Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do lựa chọn đề tài

Về mặt thực tiễn, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, đa dạng hóa và mở rộng dịch vụ là xu hướng tất yếu tại các ngân hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Tại Việt Nam hiện nay, các ngân hàng thương mại không chỉdừng lại ởviệc đẩy mạnh các dịch vụtruyền thống mà ngày càng phát triển nhiều loại hình hoạt động, trong đó nhiều ngân hàng phát triển thành mô hình có tính chất hỗn hợp. Các hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại như góp vốn, mua cổ phần, đầu tư chứng khoán theo đó được đẩy mạnh, trở thành hoạt động có vịtrí ngày càng quan trọng bởi lợi ích kinh tế và ý nghĩa phân tán rủi ronhất định đối với các ngân hàng. Tuy nhiên, xuất phát từđặc thù của hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tiềm ẩn liên quan đến vấn đề xung đột lợi ích hàm chứa trong các hoạt động đầu tư , yêu cầu cần kiểm soát chặt chẽ nhóm hoạt động này đối với ngân hàng thương mại là rất cần thiết. Sự kiểm soát này hướng đến mục tiêu không gây ảnh hưởng hoặc hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến hoạt động và chức năng trung gian tiền tệ của ngân hàng thương mại cũng như cả hệ thống, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.

Thực tế giai đoạn vừa qua cho thấy, những bất ổn của thị trường tài chính toàn cầu tác động mạnh mẽ đến hoạt động của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, dẫn đến những yếu kém nội tại được thể hiện rõ ràng. Yêu cầu tăng cường sự can thiệp và quản lí của Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng càng được đặt ra cấp thiết.

Vềmặt pháp luật, việc ban hành mới và sửa đổi Luật cáctổchức tín dụng (năm 1997, 2004 và 2010, 2017) cùng văn bản hướng dẫn thi hành đã thiết lập một cơ sở pháp lí tương đối đầy đủ, chi tiết hơn trong điều chỉnh hoạt động ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống. Tuy nhiên,một số bất cập,hạn chế vẫn còn tồn tại xét

từng nhóm nội dung, đặc biệt trong nhóm quy phạm điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại. Những hạn chế này gây ra những hệ quả và rủi ro nhất định trên thực tế thị trường và đặt ra yêu cầu cần thiết phải hoàn thiện nhằm đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và nền tài chính.

Về mặt nghiên cứu, mặc dù là một nội dung quan trọng trong cơ cấu hoạt động của ngân hàng và thị trường tài chính, nhưng hiện nay nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu. Các công trình đã được công bố tập trung vào hoạt động huy động vốn hoặc cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại chỉ được đề cập ở từng nội dung hoạt động vàchủ yếu trên giác độ kinh tế, những phân tích chuyên sâu hoặc chuyên ngành, đặc biệt về pháp luật rất hạn chế. Điểm qua nội dung các công trình này được mô tả chi tiết tại mục 2 Phần thứ nhất của Luận án.

Từ những lí do trên, việc nghiên cứu thấu đáo những vấn đề lí luận và thực tiễn đối với pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại từ đó xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này là cấp thiết và có tính thời sự. Chính vì vậy,tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam”làm đềtài nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng cơ sở líluận về hoạt động đầu tư và pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM. Nghiên cứu, đánh giá của luận án nhằm đến mục tiêu quản lí hiệu quả, đồng thời có tính định hướng đối với hoạt động đầu tư của các NHTM hiện nay trước yêu cầu hội nhập của nền kinh tế.

Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụnghiên cứu của luận án được xác định là:

Thứ nhất, tác giả tập trung nghiên cứu và đưa ra kháiniệm về hoạt động đầu tư của NHTM, chỉ ra đặc điểm đặc thù hoạt động đầu tư của NHTM với các hoạt động ngân hàng truyền thống và các hoạt động đầu tư khác cũng như ý nghĩa hoạt động đầu tư đối với mô hình NHTM.

Thứhai, nghiên cứu và xây dựng khái niệm và xácđịnh cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của các NHTM.

Thứ ba, nghiên cứu lí luận và thực tiễn một số nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam gồm quy định về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư, quy định về các biện pháp bảo đảm an toàn khi NHTM thực hiện các hoạt động đầu tư và quy định về quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư của NHTM.

Thứ tư, từ những vấn đề nghiên cứu và giải quyết, luận án đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam, và tăng cường hiệu quả thực thi. Giải pháp vừa có tính tổng thể vừa chitiết để đảm bảo tính khả thi.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

– Các quan điểm khoa học, học thuyết pháp lí của các tác giả cá nhân và tổ chức đã công bố trong các công trình trong nước và nước ngoài.

– Hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm: Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại và các quy định quốc tế như Hiệp ước Basel.

– Thực tiễn hoạt động đầu tư của một số NHTM tại Việt Nam và thị trường thông qua phân tích số liệu báo cáo, tổng hợp.

Về phạm vi nghiên cứu: Nội hàm hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi rộng và hẹp theo quan điểm tiếp cận. Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn định của luận án, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tưcủa NHTM từ khi ban hành Luật các TCTD số 47/2010/QH12 năm 2010 đến nay. Bên cạnh đó, tác giả xác định phạm vi nghiên cứu giới hạn trong một số hoạt động bao gồm các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, hoạt động kinh doanh chứng khoán và hoạt động uỷ thác đầu tư. Luận án không nghiên cứu các hoạt động tín dụng đầu tư, đầu tư vào tàisản cố định,và một số hoạt động đầu tư khác như kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, đây được xác định là những vấn đề đã được nghiên cứu tại nhiều công trình.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là pháp luật điều chỉnh đến hoạt động của chủ thể đặc thù của nền kinh tế – NHTM, do đó các yếu tố thị trường, chính trị và yếu tố khác có tác động không nhỏ đến xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Để giải quyết hiệu quả đề tài, bên cạnh phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt

động tài chính ngân hàng, … các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phỏng đoán khoa học sẽ được tác giả vận dụng một cách linh hoạt nhằm đặt được mục đích nghiên cứu trong từng nội dung.

Tại phần I, phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu nhằm tạo lập nguồn tài liệu đầy đủ cho nghiên cứu và hoàn thiện Luận án. Bên cạnh đó, phương pháp phỏng đoán được kết hợp nhằm đưa ra đánh giá và kết luận về tình hình nghiên cứu của đề tài.

Tại phần II, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của từng phần:

Chương I, xác định nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, tác giả sử dụng chủyếu phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh pháp luật, đồng thời có vận dụng phỏng đoán khoa học. Các phương pháp trên giúp cho việc xem xét hoạt động đầu tư của các NHTM, pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM một cách đầy đủ, từ đó đánh giá khách quan, toàn diện và xác định rõ ràng phạm vi vấn đề nghiên cứu cũng như đánh giá bước đầu về yêu cầu, tiêu chí và mức độ điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM.

Chương II, với mục tiêu nghiên cứu về trực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam, các phương pháp phân tích, so sánh, phỏng đoán khoa học sẽ được tác giả tiếp tục sử dụng là phương pháp nghiên cứu chủ đạo. Sử dụngcác phương pháp nghiên cứu trên xuất phát từ việc xác định rõ nội dung vàmục tiêu nghiên cứu với đặc thù nhất định. Pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTMđược xem xét như một bộphận của pháp luật ngân hàng, trongđómục tiêu điều chỉnh hướng đến hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn hệ thống song vẫn tạo được môi trường để NHTM thực hiện quyền tự do kinh doanh. Từ việc nhận diện đặc trưng trên, trong triển khai nghiên cứu, áp dụng tư duy logic khoa học thông qua việc phân tích, đánh giá các qui định pháp luật hiện hành, đồng thời so sánh pháp luật một sốquốc gia trên thế giới để phán đoán, xác định các xu hướng, hệ quả có thể xảy ra sẽ có hiệu quả cao, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật. Ngoài ra, nhằm đưa ra các đánh giá sắc đáng,thể hiện được thực tiễn thị trường, phương pháp tổng hợp phân tích được sử dụng khá nhiều nhằm tạo lập nguồn số liệu phù hợp, làm cơ sở đánh giá thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật trên thị trường.

Chương III, dựa trên cơsởcác luận giải tại chương II và vấn đềlí luận tại chương I, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đặc biệt vận dụng phỏng đoán khoa học nhằm đưa ra các luận điểm, luận cứ và các giải pháp có tính thực tiễn. Các kiến nghị được đưa ra là kết quả của đánh giá nội dung pháp luật đặt trong yêu cầu hoàn thiện, có xem xét đến mục tiêu phát triển nền kinh tế, phát triển thị trường tài chính.

5. Đóng góp mới của Luận án

– Là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu các vấn đề líluận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam.

– Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM một số quốc

gia trên thế giới như Hoa Kì, Nhật Bản,Đức,…, làm cơ sở vận dụng chọn lọc từ đóđề xuất hoàn thiện bộ phận pháp luật này tại Việt Nam.

– Đánh giá khách quan các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM trong bối cảnh các yêu cầu đặt ra của tình hình mới và xu hướng hội nhập. Trên cơ sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong qui định hiện hành đặt trong yêu cầu và chức năng của bộ phần pháp luật này, khẳng định tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM.

– Nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp phù hợp và khả thi, không chỉtrên phương diện hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

6. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Thứ nhất: hệ thống hóa vào làm rõ các vấn đề lí luận về hoạt động đầu tư của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM làm cơ sở xác định yêu cầu trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh.

Thứ hai: đánh giá tương đối toàn diện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tưcủa NHTM tại Việt Nam trong bối cảnh tình hình mới, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thị trường, khảo sát số liệu và trong sự so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới. Trên có sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong nội dung pháp luật khẳng định yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM.

Thứ ba: kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật, giải pháp phù hợp và khả thi, không chỉ trên phương diện hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Bên cạnh ý nghĩa khoa học, kết quảnghiên cứu có tính ứng dụng thực tiễn lớn, thể hiện: (i) đóng góp căn cứ cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng nói chung và đặc biệt pháp luật về hoạt động đầu tư của các NHTM; (ii) đóng góp vào hệ thống pháp lí để các cơ quan quản lí nhà nước quản lívà giám sát hoạt động đầu tư của NHTM hiệu quả, đảm bảo hoạt động đầu tư của các NHTM lành mạnh, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của khách hàng.

Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án triển khai theo kết cấu gồm hai phần như sau:

Phần I: Tổng quan tình hình nghiên cứu Phần II: Nội dung luận án, gồm ba chương

Chương 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

13

PHẦN I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Với lịch sử phát triển lâu đời, cùng với tính chất rủi ro và biến động của hoạt động ngân hàng, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này luôn được chú trọng. Cũng bởi vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực tài chính ngân hàng trên cả phương diện kinh tế và pháp luật tương đối phong phú. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, có sự hạn chế nhất định các công trình đề cập trực tiếp đến hoạt động đầu tư và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại, đặc biệt ở Việt Nam.

1. Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài

Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài tại Việt Nam và nước ngoài cho thấy,đến nay, có khá nhiều nghiên cứu về hoạt động ngân hàng trên khía cạnh kinh tế,

tuy nhiên không nhiều công trình trực tiếp đề cập đến pháp luật về hoạt động đầu tưcủa NHTM, đặc biệt chưa có công trình nào đánh giá trực tiếp và đầy đủ nội dung pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Hoạt động đầu tư của và pháp luật điều chỉnh

nội dung này chỉ được nghiên cứu trên một hoặc một số khía cạnh phù hợp với nhiệm vụ của mỗi công trình nhưng nhìn chung hạn chế.

1.1. Các nghiên cứu trên khía cạnh pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM

1.2. Các nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế

2. Đánh giá những kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án

2.1. Những kết quả nghiên cứu về lí luận hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

2.2. Những kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

2.3.Đềxuất và giải pháp trong các công trình nghiên cứu nhằm hoàn

thiện và nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật vềhoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

Từ thực tế thiếu vắng các nghiên cứu trong nước và nước ngoàiđề cập trực tiếp đến nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, các đề xuất vàgiải pháp hoàn hiện pháp luật khôngđược ghi nhận nhiều. Tuy nhiên,từkết quảnghiên cứu các công trình liên quan, có một số điểm đáng lưu ý như sau:

Thứ nhất, khi xem xét và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM cần đánh giá xu hướng và quan điểm thế giới cũng như Việt Nam trong quy định về hoạt động này. Nghiên cứu cho thấy quy định về mở rộng hoạt động của NHTM sang các hoạt động đầu tư vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm cần tách bạch hoạt động của NHTM với các hoạt động mang tính chất đầu tư hoặc hoạt động ngân hàng đầu tư bắt đầu tư sau khủng hoảng kinh tế

1929 – 1933, khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Glass – Steagall. Các nghiên cứu của Tabarrok (1998)30, Lia K.Thomas (2005)31, Bierman Harold (2003) 32 cho rằng các NHTM và công ti chứng khoán là nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tếdo xung đột lợi ích phát sinh khi một tổ chức đồng thời kinh doanh ngân hàng truyền thống và kinh doanh chứng khoán. Sheng (2009)33 ủng hộ sự tách biệt giữa hoạt động NHTM và hoạt động đầu tư, ông cho rằng rất khó để có thể kết hợp văn hoá của ngân hàng đầu tư (dựa trên việc chấp nhận rủi ro) và NHTM (hoạt động kinh doanh mà sự“thận trọng” rất được coitrọng) dưới cùng một mái nhà.

Tại Việt Nam, Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014)34 cũng cho rằng, nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng cần tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư và hoạt động NHTM, nghĩa là NHTM không nên thực hiện chức năng kinh doanh đa ngành như hiện nay, mà thay vào đó NHTM chỉ có dịch vụ thanh toán- tài chính, huy động và cấp tín dụng. Các hoạt động đầu tư, góp vốn nên hình thành nên định chế ngân hàng đầu tư để tách bạch quản lí.

Bên cạnh đó,một sốnghiên cứu cho thấy quan điểm ngược lại. Tabarrok

(1998)35 cho rằng mặc dù đạo luật Glass – Steagall nhằm gia tăng mức độ an toàn của hệthống ngân hàng và giảm xungđột lợi ích, tuy nhiên xungđột lợi ích trên không đáng kể. Nguyên nhân thực sựthông quađạo luật trên xuất phát từlợi ích chính trị của một số cá nhân. Macey (1991)36 cho rằng việc ngăn cấm thực hiện hoạt động ngân hàng đầu tư sẽ gia tăng rủi ro tại các NHTM. Ông chỉ ra chứng khoán nói chung (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) có ít rủi ro hơn tín dụng và đầu tư vào chứng khoán, được coi là khoản đầu tư có tính thanh khoản và đại chúng cao. Tính thanh khoản này giúp cho các ngân hàng dễ cân bằng trạng thái, đồng thời tính đại chúng của hoạt động chứng khoán làm tăng hiệu quả hoạt động của các NHTM. Tại Việt Nam, tác giả Mạc Quang Huy (2009), Tạ Hoàng Hà (2015) cho rằng Việt Nam cóthể phát triển đồng thời hai mô hình ngân hàng tổng hợp và ngân hàng đầu tư chuyên biệt”37.

Thứ hai, một số đề xuất giải pháp cụ thể trong một số nội dung nghiên cứu được đưa ra mang tính riêng lẻ nhưng vẫn có giá trị tham khảo trong nghiên cứu.

Vềphương thức thực hiện hoạt động đầu tư: TácgiảPhạm ThịGiang Thu (2013) cho rằng pháp luật cần quy định cụ thể hơn về hình thức thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần đặc biệt hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện trong từng hình thức, trường hợp nào phải thông báo và chấp thuận hoặc thông báo về thông tin phải thay đổi đến NHNN, trường hợp nào không cần thực hiện thủ tục này. Tác giảNguyễn Thị Lan Hương (2007) đưa ra đề xuất cần luật hoá quyền tham gia các lĩnh vực tài chính đa dạng của NHTM trong luật các TCTD. Việc xác định rõ lĩnh vực hoạt động và những hạn chế trong quá trình tham gia vốn vốn thành lập công ti bảo hiểm là cơ sở pháp lí để kiểm tra hoạt động góp vốn của ngân hàng đồng thời tạo quyền chủ động lựa chọn hoạt động kinh doanh của NHTM38. Trong khiđó đối với hoạt động ủy thác đầu tư, ý kiến chung trong các nghiên cứu đưa ra là cần hoàn thiện cơ sở pháp lí theo hướng thắt chặt quản lí đối với hoạt động này trong giai đoạn hiện

nay, thậm chí theo Luật sư Trần Minh Hải thì “không tồn tại nữa thì sẽ tốt hơn cho hoạt động ngân hàng”39. Trên phương diện tổng thể, Trần Ngọc Đức và Nguyễn Đức Hiên (2014) cho rằng nên “tách bạch chức năng ngân hàng đầu tư và NHTM” bởi quy định về đầu tư của NHTM đã xóa đi ranh giới giữa chức năng ngân hàng đầu tưvà NHTM tại Việt Nam, một trong những nguyên nhân tạo ra “lỗ hổng” tạo điều kiện cho sở hữu chéo.

Đứng trên phương diện đảm bảo an toàn cho hoạt động của toàn hệthống, quan điểm vềphạm vi thực hiện hoạt động đầu tư của NHTMđược Thomas M.Hoenig và Charless S. Morris (2012) khuyến nghị cần phải giới hạn hoạt động của các tổ chức ngân hàng. Theo đó, các tổ chức ngân hàng bao gồm cả NHTM không nên thực hiện ba trong số sáu nhóm hoạt động tài chính gồm: Kinh doanh và kiến tạo thị trường (chứng khoán, repos, hợp đồng phái sinh); dịch vụ môi giới và tự doanh40. Lập luận được đưa ra là, ba hoạt động này có ít mối tương quan với dịch vụ ngân hàng cơ bản và nó tạo rủi ro rất khó đánh giá, giám sát và kiểm soát41. Quan điểm vềgiới hạn hoạt động của tổ chức tài chính cũng được đưa ra bởi Claudio E.V.Borio and Renato Finosa (1994)42. Armold W.Sametx, Michael Keenan (1979) 43 cho rằng nếu như NHTM tham gia vào hoạt động chứng khoán cần thiết yêu cầu bổ sung vốn, bảo hiểm hoặc gia tăng thuế và biện pháp giám sát.

Về các biện pháp bảo đảm an toàn. Nhóm tác giả chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright (2013) nhấn mạnh cần hoàn thiện các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng Việt Nam thông qua một loạt các biện pháp: giám sát vốn ngân hàng, nhanh chóng hoàn thiện các tỉ lệ đảm bảo an toàn mới theo quy định của Luật các TCTD 2010, tinh thần của Basel II, hướng đến Basel III, quy định về công bố

thông tin, đảm bảo tuân thủ triệt để các quy định và nâng cao hiệu lực của chế tài,….

Đặc biệt, nhóm tác giả đưa ra đề xuất cần mở rộng quyền giám sát các cổ đông sởhữu ngân hàng44.

Bên cạnh đó, một số đề xuất cụ thể cũng được đưa ra như: điều kiện về vốn sử dụng để thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần nên được xem xétlà vốn tựcó thay vì vốn điều lệ như quy định hiện nay (Phạm Thị Giang Thu, 2013) nhằm nới rộng cơ hội thực hiện đầu tư kinh doanh của TCTD nhưng không mất đi tính an toàn của tổ chức này; cần định nghĩa lại người có liên quan, cụ thể quy định hạ thấp tỉ lệsở hữu ngân hàng phải công bố thông tin (từ mức hiện hành 5% xuống còn 1%) nhằm giúp cơ quan giám sát ngân hàng có thông tin đầy đủ hơn về cấu trúc sở hữu của mỗi

ngân hàng (Đặng Ngọc Đức, Nguyễn Đức Hiển – 2014; Trần Dục Thức và nhóm tác giả – 2014).

Về nội dung liên quan đến quản lí nhà nước. Trong hầu hết các nghiên cứu trực tiếp và có liên quan hoặc đề cập về hoạt động đầu tư của NHTM, các tác giả đều đưa ra quan điểm cần tăng cường giám sát từ phía cơ quan quản lí và đặt ra các giới hạn đối với các hoạt động đầu tư. Trần Dục Thức và nhóm nghiên cứu (2014) khi nghiên cứu về hoạt động góp vốn mua cổ phần của NHTM đã chỉ rõ“tăng cường công tác giám sát và quản lí của Nhà nước,đặc biệt làvai trò của NHNN” là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường khảnăng giám sát một trong

những phương thức thực hiện đầu tư quan trọng của NHTM – hoạt động góp vốn, mua cổ phần. Bên cạnh đó, nghiên cứu giải pháp cần xây dựng mô hình giảm sát hợp nhất và đưa ra lộ trình và biện pháp thanh tra giám sátcụ thể45.

Tạ Hoàng Hà (2015) cho rằng để phát triển hoạt động đầu tư của ngân hàng dù theo mô hình chuyên biệt hay đa năng thì cần hoàn thiện cơ sở pháp líđối với hoạt động quản lí, giám sát thị trường. Pháp luật cần trao cho cơ quan quản lí các công cụ quản lí hiệu quả và đặc thù46. Tác giả Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) cũng như tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tếFullbright (2013) chung quan ýkiến về hoàn thiện hành lang pháp lí cho hoạt động góp vốn mua cổ phần cần đảm bảo mục tiêu quan trọng là phải xây dựng hệ thống chế tài đủ mạnhcho các vi phạm

trên thị trường tài chính. Hoàn thiện pháp luật, đồng thời, cần nhấn mạnh vai trò cung cấp thông tin minh bạch, đúng đủ, kịp thời trên thị trường để toàn bộ cổ đông lớn, nhỏ không trực tiếp nắm quyền điều hành, quyền kiểm soát có thể thực hiện quyền chủ sở hữu hợp pháp của mình. Các quy định điều tiết, giám sát thị trường cần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, không thiên vị, không tạo rào cản đố với năng lực sáng tạo tích cực của các tác nhân tham gia thị trường hay công cụ kiểm soát doanh nghiệp47.

Qua nghiên cứu các công trình đã công bố về giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với pháp luật về hoạt động đầu tư tài chính của NHTM, có thể kết luận như sau:

(i) Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM phải cân nhắc tổng hòa các yếu tố ảnh hưởng và đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ, qua đúc rút kinh nghiệm các quốc qua trên thế giới và thực trạng thị trường Việt Nam.

(ii) Tại Việt Nam, do sự hạn chế trong các nghiên cứu trực tiếp nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, do đó đề xuất liên quan không mang tính toàn diện, chủ yếu là đề xuất riêng lẻ trong phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình. Tuy nhiên một số đề xuất vẫn còn giá trị tham khảo như yêu cầu hoàn thiện pháp luật, đề xuất liên quan đến giám sát thị trường. Bên cạnh đó,nhiều vấn đềpháp lí liên quan đến quy định về ủy thác đầu tư, quy định về hoạt động đầu tư chứng khoán, về giải pháp cụ thể trong quản lí nhà nước liên quan đến hoạt động đầu tư của

NHTM… chưa được nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện. Rõ ràng, pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động đầu tư của NHTM cần có đánh giá đầy đủ từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp cụ vừa mang tính toàn diện vừa cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả áp dụng, thắt chặt, đảm bảo hoạt động của thị trường. Đây là nội dung Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ.

3. Cơ sở lí thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Về cơ sở lí thuyết

Khi nghiên cứu hoạt động đầu tư của NHTM và pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM, nghiên cứu sinh sử dụng một số cơ sở lý thuyết điển hình như: học thuyết Mác – Lênin vềnhànước và pháp luật; lý thuyết vềquanhệpháp luật, lýthuyết về hợp đồng; lý thuyết về quyền tự do kinh doanh; lí thuyết về hoạt động ngân hàng.

Về câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiêncứu

Trên cơ sở đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu, tác giả xác định giải thiết và câu hỏi nghiên cứu đặt ra và giải quyết như sau:

Câu hỏi 1: Hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi như thế nào? Khi NHTM thực hiện hoạt động đầu tư sẽ có những hạn chế và đồng thời mang đến lợi ích như thế nào đối với NHTM đặt trong thực trạng thị trường tài chính ởViệt Nam?

Giảthuyết nghiên cứu: Hoạt động đầu tư của NHTM (được xác định ngoài các hoạt động ngân hàng truyền thống có nội hàm rộng gồm nhiều hoạt động và ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu hoạt động đầu tư của NHTM. Việc mở rộng hoạt động sang thực hiện các hoạt động đầu tư bên cạnh các hoạt động ngân hàng truyền thống hoặc cốt lõi (core banking business) chứa đựng rủi ro song mang đến nhiều lợi ích đối với NHTM.

Câu hỏi 2: Làm rõ xu hướng phát triển mô hình ngân hàng trên thế giới và đánh giá mô hình phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển nền tài chính Việt Nam hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu: Sự tồn tại và phát triển mô hình ngân hàng khác nhau trên thế giới chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, trực trạng thị trường tài chính, năng lực của các ngân hàng. Mô hình ngân hàng đa năng bán phần và xu hướng đa dạng hoá hoạt động của NHTM phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển thị trường tài chính và nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Câu hỏi 3: Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM có cấu trúc nhưthếnào? Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM phải đảm bảo những nguyên tắc đặc thù nào?

Giả thuyết nghiên cứu: Cấu trúc pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động đầu tư của NHTM chịu ảnh hưởng lớn từ vị trí của hoạt động và đặc thù của hoạt động

41

đầu tư do NHTM thực hiện, thể hiện tính chất quản lí, giám sátcủa Nhà nước đối với hoạt động này. Theo đó, pháp luật điều chỉnh hoạt đầu tư của NHTM sẽ bao gồm các nhóm quy định về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư, về điều kiện, trình tự thực hiện hoạt động đầu tư, các biện pháp bảo đảm an toàn và quy định về quản líNhà nước đối với hoạt động này. Xác định nội dung cấu trúc pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM khi đánh giá, bình luận cần thiết phải đặt trong nguyên tắc điều chỉnh của bộ phận pháp luật này. Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bên cạnh đảm bảo quyền tự do kinh doanh của NHTM, cần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và lợi ích công cộng.

Câu hỏi 4: Những hạn chế nào của pháp luật hiện hành phát sinh khiđiều chỉnh các quan hệ về hoạt động đầu tư của NHTM ở Việt Nam hiện nay? Tại sao tồn tại các hạn chế này?

Giảthuyết nghiên cứu: Những bất cập trên thịtrường tiền tệliên quanđến hoạt động đầu tư của NHTM thời gian qua cho thấy pháp luật chưa tạo lập được cơchế quản lí đầy đủ và chặt chẽ khi các NHTM thực hiện hoạt động đầu tư. Nhiều nội dung pháp luật điều chỉnh các quan hệ trong quá trình NHTM thực hiện hoạt động đầu tư chưa theo kịp xu hướng vận động của thị trường và yêu cầu quản lí nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.

Câu hỏi 5: Cần phải sửa đổi, bổ sung pháp luật theo định hướng và các giải pháp cụ thể như thế nào để hệ thống pháp luật trở nên hoàn thiện hơn trong việc điều chỉnh các hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam?

Giả thuyết nghiên cứu: Để theo kịp xu hướng thế giới, quản lí hiệu quả các quan hệ phát sinh trong giao dịch và quản trị ngân hàng, pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam nên được hoàn thiện theo hướng đảm bảo và tạo điều kiện cho NHTM đa dạng hoá hoạt động, mở rộng các hoạt động đầu tư, đồng thời tăng cường quản lí, giảm sát nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.

42

PHẦN 2: NỘI DUNG LUẬN ÁN

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀHOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Khái quát về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

1.1.1. Quan niệm về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại – Ngân hàng thương mại

Sự ra đời của ngân hàng được xem là một trong những phát minh quan trọng của lịch sử thế giới. Ngân hàng với vai trò là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu là huy động vốn, tín dụng và thanh toán, ngày càng thể hiện vai trò là yếu tố cấu thành cốt lõi trong sự vận hành nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của thịtrường tiền tệ và ngành tín dụng ngân hàng, phạm vi hoạt động của các ngân hàng liên tục được mở rộng. Các ngân hàng đã có sự phân hoá thành nhiều loại hình khác nhau như đầu tư, ngân hàng đa năng, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng cộng đồng. Trong đó,mô hình giữ vai trò quan trọng và phổ biến nhất hiện nay là ngân hàng thương mại (commercial bank).

Theo các nhà Kinh tế học thế giới thì “NHTM là một loại hình doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng”.

Tiếp cận trên phương diện hoạt động,“ NHTM nhận tiền gửi từ khách hàng cá nhân và tổ chức và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng cho khác hàng khác”48. “NHTM là một loại hình tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh tế”. Reed, Rose & Woodland (1976) nhấn mạnh, NHTM như trái tim của hệ thống tài chính49.

Tại Hoa Kì, NHTM được xác định là công ti kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.

Tại Việt Nam, Luật các TCTD năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các

48 Iannotta, G. (2010). Investment Banking: A Guide to Underwriting and Advisory services. London: Springer, http://books.google.com, truy cập 12/12/2018.

49 Reed, E. W., Rose, P.S., & Woodland, D.L. (1976). Commercial Banking. New York: Prentice- Hall. Retrieved September 17, 2013, http://books.google.com , ngày truy cập 12/12/2018.

43

hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng theo cách thức nào thì ngân hàng đều được nhấn mạnh đến hoạt động.Hoạt động chủyếucủa NHTM là huyđộng vốn,tái cung cấp vốn cho nền kinh tế và cung ứng dịch vụ thanh toán, ngoài ra NHTM tham gia thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác. Các hoạt động NHTM phần lớn tập trung vào các nghiệp vụ ngắn hạn. Trong đó, nhóm hoạt động huy động vốn, tín dụng và thanh toán có thể được coi là những hoạt động truyền thống và điển hình của NHTM (trong nhiều tài liệu được nhắc đến với thuật ngữcore banking business hoặc tranditional banking business, sau đây được gọi là hoạt động ngân hàng truyền thống). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các NHTM ngày càng đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, bên cạnh các hoạt động “core banking business”,NHTM đã thực hiện nhiều hoạt động đầu như như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, mua bán trái phiếu doanh

nghiệp,…Các hoạt động có tính chất đầu tư do NHTM thực hiện ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với ngân hàng, đối với thị trường tài chính và nền kinh tế.

– Quan niệm thếgiới và theo pháp luật Việt Namvềhoạt động đầu tư của NHTM

Đầu tư là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong phạm trù kinh tế và pháp luật. Xác định nội hàm khái niệm đầu tư, đa số các nghiên cứu tiếp cận theo cách thức thực hiện hoạt động.Cụ thể:

Khái niệm đầu tư theo cách hiểu phổ thông làviệc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội”50.

Theo từ điền Black Law (2014)“đầu tư” (Investment) chỉ hoạt động bỏ chi phí, phí tổn để tạo lập nên tài sản, giá trị quyền sở hữu nhằm tạo ra lợi nhuận hoặc vốn đầu tư cơ bản” 51.

Về mặt pháp lí, Luật Đầu tư năm 2014 quy định “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư đểthực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế;

50 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 301 51 Black’s law (2004), tái bản bổ sung lần thứ 10, Bryan A.Garner, tr. 965.

44

đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”52. Sự khác biệt cơ bản của hoạt động đầu tư với hoạt động thương mại kinh doanh là hoạt động có tính chất

tạo lập (bỏ vốn, tài sản) nhằm hình thành cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như các điều kiện khác để thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận.

Tác giả Vũ Hoàng Nam (2015) bên cạnh xách định nội hàmthuật ngữ “đầu tư” theo cách thức thực hiện hoạt động, đồng thời xác định theo thời gian của hoạt động,theo đó, hoạt động đầu tư (Investing) trong lĩnh vực tài chính, thường chủ yếu gắn liền với việc mua và nắm giữ các công cụ đầu tư như cổ phiếu,trái phiếu, chứng chỉ quỹ hoặc các công cụ đầu tư khác trong thời gian dài (có thể vài năm hoặc dài hơn) nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sơ hưởng lãi (trái tức,cổ tức,v.v.)53. Điểm khác biệt hoạt động đầu tư so với hoạt động kinh doanh (trading) là hoạt động kinh doanh có thời hạn nắm giữ công cụ đầu tư thường ngắn.

Như vậy, tiếp cận hoạt động đầu tư từ nội hàm thuật ngữ “đầu tư” có phạm vi tương đối rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động bỏ vốn, tài sản của nhà đầu tư theo các hình thức và cách thức nhằm mục đích lợi nhuận hoặc trong nhiều trường hợp là mục đích kinh tế, xã hội khác. Hoạt động đầu tư thường hướng đến thời gian dài thay vì kiếm lời ngắn hạn. Tuy nhiên, khi tiếp cận hoạt động đầu tư trên khía cạnh một hoạt động do ngân hàng thực hiện, nội hàm hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi hẹp hơn và không đồng nhất trong các nghiên cứu và thực tiễn.

Về hoạt động đầu tư của NHTM

Trong cuốn từđiển Black’s Law (2014), hoạt động ngân hàng đầu tư hay nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (investment banking) được xác định là hoạt động bảo lãnh phát hành hoặc mua bán chứng khoán nhưcổphiếu, trái phiếu54. TácgiảThomas M.Hoenig và Charless S. Morris xác định hoạt động đầu tư của ngân hàng là nhóm hoạt động bao gồm bảo lãnh phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) và cung cấp dịch vụ tư vấn55. Tác giả Mạc Quang Huy (2009) trong “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” khi nghiên cứu mô hình ngân hàng đầu tư trong đó có mô hình ngân hàng đầu tư tổng hợp có đề cập đến kháiniệm “nghiệp vụ đầu tư” trong đó xác định

52 Luật Đầu tư năm 2014, Khoản 5 Điều 3

53 Vũ Hoàng Nam (2015), “Hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, tr.15.

54 Black’s Law Dictionary, (2004), tr. 954.

55Thomas M.Hoenig and Charless S. Morris, tlđd, tr. 23.

45

gồm “môi giới vàđầu tư”,môi giới chủyếu áp dụng cho sản phẩm chứng khoán niêm yết, đầu tư bao gồm nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng và hoạt động tự doanh 56. Cách tiếp cận này thường gắn với các nghiên cứu đề cập đến mô hình ngân hàng

đầu tư (investment bank) – định chế tài chính lấy hoạt động kinh doanh chứng khoán làm nòng cốt.

Tại các nghiên cứu khác, tác giả Lê Thị Hương định nghĩa hoạt động đầu tưcủa NHTM theo phương pháp liệt kê với phạm vi tương đồng với khái niệm về hoạt động đầu tư, không có sựphân biệt vềthời hạn nắm giữcông cụđầu tư, theođó“hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm: đầu tư phát triển như đầu tư trang thiết bị,

cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản đề cho thuê tài chính,…và đầu tư tài chính như cho

vay, đầu tư chứng khoán Chính phủ,…”57. Tác giả Đặng Minh Châu (1995)có đềcập đến “nghiệp vụđầu tư” bên cạnh các nghiệp vụcho vay, huy động vốn của NHTM, theo đó “Nghiệp vụ đầu tư (hay còn gọi là nghiệp vụ chứng khoán) là nghiệp vụ sinh lời của của NHTM. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng tham gia vốn vào hai loại chứng khoán, thứ nhất là đầu tư vào các chứng khoán nhà nước, thứ hailà đầu tư vào các chứng khoán xí nghiệp”58.

Tác giả Trương Quốc Cường (2000), khi nghiên cứu hoạt động ngân hàng, tập trung vào hoạt động đầu tư theo dự án có đưa ra quan điểm về hoạt động đầu tư của ngân hàng. Theo tác giả, mỗi ngân hàng đều có một chính sách đầu tư và hoạt động đầu tư của ngân hàng được điều hành rất chặt chẽ nhằm đảm bảo thu được lợi nhuận và an toàn vốn của người kí thác. Hoạt động đầu tư của ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú, sức mạnh biến tiết kiệm thành đầu tư của ngân hàng được thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động như sau: (1) Tham gia các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán; (2) Đầu tư vào các công ty con và công ti liên kết; (3) Hoạt động tín dụng thuê mua (Tín dụng thuê mua là hoạt động cho thuê động sản và bất động sản, trong đó người thuê lựa chọn tài sản cần thiết cho mình và đề nghị người cho thuêmua tài sản đó); (4) Thực hiện tài trợ các dự án đầu tư của doanh nghiệp. Đầu tưtheo dự án là một hoạt động phổ biến của ngân hàng trong thời kì đầu của nền kinh

56 Mạc Quang Huy, tlđd,tr.25.

57 Lê Thị Hương (2002), Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận Án Tiến sĩ Kinh tế, tr.16.

58 Đặng Minh Châu (1995), Đa năng hóa hoạt động ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, tr.53.

46

tế thị trường. Đây là hoạt động tín dụng trung – dài hạn nhằm tăng năng lực sản xuất cho các doanh nghiệp59.

Như vậy, qua nghiên cứu, tựu chung lại có nhiều cách tiếp cận khác nhau vềhoạt động đầu tư của NHTM:

Thứ nhất, dựa trên cách tiếp cận từ kháiniệm đầy đủ của hoạt động đầu tư, hoạt động đầu tư của NHTM được xem xét dựa trên việc sử dụng nguồn vốn để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai. Theo cách tiếp cận này, hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi rộng và đa dạng thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau như đầu tư phát triển (đầu tư vào

trang thiết bị, nhà cửa, cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản cho thuê tài chính…), hoạt động cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán, các hoạt động khác như kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối,… Trong báo cáo tài chính của các ngân hàng,hoạt động đầu tư cũng được liệt kê gồm các khoản từ các hoạt động mua sắm, thanh lí, nhượng bán

tài sản cố định, tiền đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác,…

Thứ hai, có thể xem xét là tiếp cận trên phạm vi hẹp. Cách tiếp cận này được được đề cập đến trong hầu hết các nghiên cứu của nước ngoài khi đánh giá về hoạt động của NHTM. Theo quan điểm này, hoạt động đầu tư được xem xét là các hoạt động nằm ngoài động ngân hàng cơ bản và hoạt động đầu tư phát triển. Hoạt động đầu tư của NHTM là hoạt động sử dụng vốn, tài sản nhằm tạo ra nguồn lợi vật chất bao gồm hoạt động góp vốn, mua cổ phần; hoạt động đầu tư chứng khoán và hoạt động khác như uỷ thác đầu tư, kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối. Điểm lưu ý ở đây là hoạt động đầu tư chứng khoán được các nhà nghiên cứu và thực tế xem xét với nội hàm khá rộng gồm hoạt động bảo lãnh chứng khoán, tự doanh chứng khoán, môi giới.

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, nhằm tập trung làm rõ các vấn đề nổi cộm, có tính cấp thiết trong thực tiễn, luận án xác định nội dung nghiên cứu hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện chỉtrong phạm vi hẹp. Cơsởxác định phạm vi nghiên cứu này dựa trên hai lí lẽ: Một là, qua đánh giá về tình hình nghiên cứu vềNHTM nói riêng và TCTD nói chung cho thấy, các hoạt động ngân hàng truyền thống bao gồm hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán rất được

59 Trương Quốc Cường (2000), tlđd, tr 40-45.

47

quan tâm, là đối tượng nghiên cứu trong nhiều công trình cảkhía cạnh kinh tếvà pháp lí; Hai là, thực tiễn hoạt động của các NHTM tại Việt Nam, trong các hoạt động đầu tư, nhóm hoạt động giữ vai trò ngày càng quan trọng có đóng góp và nguồn thu cho hoạt động của ngân hàng, trở thành một xu hướng trong vận hành hoạt động của NHTM trên thế giới tập trung vào hoạt động góp vốn, mua cổ phần,hoạt động đầu tư chứng khoán và hoạt động uỷthácđầu tư. Các hoạt động đầu tư khác do ngân hàng thực hiện như kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối cũng sẽ không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án. Đối với hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, mặc dù được đề cập rất nhiều trong nghiên cứu nước ngoài, gắn liền với hoạt động chứng khoán song bởi hiện nay pháp luật ngân hàng Việt Nam qui định rất rõ ràng các TCTD không được trực tiếp thực hiện nghiệp vụkinh doanh này, do đó cũng không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án.

Tóm lại, từ những phân tích ở trên, có thể đi đến kháiniệm về hoạt động đầu tư của NHTM làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu như sau:“hoạt động đầu tư của NHTM được hiểu là việc NHTM trực tiếp bỏ vốn, tài sản nhằm góp vốn thành lập doanh nghiệp, mua bán các công cụ đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu và các loại

chứng khoán khác hoặc uỷ thác cho bên thứ ba thực hiện các hoạt động đầu tư

nhằm tìm kiếm lợi nhuận”. Dưới cách tiếp cận này, luận án cũng xác định giới hạn nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần; hoạt động đầu tư chứng khoán và hoạt động uỷ thác đầu tư60. Các nhóm hoạt động đầu tư này của NHTM cũng là vấn đề được quan tâm trong nghiên cứu pháp luật và thực tiễn tại nhiều

quốc gia trên thế giới và cũng là vấn đề còn tồn tại bấp cập tại Việt Nam.

1.1.2. Đặc điểm hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

Xuất phát từ tính chất rủi ro của hoạt động ngân hàng, cũng như vị trí, vai trò, sức ảnh hưởng đặc biệt của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế, hoạt động đầu

60 Hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM là hoạt động đầu tư có tính chất dài hạn, theo đó NHTM

thực hiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế để trở thành cổ đông hoặc công ti mẹ của công ti góp vốn.

Đầu tư chứng khoán là hoạt động NHTM bỏ vốn thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận.

Hoạt động đầu tư chứng khoán được xem xét trong luận án có tính tương đồng với hoạt động tự doanh chứng khoán do NHTM thực hiện. Uỷ thác đầu tư được hiểu là việc NHTM giao vốn bằng tiền cho bên thứ ba thực hiện một số hoạt động đầu tư.

48

tư của NHTM có một số đặc trưng nhất định so với hoạt động đầu tư của các chủ thểkinh doanh thông thường khác và so với hoạt động kinh doanh truyền thống của NHTM.

Thứ nhất, hoạt động đầu tư của NHTM chứa đựng rủi ro

Liên quan đến tính chất rủi ro của hoạt động đầu tư do ngân hàng thực hiện, qua nghiên cứu cho thấy tồn tại hai hướng quan điểm.

(i) Quan điểm đầu tiên, đồng thời là xu hướng hiện nay trong quản lí hoạt động ngân hàng cho rằng, việc cho phép NHTM thực hiện hoạt động đầu tư, đặc biệt hoạt động chứng khoán chứa đựng rủi ro, do đó cần tách bạch hoạt động của NHTM với các hoạt động mang tính chất đầu tư. Rủi ro của hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện, đặc biệt đầu tư chứng khoán được đề cập trong nhiều nghiên cứu, trong đó chủyếu nhấn mạnh đến vấn đề xung đột lợi ích (conflict of interest) và sự an toàn và lành mạnh của ngân hàng cũng như hệ thống (bank safety and soundness).

Xung đột lợi ích được hiểu là “một sự xung đột lợi ích tồn tại khi một người phục vụ hai hoặc nhiều bên và có thể dành lợi ích cao hơn cho một bên ở cùng mức chi phí 61”. Khi các NHTMvớimong muốnmởrộng sang các hoạtđộng đầu tư, trong đó chủ yếu vào hoạt động chứng khoán, sự xung đột lợi ích sẽ nảy sinh bởi vịthế của chính ngân hàng với tư cách trung gian tài chính, tức nhà tư vấn cho người gửi tiền hoặc trong nhiều trường hợp giữ vị trí như nhà quản lí quỹ uỷ thác. Sự xung đột lợi ích có thể gia tăng bởi cơ hội của ngân hàng để thực hiện các giao dịch với khách hàng (ngân hàng có thểgây áp lực vớikhách hàng vay tiền buộc phải mua dịch vụ bảo lãnh phát hành dưới sự đe dọa của chi phí tín dụng tăng hoặc không gia hạn hạn mức tín dụng). Xung đột lợi ích cũng có thể gia tăng bởi “thông tinnội bộ”

(internal information). Ví dụ ngân hàng có thể sử dụng thông tin bảo mật mà họ cóđược khi thực hiện các hoạt động chứng khoán hay hoạt động ngân hàng và cung cấp/ tiếtlộthông tin này mộtcách trực tiếp hoặc gián tiếp chođối thủcạnh tranh hoặc sử dụng thông tin làm lợi thế kinh doanh.

Tiếp đó, hoạt động đầu tư của ngân hàng có thể có tác động đến sự an toàn và lành mạnh của ngân hàng và cả hệ thống. Ngân hàng luôn được xác định là chủ thể

61 Joao A.C Santos (1998), tlđd, tr 9-12.

49

có tiềm lực tài chính mạnh và tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Việc ngân hàng tham gia vào hoạt động đầu tư (thường có tính chất dài hạn và chứa đựng rủi ro nhất định)sẽ tác động đến quản lí dòng tiền ngân hàng và việc đảm bảo khả năng thanh toán cũng như tính thanh khoản. Bên cạnh đó, sự tham gia của ngân hàng vào các hoạt động tài chính, hoạt động khác trong nền kinh tế thông qua việc góp vốn, mua cổ phần, thành lập mới công ti con, công ti trực thuộc có thể tạo nên mạng lưới và nguy cơ tác động đến nền kinh tế nếu hoạt động ngân hàng hay tập đoàn không được đảm bảo.Trong trường hợp này, đặt ra gánh nặng với Chính phủ trong đảm bảo an toàn hệ thống và phải thực hiện các can thiệp tài chính.

Quan điểm ủng hộ sự phân tách hoạt động đầu tư và hoạt động ngân hàng truyền thống do tính chất rủi ro của nhóm hoạt động này thể hiện rõ ràng nhất bắt đầu tư sau

khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, khi Quốc hội Hoa Kì thông qua Đạo luật Glass –Steagall. Việc luật pháp thời điểm đó cho phép các ngân hàng được tự do thực hiện hoạt động chứng khoán mà thiếu sự kiểm soát đã dẫn đến những hậu quả nặng nề. Cụ thể từ giữa năm 1929 và 1933, hơn 4000 ngân hàng tại Hoa Kì đã đóng cửa vĩnh viễn, làm ảnh hưởng rất lớn đến hàng triệu người gửi tiền và tạo ra một khoản lỗ gần 400 triệu USD đến các nhà đầu tư. Thậm chí vào tháng 3/1933 Tổng thống Roosevel đã buộc phải đóng cửa toàn bộ hệ thống ngân hàng trong bốn ngày62. Nhiều nghiên cứu của các tác giảnhư Lia K.Thomas (2005)63, Bierman Harold (2003)64 cũng khẳng định NHTM và công ti chứng khoán là nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế do xung đột lợi ích.

Tại Việt Nam, Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) cũng cho rằng, nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng cần tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư và hoạt động NHTM, nghĩa là NHTM không nên thực hiện chức năng kinh doanh đa ngành như hiện nay, mà thay vào đó NHTM chỉ có dịch vụ thanh toán- tài chính, huy động và cấp tín dụng bởi tính rủi rotừhoạt động này là rất lớn65. Tác giảTạHoàng Hà (2015)66 trong nghiên cứu về ngân hàng đầu tư cũng khẳng định,về mặt

62 James Larder (2009), A brief History of the Glass – Steagal Act, tr. từhttps://www.demos.org/research/brief-history-glass-steagall-act

63 Lia K.Thomas (2005), The Bussiness of Investment Banking, John Wiley & Son, Inc., tr.15. 64 Bierman Harold (2003), tlđd, tr.30.

65 Trần Dục Thức và nhóm tác giả, tlđd, tr. 75-76. 66 Tạ Hoàng Hà, tlđd, tr.133.

50

kinh tế, xung đột lợi ích tiềm tàng giữa hoạt động chứng khoán và hoạt động NHTM có khả năng làm giảm động lực của NHTM, độ tập trung của quản lí khoản vay dài hạn. Tạ Hoàng Hà cho rằng hoạt động chứng khoán nên được thực hiện bên ngoài ngân hàng, loại bỏ lợi thế cạnh tranh một tổ chức như ngân hàng có thể giúp công tác quản lí được thực hiện dễ dàng hơn với chi phí thấp hơn.

(iii) Quan điểm thứ hai

Bên cạnh việc gắn hoạt động đầu tư của ngân hàng với tính rủi ro, một sốnghiên cứu đưa ra quan điểm ngược lại. Tabarrok (1998)67 chỉ ra mặc dù đạo luật

Glass – Steagall nhằm gia tăng mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng và giảm xungđột lợi ích, tuy nhiên xung đột lợi ích trên không đáng kể. Thậm chí, Macey (1991)68 khẳng định việc ngăn cấm thực hiện hoạt động ngân hàng đầu tư (chủ yếu thực hiện các hoạt động chứng khoán)sẽgia tăng rủi ro tại các NHTM. Ôngchỉra, chứng khoán nói chung (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) có ít rủi ro hơn tín dụng,đầu tưvào chứng khoán là khoản đầu tư có tính thanh khoản và đại chúng cao. Tính thanh khoản này giúp cho các ngân hàng dễ cân bằng trạng thái, đồng thời tính đại chúng của hoạt động chứng khoán làm tăng hiệu quả hoạt động của các NHTM69.

Đối với vấn đề này,quan điểm của chúng tôi cho rằng,hoạt động đầu tư của NHTM có rính rủi ro nhất định đối với hoạt động của ngân hàng. Ngoài vấn đề xung đột lợi ích và an toàn hệ thống đã được đề cập, tính rủi ro này còn xuất phát từ thực tế thị trường tài chính Việt Nam và đặc trưng hoạt động của NHTM.Trước hết, quy mô thị trường tài chính tại Việt Nam hiện nay còn nhỏ, tiềm lực vốn và khả năng tài chính của các chủ thể trên thị trường còn hạn chế, việc đáp ứng tiêu chuẩn an toàn như Basel II của các ngân hàng ở mức thấp. Từ sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, những mặt hạn chế trong cả hệ thống TCTD bộc lộ với các số liệu đáng lo ngại vềsở hữu chéo,nợ xấu.Hai là, xem xét đặc điểm từ chính chủ thể thực hiện hoạt động là các NHTM và hoạt động đầu tư. Các NHTM so sánh tương quan trên thị trường là chủ thể có khả năng tài chính lớn, nhưng lĩnh vực hoạt động rất nhạy cảm,độ rủi ro cao. Các biến động thị trường, yếu tố chính trị, chính sách pháp luật và bản thân

67 Tabarrok, A., tlđd. tr.6.

68 Macey, J.R., M.W. Marr, and S.D. Young (1991), The Glass – Steagall Act and the Rishkiness of Financial Intermediaties, Research in Law and Economics 14.

69Macey, J.R., M.W. Marr, and S.D. Young tlđd, tr.19-30.

51

tính cạnh tranh cũng có thể đẩy ngân hàng đến khó khăn. Việc sử dụng vốn, cơ cấu vốn và đảm bảo tỉ lệ an toàn có vai trò rất quan trọng. Trong khiđó, hoạt động đầu tư bao gồm góp vốn, mua cổ phần và đầu tư chứng khoán là các hoạt động có tính chất dài hạn, bản thân cũng chứa đựng rủi ro. Tính rủi ro của hoạt động đầu tư chứng khoán xuất phát từ nhiều nguyên nhân như hệ thống (rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro sức mua) hoặc rủi ro phi hệ thống (rủi ro kinh doanh, rủi ro quản lí). Hay hoạt động góp vốn, mua cổ phần có thể tạo nên các mối quan hệ có tính sở hữu gắn liền với quyền lợi (sở hữu chéo), do đó có thể làm phát sinh các giao dịch bất hợp lí, các giao dịch có tính chất phi thị trường, không dựa trên quan hệ giá cả dẫn đến nguy cơ rủi ro trong hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Việc sử dụng vốn của ngân hàng vào các hoạt động đầu tư có khả năng sẽđe doạ đến sự ổn định dòng tiền của các ngân hàng, tăng mức độ tác động của các yếu tố khách quan từ nền kinh tế đến hoạt động của ngân hàng.Cũng chính vì tính chất rủi ro, nhạy cảm trong quá trình ngân hàng thực hiện hoạt động đầu tư mà các quốc gia, dù vận hành theo mô hình ngân hàng nào (đa năng hay chuyên doanh) thì pháp luật đều đặt ra quy định chặt chẽ trong quản lí dòng tiền, quản línguồn vốn và đặt ra các quy định về đảm bảo an toàn rất khắt khe đối với các ngân hàng.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *