ chế hỗ trợ đặc thù, dẫn đến mang nặng tính vận động, tuyên truyền, bao cấp, tạo ra tưtưởngỉ lại, chưa chú trọngđúng mức vai trò chủ thể của người dân. Ở góc độ này, Nhà nước chưa làm tốt vai tròdẫn dắt, kiến tạo. Cần tiếp tục đổi mới chính sách đối với nông dân nhằm kích thích tiềm năng, tính tích cực, chủ động của người dân trong xây dựng NTM.

– Về thể chế thực hiện quyền làm chủ của người dân. Còn nhiều quy định chưa hợp lý, đầy đủ, chậm được điều chỉnh, hoàn thiện, chưa tạo điều kiện để người dân phát huy vai trò chủ thể. Trong đó đáng lưu ý là: quyền tự chủ của người sản xuất đối với ruộng đất; thể chế hóa chủ trương phát triển các thành phần kinh tế, ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân chậm chạp, chưa đủ tầm, còn thiếu nhất quán; trách nhiệm, lợi ích của

17 Nguyễn Ngọc Luân, Lê Vũ Ngọc Kiên (2017): Đánh giá sự hài lòng của người dân về NTM.

18 Phiếu lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân thực hiện theo Hướng dẫn 78/HD-MTTW-BTT, gồm 17 nội dung, với 3 mức hài lòng, không hài lòng và không có ý kiến. Theo cán bộ cấp huyện, xã, việc ghi nhận tên vàđịa chỉ người trả lời khiến nhiều hộ gia đình không muốn trả lời thật. Các câu hỏi còn được thiết kế chung chung,

khó đánh giá đối với người dân (như về giáo dục, y tế, cải cách thủ tục hành chính…). Chất lượng phiếu lấy ý kiến có thể chưa phản ánh đúng toàn bộ ý kiến của người dân. Ở một số thôn vẫn còn tình trạng điền phiếu dựa theoýkiến của người khác. Cán bộ xã cũng có sự điều chỉnh linh hoạt, phải giải thích/đề nghị với người dânđể đạt được kết quả theo quy định. Từ đó, việc đánh giá có thể chưa thực chất như mong muốn.

7

người sản xuất trong các tổ chức kinh tế, liên kết chuỗi giá trị chưa rõ ràng, còn nhiều rào cản về pháp lý cho đột phá trong đổi mới, phát triển HTX và các hình thức kinh tế

tập thể của nông dân; các tổ chức nghề nghiệp của người sản xuất chưa được coi trọng, gặp nhiều khó khăn trong bảo vệ quyền lợi của hội viên; quy chế dân chủ ở cơ sở chậm được nâng cấp cả về nội dung và cấp độ pháp lý.

– Nội dung hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội nặng về tuyên truyền, giáo dụcchủtrương chính sách, vẫn được coi là cơ quan tuyên truyền, cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhẹ về vai trò tổ chức, mở rộng các hoạt động thiết thực vì lợi ích cộngđồngvà người dân. Người dân vẫn được coi là đối tượng tuyên truyền hơn là chủ thể nhận thức, là trọng tâm các hoạt động xã hội của các tổ chức. Một số hoạt động được nhiều người tham gia lại chủ yếu về tôn giáo, tín ngưỡng, từ thiện, giải trí.

– Phương thức thực hiện quyền làm chủ của người dân trong xã hội nói chung còn bất cập. Công cụ, điều kiện thực hiện chưa đáp ứng, hiệu quả chưa cao. Chưa chú trọng đúng mức sự tham gia của người dân, nhất là người nghèo và các nhóm yếu thếvào nhiều hoạt động xây dựng NTM.

– Cách tiếp cận, phương pháp triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTMở mức độ nào đócòn bất cập, kéo dài sự rập khuôn cứng nhắc, ápđặt, mức độ phân cấp chưa đủ mạnh. Một số công cụ triển khai chưa có tính phù hợp cao, ví dụ, bộ tiêu chí NTM và các quy định về phát huy vai trò người dân thường xuyên phải điều chỉnh.

– Việc công khai minh bạch thông tin xây dựng NTM ởxã, thôn chưa có tính cưỡng chế cao cần thiết, chưa đến được người dân đầy đủ, kịp thời. Ngay cả nhiều cán bộ xã cũng không nắm hết thông tin. Người dân chỉ biết thông tin của các công trình/hoạt động ở phạm vi thôn. Năng lực giám sátcộng đồngcòn hạn chế, mới chỉ hiệu quả đối với các công trình cấp thôn (nhờ có đủ thông tin).

– Tính thiết thực trong xây dựng NTM ở một số địa phương chưa được chú trọng cùng với tưtưởngphong trào, ăn xổi, bệnh thành tích. Ở đótiếng nói, nguyện vọng vàvai trò tham gia giám sát của người dân chưa được phát huy đầy đủ. Vì thế sau khiđạt

chuẩn khí thế trùng xuống, có tiêu chí phải nợ kéo dài, có tiêu chí bị xuống cấp…

– Nhận thức, năng lực của cán bộ, nhất là trong giai đoạn đầu còn yếu, thiếu chủđộng, sáng tạo, còn trông chờ vào chỉ đạo của cấp trên.

b) Từ phía chủ thể người dân

– Trình độ, năng lực làm chủ của người dân còn hạn chế, ít có điều kiện, còn chờđợi sự dẫn dắt của chính quyền và các tổ chức, chưa chủ động phát huy vai trò chủ thể.

– Điều kiện thực tế thực hiện quyền làm chủ của người dân nhiều nơi còn bất cập; – Đặc điểm tham gia hoạt động xã hội của người dân chưa đáp ứng các yêu cầu

xây dựng NTM. Thói quen tiểu nông vẫn nặng nề. Các hoạt động phục vụlợi ích cánhân tham gia thường xuyên hơn (vài lần/tuần) so với lợi ích công cộng (một vài lần/quý, một vài lần/năm). Trong khi đó, nhiều công việc xây dựng NTM lại rất cần sự tham gia thường xuyên của người dân. Lợi ích công cộng của các hoạt động xã hội còn thấp.

c) Các yếu tố khách quan

-Đặc điểm sản xuất nông nghiệp và kinhtếnông thôn nướcta hiện nay ảnh hưởng tới nhận thức và hành động thực hiện vai trò chủ thể của nông dân. Phương thức sản xuất kinh tế hộ khiến nông dân ở mức độ nào đó còn cô lập với nhau.

8

– Thu nhập thấp, xuất phát điểm thấp, không đồng đều của nông thôn các vùng, miền khiến điều kiện tham gia của họ vào xây dựng NTM gặp khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, nhóm người nghèo, yếm thế. Khoảng cách chênh

lệch khá lớn về kết quả đạt chuẩn NTM giữa các vùng, miền được nêu trong các báo cáo gián tiếp thể hiện sự chênh lệch về thu nhập/đóng góp của người dân.

– Các phong tục, tập quán văn hóa, xã hội cũ,lạc hậulàm hạn chế đáng kể mức độ phát huy vai trò chủ thể về văn hóa, xã hội của người dân.

– Tác động từ CNH, HĐH, ĐTH rất phức tạp. Tư duy và hệ lụy hai mặt của cơchế thị trường, trào lưu lao động trẻ ly nông, ly hương, khoảng cách giàu nghèo, công

nghệ tin họchiện đại và mạng xã hộilan truyền…ảnh hưởng lớn đến sựổn định vềnhận thức và thực hiện vai trò chủ thể của người dân ở nông thôn.

2. CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦTHỂCỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NTM GIAI ĐOẠN TỚI

Tới đây, phát triển kinh tế – xã hội nước ta sẽ có nhiều biến động dưới tác động của đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, hội nhập sâu rộng quốc tế vàcạnh tranh, tranh chấp thương mại, phát triển KHCN với cách mạng công nghiệp 4.0,

biến đổi khí hậu… Xéttrong khuôn khổ xây dựng NTM, mà cụ thể là phát huy vai tròchủthểngười dân trong xây dựng NTM, thì những biến động trực tiếp sau đâysẽlànhững yếu tố có tác động lớn:

2.1. Tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn

Cơ cấu kinhtế vàlao động nông thôn nước ta trong giai đoạn tới sẽ chuyển đổi nhanh hơn do tác động từbên ngoài (CNH, HĐH, ĐTH, BĐKH, hội nhập quốc tế, KHCN và cách mạng công nghiệp 4.0) và bên trong (từ chính thành quả xây dựng NTM) theo hướng chuyển nhanh từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Sự chuyển dịch sẽ phức tạp hơn, khác trước đây (khi cơ cấu kinh tế chuyển khá rõ từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, thu nhập phi nông nghiệp ở nông thôn tăng đáng kể, nhưng cơ cấu lao động thì chuyển dịch chậm chạp, dồn ứ ở nông thôn19).

Các xu thế trái chiều tiếp tục diễn ra đối với dòng chảy lao động nông thôn:đẩy lao động ra khỏi nông thôn (do biến động về đất đai, vốn, quy mô sản xuất, quan hệ xãhội trong xây dựng NTM dưới tác động của CNH, HĐH, ĐTH); và dồn lao động về khu vực nông nghiệp (do giảm nhanh lao động ở khu vực công nghiệp nhờ tăng năng suất

lao động, ứng dụng CNC, sử dụng trí tuệ nhân tạo…). Điều đó càng sẽ làm tăng sự xáo trộn, cơ cấu lại thành phần lao động, dân cư cũng như tâm lý của người dân nông thôn.

2.2. Chuyển động của kinh tế nông nghiệp tác động đến kinh tế hộ và năng lực chủ thể của nông dân

Quá trình chuyển đổi nông nghiệp sẽ được đẩy nhanh nhờ thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp trong bối cảnh mới, diễn ra theo các xu thế sau:

– Nông nghiệp không thể tiếp tục phát triển theo chiều rộng truyền thống bằng duy trìlợithế khai thác tài nguyên và giá rẻ, ngày càng phát triển rộng ra ngoài phạm vi nông thôn trên cơ sở phát triển các chuỗi liên kết liên ngành (nhất là với công nghiệp

19 Sau 30 năm đổi mới, nông nghiệp chỉ còn chiếm 17-18% tổng GDP, trong khi lao động nông nghiệp vẫn chiếm hơn 60%, dân cư nông thôn vẫn còn hơn 70%, cơ cấu lao động và dân cư nông thôn lạc hâu hơn cơ cấu kinh tế

9

chế biến), liên vùng và quốc tế, chuyển dần theo hướng sản xuất công nghiệp, có những thay đổi căn bản về bản chất kinh tế;

– Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch mạnh dưới tácđộngphức tạp, bất ổn với những thay đổi cơ bản của thị trường, hướng tới hàng có giá trị dinh dưỡng cao, thực phẩm chế biến, sản phẩm hữu cơ, thực phẩm chức năng, hóa mỹ phẩm, đồ nội thất, sản phẩm thân thiện với môi trường, có trách nhiệm xã hội;

– Nông nghiệp sẽ HĐH, chuyên môn hóa cao hơn nhờ quy mô sản xuất tăng lên,ứng dụng rộng rãi cơ giới hóa đồng bộ và các tiến bộ KHCN mới, thông minh, hạn chế

rủi ro, tiếp cận nhanh hơn với thông tin thị trường, sử dụng vốn nhiều hơn, hiệu quả hơn, hưởng lợi công bằng hơn từ các chuỗi giá trị. Lực lượng nông dân cũng chuyển đổi và phân hóa theo chuyên môn, trình độ, năng lực.

Các diễn biến trên có tác động lớn kinh tế hộ nông dân. Sự biến đổi của kinh tếhộ sẽ được đẩy nhanhtheo hướng sản xuất hàng hóa là chính. Cùng với đó sẽ phổ biến các hộ kinh doanh tổng hợp và các hộ hoàn toàn phi nông nghiệp. Trong khi đómột bộ

phận hộ nông nghiệp phát triển thành trang trại, chuyển dần thành doanh nghiệp… Các biến đổi này cùng với sự phát triển của công nghiệp địa phương và ĐTH sẽ dẫn đến:

– Làm thay đổi bản chất, năng lực, tư duy, tri thức của các chủ thể kinh tế nông nghiệp, phân nhóm nông dân theo chuyên môn hóa, phân hóa nông dân theo năng lực,

trình độ, nguồn vốn, quy mô sản xuất…

– Thúc đẩy, tăng tốc sự tan rã khối dân cư quần tụ trên ruộng đất (về lâu dài), trong nông nghiệp.

Tựu chung lại, đặc điểm, năng lực trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của người dân nông thôn sẽ mang sắc thái mới, bản chất mới, đòi hỏi quyền tự quyết rộng hơn. Sựtham gia của họvào xây dựng NTM có thểthayđổi, vừa tích cực (ví dụ, năngđộng hơn), vừa tiêu cực (vídụ, hướngngoại khỏi nông thôn nhiều hơn, quan tâm lợi ích bản thân nhiều hơn).

Liệu người dân nông thôn tới đây có là chỗ dựa vững chắc, là nguồn lực chủ yếu của xây dựng NTM không có điểm dừng? Thể chế cần phải thay đổi thể nào để tạo điều kiện cho họ tái tạo và phát huy mạnh mẽ nguồn lực của mình trong xây dựng NTM?

2.3. Sự biến đổi của các chủ thể kinh tế nông nghiệp, nông thôn khác

Không chỉ CNH, ĐTH, mà chính quá trình xây dựng NTM cũng góp phần thúc đẩysựbiến đổi của các chủthểkinh tếkhácởnông thôn (HTX, Tổhợp tác, doanh nghiệp) nhanh hơn theo hướng NTM. Một số chủ thể mới khởi nghiệp nhờ các trào lưu

OCOP, du lịch nông thôn, phát triển tiểu thủ công nghiệp… Các lĩnh vực phát triển này càng khiến kinh tế nông nghiệp phát triển rộng ra ngoài nông thôn hơn. Các chủ thể kinh

tế sẽ có tiềm năng lớn hơn. Liệu họ có còn bám lấy nông thôn, phục vụ nông thôn, phát huy tốt hơn vai trò của mình trong xây dựng NTM? Tương tự là câu hỏi về thể chế.

2.4. Sự biến đổi làng xã và quan hệ xã hội của người dân nông thôn

Đô thị hóa, toàn cầu hóa có thể khiến khoảng cách giữa nông thôn và đô thị tăng

lên, thúc đẩydi cư nông thôn –đô thị, trong khi xây dựng NTM cốgắng làm giảm khoảng cách đó. Tác động đa chiều đến cư dân nông thôn sẽ phức tạp, kèm theo đó làthay đổi trong các định chế xã hội (gia đình, cộng đồng) và giá trị văn hóa nông thôn.Đây là các yếu tố tác động lớn đến vai trò chủ thể của người dân nông thôn.

10

Có thể hình dung sơ bộ xu thế biến đổi chính của làng xã và đời sống văn hóa, xãhội nông thôn khi nó chủ yếu chịu tác động của biến đổi về quan hệ sản xuất, quan hệthị trường trên nền tảng của công nghệ thông tin hiện đại, tác động của tiếp biến văn hóađa chiều trong hội nhập quốc tế, hội nhập vùng miền, dân tộc và sự hoàn thiện của khung khổ thể chế, pháp luật của xã hội dân chủ và nhà nước pháp quyền. Tính khép kín của làng xã đã và sẽ bị phávỡ nhanh hơn, một mặt làm cho thôn làng trở thành tập hợp xã hội hiện đại, mặt khác hậu thuẫn cho quá trình ly nông, ly hương. Cùng với đó, là sựthay đổi của các mối quan hệ văn hóa, xã hội, dòng họ ở thôn làng.“Tinh thần hương thôn”, “văn hóa thôn làng” sẽ phải thay đổi theo hướng tích cực và hội nhập, lược bỏnhững sức ỳ cố kết,níu kéo phát triển, chuyển từ cấp độ văn hóa của kinh tế sinh tồn, quan hệ khép kín trong dòng họ, gia đình đến văn hóa tiến bộ, mở rộng hơn; không gian xã hội, trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể người dân nông thôn được nới rộng hơn.

2.5. Chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững

Kinh nghiệm thế giới cũng như trong nước cho thấy, vai trò chủ thể của nhà nước trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng NTM có sự chuyển đổi qua các giaiđoạn. Từ cơ chế bà đỡ, đầu tưmạnh nguồn lực nhà nước chuyển dần sang XHH, huyđộng các nguồn lực xã hội thay thế dần nguồn lực nhà nước. Tới đây, sau năm 2020, mức đầu tưtừ nguồn lực nhà nước cho NTM sẽ có biến động, dù với tốc độ nào thì quy luật chuyển giao chung cũng không thay đổi.

Điều đócó nghĩa vai trò chủ thể của người dân được đặt vào vị trímới, được đẩy cao và có tầm quan trọng hơn. “Xây dựng NTM không có điểm dừng” nghĩa là dựa vào dân, do dân, vì dân: Mục tiêu của NTM là nguyện vọng của dân; Động lực của NTM lànguồn sức dân (là chính); Đầu ra của NTM là hưởng thụ của dân; Tái đầu tư cho NTM

(vẫn) là nguồn sức dân!

Ở phía đối tác, vai trò chủ thể nhà nước cũng được yêu cầu phải chuyển đổi, tập trung vào thiết kế phương thức tổ chức triển khai thực hiện mới; hoàn thiện hệ thống thế

chế, chính sách; tạo lập các môi trường liên kết mới cho NTM…

3. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN TỚI

3.1. Các định hướng lớn

Ứng với tác động của các yếu tố nói trên cần phải có định hướng phù hợp để phát huy vai trò người dân trong phát triển nông thôn, tựu chung là:

1) Nâng cao năng lực chủ thể của người dân nông thôn thông qua các giải pháp khơi dậy tinh thần yêu quê hương đất nước, ý thức tự chủ, tự lực, tự cường; nâng cao trình độ giác ngộ, nhận thức về văn hóa, xã hội, chính trị và và khả năng phân tích, thảo luận dân chủ, trau dồi kiến thức gắn với phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập của người dân;

2) Tạo điều kiện khai thác tối đa vai trò chủ thể của giai cấp nông dân mới ngày càng hiện đại và cách mạng hơn bằng hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, tạo lập môi trường phát triển theo cơ chế thị trường; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn

lực xã hội cho nông nghiệp, nông thôn…

3) Tiếp tục đổi mới phương pháp, cách tiếp cận xây dựng NTM theo hướng lấy người dân là trung tâm, hướng mạnh hơn về cơ sở, tạo điều kiện người dân phát huy vai trò làm chủ NTM.

11

3.2. Các giải pháp chính

a) Hoàn thiện môi trường thể chế, đáp ứng nhu cầu mới của xây dựng NTM

Về kinh tế, hệ thống thể chế cần thay đổi theo hướng: (1) Tăng cường hơn quyền tự chủ của nông dân đối với ruộng đất; (2) Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp; (3) Thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, đảm bảo công bằng, giúp nông dân phát huy năng lực và hiệu quả sản xuất; (4) Khuyến khích thành lập các tổ chức nghề nghiệp của người dân nông thôn; (5) Khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; (6) Phát huy vai trò các thành phần kinh tế; (7) Hỗ trợ tín dụng ở nông thôn; (8) Thúc đẩy và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho nông dân.

Trong lĩnh vực xã hội, hệ thống thể chế cần hoàn thiện theo hướng: (1) Phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ trong hệ thống chính trị ở nông thôn; (2) Thúc đẩy dân chủ cơ sở; (3) Tạo điều kiện để người dân nông thôn tiếp cận pháp luật; (4) Tăng cường cơ chế giám sát, phản biện xã hội tại địa phương.

b) Nâng cao năng lực cho người dân

Các giải pháp chủ yếu nhằm: (1) Khắc phục trở ngại tâm lý tiểu nông; (2) Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng; (3) Phát huy các hình thức tự quản; (4) Phát triển năng lực của phụ nữ nông thôn; (5) Phát huy vai trò của Hội Nông dân; (6) Xây dựng và nâng cao chất lượnghoạt độngcủa các quỹ hỗ trợ nông dân; (7) Phát huy vai trò của các tổ chức và đoàn thể tự nguyện; (8) Tăng cường công tác truyền thông; (9) Cải thiện các điều kiện sống của người dân.

c) Tiếp tục đổi mới cách tiếp cận, phương pháp xây dựng NTM

– Tập trung đánh giá, điều chỉnh, bổ sung cách tiếp cận xây dựng NTM cho đầy đủ. Trong đó lưu ý: (i) Tăng cường tiếp cận xây dựng NTM từ cộng đồng thôn, bản, nhất là ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa; (ii) Tiếp tục điều chỉnh bộ tiêu chí theohướngmở, chia thành các nhóm cứng và mềm, tăng tính thiết thực, thể hiện rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện, đánh giá, tránh chồng chéo, tạo điều kiện để người dân tham gia điều chỉnh phù hợp với địa phương;

– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tổ chức thực hiện, tập trung vào: (i) Phát huy mạnh hơn vai trò của Ban phát triển thôn và các Tổ tự quản; mở rộng phân cấp một cách phùhợp, tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động; (ii) Hoàn thiện các quy định về sựtham gia của người dân; cải tiến cơ chế giám sát của người dân. Lưu ý đến người nghèo và các nhóm yếu thế; (iii) Chú trọng hơn, cưỡng chếhơn việc công khai minh bạch thông tin, đảm bảo tốt cả hai chiều: đến và phản hồi từ người dân đầy đủ và chính xác; (iv) Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các ngành, phân cấp giữa các cấp; cải tiến cách hướng dẫn thực hiện các tiêu chí theohướngtập trung, thu gọn nguồn tài liệu, tránh tản mạn, dẫn chiếu ở nhiều văn bản; (v) Cải tiến phương pháp, biểu mẫu đánh giá kết quảxây dựng NTM và sự hài lòng của người dân.

4. NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN THẢO LUẬN

Thông điệp: “Xây dựng NTM không có điểm dừng là của dân, do dân, vì dân” 4.1. Những vấn đề nổi cộm đáng lưu ý nhất về phát huy vai trò người dân trong

xây dựng NTM 10 năm qua là gì, nhìn từ phía Nhà nước và người dân, từ góc độ nhận thức và hành động thực tế, năng lực và điều kiện thực hiện của người dân, phương pháp và công cụ phát huy của nhà nước trong xây dựng NTM:

12

– Người dân đã là chủ, chủ đến đâu trong xây dựng NTM?

4.2. Dự báo cơ chế, xu thế tác động của các cơ hội, thách thức trong tương lai đến xây dựng NTM và phát huy vai trò người dân trong xây dựng NTM:

– Nông thôn Việt Nam có còn là bệ đỡ cho CNH, HĐH đất nước? Trong ĐTH nông thôn sẽ biến đổi ra sao cả về cảnh quan kiến trúc, đời sống văn hóa và cơ cấu kinh tế?

– Nông nghiệp cơ cấu lại có thể trở thành động lực mới cho tăng trưởng và đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững của đất nước hay không và ứng xửvới nông nghiệp trong tương lai nên thế nào?

– Nông dân và lao động nông thôn sẽ phân hóa như thế nào, có tiếp tục phát huy được vịthế, vai trò chủthểcủa mình trong phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM ở giai đoạn tới?

4.3. Giải pháp phát huy vai trò người dân trong xây dựng NTM bền vững không có điểm dừng từ phía Nhà nước; từ phía tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng NTM; phía người dân và phía KHCN:

– Làm gì để chuyển người dân từ đối tượng thành chủ thể thực sự ở tất cả các cấp độ(biết, bàn, làm, hưởng thụ, kiểm tra giám sát, phản biện xã hội), trởthành nguồn lực chính của xây dựng NTM bền vững?

– Cách tiếp cận và phương pháp tổchức thực hiện Chương trình xây dựng NTM trong giai đoạn cần đổi mới, cải tiến như thế nào để người dân thực sự được tham gia với tư cách là người hưởng thụ, phát huy tối đa vai trò chủ thể của mình?

– Khoa học và công nghệ cần tiếp cận với Chương trình xây dựng NTM như thế nào để phát huy tốt hơn vai trò của người dân, chuyển họ từ người tiếp nhận sang chủ thể ứng dụng KHCN, hiện thực hóa nguồn động lực của KHCN?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Chí Bảo: Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới (xuất bản

lần thứ 2), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010.

2. Bùi Quang Dũng, Đặng Thị Việt Phương: Điều tra nông dân Việt Nam 2009-2010. Báo cáo

Viện Hàn lâm KHXH, 2011

3. Nguyễn Hữu Đễ (Chủ nhiệm): Nghiên cứu đề xuất giải pháp nhân rộng mô hình tự quản vềan ninh trật tựtại các khu dân cư trong xây dựng nông thôn mới, báo cáo đềtài thuộc Chương trình KHCN phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2011-2015.

4. Lê Cao Đoàn (Chủ nhiệm): Nghiên cứu thực trạng vai trò của các tổ chức chính trị- xã hội sau 3 năm xây dựng nông thôn mới và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng nông thôn mới của các tổ chức chính trị- xã hội này, báo cáo chuyên đề thuộc Chương trình KHCN phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2011-2015.

5. Bạch Quốc Khang (Chủ biên): Khoa học với sự nghiệp nông thôn mới. NXB Hồng Đức, H.

2018.

6. Nguyễn Linh Khiếu: Vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới. Website

Tạp chí Cộng sản, 2017

13

7. Liên minh minh bạch ngân sách (BTAP): Tiếng nói của người dân vàcán bộ địa phươngvềChương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 (Trường hợp tỉnh Hòa Bình và Quảng Trị). Báo cáo đánh giá 2018.

8. Nguyễn Ngọc Luân, Lê Vũ Ngọc Kiên (2017): Đánh giá sựhài lòng của người dân về

NTM.

9. Đỗ Thị Thạch(Chủ nhiệm): Thể chế chính trị nông thôn Việt Nam hiện nay: Những vấn đềđặt ra hiện nay và giải pháp hoàn thiện, báo cáo đề tài thuộc Chương trình KHCN phục vụxây dựng NTM giai đoạn 2011-2015.

10. Nguyễn Xuân Thắng (chủ nhiệm): “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng NTM”, báo cáo đề tài thuộc Chương trình KHCN phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2011-2015.

11. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (Chủ nhiệm): Nghiên cứu các giải pháp huyđộng “vốn xã hội”cho phát triển ngành nghề phi nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thônmới, báo cáo đề tài thuộc Chương trình KHCN phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2011-2015.

12. Wolf, E: Giai cấp nông dân và các vấn đề của nó. Trong Một số vấn đề về nông nghiệp,

nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam. Hà Nội, Nxb Thế giới, 2000.

14

HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÃ HỘI VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA

NGƯỜI DÂN TRONG TẠO LẬP, PHÁT TRIỂN VÀ DUY TRÌ CÁC

KẾT QUẢ CỦA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Bùi Thị Kim20

Nhằm đảm bảo tính hiệu quả, hiệu suất, trách nhiệm giải trình và tính bền vững của các kết quả xây dựng NTM, người dân phải thực sự đóng vai trò chủ thể, tự chèo lái và đưa ra các quyết định trong toàn bộ quá trình xây dựng NTM tại địa phương mình. Họ cần được khơi dậy tình yêu quê hương đất nước, thiết lập tính sở hữu và tăng tính trách nhiệm xã hội, được xây dựng năng lực để có thể phân tích vấn đề, thảo luận dân chủ, đưa ra các giải pháp phù hợp và có khả năng huy động các nguồn lực và sử dụng các nguồn lực này một cách hiệu quả, minh bạch và công khai.

GIỚI THIỆU

Chương trình MTQG xây dựng NTM đã có nhiều đóng góp vào thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, cải thiện điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua các công trình cơ sở hạ tầng, phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp, cải thiện vệ sinh

môi trường…

Tuy nhiên, cho đến cuối năm 2018, vẫn còn 363 xã đặc biệt khó khăn (khoảng 3.500 thôn). Nhiều người dân vẫn đang phải đối mặt với một số khó khăn thiếu thốn như: thiếu mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn và hiệu quả; trong canh tác nông nghiệp còn lạm dung thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, thiếu nước canh tác; giao thông đi lại khó khăn, đường xá lầylội; thiếu nước sạch và nhà xí hợp vệsinh; môi trường ô

nhiễm bởi rác thải, nước thải…

Ngoài ra, không ít các công trình NTM sau khi được tạo lập, chỉ sau một thời gian ngắn đã bị xuống cấp, không được duy tu bảo dưỡng (đặc biệt là các công trình cơsở hạ tầng quy mô nhỏ như nhà văn hóa, đường giao thông, kênh mương, điện chiếu

sáng, các công trình nước sạch…).

Xây dựng NTM không chỉ bao gồm việc huy động các nguồn lực xãhội để tạo ra các kết quả theo các tiêu chí của NTM. Do nguồn lực giới hạn, để tránh lãng phí vàtham nhũng, nhất thiết phải phát huy vai trò chủ thể của người dân trong quá trình xây dựng NNM. Chỉ có người dân mới đảm bảo được việc tạo lập các kết quả NTM một cách hiệu quả và tiết kiệm. Chỉ có người dân mới tiếp tục duy trì và phát triển các kết quả của NTM do chính họ đã tạo ra một cách bền vững.

Nội dung bài tham luận bao gồm 4 nội dung: 1. Chu trình xây dựng NTM hiệu quả;

2. Huy động các nguồn lực xã hội trong xây dựng NTM;

3. Vai trò chủ thể của người dân trong tạo lập, phát triển và dụy trì các kết quả của xây dựng NTM.

4. Bài học kinh nghiệm, thuận lợi, khó khăn và một số khuyến nghị.

20 Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC)

15

1. CHU TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Xây dựng NTM là một chu trình khép kín, tương tự như chu trình quản lý của một dự án phát triển, dựa trên kinh nghiệm của DWC, quá trình xây dựng NTM hiệu quả cần được thực hiện theo các bước như trong sơ đồ sau21:

1. Phân tích nội lực, đánh giá nhu

cầu, lựa chọn ưu tiên.

4. Đánh giá kết quả và

rút ra bài học kinh

Xây dựng NTM

nghiệm

2. Lập kế hoạch và huyđộng các nguồn lực xãhội

3. Tổ chức thực hiện và giám sát

1.1. Phân tích nội lực, đánh giá nhu cầu và lựa chọn ưu tiên:

Đây là bước quan trọng đầu tiên để đảm bảo tính hiệu quả của xây dựng NTM. Có rất nhiều tiêu chí một xã/thôn phải đạt để được công nhận NTM. Do nguồn lực có hạn nên một xã hay một thôn không thể hoàn thành hàng loạt các tiêu chí NTM cùng một lúc. Vì vậy bắt đầu bằng việc phân tích các nguồn nội lực sẵn có tại địa phương, sau đó đánh giá nhu cầu và xác định các ưu tiên xem việc nào làm trước, việc nào làm sau là vô cùng quan trọng. Tính hiệu quả của xây dựng NTMđược thể hiện ở việc xác định được đúng và trúng những nhu cầu bức thiết nhất của người dân để tạo lập ra các kết quả NTM mang lại nhiều lợi ích thiết thực nhất cho người dân trong từng thời kỳ. Phân tích nguồn nội lực giúp người dân tận dụng tốt hơn nguồn lực sẵn có, tăng cường

tính chủ động sáng tạo, giảm dần sự trông chờ ỉ lại vào cấp trên…

Bước này trả lời câu hỏi LÀM GÌ?

1.2. Lập kế hoạch và huy động các nguồn lực xã hội:

Sau khi xác định được các ưu tiên cần phải giải quyết (có chú ý đến các nguồn nội lực), bước tiếp theo là công tác lập kế hoạch (đề ra các mục tiêu cụ thể, các kết quảmong đợi để đạt được mục tiêu đề ra và các hoạt động tương ứng để đạt các kết quả). Bên cạnh các nguồn nội lực, việc huy động thêm các nguồn lực xã hội khác từ mọi tầng lớp và các bên liên quan cho việc thực hiện kế hoạch sẽ giúp quá trình xây dựng NTM nhanh hơn và hiệu quả hơn.

Bước này trả lời câu hỏi NGUỒN LỰC LẤY TỪ ĐÂU?

21 Tham khảo thêm tài liệu “Chuyên đề 17: Kỹ năng lập và tổ chức triển khai kế hoạch phát triển thôn theo

phương pháp dựa vào nội lực cộng đồng” – Chương trình khung tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

16

Mục tiêu

Kết quả 1 Kết quả 2 Kết quả 3

Các hoạt động

Nguồn lực

1.3. Tổ chức thực hiện và giám sát:

Đây là quá trình tạo lập các kết quả của NTM theo kế hoạch đã lập. Quá trình thực hiện kếhoạch cần linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh, môi trường thực tếvà cần được giám sát chặt chẽ để đảm cáccông trình/dự án NTM đạt chất lượng với chi phí hợp lý và tạo ra các thay đổi tích cực.

Bước này trả lời câu hỏi LÀM NHƯ THẾ NÀO? 1.4. Đánh giá rút ra bài học kinh nghiệm:

Trong thực tế, mỗi khi một công trình/dự án NTM được hoàn thành, người dân hay các bên liên quan thường tổ chức liên hoan để khánh thành kết quả đạt được. Sẽhiệu quả hơn nếu các bên liên quan ngồi lại với nhau, thảo luận xem toàn bộ quá trình thực hiện kế hoạchđãdiễn ra như thế nào, công khai về chi tiêu tài chính và rút ra các bài học kinh nghiệm. Các bên liên quan cần cùng nhau phân tích xem các hoạt động nàođã làm tốt để tiếp tục phát huy và các hoạt động nào cần cải thiện để lần sau làm tốt hơn.

Bước này trả lời câu hỏi BÀI HỌC KINH NGHIỆM LÀ GÌ?

Xây dựng NTM mới là một chu trình phát triển liên tục không ngừng nghỉ. Sau khi thực hiện xong Bước 4, người dân lại tiếp tục bắt đầu lại Bước 1 với một hoàn cảnh mới. Mỗi giai đoạn xây dựng NTM có thể được đặt cho một cái tên khác nhau, nhưng cần đảm bảo giai đoạn sau sẽ phát triển và tiến bộ hơn giaiđoạn trước.

2. HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NTM

Nguồn lực nói chung bao gồm tài chính, nhân lực, vật lực và các dịch vụ mà con người có thể tiếp cận và sử dụng để đạt mục tiêu mong muốn.

Khi nóiđếnnguồn lực, nhiềungườihay nghĩ đến các nguồn lực vật chất (tài chính, vật lực, nhân lực). Còn có các nguồn lực mà chúng ta không sờ nắm được nhưng vô cùng hữu ích, đó là nguồn lực phi vật chất hay còn gọi là vốn xã hội (như ý tưởng,

tầm nhìn, tri thức, khả năng lãnh đạo, uy tín, niềm tin, sự đoàn kết, lòng trung thành, ý

17

thức cộng đồng, sự quan tâm, đoàn kết, các cam kết về đạo đức, văn hóa, các mối quan

hệ xã hội…)22.

Nguồn lực có thể được phân chia thành hai loại: nguồn lực cá nhân và nguồn lực xã hội.

– Nguồn lực cá nhân là các nguồn lực thuộc sở hữu của cá nhân (như giới tính,

chủng tộc, tuổi tác, giáo dục, nghề nghiệp, thu nhập, nguồn lực của gia đình…).

– Nguồn lực xã hội là nguồn lực gắn kết trong mạng lưới và các quan hệ xã hội, thuộc sở hữu của người khác mà từng cá nhân có thể khai thác23.

Nguồn lực cá nhân và nguồn lực xã hội có liên quan mật thiết với nhau, bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh và tác động ngược trở lại môi trường24.

Nguồn lực cũng có thể được chia thành năm loại: Con người – Tổ chức – Tài chính – Cơ sở vật chất – Nguồn lực tự nhiên.

– Nguồn lực conngườilà nguồn lực quan trọng nhất trong xây dựng NTM, bao

gồm nguồn nhân lực, các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, ngành nghề…

– Nguồn lực tổ chức là các kinh nghiệm và điểm mạnh của từng tổ, nhóm, hợp tác xã, cơ quan, đoàn thể tại địa phương, khả năng hợp tác và liên kết giữa các thành viên và giữa các tổ chức với nhau.

– Nguồn lực tài chính bao gồm các nguồn thu nhập, nguồn vốn, khả năng tài chính của tất cả các bên liên quan, từ các chương trình dự án của Nhà nước, chính quyền địa phương, các nhà tài trợ, các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm, người dân v.v có thể huyđộng cho xây dựng NTM.

– Nguồn lực cơsở vật chấtbao gồm các công trình cơ sở hạ tầng, vật kiến trúc tại địa phương và vùng lân cận, là nguồn cơ sở vật chất quan trọng có thể tận dụng và trợgiúp cho các hoạt động trong xây dựng NTM.

– Nguồn lực tự nhiên bao gồm các tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà người dân có thể khai thác cho xây dựng NTM. Tuy nhiên, cách khai thác và tận dụng các tài nguyên này như thế nào cần được bàn bạc kỹ lưỡng, đảm bảo tính hợp pháp và chú ý đến sự bảo tồn, không được làm ảnh hưởng đến môi trường cũng như cuộc sống của thế hệ mai sau.

Quá trình huy động nguồn lực xã hội hay còn gọi là quá trình xã hội hóa xây dựng NTM, là động viên mọi tầng lớp nhân dân và các bên liên quan chủ động tham gia tích cực vào xây dựng NTM. Huy động nguồn lực cho xây dựng NTM bao gồm tất cả các hoạt động của một nhóm hay một tổ chức để có thêm các nguồn lực tài chính, con người, vật chất và phi vật chất phục vụ cho xây dựng NTM. Huy động nguồn lực bao gồm cảviệc sử dụng hiệu quả hơn và tối đa hóa các nguồn lực hiện có25.

Các bước huy động nguồn lực được thực hiện tương tự như chu trình thực hiện một dự án phát triển, bao gồm 3 công đoạn chính: (i) Lập kế hoạch: đánh giá hiện trạng

22 Tham khảo thêm: Huy động nguồn lực xã hội để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục của Việt Nam – Nguyễn ThịHuyền Trang và Trần Thị Hoài (2018).

23 Encyclopedia.com: personal resources and social resources. 24 2016: Social Support Resource Theory.

25 Encyclopedia.com: Resource Mobilization Concept.

18

và thiết kế các nội dung huy động nguồn lực; (ii) Hành động: tổ chức thực hiện kế hoạch; (iii) Phản hồi: đánh giá rút ra bài học kinh nghiệm26.

2.1. Bước lập kế hoạch:

Phân tích hiện trạngđể biết cácnguồn nội lực sẵn có27 và phân tích môi trường của các nguồn lực bên ngoài để xem có thể tiếp cận được bằng cách nào (ngân sách, các

dự án, các nhà hảo tâm, các gia đình khá giả, các doanh nghiệp…). Chú ý cả nguồn lực vật chất và phi vật chất. Trong giai đoạn này cần xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động cho việc huy động nguồn lực, như kế hoạch truyền thông, các công cụ truyền thông phù hợp từng đối tượng có thể hỗ trợ nguồn lực…

2.2. Bước thực hiện:

Bao gồm các hoạt động cụ thể như: liên hệ với bên có nguồn lực – tiếp cận và

đàm phán/thỏa thuận – quản lý nguồn lực được hỗ trợ và báo cáo cho bên hỗ trợ nguồn

lực – truyền thông về các kết quả đạt được.

2.3. Bước phản hồi:

Đây là bước giám sát và đánh giá việc huy động và sử dụng các nguồn lực đã huyđộng được, phân tích các thành công/thất bại để rút ra bài học kinh nghiệm cho các lần vận động/huy động nguồn lực tiếp theo.

Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nguồn lực cho xây dựng NTM đến từ nhiều cấp, nhiều bên liên quan và nhiều thành phần: từ Trung ương, cấp tỉnh, huyện, xã, các doanh nghiệp, người dân trong cộng đồng, từ các tổ chức chính trị xã hội, các nhà tài trợ nước ngoài… Ngoài các nguồn lực được cung cấp từ chính quyền các cấp, việc huy động các nguồn lực xã hội khác không hề dễ dàng. Người đi huy động nguồn lực xã hội cần được đào tạo để cóđầy đủ kiến thức,phương pháp, kỹ năng và tạo lập được uy tín cũng nhưtích lũy được các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn…

3. VAI TRÒ CHỦTHỂCỦA NGƯỜI DÂN TRONG TẠO LẬP, PHÁT TRIỂN VÀ DUY TRÌ CÁC KẾT QUẢ CỦA XÂY DỰNG NTM

“Khó vạn lần dân liệu cũng xong”

Trung tâm DWC (trực thuộc Trung ương Hội khuyến học Việt Nam) được thành lập năm 2003. Ngay sau khi được thành lập, DWC bắt đầu ngay với sứ mệnh cải thiện chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng nghèo thông qua thúc đẩy phát triển cộng đồng bền vững. DWC28 đã thúc đẩy người dân cấp thôn bản áp dụng thành công cách tiếp cận Quản lý cộng đồng (QLCĐ) thông qua vài nghìn các tiểu dự án phát triển cộng đồng tại một số tỉnh ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam29.

26 FAO (2012): Resource Mobilization.

27 Tham khảo tài liệu về 5 nguồn nội lực trong “Chuyên đề 17: Kỹ năng lập và tổ chức triển khai kế hoạch phát

triển thôn theo phương pháp dựa vào nội lực cộng đồng” – Chương trình khung tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

28 DWC nhận sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ quốc tế để thực hiện sứ mệnh của tổ chức: Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sỹ – SDC; Tổ chức ICCO và CORDAID Hà Lan; Tổ chức cứu đói -Deusche Welthunger Hilfe, Tổ chức

Bánh mỳ cho Thế giới – BfdW, Tổ chức Misereor, SODI, INKOTA của CHLB Đức.

29 Cácđịa bàndự áncủa DWC: Lai Châu, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Nam Định, Quảng Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa.

19

Quản lý cộng đồng (QLCĐ) là một cách tiếp cận và cũng là một phương pháp phát triển, trong đó người dân có quyềnvà có đủnăng lực để đưa ra các quyết định trong toàn bộ chu trình quản lý các dự án phát triển (từ khâu phân tích hiện trạng và lựa chọn ưu tiên, đến công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát và tổ chức đánh giáđể rút ra bài học kinh nghiệm)30.

Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nhờ áp dụng QLCĐ, các thành quả phát triển của người dân đảm bảo tính hiệu quả (giải quyết được các bức xúc nhất của các thành viên trong cộng đồng), tính hiệu suất (các công trình dự án đảm bảo chất lượng với chi phí hợplý), trách nhiệm giải trình (phân công trách nhiệm rõ ràng và tựchịu trách nhiệm về các kết quả của các thành viên liên quan) và tính bền vững (duy trì và bảo vệthành quả của phát triển nhờ tính sở hữu cộng đồng). QLCĐ nhấn mạnh quyền tham gia, ra quyết định của người dân, đồng thời cũng nhấn mạnh tiếng nói của người dân được chính quyền lắng nghe và tôn trọng với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm” tra và dân hưởng lợi.

Cộng đồngđược hiểu là nơi một nhóm người cùng chia sẻ chung giá trị hoặc lợi ích, sẵn sàng cùng nhau thực hiện các hànhđộng tập thểnhằm tạo dựng hoặc bảo vệ giá trị và lợi ích chung của cả cộng đồng. Cộng đồng không phải là một đơn vị hành chính. Cộng đồng hoạt động dựa trên các nguyên tắc “tự nguyện, có đi có lại, tham gia và quan hệ trực tiếp, lãnh đạo bằng sự thuyết phục và làm gương”31.

Hiện ở Việt Nam, khái niệm thôn bản có nhiều đặc điểm đã nêu trong khái niệm cộng đồng. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, đặc điểm thôn bản ở Việt Nam cũng có nhiều thay đổi. Tuy nhiên thôn bản vẫn là nơi các thành viên gắn bó, cố kết lâu đời với nhau, hiểu nhau tường tận, cùng phong tục tập quán, cùng chia sẻ các giá trị và lợi ích…

Theo UBND thành phố Hà Nội, thôn, làng, bản, tổ dân phố, khu phố, khối phố… là tổ chức tự quản của cộng đồngdân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực ởmột xã, phường, thị trấn; nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt độngtựquản, tổchức nhân dân thực hiện chủtrương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao32

Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân chính là mục tiêu tổng quát của xây dựng NTM33.

Xây dựng NTM hiện đang tập trung vào đơn vị cấp xã là đơn vị hành chính thấp nhất, mở rộng lên cấp huyện hướng tới nâng cao chất lượng các dich vụ văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường, kết nối quy hoạch giao thông, nước sạch, thuỷ lợi, liên kết vùng sản xuất đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM cấp thôn bản.

Trong quá trình xây dựng NTM cấp thôn bản, người dân trong thôn đã phải nỗ

lực đểvượt qua rất nhiều khó khăn thách thức. Các thách thức này khác nhau ởmỗi cộng đồng và không có một phương án giải quyết chung nào cho tất cả các cộngđồng 34. Bởi vậy, để NTM mới cấp thôn bản thành công, người dân trong thôn phải đóng vai

30 Tài liệu của DWC.

31 TS Đào Minh Châu (SDC) – 2010.

32 Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 18/11/2013 của UBND thành phố Hà Nội. 33 Quyết định 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016.

34 TS Đào Minh Châu (SDC) – 2010.

20

trò chủ thể. Chỉ khi người dân là chủ thể, làm chủ trong quá trình xây dựng NTM, họmới thực sự thấy xây dựng NTM là quá trình của dân, do dân và vì dân. Vai trò chủ thểlà người dân không chỉ là tham dự hay tham gia đơn thuần vào một vài hoạt động xây dựng NTM, mà người dân phải là người trực tiếp đưa ra các quyết định trong toàn bộquá trình xây dựng NTM. Không ai có thể hiểu tốt hơn chính người dân trong thôn vềhoàn cảnh và nhu cầu của họ. Chỉ có họ mới là người có thể đưa ra được các giải pháp giải giải quyết các vấn đề của họ một cách phù hợp nhất với hoàn cảnh đăc thù của từng thôn. Cũng chính họ là người có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nhất để đảm bảo các giải pháp trong xây dựng NTM phù hợp với văn hóa, phong tục tập quản và nguyện vọng của người dân trong thôn. Nhờ đó các thành quả của xây dựng NTM mới thực sự mang

lại niềm vui và hạnh phúc cho người dân.

4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM, THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN KHI ÁP DỤNG QLCĐ TRONG NTM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Bàihọckinh nghiệm củaDWC trong quá trình thúcđẩyáp dụng QLCĐ, phát huy vai trò chủ thể của người dân

QLCĐ là phương pháp phát huy đầy đủ nhất vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM cấp thôn bản. Áp dụng QLCĐ với vài nghìn các công trìnhdự ánquy mô nhỏ tại cấp thôn bản sau 15 năm qua, DWC rút ra một số bài học kinh nghiệm nhưsau:

(1) Vai trò chủ thể của người dân/QLCĐ thường bị hiểu lầm là người dân phải đóng góp nguồn lực cho xây dựng NTM. Thực chất QLCĐ là quyền và năng lực ra quyết định của người dân. Người dân cần được bàn bạc, thảo luận một cách dân chủ, công khai, được ra các quyết định liên quan (quyết định làm gì, làm ở đâu, làm như thế nào). Người dân cần được tham gia vào lập dự toán, quyết định công việc nào có thể tự làm, công đoạn nào cần thuê chuyên gia hay các bên cung cấp dịch vụ hay nhà thầu, người dân cần trực tiếp được quản lý tài chính. QLCĐ không có nghĩa là người dân phải tựlàm mọi việc mà người dân có quyền và đủ năng lực quản lý quá trình và kết quả xây dựng NTM ở thôn bản của mình.

(2) Bệnh thành tích trong xây dựng NTM dẫn đến việc đóng góp trở thành gánh nặng cho người dân (đặc biệt là các hộ nghèo). Hãy để người dân tự bàn bạc dân chủ vàra quyết định về hình thức đóng góp và mức đóng góp cho phù hợp với hoàn cảnh của từng hộ gia đình.

(3) Các công trình dự án quy mô nhỏ do người dân thực sự được làm chủ theo phương pháp QLCĐ thường đảmbảo chất lượng và giảm chi phí từ30-40% (do tiết kiệm được các phí tư vấn không cần thiết và tránh được lãng phí). Các công trình này thường được người dân giữ gìn và bảo quản bền vững nhờ tính sở hữu cộng đồng và nhờ cùng nhau xây dựng quy chế duy tu bảo dưỡng khi họ coi đó thực sự là công trình của họ, do họ và vì họ.

(4) Nơi nào áp dụng QLCĐ, phát huy thực sự vai trò chủ thể của người dân, thìở nơi đó mối quan hệ giữa chính quyền và người dân gần gũi hơn, niềm tin của người dân vào chính quyền được nâng lên nhờ các cuộc thảo luận và đối thoại giữa chính quyền và người dân về nhu cầu cũng như các nguồn lực một cách dân chủ, công khai và minh bạch.

(5) QLCĐ được áp dụng hiệu quả nhất đối với các thôn bản có quy mô dưới 100 hộ. Đối với cácthôn bản có quy mô lớn hơn, người dân sẽ gặp khó khăn trong việc thúc

21

đẩy các cuộc họp bàn dân chủ công khai để đi đến các đồng thuận. Đối với các thôn cóquy mô lớn hơn 100 hộ, QLCĐ nên được thực hiện ở các cụm dân cư.

(6) Để đảm bảo quyền làm chủ thực sự của người dân trong xây dựng NTM cấp thôn bản, mỗi thôn cần lựa chọn ra một đội ngũ người dân nòng cốt (từ 10 đến 15 người), có thời gian và tâm huyết với cộng đồng thôn. Đội ngũ nòng cốt này cần được nâng cao năng lực về các kỹ năng huy động nguồn lực và quản lý dự án có sự tham gia (thúc đẩy cuộc họp có sự tham gia, vận động, đàm phán, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát

và đánh giá…).

(7) QLCĐ là một quá trình học hỏi, nên bắt đầu để người dân trực tiếp quản lýtài chính với các công trình dự án quy mô nhỏ, sau đó tăng dần quy mô dự án cho phù hợp với trình độ quản lý của người dân trong từng giai đoạn. Ban đầu QLCĐ có vẻ khó với người dân, nhưng quá trình này trở nên dễ dàng hơn sau các khóa tập huấn, thực hành và chia sẻ kinh nghiệm. Người dân sẽ dần thích thú và đam mê với việc tự đứng ra giải quyết các vấn đềtrong thôn, bỏthói quen trồng chờỉlại và dần tăng tính trách nhiệm với cộng đồng và xã hội.

4.2. Thuận lợi, khó khăn trong áp dụng QLCĐ, phát huy vai trò chủ thểcủa người dân

Thuận lợi: cơ chế chính sách áp dụng QLCĐ được Nhà nước và Quốc hội khuyến khích (Pháp lệnh dân chủ cơ sở 2007, Nghị định 161/TTg/2016 về cơ chế đặc thù cho hai chương trình MTQG). Việc áp dụng QLCĐ hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của lãnh đạo địa phương (đặc biệt là cấp huyện/xã). Hơn nữa, hiện chương trình NTM Trung ương có chủ trương giao vốn dài hạn cho địa phương, phân cấp tối đa cho xã/thôn, xây dựng cơ chế quỹ xây dựng NTM, có ngân sách cho nâng cao năng lực…

Khó khăn: Trong quá trình triển khai thực hiện, các địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn:

– Nguồn nhân lực cho các hoạt động xây dựng NTM còn ít; – Trình độ nghiệp vụ của cán bộ các cấp chưa đáp ứng;

– Kiến thức và kỹ năng của ban phát triển thôn còn hạn chế; – Thiếu đội ngũ người dân nòng cốt ở các thôn bản;

– Các hoạt động nâng cao năng lực chưa thực sự hiệu quả; – Ngân sách không được nhận kịp thời;

– Thủ tục thanh quyết toán và quản lý tài chính còn phiền hà do cơ chế đặc thùchưa được vận dụng triệt để;

– Thiếu kinh phí cho quản lý và giám sát… 4.3. Một số khuyến nghị

(1) Cần dành thời gian và kinh phí thỏa đáng cho việc tập huấn các chuyên đềtrong chương trình khung tập huấn bồi dưỡng cán bộ xây dựng NTM, mở rộng cho cácđối tượng liên quan tại cấp thôn bản. Đồng thời có cơ chế, phương pháp tổ chức thực hiện và giám sát để đảm bảo chất lượng của các hoạt động nâng cao năng lực trong xây dựng NTM.

22

(2) Cần có cơ chế giám sát buộc chính quyền địa phương minh bạch về thông tin, ngân sách, công bằng, dân chủtrong việc triển khai thực hiện cơ chếđặcthù (NĐ161/TTg/2016). Ví dụ có chỉ số giám sát về số công trình và tỷ lệ ngân sách các công trình áp dụng cơ chế đặc thù. Đảm bảo cấp thôn được trực tiếp nhận và quản lý ngân sách đối với các công trình quy mô nhỏ và đơn giản theo cơ chế đặc thù.

(3) Tạo cơ chế thi đua và cạnh tranh lành mạnh giữa các xã/thôn, không dàn trải, cào bằng.

(4) Có kinh phí thỏa đáng cho công tác quản lý và giám sát, duy tuy bảo dưỡng các kết quả xây dựng NTM. Giao cho cộng đồng quyền ra quyết định trong chi tiêu các khoản mục này theo định mức cụ thể.

(5) Hướng dẫn quy trình khung và các nguyên tắc cần tuân thủ trong phát huy vai trò chủ thể của người dân, để cộng đồng linh hoạt và phát huy sáng tạo, không nên quyđịnh quy trình quá chi tiết sẽ hạn chế tính chủ động và sáng tạo của người dân trong cộng đồng./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. FAO: Resource Mobilization (2012).

2. https://www.researchgate.net/publication/249719107_Conservation_of_Social_Resources _Social_Support_Resource_Theory: Conservation of Social Resources: Social Support Resource Theory (2016).

3. Encyclopedia.com: personal resources and social resources.

4. TS Đào Minh Châu – Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sỹ – SDC: Quản lý cộng đồng

(2015).

5. Văn Vĩnh – Như Anh – Báo công an 13/5/2016: Huy động thêm nguồn lực xã hội xây dựng

nông thôn mới.

6. Nguyễn Thị Huyền Trang và Trần Thị Hoài: Huy động nguồn lực xã hội để đẩy mạnh xã

hội hóa giáo dục của Việt Nam (2018).

7. Các chuyên đề thuộc Chương trình khung tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng Nông thôn

mới giai đoạn 2016-2020.

8. Các tài liệu của Trung tâm hỗ trợ Phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC).

23

24

QUỸ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG: BÀI HỌC CHO QUỸ XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI

TS Hoàng Vũ Quang35

1. BỐI CẢNH

Chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 xác định cộng đồng cư dân nông thôn có vai trò chủ đạo trong xây dựng NTM. Vai trò này được thể hiện trong việc cộng đồng dân cư nông thôn có quyền tham gia thảo luận, quyết định nội dung ưu tiên, tự nguyện đóng góp (tiền, đất, vật chất, lao động…) và giám sát quá trình xây dựng NTM, hưởng lợi từ quá trình xây dựng NTM. Theo báo cáo năm 2015 của Văn phòng Điều phối NTM Trung ương, trong giai đoạn 2011-2014 cộng đồng dân cưđóng góp khoảng 11,63% tổng vốn xây dựng NTM. Nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (2014) cũng cho thấy người dân nông thôn đóng góp nhiều khoản phục vụ xây dựng NTM, theo nhiều nội dung khác nhau bao gồm cả xây dựng cơ sở hạ tầng, các quỹ phát triển… Phần lớn các khoản tiền huy động của cộng đồng được chủyếu sửdụng cho các công trình cấp thôn/bản hoặc các hoạt động phục vụ cộng đồng thôn/bản trực tiếp tácđộng đến người dânđóng góp. Tuy nhiên, phần lớn các khoản đóng góp của người dân được huy động cho xây dựng từng công trình, từng hoạt động cụ thể. Các địa phương thiếu một nguồn vốn tồn tại thường xuyên để cóthể thực hiện cáchoạt độngtheo nhu cầu của địa phương. Ví dụ như vấn đề duy tu, bảo dưỡng công trình hạ tầng sau đầu tư. Thường các địa phương không có nguồn vốn thường xuyên để thực hiện công tác quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình, nhất là đối với các công trìnhcơ sở hạ tầngcấp thôn. Để giải quyết vấn đề này, một số quỹphát triển cộng đồng đã cho phép sử dụng nguồn vốn của Quỹ vào duy tu bảo dưỡng công trình cấp thôn bản.

Thực tiễn hiện nay cho thấy nhiều quỹphát triển cộng đồng (Community

Development Fund – CDF) đã được triển khai trong nhiều chương trình, dự án ở nhiều địa phương khác nhau (hầu hết là thuộc các Chương trình, dự án do các tổ chức quốc tếtài trợ). Các quỹ có mô hình tổ chức, nội dung hoạt động khác nhau nhưng đều nhấn mạnh đến vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư là người hưởng lợi trực tiếp và đã chứng minh tính hiệu quả của Quỹ, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cộng đồng, quản lý và sửdụng vốn hiệu quả, huy độngđược sự đónggóp và tham gia của cộng đồng, từ nhiều nguồn vốn khác nhau và nâng cao năng lực của cộngđồngdân cư trong phát triển nông thôn. Một số địa phương đã có chủ trương áp dụng các quỹ phát triển cộng đồng trên diện rộng như các tỉnh Hà Giang, Hoà Bình. Tuy nhiên, hiện nay vẫn thiếu một khung thể chế ở cấp Trung ương quy định hoạt động của các quỹ CDF này để tạo hành lang pháp lý cho các địa phương triển khai diện rộng trên phạm vi cả nước.

Nhằm tăng cường huy động vốn cho xây dựng NTM, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm lãng phí, thất thoát, tăng hiệu quả sử dụng công trình và đặc biệt là hình thành cơ chế xây dựng NTM bền vững, huy động sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng cư dân nông thôn, Thủtướng Chínhphủđã có Chỉthịsố18/CT-TTg yêu cầu “Nghiên cứu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành quyđịnh về lập và sử dụng quỹ

35 Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn

25

xây dựng nông thôn mới ở các địa phương”36, phục vụ cho Chương trình MTQG về xây dựng NTM.Đề ánnày đề xuất chính mô hình Quỹ xây dựng NTM nhằm thử nghiệm trong giai đoạn 2016-2018 để hoàn thiện mô hình tổ chức Quỹ XD NTM và cơ chế chính sách nhằm áp dụng Quỹ XDNTM trên phạm vi cả nước.

Bài viết này tổng kết lại những bài học kinh nghiệm hay trong xây dựng và vận hành quỹ phát triển cộng đồng tại một số tỉnh trên các khía cạnh môi trường thể chế, tổchức bộ máy quản lý, nội dung và cơ chế hoạt động, nguồn vốn của quỹ và nâng cao năng lực quản lý quỹ. Những bài học này có thể giúp ích cho việc phát triển quỹ xây dựng nông thôn mới.

Việc tổng kết kinh nghiệm của các quỹphát triển cộng đồng dựa trên kết quảkhảo sát 15 mô hình quỹ phát triển cộng đồng thuộc 3 tỉnh Hòa Bình, Hà Giang, Quang Trị và Quảng Ngãi năm 2016. Các quỹ khảo sát đại diện cho các mô hình được thành

lập và hỗ trợ phát triển bởi chính quyền, các dự án phát triển, tổ chức phi chính phủ.

Thông tin thụ thập dựa trên thảo luận nhóm với các thành viên quản lý quỹ. Ngoài ra, thông tin thu thập thông qua trao đổi với ban quản lý dự án, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ và nghiên cứu các tài liệu thứ cấp của tổ chức, dự án.

Kết quả trình bày trong bài viết chủ yếu dựa trên mô hình điển hình của 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Giang.

2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÁC QUỸ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG 2.1. Môi trường thể chế cho CDF hoạt động

Mặc dù có nhiều CDF đã được thành lập và hoạt động tại nhiều địa phương, nhất là trong các dự án hỗ trợ phát triển địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vàđịa bàn nghèo. Tuy nhiên, hiện chưa có các quy định pháp lý cụ thể ở cấp Trung ương cho hoạt động của cácquỹphát triển cộng đồng này. Cụ thể, chưa có quy định về tổchức bộ máy quản lý, nguồn vốn, nội dung hoạt động và cơ chế kiểm tra của quỹ. Dù vậy, nhận thức được tầm quan trọng của quỹ phát triển cộng đồng, một số tỉnh ban hành hướng dẫn, quyđịnh cho hoạt động của CDF. Ví dụ,tỉnh Hòa Bình ban hành sổtay hướng dẫn quản lý và sử dụng quỹ CDF tại Hòa Bình (Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, 2011). Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang ban hành quy định về quản lý và sử dụng QuỹPTCĐ (Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang, 2015). Các hướng dẫn, quy đình này về nguồn vốn của quỹ, nội dung hoạt động, tổ chức quản lý quỹ. Các hướng dẫn, quy định đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các quỹ phát triển cộng đồng, cung cấp hướng dẫn cho việc thành lập và vận hành của quỹ, tạo ra khung pháp lý để quản lý thống nhất trên cảđịa bàntỉnh. Việc quan hành các quy định, hướng dẫn hoạt động của quỹ PTCĐ cũng tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với Quỹ, tránh việc lạm dụng, sử dụng sai mục đích của quỹ.

2.2. Tổ chức bộ máy quản lý

Các Quỹ phát triển cộng đồng đã được thành lập và hoạt động ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau như Quỹ phát triển cộng đồng, Quỹ phát triển thôn bản,Quỹ

tiết kiệm…Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của các quy khác nhau, có thể được phân chia thành 4 nhóm sau: i) Quỹ PTCĐ được quản lý bởi Ủy ban nhân dân (UBND) xã;

36 Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 15/07/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM.

26

ii) Quỹ do tổ chức chính trị xã hội cấp xã quản lý. Các quỹ này thường có số vốn ít, do một tổ chức chính trị xã hội trực quản lý và phục vụ thành viên của đoàn thể; iii) QuỹPTCĐ do thôn quản lý quỹ; iv) Quỹ do tổ nhóm đồng sở thích quản lý. Đây là các quỹ

tự nguyện của các nhóm đồng sở thích.

Điển hình cho mô hình Quỹ PTCĐ do UBND xã trực tiếp quản lý là các Quỹ phát triển xã ở tỉnh Hòa Bình và Quỹ sáng kiến được thành lập trong khuôn khổ dự án thúc đẩy quản lýcộngđồngtại Việt Nam (PCM) giai đoạn II tại 03 huyện tỉnh Quảng Bình và 06 huyện tỉnh Thái Nguyên. Quỹ do UBND xã trực tiếp quản lý với Ban quản lý giúp việc gồm lãnh đạo UBND xã, đại diện các tổ chức chính trị xã hội của xã (Hội nông dân, hội Phụ nữ, Mặt trận tổ quốc, Hội cựu chiến binh,..), cán bộ nông nghiệp, đất đaivà kếtoán của xã và các trưởng thôn. Tham gia BQL QUỹ sáng kiên còn có cả đại diện nông dân là các cá nhân nòng cốt. UBND xã mở tài khoản ký gửi của xã tại Ngân hàng nhànước để quản lý vốn của Quỹ.Mô hình tổ chức quản lý này có thuận lợi là việc huyđộng cán bộ kế toán và chuyên môn (có kiến thức, kinh nghiệm) của xã vào quản lý Quỹgiúp cho Quỹ giảm rủi ro mất vốn, thuận lợi cho quản lý tài chính, giảm thời gian và công sức đào tạo cán bộ quản lý quỹ, giảm chi phí quản lý Quỹ. Ngoài ra, UBND xã cóthể địnhhướngcáchoạt độngQuỹ hỗ trợ phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã. Tuy nhiên, mô hình tổ chức Quỹ ở cấp xã có hạn chế là khó huy động sự đóng góp tự nguyện của người dân hơn so với các Quỹ có quy mô ở cấp thôn/bản.

Quỹ phát triển cộng đồng thôn ở Hà Giang là một mô hình điển hìnhcủa Quỹ ởcấp thôn bản. Quỹ do Ban phát triển thôn, gồm 5 thành viên, quản lý và điều hành. Các thành viên do thôn lựa chọn. UBND xã phê duyệt thành viên Ban phát triển thôn và quy chế hoạt động của Quỹ phát triển cộng đồng thôn. Quy chế nêu rõ việc sử dụng quỹ, tỷ

lệ Quỹ được trích dành cho công tác quản lý,…Mô hình tổ chức quản lý Quỹ PTCĐởcấp thôn có ưu điểm là quy mô nhỏ, tính cộng đồng cao nên thuận lợi cho quản lý vàhuy động sự tham gia, đóng góp của người dân. Tuy nhiên, một hạn chế của mô hình này cần mất nhiều thời gian để đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý Quỹ. Hơn nữa, Quỹ không có tư cách pháp nhân, nên có khó khăn trong việc thanh quyết toán, vẫn phải thông qua xã.

2.3. Nguồn vốn của Quỹ

Một điểm chung của các Quỹ PTCĐ là đều được cung cấp một nguồn vốn mồi ban đầu từ các dự án phát triển (ví dụ Quỹ phát triển xã ở Hòa Bình do Dự án “Chương trình cải thiện cung cấp dịch vụ công trong nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình” – PSARD HB) hỗ trợ, Quỹ sáng kiện của cơ quan Hợp tác phát triển Thụy Sỹ (SDC)) hoặc từ chính quyền (Quỹ PTCĐ thôn ở Hà Giang). Mức hỗ trợ vốn banđầu rất khác nhau từ vài chục triệu (Quỹ PTCĐ thôn ở Hà Giang) đến 800 triệu đồng (Quỹsáng kiến của SDC). Các quỹ có những cách huy động khác nhau để tăng nguồn vốn của Quỹ như huy động sự đóng góp của người dân, của các nhà tài trợ, …

Điển hình cho cách thức huy động để tăng nguồn vốn của Quỹ là Quỹ PTCĐ thônở Hà Giang. Kết quả khảo sát cho thấy các quỹ PTCĐ thôn ở Hà Giang tăng vốn của quỹ thông qua một hoặc một số trong các nguồn thu sau, tùy thuộc vào điều kiện thực tế tại thôn: Tiền tiết kiệm được do thực hiện các hoạt động xây dựng cơ bản của thôn; Nguồn đóng góp của các tổ chức cá nhân; Nguồn từ quỹ phát triển cộng đồng xã giao cho thôn quản lý như: nguồn từ quỹ dự án ODA, các tổ chức phi chính phủ đã kết thúc hoặc đang triển khai thực hiện có nội dung phù hợp với qui định về quản lý, sử dụng; Nguồn từ vốn sự nghiệp của chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình 30a,

27

135…; Từ thu lãi tiền cho vay, lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng; Kinh phí UBND xãgiao khoán cho thôn thực hiện các duy tu, bảo dưỡng công trình cơ sở hạ tầng sau đầu tư (ví dụ chương trình MTQG giảm nghèo); Nguồn từ kinh phí cấp bù cho miễn thu thủy lợi phí; Nguồn từ kinh phí sự nghiệp giao thông (thuộc nhiệm vụ đảm bảo ngân sách xã); Nguồn kinh phí khoanh nuôi, bảo vệ rừng và dịch vụ môi trường rừng đối với diện tích rừng do cộng đồng bảo vệ (bàn bạc thống nhất với người dân thu vào quỹ tối thiểu 50%).

Kết quả khảo sát ở Hà Giang cho thấy các quỹ PTCĐ thôn không những bảo toàn mà còn tăng lượng vốn lên rất nhanh. Nhiều quỹ với số vốn được nhà nước hỗ trợ ban đầu 30 triệu, chỉ sau chưa đầy 2 năm đã có số vốn lên đến 300 triệu đồng. Điều đó minh chứng cho khả năng của cộng đồng dân cư trong việc quản lý, vận hành và phát triển quỹ.

2.4. Nội dung hoạt động của quỹ PTCĐ

Hoạt động của các Quỹ PTCĐ rất đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của địa phương và dự án, nhưng có thể thuộc các nhóm sau:

i) Phát triển cơ sở hạ tầng: Vốn của quỹ được sử dụng để đầu tư cho các công trình hạ tầng nhỏ, đơn giản cấp thôn như đường nội đồng, đường giao thông, xây dựng

nhà văn hóa, bể nước sạch, công trình vệ sinh,…). Khi đầu tư cho các nội dung này, thường có huy động thêm sự đóng góp của người dân như đóng góp đất, ngày công laođộng, vật tư và cả tiền. Ngoài ra nguồn vốn của quỹ cũng có thể được sử dụng cho việc duy tu, bảo dưỡng các công trình giao thông, thủy lợi, kênh mương và bảo vệ rừng.

ii) Hỗ trợ phát triển sản xuất. Đây là hoạt động ưu tiên của nhiều quỹ. Quỹ hỗ trợphát triển sản xuất của người dân thông qua chi phí cho các khóa đào tạo tập huấn, phát triển dịch vụ nông nghiệp, hỗ trợ cây con giống cho nông dân. Một số quỹ còn cung cấp tín dụng nhỏ để hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất. Việc cung cấp tín dụng vừa hỗ trợngười dân, vừa bảo toàn vốn của quỹ.

iii) Hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực cán bộxã, thôn.Đâykhông phải là hoạt động phổ biến ở tất cả các quỹ hiện nay mặc dù trong điều lệ của nhiều quỹ có quy định về nội dung này. Một lí do là hoạt động đào tạo, nâng cao kỹ năng đã được hỗ trợ bởi dự án trong quá trình xây dựng các quỹ.

Cơ chế xác định nội dung quỹ hỗ trợ thường căn cứ vào nhu cầu cấp thiết của địa phương và tính khả thi của dự án quỹ hỗ trợ. Thông thường các thôn, hộ khó khăn được ưu tiên. Một số quỹ áp dụng cơ chế cạnh tranh trong việc nhận được sự hỗ trợ của quỹ. Theo đó, các thôn gửi đề xuất cho Ban quản lý quỹ. Ban quản lý quỹ lựa chọn dự án quỹhỗ trợ dựa trên các tiêu chí của quỹ và được các thành viên ban quản lý quỹ biểu quyết. Quỹ sáng kiến của SDC áp dụng các tiêu chí sau trong lựa chọn dự án hỗ trợ: (i) Mức độ khó khăn của thôn: ưu tiên thôn đặc biệt khó khăn, cách xa trung tâm; (ii) hoạt độngđề xuất hỗ trợ phù hợp với nhu cầu người dân và định hướng phát triển của xã; (iii) Dựán có hình thúc tổ chức triển khai tốt; iv) Mức độ huy động đóng góp các nguồn khác

ngoài Quỹ (của cộng đồng, của các tổ chức, cá nhân khác,…) vào thực hiện dự án. Dựán huy động được đóng góp nhiều được ưu tiên cao hơn.

2.5. Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý

Một trong các khó khăn cho quản lý các quỹ PTCĐ là năng lực của thành viên Ban quản lý quỹ, đặc biệt là quỹ PTCĐ thôn. Để giúp Ban quản lý có thể tự quản lý

28

quỹ, thông thường các dự án phải tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn và hướng dẫn thực hiện thông qua cách thức “cầm tay chỉ việc”. Kinh nghiệm từ các dự án do cơ quan hợp tác phát triển Thụy Sỹ cho thấy cần khoảng 2 năm để đào tạo, hướng dẫn cán bộ làm quen với công tác quản lý quỹ. Ngoài ra, đào tạo tập huấn cho cán bộ thôn cũng cần thiết để thôn có thể viết được dự án đề nghị quỹ hỗ trợ, nắm được cách thức tổ chức triển khai và huy động sự tham gia của người dân vào dự án của thôn và cách thức xác định các ưu tiên của thôn. Công tác ghi chép, quản lý tài chính của quỹ cũng là một nội dung cần đào tạo, tập huấn cho ban quản lý quỹ.

2.6. Vai trò hỗ trợ từ bên ngoài

Vai tròhỗ trợ từ bênngoài là rất quan trọng với các quỹ PTCĐ. Phần lớn cácquỹPTCĐ được thành lập, quản lý và vận hành với sự hỗ trợ từ các dự án, các tổ chức phi chính phủ. Hỗ trợ từ bên ngoài cho quỹ PTCĐ bao gồm: i) Hỗ trợ nguồn vốn cho quỹ; ii) Hỗ trợ xây dựng quy chế quản lý quỹ và các công cụ quản lý quỹ; iii) Hỗ trợ việc quản lý và vận hành quỹ; iv) Hỗ trợ đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộquản lý quỹ.

Sự hỗ trợ từ bên ngoài không chỉ về tài chính, công cụ quản lý, nâng cao năng

lực mà còn đảm bảo niềm tin của cộng đồng đối với hoạt động minh bạch của quỹ, nhất là trong giai đoạn quỹ bắt đầu xây dựng và vận hành.

3. KIẾN NGHỊ

3.1. Để cho quỹ PTCĐ phát triển thuận lợi,hoạt độnghiệu quả và có đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nhất là trong công tác xóa đói giảm nghèo thì cần ban hành một văn bản pháp lý, quy định hướng dẫn cho việc tổ chức vàvận hành các quỹ PTCĐ, đảm bảo quỹ hỗ trợ hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương và chính quyền có căn cứ để giám sát, hỗ trợ các quỹPTCĐ hoạt động.

3.2. Kiến nghị thử nghiệm mô hình quỹ xây dựng NTM cấp xã, cấp thôn dựa trên kinh nghiệm, cách tiếp cận của quỹ phát triển cộng đồng. Trước mắt ưu tiên thử nghiệm quỹ xây dựng NTM cấp xã, với các lí do sau:

– Xã là cấp nhận và quản lý ngân sách. Việc tổ chức Quỹ xây dựng NTM cấp xãphù hợp với quy định hiện hành về quản lý ngân sách xã.

– UBND xã có nguồn nhân lực có trình độ, kinh nghiệm quản lý và chuyên môn, có kế toán chuyên trách. Có thể sử dụng cán bộ UBND xã và các đoàn thể tham gia kiêm nhiệm quản lý hoạt động của Quỹ, vừa đảm bảo bộ máy của Quỹ có đủ năng lực, kinh nghiệm trong quản lý Quỹ và giảm chi phí quản lý Quỹ.

– Việc quản lý Quỹ, nhất là tài chính, kế toán phức tạp và có rủi ro. Cấp xã quản lý sẽ giảm rủi ro.

– Nếu Quỹ ở cấp thôn thì phải đào tạo cán bộ quản lý Quỹ ở thôn. Quá trình nàyđòi hỏi nhiều thời gian, công sức, chuyên gia và kinh phí. Kinh nghiệm tù các chương trình dự án có hỗ trợ xây dựng Quỹ PTCCĐ cấp thôn cho thấy cần phải hỗ trợ nâng cao năng lực (đào tạo, tập huấn, cử cán bộ hướng dẫn, làm cùng) cho cán bộ thôn trong nhiều năm mà nhiều thôn vẫn không quản lý được theo đúng yêu cầu do năng lực cán bộ thôn quá hạn chế và đã xảy ra trường hợp khó thu hồi vốn cho Quỹ.

29

– Quỹ tổ chức và quản lý ở cấp xã nhưng hoạt động chủ yếu ở cấp thôn và sựtham gia của đại diện thôn trong Ban quản lý quỹ nên hình thành được kinh nghiệm tổchức quản lý Quỹ cho cán bộ cấp thôn bản, tiến tới tổ chức Quỹ xây dựng NTM ở cấp thôn/bản.

3.3. Một số điểm chủ yếu với mô hình quỹ xây dựng NTM cấp xã

– Nguồn vốn: Quỹ phải đảm bảo nguyên tắc bảo tồn vốn. Nguồn vốn đến từ nhiều

nguồn khác nhau: vốn xây dựng NTM, từ các chương trình/dự án, vốn tài trợ, vốn góp,…

– Quỹ phục vụ cho phát triển kinh tế; xây dựng, bảo tồn, duy tu cơsở hạ tầngcấp thôn; nâng cao năng lực cho cộng đồng dân cư; các hoạt động tập thể của thôn; các sáng kiến phát triển kinh tế xã hội của người dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Vũ Quang, 2016. Đóng góp của hộ nông thôn vào phát triển kinh tế – xã hội ở địa

phương. Tạp chí kinh tế và phát triển, số 232 (II):50-56

2. ThủtướngChính phủ, 2010. Quyết định số800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 củaThủtướng

Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010 – 2020.

3. Thủ tướngChính phủ, 2014. Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 15/07/2014 của Thủ tướngChính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

4. Thủ tướngChính phủ, 2016. Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2016 phê

duyệt chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020

5. UBND tỉnh Hà Giang, 2015. Quyết định số 25/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang

về quản lý và sử dụng Quỹ PTCĐ.

6. UBND tỉnh Hòa Bình, 2011. Quyết định số 2071/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 của Uy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc ban hành sổ tay hướng dẫn quản lý và sử dụng quỹ CDF tại Hòa Bình.

30

GIÁM SÁT NGÂN SÁCH CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG THỰC HIỆN

CHƯƠNG TRÌNH MTQG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

(KINH NGHIỆM TỪ HÒA BÌNH VÀ QUẢNG TRỊ)

ThS Nguyễn Quang Thương37

1. GIỚI THIỆU

Mỗi người dân đều đang đóng góp vào ngân sách nhà nước (NSNN) thông qua thuế (trực tiếp hoặc gián thu), phí và lệ phí. Mục đích của NSNN là sử dụng nhằm đểkiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy phát triển và cung cấp các dịch vụcông để không ngừng cải thiện đời sống nhân dân. Hiệu quả phân bổ và sử dụng NSNN có ảnh hưởng trực tiếpđến người dân. Việc thâm hụt, lãng phí NSNN sẽảnh hưởng nghiêm trọng tới mục đích sử dụng ngân sách, dẫn đến tăng bội chi và nợ công, và ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình phát triển kinh tế – xã hội và đời sống của người dân. Do vậy, mọi người dân đều có quyền: được biết thông tin về ngân sách; tham gia ý kiến vào việc phân bổ ngân sách; giám sát hiệu quả sử dụng ngân sách; chất vấn và nhận phản hồi về thông tin ngân sách.

Nhằm mục tiêu thúc đẩy công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân vào quản lý NSNN, từ năm 2015 Liên minh Minh bạch ngân sách (BTAP)đã được thànhlập với sự tham gia của 7 thành viên. BTAP đã thực hiện các sáng kiến ở cấp trung ương và địa phương nhằm thúc đẩy công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân trong quản lý NSNN nói chung và trong CT MTQG NTM nói riêng.

Tại Quảng Trị và Hoà Bình, BTAP đã thực hiện các sáng kiến nhằm thúc đẩy sựtham gia của người dân trong quản lý NSNN. Như tổ chức xây dựng năng lực cho các nhóm cộng đồng về giám sát NSNN, tạo cơ hội để cộng đồng được đối thoại với Chính quyền địa phương về sử dụng ngân sách, thực hiện các sáng kiến giám sát các công trình đầu tưtrong CT MTQG NTM. Các hoạt động của BTAP đã tạo được những kết quả tích cực đối với hiệu quả quản lý ngân sách tại Quảng Trị và Hoà Bình. Với mục đích chia sẻ lại kinh nghiệm của BTAP trong việc thúc đẩy cộng đồng tham gia giám sát NSNN, tài liệu này sẽ trình bày tóm tắt kinh nghiệm của BTAP trong thúc đẩy sự tham gia của người dân, công đồng trong giám sát ngân sách nhà nước trong việc thực thi CT MTQG NTM tại Hoà Bình và Quảng Trị.

2. CƠ SỞPHÁP LÝ CHO VIỆC THAM GIA GIÁM SÁT CỦA CỘNG ĐỒNGTRONG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THỰC HIỆN CT MTQG NTM

Giám sát cộng đồng đối với ngân sách nhà nước nói chung và trong CT MTQGNTM giai đoạn đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật Ngân sách nhà nước; Luật tiếp cận thông tin; Luật đầu tưcông 2014; Nghị quyết liên tịch 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ vàĐoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam quyđịnhchi tiết các hình thức giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

37 Liên minh Minh bạch Ngân sách (BTAP), Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI)

31

Vai trò của cộng đồngđược quyđịnh cụthểtại Điều 16 Luật NSNN 2015 vàĐiều 82Luật Đầu tưcông 2014. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp được giao trách nhiệm chủ trì tổ chức việc giám sát NSNN, giám sát đầu tư của cộng đồng. Nội dung giám sát của cộng đồng bao gồm từ việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng NSNN, pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường; tình hình thực hiện dự toán NSNN, tiến độ và chất lượng các công trình đầu tưcông; việc thực hiện công khai ngân sách và đầu tư công.

Ban giám sát đầu tư cộng đồng sẽthay mặt cho cộng đồng thực hiện các hoạt động giám sát hoạt động đầu tư trên địa bàn. Ban giám sát cộng đồng được thành lập và hoạt độngtheo Khoản 1, Điều 51, Nghị định số 84/2015/NĐ-CP của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư. Ban giám sát đầu tư cộng đồng có quyền thực hiện việc giám sát đầu tưtheokế hoạch đãđề ra, tiếp nhận thông tin do người dân phản ánh để gửi đến các cơ quan có thẩm quyền; tiếp nhận và phản ánh ý kiến phản hồi của cơ quan có thẩm quyền về những kiến nghị của người dân. Đồng thời, Ban giám sát đầu tư cộng đồng cũng có trách nhiệm gửi báo cáo giám sát đầu tưcủa cộng đồng định kỳ hoặc đột xuất cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.

Vai trò giám sát của cộng đồng và Ban giám sát cộng đồng trong CT MTQG NTM được quyđịnh cụthểtại Quyếtđịnh1600/QĐ-TTg phê duyệt CT NTM 2016- 2020 (mục 6.d phần V) và Điều 8 Nghị định 161/2016/NĐ-CP về Cơ chế đầu tưđặc thùtrong các CTMTQG.

Theo như phân tích trên, các quy định pháp lý về sự tham gia giám sát của cộng đồng đối với ngân sách nhà nước nói chung và trong thực hiện CT MTQG NTM đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, theo như ý kiến của các chuyên gia, người dân thì các quy định pháp luật về sự tham gia của cộng đồng cần được chi tiết hơn ở một số nội dung, cụ thể:

Thứ nhất: Các quy định pháp luật hiện hành về giám sát đầu tư của cộng đồng thiếu cơ chế phối hợp để ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu trong việc thực hiện quy định về giám sát đầu tư của cộng đồng. Thiếu chế tài xử lý khi nhà thầu,chủđầu tư không thực hiện các quy định về giám sát đầu tư cộng đồng.

Thứ hai: Quyền hạn của Ban giám sát cộng đồng còn hạn chế, chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của các bên liên quan trong việc thực hiện các kết luật và kiến nghị giám sát đầu tư của cộng đồng. Ban giám sát cộng đồng có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả giám sát và tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân tới Uỷ ban MTTQ cấp xã để xác nhận trước khi gửi các cơ quan có thẩm quyền. Việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của giám sát cộng đồng đối với chủ đầu tư, nhà thầu như thế nào lại chưa có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể.

Thứ ba: Theo Điều 51 của Nghị định 84/2015/NĐ-CP, ban giám sát cộng đồng thực trách nhiệm giám sát các công trình đầu tư công trên địa bàn. Tuy nhiên, lại thiếu quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về giám sát của cộngđồngđối với quy mô và chủ đầu của các công trình. Điều này dẫn tới những khó khăn cho cộng đồng khi thực hiện giám sát các dự án do trung ương/tỉnh/huyện làm chủ đầu tư, nhà thầu từ nơi khác thực hiện.

Thứ tư: UB MTTQ Việt Nam là cơ quan chủ trì việc giám sát ngân sách nhà nước và các công trình đầu tư công. Tuy nhiên, vai trò này còn khá hạn chế do thiếu năng lực, nhân sự, cơ sở vật chất để hỗ trợ, hướng dẫn Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát đầu tư theo quy định của pháp luật.

32

Thứ 5: Chưa có quy định hồ sơ thanh, quyết toán các công trình đầu tư công cần phải có chữ ký của ban giám sát cộng đồng. Vai trò của ban giám sát cộng đồng, người dân trong quy trình thanh quyết toán, nghiệm thu các công trình đầu tư chỉ được ápdụng đối với các công trình đầu tưđược thực hiện theo Điều 8, Nghị định 161/201/NĐ-CP. Theo đó ban giám sát cộng đồng và người dân được tham gia vào nghiệm thu công trình.

3. CHU TRÌNH NGÂN SÁCH VÀ SỰ THAM CỦA NGƯỜI DÂN

1. LẬP NGÂN SÁCH

Người dân có QUYỀN được BIẾT

• Dự thảo dự toán NSNN

• Dự toán NSNN đã được quyết định

• Báo cáo tình hình thực hiện NSNN

• Báo cáo quyết toán NSNN

4. QUYẾT

TOÁN NGÂN

SÁCH

đã được

phê chuẩn

• Báo

2. PHÊ DUYỆT

NGÂN

SÁCH

thực

hiện kiến nghị của kiểm toán nhà nước

Người

toán và kết quả

kiểm

cáo

THAM GIA thông

qua:

thể

có

dân

qua các cuộc họp tiếp xúc cử tri, các cuộc sinh hoạt cơ sở, qua văn phòng tiếp công dân, hoặc gián tiếp thông

trực tiếp

kiến

ý

góp

• Đóng

(Quốc hội,

HĐND, MTTQ các cấp)

• Gửi đề

chức đại diện

qua cáctổ

văn

bằng

nghị

xuất, khuyến

3. THỰC HIỆN

NGÂN SÁCH

Hình 1. Sự tham gia của người dân và chu trình ngân sách

Sự tham gia của cộng đồng vào chu trình ngân sách nhà nước được tóm tắt nhưHình 1. Theo như các quy định pháp luật đã được trình bày ở Mục 2, người dân có quyền tham gia giám sát ngân sách nhà nước ở bất kỳ thời điểm nào của chu trình ngân sách. Khi có vấn đề thắc mắc hoặc cần làm rõ, hoặc cần phản ánh ý kiến liên quan đến ngân sách và sử dụng NSNN, người dân có thể đến trao đổi, gặp gỡ, gửi ý kiến kiến nghị của mình thông qua: Mặt trận tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên (Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh; Công đoàn); Hội đồng nhân dân các cấp; Đoànđại biểu Quốc hội của địa phương; Ủy ban nhân dân các cấp; các đơn vị sử dụng ngân sách. Bên cạnh đó, người dân cũng có quyền phản ánh, kiến nghị về các vấn đề có liên quan đến việc quản lý, sử dụng NSNN hoặc tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật trực tiếp đến các cấp ngân sách hoặc cơ quan tài chính các cấp và các cơ quan có thẩm quyền khác.

Sự tham gia của cộng đồng trong chu trình ngân sách khác nhau tuỳ theo từng bước của chu trình ngân sách. Cụ thể:

33

Giai đoạn lập và phê chuẩn ngân sách:

– Tham gia xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng nămở địa phương:

tham gia vào các buổi họp dân tại cấp thôn để đóng góp ý kiến về những nhu cầu cần được ưu tiên tại địa phương.

– Góp ý trực tiếp cho kế hoạchđầu tưcông trung hạn, kế hoạch đầu tư công hàng năm khi bản dự thảo được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

– Tham gia đóng góp ý kiến trong các đợt tham vấn/kỳ họp tiếp xúc cử tri về các nội dung có liên quan đến kếhoạch tài chính, dựtoán ngân sách vàkếhoạch đầu tưcông.

– Tham gia đối thoại về dự thảo dự toán ngân sách/ kế hoạch tài chính hàng năm với chính quyền cơ sở.

– Gửi kiến nghị, phản ánh về các nội dung mà mình quan tâm có liên quan đến dự toán NSNN, kế hoạch tài chính hàng năm, kế hoạch đầu tư công hàng năm, kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Giai đoạn thực hiện ngân sách:

– Trực tiếp giám sát và phản hồi ý kiến cho các cơ quan chức năng về tiến độ, chất lượng, và quản lý chi phí của các công trình đầu tư trên địa bàn.

– Gửi kiến nghị, phản ánh cho Ban giám sátđầu tưcộng đồng và các bên liên quan về tiến độ, chất lượng, quản lý chi phí đầu tư của các công trình/dự án đầu tư trên địa bàn.

– Yêu cầu Ủyban nhân dân cấp xã cungcấpthông tin vềchính sách, chương trình, dự án có sử dụng NSNN mà mình là đối tượng thụ hưởng.

– Yêu cầu các cấp chính quyền giải trình vềhành vi, quyết định vềchấp hành NSNN có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của mình.

Giai đoạn quyết toán ngân sách:

– Phản hồi, nêu kiến nghị, phản ánh trực tiếp, gián tiếp về báo cáo kết quả thực hiện thu, chi ngân sách của nhà nước và địa phương.

– Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin, làm rõ về các nội dungvềbáo cáo kết quả thực hiện thu, chi ngân sách và giải trình về các quyết định, hành vi cótác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

– Tham gia giám sát và đánh giá hiệu quả các công trình đầu tư công trên địa bàn. – Kiến nghị, phản ánh về hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng các công trình đầu tư

công trên địa bàn.

4. GIÁM SÁT NGÂN SÁCH CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG THỰC HIỆN CT NTM TẠI HOÀ BÌNH VÀ QUẢNG TRỊ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI DÂN

Dự án Thúc đẩy công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân vào quản lý Ngân sách nhà nước do Liên minh Minh bạch Ngân sách (BTAP) thực hiện từ năm 2015đến 2020 nhằm góp phần gia tăng tính minh bạch về ngân sách, trách nhiệm giải trình, và sự tham gia của người dân vào hoạt động thu chi ngân sách ở Việt Nam và tăng cường hiệu quả các hoạt động phát triển cho người dân thuộc các cộng đồng còn thiệt thòi tại xã Hải An, Hải Thượng, Hải Thành huyện Hải Lăng; thị trấn Gio Linh, xã Gio Việt, xã

34

Linh Thượng huyện Gio Linh của tỉnh Quảng Trị; xã TòngĐậu,xã Chiềng Châu, xã Nà Phòn huyện Mai Châu và xã Hợp Hoà huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình. Dự án nhận được sự hỗ trợ về tài chính của Liên minh Châu Âu (EU), Bộ ngoại giao Phần Lan, đồng hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Tổ chức Oxfam tại Việt Nam.

Dựán đã có nhiều các hoạt động nhằm hỗtrợ, tạo không gian cho cộng đồng được tham gia vào quản lý ngân sách nhà nước nói chung, đặc biệt là giám sát ngân sách trong quá trình thực hiện CT MTQG NTM tại các địa bàn thực hiện dự án. Một số bài học kinh nghiệm nổi bật của dự án khi cộng đồng tham gia giám sát ngân sách trong quátrình thực hiện CT NTM được tóm tắt như dưới đây:

4.1. Xây dựng năng lực cho các nhóm cộng đồng về Ngân sách nhà nước Sau khi dự án được triển khai, tại hai tỉnh đã thành lập 12 nhóm cộng đồng để

thúc đẩy các sáng kiến công khai, minh bạch ngân sách tại địa phương. Thành viên tham gia các nhóm cộng đồng một cách tự nguyện, tại Quảng Trị, thành viên nhóm cộng đồng bao gồm các thành viên của chi hội phụ nữ của 6 thôn tại 6 xã tham gia dự án.Tại HoàBình, thành viên nhóm cộngđồngbao gồm đại diên ban công tác mặt trận thôn, thành viên hội nông dân thôn và người dân của 6 thôn tại các xã tham gia dự án. Hoạt động của các nhóm cộng đồng đã có những kết quả tích cực, các bài học tốt của các nhóm cộng đồng đã được Hội phụ nữ tỉnh Quảng Trị, Hội Nông dân tỉnh Hoà Bìnhđã chủđộng lan toả mô hình này sang các địa bàn khác của hai tỉnh. Cho đến hiện tại đã có tổng số 22 nhóm cộng đồng được thành lập (13 nhóm tại Quảng Trị và 9 nhóm tại Hoà Bình).

Với sự hỗ trợ ban quản lý dự án, các nhóm cộng đồng đã tổ chức các cuộc sinh hoạt để giúp các nhóm này thảo luận về chủ đề ngân sách cũng như nâng cao năng lực tham gia các hoạt động có liên quan đến ngân sách tại địa phương, thực hiện các sáng kiến giám sát ngân sách có sự tham gia, kết nối và tổ chức các cuộc đối thoại về dự thảo dự toán ngân sách giữa chính quyền địa phương và người dân.

Thành viên tham gia các nhóm cộng đồng được học các kỹ năng cần thiết để tham gia hiệu quả trong các cuộc đối thoại như kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng thuyết trình trước đám đông, kỹ năng đề xuất các khuyến nghị mang tính xây dựng, kiến thức về ngân sách nhà nước. Các thành viên nhóm cộng đồng khi được nâng cao nhận thức về quyền vànghĩa vụ của mình đối với việc giám sát hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước cũng nhưcơ chế giám sát cộng đồng, đã trở nên chủ động trong việc theo dõi tiến độ và chất lượng thực hiện các công trình tại thôn, xã và khi phát hiện thấy có vấn đề thì phản hồi lại cho thành viên Ban giám sát đầu tư cộng đồng. Việc tham gia của thành viên nhóm cộng đồng như vậy giúp tăng cường chất lượng hoạt động của Ban giám sátđầu tưcộng đồng và giúp công tác giám sát được kịp thời và hiệu quả hơn.

“Ngàyxưa chúng em ít khi để ý chuyện công trình này công trình nọ có vấn đề gì hay không. Mà cũng có khi nhìn thấy thìchảbiết nói với ai, cũng không biết ban giám sát cộngđồng có những ai. Chúng em cũng nghĩ là đã là chính sách của nhà nướcthì phải tốt rồi chứchảcó ýkiến gì thêm. Nhưng bây giờ thì chúng em biết là nếu không phát hiện kịp

thời thì chưa chắc đã làm tốt. Nên nếu khi chúng em nhìn thấy

có vấn đề gì thì chúng em đi báo cáo với Ban giám sát cộng đồng để Ban giám sát cộng đồng báo cáo tiếp lên trên.” – Nữ, nhóm cộng đồng thôn Ba De, xã Linh Thượng, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

35

4.2. Đối thoại về dự thảo dự toán ngân sách xã

Dự án đã phối hợp với chính quyền đại phương tổ chức các buổi đối thoại về dựtoán ngân sách của xã năm 2017, 2018. Có 12 đối thoại giữa các bên liên quan và cộng đồng liên quan tới Dự toán ngân sách nhà nước của các xã đã được tổ chức. Tại các buổi đối thoại, các nhóm cộng đồng và thành viên của mình đã thực hiện thảo luận, góp ý, đề

nghị chính quyền địa phương giải trình các vấn đề liên quan tới thu – chi ngân sách của địa phương trong năm. Đặc biệt là kế hoạch sử dụng nguồn vốn CTMT QG NTM trênđịa bàn xã. Quá trình tổ chức các buổi đối thoại ngân sách xã được thực hiện theo nhưHình 2.

Hình 2. Các bước tổ chức đối thoại về dự toán ngân sách cấp xã

Hiệu quả sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, lập dự toán được chính cộng đồng và cán bộ chính quyền địa phương ghi nhận như các ý kiến dưới đây:

“Chúng em đối thoại với chính quyền xã, có chủ tịch UBND, HĐND, bí thư,kếtoán xã, có cả Hội Phụ nữ tỉnh và xã. Nhóm chúng em hỏi là tại sao mục sửa chữa nhàcộng đồng lại hết những 220 triệu, bằng chi phí xây mới, trong khi chỉ sơn sửa lại với làm hàng rào; rồi tại sao lại yêu cầu người dân đóng 500.000 đồng mỗi hộ để làm việc đó. Sau khi đại diện xã giải trình là phải trả tiền cho người thiết kế nhà cộng đồng thì

chúng em hỏi là tại sao không xây như răng mà phải trả tiền thiết kế … Cuối cùng các bên thống nhất là chỉ sửa lại nhà cộng đồng bằng nguồn ngân sách cấp, ngoài ra sẽ làm thêm một cái sân phía ngoài do người dân góp công chứ không phải đóng tiền như dự

kiến banđầu.”– Nữ, thành viên nhóm cộng đồng Ba De, xã Linh Thượng, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

“Chúng tôi rút ra được kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo thực hiện hoạt động về ngân sách, đó là việc minh bạch, công khai và được người dân tham gia với các cấp các ngành trong việc thực hiện kế hoạch thu chi hàng năm, và cuối năm có kết quả báo cáo tình hình thực hiện thu chi trên cơ sở xây dựng kế hoạch hàng năm vào trong vấn đề mua sắm, chi tiêu ngân sách và xây dựng cơ sở hạ tầng. Đặc biệt nhất là trong xây dựng cơ sở hạ tầng, khi lập dự án phải có người dân tham gia, và sau đó lấy ý kiến tham

gia của hội đồng, khi xây dựng thì có sự giám sát của người dân, của cộng đồng.”–Nam, cán bộ UBND xã Gio Việt, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

36

“Cuộc chia sẻ là lần đầu tiên, xã được nghe ý kiến của người dân liên quanvềkhoản thu – chi trên địa bàn xã, mong sẽ có nhiều cuộc chia sẻ tương tự để người dân và chính quyền có tiếng nói đồng thuận trong việc thu – chi ngân sách trên địa bàn xã.”

– Nam cán bộ UBND xã Nhuận Trạch, huyện Mai Châu, Hoà Bình

“Lần đầu tiêntôi được tham dự cuộc đối thoại trực tiếp với người dân trong xãvề Dự toán thu chi ngân sách trong năm, từ trước đến giờ chỉ công khai với các ban ngành đoàn thể và cơ chế đại diện mà thôi. Nhưng qua đối thoại hôm nay tôi thấy rất tốt vì đây là cơ hội để chính quyền địa phương nói rõ ràng cụ thể từng khoản mục với người dân một cách công khai minh bạch. Những ý kiến của bà con chúng tôi có trách nhiệm xem xét và giải trình một cách đầy đủ. Tôi thiết nghĩ những buổi đối thoại như

thế này rất hữu ích cho bản thân tôi và tất cả mọi người.” – Nam, cán bộ UBND xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Sự tham gia của cộng đồng trong ra quyết định đầu tư xây dựng trường mầm non xã Cư Yên, huyện Lương Sơn, Hòa Bình
Xã Cư Yên, huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình đã về đích nông thôn mới từ năm 2017, nhưng tiêu chí về trường học (trường mầm non) còn tạm nợ. Để có chỗ cho các cháu học, từnăm 2007 cho đến 2018, UBNDxã đãvận động các xóm cho mượn 9 nhà văn hoá xóm để làm lớp học của trường mầm non. Do việc học tạm tại nhà văn hóa không có nên các điểm trường hầu như chưa đáp ứng được cơ sở vật chất của trường học như ăn bán trú, vệ sinh cá nhân, nước sạch. Phụ huynh gửi con học tại các điểm nhà văn hóa phải đưa đón con 4 lần/ngày. Điều kiện học tập và giờ đưa đón con đã ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân tại đây.

Năm 2015, UBND tỉnh Hoà Bình đãphê duyệt chủtrươngđầu tư xây dựng trường mầm non xã Cư Yên, huyện Lương Sơn tại Quyết định số 2058/QĐ-UBND ngày 13/10/2015 với tổng mức đầu tư 10 tỷ đồng từ nguồn ngân sách tỉnh, thời gian thực hiện từ năm 2017.Đến năm 2018, UBND tỉnh có Công văn số 889/UBND-CNXD ngày 19/6/2018 về đồng ý chủtrương cho phép UBND huyện Lương Sơn bố trí nguồn vốn ngân sách huyện để thực hiện dựán.

Nắm bắt được nhu cầu, khó khăn của người dân khi gửi trẻ, nhóm cộng đồng xã CưYên đã phối hợp với BQL dự án tỉnh, MTTQ tỉnh Hoà Bình, MTTQ huyện Lương Sơn tổ chức khảo sát và và đối thoại về việc xây dựng trường mầm non như là một trong các tiêu chí cần phải hoàn thành của chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới mà xã Cư Yên đã hoàn thành từ năm 2017.

Sau đối thoại, MTTQ tỉnh Hòa Bình đã tổng hợp và gửi Báo cáo số 637/BC-MTTQ- BTT tới các cơ quan ban ngành liên quan cấp huyện/tỉnh (UBND tỉnh, Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Hòa Bình, UBND huyện Lương Sơn…). Cùng với đó, Ban Quản lý dự án Hội nông dân tỉnh Hòa Bình đã kết hợp với Đài truyền hình tỉnh Hòa Bình thực hiện 02 phóng sự về câu chuyện này để thúc đẩy quá trình ra quyết định về việc xây dựng trường mầm non xã Cư Yên.

Kết quả, HĐND huyện Lương Sơn đa ra Nghị quyết về việc phân bổ dự toán ngân sách năm 2019 để đầu tư trường mầm non trung tâm Cư, điểm trường xóm Giếng Hạ và Hang Đồi với tổng ngân sách 13 tỷ đồng.

4.3. Cộng đồng thực hiện các sáng kiến giám sát Ngân sách nhà nước

Các nhóm cộng đồng cũng tự xây dựng kế hoạch giám sát của mình. Trong buổi sinh hoạt nhóm, họ thảo luận về những công trình đang hoặc sắp được thực hiện tại thôn, xã, trên cơ sở đó lựa chọn một hoặc nhiều công trình để giám sát. Nhóm xây dựng kếhoạch giám sát cụ thể, phân công nhiệm vụ và sau đó tổ chức thực hiện.

Trong 2 năm, có tổng số 33 sáng kiến giám sát ngân sách đã được các nhóm cộngđồng thực hiện tại Quảng Trị và Hoà Bình. Trong đó có 16 sáng kiến giám sát việc đầu

37

tư các công trình hạ tầng của CT MTQG NTM được thực hiện trên địa bàn như giám sát xây dựng nhà văn hoá, đường giao thông nông thôn, kênh mương tưới tiêu, trụ sở tiếp công dân của UBND xã. Kết quả giám sát của nhóm được tổng hợp và báo cáo trực tiếp cho chính quyền địa phương, hoặc trình bày trong cuộc đối thoại giữa người dân với chính quyền địa phương về nội dung có liên quan, nếu nhưcó những vấn đề tồn đọng cần giải quyết.

“Tháng 4/2017, nhà văn hóa Tây Tân An được thiết kế mái chéo, lợp tôn theo như quy chuẩn của chương trình nông thôn mới. Tuy nhiên, cộng đồng cho rằng thiết kế này không phù hợp với vùng biển, vùng có nhiều lũ như tại xã Hải An. HĐND xã đã ghi nhận và kiến nghị với chủ đầu tư và UBND xã để thay đổi thiết kế cho công trình và kết quả đãđược ghi nhận vào thiết kế và dự toán mới là thay đổi từ mái tôn sang mái

bằng, ngân sách tăng thêm 200 triệu đồng.” – Nữ, đại diện nhóm cộng đồng xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Nhóm “Những người thổi tù và hàng tổng”
Xuất phát từ câu chuyện của anh Hà Văn Pởi, trưởng thôn Đậu xã Tòng Đậu (huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình), người được cộng đồng tin tưởng, yêu mến vì luôn tận tâm với công việc của cộng đồng và coi đó là niềm vui bản thân. Năm 2017, khi biết xã còn khoản tiền thừa từnguồn thu thủy lợi phí, anh đã tập hợp ý kiến bà con về sự cấp thiết của việc xây dựng kênh mương và thuyết phục thành công lãnh đạo xã sử dụng khoản ngân sách này để làm công trình kênh mương. Tiếp đó, anh tập hợp 14 người dân tham gia nhóm cộng đồng TòngĐậu để giám sát xây dựng công trình. Trong quá trình giám sát, nhóm cộng đồng Tòng Đậu đã phát hiện chất lượnggạch không đúng chuẩn và thiết kế không hợp lý như thành mương quá cao so với cần thiết gây lãng phí và khó khăn cho trâu, bò qua lại. Sau quá trình thuyết phục, kiến nghị của nhóm cộng đồng đã được chính quyền địa phương và nhà thầu chấp thuận. Nhờ ý kiến của nhóm cộng đồng Tòng Đậu, nhàthầu đãtiết kiệm được khá nhiều vật liệu xây dựng. Phần vật liệu đóđãđược sử dụngđể kéo dài 100 m mương (từ chiều dài 793m theo dự toán thành 893m thực tếxây dựng) nhằm nâng cao hiệu quả tưới tiêu.
Giám sát đường liên xóm Thôn Tân Hoà, xã Tân Liên, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị
Thực hiện CT NTM, thôn Tân Liênđược đầu tưlàm đường liên xóm theo thiết kế rộng 4 m, dày 13 cm. Tổng giá trị của công trình là 120 triệu đồng, trong đó ngân sách nhà nước 96 triệu, mỗi hộ gia đình trong thôn đóng góp thêm 170,000đồng/hộ. Công trình được thôn Tân Liên thi công vàđưavào sử dụng từ năm 2018. Để đánh giá hiệu quả của công trình, nhóm cộng đồngcác chị phụ nữ thông Tân Liên đã thực hiện sáng kiến giám sát công trình này. Nhóm đãthực hiện phỏng vấn 30 người dân trong thôn, 9 cán bộ thôn và 1 cán bộ xã về toàn bộ quy trìnhđầu tư xây dựng con đường, hiệu quả sử dụng và các vấn để nảy sinh. Kết quả giám sát cho thấy, kế hoạch đầu tư đường liên xóm Tân Liên đã được người dân tham gia bàn bạc vàquyết định từkhâu lập kế hoạch, thi công và đưa vào sử dụng. Công trình thi được thi côngđúng tiến độ vàđúng theo thiết kế, ban giám sát cộng đồng thực hiện tốt trách nhiệm của mình. Kết quả giám sát cũng cho thấy, đường liên xóm Tân Liên có nhiều phương tiện có trọng tải lớn đi qua nên thiết kế của con đường chỉ só độ dày 13 cm là chưa đủ, điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính bền vững của công trình. Để giải quyết vấn đề này nhóm đãđề xuất vàđược UBND xã thực hiện bổ xung biển báo trọng tải và làm barie để hạn chế các loại xe có trọng tải lớn.

Bên cạnh việc trực tiếp giám sát, người dân cũng thực hiện vai trò giám sát của mình thông qua tham gia các sáng kiến giám sát có sự tham gia của người dân do HĐND các cấp thực hiện. Khác với cách giám sát trước đây của HĐND chỉ tập trung vào việc

38

kiểm tra giấy tờ, sổ sách và nghe ý kiến của các ban ngành đoàn thể có liên quan, quy trình giám sát có sự tham gia baogồm cả bước gặp gỡ lắngnghe ý kiến cácđối tượng hưởng lợi hoặc chịu ảnh hưởng (người dân) và có hoạt động đối thoại cuối cùng để các bên liên quan cùng trao đổi ý kiến và thống nhất các giải pháp giải quyết vấn đề tồn tại. Phương pháp giám sát có sự tham gia đã giúp đưa ra những giải pháp khả thi và cho các nội dung giám sát khác nhau như: giám sát, đánh giá công trình Đường thoát lũ khóm Vĩnh Hòa, thịtrấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; đánh giá công trìnhđường bê tông hoá nội thôn Tân Bình xã Vĩnh Hiền huyện Vĩnh Linh…

“Theo tôi thì phương pháp giám sát có sự tham gia của người dân có một số ưuđiểm khác biệt. Thứnhất, nó không mang tính “kiểm tra” xem có đúng là có vấn đềkhông, mà mang tính tìm hiểu những gì liên quan đến vấn đề đó trên thực tế để có nhận định toàn diện và điều chỉnh phù hợp. Thứ hai, có đối thoại giữa các bên vào cuối đợt giám sát để đảm bảo tính công khai minh bạch, đồng thời các bên liên quan cùng tham gia đề xuất và cam kết thực hiện các giải pháp. Thứ ba, quá trình giám sát đồng thời là quá trình giúp các bên hiểu rõ hơn về các quy định của luật pháp, cũng như những thách

thức trong thực tế để có kiến nghị phùhợp.”– Nam, lãnh đạo HĐND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

Kiểm toán xã hội (SAPIC)
Kiểm toán xã hội công trình đầu tư công (SAPIC): Cho phép cộng đồng các bên liên quan kiểm tra đối chứng thông tin, góp ý đánh giá các công trình đầu tư công nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả đầu tư thông qua thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu các đơn vị, cơ quan có công trình đầu tư từ nguồn NSNN như chủ đầu tư, ban giám sát đầu tư cộng đồng, nhà thầu và người dân/nhóm hưởng lợi. Công cụ kiểm toánxã hội đãđược thường trực HĐND của các huyện và các nhóm cộng đồng sử dụng trong quá trình giám sát các công trình đầu tư tại Quảng Trị. Tiến trình thực hiện Kiểm toán xã hội được thực hiện theo trình tự như sau:

Bước 1. Lựa chọn đối tượng kiểm toán. Chọn các công trình đầu tư đang thi công hoặc đã hoàn thành

Bước 2. Thành lập nhóm nòng cốt. Nhóm nòng cốt sẽ bao gồm đại diện HĐND, MTTQ, cộng đồng/người hưởng lợi, các tổ chức xã hội. Nhóm gồm 7-8 thành viên.

Bước 3. Lập kế hoạch kiểm toán, xây dựng bộ công cụ: Công cụ kiểm toán sẽ do các thành viên nhóm nòng cốt thảo luận và xây dựng. Bộ công cụ này bao gồm các câu hỏi phỏng vấn các bên liên quan tới (i) hiệu quả, chất lượng của chương trình; (ii) tác động kinh tế, môi trường; (iii) tính phù hợp; (iv) tính công bằng; (v) sự tham gia của người dân và (vi) công khai minh bạch trong quá trình thực hiện.

Bước 4. Tiến hành đánh giá/kiểm toán và phân tích, tổng hợp kết quả

– Nhóm nòng cốt thu thập thông tin thứ cấp như bản vẽ, hồ sơ công trình, các báo cáo. – Phỏng vấn các bên liên quan: chủ đầu tư, nhà thầu, người hưởng lợi, tư vấn giám sát

– So sánh số liệu của hồ sơ với thực trạng công trình. Xác minh/kiểm tra tại hiện trường – Tổng hợp kết quả từ các thành viên trong nhóm

– Chuẩn bị bài trình bày đối thoại

Bước 5. Đối thoại/Giải trình/ toạ đàm với các bên liên quan

– Chia sẻ thông tin kèm theo các bằng chứng với các bên liên quan

– Thu nhận các ý kiến phản hồi của các bên liên quan – hoàn thiện lại các phát hiện – Đưa ra các khuyến nghị cải thiện (nếu có).

Bước 6. Theo dõi quá trình thực hiện kết luận kiểm toán

– Kết luận/ khuyến nghị của kiểm toán được gửi đến các bên liên quan – Theo dõi kết quả thực hiện các kiến nghị

39

Một trong thách thức của cộng đồng khi thực hiện giám sát ngân sách nhà nước, giám sát các công trìnhđầu tưcông là việc người dân khótiếp cận được với hồ sơcông trình để thu thập thông tin cho việc giam sát. Trong quá trình giám sát, chủ đầu tư, nhàthầu thường thiếu hợp tác trong việc cung cấp hồsơ có liên quan. Vì vậy, các nhóm cộng đồng không có đủ thông tin đầu vào phục vụ cho đánh giá. Chủ đầu tư, nhà thầu cho rằng không có quy định, hướng dẫn cụ thể nào về trách nhiệm của họ phải cung cấp các thông tin này cho các nhóm cộng đồng. Như ý kiến của mộtcán bộMTTQ tỉnh Quảng Trị“Với các công trình chìa khóa trao tay, chủ đầu tư không hợp tác vì những công trình này không có quy định về giám sát cộng đồng. Một số công trình không cung cấp tài liệu, thiết kế nên khó giám sát”.

Theo Báo cáo “Khảosát Tiếng nói của người dân và cánbộđịaphương vềChương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, trường hợp Hoà Bình và Quảng Trị”, giám sát cộng đồng chỉ thực hiện hiệu quả đối với các công trình ở cấp thôn, giao cho thôn tổ chức thực hiện. Giám sát cộng đồng thường chưa phát huy hiệu quả trong các công trình do cấp trên (huyện, tỉnh) làm chủ đầu tư, do nhàthầu bên ngoài thi công, do thiếu cơ chế công khai và minh bạch thông tin, thiếu chế tài, thiếu cơ chế phản hồi nhanh chóng và hiệu quả.

Việc công khai, minh bạch thông tin về kế hoạch, ngân sách, thời gian thực hiện… chương trình NTM tại địa phương còn hạn chế. Đặc biệt, với các công trình tại cấp xãdo huyện/tỉnh làmchủđầu tư, do nhà thầu bên ngoài thi công. Người dân không có thông tin cụ thể, một số cán bộ thôn chỉ có thể biết được thông tin sơ bộ về tổng kinh phí qua các cuộc họp với lãnh đạo xã. Ngay cả với nhiều cán bộ cấp xã, thông tin về kếhoạch, đặc biệt là ngân sách cũng không được nắm rõ.Ở đâycó nguyên nhân từ nhận thức hạn chế của người dân (chỉ quan tâm, tìm hiểu thông tin với những gì thiết thực, gắn liền với lợi ích cụ thể của mình), và cả nguyên nhận từ sự thiếu chủ động phổ biến thông tin của các cơ quan cấp trên (nếu không phải là việc cần sự đóng góp của người dân thì không thấy cần phải phổ biến thông tin rộng rãi).

5. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT NGÂN SÁCH CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CT NTM

Thông qua tổng hợp lại học kinh nghiệm của Hoà Bình và Quảng Trị trong việc giám sát ngân sách của cộng đồng tại Hoà Bình và Quảng Trị, một số khuyến nghị được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả giám sát ngân sách của cộng đồng như sau:

5.1. Các bộ, ngành Trung ương cần tiếp tục cụ thể hóa, đảm bảo tính thống nhất, đồngbộ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vai trò giám sát ngân sách nhà nước của cộng đồng trongđầu tư xây dựng cơbảnnói chung và trong CT MTQG NTM nói riêng. Các văn bản pháp luật cần bổ xung, làm rõ thêm các nội dung sau:

– Quy định trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu trong việc công khai thông tin, cung cấp thông tin chocộng đồngvà thực hiện các kết luận, kiến nghị của cộng đồng thông qua giám sát. Bao gồm cơ chế tài xử lý trong trường hợp chủ đầu tư không thực hiện các kết luận và kiến nghị của giám sát của cộng đồng.

– Xây dựng quy định, hướng dẫn giám sát cộng đồng đối với các công trìnhđầu tư công trên địa bàn. Trong đó, có quy định rõ về vai trò giám sát của cộng đồng đối với các công trình do trung ương/tỉnh/huyện làm chủ đầu tư, nhà thầu bên ngoài thi công.

40

– Bổ sung thêm quy định về hồ sơ thanh quyết toán các công trình đầu tư cần phải có chữ kí của ban giám sát cộng đồng. Điều này phần phần tăng trách nhiệm của chủđầu tư, nhà thầu trong việc thực hiện các kết luận, kiến nghị giám sát.

5.2. Đối với Uỷ ban MTTQ Việt Nam

– Cần có tài liệu chuẩn hướng dẫn về quy trình và kỹ năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực ngân sách nhà nước;

– Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cơ bản về tài chính – ngân sách và kỹnăng giám sát ngân sách nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách Mặt trận các cấp;

– Phối hợp với các bộ, ngành cần tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng theo như quy định hiện hành. Từ đó các bằng chứng rõ ràng và chính xác phục vụ cho tiến trình hoàn thiện các chính sách về giám sát cộngđồng đối với giám sát cộng đồng với các công trình đầu tư công.

Theo Powercube.net, không gian tham gia được chia thành 3 cấp độ: không gian đóng, không gian dân chủ đại diện, và không gian tự tạo.
“Không gianđóng”là nơi những người ở “đẳng cấp trên” như các chính trị gia, chuyên gia, những người ở vị trí quản lý và lãnh đạo ra quyết định và rất ít khi tham vấn hoặc cho phép có sự tham gia rộng rãi của quần chúng.

“Không gian dânchủ đại diện”là khu vực mà đại diện của quần chúng được mời đóng gópý kiến về nhưng vấn đề có liên quan đến cuộc sống của họ. Không gian dân chủ đại diện có thểmang tính thường xuyên nếu được thể chế hoá, hoặc có thể mang tính tạm thời theo nhu cầu. Trong không gian này, quyết địnhđược đưara trong môi trường mở hơn, phần nào có sự tham gia và giám sát của quảng đại quần chúng.

“Không gian tự tạo” (claimed space) là khu vực do chính người dân xây dựng nên đểthảo luận những vấn đề mà họ quan tâm, nhữnghoạt độngmà người dân tự khởi xướng, tự thực hiện dựa trên nhu cầu thiết thân của mình. Nói cách khác, đây là những không gian tự do của người dân, tạo điều kiện cho người dân nói lên ý kiến của mình, sáng tạo và phản biện lẫn nhau, và phản biện chính sách của nhànước.

Dự ánThúc đẩy công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân vào quản lý Ngân sách nhànướcđãthành công trong việc tạo vàmở rộngkhông gian tham gia của người dân thông qua:

1) tạo ra những không gian dân chủ đại diện mới để người dân tham gia quá trình ra quyết định như tham vấn xây dựng chính sách, giám sát đối thoại chính sách, đối thoại về phân bổ vàsửdụng ngân sách, và giám sát hiệu quả sử dụng ngân sách; 2) Thu hẹp các không gian đóng bằng cách thúc đẩy thực hiện công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân sách; và 3) Khuyến khích các không giantự tạo bằngcách hỗ trợ người dân có quan tâmđến vấn đềngân sách thành lập các nhóm thảo luận một cách tự nguyện, và tự xây dựng cũng như tự thực hiện các sáng kiến giám sát của mình.

41

Liên minh Minh bạch Ngân sách (BTAP)được thành lập năm 2014 với sự hỗ trợ từ tổ chức Oxfam Việt Nam. Mục tiêu của BTAP là tìm kiếm, thử nghiệm và thúcđẩy việc áp dụng các giải pháp hiệu quả hướng tới công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân trong quá trình ngân sách nhànước tạiViệt Nam, góp phần tạo ra những thay đổi tích cực vì sự phát triển của đất nước.

Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI)là một tổchức phi chính phủ, phi lợi nhuận của Việt Nam thành lập năm 2005, hoạt động vì quyền của các nhómyếu thế đểxây dựng một xã hội công bằng, đoàn kết và phát triển bền vững. CDI hiện đang là tổ chức điều phối của Liên minh Minh bạch Ngân sách (BTAP).

Liên hệ

Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI)

Đơn vị Điều phối Liên minh Minh bạch Ngân sách BTAPĐịa chỉ: Tầng 16, số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, Cầu Giấy, Hà Nội Web: cdivietnam.org

Email: info@cdivietnam.org | ĐT: +84 24 3538 0100

42

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI:

THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng NTM đến năm 2020, đây là chương trình phát triển nông thôn toàn diện được triển khai trên địa bàn các xã trong toàn quốc, bao gồm nhiều nội dung liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trịở cơ sở và an ninh trật tự xã hội ở nông thôn, giúp nông thôn ngày càng đổi mới và phát triển.

Làmột lực lượnglaođộngxã hội đôngđảo,trong những năm qua, phụ nữ Việt Nam có những đóng góp không nhỏ trong xây dựng NTM.Phụ nữvừa là chủ thể thực hiện, là nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM, vừa là người đượctrực tiếpthụ hưởngnhững thành quả tốt đẹp của chương trình. Vai tròcủa phụ nữ trong xây dựng NTM được thể hiện nổi bật ở các khía cạnh sau:

(1) Chiếm 49,24% lực lượng lao động trong nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và47,44%38 số lao động khu vực nông thôn, phụ nữ là nguồn nhân lực lớn trong xây dựng NTM. Cùng với quá trình đô thị hóa và xu hướng chuyển dịch lao động, tại nhiều vùng nông thôn, lao động nam giới di duyển ra khu vực thành thị, do vậy lực lượng lao động ở nông thôn chủ yếu là phụ nữ. Phụ nữ đang giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, cộng đồng, tham gia trực tiếp, tích cực và vận động người thân trong gia đình tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Ngày càng xuất hiện nhiều điển hình nữ nông dân mạnh dạn, năng động, vượt khó đi lên làm giàu từ chính quê hương của mình.

(2) Phụ nữ tích cực tham gia chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, học tập,áp dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường. Đã có nhiềuphụ nữxây dựng cánhđồngmẫu lớn, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất để tăng giá trị sản phẩm cây trồng, vật nuôi, gắn công nghiệp chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm. Nhiều nữ chủ doanh nghiệp mạnh dạn ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâusảnxuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệuquảvà sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường. Phụ nữ còn là lực lượng đóng góp quan trong về sức người, sức của để xây dựng, duy tu, bảo quản, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các tài nguyên điện, nước của quốc gia.

(3) Phụ nữ là lực lượng có đóng góp quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp vàdịch vụ. Lao động nữ nông thôn được đào tạo, trở thành công nhân, là lực lượng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn nông thôn; một bộ phận phụ nữ từ sản xuất nông nghiệp chuyển sang kinh doanh, dịch vụ. Nhiều phụ nữmạnh dạnchuyển đổi cơ cấu kinh tế, đa dạng hóa ngành nghề và hoạt động tạo thu nhập, bảo tồn các nghề truyền thống, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp an toàn, giúp nhau thoát

38 Báo cáo điều tra lao động việc làm Q2/2018, Tổng cục Thống kê.

43

nghèo, vươn lên làm giàu, đóng góp vào việc bảo đảman ninh lương thực quốc gia. Hàng năm, có hơn 100 hợp tác xã và hàng nghìn tổ hợp tác do phụ nữ quản lý đãđược Hội LHPN hỗ trợ thành lập, góp phần tạo ra những hàng hóa và dịch vụ nông nghiệp cóchất lượng.

(4) Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình, lưu giữ, trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống; tái tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn. Phụ nữ là điểm tựa tinh thần vững chắc, gắn kết các thành viên cùng chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống giađình, chăm sóc, nuôi dạy thế hệ công dân tương lai của đất nước đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, phụ nữ còn có vai trò quan trọng trong việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho gia đình góp phần giáo dục nhân cách trẻ em, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc; hăng hái tham gia hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao tại các địa phương, nhất là vào những dịp lễ tết, góp phần nâng caođời sống tinh thần khu vực nông thôn. Chị em đóng góp tích cực vào thành tích chung cảnước có hơn 19 triệu gia đình văn hóa, trên 69.000 đơn vị được công nhận làng, thôn,ấp, bản, tổ dân phố văn hóa39.

(5) Phụ nữ đóng góp tích cực trong thực hiện 19 tiêu chí NTM, hàng triệu phụnữ đóng góp công sức, tiền của xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn; tham gia hiến đất, góp công làmđường giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng, các công trình về giáo dục, y tế, văn hóa, là lực lượng chủ chốt tham gia công tác vệ sinh, bảo vệ môi trường nông thôn, chủ động ứng phó với biến đổi khí

hậu…

(6) Là tổ chức chính trị – xã hội đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhànước, đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã xác định tham gia xây dựng NTM là trách nhiệm và nhiệm vụ trọng tâm của Hội trong giai đoạn hiện nay. Hội đãvận động phụ nữ cả nước tíchcực tham gia xây dựng NTM bằng nhiều hoạt động thiết thực. Đặc biệt, từ năm 2010, Hội đã triển khai sâu rộng cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” với các nội dung vận động: 5 không gồm: không đói nghèo, không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, không có bạo lực gia đình, không vi phạm chính sách dân số, không có trẻ suy dinh dưỡng và bỏ học; 3 sạch: sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ. Ðây là cuộc vận động hướng vào từng hộ gia đình nhằm hỗ trợ hội viên, phụnữnâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình, qua đó góp phần trực tiếp thực hiện 11/19 tiêu chí NTM40.

Các cấp Hội thường xuyên đổi mới hình thức, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động, qua đó phụ nữ đã hiểu hơn về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhànước; chủ độngtham gia xây dựng NTM thông qua thực hiện cuộc vận động xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch; tích cực thực hiện dồn điền đổi thửa, chỉnh trang đồng ruộng, hiến đấtxây dựng các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng,trồng cây

xanh, xử lý rác thải đúng quy định, quy hoạch vườn, nhà ở….

39 Số liệu tổng kết toàn quốc phong trào“Toàndân đoàn kết xây dựngđời sốngvăn hóa” giai đoạn 2000-2018.

40 Tiêu chí số 2, 9, 10, 11, 12, 14,15, 16, 17, 18, 19. 44

Ðể hỗ trợ các gia đình thực hiện tốt các tiêu chí 5 không, 3 sạch, Hội đã triển khai nhiều hoạt động, đề án, chương trình, được sự đồng thuận, nhất trí của lãnh đạo cácđịa phương, sự hưởng ứng của các tầng lớp phụ nữ và người dân trong cộng đồng, sựphối hợp tham gia của các ngành liên quan. Việc tham gia xây dựng NTM bằng cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch” đã được các cấp Hội triển khai sâu,

rộng, có sức lan tỏa, thu hút đông đảo hội viên, phụ nữ tham gia thực hiện. Hàng năm, các cơ sở Hội đã đăng ký và thực hiện hiệu quả 14 nghìn phần việc, hoạt động tham gia xây dựng NTM; giúp đỡ trên 400.000 hộ gia đình đạt tiêu chí 5 không 3 sạch, giúp gần 100.000 hộ thoát nghèo. Hội duy trì vận động xây dựng xây dựng Mái ấm tình thương cho hội viên và phụ nữ nghèo, phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Nhiều mô hình thực hành tiết kiệm theo gương Bác gắn với an sinh xã hội có hiệu quả lớn, có sức lan tỏa mạnh mẽ như: “Giúp nhau xóa đói, giảm nghèo”, “Heo đất tiết kiệm”, “Từ phế thải

đến thẻ bảo hiểm y tế”…. Các cấp Hội thường xuyên tuyên truyền, cung cấp kiến thức

về luật pháp chính sách, kiến thức nuôi dạy con tốt, phòng chống bạo lực gia đình…; xây dựng các mô hình thực hiện 5 không, 3 sạch, xây dựng NTM; tham gia giám sát, phản biện xã hội về các vấn đề có liên quan… Các tiêu chí 3 sạch được nhiều địa phương lựa chọn ưu tiên thực hiện gắn với tiêu chí 17 về môi trường với nhiều hoạt động/mô hình hiệu quả như con đường hoa, hàng rào xanh, đoạn đường phụ nữ tự quản, nhà sạch vườn đẹp, đoạn đường sáng – xanh – sạch – đẹp, phân loại rác thải tại nguồn, hạn chế sử dụng túi nilon; hùn vốn xây nhà tiêu hợp vệ sinh, thay đổi hành vi về an toàn thực phẩm, bểthu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật…

Bên cạnh những kết quả đạt được và những đóng góp của phụ nữ trong xây dựng NTM, còn một số thách thức đặt ra cần quan tâm:

Yêu cầu ngày càng cao về tay nghề sản xuất, kỹ năng nghề nghiệp và giá trị sản phẩm nông nghiệp: đây chính là thách thức lớn đối với phụ nữ trong khi phần lớn laođộng nữ nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp, tỷ lệ lao động nữ nông thôn qua đào tạo nghề thấp41, đặc biệt với những ngành nghề đòi hỏi tay nghề cao. Việc đào tạo nghề cho lao động nữ nông thôn đãđược chútrọng, nhưng các loại hình đào tạo nghề dành cho phụ nữ thường là ngắn hạn và tập trung vào các kỹ năng “truyền thống” của phụ nữ, đồng thời đầu ra sau học nghề gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, với nhữngđịnh kiến giới và sự tự ti còn phổ biến ở nông thôn, phụ nữ cũng hạn chế hơn nam giới về cơ hội tiếp cận kỹ thuật, công nghệ sản xuất hiện đại – những yếu tố quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong CNH – HĐH nông nghiệp. Tình trạng phụnữ di cư lao động sang các thành phố, đô thị tăng; trong khi tay nghề, kiến thức không đảm bảo nên phần lớn phụ nữ di cư tham gia thị trường lao động phi chính thức, điều kiện làm việc tạm bợ, thu nhập thấp, không được hưởng các chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm

Sản xuất ở nông thôn nói chung và do phụ nữ thực hiện nói riêng còn manh mún, phụ nữ thiếu khả năng/cơ hội tiếp cận thông tin thị trường, khó xây dựng thương hiệu, hiệu quả sản xuất không cao do hạn chế trong liên kết theo chuỗi giá trị. Trong khi đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn để có điều kiện ứng dụng kỹ thuật,

41 Đến quý 2/2016, tỷ lệ phụ nữ nông thôn qua đào tạo đạt 11.1% – Báo cáo điều tra lao động việc làm 11/2016. TCTK

45

công nghệ tiên tiến cho những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, tính hàng hóa cao sẽ là yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng NTM.

Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân nông thôn nói chung, phụ nữ nói riêng còn có sự khác biệt so với thành thị, chất lượng dịch vụ y tế còn hạn chế; tỷ lệngười dân tham gia bảo hiểm y tế mới chỉ đạt 77%, đây cũng là thách thức với phụ nữđể đảm bảo điều kiện sức khỏe cho lao động và tái tạo sức lao động.

Đời sống của người dân địa phương nói chung và hội viên, phụ nữ nói riêng còn nhiều khó khăn nên việc phát huy nội lực trong hội viên, phụ nữ, nhân dân tham gia xây dựng các hạng mục công trình xây dựng NTM còn hạn chế. Nhận thức của hội viên, phụnữ chưa đồng đều, một bộ phận còn trông chờ sự hỗ trợ của nhà nước nên chưa phấn đấu vươn lên thoát nghèo, phát triển kinh tế, chưa tích cực tham gia các hoạt động xây dựng NTM ở địa phương. Một số phụ nữ và người dân chưa tích cực tham gia chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng và nhân rộng mô hình kinh tế hiệu quả.

Để phát huy tốt hơn vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM, Hội LHPN Việt Nam đã đưa ra các giải pháp đối với tổ chức Hội:

– Tiếp tục chủ trì, hướng dẫn triển khai thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016 – 2020, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ thực hiện các tiêu chí 5 không, 3 sạch và tiêu chí NTM, tập trung vào những vấn đề bức xúc hiện nay như: phòng chống bạo lực gia đình; vận động phụ nữ giúp nhau thoát nghèo, phát triển kinh tế làm giàu chính đáng, xây dựng gia đình hạnh phúc, thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch, đảm bảo vệ sinh môi trường…

– Tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển toàn diện, xây dựng gia đình hạnh phúc góp phần xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nếp sống tiến bộ, duy trìcác giá trị văn hoá gia đình Việt Nam; nâng cao kiến thức, hỗ trợ phụ nữ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, vận động phụ nữ tham gia bảo hiểm y tế.

– Vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững: động viên phụ nữ tự lực vươnlên; khuyến khích tinh thần sáng tạo, khởi nghiệp; vận động phụ nữtích cực tham gia các mô hình kinh tế hợp tác theo chuỗi giá trị, đặc biệt chú trọng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm an toàn; tạo chuyển biến về chất trongcông tác dạy nghề theođịnh hướng chuyển đổi cơ cấu lao động, gắn với hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh, giới thiệu việc làm, chú trọng phụ nữ khu vực chuyển đổi đất nông nghiệp, chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; hỗ trợ phụ nữ nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức kinh doanh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nâng cao năng suất lao độngđáp ứng yêu cầu trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

– Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; thực hiện giám sát, phản biện xã hội; đẩy mạnh công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế. Tổ chức cho phụ nữ thực hiện quyền dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp ở cơ sở; tổ chức các hoạt động tăng tỷ lệ cán bộ nữ; kết nối,phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ nữ; chủ động rà soát chính sách, quyđịnh hiện hành và nghiên cứu thực tiễn cácvấn đề của phụ nữ, trẻ emgái, bình đẳng giới và gia đình, làm cơ sở đề xuất chính sách về lao động nữ, an sinh xã hội, cán bộ nữ, phát triển tài năng nữ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, chính sách cho một sốđối tượng đặc thù. Đẩy mạnh hợp tác quốc quốc tế để tranh thủ kiến thức, kinh nghiệm, sự giúp đỡ về nguồn lực của các tổ chức quốc tế để hỗ trợ phụ nữ.

46

Đồng thời, Hội LHPN Việt Nam đề xuất một số giải pháp đối với các ngành, các cấp:

Đảm bảo hơn nữa việc ban hành, thực thi các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phát triển nông nghiệp, nông thôn có nhạy cảm giới; góp phần tạo điều kiện cho tiến bộ và phát triển thực sự của phụ nữ nông thôn, giúp lao động nữ nông thôn đáp

ứng được yêu cầu tay nghề cao, kỹ thuật mới, có khả năng áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất; có khả năng phát triển sản xuất theo hướng nâng cao giá trị hàng hóa, cókhả năng cạnh tranh trên thị trường.

– Tập trung đầu tư các nguồn lực vào khu vực nông thôn, có chính sách ưu đãi giúp cho các gia đình nông thôn (chú trọng sự tham gia của phụ nữ) có điều kiện khởi nghiệp, đẩymạnh thực thi các chương trìnhhỗtrợphát triển kinh tếtập thể/HTX, chương trình mỗi xã một sản phẩm, chính sách phát triển trang trại, ngành nghề sử dụng

nguồn lực địa phương, như lao động, đất đai, mặt nước, rừng, khoáng sản…

Có chiến lược, giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững đối với những vùng chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu; hỗ trợ nông dân phát triển sinh kế bổ sung, sinh kế thay thế để phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro thiên tai/ biến đổi khí hậu; chú trọng đối tượng dễ bị tổn thương do thiệt hại của biến đổi khí hậu/ thiên tai như người già, phụnữ, trẻ em.

Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, về xây dựng NTM: chính sách thai sản cho phụ nữ nông thôn; chính sách về đất đai, thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tự nguyện; chính sách thu hút nguồn nhân lực vềcông tác tại vùng nông thôn; chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển hệ thống dịch vụ xã hội ở nông thôn vừa tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ vừa san sẻ bớt gánh

nặng công việc nội trợ gia đình….

Nâng cấp các điều kiện chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh ở vùng nông thôn,đặc biệt vùng sâu, vùng xa; giúp phụ nữ và người dân nông thôn được thụ hưởng tốt hơn dịch vụ chăm sóc sức khỏe; cải tiến sản phẩm và các kênh cung cấp bảo hiểm y tế tựnguyện toàn dân, đảm bảo phù hợp hơn về khả năng tài chính và tiếp cận bảo hiểm y tếtự nguyện của người dân nông thôn.

Phát huy hơn nữa vai trò của cấp làng, thôn/bản, đây là đơn vị gần gũi nhất với người dân, tạo động lực phát huy vai trò, nội lực của cộng đồng dân cư trong xây dựng NTM; vai trò tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể. Tăng cường vai trò của phụ nữ và lãnh đạo nữ trong tham gia bàn bạc, giải quyết các vấn đề ở các cấp, kể cả ở cấp cộng đồng. Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ, tạo điều kiện phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ nữ cấp xã. Bồi dưỡng đội ngũ cánbộ nữtrong tương lai có đủ năng lực, trìnhđộ…nâng cao vị thế của phụ nữtrong hoạt động xã hội ở dịa phương.

47

48

VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TRONG GIÁM SÁT XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI; SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN LÀ YÊU CẦU, THƯỚC ĐO VÀ ĐIỀU KIỆN BẮT BUỘC KHI XÉT CÔNG NHẬN CỘNG ĐỒNG

DÂN CƯ, ĐỊA PHƯƠNG ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI

Nguyễn Hồng Thương42

Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước đang được cả hệthống chính trị từ Trung ương đến các địa phương triển khai thực hiện. Trong những năm qua, nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng về phát triển Nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân, Nhà nước đã có nhiều chính sách cụ thể triển khai sâu

rộng trong cả nước. Một trong những chính sách phù hợp, sát với thực tiễn và ngày càng làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống mọi mặt cho nông dân, đó là Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới.

Xác định đượctầm quan trọng củanhiệmvụxây dựng nông thôn mới, trong những năm qua, với trách nhiệm đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn tuyên truyền cho nhân dân hiểu về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, từ đó vận động nhân dân tham gia hưởng ứng, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Hội nghị lần thứ ba, khóa VII của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã bàn và đề ra nhiệm vụ MTTQ Việt Nam các cấp thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, trong đó xác định giải pháp để Mặt trận tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới thông qua các cuộc vận động và các phong trào thi đua yêu nước, trực tiếp là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và cuộc vận động”Ngày vì người nghèo” (nay là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”) và thực hiện trách nhiệm tham gia góp ý xây dựng tiêu chí nông thôn mới, giám sát thực hiện các chính sách trong xây dựng nông thôn mới, giám sát việc đánh giá, xét, công nhận hoàn thành tiêu chí nông thôn mới theo tinh thần Quyết định 217, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt nam và các tổ chức chính trị- xã hội.

Trên cơsở địnhhướngcủa Mặt trận Trung ương, những năm qua MTTQ Việt Nam các cấp đã tập trung tổ chức giám sát và phản biện về nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Mặt trận các cấp đã hướng dẫn nhân dân tham gia giám sát, phát huy vai tròcủa Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng trong việc giám sát các nội dung, dự ánđầu tưxây dựng nông nghiệp, nông thôn; khi có Quy chế Giám sát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội công tác giám sátđược thực hiện hiệu quả hơn. Hàng năm MTTQ Việt Nam các cấp đã chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành viên xác định nội dung và xây dựng kế hoạch tổ chức giám sát các chính sách, dự án trong chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Thông qua hoạt động giám sát của Mặt trận đã giúp cho Chính phủ, chính quyền và ngành chức năng các cấp điều chỉnh các nội dung và chính sách trong xây dựng nông thôn, hỗ trợ nông dân phù hợp hơn và được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Các hoạt động giám sát trong nông nghiệp, nông thôn nổi bật như: Giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về bảo

42 Ban Phong trào, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

49

hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; giám sát bảo vệ môi trường; xây dựng cơsở hạ tầng;giám sát nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới nhất là nguồn lực do nhân dân đóng góp và nhà nước đầu tư; giám sát về việc chấp hành quy định của pháp luật về quản lý kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; việc thực hiện chính sách hỗ trợ giá, giống, vốn, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp; giám sát xây dựng các công trình dân sinh; bồi thường, đền bù giải phóng mặt bằng; chính sách hỗ trợ, ưu đãi nông dân phát triển sản xuất, hỗ trợ nông dân nghèo; xây dựng và quản lý quỹ hỗ trợ nông dân. MTTQ Việt Nam các cấp thường xuyên nắm bắt, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp, chủ động đăng ký với cấp ủy, phối hợp với chính quyền và các ngành chức năng tổ chức kiểm tra, giám sát theo chuyên đề về xây dựng nông thôn mới. Thông qua việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia giám sát trong xây dựng nông thôn mới như thực hiện các công trình phúc lợi, nhất là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; cơ chế hỗ trợ và huyđộng nhân dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, dồn điền đổi thửa… Ngoài ra, MTTQ Việt Nam các cấp tích cực tuyên truyền cho cán bộ, bà con nông dân nâng cao ý thức trách nhiệm tham gia giám sát thường xuyên, kịp thời phát hiện những sai phạm, bất cập với cấp có thẩm quyền và các cơ quan chức năng về những vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông thôn. Cùng với việc tổ chức các hoạt động giám sát, MTTQ Việt Nam các cấp đã tích cực tham gia phản biện đóng góp ý kiến đề xuất vào dự thảo các văn bản của Trung ương, các cấp ủy, chính quyền các cơ quan, ban, ngành về các chủ trương, cơchếchính sách liên quan đến nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; tổng hợp ý kiến của nhân dân và kiến nghị với cơ quan chức năng những vấn đề liên quan đến xây dựng nông thôn mới. Giai đoạn 2010 – 6/2019, MTTQ các cấp đã tổ chức được 11.264 cuộc giám sát vềnông nghiệp và cơ chế, chính sách cho người dân ở nông thôn trong thực hiện nhiệm vụxây dựng nông thôn mới.

Căn cứ Quyết định số 2540/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủvề việc ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bốđịa phương đạt chuẩn nông thôn mới, địa phương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ trì phối hợp với các tổ chức thành viên lấy ý kiến đánh giásựhài lòngcủangườidânvềkếtquảxây dựng nông thôn mới. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ban hành Hướng dẫn số 78/HD- MTTW-BTT, ngày 24/4/2017 về nội dung, cách thức, quy trình lấy ý kiến về sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới ở cấp huyện, cấp xã; tổ chức vàhướng dẫn lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân.

Kết quả cụ thể:

Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã chủ động báo cáo cấp ủy, phối hợp với chính quyền tổ chức thực hiện đầy đủ các bước lấy ý kiến về sự hài lòng của người dân. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, tính từ tháng 6/2017 – 12/2018 (sau khi ban hành Hướng dẫn số 78/HD-MTTW-BTT về nội dung, cách thức, quy trình lấy ý kiến về sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới), MTTQ Việt Nam các cấp đã tổ chức lấy ý kiến được trên 822 ngàn lượt ý kiến của người dân về công nhận cấp huyện và xã đạt chuẩn nông thôn mới với 10 huyện, 412 xã (trong đócó 9 huyện được công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn nông thôn mới; 406xã đảm bảo tỷ lệ hài lòng của người dân đề nghị công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới). Việc lấy ý kiến hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới thông qua phiếu đánh giá được thực hiện khách quan, đúng quy trình, đảm bảo thời gian, cơ bản

50

đã phản ánh trung thực nhận xét, đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới của địa phương.

Thông qua việc lấy ý kiến sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới là một trong những kênh thông tin quan trọng để giúp cho cấp ủy, chính quyền và các ngành chức năng đánh giá, kiểm chứng đối với kết quả xây dựng nông thôn mới ở từng địa phương, cơ sở. Việc tổ chức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới cơ bản bước đầu đã thể hiện được ýchí, nguyện vọng và sự tham gia, giám sát của người dân trong xây dựng nông thôn mới. MTTQ Việt Nam các cấp đã thực hiện tốt vai trò phối hợp, phân công trách nhiệm, theo dõi và tổng hợp kết quả lấy ý kiến sự hài lòng của người dân; các ý kiến chưa hài lòng của Nhân dân về kết quả xây dựng nông thôn mới được Mặt trận Tổ quốc các cấp tổng hợp và phản ánh kịp thời. Một số nơi có tỉ lệ hài lòng của người dân thấp, Mặt trận các cấp đã có văn bản đềnghị dừng công nhận kết quảxây dựng nông thôn mới của địa phương, đồng thời đề xuất các nội dung cần được tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng nội dung của tiêu chí đáp ứng nhu cầu của người dân. Việc tổ chức lấy ý kiến đánh giásự hài lòng của người dân đối kết quả xây dựng nông thôn mới cơ bản bước đầu đã phát huy vai trò chủ thể của người dân, nhất là việc giám sát của người dân trong xây dựng nông thôn mới; thông qua việc lấy ý kiến Nhân dân được traođổi,thảo luận, góp ý vềnhững kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế đối với kết quả xây dựng nông thôn mới của địa phương và đưa ra kiến nghị, đề xuất cụ thể…

Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn một số hạn chế như: Công tác thông tin tuyên truyền đến người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương còn hạn chế. Việc tiếp cận thông tin để trả lời phiếu lấy ý kiến còn gặp khó khăn do trình độ của người dân không đồng đều. Một số tiêu chí tỷ lệ hài lòng của người dân thấp, Mặt trận Tổ quốc các cấp có văn bản đề nghị cơ quan chức năng liên quan có thẩm quyền có văn bản trả lời và đưa ra hướng khắc phục nhưng việc triển khai thực hiện còn chậm. Một số nơi, cấp ủy, chính quyền chưa thật sự quan tâm đến việc lấy ý kiến sự hài lòng của người dân, do vậy việc lấy ý kiến của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới cábiệt một số nơi còn có biểu hiện hình thức, chưa đảm bảo thực chất. Nhiều địa phương cho rằng tỷ lệ lấy ý kiến của người dân còn thấp (cấp huyện trên 20% – 30%, xã trên 60%) do vậy chưa phản ánh được ý kiến của đa số người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới. Việc tổ chức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với kết quảxây dựng nông thôn mới ở nhiều nơi chưa đảm bảo tínhđộc lập,còn hình thức,một sốnơi việc đánh giá còn phụ thuộc vào công tác chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương nhất làở cấp xã,vì vậy chưa thật sự đảm bảo tính khách quan trong tổ chức triển khai thực hiện. Kinh phí để triển khai thực hiện việc tổ chức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng

của người dân còn hạn chế, khó khăn cho việc tổ chức thực hiện…

Từ những kết quả đạt được và những khó khăn, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới (theo Hướngdẫn số78/HD-MTTW-BTT, ngày 27/4/2017 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về nội dung, cách thức, quy trình lấy ý kiến về sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới). Để khắc phục tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức lấy ý kiến của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới với mục đích để đảm bảo tính khách quan, thực chất trong quá trình

tổchức thực hiện và phùhợpvớinhiệm vụxây dựng nông thôn mới hiện nay, ngày 25/01/2019, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Hướng dẫn số 122/HD-MTTW-BTT về việc lấy ý kiến sự hài lòng của người

51

dân về kết quả xây dựng nông thônmới(thay thế Hướng dẫn 78/HD-MTTW-BTT, ngày 24/4/2017 về nội dung, cách thức, quy trình lấy ý kiến về sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới), trong đó sửa đổi, bổ sung một số nội dung cơ bản:

– Nâng cao tỷ lệ lấy ý kiến của người dân: Từ 60% lên 70% đối với xã; từ 20- 30% lên 60% đối với huyện, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh (bao gồm cả hộ gia đình thuộc phường, thị trấn); bổ sung lấy ý kiến đối với xã đề nghị đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu đạt ít nhất 60% số hộ gia đình của các thôn, xóm trong xã.

– Công khai kết quảlấy phiếu: Tăng thời gian niêm yết và công khai trên các phương tiện thông tin từ 7 ngày lên 10 ngày tính từ thời điểm có báo cáo kết quả tổng hợp của Ban Thường trực MTTQ Việt Nam về kết quả lấy ý kiến người dân về xây dựng nông thôn mới.

– Lưu giữ phiếu và quản lý phiếu: Phiếu lấyý kiến đề nghị xã đạt chuẩn nông thôn mới phải được niêm phong và lưu giữa tại MTTQ Việt Nam cấp huyện; phiếu lấy ý kiến cấp huyện phải được lưu giữ ở cấp tỉnh; các phiếu khi phát hành phải được đóng dấu treo và quản lý chặt chẽ lượng phiếu há ra và thu về.

– Điều chỉnh một số tiêu chí cho phù hợp giúp cho người dân có nhận định vàđánh giá chính xác về kết quả xây dựng nông thôn mới đối với địa phương.

Phát huy vai trò giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội trong thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong thời gian tới, MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tiếp tục tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới thông qua các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động đang diễn ra ở địa bàn dân cư, trọng tâm là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và công tác giảm nghèo bền vững; đẩy mạnh hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội về xây dựng, nông thôn mới; tiếp tục vận động nguồn lực xã hội xây dựng nông thôn mới. Tổchức lấy ý kiến đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới, đảm bảo tính khách quan, thực chất về kết quả xây dựng nông thôn mới, tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân về nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Một số kiến nghị, đề xuất:

Để đảm bảo cho hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cáctổchức chính trị – xã hội trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, xin kiến nghị, đề xuất một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vàcác tổ chức chính trị – xã hội trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tham gia thực hiện với 2 nhiệm vụ trọng tâm: (1) Tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới; (2) Giám sát thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (trong đó tập trung chủ yếu là giám sát nguồn lực xây dựng nông thôn mới và giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong xây dựng nông thôn mới) thông qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức chính trị xã hội và Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư. Vì vậy hàng năm khi phân bổ nguồn lực kinh phí cho hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội phải đảm bảo 02 nội dung: Tuyên truyền, vận động và giám sát xây dựng nông thôn mới.

52

Thứ hai: Hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân và Ban giám sát Đầu tư cộng đồng để đảm bảo nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Vì thực tế hiện nay, việc giám sát xây dựng nông thôn mới ở cộng đồng dân cư được Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội được thực hiện thông qua hoạt động của Ban Thanh tra Nhân dân và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng ở cấp xã để thực hiện nhiệm vụ giám sát mang tính đại diện nhân dân đối với việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Thứ ba: Bố trí nguồn lực và cơ chế cho việc tổ chức lấy kiến về sự hài lòng của người dân đối với kết quả xây dựng nông thôn mới nói riêng. Thực tế hiện nay, ở một số địa phương còn gặp khó khăn về kinh phí tổ chức thực hiện việc lấy ý kiến của nhân dân về xây dựng nông thôn mới, mặc dù nội dung này đã được quy định rõ trong Quyết định 2540/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, tuy nhiên chưa được quy định cụ thể trong các Thông tưhướngdẫn sử dụngkinh phí về thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới hoặc các văn bản hướng dẫn để các địa phương áp dụng trong quá trình triển khai thực hiện. Vì vậy đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần có sự chỉ đạo rà soát,hướngdẫn và phân bổ nguồn kinh phí này cho hoạt động này đảm bảo tính thống nhất trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện./.

53

54

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THÔN, BẢN, ẤP Ở KHU VỰC KHÓ KHĂN NHẰM THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

Nguyễn Ngọc Luân43

1. TIẾP CẬN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ CỘNG ĐỒNG THÔN, BẢN LÀ GIẢI PHÁP PHÙ HỢP ĐỐI VỚI KHU VỰC KHÓ KHĂN

Sau gần 10 năm triển khai, bên cạnh những thành tựu quan trọng của Chương trình MTQG xây dựng NTM, thì kết quả thực hiện phản ánh rõ sự chênh lệch giữa các vùng miền về tỷ lệ địa phương đạt chuẩn NTM cũng như số tiêu chí đạt chuẩn. Những khu vực có nhiều điều kiện thuận lợi như Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có tỷ

lệ xã đạt chuẩn và số tiêu chí bình quân/xã rất cao; trong khiđó,những khu vực khókhăn như Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có kết quả tương đối thấp44. Ngay trong nội vùng và nội tỉnh, những xã thuộc khu vực miền núi, biên giới và vùng bãi ngang ven biển và hải đảo đều có những bước tiến chậm hơn so với các xãđồngbằng, ven đô, ven

thị. Những bất lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng… là những yếu tố chính cản trở các xã ở khu vực khó khăn hoàn thành các tiêu chí NTM.

Thực tế cho thấy, đối với các xã khó khăn, việc phấn đấu đạt chuẩn NTM chỉ nên là động lực hướng tới trong dài hạn chứ không phải là áp lực cần đạt được trong thời gian một vài năm tới. Chính vì thế, hướng tiếp cận hiện nay đang được triển khai trong Chương trình MTQG xây dựng NTM đối với khu vực khó khăn là xây dựng NTM từcộng đồng thôn, bản, ấp. Một số lý do chính là:

– Thứ nhất, đối với cấp xã: phần lớn các xã khó khăn (đặc biệt ở khu vực biên giới, vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) có địa hình phức tạp và chia cắt. Khoảng cách kết nối giữa xã với trung tâm huyện và giữa các thôn, bản với trung tâm xã rất xa, nhiều nơi cách đến hàng chục km. Khoảng cách xa, địa bàn rộng, hệ thống giao thông chưa đảm bảo, vật liệu xây dựng tại chỗ thiếu, dẫn đến suất đầu tư cho một công trình hạ tầng ở những xã này rất lớn, thường cao gấp 2-3 lần so với khu vực đồng bằng. Theo kinh nghiệm và kết quả triển khai trong thời gian qua cho thấy, để đầu tư cho những xãnày đạt chuẩn được những tiêu chí về hạ tầng kinh tế – xã hội thì phải cần một nguồn lực đầu tưrất lớn từ ngân sách nhà nước lên tới hàng trăm tỷ đồng/xã và điều này rất khó khả thi do nguồn ngân sách có hạn. Bên cạnh đó, những tiêu chí về thu nhập, hộnghèo, tổ chức sản xuất, môi trường… cũng khó đạt được đối với những xã này. Nhìn chung, do nhiều yếu tố khó khăn, bất lợi, nên việc hoàn thành các tiêu chí NTM cấp xã ở khu vực khó khăn là không khả thi. Thay vào đó, vấn đề cần quan tâm hơn là tăng cường lồng ghép và tập trung nguồn lực vào những nội dung cải thiện trực tiếp về chất lượng cuộc sống cho người dân, tạo thu nhập và sinh kế ổn định, bền vững cho người dân. Điều này cần thực hiện ở phạm vi thôn, bản nhằm tăng cường nhận thức, thay đổi tư duy phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài, thúc đẩy tinh thần hợp tác, sự tham gia của cộng đồng dưới nhiều hình thức khác nhau và nâng cao vai trò, trách nhiệm, năng lực cho cán bộ cơ sở trong công tác tổ chức thực hiện.

43 Viện Chính sách và Phát triển nông nghiệp nông thôn

44 Tính đến tháng 6/2019, tỷ lệ xã đạt chuẩn ở các khu vực ĐBSH, ĐNB, MNPB và Tây Nguyên lần lượt là:

82,64%, 69,33%, 25,09% và 35,73%; số tiêu chí bình quân/xã ở 4 khu vực này lần lượt là 18,28 – 17,16 – 12,28

– 13,72 (theo thống kê của VPĐP NTM Trung ương, 2019)

55

– Thứ hai, đối với cộng đồng thôn, bản: do các xã khó khăn thường có địa bàn rộng, dân cư phân tán, nên sự gắn kết và đồng thuận của cộng đồng dân cư thường nằm trong phạm vi thôn, bản bởi nhiều yếu tố tương đồng như: (i) có nhiều điểm chung về

văn hóa, phong tục, tập quán, sử dụng chung tài nguyên, hạ tầng, có các hoạt động sản xuất giống nhau…; (ii) có mối quan hệ bền chặt qua nhiều thế hệ, có sự gắn bó mật thiết với nhau trong cùng một môi trường sinh sống; (iii) có tri thức bản địa, kinh nghiệm, hiểu biết về đặc điểm đất đai, khí hậu, thiên tai, mùa vụ, văn hóa, con người ở địa phương nơi họ chung sống. Do đó, phát huy tính chất cộng đồng theo từng thôn, bản ở khu vực khó khăn chính là phát huy những nét đặc trưng bản địa, những giá trị văn hóa truyền thống, sức mạnh cộng đồng, đó cũng chính là giá trị của NTMở những địa bàn đặc thùmà không thể đo đếm bằng tiêu chí NTM ở cấp xã. Những kết quả đạt được trong từng thôn, bản sẽ từng bước góp phần giúp cấp xã đạt được kết quả tốt hơn trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM.

Trước thực tế đó,Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1385/QĐ-TTg ngày 21/10/2018 phê duyệt Đề án hỗ trợthôn, bản, ấp của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển vàhải đảo xâydựng NTM và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018- 2020 (gọi tắt là Đề án 1385). Như vậy, song song với các nội dung, tiêu chí NTM ở cấp xã, cấp huyện, Chương trình MTQG xây dựng NTM đã có riêng một Đề án xây dựng

NTM ở cấp thôn (gọi chung cho các đơn vị thôn, bản, ấp, xóm, buôn… tùy theo cách gọi của từng địa phương). Đây là giải pháp kịp thời và phù hợp để định hướng cho các

tỉnh có nhiều xã khó khăn tập trung cho các hoạt động xây dựng NTM từ cộng đồng thôn, đi vào thực chất hơn thay cho việc chạy theo tiêu chí NTM.

2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở PHẠM VI THÔN, BẢN THEO ĐỀ ÁN 1385

Mục tiêu của Đề án 1385 nhằm trực tiếp cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần cho người dân tại các thôn, bản, ấp của các xã khó khăn. Thôn, bản tham gia Đề án phải có kế hoạch hàng năm, kết hợp các nguồn lực hỗ trợ với phát

huy các giá trị nội lực cộng đồng (văn hóa, du lịch, đặc sản bản địa…), nhằm thực hiện tiêu chí NTM cấp thôn, bản (do địa phương ban hành).

Điểm nổi bật của xây dựng NTM ở phạm vi thôn, bản là yếu tố cộng đồng. Công tác tổ chức cộng đồng trong xây dựng NTM là một nội dung được nhấn mạnh trong Đềán 1385 với 3 tiêu chí mà thôn NTM phải đáp ứng yêu cầu:

– Có Ban phát triển thôn hoạt động theo quy chế do cộng đồng bầu và được Ủy ban nhân dân xã công nhận;

– Có quy ước, hương ước thôn, được đại đa số (khoảng 95%) người dân thông qua và cam kết thực hiện;

– Có kế hoạch thực hiện từng tiêu chí hàng năm và cả giai đoạn, được Ủy ban nhân dân xã xác nhận, được lập theo phương pháp có sự tham gia của cộng đồng.Bản kế hoạch đánh giá đầy đủ hiện trạng thôn, các nguồn nội lực của thôn, kế hoạch thực hiện trong giai đoạn 2018 – 2020 và lộ trình từng năm, dự toán kinh phí thực hiện trong đó có sự tham gia đóng góp của cộng đồng.

Bên cạnh đó, các địa phương cũng được trao quyền xây dựng các tiêu chí cụ thểđối với các thôn xây dựng NTM, trên cơ sở phù hợp với đặc thù địa phương và theo các định hướng của Đề án 1385 với 5 nhóm tiêu chí thực hiện:

56

– Mô hình sản xuất: Có mô hình sản xuất, kinh doanh tập trung, hiệu quả, gắn với liên kết vùng nguyên liệu của thôn theo định hướng của Chương trình Mỗi xã một sản phẩm hoặc mô hình phát triển du lịch cộng đồng;

– Kinh tế hộ: Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 1,6 đến 1,8 lần so với năm 2015; tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ lao độngđược đàotạo nghề có việc làm đạt so với tiêu chíNTM cấp xã: Tùy điều kiện thực tế tại các xã thuộc phạm vi Đề án, các tỉnh xây dựngđịnh mức phù hợp với khả năng phấn đấu thực hiện về các chỉ tiêu này;

– Môi trường và cảnh quan nông thôn: Cải tạo cảnh quan sạch – xanh – đẹp, đảm bảo vệ sinh môi trường các nơi công cộng;

– Văn hóa, an ninh trật tự: Có các tiêu chí đánh giá mức độ và hiệu quả của các hoạt độnggìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thông của cộng đồng; giữ vững an ninh, trật tự, không có tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội;

– Một số cơ sở hạ tầng thiết yếu (giao thông, thủy lợi, điện, cơ sở vật chất văn hóa, công trình thu gom rác thải, có công trình cấp nước sạch …) đạt chuẩn theo quyđịnh.

Với đặc thù của những khu vực khó khăn, để phát huy sự tham gia của cộng đồng cần thiết phải có những xúc tác từ hỗ trợ của nhà nước. Do đó, Đề án 1385 đã nêu rõ những nội dung có sựhỗtrợtrực tiếp từnguồn vốn Chương trình MTQG xây dựng NTM và những nội dung lồng ghép từ các chương trình, dự án khác. Cụ thể, các nội dung hỗ trợ gồm:

– Các nội dung hỗ trợ trực tiếp:

+ Hỗ trợ phát triển sản xuất: Hỗ trợ mô hình phát triển sản xuất tập trung liên kết gắn với vùng nguyên liệu phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương và tổ chức nhân rộng những mô hình này trên cơ sở phát triển các sản phẩm đặc trưng, là lợi thế của địa phương theo Chương trình Mỗi xã một sản phẩm; phát triển mô hình làng du lịch văn hóa hóa cộng đồng. Một trong những giải pháp thực hiện là ưu tiên hỗ trợ các hộ có điều kiện, có năng lực phát triển sản xuất (về lãi suất vay vốn, mua vật tư, hỗ trợ thăm quan,

tập huấn, đào tạo nghề…) để phát triển sản phẩm đặc trưng, có lợi thế của địa phương, làm cơ sởđểnhân rộng. Đâylà cách tiếp cận khác với các chương trình hỗtrợkhác trong đó thường tập trung cho các đối tượng khó khăn.

+ Hỗ trợ xây dựng công trình thiết yếu nhằm nâng cao đời sống sinh hoạt của người dân ở các thôn, bản, bao gồm nước sinh hoạt, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.

– Các nội dung lồng ghép:

+ Nâng cao năng lực cộng đồng: Tập huấn các kỹ năng phát triển cộng đồng cho Ban phát triển thôn, người có uy tín trong cộng đồng; đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn mới mô hình, yêu cầu cụ thể và phù hợp với nhu cầu của thị trường;

+ Phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội thôn: Xây mới và nâng cấp một số công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa và nhu cầu sinh hoạt của người dân trong thôn (điện, đường trục thôn, bản, ấp; đường ngõ xóm; công

trình về môi trường, cơ sở vật chất văn hóa thôn…).

Nhìn chung, Đềán 1385 được ban hành vào giai đoạn cuối của Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020. Trong điều kiện nguồn lực đầu tưhỗ trợcòn hạn chế, năng lực đội ngũ cán bộ thôn, bản ở các xã, thôn khó khăn còn chưa đáp

57

ứng được yêu cầu, nên quan điểmtriển khai đềán là mang tính thíđiểmđểrút kinh nghiệm, đưa ra cácđề xuất về cơchế, chính sách và giải pháp về xây dựng NTM cấp thôn cho các khu vực khó khăn trong giai đoạn sau năm 2020.

3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT HUY SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CẤP THÔN

Xây dựng NTM ở cấp thôn tại những khu vực khó khăn là cách tiếp cận phù hợp để các hoạt động xây dựng NTM thiết thực và hiệu quả hơn. Báo cáo của các tỉnh như

Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An… tại Hội nghị triển khaiĐề án xây dựng NTM tại thôn, làng, bản, ấp thuộc các xã vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2018- 2020 (tổ chức ngày 13/11/2018 tại Gia Lai) đều cho thấy, đối với các xã khó khăn trên địa bàn tỉnh, việc chuyển sang thực hiện tiêu chí NTM ở cấp thônđã phát huy được hiệu quả cả về công tác triển khai cũng như kết quả đạt được. Trước khi Đề án 1385 được ban hành, nhiều địa phương đã chủ động chọn cấp thôn làm đơn vị triển khai song song với những hoạt động xây dựng NTM ở cấp xã. Cùng với nhiều bài học kinh nghiệm hay đã được chia sẻ, thực tế cho thấy cách làm của các địa phương cần được thống nhất theo những nội dung của Đề án 1385, trong đó cần đặc biệt chú trọng tới phát huy vai trò chủ thể và sự tham gia của cộng đồng. Một số vấn đề được đặt ra là:

3.1. Thúc đẩy sự tham gia của người dân thông qua phát huy vai trò của Ban phát triển thôn

Tiêu chí đầu tiên của thôn NTM là phải có Ban phát triển thôn (BPT). BPT thôn là lực lượng đặc biệt quan trọng, gồm những người có uy tín, trách nhiệm, có năng lực tổ chức triển khai, do cộng đồng thôn trực tiếp bầu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã cóquyết định công nhận (gồm đại diện lãnh đạo thôn, đại diện các đoàn thể chính trị – xã hội ở thôn và một số người có năng lực chuyên môn khác liên quan đến xây dựng NTM). BPT thôn vừa có vai trò tuyên truyền, phổ biến, vận động người dân tham gia các hoạt động xây dựng NTM, vừa trực tiếp lãnhđạo cộng đồngtổ chức thực hiện các hoạt động xây dựng NTM ở thôn và đại diện cho cộng đồng dân cư tham gia ý kiến với cơ quan cấp trên, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng.

Những kết quả tích cực của Chương trình MTQG xây dựng NTM sau chín năm triển khai (2010-2018) đã ghi nhận vai trò không nhỏ của BPT thôn. Ở đâu có đội ngũBPT nhiệt tình, gương mẫu, có năng lực, có sự đồng thuận cao, có tinh thần hi sinh vìcộng đồng, ở đókhơi dậy được sức mạnh tập thể của cộng đồng, đạt kết quả tốt trong xây dựng NTM. Thực tế xây dựng NTM những năm vừa qua cho thấy BPT thôn là lực lượng không thể thiếu của cộng đồng thôn, bản. BPT thôn là cầu nối để phát huy vai tròlàm chủ, quyền và tiếng nói của người dân, thực hiện dân chủ cơ sở, thúc đẩy các hoạt động phát triển cộng đồng, ổn định an ninh trật tự, chính trị – xã hội nông thôn… Đặc biệt, ở những khu vực khó khăn với trình độ dân trí còn hạn chế, BPT thôn là lực lượng nòng cốt của cộng đồng, là những người truyền tải thông tin, kiến thức, nâng cao nhận thức cho cộng đồng, tạo sự gắn kết trong cộng đồng, là những tấm gương tiêu biểu dẫn dắt cộng đồng dân cư thực hiện các hoạt động phát triển…

Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của BPT thôn trong những năm qua còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Một mặt, năng lực của BPT thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn chưa đáp ứng được những đòi hỏi đặt ra. Mặc khác, tính chất pháp lý và chức năng, nhiệm vụ của BPT thôn còn chưa được quy định cụ thể, thiếu kinh phí cho BPT hoạt động nên chưa tạo được động lực tham gia, phối

58

hợp thực hiện giữa các thành viên. Ở nhiều địa phương, BPT thôn đơn thuần là một tập hợp tạm thời của một số cán bộ thôn mỗi khi có công việc cần thiết phải thảo luận thông qua. Sự tương tác và phối hợp giữa các ban/ngành, tổ chức đoàn thể và giữa các cấp trong hoạt động của BPT thôn còn nhiều hạn chế, chưa đủ sức tạo ra đột phá trong huyđộng nguồn nhân lực, vật lực, tài chính trong triển khai các hoạt động. Nhìn chung, một khi năng lực, động lực và sự phối hợp trong hoạt động của BPT thôn còn thấp thì động năng cho phát triển cộng đồng sẽ yếu. Trong khi vai trò của BPT thôn đã được chứng minh, danh sách BPT thôn đã được công nhận, thì việc phát huy vai trò và vị thế của BPT là đòi hỏi cấp thiết.

3.2. Lập kế hoạch thôn gắn với Chương trình OCOP và công tác giảm nhẹrủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng

Tiêu chí thứ hai của thôn NTM đòi hỏi các thôn, bản phải lập được kế hoạch xây dựng NTM có sự tham gia của cộng đồng. Bản kế hoạch vừa đánh giá được hiện trạng thôn, vừa đánh giá được các nguồn lực sẵn có (nội lực cộng đồng). Trong phần kế hoạch thực hiện, phải có kế hoạch xây dựng được mô hình sản xuất hiệu quả, gắn với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và thực hiện các tiêu chí khácvềvăn hóa, môi

trường, cảnh quan, an ninh trật tự, cơ sở hạ tầng…

Có thể thấy đây là một yêu cầu cần thiết nhưng cũng là một tháchthức lớn đối với cán bộ thôn, bản, nhất là đối với thôn, bản ở các xã đặc biệt khó khăn. Như đã phân tích ở phần trên,vấn đề đặt ra đầu tiênlà nâng cao năng lực cho BPT thôn để lập kếhoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch phát triển cộngđồng.Cùngvới đó,liên quanđến nội dung của kế hoạch thôn, cần quan tâm gắn với 2 vấn đề:

Thứ nhất, gắn với thực hiện Chương trình OCOP: Chương trình OCOP ra đời nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, khơi dậy tiềm năng nông đặc sản của mọi vùng miền, tạo cơ hội nâng cao thu nhập cho người dân. Việc triển khai OCOP đòi hỏi chính cộng đồng địa phương phải liên kết, hợp tác sản xuất, tạo ra những sản phẩm hàng hóa đặc sản bản địa có giá trị. Ở các khu vực vùng núi, biên giới, bãi ngang, tuy người dân gặp nhiều khó khăn về phát triển sản xuất nhưng đây lại là những khu vực cónhiều tiềm năng về đặc sản bản địa. Nhờ có điều kiện tự nhiên phong phú, có nhiều bản sắc văn hóa truyền thống đa dạng, cộng đồng dân cư nông thôn cần phát huy lợi thế nàyđể gắn các hoạt động phát triển thôn với thực hiện Chương trình OCOP.

Thứ hai, gắn với hoạt động giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng: Những khu vực khó khăn cũng đồng thời là những địa bàn thường xuyên chịu tác động nhiều nhất của rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu. Cộng đồng dân cưở đây là đối tượng chịu tổn thương nhiều nhất về người và của, về sinh kế, về nguy cơ tái nghèo mỗi khi có thiên tai xảy ra. Chính vì thế, việc lập và triển khai kế hoạch NTM ở từng thôn, bản cần thiết phải tính tới các hoạt động giảm nhẹ rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng.

Đểgiúp BPT thôn xây dựng được kếhoạch khảthi, cần thiết phải có tài liệu hướng dẫn lập kế hoạch. Hiện nay, chương trình tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng NTM thuộc Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020 đã có hai chuyên đề hướngdẫn lập kế hoạch xây dựng NTM là: (1) Chuyên đề 11: Phân tích, đánh giáhiện trạngvà lập kếhoạch xây dựng NTM cấp xã có sự tham gia của người dân; (2) Chuyên đề 17: Kỹ năng lập và tổ chức triển khai kế hoạch phát triển thôn theo phương pháp dựa vào nội lực cộng đồng. Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 cũng đã phát hành tài liệu hướng dẫn lập kế hoạch cấp thôn hàng năm.

59

Tuy nhiên, các tài liệu nàychủyếutập trung vào quy trình vàkỹnăng lập kếhoạch, chưa nhấn mạnh các công việc liên quan đến OCOP và giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Một số địa phương và chương trình, dự án đã xây dựng tài liệu hướng dẫn lập kế hoạch phát triển KTXH, có gắn với hoạt động giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khíhậu, song chưa được hệ thống hóa trong phạm vi Chương trình MTQG xây dựng NTM. Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã phát hành tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng nhưng áp dụng cho cấp xã và chủ yếu tập trung vào công tác phòng chống thiên tai. Nói chung, hiện nay đang có rất nhiều tài liệu khác nhau hướng dẫn lập kế hoạch liên quan đến xây dựng NTM, giảm nghèo, phòng chống thiên tai, dành cho cả cấp xã và cấp thôn. Các tàiliệu này cần được đồngbộ hóa để xây dựng một tài liệu hướng dẫn lập kế hoạch ở cấp thôn, phù hợp với năng lực lập kế hoạch của cán bộ thôn, có tính khả thi trong tổ chức thực hiện và góp phần thực hiện Đề án NTM cấp thôn, bản.

3.3. Xây dựng tiêu chí thôn nông thôn mới tạo động lực phát huy sự tham gia của cộng đồng

Trước và sau khi Đề án 1385 được ban hành, nhiều địa phương đã xây dựng Bộtiêu chí thôn NTM để tổ chức thực hiện. Nhìn chung, các bộ tiêu chí thường bám sát các chỉ tiêu NTM ở cấp xã, vừa phục vụ công tác theo dõi thống kê từ cơ sở, vừa bao quát mọi lĩnh vực cần được quan tâm. Các địa phương cũng quy định mức khen thưởng cho các thôn để tạo động lực phấn đấu. Tuy vậy, cách xây dựng tiêu chí cấp thôn dựa trên bộ tiêu chí cấp xã chưa thể hiện được những yếu tố khác biệt của NTM ở phạm vi cộngđồng thôn, bản. Vì vậy, trong giai đoạn tới cần nghiên cứu bổ sung một số nội dung/tiêu chí sau:

– Trong nhóm tiêu chí“Tổchức cộng đồng”, ngoài các tiêu chí vềBPT thôn, hương ước, kế hoạch thôn, cần có tiêu chí khuyến khích xây dựng quỹ phát triển cộng đồng ở cấp thôn. Thực tế đã có nhiều địa phương xây dựng được quỹ phát triển cộngđồng (điển hình như Hà Giang), hoặc bản thân nhiều Tổ tự quản thuộc các thôn, xóm đãcùng nhau lập quỹ để hỗ trợ lẫn nhau trong cáchoạt độngkinh tế – xã hội, hoặc có nhiều thôn có quyđịnh chung của cộng đồng vềviệc đóng góp các quỹphục vụcông tác

khuyến học, hiếu hỉ, an ninh, thắp sáng đường làng… Việc hình thành quỹ phát triển cộng đồng là thực sự cần thiết, không chỉ nhằm phục vụ cho các hoạt động chung của cộng đồng mà còn tạo sự gắn bó, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng.

– Lồng ghép giới với các tiêu chí NTM cấp thôn: vấn đề bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử cần được tích hợp với việc thực hiện các nội dung, tiêu chí NTM cấp thôn. Trong phạm vi hộ gia đình nông thôn, một thực trạng còn tồn tại khá phổ biến làphụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu; vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình. Ngoài ra, phụ nữ còn gặp phải những vấn đề khác như bạo lực gia đình, nạn nhân của

buôn bán người, bóc lột lao động, xâm hại tình dục… Những vấn đề về giới trong tiêu chí NTM cấp thôn là công cụgiúp nâng cao nhận thức và hành động của cộng đồng trong việc thực hiện bình đẳng giới của mỗi gia đình.

– Tiêu chí hộ gia đình NTM: nhiều địa phương đã xây dựng tiêu chí NTMđến

cấp hộ gia đình như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Đồng Nai, Sóc Trăng… Bên cạnh đó, hiện nay các địa phương cũng đang thực hiện nhiều tiêu chí ở cấp hộ gia

đình như tiêu chí gia đình văn hóa, gia đình“5 không, 3 sạch”,gia đình hiếuhọc… Trong xây dựng NTM ở mỗi thôn, bản, cần có một bộ tiêu chí đồng bộ áp dụng đối với

60

hộ gia đình, phù hợp với đặc điểm văn hóa, vùng miền, để nâng cao nhận thức và tạo động lực phấn đấu cho mỗi hộ gia đình.

3.4. Mở rộng phạm vi xây dựng NTM cấp thôn trên địa bàn cả nước

Giai đoạn 2010-2020, Chương trình MTQG xây dựng NTM chọn cấp xã làm đơn vị triển khai theo 19 tiêu chí NTM. Trong quá trình thực hiện, sự tham gia của người dân chủ yếu trong các hoạt động ở phạm vi thôn, bản. Điều này làm cho vai trò chủ thểcủa người dân chưa thực sự được pháthuy, nguồn lực phân bố còn dàn trải giữa các công trình cấp xã và cấp thôn, cộng đồng thôn, bản tiếp nhận và triển khai các hoạt động còn mang tính chất kế hoạch, chưa quyết định lựa chọn ưu tiên theo sự đồng thuận chung của cộng đồng.

Kinh nghiệm triển khai mô hình NTM cấp thôn ở một số địa phương, khôngchỉở khu vực khó khăn miền núi mà cả ở các tỉnh đồng bằng, ven biển, cho thấy muốn khơi dậynội lực cộng đồng, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng, cần quan tâm xây dựng NTM từ cộngđồngthôn, bản. Theo báo cáo của các địa phương, đến hết tháng 02/2019, cả nước đã có 2.579 thôn, bản, ấp (khoảng 3,2%) được công nhận đạt chuẩn NTM, trongđó, có 709 thôn, bản NTM thuộc các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Kết quả này chưa phản ánh hết những thôn, bản nằm trong điều kiện đạt chuẩn nhưng địa phương chưa có quy định về NTM cấp thôn. Tuy nhiên, nếu so với tỷ lệ hơn 36,8% số xã đạt chuẩn NTM ở cùng thời điểm, có thểthấy xây dựng NTM ở phạm vi thôn, bản chưa được quan tâm đầy đủ. Do đó, việc thiết kế Chương trình xây dựng NTM cho giai đoạn sau năm 2020 cần thiết phải tính đến giải pháp xây dựng NTM cấp thôn của gần 80.000 thôn trên cả nước. Vai trò chủ thể của người dân nông thôn sẽ được phát huy khi các nội dung xây dựng NTM gắn liền với mối quan tâm của họ tại địa bàn nông thôn nơi họ sinh sống./.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM   KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM   KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM   KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM    KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM   

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *