Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Điều 2, Hiếp pháp năm 2013 đã xác định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [82]. Do đó, trong tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước cần xây dựng cơ chế vận hành bảo đảm nguyên tắc tất cảquyền lực thuộc về nhận dân. Điều 8, Hiến pháp 2013 chỉ rõ “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [82]. Để quản lý xã hội bằng pháp luật, Nhà nước cần hoàn thiện pháp luật, tăng tính cụ thể, khảthi của các qui địnhtrong hệ thống văn bản qui phạm pháp luật, đồng thời hoàn thiện những phương thức, biện pháp quản lý, đảm bảo hiệu lực, hiệu quảvà tăng cường khả năng điều chỉnh bằng pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đềxây dựng và hoàn thiện pháp luật là một chức năng cơ bản của Nhà nước, vừa là nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài vừa là nhiệm vụ trước mắt. Trong Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, khi đề cập đến các giải pháp xây dựng pháp luật có nêu: “cần nghiên cứu khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ quốc tế) và qui tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật” [12]. Xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, ngoài việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật pháp lý tiên tiến, cần kế thừa, phát huy yếu tố tích cực của tập quán vận dụng vào công tác lập pháp, công tác quản lý xã hội.

Trên khía cạnh văn hóa, việc phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc được Đảng ta hết sức quan tâm. Theo đó, nghị quyết Đại hội Đảng qua các thời kỳ đã thể hiện tính nhất quán về sự lãnh đạo của Đảng đối với nội dung này. Văn kiện Đại hội XI tiếp tục làm rõ hơn yêu cầu phát huy các giá trị văn hóa, trong đó Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 chỉ rõ: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người” [17]. Từ việc tổng kết rút kinh nghiệm mười năm thực hiện Nghịquyết TW5 (khóa VIII), Nghị quyết TW9 (khóa XI) tiếp tục khẳng định làm sâu sắc thêm quan điểm xây dựng và phát triển văn hóa: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”, và khi nói về nhiệm vụ, nghị quyết nêu rõ “Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; các giá trị tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng” [3].

Như vậy, việc khai thác các giá trị văn hóa nói chung và nghiên cứu tập quán, luật tục nói riêng để xác định giá trị của nó nhằm vận dụng trong quản lý xã hội là chủ trương có tính hệ thống của Đảng, Nhà nước, là yêu cầu đòi hỏi từ thực tiễn khách quan.

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Thái có quá trình lịch sử phát triển lâu đời, với nền văn hóa phong phú, độc đáo; người Thái có tiếng nói và chữ viết riêng. Ngoài ra, cộng đồng dân tộc Thái có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vùng cư trú của người Thái là những địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh, là vùng đa dạng về tài nguyên thiên nhiên, đã và đang góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Luật tục người Thái là một yếu tố cấu thành văn hóa Thái. Với những đặc điểm riêng, luật tục người Thái có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật. Hệthống luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng, tựquản ở cộng đồngdân cư, điều hòa xã hội, trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của người Thái.

Tuy có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, song hệ thống luật tục người Thái cho tới nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, nhất là nghiên cứu những giá trị xã hội của luật tục người Thái vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồngngười Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án tìm hiểu luật tục người Thái, tập trung phân tích, đánh giá những giá trị xã hội của luật tục người Thái, nhằm tìm ra những khả năng có thể vận dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái. Trên cơ sở đó đềxuất những quan điểm và giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam, góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, luật tục người Thái trong điều kiện hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước, từ đó đánh giá kết quả nghiên cứu, đồng thời rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu có chiều sâu hơn đối với đề tài.

Hai là, phân tích cơ sở lý luận về luật tục, luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở Việt Nam. Cụthể: Khái quát nguồn gốc, lịch sử, văn hóa, đặc trưng của người Thái, vị trí của cộng đồng người Thái trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; làm rõ khái niệm luật tục, luật tục người Thái; tìm hiểu đặc điểm; phân tích mối quan hệgiữa luật tục người Thái với pháp luật và vai trò của luật tục người Thái trong lịch sử cộng đồngngười Thái; luận giải khái niệm vận dụng, phương thức vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái; tìm hiểu khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước; khái niệm, nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước; phân tích các điều kiện đảm bảo vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái; tìm hiểu kinh nghiệm vận dụng tập quán, luật tục của một số quốc gia trên thếgiới và ở Việt Nam, rút ra bài học tham khảo trong thời gian tới; luận giải một số vấn đềđặt ra về vận dụng luật tục nói chung và luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người dân tộc thiểu số và cộng đồng người Thái hiện nay.

Ba là, phân tích những giá trị xã hội của luật tục người Thái ở Việt Nam hiện nay; tiến hành khảo sát thực tế, đánh giá khách quan thực trạng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam.

Bốn là, xác định rõ quan điểm vận dụng luật tục và đề xuất, luận chứng các giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung bộ Việt Nam.

3. Đối tượng vàphạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là luật tục người Thái ở Việt Nam và sự vận dụngtrong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam; các vấn đề liên quan như: cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc vận dụng luật tục người Thái trong quản lýnhà nước đối với cộng đồng người Thái; các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật có ảnh hưởng đến quả trình vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồngngười Thái Việt Nam nói chung, người Thái ở Bắc Trung BộViệt Nam nói riêng.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu luật tục tiếp cận dưới góc độ khái niệm, đặc điểm luật tục người Thái và mối tương quan của luật tục người Thái với pháp luật; đánh giá vai trò của luật tục người Thái trong lịch sử đời sống cộng đồng người Thái; tìm hiểu kinh nghiệm vận dụng luật tục trên thế giới và Việt Nam. Từ những luật tục đã được văn bản hóa và kết quả sưu tầm trong nhân dân, tác giả đã chọn lựa, phân loại, phân tích những giá trị xã hội của luật tục người Thái tương tác với một số nội dung quản lý nhà nước hiện hành, nhất là quản lý hành chính nhà nước đối với cộng đồng người Thái.

Phạm vi nghiên cứu vận dụng luật tục. Phạm vi nghiên cứu vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đi sâu đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam. Đặc biệt tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị; khảo sát nhận thức về luật tục của cán bộ, công chức, viên chức cấp xã;khảo sát, đánh giá kết quả vận dụng luật tục của một số xã có người Thái cưtrú tập trung ở hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An. Từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước, chủ yếu là quản lý hành chính nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận: Luận án nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng và củng cốchính quyền cơ sở, cộng đồng làng xã ở Việt Nam hiện nay. Đặc biệt là các quan điểm về dân tộc, đoàn kết dân tộc, quản lý nhà nước và tự quản cộng đồng, về thực hiện dân chủ cơ sở, quan hệ giữa pháp luật, luật tục, phong tục tập quán.

4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp lịch sử, lô gích, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê v.v…Cụ thể ở chương 1, luận án sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp; chương 2, sửdụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử và so sánh; chương 3, sử dụng kết hợp các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, phương pháp xã hội học, điền dã, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp; chương 4, luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử và so sánh để giải quyết những vấn đềđặt ra.

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

– Phân tích đặc điểm, sự tương đồng và khác biệt giữa luật tục người Thái với pháp luật; luận giải nội dung của luật tục người Thái trong mối tương quan với pháp luật và kết luận: Luật tục người Thái có vị trí độc lập tương đối với pháp luật, đó là Một, trong điều kiện nhất định, luật tục người Thái có khả năng thay thế pháp luật; Hai, luật tục người Thái có khả năng bổ sung cho pháp luật; Ba, luật tục người Thái có khả năng hỗ trợ cho pháp luật; Bốn, những giá trị tích cực của luật tục người Thái là tinh hoa văn hóa dân tộc Thái, có giá trị xây dựng, cố kết cộng đồng lớn lao.

– Luận giải quan niệm về vận dụng luật tục người Thái trong quản lý Nhà nước đối với cộng đồng người Thái, đó chính là đưa tri thức địa phương, tri thức cộng đồng của người Thái bổ sung, hỗ trợ cùng pháp luật quản lý cộng đồng người Thái có hiệu quả.

– Luận giải giá trị, vai trò của luật tục người Thái trên một số nội dung chủ yếu sau: Một, luật tục người Thái luôn ứng xử hài hòa với tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt nhấn mạnh công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý đất đai, nguồn nước; Hai, luật tục người Thái luôn hướng tới xây dựng khối đại đoàn kết cộng đồng bền vững, trong đó nhấn mạnh tính tương thân, tương ái và bình đẳng dân tộc; Ba, luật tục người Thái giáo dục cộng đồng luôn tuân thủpháp luật, luật tục, đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng ý thức cho cộng đồng trong phòng ngừa tội phạm, trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ Tổ quốc.

– Nhận xét, đánh giá một số vấn đềđặt ra từ thực trạng nhận thức vềluật tục người Thái và kết quả vận dụng luật tục người Thái của chính quyền cơ sở vùng dân tộc Thái Bắc Trung Bộ: Một, những giá trị của luật tục người Thái hiện nay đứngtrước nguy cơ bị mai một; hai, chính quyền cơ sở vùng dân tộc Thái chưa thực sự quan tâm vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước; ba, chính quyền cơ sở và cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộcó nguyện vọng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái.

– Một số nhóm giải pháp nhằm vận dụng luật tục người Thái đối với cộng đồng người Thái: Một, nhóm giải pháp về tổ chức, trong đó nhấn mạnh việc thành lập Tổ tư vấn phong tục tập quán ở thôn, bản và Hội đồng tư vấn phong tục tập quán cấp xã; hai, nhóm giải pháp về kỹ thuật, nhấn mạnh việc vận dụng gắn với một số lĩnh vực quản lý nhà nước về: Văn hóa, giáo dục, y tế, tài nguyên, quốc phòng, an ninh; xây dựng qui chế phối hợp…; ba, nhóm giải pháp về nâng cao năng lực cho các chủ thể; bốn, nhóm giải pháp vềnguồn lực tài chính; năm, giải pháp tổ chức thực hiện.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về lịch sử nhà nước và pháp luật thông qua nghiên cứu luật tục và luật tục người Thái. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

– Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo giúp cho chính quyền các cấp, đặc biệt là chính quyền cơ sở và bộ máy tự quản ở làng, bản vùng có người Thái cư trú tập trung ở Bắc Trung Bộ có thêm định hướng trong công tác quản lý xã hội của địa phương mình; giúp cho các thôn, bản vận dụng trong xây dựng hoàn thiện qui ước mới, hương ước mới của thôn, bản nhằm kết hợp đồng bộ giữa pháp luật với tập quán truyền thống của người Thái, thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, xây dựng nông thôn mới.

– Luận án phản ánh thực trạng của văn hóa Thái và yêu cầu về giữ gìn, phát huy bản sắc của văn hóa – luật tục người Thái. Tạo động lực, cơ hội đểcộng đồngngười Thái nói chung, người Thái Bắc Trung Bộ nói riêng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

– Luận án là tài liệu tham khảo cho cán bộ chuyên môn tham mưu quản lý lĩnh vực văn hóa, xã hội và các nhà doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về văn hoá, luật tục người Thái ở Việt Nam; tạo điều kiện đểcán bộ miền xuôi lên công tác vùng đồng bào dân tộc Thái tìm hiểu văn hóa, phong tục, vận dụng có hiệu quả cho nhiệm vụ của mình. Đồng thời là tài liệu hữu ích đối với sựlãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 11 tiết.

Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam
Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI

1.2. CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ TRONG NƯỚC

1.2.1. Công trình nghiên cứu có liên quan đến luật tục của các dân tộc ở Việt Nam

1.2.2. Công trình nghiên cứu liên quan đến người Thái ở Việt Nam

1.3. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.3.1. Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài 1.3.1.1. Một số kết quả đạt được

Công trình nghiên cứu về luật tục, hình thức tập quán pháp được đông đảo cácnhà khoa học chính trị, khoa học pháp lý, các nhà dân tộc học… trên thế giới rất chú ý, đặc biệt tập trung ở các nước lúc bấy giờ có thuộc địa, như

21

Anh, Pháp, Tây Ban Nha…, trọng tâm nghiên cứu phải đến thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX mới được các nhà cầm quyền của các quốc gia có thuộc địa và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu có tính hệ thống hơn.

Những nhận định bước đầu, có ý nghĩa định hướng nhận thức và thôi thúc các nhà cầm quyền và nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đó là quan điểm: Tất cả những hiện tượng văn hóa đều cần thiết và mang chức năng nhất định trong một xã hội nhất định.

Từ những sự quan tâm đó, việc nghiên cứu luật tục được thực hiện thông qua các bước, từ việc sưu tầm, phân loại luật tục đến việc đánh giá, vận dụng, phổ biến luật tục. Các công trình nghiên cứu đã góp phần làm phong phú thêm khối tư liệu khoa học trên nhiều lĩnh vực lịch sử, nhân học, văn hóa học…, đặc biệt hơn đã góp phần làm phong phú thêm môn khoa học pháp lý cũng như khoa học quản lý; mặt khác những công trình nghiên cứu nêu trên là kho tư liệu có ý nghĩa tham khảo để lại cho thế hệ mai sau tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu và phát triển.

Thông qua nhiều công trình nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn, cơ bản các nhà khoa học đều thống nhất khẳng định: tập quán, luật tục, ngoài việc nó có giá trị trong các môn khoa học khác (dân tộc học, nhân loại học, văn hóa học…), còn có giá trị trong khoa học quản lý. Nếu việc nghiên cứu có tính hệ thống, vận dụng một cách hài hòa sẽ giúp cho chính quyền quản lý có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số.

Một trong những đóng góp lớn nhất của những công trình nghiên cứu này là việc đưa các lý thuyết về tiến bộ xã hội trở thành những nấc thang quan trọng trong quá trình phát triển của loài người, của các thể chế Nhà nước. Từviệc con người nô lệ, số phận phụ thuộc trở thành có tự do hơn; từ một xã hội bảo thủ, độc tài, vô dân chủ trở thành một xã hội dân chủ và văn minh hơn…

1.3.1.2. Một số vấn đề chưa được quan tâm

Nhìn chung, chủ thể nghiên cứu hình thức tập quán pháp trên thế giới chỉ mới tập trung ở các nước có thuộc địa, chưa lan rộng thành môn khoa học chung, có tính phổ thông để tất cả cácnhà khoa học, các chính quyền vào cuộc. Đối tượng nghiên cứu cũng chỉ tập trung ở các nước thuộc địa, hoặc phạm vi cộng đồng nhỏ hẹp, cộng đồng thiểu số.

22

Việc nghiên cứu luật tục nhằm mục đích vận dụng vào quản lý xã hội chưa thực sự rõ nét, khó thực hiện trên thực tế, có khi xảy ra xung đột giữa luật quốc gia và tập quán; ở châu Á, đặc biệt là Việt Nam, chưa có nhiều học giả nước ngoài nghiên cứu vai trò của luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt, nhất là nghiên cứu đề xuất những giá trị của luật tục để vận dụngvào quản lý nhà nước, quản lý xã hội thì còn hạn hữu. Hoặc có chăng nữa chỉ mới tập trung ở một số cộng đồng thiểu số ở Tây Nguyên (Việt Nam), chưa thật sự quan tâm nghiên cứu luật tục người Thái trên thếgiới nói chung và luật tục người Thái ở Việt Nam nói riêng.

Khi nghiên cứu luật tục, các tác giả chỉ mới quan tâm việc sưu tầm, tập hợp và giới thiệu là chủ yếu, hiếm có công trình nghiên cứu chiều sâu, hoặc vừa sưu tầm, vừa nghiên cứu đánh giá, đưa ranhững đềxuất mang tính khoa học, có tính thời đại.

1.3.2. Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước 1.3.2.1. Một số kết quả đạt được

Những công trình nghiên cứu luật tục các dân tộc ở trong nước tương đối đa dạng. Nhiều công trình đã đào sâu cơ sở lý luận vận dụng luật tục, hương ước đểquan lý xã hội nói chung. Trong đó, có công trình đã nghiên cứu, luận giải khá chi tiết nội dung, giá trị của luật tục và đềxuất giải pháp vận dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở. Đây là những tư liệu có ý nghĩa thực tiễn góp phần cùng pháp luật hiện hành, thể chế hiện hành quản lý xã hội có hiệu quả hơn, đồng thời là cơ sở để cộng đồng các dân tộc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của mình.

Công trình nghiên cứu về dân tộc học, lịch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc liên quan đến người Thái ở Việt Nam cho đến nay là hết sức phong phú. Nếu so sánh thật sự công bằng về những tư liệu nghiên cứu, giới thiệu văn hóa tộc người nói chung thì chỉ đứng sau những công trình nghiên cứu văn hóa của người Việt.

Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định, người Thái cũng nhưVăn hóa Thái gắn liền với lịch sự hình thành và phát triển của Quốc gia, dân tộc Việt Nam. Cộng đồng người Thái có nhiều đóng góp quan trọng, có mặt quyết địnhtrong việc xây dựng và bảo vệ đất nước qua từng thời kỳ lịch sử cụ thể.

23

Những nhà nghiên cứu đi tiên phong đó là các học giả nước ngoài đến từ nước Pháp, Thái Lan và Lào. Bước đầu, các nhà khoa học đã tiếp cận tìm hiểu văn hóa Thái theo vùng, hoặc theo nhóm riêng lẻ, các nghiên cứu đều có chiều sâu nhất định. Tiếp đến là các nhà nghiên cứu trong nước, số này có thểchia thành các nhóm nghiên cứu theo môn khoa học như: Dân tộc học, khoa học lịch sử, văn hóa học, văn hóa dân gian… Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đánh giá người Thái có bản sắc văn hóa độc đáo, nhân văn và cần được tôn trọng, nghiên cứu, tìm hiểu, lý giải một cách nghiêm túc.

Trong điều kiện hội nhập quốc tế về văn hóa và nhu cầu của đồng bào thiểu số, trong khi bản sắc văn hóa của các tộc người ngày càng bị mai một thì những công trình nghiên cứu nêu trên là những tài sản vô giá cho Việt Nam nói chung, dân tộc Thái nói riêng giữ và thắp sáng thêm ngọn lửa bản sắc văn hóa cho dân tộc mình; đồng thời là những tư liệu quí phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu lịch sử, văn hóa cộng đồng người Thái trên thế giới cũng nhưngười Thái ở Việt Nam.

Công trình nghiên cứu có liên quan đến luật tục người Thái và vai trò của nó trong quản lý xã hội. Nội dung này, so với nhóm nghiên cứu về văn hóa, lịch sử nói chung thì hạn chế về tác giả và công trình nghiên cứu khoa học hơn. Tuy nhiên, phần đa các công trình nghiên cứu luật tục người Thái vẫn là những bài nghiên cứu ngắn, khái quát, đăng trên các tạp chí hay những kỷ yếu của Hội thảo khoa học. Những nghiên cứu này ít nhiều là những luận cứ khoa học về quản lý cộng đồng, quản lý xã hội, góp phần cùng pháp luật và các thiết chế hiện hành quản lý xã hội có hiệu quả hơn.

Ởđây có thể chia vấn đề nghiên cứu luật tục ra thành ba loại, một là, dạng sưu tầm, văn bản hóa, dịch thuật, đơn thuần chỉ giới thiệu luật tục; hai là, dạng vừa sưu tầm, vừa nghiên cứu vai trò của luật tục với xã hội hiện đại; ba là, dựa vào luật tục đã được sưu tầm, giới thiệu để phân loại nó, phân tích, đánh giá ưu, khuyết điểm, giá trị của luật tục và đề xuất những giải pháp vận dụng phù hợp. Mỗi phương pháp nghiên cứu nêu trên có những ý nghĩa khác nhau, trong đó đóng góp cho việc giữ gìn và giới thiệu thuần phong mỹ tục của đồng bào Thái là nội dung cốt lõi.

24

Không chỉ nghiên cứu thực trạng trong nước, có nhiều công trình đã nghiên cứu thực tiễn diễn ra ở Trung Quốc và một số quốc gia có thể chếtương đồng với Việt Nam đểrút ra một số bài học kinh nghiệm quí báu cho qúa trình quản lý xã hội ở nước ta, những công trình nghiên cứu này thực sựđáng trân trọng và cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu, phát huy.

1.3.2.2. Một số vấn đề chưa được quan tâm

Các công trình nghiên cứu vận dụng luật tục các dân tộc trong nước trong quản lý nhà nước chưa được nhiều, vừa hạn chế về công trình và hạn chế về giải pháp kết hợp với pháp luật như thế nào, tổ chức thực hiện ra sao thì còn mờ nhạt. Đa số công trình chủ yếu vẫn là tập hợp, phân tích, đánh giá luật tục, công trình đã công bố liên quan đến việc đềxuất các giải pháp vận dụng trong quản lý nhà nước chưa được các cấp chính quyền quan tâm triển khai thực hiện, chủ yếu chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu, chưa được tổchức có hiệu quả trên thực tiễn.

Thông qua nghiên cứu, tìm hiểu tác giả cho rằng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát người Thái ở Việt Nam cư trú trên tất cả các vùng trong nước và có sự đánh giá, so sánh điểm chung và những điểm khác biệt mang yếu tố địa phương của từng vùng. Đặc biệt, rất ít công trình nghiên cứu thực trạng của của những vùng Thái trong thời kỳ đổi mới, nhất là những vùng người Thái di dân tái định cư, di dân tự do v.v…

Luật tục Thái chưa được nghiên cứu có hệ thống. Mặt khác, quá trình nghiên cứu các tác giả chưa có sự so sánh một cách đầy đủgiữa luật tục và các qui phạm pháp luật và chưa phân tích rõ những tiến bộ hay hạn chế của hệthống luật tục đó, đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu, đánh giá sâu vềnội dung, giá trị của luật tục người Thái trên nhiều lĩnh vực liên quan đến quản lý xã hội, quản lý nhà nước, nhất là vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Việt Nam nói chung, người Thái Bắc Trung Bộ nói riêng.

1.4. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU, LUẬN GIẢI SÂU HƠN

1.4.1. Về phương diện lý luận

Luận án tập trung tìm hiểu đặc điểm của luật tục người Thái và mối quan hệ giữa luật tục người Thái với pháp luật; phân tích luận giải khái niệm

25

vận dụng, phương thức vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái; làm rõ những vấn đề đặt ra về vận dụng luật tục nói chung và vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với người dân tộc thiểu số và cộng đồng người Thái ở Việt Nam hiện nay; tìm hiểu kinh nghiêm vận dụng luật trên thế giới và ở trong nước, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam.

1.4.2. Về phương diện thực tiễn

Phân tích làm rõ những giá trị xã hội của luật tục người Thái ở Việt Nam hiện nay; tiến hành khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng vận dụng luật tục người Thái trongquản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồngngười Thái; luận chứng các quan điểm, giải pháp đảm bảo vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam.

Tiểu kết chương 1

Như vậy, qua phần đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài tác giả cho rằng: trên thế giới cũng như trong nước, đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu các nội dung liên quan đến luật tục và hình thức tập quán pháp, về quản lý nhà nước, phân quyền, phân cấp, tự quản cộng đồng… Một số công trình đã mạnh dạn nghiên cứu vận dụng luật tục trong quản lý nhà nước, tuy nhiên các công trình này không nhiều và còn hạn chế về phần ứng dụng. Đa phần các công trình chỉ mới giới hạn ở việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá những giá trị của luật tục và đềxuất giải pháp lưu giữ, bảo tồn là chính, việc đề xuất các giải pháp vận dụng cụ thể chưa được các nhà khoa học chú trọng. Quá trình nghiên cứu các tác giả chưa so sánh có chiều sâu giữa luật tục và các qui phạm pháp luật; chưa có sự phân tích mối tương quan của luật tục người Thái với pháp luật. Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá công phu về những giá trị của luật tục người Thái trên nhiều lĩnh vực liên quan đến quản lý xã hội, nhất là nghiên cứu vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam thì chưa có công trìnhnào đề cập đến.

Kết quả khảo cứu các công trình cho thấy, phong phú nhất là các công trình nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu về văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam,

26

ngoài các nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu văn hóa, thì nhiều cá nhân tâm huyết đã vào cuộc sưu tầm, giới thiệu, tôn vinh về văn hóa dân tộc Thái. Những công trình nghiên cứu nói trên là nguồn tư liệu quí, trước hết làm cơsở đểtác giả tham khảo thực hiện đềtài này, và đáng trân trọng hơn đây là khối tư liệu đểcho các thế hệ mai sau nối tiếp tìm hiểu, nghiên cứu, giới thiệu, sưu tầm lưu giữ bản sắc văn hóa Thái, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong thời gian tới.

Trong điều kiện bản sắc văn hóa của các tộc người ngày càng bị mai một thì những công trình nghiên cứu nêu trên là những tài sản vô giá cho dân tộc Việt Nam nói chung, dân tộc Thái nói riêng, góp phần giữ gìn và thắp sáng thêm ngọn lửa bản sắc văn hóa cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Yêu cầu về hội nhập quốc tế ngày càng sâu, những nền văn minh trên thế giới đã và đang tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tập quán tiến bộ của các cộng đồng người phục vụ cho yêu cầu phát triển hài hòa của quốc gia mình, thì Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc.

27 Chương 2

LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI VÀNHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN VỀ VẬN

DỤNG LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM

2.1. NGƯỜI THÁI VÀ LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM

2.1.1. Khái quát về người Thái ở Việt Nam

2.1.1.1. Nguồn gốc lịch sử, tên gọi, địa bàn cư trú

Theo nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học đều tiếp cận theo hướng người Thái trên thế giới có chung một nguồn gốc. Biểu hiện rõ nhất là thông qua ngôn ngữ, văn hóa. Đã có công trình nghiên cứu cho rằng, gần 90% ngôn ngữ Thái trên thế giới nói chung là tương đồng, thông qua các công trình nghiên cứu của Giáo sư Phan Đăng Nhật về bộ ba các anh hùng ca Thái: Khủn Chưởng (sưu tầm ở miền Tây Nghệ An), Chương Han (lưu truyền ởTây Bắc Việt Nam) và Thạo Hùng hay Chương (lưu truyền ở Thái Lan và Lào), nhiều nội dung, nhân vật, cốt truyện cơ bản giống nhau [43, tr.419].

Người Thái ở Việt Nam, xét về góc độ lịch sử tộc người được các nhà khoa học xác định có chung nguồn gốc với người Thái trên thế giới, hay rộng hơn là những người cùng ngữ hệ Thái nói chung.

Khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Thái hoặc các công trình nghiên cứu về Thái học (Thai Studies) đều chưa có công trình nào đủ cứ liệu khẳng định chắc chắn nguồn gốc của người Thái bắt đầu từ đâu. Theo Hoàng Hoa Toàn trong bài viết có tựa đềĐôinét về lịch sử cổ đại của người Thái ở Trung Quốc [20, tr.69], ông cho rằng tổ tiên của người Tày – Thái phía Tây đã sớm và liên tục có mặt ở Tây Nam Trung Quốc từ vài thế kỷtrước công nguyên. Vùng Tây Nam hoặc chính xác hơn là Vân Nam của Trung Quốc là đất khởi thủy của người Thái và cho đến ngày nay vẫn là nơi tụ cư chính của người Thái ở Trung Quốc. Căn cứ vào một số tài liệu và một số truyền thuyết dân gian thì bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII sau công nguyên trởvề sau, dân tộc Thái ở Tây Nam Trung Quốc bắt đầu diễn ra những đợt thiên di lớn, nhỏ khác nhau, những đợt thiên di này đều liên quan đến một số sự

28

kiện lịch sử. Vào thế kỷ thứ VIII, tộc người Thái ở vùng biên giới Vân Nam bị Nam Chiếu (728 – 902) chinh phục, người Nam Chiếu nhiều lần dùng vũlực chuyển dời một bộ phận người Thái vào sâu trong nội địa Vân Nam. Từthế kỷ X trở đi, do sự phát triển lớn mạnh của kinh tế – xã hội của bản tộc và sự bành trướng của các vương triều Trung Hoa, nhất là thời Nguyên (thế kỷXIII) đẩy mạnhchính sách dùng vũ lực chinh phục các tộc người phương Nam dẫn đến sự di cư lớn của người Thái ở vùng Tây Nam Trung Quốc xuống phương Nam. Về sau, có bộ phận gặp được những điều kiện địa lý và lịch sử thuận lợi và đã thành lập được các vương quốc trên lưu vực sông Mê Công, Tây Lào, Bắc Băng Gan, Thái Lan. Cũng có bộ phận gặp điều kiện ít thuận lợi hơn, chỉ thành lập được cáctiểu nhóm cát cứ, do những lãnh chúa phongkiến đứng đầu.

Trong cuốn “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” do Đặng Nghiên Vạn chủ biên và một số cộng sự thực hiện [128]; các tácgiảđã cho chúng ta hình dung những nét cơ bản về lịch sử tộc người Thái. Cuốn Truyện kể bản mường của người Thái Đen, ghi các sự kiện xảy ra trong từng mường do một chúa đất cai quản, đời này ghi tiếp đời kia từ lúc hai nhân vật nửa huyền thoại, nửa có thực là tạo Ngần, tạo Xuông dẫn dắt người Thái theo dọc sông Hồng (nặm Tao) đến khai phá đất Mường Lò(Nghĩa Lộ ngày nay) và người con là Lạng Chượng đi chinh phục các dân tộc cư trú ở Tây Bắc trước đó bắt đầu từ Mường Lò, qua Sơn La đến Điện Biên cho đến thời kỳthực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Thông qua nhiều tài liệu, truyền thuyết kể trên cho thấy người Thái di cư vào Tây Bắc Việt Nam bắt đầu là Mường Lò, sau đó qua Sơn La rồi đến Điện Biên, thời điểm này vào khoảng thế kỷthứ X [114, tr.5]; di cư vào Bắc Trung Bộ thuộc nhánh từ sông Mê Công Thái Lan tới, nhánh này di cư sang Việt Nam rồi tiến về phía Mộc Châu, Yên Châu sau đó theo sông Mã di cư về miền Tây Nghệ An. Thời điểm người Thái di cư đến vùng đất này cũng chưa có ý kiến thống nhất, có thể sớm hơn thế kỷ XI hoặc không thể sớm hơn thế kỷ XII; theo các nguồn tài liệu thông sử cho rằng người Thái có mặt tại đây rõ nét nhất là thời thuộc Minh, từ thếkỷ XIII – XV [1].

29

Người Thái ở Việt Nam bao gồm nhiều ngành và mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm với những tên gọi khác nhau tùy theo từng địa phương. ỞTây Bắc có những nhóm: Thái Đen, cư trú chủ yếu ở Sơn La, Yên Bái, Điện Biên; Thái Trắng cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, có một nhóm Thái Trắng đã chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Tày, như ở Sa Pa, Bắc Hà – Lào Cai. Sự phân chia cộng đồng người Thái thành hai ngành Thái Trắng (Tày Khao), Thái Đen (Tày Đăm) rất phổ biến ở vùng Tây Bắc, thì đối với người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An, sự phân biệt lại không rõ. Đặc điểm chung nổi bật về cách gọi tên của người Thái ở vùng này là gọi theo các mường, nơi họ đang sinh sống (mường là thiết chế truyền thống của người Thái, tồn tại trước năm 1945). Cách gọi như vậy cũng phổ biến cho cả người Thái Tây Bắc và đó là cách gọi theo địa danh.

Tuy nhiên, dù ở các mườngkhác nhau, nhưng người Thái ở miền núi hai tỉnh này cũng tự xếp mình vào các nhóm địa phương (local groups) nào đó mỗi khi họ cần phải làm như vậy, như trường hợp khi đi ra khỏi địa bàn của mình. Cụ thể, ở tỉnh Thanh Hóa có các nhóm Tày Do, Tày, Tày Mường. Trong ba nhóm này, nhóm Tày và nhóm Tày Do có số lượng đông hơn, Tày Do thuộc ngành Thái Trắng, các nhóm Tày, Tày Mường thuộc ngành Thái Đen. Từ Do ở đây có thể hiểu người Thái có chung nguồn gốc với các từ Do đểchỉ Mường Do ở Vân Nam – Trung Quốc, Mường Do ở Nghĩa Lộ – Yên Bái, Mường Do ở huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu của Việt Nam.

Ở Nghệ An có các nhóm Tày Mường, Tày Thanh, Tày Mười và vấn đềtên gọi của các nhóm này phức tạp hơn. Các nhóm Tày Mường còn có tên gọi là Hàng Tổng và nhóm Tày Thanh còn gọi là Man Thanh. Hàng Tổng là một từ thuần Việt dùng để chỉ dân gốc của địa phương, còn Man Thanh cũng có ý nghĩa gần như Tày Thanh, cách gọi tên như vậy đã trở thành thói quen được duy trì đến ngày nay.

Dù sự phân biệt thành các ngành Thái Trắng, Thái Đen ở miền núi của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An không rõ ràng, nhưng nếu được hỏi thì người dân vẫn có thể tự xác định mình thuộc ngành nào. Bộ phận tự gọi là Tày Do ởThanh Hóa và Tày Mường ở Nghệ An chỉ là một, và họ tự nhận mình là

30

người Thái trắng. Các nhóm Tày, Tày Mường ở Thanh Hóa gần gũi với nhóm Tày Thanh, Tày Mười ở Nghệ An và tự coi là người Thái đen.

Cho đến nay, địa bàn cư trú của người Thái ở Việt Nam tập trung chủyếu ở hai vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình; vùng Bắc Trung Bộ gồm miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Ngoài ra, do chủ trương về định canh định cư và di cư tự do, một số tỉnh miền Trung Tây Nguyên đều có đồng bào Thái cư trú, có nơi thì tập trung thành xã, thành bản, có nơi thì cư trú xen kẽcùng với các dân tộc khác.

2.1.1.2. Đặc trưng cơ bản của người Thái ở Việt Nam

Một là, người Thái có truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng, có tinh thần tương thân tương ái, không những đối với đồng tộc mà cả cộng đồng quốc gia dân tộc. Người Thái có ý thức mình là một dân tộc trong Quốc gia Việt Nam đã có từ bao đời, đồng bào tự nhận mình là người Thái của người Việt Nam hay là người Việt (cồn Việt). Ý thức này được thể hiện rất rõ trong tâm lý “yêu bản, mến mường” (hặc bán, pèng mường), họ luôn coi quê hương mình là một bộ phận của đất nước Việt Nam.

Hai là, Người Thái có một ngôn ngữ thống nhất. Dù ngành Thái Trắng hay Thái Đen, hay các nhóm Thái địa phương (Tày Thanh, Tày Mường, Tày Hàng Tổng…) cơ bản đều đồng nhất về ngôn ngữ. Khi so sánh ngôn ngữ Thái với ngôn ngữ của một dân tộc cùng nhóm ngữ hệ như Tày, Nùng, Lào, Lự, Giấy thì có thể kết luận đó là những ngôn ngữ có chung một cội nguồn. Ngôn ngữ Thái, nhất là Thái cổ có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ Việt cổ. Ngôn ngữ này có mấy đặc trưng cơ bản: Tiếng nói đơn âm, có thanh điệu (độ cao, thấp của từ có phân biệt ý nghĩa) và cấu tạo theo thứ tựchủ ngữ – vị ngữ – các thành phần khác, trừ những câu thuộc mệnh lệnh thức, ít có trường hợp ngược thứ tự này. Văn tự Thái bắt nguồn từ bộ chữ Phạn. Đặc điểm của cách cấu tạo chữ Thái rất thống nhất, đó là chữ ghép vần, có hệthống phụ âm, nguyên âm để ghép lại thành tiếng.

Ba là, Người Thái có chung một tâm lý biểu hiện về các mặt văn hóa vật chất và tinh thần thống nhất.

31

Người Thái canh tác ở các thửa ruộng trong các thung lũng lòng chảo, với đặc trưng dẫn thủy nhập điền (Mương, Phai, Lái, Lìn) và sử dụng các công cụ sản xuất thành thạo; có tập quán trồng lúa nếp và dùng lúa nếp làm lương thực chủ yếu.

Vềẩm thực, người Thái có nhiều món ăn đặc trưng, trong đó phải kểđến như: món cheo (chẻo), lạp, coi (một hình thức làm gỏi), pa pính tộp (cá mổ dọc sống lưng của cá và cho gia vị, rau thơm, gấp cá lại và nướng), pa phe (cá mổ ở sống lưng, lấy que xâu lại, gác bếp cho khô, sau đó hông lên đểdùng); cenh bon (nấu canh bằng cây mùng ngọt); mọc, nạp v.v…

Về nhà ở, người Thái ở nhà sàn (có thể nguyên vật liệu khác nhau), cơbản kết cấu, sử dụng trong ngôi nhà có sự tương đồng.

Về mặc, phụ nữ mặc váy đen hoặc váy có thêu hoa văn thổ cẩm, có khăn đội đầu (nổi bật là khăn piêu của người Thái Đen, hoặc khăn xờng của nhóm Thái Tày Thanh (Thái Đen) ở Nghệ An, thêu hoa văn hai đầu khăn), áo phụ nữ ngắn, xẻ ngực, có đính cúc nhỏ hình cầu hoặc cúc bạc hình bướm, nhện, ve sầu, hoa…(loại áo này còn gọi là xứa cóm); lúc trời rét hoặc nghi lễcó áo dài màu đen, xẻ nách hoặc kiểu áo chui đầu. Nam giới xưa mặc quần đen hoặc quần trắng, không có túi, không dải rút mà dùng thắt lưng, mặc áo xẻ ngực, màu sắc thường màu đen, hoa văn kẻ hoặc màu gạch non, cúc áo bằng đồng hoặc tết bằng dây vải, áo có hai túi ở vạt trước hoặc có thể có một túi ngực; mùa rét hoặc ngày lễ thì mặc áo dài đen xẻ nách, đầu quấn khăn.

Người Thái có tâm lý thống nhất là: Cần cù, dũng cảm trong lao động và đấu tranh, tính tình thật thà, chất phác, giản dị, làm nhiều nhưng nói ít, thích từ tốn, chứ không dữ dội, nôn nóng. Làm tới đâu chắc tới đó, chứ không hay làm thật nhiều. Họ thích tự do phóng khoáng, ít tính toán trong sinh hoạt. Người Thái rất mến khách, nên thường có tính rộng lượng. Sinh hoạt gia đình đầm ấm, vợ chồng ít có cãi cọ, mắng chửi nhau, hoặc cha mẹ cũng ít mắng chửi con cái. Đàn ông thì xốc vác, chăm chỉ; đàn bà thì trung hậu, đảm đang, thương chồng, con…Tình cảm của đồng tộc được thể hiện rõ rệt, biểu hiện ởtrong tập tục, sinh hoạt gắn bó của người người trong bản, trong mường…

Sự thống nhất về mặt văn hóa, tinh thần của họ còn biểu hiện trên cách nhìn và giải thích thế giới. Mặt này thường thể hiện trong các mô tuýp thần

32

thoại và truyền thuyết về thiên nhiên, địa vực cư trú và nguồn gốc lịch sử của dân tộc mình. Mặc khác còn thể hiện trong âm nhạc, nghệ thuật, văn học, các tập tục tín ngưỡng…[114].

Người Thái có đời sống tín ngưỡng phong phú, họ rất coi trọng phần hồn. Người Thái quan niệm vạn vật hữu linh, hồn vía người còn sống gọi là “phi khoăn”, hồn vía người đã khuất gọi là “phi tai”, hồn vía của bố, mẹ đã quá cố gọi là “phi hườn”, hồn vía của tổ tiên gọi là “lắm pang”. Do vậy, theo tục lệ, người sống thì có tục gọi vía hoặc làm vía (hiếc khoăn, ệt khoăn), như một hình thức độngviên tinh thần; những người đã khuất theo tục lệ thì cúng ma nhà (xơ phi hườn, lắm pang), một hình thức như báo ơn tổ tiên. Như vậy, kể cả người sống, người đã mất đều được ứng xử về mặt tâm linh gần như ngang nhau. Đối với vạn vật xung quanh, như đất đai, rừng núi, sông ngòi, cây cối, vật nuôi…người Thái luôn ứng xử một cách phù hợp, hài hòa, không gây hại mà có ý thức vun đắp đểvạn vật luôn tồn tại, phát triển và đồng hành với cuộc sống của mình.

Bốn là, người Thái có chung một loại hình cơ cấu kinh tế và xã hội cổtruyền. Đó là loại hình tổ chức xã hội theo chếđộphìa tạo. Xã hội đó phân chia địa hạt hành chính thành từng châu mường. Mỗi một châu mường (tương đương như một huyện ngày nay) đã hình thành một bộ máy thống trị của một dòng quí tộc thế tập. Đất, ruộng được mang danh nghĩa toàn mường (Công thổ), mọi người đều có quyền sử dụng ruộng đất, nhưng phải chịu việc mường, nhưng việc mường lại do bộ máy thống trị điều khiển.

Từ bốn nhóm đặc trưng chủ yếu ở trên của người Thái xưa, ngày nay ba nhóm đặc trưng từ nhóm một đến nhóm ba vẫn được duy trì, cơ bản không thay đổi. Riêng nhóm đặc trưng thứ tư, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã không còn tồn tại.

2.1.1.3. Vị trí, vai trò của cộng đồng người Thái ở Việt Nam trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ VIỆT NAM

Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *