Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hóa, giao thương giữa các quốc gia trên thế giới đã được thiết lập một cách mạnh mẽ thông qua việc gia nhập, ký kết các điềuước quốc tếvề thương mại. Ở Việt Nam, hoạt động hợp tác thương mại đã mang lại nhiều lớn ích to lớnchosựphát triển kinhtếquốc gia, đặc biệt sau khi gia nhập WTO quan hệthương mại ghinhận những “dấumốc” ấntượng, kinh tế có nhiều sự thay đổi vượt bậc, góp phần thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.Để đạt được những mục tiêu đó, nhà nước kịp thời đưa ra các chính sách, chủ trương nhất quán có tínhổn địnhtrong quản lý kinh tế. Các văn bản pháp lý làm cơ sở nền tảng cho việcđịnh hướng, thực thi pháp luật thương mại, hợp tác quốc tế được đưa ra phù hợp. Cụ thể, ngày 27/11/2001 Bộ Chính trịđãban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế [4]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong hội nhập kinh tế quốc tế; Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 vềviệc đẩymạnh việc thực hiện Nghị quyết số48-NQ/TW ngày 24/5/2005 như yêu cầu tăng cường việc hoàn thiện pháp luật phải hài hòa cáclợiích quốc gia, tăng cường hài hòa hóa và nội luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Nghị quyết 22/NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế. Trong sựphát triển mạnh mẽ về thương mại đó, hải quan đóng một vai trò quan trọng đối với việc thực thi các chính sách, pháp luật xuất nhập khẩu qua biên giới. Chính phủ đã có những hành động đột phá nhưđẩy mạnhcải cách hành chính hải quan, thiết lập mạnglưới kết nối doanh nghiệp với cơ quan quản lý, xây dựng Chính phủ “kiến tạo”, với phương châm lấy sự hài lòng của doanh nghiệp, người tiêu dùng làm mục tiêu hànhđộng; Lắng nghe, tiếp xúc và thực hiện chính sách, pháp luậtvề thuế, đầu tưvà hải quan kịp thời, phù hợp với sựphát triển chung của kinh tế quốc gia và thế giới. Trong lộ trìnhđiều chỉnh chính sách phát triển kinh tế quốc tế, ngày 28/12/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2471/2011/QĐ-TTg phê duyệt Chiến

lược xuấtnhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 – 2020,địnhhướngđếnnăm 2030 [18] với mục tiêu cụ thể như: chủ động điều chỉnh nhịp độ tăng trưởng nhập khẩu hàng

1

hóa, kiểm soát nhập khẩu; nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và vai trò của hiệp hội ngành hàng.

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan đã được hình thành từ lâu. Quá trình kiểm soát đã mang lại những mặt tích cực đối với nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu về hội nhập,hỗtrợhiệuquảtrong thực thi chính sáchcủaĐảng vànhànướcvềhảiquan, đảm bảo tính thiếtthực đốivới việc kiểm tra, giám sát, thanh tra,xửlý các hành vi vi phạm pháp luật xuất nhập khẩu;Hạnchếcác hành vi gianlậnthương mại, đầu tư, bảovệan ninh kinhtếquốc gia, thực thi hiệu quảcác cam kếtđốivớithương mại,hảiquan trong cácđiềuướcquốctếmà Việt Nam tham gia,dầndầnnâng cao mức sống vàbảođảm quyềnlợingườitiêu dùng nộiđịa.Quá trình cải cáchhảiquan cũngđãxây dựnglực lượnghảiquanđạttrìnhđộcao, chuyên nghiệp, chuyên sâu, đầu tư trang thiếtbịkỹthuậthiện đại.

Tuy nhiên, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan cũngtồntạibấtcậpvềgóc độpháp luật vàtổchức thực hiện. Vìvậy cầnđược hoàn thiện, nâng cao hiệuquảlà yêucầucấp thiết. Sự biến động, phức tạpcủahoạtđộngthươngmạiđãkéo theo nhữngmặttrái trong quá trình quản lý và kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luậthảiquan, đặc biệtở cáckhu vực cửakhẩu có dunglượnghàng hóa nhập khẩulớnvà thường xuyên. Hiệntượngvi phạm phápluật vềkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đang báođộngvàdiễn biến phức tạp.Cụthể“năm2015, toàn ngànhhảiquan phát hiện vàxửlý vi phạm hành chính trên 18.500vụ;khởitốhình sự 130vụ.Riêng thànhphốHồChíMinh,từđầunăm 2016 đến ngày 18/2,Cụchảiquan thànhphốHồChí Minh phát hiện 187vụvi phạm pháp luật hải quan, trị giá trên 57 tỷ đồng. Trong đó, có 5 vụbuôn lậu, 29vụ gian lận thương mại. Chỉ trong quý I năm 2016, lực lượng kiểm soát hải quan đã chủ trì, phối hợp với các lực lượng chức năng trên địa bàn, tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện 231 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trị giá hàng hóa vi phạmước tính 220 tỷđồng; 22 vụ ma túy, tiền chất; 3.695 vụ vi phạm hành chính, 7 vụ vi phạm hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ và 74 vụ vi phạm khác. Xử phạt vi phạm hành chính: Cảnh cáo 87 vụ; phạt tiền: 3.684 vụ; tịch thu tang vật 148 vụ; hình thức khác: 25 vụ; thu nộp ngân sách hơn 29 tỷđồng. Lựclượnghải quan khởi tố12vụ và chuyển cơ quan khác khởi tố19vụ”

[110]. Từ ngày 16-12-2017 tới ngày 15-12-2018, lực lượng kiểm soát Hải quan toàn ngành đãchủ trì, phối hợp phát hiện, bắt giữ, xửlý 16.633 vụ việc vi phạm trong lĩnh vực hải quan (tăng 9,54 %); trị giá hàng hóa vi phạmước tính hơn 1.702 tỷđồng (tăng hơn 115,61 %); thu ngân sáchđạt gần351 tỷ đồng (tăng 4,83 %) so với cùng kỳnăm 2017. Cơ quan Hải quan khởitố 62 vụ án hình sự, chuyển cơ quan khác kiến nghị khởi tố133 vụ. Riêng vềma túy, toàn ngành hải quan đã chủ trì, phối hợp phát hiện, bắt giữ216 vụ vi phạm liên quan đến chất ma túy, thuốc gây nghiện hướng thần và xuất nhập khẩu tiền chất (tăng 115 vụ, tương đương tăng 113,86% so với cùng kỳ năm 2017).

Trước thực trạng đó, yêu cầu đặt ra ở Việt Nam hiện nay là nghiên cứu những vấn đềlý luận có khoa học, phân tích, đánh giá khách quan thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện để đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan có tính hệ thống, chuẩn mực vàtương thích với hệ thống pháp luật quốc tế đáp ứng yêu cầu đặt ra trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay có ý nghĩa quan trọng. Từ những luận giải trên, tác giả chọn đề tài “Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ởViệt Nam hiện nay”để làm luận án tiến sĩ.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, đưa ra các luận cứ khoa học pháp lý và thực tiễn nhằm đánh giá khách quan thực trạng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đểđềxuất quanđiểm,giải pháp nâng cao hiệuquảkiểm soát hàng hóa nhập khẩu theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới;

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay;

Thứ ba, đưa ra các quan điểmvà đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quảkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay và thời gian tới có tính khả thi và hiệu quả.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, thực trạng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quảkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quanở Việt Nam. Luận án không nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật dân sự, hành chính, hình sựvề kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Tuy nhiên, các quyđịnh pháp luật có liên quan về xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới sẽ được phân tích một số vấn đề cụ thể. Pháp luậtnước ngoài trong kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới được nghiên cứu và trình bày lồng ghép có tính so sánh trong các nội dung có liên quan của luận án.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Luận án nghiên cứu các nội dung về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở góc độ lý luận và thực tiễn. Luận án tập trung nghiên cứu nội dung liên quan đến kiểm soát tên hàng, mã sốhàng hóa, số lượng, chất lượng, xuất xứ, trị giá hải quan và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luậthảiquan. Cácvấnđề về nghiệp vụchuyên sâu luận án chỉ đề cập mức độ nhất định trong quá trình triển khai nội dung chủ yếu mà luận án nghiên cứu đặt ra.

– Luận án tập trung nghiên cứu kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam từ năm 2005 đến nay.

4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên quan điểm, thếgiới quan của Chủnghĩa

Mác –Lênin, tư tưởng Chủtịch HồChí Minh vềđịnh hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh tế thị trường và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, về hội nhập kinh tế, hợp tác quốc tế về hải quan trong xu thế toàn cầu hóa, đa phương hóa.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để triểnkhai nghiên cứu các nội dung cụ thể, ngoài phương pháp truyền thống là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án đã sửdụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoahọcxã hội và khoa học pháp lý: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp luật học so sánh, phương pháp thu thập thông tin và xửlý thông tin. Luận án đượcthực hiện theo cách tiếp cận chuyên ngành pháp lý và hải quan, tiếp cận liên ngành, đa ngành trong nghiên cứu khoa học. Cụ thể, các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được tác giảsửdụng xuyên suốt trong chương 1,2,3,4 củaluận án. Phương pháp thống kê, xửlý thông tin tác giả sửdụng chủ yếu ở chương 3 và chương 4 của luận án. Các phương pháp nghiên cứu khác cũng đượcsửdụng trong từng chương tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu và phạm vi nội dung mà luận án đề cập đến.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Một là, luận án hệ thống và làm rõ thêm cơ sở khoa học của kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan qua cácvấn đềcụ thể như làm rõ nội hàm của kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật. Các vấnđề cơ bản về tính tất yếucủa kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới nhằm đưa ra các tiêu chí kiểm soát hiệu quả đối với hàng hóa nhập khẩu; phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về phạm vi, chủ thể, đối tượng nhằm đánh giá vai trò của kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Đây là những đóng góp quan trọng đóng góp về mặt lýluận và nâng cao hiệuquảđốivớikiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan.

Hai là, luận án đã làm rõ pháp luật về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan, đánh giá và phân tích thực trạng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo quy định của pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay một cách kháđầy đủ và hệ thống.Qua đó luận án khẳng định còn những tồn tại nhất định về góc độ pháp luật và tổ chức thực hiện kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay cần được nghiên cứu để đề xuấtcác giải pháp phù hợp.

Ba là, luận án đã đưa ra quan điểmnhất quán, có hệthống;đề xuất một sốgiải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới Việt Nam hiện nay trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phù hợp với chính sách quản lý ngoại thương. Những đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới mà luận án đưa ra chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu khoa học khác.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả công trình nghiên cứu trong luận án đã khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan. Luận án bổ sung các luận cứ khoa học khi tiếpcận các vấn đề vềnhập khẩu, chính sách quản lý ngoại thương, chính sách hài hòa hóa pháp luật thương mại và các vấnđề về tự do mua bán hàng hóa giữa thương nhân các quốc gia khu vực và thế giới.

Luận án đưa ra khái niệm, các vấn đề pháp lý khoa học, có thể gợi mở những nội dung quan trọngđối với cơ quan có thẩm quyền khi kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới trong hoạt độngthương mại; Thực hiện chính sáchvềkinh tế,

tạo môi trường thương mại biên giới thông thoáng, thực hiện chính sách nhà nước trong đầu tư, thu hút từnguồn nhân lực phù hợp với yêu cầuhỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ “kiến tạo”, tôn trọng sự tự do kinh doanh của thương nhân.

Luận án gợimở những vấn đề lý luậnvà thực tiễn đặt ra trong bối cảnh nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tự do thương mại ở Việt Nam hiện nay đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Là tài liệu tham khảohữuích khi thực hiện các chính sách, pháp luật đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

Đối với cơ quan hải quan, lực lượng quan trọng, chủ chốt khi thực hiện pháp luật về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, luận án là tài liệu tham khảo cógiá trị về nhận thức và thực hiện hoạt động của mình, thúc đẩy sự quản lý tích cực trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Luận án cũng là tài liệu hữu ích, tư liệu bồi dưỡng trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡngnghiệp vụ về hải quan, thương mại liên quan đến mua bán hàng hóa hoặc chính sách quản lý đối với lĩnh vực có liên quan.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược cấu trúc thành 4 chương cụ thể như sau:

Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cácvấnđề liên quan đến đềtài luận án

Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan

Chƣơng 3: Thực trạng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan Việt Nam hiện nay

Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quảkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan Việt Nam

Chương 1

TỔNG QUANVỀTÌNH HÌNH NGHIÊNCỨU

VÀ CÁCVẤNĐỀLIÊN QUAN ĐẾNĐỀTÀI LUẬN ÁN 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Hiện nayđã có nhiềuđề tài, công trình nghiên cứu các vấn đềlý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện đối với kiểm soát hàng hóa theo pháp luật hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa nhưđổi mới hoạtđộnghải quan, kiểm tra hải quan, giám sát hải quan, kiểm soát hải quan, pháp luật về kiểm tra sau thông quan, quản lý nhà nước về hải quan, xửlý vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động hải quan hay kiểm tra sau thông quan… Tuy nhiên, các đề tài, công trình khoa họcđa số tập trung vào các hoạt động chủ yếu thiên về quản lý nhà nước, các biện pháp nghiệp vụ về kiểm soát chống buôn lậu, gian lận thương mại, kiểm soát thủ tục hành chính hoặc nghiên cứu dưới góc độ kinh tế… Qua nghiên cứu các tài liệu, công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực hải quan từtrướcđến nay, ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam, tác giả đưa ra một vài đánh giá chung sau đây:

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay
Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay

1.2.1.Về lý luận

Các công trình tổng quan nêu trên có giá trị lý luận cao khi nghiên cứu những vấn đềchungvềhải quan, các yêu cầu cấp thiết quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan, cơ quan chủ lực – vốn được xem là “người gác cổng kinh tế” quốc gia. Những công trình này đã góp phần thể hiện tổng quan các chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước, đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao nhận thức trong thực hiện, quản lý theo pháp luật hải quan đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Các nội dung lý luận liên quan đến hoạt động quản lý chính sách, pháp luật về hải quanđã chứng tỏ kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Các công trình nước ngoài đã được nghiên cứu, tìm hiểu giúp các nhà khoa học, nhà nghiên cứu có sự so sánh,đối chiếuvà cung cấp kiến thức liên quan đến hải quan, xuất nhập khẩu. Qua đó, các tác giả có cái nhìn tổng quát về hải quan và các vấn đề pháp lý liên quan đến nghiệp vụ, chức năng, vai trò, hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hải quan, kiểm tra sau thông quan, hải quan điện tử trong nước và quốc tế… Trên cơ sở tiếp cận các vấn đề lý luận, đánh giá, phân tích các nội dung trong các công trình trên, các tácgiả đãcó cách tiếp cậnđa chiều, theo từng lĩnh vực, theo phương thức cụ thể. Đây là những công trình có ýnghĩa quan trọng về lý luận liên quan đến luận án mà nghiên cứu sinh đang thực hiện. Các công trình trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quan trọngđối với đề tài Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay.

1.2.2. Về thực tiễn

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là một hoạtđộng đặcthù có vai trò quan trọngđốivới nền kinhtế củaquốc gia. Vì vậy, nghiên cứu, đánh giá thực tiễn kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là nhiệmvụ cấp bách và đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong quản lý thương mại xuất nhập khẩu. Nhiều đề tài, công trình khoa họcđãđược triển khai, thực tiễn thực hiện theo pháp luật hải quan, đặc biệt là áp dụng hải quan điện tử, quản lí hải quan, quản trị rủi ro, các công trình đã đánh giá những hoạt động cụ thể, đưara các vấn đề vướng mắc, hạn chế trong

19

quyđịnhpháp luật và thực trạng thi hành pháp luật hải quan như tính thống nhất, tương thích của văn bản pháp luật hải quan với hệ thống pháp luật khác, hiện trạng cơ chế, chính sách và thủ tục hải quan; thực trạng thực thi pháp luậttừcơ quan hải quan, từ doanh nghiệp và các bộ, ngành liên quan; thực trạng hải quan chống buôn

lậu và gian lận thương mại; kiểm tra sau thông quan; khả năngứngdụng khoa học công nghệ trong hoạt động hải quan; kiểm tra và thông quan hàng hóa; vấn đề thực tiễn kiểm soát biên giới đối với hoạt động bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa và nội luật hóa các cam kết hải quan mà Việt Nam là thành viên. Một số đề tài đề cập tình hình thực tiễn thực hiện các cam kết của Việt Nam trong Công ướcquốc tếvề hải quan. Những công trình này có giá trịhữu ích, cómối quan hệ tương hỗ và giúp nghiên cứu sinh có cách tiếp cận những hiểu biết vềluận án đang thực hiện. Tuy nhiên, đa số các đề tài được nghiên cứu tập trung vào các nội dung liên quan đến thống kê, phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa ởViệt Nam, nghiên cứu và thống kê các vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, xửlý đối với vi phạm sở hữu trí tuệ, kiểm tra hàng hóa sau thông quan, kiểm tra hải quan mà chưa có khái quát các vấn đề thực tiễn có hệ thống về nội dung kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan cụ thể trong tình hình hiện nay. Vì vậy, tiếp tục kế thừa các nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan làcông việc cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án “Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay”.

1.2.3.Về giải pháp

Các công trình nghiên cứu khoa học cho đến nay màtác giả được tiếp cậnchủyếu đề xuất giải pháp ở góc độ quản lý nhà nước quá trình thực hiện pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, các giải pháp được đưa ra ở góc độ thểchế, cơ chếlà chủ yếu. Những giải pháp đưara cơ bản phù hợp với yêu cầu thiết yếu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay, khắc phục những bất cập về quy định pháp luật, hệ thống chính sách, cơ chế thực hiện, biện pháp thực hiện trong thực tiễn kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Có thể nhận thấy,

20

các giải pháp đã được đưa ra theo hướng nghiên cứu đa chiều, có những tác động hiệu quả trong quá trình cải cách hải quan về góc độ pháp luật cũng như cơ chế thực hiện, giải pháp nâng cao tính thực thi trong xu thế hội nhập thương mại; các đề tài mặcdùđã dựtính đến điều kiệnhộinhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, chính sách vàquan hệhợptác vềthương mạiquốc tế ngày càng phát triển nên cụ thể hóa các chiến lược phát triển, kế hoạch cải cách, hiện đại hoá hải quan và tổng hợp các giải pháp chiến lược, chính sách, hệ thống pháp lý trong kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan cần nghiên cứu và áp dụng kịp thời, hiệu quảhơn. Qua nghiên cứu các công trình trên giúp cho nghiên cứu sinh rút ra được nhiều bài học và kinh nghiệm quý báu để thực hiện luận án một cách hiệu quả, đưa ra quan điểm, giải pháp có tính thực tiễn phù hợp với điều kiện thươngmại quốc tếở nước ta hiện nay trong quá trình thực hiện luận án “Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay”.

1.3. Những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tri thức đã được đánh giá ở các công trình khoa học trong và ngoài nước để bổ sung, hoàn thiện những vấn đề về lýluận, thực trạng và quan điểm, giải pháp nâng cao hiệuquảkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan, luận án sẽtiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau đây:

1.3.1. Về phương diện lý luận

Có thể nhận thấy rằng, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là một nội dung nghiên cứu mới nên cần được làm rõ các vấn đề lý luận bằng những luận cứkhoa học chặt chẽ. Đó là việc nghiên cứu và tiếp cận khái niệm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới để đưa ra các quan điểm, giải pháp phù hợp đáp ứng về hội nhập thương mại quốc gia và liên kết quốc tế.Luận án đồng thời sẽ phân tích các nội dungvề tính tất yếu, phạm vi, chủ thể, đối tượng, vai trò kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới một cách có hệ thống, có căn cứ. Mặt khác, xây dựng tiêu chíkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới để hoàn thiện thiện ở góc độ pháp luật và

21

thực tiễn. Phân tích các nội dung kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật; Các yếu tố tác động đối với kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Những vấn đề về mặtlý luận nói trên nhất thiết cần được luận giải làm rõ trong khuôn khổ luận án, là những nội dung mà nghiên cứu sinh làm rõ trong chương 2.

1.3.2.Về phương diện thực tiễn

Trên cơ sở tiếp tục kế thừa các khảo cứu của các tác giả, luận án sẽ cụ thể hóa các nghiên cứu về thực trạng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Namở góc độ thực trạng pháp luật kiểm soát hàng hóa nhập khẩu như: kiểm soát tên hàng, mã hàng, số lượng, chất lượng, xuất xứ, trị giá hải quan, thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách có hệ thống,đồng bộ.

Đồng thời, luận án làm rõ các nguyên nhân hạn chế, tồn tại khi thực hiện kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quanở Việt Nam hiện nay. Qua đó, phân tích một số vấn đề đặt ra đối với kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới ở Việt Nam. Những vấn đề trên nghiên cứu sinhsẽ đề cập ở chương 3 của luận án.

1.3.3. Các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam

Luận án xác định quan điểmhoàn thiện kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay luôn luôn gắn kết với các chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước trong quá trình phát triển thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng; thống nhất, đồng bộ hệ thống pháp lýliên quan và phùhợpvới yêucầucải cách hải quan trong thờikỳhiện nay tương thích với hệ thống pháp luật và thông lệ quốc tế.

Trên cơ sở các quan điểm hoàn thiện, luận án đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan phùhợp với yêu cầu quản lý, kiểm soát thương mại xuất nhập khẩu hiện nay, hài hòa vàtương thích với các chuẩn mực quốc tế về hải quan. Để thực hiện các mục tiêu trên tác giả sẽ thực hiện và làm rõ trong chương 4 của luận án.

22

1.4. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 1.4.1. Một số lý thuyết sử dụng

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đòi hỏi có hướng nghiên cứu đa chiều và có những luận giải thuyết phục trên cơ sở khoa học pháp lý. Vì thế, vận dụng các lý thuyết nghiên cứu cần được thực hiện phù hợp. Trong luận án, để đảm bảo tính lô gic tác giải đã sửdụngmộtsố cơ sởlý thuyết nghiên cứu, đó là, lý thuyết về vai trò của nhà nước; Lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế; Lý thuyết về kiểm tra, kiểm soát. Đồng thời, luận án sử dụng lý thuyết về rủi ro trong hoạt động thương mại và quản lý rủi ro trong hoạt động thươngmạiquốc tế; Các lý thuyếtvềbảo hộ thương mại nộiđịanhư bảo hộ, chống bảo hộ khi hội nhập quốc tế; Các lýthuyết thị trường về chính sách ngành hàng, chính sách cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Lý thuyết về thương mại quốc tế; Lý thuyết về sở hữu trí tuệ. Các lý thuyết nghiên cứuđược sửdụng hợp lý trong cácnộidungđượcphân tích liên quan đến luận án mà nghiên cứu sinh thực hiện.

1.4.2. Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiêncứuỞ góc độ lý luận

– Câu hỏi nghiên cứu 1: Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là gì?

– Giả thuyết nghiên cứu 1: Để giải quyết nội dung này, giả thuyết đưa ra rằng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là hoạt động của nhà nước bao gồm các phương thức và nội dung kiểm soát thông qua các nguyên tắc theo yêu cầu quản lý thống nhất.

– Kết quảnghiên cứu 1: Tác giảxây dựng một khái niệmvềkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới phù hợp với pháp luật quốc gia, thông lệ và pháp luật quốc tế,đảmbảo được sựphát triển của thương mại quốc tế. Đồng thời nâng cao hiệu quả kiểm soát của nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới trong xu thếhội nhập hiện nay. Theo đó, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là những hoạt động bao gồm những biện pháp nghiệp vụ kiểm tra, giám sát, thanh tra và các hoạt động khác nhằm xem xét, theo dõi, đánh giá việc đưa hàng hóa qua biên giới nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi gian lận thương mại.

23

– Câu hỏi nghiên cứu 2: Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới bao gồm những nội dung gì?

-Giảthuyết nghiên cứu 2: Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới bao gồm các nội dung: kiểm soát tên hàng, mã hàng, số lượng, chất lượng, xuất xứ, trịgiá hải quan, thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

– Kết quả nghiên cứu 2: Tác giả đưa ra nội dung kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới gồm kiểm soát tên hàng, mã hàng hóa, chất lượng, số lượng, xuất xứ, trị giá hải quan, thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách cụ thể theo góc độ lý luận và quy định pháp lý trong quá trình nghiên cứu.

– Câu hỏinghiên cứu 3: Các yếu tố tácđộng đến kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan?

– Giả thuyết nghiên cứu 3: Có nhiều yếu tố tác động đến kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan như điều kiện kinh tế của đất nước bảo đảm thực thi pháp luật hải quan; điều kiện chính trị – xã hội trong nước và thế giới; mức độhiện thực hoá các yêu cầu về chính sách, hệ thống pháp luật; xu hướng hợp tác thương mại, tác động tự do hóa thương mại, lực lượng kiểm soát và doanh nghiệp.

– Kết quả nghiên cứu 3: Với việc nghiên cứu, tổng hợp các công trình liên quan đến luận án, tác giả đưa ra các kết quả nghiên cứu trong việc phân tích vai trò kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới vừa thể hiện được sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật, các chính sách về hải quan, đảm bảo an ninh hàng hóa quốc gia, thúc đẩy thương mại phát triển. Đồng thời, làm rõ các yếu tố tác động đối với thực hiện việc kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới như yếu tố pháp luật, về xu thế tự do hóa thương mại và hợp tác quốc tế về hải quan, về khoa học công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin, về tuân thủpháp luậtcủadoanh nghiệp,bộmáy, nguồn nhân lực;sựphân công, phốihợpvềthẩm quyền giữa các cơ quan kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

Ở gócđộluật thựcđịnh

– Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng quy định pháp luật hải quan về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới ởViệt Nam nhưthếnào? Quy địnhvềkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan điều chỉnh hợp lý

24

chưa?Bấtcậpchỗnào và cơchếthực hiện hoạtđộngkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan hiện nay như thế nào?

– Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật quy định về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới ởViệt Nam vừa có ưuđiểm vừacó những tồn tạihạn chế, bất cập. Các luận giải này cần được phân tích có hệ thống, cơ sở nhằm có cơ sở khách quan trong quá trình nghiên cứu và đềxuất nâng cao hiệuquảvềgóc độpháp lý vàtổchức thực hiện pháp luật hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

– Kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên, cơ chếkiểm soát đánh giá khách quan, có luận cứ khoa học về thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật hải quan đối với hàng hóa nhập khâu qua biên giới theo các khía cạnh khác nhau.

Kiến nghị giải pháp nâng cao kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

– Câu hỏi nghiên cứu: Quan điểm hoàn thiện đối với kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam là gì? Để khắc phục những

tồn tại, bất cập cần đưa ra những giải pháp nào?

-Giảthuyết nghiên cứu: Hoàn thiện pháp luật vềkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan dựa trên quan điểm bảo đảmsựthuận lợiđối vớithươngmạiquốc tế, quản lý chặt chẽ hàng hóa nhập khẩu qua biên giớitạođiều kiện cho các hoạt động nhập khẩu hàng hóa; bảo đảm tính hài hòa giữa kiểm soát hàng nộiđịavà hàng nhập khẩu; kiểm soát phải thống nhất vàđồng bộvớicác quy định pháp luật khác. Các giải pháp được đưa ra dựa vào các tồn tại, bất cập vànguyên nhân để đưa ra giải pháp có tính hiệu quả cao.

– Kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích các nghiên cứu về bất cập, căn cứvào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và thực tiễn hợp tác quốc tế về hải quan của Việt Nam, tác giảđưara một sốquan điểm và đềxuất một sốgiải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan nhằm góp phần giải quyết một số vấn đề bất cập trong kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay đảm bảo luận cứ khoa học.

25

Kết luận chƣơng 1

Luận án khẳng địnhtính cấp thiết của việc nghiên cứu cơ sởlý luận đốivới kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Tính cấp thiết của luận ánđã được phân tích thông qua các yếu tố tác động ảnh hưởng đến nhận thức, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện trong quá trình kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Việc nâng cao khả năng nhận thức lý luận dựa vào cácluận cứkhoa học, tiếp cận và thực thi pháp luật về hải quan, về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hảiqua sẽ thúcđẩyphát triển chính sách, cơ chế thương mại, bảo đảm an ninh hàng hóa và các hoạt động tích cực của thị trường.

Luận án đã phân tích tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề, cụ thể: Tình hình nghiên cứu lý luận về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; Tình hình nghiên cứu cơ sở khoa học của điều chỉnh pháp luật đối với hoạtđộng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; Tình hình nghiên cứu thực trạng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới và thực trạng pháp luật về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới và tình hình nghiên cứu các giải pháp kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới và hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Các công trình phần nào đảm bảo được các yêu cầu cơbản về yêu cầu quản lý, kiểm soát đối với hàng hóa xuất nhập khẩu về gócđộ tiếp cận theo đối tượng nghiên cứu của đề tài. Tuy nhiên, các công trình tổng hợp nghiên cứu chưa chuyên sâu về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giớivề góc độ luật học, chủ yếu các tác giả nghiên cứu theo hệ thống khoa học kinh tế, khoa học quản lý. Vì thế, luận án tiếp tục nghiên cứuvề phương diện lý luận, phương diện thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật, đưara quan điểm,mộtsố giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

Luận án đã đưa ra cơ sở lý thuyết nghiên cứu phù hợp với yêu cầu kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Theo đó,một số lý thuyết đượcsửdụng trong luận án liên quan đến quản lý nhà nước, lý thuyết gắn liền với thương mại quốc tếvà quản lý rủi ro.Đồng thời đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu, giảthuyết nghiên

26

cứu và kết quả nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu về việc xây dựng những nghiên cứu phù hợp liên quan đếnđề tài “Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay”.

27

Chƣơng 2

CƠSỞLÝ LUẬNVỀKIỂM SOÁT HÀNG HÓA

NHẬP KHẨU QUA BIÊN GIỚI THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN

2.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

2.1.1. Khái niệm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới 2.1.1.1. Khái niệm hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Lịch sửphát triển minh chứng rằng, các quốc gia không thể tồn tại biệt lập màkhông có quan hệvới thế giới bên ngoài. Trong lĩnh vựckinh tế, liên kết thương mạiyêu cầu các nước phải phụ thuộc lẫn nhau, tăng cường thúc đẩy phát triển trên cơ sở hợp tác cùng có lợi. Nếu “quaylưng” lại với tựdo hóa, liên kết hóa kinh tếgiữa khu vực, thế giới thì tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Xác định tầm quan trọng của liên kết, hợp tác kinh tế sẽ hình thành các quan hệhợp tác trên bình diện song phương, đa phương, thiết lập các hiệp định thương mại tựdo, hiệp định về hảiquan… tùy thuộc vào mức độ, nhu cầu cũng như mục tiêu của các chủ thể trong thương mại quốc tế. Theo đó, trong thương mại quốc tế, việc

thực hiện xuất nhập khẩu là hoạt động thường xuyên, hàng hóađược xuất ra khỏi thị trường nội địa, nhập khẩu vào lãnh thổ tăng cơ hội thông thương hàng hóa giữa các nước với nhau.

Trao đổi, mua bán hàng hóa được hình thành sớm trong lịch sử. Theo đó, khái niệm hàng hóa bắt đầu xuất hiện khi có sựtrao đổi mua bán trên thị trường. Mỗi thời kỳ hàng hóa đượclưu thông, dịch chuyển khác nhau phụ thuộc vào mối quan hệvề chính trị ngoại giao, nhucầuthương mại, vị trí địa lý,sựphát triển của khoa học công nghệ các nước. Qua tìm hiểu, có thể thấy, hàng hóa là những sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Theo Khoản 2 Điều 3 Luật thương mại 2005 [58] thì hàng hóa gồm tất cả các loạiđộng sản, kể cảđộngsản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liền với đất đai. Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 [58] quy định mua

28

bán hàng hóa trong khái niệm về hoạt động thương mại: “Hoạt động thương mại làhoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ,đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

Khoản 1 Điều 4 Luật giá 2012 [59] quy định, hàng hóa là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản.

Khoản 6 Điều 4 Luật hải quan 2014 [61] thì hàng hóa bao gồm động sản cótên gọi và mã số theo danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan.

Từnhững quy định và luận giải trên, có thể hiểu, hàng hóa là một khái niệm đa dạng và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, khi tiếp cận khái niệm về hàng hóa phảiđáp ứng đượccác tiêu chí như về tên gọi, mã số, tài sản cóthể lưu thông trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người trong xã hội. Khi thương mại quốc tế mới xuất hiện, hàng hóa dịch chuyển trong phạm vi hẹp, khung pháp lý đơn giản. Nhưng dần dần, sựhội nhập, thông thương buôn bán giữa các nước nhiều hơn thì sản phẩm hàng hóa được dịch chuyển có tính đa dạng, phạm vi trao đổi, mua bán mở rộng hơn ở chủ thể, đối tượng và phạm vi.

Vềkhái niệm nhập khẩu, theoTừđiểnTiếng Việt [56], nhập khẩu là đưa hàng hoá hay tư bản của nước ngoài vào nước mình; phân biệt với xuất khẩu. Nhưvậy, có thể hiểu nhập khẩu là một hoạt động mà hàng hóa hay tư bản được đưa vào lãnh thổ một quốc gia nào khác và có yếu tố nước ngoài.

Theo tácgiảBùi Xuân Lưu [44], thì “Nhập khẩu là mua hàng hoá, dịch vụ của nước ngoài”.Đólà khâu cơ bản củahoạtđộng ngoại thương. Nhập khẩu là hoạtđộng kinh doanh, buôn bán diễn ra trên phạm vi toàn thế giới với nhiều cấp độ khác nhau. Nhập khẩu không chỉ thể hiện đốivớihoạt động traođổi,buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền kinh tế có tổ chức bên trong và bên ngoài. Nhập khẩu cònthể hiện sựphụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế quốc gia vớinềnkinhtếthế giới, đặc biệt trong tình hìnhthếgiới hiện nay xu hướng liên kết toàn cầu và khu vực làm cho mức độ ảnh hưởng, tác động của từng quốc gia đối với nhau và của từng khu vực kinh tế thế giới ngày một tăng.

29

Theo quyđịnh tại Khoản 2 Điều 28 Luật thương mại 2005 [58] thì “Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Namtừnước ngoài hoặc từkhu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.

Có thể hiểu rằng, hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa được dịch chuyển thuộc danh mục quy định pháp luật quốc gia và cácđiều ước quốc tếhay tiền lệ pháp do các bên xây dựng được làm thủ tục hải quan qua biên giới.

Như vậy, theo nghiêncứusinh cóthểhiểu hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là hoạtđộngthương mại, theođóhàng hóađượcdịch chuyển vào lãnhthổhảiquancủamộtnướckhác,đượccơ quanhảiquan và các cơ quan chức năng tiến hành kiểm soát theo đúng quy định theo một trình tự, thủ tục thống nhất.

2.1.1.2. Khái niệm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Hiện tại còn nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về kháiniệm “kiểmsoát” và dường như chưa có một định nghĩa thống nhất, mang tính chuẩn mực về vấn đề này. Theo từđiển Tiếng Việt,“Kiểm soát là sựxem xét để phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định” [56].

Tiếp cận từgóc độ khoa học quản lý, các tác giả Schoderbeck, Cosier và Aplin (1988) cho rằng “kiểm soát” là hoạt động đánh giá và chỉnh sửa những lệch lạc so với tiêu chuẩn đã được xác định. Kiểm soát do đó bao gồm các hoạt động như: thiết

lập tiêu chuẩn, đánh giá thực tế bằng cách so sánh thực tế với tiêu chuẩn, chỉnh sửa

những lệch lạc từ thực tế so với tiêu chuẩn đãxác lập…Cũng tiếp cận ở góc độ này, các tác giả Jones và George (2003) cho rằng kiểm soát là “quá trình mà cơ quan chức năng giám sát và điều tiết tính hiệu quả trong hoạt động của một tổ chức hay cá nhân. “Kiểm soát” cũng có nghĩa làgiữcho cho hoạt động của tổ chức, cá nhân theo đúng định hướng và dự kiến các sự kiện có thể xảy ra” [32, tr.13].

Kiểm soát được hiểu là tổng thể các phương pháp đểnắm bắtvà điềuhànhđối tượng quản lý. Như vậy, kiểm soát là một chức năng quan trọng và không thể tách rời trong hoạt động quản lý nhà nước đối vớimột lĩnh vực cụ thể. Đó là quá trìnhđánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soátnhằm đảm bảo sựtuân thủ các chính

30

sách, cáckếhoạch và các quyđịnh pháp luật hiện hành,đảm bảocác hoạt độngđược diễn ra theo đúng mục tiêu đã định.

Theo tác giả Nguyễn Quang Quynh [46], “Kiểm soát được hiểu là tổng thể các phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý. Theo đó, kiểm soátđượchiểu là cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua các biện pháp hoặc chính sách; đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi phối đáng kể dựa trên quyền lợi và lợi ích; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua nội quy, quy chế”.

Trong hoạt động thương mại, việc kiểm soát hàng hóa đóng vai trò quan trọng. Nó thể hiện vai trò chủđạo của Nhà nướckhi thực hiện các chính sách, chủ trương, pháp luật trong tổng thể định hướng phát triển kinhtếquốc gia theo mộttrật tựthống nhất, nhất quán. Để việc quản lý và thực thi có tính ổn định, bền vững thì hoạtđộng kiểm soát cần được thực hiện hiệu quả về góc độ pháp luật và thực hiện pháp luật và bảo đảm cơ chế thực thi. Kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu diễn ra rất sớm, trong lịchsửkiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, cácnướccónềnkinhtếphát triển như Mỹ, Pháp, Đức đều đã có những chế định liên quan đến kiểm soát hàng hóa nhập khẩu như công nhận chức năng kiểm soát của hải quan đến với việc kiểm tra các chứng

từvềhàng hóa nhập khẩu. LuậtHảiquan Pháptừcuốithếkỷ19 cũng quyđịnhvềchức năng của hải quan về kiểm tra chứng từ, sổ sách hàng hóa.

Như vậy, kiểm soát hàng hóa là tổng hợp các biện pháp, nội dung, phương thức nhằm xem xét đểphát hiện, ngăn chặn những hành vi dịch chuyển hàng hóa trái với quyđịnh của pháp luật. Kiểm soát là một quá trình thực hiện một, một sốhoặc toàn bộ công đoạn nhằm ngăn chặn các hành vi trái với quy định được đặt ra.

Trong khoahọcluật kinhtế,thuậtngữ“kiểmsoát hànghóa”là khái niệm đề cập đến các nội dung và cách thức được thực hiện theo quy định của nhà nước đểhànghóa đượclưu thông trên thị trường đúng quyđịnh,đảmbảoquảnlý vềkinhtếđốivớihàng hóa,đồngthờibảođảmđượcsựtựdo thực hiện các hoạtđộng trao đổi, mua bán hàng hóa trên thị trường có yếu tố nước ngoài.

Về nội hàm khái niệm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới có những cách tiếp cận khác nhau. Có quan điểm cho rằng, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua

31

biên giới chính là kiểm soát hải quan. Cũng có ý kiến cho rằng, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới hiểu theo nghĩa hẹplà kiểm tra hải quan. Trong luận án này, đốitượngnghiên cứu là hàng hóa nhập khẩu qua biên giới nên nghiên cứu sinh tiếp cận các cơ sở lý luận từnhững quan điểmtrên đểđưa ra khái niệm như sau:

“Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là những hoạt động bao gồm các hoạtđộng nghiệp vụ như kiểm tra, giám sát, thanh tra và các hoạtđộngkhác nhằm xem xét, theo dõi, đánh giá việc đưa hàng hóa qua biên giới. Qua đó, nhằm hạn chế các hành vi gian lận thương mại”.

Như vậy, những khái niệm được phân tích ở trên đã phần nào tạo ra những cơ sởlý luận về kiểm soát, kiểm soát hàng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới giúp cho nghiên cứu sinh có những hướng nghiên cứu trong các nội dung liên quan đến luận án.

2.1.2. Phạm vi, chủ thể, đối tượng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới 2.1.2.1. Phạm vi kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Hiện nay, hàng hóa được nhập khẩu vào lãnh thổ quốc gia thông qua nhiều hình thức khác nhau như tiểu ngạch, chính ngạch, qua cửa khẩu chính, đường mòn, lối mở của cư dân biên giới. Cơ quan hải quan và các lực lượng kiểm soát khác trong chức năng nhiệmvụ sẽ thực hiện theo kế hoạch, theo chuyên đề nội dung, phối hợp thực hiện các hoạt động có tính chất nghiệp vụđểkiểm tra hàng hóa, giám sát hàng hóa ở các khu vực cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu biên giới đường thủy nộiđịa; cửa khẩu ga đường sắt liên vận quốc tế trong nội địa; cửa khẩu cảng hàng không dân dụng quốc tế; cửa khẩu cảng biển, cảng thủynội địa có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; bưu điện quốc tế; tại các khu vực ngoài cửa khẩu và tại khu vực, địa điểm khác theo quy định của pháp luật hải quan và thông lệ quốc tế.

Như vậy, có thể thấy, phạm vi kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới rất rộng, sự kiểm soát này phụ thuộc vào quy định của các quốc gia và tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử.Hiện nay, phạm vi kiểm soát ở các nước đãcó tính tương thích và phù hợp với các quy định trong các văn bản pháp lý quy định về lãnh thổhải quan, phạm vi về biên giới theo luật quốc tế.

32

2.1.2.2 Chủ thể, đối tượng kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

–Chủthể kiểm soát: Nghiên cứu về chủ thể kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đóng vai trò quan trọng đối với việc xác định vai trò, thẩm quyền trong quá trình thực thi chức năng mà pháp luật quyđịnh.Chủ thể kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới bao gồm các cơ quan, lực lượng được nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động về nghiệp vụ, chuyên môn, quản lý, điều hành, xử lý các hoạt động khi hàng hóa có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Trong quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu hiện nayở Việt Nam, chủ thể thực hiện việc kiểm soát chủ yếu là lực lượng hải quan. Điều 12 Luật hải quan 2014 [61] quy định: “Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới;tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quyđịnh khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhànước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”. Có thể thấy, không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới khi nói đến kiểm soát hàng hóa qua biên giới đều ghi nhận sựquan trọng và thiết yếu của lực lượnghải quan. Tuy nhiên, hải quan làlực lượng chủlực trong quá trình kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện quy định về quản lý nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới còn có các lực lượng kiểm soát chuyên ngành nhưBộKhoa học công nghệ, Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ công thương, Bộ thông tin và truyền thông, Bộ xây dựng… Theo đó, các Bộ chuyên ngành trong chức năng và thẩm quyền của đơn vị mình cóthể ban hành hoặc tham mưu ban hành các văn bản chuyên ngànhđối với quản lýhàng hóa nhập khẩu qua biên giới, cấp giấy phép hoặc phối hợpthực hiện các nghiệp vụ chuyên môn đối với hàng hóa hóa nhập khẩu vào lãnh thổ cần kiểm tra chuyên ngành theo luật định.

33

Như vậy, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đượcthực hiện bởi nhiều chủ thể kiểm soát khác nhau. Theo quy định tại các quốc gia, kiểm soát và tổ chức thực hiện kiểm soát hàng hóa nhập khẩu vớicơ chế khác nhau. Cơ quan hải quan là chủ thể kiểm soát chủ yếu, thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụđược pháp luật quy định và phù hợp với chủ trương, chính sách quốc gia trong quátrình “gác cổng kinh tế quốc gia”.

–Về chủthể bịkiểm soát: là các doanh nghiệp thực hiện hoạtđộng mua bán hàng hóa nhập khẩu qua biên giới trên địa bàn hải quan. Doanh nghiệp khi thực thi các hoạt động về nhập khẩu qua biên giới được kiểm soát theo hai phương diện theo mặttích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, nếuchủ thểthực hiện đúng các quy định sẽ tạo điều kiện thông quan hàng hóa nhanh chóng, thủ tục đơn giản… Về mặt tiêu cực, doanh nghiệp hoặc các chủ thể có quyền khác nếu trong quá trình thực hiện lợi dụng sựbất cậpcủa pháp luật hoặc vi phạm các quy định, quy tắc đối với quản lýnhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thì có chế tài áp dụng điều chỉnh nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng.

–Đối tượngkiểm soát: là hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Hàng hóa lànhững động sản không bao gồm bất động sản, có mã số và tên gọi theo quy định của pháp luật, tức là theo danh mục HS, theo danh mục hàng hóa được nhập khẩu theo quy định. Tùy thuộc vào tính chất của hàng hóa nhập khẩu, chính sách và chế độquản lý của nhà nước mà hàng hóa nhập khẩu được phân loại khác nhau.

2.1.3. Yêu cầu kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới cần phải đáp ứng yêu cầu sau:

Một là, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới phải mang tính toàn diện Tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn thiện củamột hệ

thống pháp luật. Có thể nói, đây là tiêu chuẩn để định lượng một hệ thống pháp luật, nhưng nó lại có ý nghĩa rất quan trọng, vì chỉ khi nào định lượng được mới có thểtiếp tục nghiên cứu để định tính [82, Tr. 407]. Tính toàn diện khi kiểm soátđối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới được thể hiện thông qua thể chế, chính sách, pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật gắn liền với mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể.

34

Tuy nhiên, cần xét các yếu tố và tác động của những yếu tố này khi thực thi các biện pháp kiểm soát trong từng thời kỳ và hoàn cảnh thực tiễn cụ thể.

Hai là, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới phải bảo đảm tính thống nhất, thiết thực

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan cần phải thống nhất, đồngbộ với hệ thống pháp luật khác, các văn bản pháp lý liên quan. Đồng thời, khi xây dựng và thực thi pháp luật về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới cầnxét đến tính tương thích trong hệ thống pháp luật quốc tế, các thông lệ quốc tế, hướng đến những chuẩn mực đối với hoạt động kiểm soát hàng hóa qua biên giới. Mặt khác, tính thống nhất và thiết thực luôn gắn chặt trong quá trình kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Thống nhất trong áp dụng vàthực hiện pháp luật; thiết thực trong xây dựng quy trình, quy mô và phối hợp khi kiểm soát. Như vậy, tính thống nhất và thiết thực khi kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới phải được xem xét tổng hòa trong quá trình quản lý, chỉ đạo, điều hành và phối hợp thực hiện nhằm tăng tính thực tiễn, hiệu quả cao nhất.

Ba là, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới phải bảo đảm tính minh bạch Trong xu thế thương mại toàn cầu, rào cản về hệ thống pháp lý và các chính

sách thươngmạiquốctếlàảnhhưởngkhôngnhỏtrong quá trình thúcđẩytựdo hóa thương mại, thiết lập mối quan hệ trong hợp tác kinh tế. Tăng cường minh bạch về thông tin, chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính là những yêu cầu quan trọng để bảo đảm thươngmại tựdo, tôn trọng sựvậnđộngtấtyếu củahợp tác trong kinh tế. Tính minh bạch là yêu cầu trong hệ thống pháp luật nhằm hướng đến sự thống nhất trong hiểu biết pháp luật, giúp các chủ thể khi tiếp cận dễ dàng và thực hiện pháp luật theo một trậttựthống nhất. Vì vậy, yêu cầu về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu đảm bảo tính minh bạch phải vừa được thể hiện trong nội dung và phương thức kiểm soát.

Bốn là, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới bảo đảm yêu cầu hài hòa chính sách kinh tế nội địa và chính sách xuất khẩu, nhập khẩu.

Trong sựphát triển chung của thương mại quốc tế, việc các quốc gia tăng cường các hoạt động kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu là yêu cầu cần thiết, tất

35

yếu. Sựkiểm soát được thực hiện qua hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế thực hiện bằng các công cụ, phương thức khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, khi mà sự giao thoa thương mại ngày càng đa dạng và có tính phức tạp thì kiểm soát đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới hết sức cần thiết và thận trọng. Điều này xuất phát từđặcthù hàng hóa nhập khẩu đa dạng về chủng loại, đối tượng, chủ thể tham gia vào quan hệ thương mại phức tạp. Thực tế này đòi hỏi phải đặt ra những yêu cầu cốt lõi như kiểm soát hiệu quả, hài hòa, vừa đảmbảo được sựthống nhất trong quan hệ nhà nước về thương mại quốc tế, hài hòa hóa pháp luật nội địa vàquốc tế. Đảm bảo tính khả thi, hiệu quả, ổnđịnh nền kinhtế trong nước,bảo vệan ninh quốc phòng, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đóđưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, thực thi, đảm bảo phù hợp pháp luật quốc gia và nội luật hóa các cam kết nhà nước khi thực thi các hiệp định về thương mại, hải quan mà Việt Nam là thành viên.

2.1.4. Vai trò của kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Thứ nhất, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới nhằm bảo đảmhiệu quả khi thực hiện chỉđạo nhà nướctrong việc thể chế hóa các chính sách về thương mại, thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng cường quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài nhập khẩu trong xu thế toàn cầu hóa. Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới giúp cho nhà nước thực hiện tốt chính sách quản lý kinh tế bằng pháp luật, thực hiện hiệu quả chính sách thu thuế, chính sách quản lý mặt hàng, thực thi bảo vệ quyền sở hữu trítuệ đảm góp phần nâng cao hiệu quả khi thực hiện chính sách thuế, tạp nguồn thu ngân sách quốc gia đối với hàng nhập khẩu qua biên giới chính xác, hiệu quả.

Thứ hai, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới sẽ tạo sự minh bạch đối với hoạt động quản lý nhà nước đối với xuất nhập khẩu, tạo sự tin tưởng, thiết lập sựcông bằng đối với doanh nghiệp, thúc đẩy sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện kinh doanh nhập khẩu hàng hóa. Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới còn giúp ngăn ngừa các hành vi tham nhũng đối với chủ thể quản lý khi thực thi nhiệmvụkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới,đấutranh chống lại những hành vi tiêu cực trong bộ máy nhà nước và nội bộ ngành hải quan.

36

Thứ ba, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là cơ sở để cơ quan thực hiện chức năng kiểm soát tăng cường hiệu quả công tác phối hợp, nâng cao chất lượng độingũ, tăngcường ứngdụng hệ thống quản lý hiện đại trong hải quan nhưáp dụng quản lý rủi ro, hải quan điện tử, hải quan thông minh nhằm hạn chế những bất cập khi thực thi nhiệm vụ theo thẩm quyền, chức năng được phân cấp.

Thứ tư, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là cơ sở để đánh giá chất lượng hàng hóa, các quyền về sở hữu trí tuệ, chính sách mặt hàng đối với hàng hóa nhập khẩu nhằm đảm bảo quyềnlợingười tiêu dùng, bình ổn thị trường, bảo vệ môi

trường, an ninh kinh tế nội địa… thúc đẩy kinh tế quốc gia phát triển ổn định, bền vững. Từđó đề xuất các chính sách, phương thức, hệ thống pháp lý đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới phù hợp trong các điều kiện khác nhau.

2.1.5. Các yếu tố tác động đến kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới 2.1.5.1. Yếu tố pháp luật

Trong hoạt động xuất nhập khẩu, hệthống pháp luật có ảnh hưởnglớn đến việc kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Tiến trình các quốc gia đẩy mạnh thực hiện chính sáchmở cửa thị trường, tăng cường thiết lập các quan hệ kinh tế thời kỳ mở cửa thông qua ký kết các hiệp định thương mại, thiết lập các hành động chung đốivớihệ thống hải quan sẽ tạo những hiệu ứng tốt đối với thương mại quốc tế. Để đáp ứng sựthông thoángvề thương mại, hệ thống pháp luật phải được xây dựng phù hợp với thực tiễn tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và hoàn cảnh

lịch sửcủaquốc gia từng giai đoạn.Mặtkhác, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới cần tuânthủcác camkếtthương mạiquốc tế, các cam kết về hải quan quốc tế và yêu cầu nội luật hóa những cam kết, hạn chế sự xung đột với các thông lệquốc tế. Theo đó, trong hệ thống pháp luật quốc gia cần đảm bảo minh bạch, thuận tiện và đáp ứng yêu cầu cải cách pháp luật hải quan, thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia. Vì vậy, để có được những hiệu ứng tích cực đối với kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới cần xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật rõ ràng và phù hợp thể chế, chính sáchcủanhànước,vớithônglệquốctế.Đặcbiệt, các quyđịnh pháp luật cần được nghiên cứu đáp ứng sự phù hợp thực tiễn thực thi trong quá

37

trình quản lý. Đây là các yêu cầu cơ bản có tính nguyên tắc nhằm thúcđẩy mục tiêu hiện đại hóa hải quan Việt Nam trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trườngở Việt Nam hiện nay.

2.1.5.2. Bộ máy quản lý và nguồn nhân lực kiểm soát

Mỗi hoạt động kinh tế đều có vai trò quản lý của nhà nước. Việc quản lý nhànước trong chức năng, nhiệmvụ của hải quan đặt ra những yêu cầu cần thiết vềchuẩn mực và khuôn khổ trên cơ sở nhất quán, hệ thống từ chính sách,kế hoạch đến hành động. Bộ máy nhân sựvà sựphân công,phối hợp vềthẩm quyền giữa các cơquan phải vừa đảm bảo tính thống nhất chỉ đạo từ cơ quan quản lý cấp trên đến hệthống thực hiện của công chức hải quan, các bộ, ngành, cơ quan cấp tỉnh… được thống nhất, đảmbảo vừa đúng pháp luật, vừa đảmbảo tính hợp tác trong thương mại quốc tế.

Ở Việt Nam, bộ máy thực hiện hoạt động kiểm soát hải quan đượcquyđịnh tại Điều 100 Luật hải quan 2014 [61] bao gồm: “1. Chính phủthống nhất quản lýnhà nước về hải quan; 2. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan; 3. Bộ, cơ quan ngangbộtrong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý nhà nước về hải quan; 4. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về hải quan tại địa phương”. Như vậy, đối với cơ quan quản lý hải quan đã quy định khá chặt chẽ. Điều này tạo nên sự quản lý có tính xuyên suốt theo quản lý dọc và quản lý ngang.

Về nhân sựthực hiện hoạt độngkiểm soát, vai trò củalực lượng kiểm soát

(kiểm soát chung, kiểm soát chuyên ngành) là những nhân tố tác động (tích cực , tiêu cực) khi đóng vai“người gác cổng kinhtế” cho quốc gia. Trình độ, năng lực của cán bộhải quan ảnh hưởng trong quá trình thực hiện nghiệp vụđối với việc kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Đội ngũ cán bộ kiểm soát nếu không có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao thì chính sách dùcó tốt đến đâu cũng tồn tại bất cập, chính sách ban hành không phát huy được tác dụng, ảnh hưởng đến mục tiêu cải cách hải quan, thúc đẩythương mại tựdo của nhà nước. Vì vậy, nhà nước cần nghiên cứu áp dụng các chế độ đãi ngộ phù hợp với chức năng, nhiệm

38

vụđược phân công đểtăng cường hiệu quảđối vớicông tác quản lý và thực hiện đối với tổ chức và cán bộ thực hiện công tác kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, cần phân định rõ ràng vai trò và trách nhiệm của công chức hải quan theo đềán việc làm, theo nhu cầu kiểm soát, theo địa bàn kiểm soát.

2.1.5.3. Cơ chế phối hợp trong hoạt động kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Về cơchế phối hợp,hoạt độngkiểm soát theo quy định của pháp luật hải quanđược quyđịnh tạiĐiều 9 Luật hải quan 2014 [61]: “1. Cơ quan hải quan có trách nhiệm chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn vị vũ trang nhân dân thực hiện pháp luật về hải quan; 2. Cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cơ quan hải quan hoàn thành nhiệm vụ.

Như vậy, vai trò kiểm soát nhànước đối với việc kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đã được quy định có tính chất hệ thống từ cơ quan quản lý cấp trung ương (Quốc hội, Chính phủ) đến các cơ quan quản lý đặc thù là cơ quan hải quan, cơ quan kiểm soát chuyên ngành, phối hợp trong các lĩnh vực mà Bộ, ngành quản lý nhưBộKhoa học công nghệ, Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; các đơn vị quản lý

hành chính cấp tỉnh…

2.1.5.4.Ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp

Đối vớinhập khẩu hàng hóa qua biên giới, vai trò của doanh nghiệp đóng tácđộng lớnđối với sựkiểm soát hàng hóa. Doanh nghiệp nắm bắt các chính sách, quyđịnh pháp luật, ý thức tuân thủ, chấp hành các quy định của quốc gia về hàng hóa nhập khẩu sẽ thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, việc kiểm soát hàng hóa của cơ quan hải quan cũng thuận tiện, tạo điều kiện thực hiện phương thức quản lý rủi ro đối với hàng hóa lưu thông qua hải quan, đảm bảo an ninh hàng hóa, bảo vệ môi trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại và vi phạm sở hữu trí tuệ đối với hàng nhập khẩu. Mặt khác, sẽ tác động trái chiều, tình hình vi phạm khó kiểm soát trong quá trình thực thi chính sách quản lý ngoại thương.

39

Ngoài ra, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu theo pháp luật hải quan thì doanh nghiệp cũng là đối tác bảo vệ, hỗ trợ giúp hải quan, cơ quan chuyên ngành, cơ quan quản lý có khả năng nhận diện, kịp thời ngăn chặn, xử lý các trường hợp vi phạm khi được doanh nghiệp cung cấp thông tin. Vìvậy, sựtuân thủ pháp luật của doanh nghiệp sẽ giúp nhà nước nâng cao được hoạt động kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, bảo đảmtính liên kếttích cực giữa doanh nghiệp và nhà nước.Làkênh thông tin để nhà nước và doanh nghiệp thực hiện và giải quyết tốt cácvấnđề về pháp lý và thực tiễn thực hiện pháp luật về hải quan.

2.1.5.5. Khoa học công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin

Xu thế phát triển công nghệ đòi hỏi các quốc gia phải tối đa hóa các lợi ích mà khoa học kỹ thuật mang lại. Việc áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hải quan là yêu cầu cấp thiết. Hiện nay, theo ghi nhận, các quốc gia trên thế giới đãcơ bản thayđổi cách quản lý hải quan truyền thống sang quản lýhảiquanhiện đại,dịch chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm nhằm tạođiều kiện hàng hóa thông quan nhanh chóng, xử lý các vấn đề phát sinh trong quátrình phòng ngừa, chống lại các hành vi vi phạmvề hải quan. Mặtkhác, áp dụng tiến bộkhoahọccông nghệ vào quản lý hải quan sẽ rút ngắn thời gian kiểm soát, hạn chế tác động vào hàng hóa theo kiểm tra truyền thống. Đồng thời, kiểm soát thông qua hảiquanđiệntửtạorahệthốngdữliệu tích hợp,đồngbộvà liên thông giữa các cơquan,địaphương,hỗtrợtrong quá trình lưu thông hàng hóa hay thu thập,xửlý các thông tin thông qua tình báohảiquan, quản lýhảiquan bằng việc áp dụng côngcụ

quản lý rủi ro…

2.1.5.6. Xu thế tự do hóa thương mại và hợp tác quốc tế về hải quan

Thúc đẩytựdo hóa thương mại là những mục tiêu hợp tác của các quốc gia trong xu thế liên kết kinh tế toàn cầu. Hàng hóa, sản phẩm lưu thông trên thị trườngđược dịch chuyển dễdàng từlãnh thổ hảiquan này sang lãnhthổhải quan khác chứng tỏ thương mại tự do được thúc đẩy. Tự do hóa thương mại sẽ hạn chế sự bảo hộ trong chính sách quản lý ngoại thươngcủaquốc gia. Nếu đi ngược lại xu thế tựdo hóa sẽkéo theo sựảnh hưởng rào cản đến thương mại công bằng, xuất hiện

40

chính sách trả đũa, áp dụng các biện pháp phân biệt đối xử hàng hóa nhập khẩu vànội địa. Thực tếminh chứng rằng, không một quốc gia nào trên thế giới đứng ngoài lề cuộc chơi về hợp tác thương mại. Điều này khẳng định tính liên kết kinh tế giữa các quốc gialà một sựvận động tất yếu, phù hợp. Để thực thi ưu đãi về thương mại, các nước tiến hành đàm phán, đưa ra các cam kết thiết lập những điều khoản tương xứng trong thiết chế song phương hoặc đa phương.Vì vậy,“hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan đang ngày càng trở nên quan trọng vàđược thúc đẩy trong các diễn đàn hợp tác khác nhau với các hình thức hợp tác đa dạng, linh hoạt và phong phú” [111]. Có thể nhậnđịnhrằng, xây dựng chính sách pháp luật, thiết lập kế hoạch hợp tác quốc tế về hải quan là yêu cầu cấp thiết của các quốc gia hiện nay. Hợp tác hải quan nhằm hỗtrợcác quốc gia tiếpcận được cáctiến bộ khoa học mới về hải quan hiện đại, kiểm soát bằng các công cụ điện tử thông minh, quản lýrủi ro. Đồng thời,hợptác hảiquansẽ giúp các quốc gia xây dựngđược hệthống kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu liên thông, tích hợp, liênkếtcung cấp thông tin

hải quan, tình báo hải quan… trong các điều ước quốc tế về hải quan, dễ dàng kiểm soát những hành vi vi phạm trong giao thương hàng hóa qua biên giới.

Ngoài ra, hợp tác trong kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới sẽ tăng cường, nâng cao đượctrình độ chuyên môn của công chức hải quan về quản lý, chấp hành pháp luật và thực thi quy định công vụ, tiếp cận các quy cách, chuẩn mực pháp lý trong các hiệp định thương mại, nâng cao hiểu biết, năng lực thực hiện công việc như các quyđịnh về trị giá hải quan, kiểm tra sau thông quan, quản lý rủi ro, phân loại hàng hóa, kiểmđịnh chất lượng, xuất xứhàng hóa, điều tra chống buôn

lậu, gian lận thương mại, vi phạm sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa…

2.2. Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan

2.2.1. Sự cần thiết khách quan của kiểm soát hàng hóa nhập khẩu theo pháp luật hải quan

Từkhái niệm về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới có thể nhận thấy

rằng kiểm soát hàng hóa là yếu tố tất yếu trong quá trình thực thi pháp luật hải quan. Việc thiết lập các hoạt động kiểm soát hàng hóa nhập khẩu cần tuân thủ theo một hệ

41

thống pháp luật đáp ứng các tiêu chí, mục đích và nguyên tắcnhất định. Mỗi hệthống pháp luật đều có những sựtác động đốivới các quan hệ điều chỉnh phát sinh liên quan đến các chủ thể cụ thể. Để có cơ sở pháp lý làm căn cứ điều chỉnh những quan hệ nhất định trong nhập khẩu hàng hóa qua biên giới các quốc gia cần ban hành các văn bản pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụcủacác chủ thể có liên quan, cách thức, trình tự và các quy định liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa. Vì vậy, có thể hiểu, pháp luật kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giớilà hệthống các quy tắcxửsựchung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới,đảmbảo sựtuân thủ pháp luật của các đối tượng thực hiện nhập khẩu hàng hóa.Hệthống các quy phạm này đượcđược xác lập, ghi nhậnchủ yếutrong các văn bản pháp luật hải quan. Pháp luật hải quan là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về hải quan.

Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan là cần thiết khách quan, điều này xuất phát từ những lý do cơ bản sau:

– Một là, pháp luật hải quan xác định rõ chủ thể, đối tượng, phạm vi kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Về nguyên tắc, tất cả các DN, các bên liên quan đến hoạtđộng NK hàng hóa hoặcđếnviệc nhận hàng, lưu kho, sản xuất, vận chuyển hàng hóa đều thuộc phạm vi đối tượng kiểm soát hải quan.

– Hai là, pháp luật hải quan xác lập nghĩa vụ và quyền của các bên trong kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Nghĩa vụ và quyềnhạncủacác bên trong kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là những quyđịnh mà các bên phải thực hiện và được phép thực hiện trong quá trình tiến hành kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

– Ba là, pháp luật hải quan quy định nội dung, phương thức cũng như quy trình kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Chẳng hạn tùy theo trình độ, cơ sở vật chất của các nước mà quy trình KTSTQ ở mỗi nước được xây dựng theo các cách

42

khác nhau, tuy nhiên các quy trình này luôn tuân thủ 3 bước chính đó là: Chuẩn bịkiểm tra, tiến hành kiểm tra và kết luận kiểm tra.

Như vậy, pháp luậthảiquan đã tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới được thực hiện một cách chính xác, hiệu quả. Hoạt động kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới của ngành Hải quan được thực hiện theo quy định tại Luật Hải quan, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Luật hải quan. Hệ thống các văn bản pháp lý này đã góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới của ngành Hải quan trong tiến trình cải cách, hội nhập. Cũng chính thông qua việc thực hiện kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan mà cơ quan hải quan đã phát hiện nhiều bất cập, tồn tại, kẽ hở của pháp luật, từđó đề xuất kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luậthảiquanđápứng yêucầuquản lý nhà nước về hải quan nói chung và kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới nói riêng.

Hiện nay điều chỉnh kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan được quy định theo các nhóm quy phạm khác nhau như nhóm nguyên tắc về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu; nhóm quyđịnhvềphạm vi,đốitượng,chủthểkiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; nhóm quy định pháp luật về nội dung kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; nhóm quy phạm quyđịnhcác phương thức kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; nhóm các quy phạm về xử lý vi phạm đối với kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới… Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh chỉ tập trung làm rõ các vấn đề pháp lý về nội dung kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới và nhóm quy phạm quy định các phương thức kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan.

2.2.2. Nội dung kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan

2.2.2.1. Kiểm soát tên hàng, mã số hàng hóa nhập khẩu – Kiểm soát tên hàng

Hiện nay, khái niệm về tên hàng hóa còn tồn tại một số quan điểm khác nhau. Trong các hợp đồng mua bán hàng hóa,điều khoản về tên hàng thường đưa ra cụ

43

thể hàng hóa nhất định, trong đó nêu rõ các thông tin về tên gọi hàng hóa. Thông thường, têngọicủahàng hóađượcghimộtcáchđầyđủ,rõ ràng, chính xác, cókèm theo tên thương mại. Nếu đối tượng của việc mua bán gồm nhiều mặt hàng, chủng loại hàng khác nhau thì ghi rõ danh mục của mặt hàng đó. Danh mục các loại mặt hàng này có thể được coi là phụ lục của hợp đồng.

Như vậy, có thể hiểu tên hàng hóa là thông tin được công bố, thểhiện đặc trưng của một sản phẩm cụ thể nằm trong danh mục, tiêu chuẩn nhất định được cơquan có thẩm quyền công nhận hoặc được sử dụng phổ biến, được người tiêu dùng chấp nhận khi lưu thông trên thị trường.

Kiểm soát tên hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là việc sử dụng các nội dungđược quyđịnh thông qua các phương thức, biện pháp, nghiệp vụ của cơ quan nhànước có thẩm quyền thực thi theo pháp luật hải quan, thương mại, pháp luật khác nhằm kiểm tra, giám sát và các biện pháp khác đối với doanh nghiệp nhập khẩuđảm bảo thông tin hàng hóa phùhợp được công bố, thểhiện đặc trưng của hàng hóa nằm trong danh mục hàng hóa của theo tiêu chuẩn nhất định được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc được sử dụng phổ biến.

Theo đó, hàng hóa càng được lưu thông trên phạm vi càng rộng thì mức độ tựdo hóa càng cao. Vì thế, để hàng hóa được cung ứng trên thị trường (nội địa và xuất nhập khẩu) cần đánh giá đúng vai trò đối với kiểm soát hàng hóa. Đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, sự kiểm soát này thể hiện các vai trò như sau:

Một là,đảm bảo được sựđiều chỉnh của pháp luật và chính sách quản lý trong thực thi kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới. Việc lưu thông hàng hóa giữa các nước có thể thuận tiện hoặc hạn chếtùy theo chính sách thương mại quốc gia đối với việc thực thi cam kết thương mại quốc tế. Tuy nhiên, thực tế, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu còn tồn tại một số bất cập. Vì vậy, các nội dung kiểm soát vềtên hàng hóa, nghiệp vụ, kỹthuật kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giớivềtên hàng sẽ tác động tích cực đối với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình đối chiếu, xácđịnhdanh mục tên hàng hóa, thực hiện việc áp thuế, so sánh, đối chiếu hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, trị giá hải quan, quytắc xuất xứhàng hóa

44

nhập khẩu. Mặt khác, kiểm soát tên hàng hóa nhập khẩu qua biên giới nhằmmụcđích xác định loại hàng xuất khẩu, nhập khẩu qua đó đối chiếu với chính sách quản lý mặt hàng để xác định rõ với hàng hóa đó có bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu không hay thuộc loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện.

Hai là, kiểm soát tên hàng hóa nhập khẩu qua biên giới giúp nhà nước rà soát hệ thống danh mục các hàng hóa nhập khẩuđối với chính sách quản lý mặt hàng. Từđó ban hành các thể chế, quy định pháp luật phù hợp, thiết thực trong quá trình kiểm soát tên hàng hóa nhập khẩu. Đồng thời, bổ sung tên hàng hóa mới vào danh mục hàng hóa theo quy định của pháp luật để xác định mức thuế, chính sách ưu đãi về thuế và thống kê xuất nhập khẩu khi hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

Ba là, kiểm soát tên hàng hóa nhập khẩu qua biên giới tạora sựminh bạch, công bằng đối với doanh nghiệp, xây dựngđược niềm tin cho cộngđồng thương nhân. Mặt khác, kiểm soát tên hàng giúp nhà nước dễ dàng phân loại hàng hóa, tránh nhập khẩu các hàng hóa nằmtrong danh mục cấmnhập khẩu, hàng hóa có nguy cơ ảnh hưởng cao đến sức khỏe, môi trường và các hành vi vi phạm pháp luật khác; Hỗ trợ tích cực đối với doanh nghiệp chấp hành các quy định của hải quan vàcơ quan kiểm soát chuyên ngành khi hàng hóa lưu thông qua biên giới.

Với đặctính đa dạng về chủng loại hàng hóa, khi áp dụng nội dung kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới phải đảm bảo được các yêu cầu cơ bản, cụ thể:

Thứ nhất, mô tả rõ ràng, đầy đủ thành phần, hàm lượng, tính chất, cấu tạo, đặc điểm vàcông dụng, đáp ứng các tiêu chí vềtên gọi, mô tả hàng hóa tại danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Thứ hai, đối chiếu tên hàng khai báo với nội dung chú giải phần, chương, phân chương, nhóm, phân nhóm liên quantạidanh mục hàng hóa nhập khẩu; tàiliệu kỹthuật, chứng từ khác liên quan đến hàng hóa tại hồ sơ hải quan.

Thứ ba, quá trình kiểm soát tên hàng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và đượcthực hiện bởi quy trình, nghiệpvụ chặt chẽ. Kiểm soát phải đượcđa dạng, linh động thực hiện tại các biên giới hải quan và các địa điểm theo quy định

của pháp luật, hạn chế sự tác động của kiểm soát trực tiếp, tăng cường áp dụng khoa học kỹthuật, quản lý rủi ro và kiểm tra sau thông quan, chuyển dần từtiền kiểm

45

sang hậu kiểm. Quá trình kiểm soát phải thực hiện minh bạch, công khai, công bố thông tin cho doanh nghiệp khi thực thi hoạt động kiểm soát.

Thứ tư, kiểm soát tên hàng hóa nhập khẩu qua biên giới phải đảm bảo sự thuận lợi cho doanh nghiệp thực thi pháp luật hải quan, tạo điều kiện kiểm soát nhanh để

thuận tiện cho doanh nghiệp chấp hành tốt và xử lý hiệu quả doanh nghiệp vi phạm. Thường xuyên trao đổi, tiếp nhận các thông tin phản ánh của doanh nghiệp trong quá trình quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu liên quanđến kiểm soát tên hàng, cải cách và nâng cao tính chuyên nghiệp trong thực thi các quy trình, thủ tục hành chính liên quan đến nội dung này.

– Kiểm soát mã số hàng hóa

Đối với kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, “xác định mã số hàng hóa là mộtviệc khó, không chỉ đòi hỏiphải nắmvững các quy tắc, quyđịnhcủa pháp luậtvề phân loại hàng hóa, mà còn phải có sựhiểu biết (trong nhiều trường hợp đòi hỏi phải hiểu biết sâu) về hàng hóa (thành phần, cấu tạo, hàm lượng, công dụng”[66].Vềgócđộphân biệt, mã số hàng hóa là thông tin đặc trưng, riêng biệtđối với từng hàng hóa cụ thể.Mỗihàng hóa được nhận diện bởi một dãy số và mỗi một dãysố chỉ tương ứng với một loại hàng hóa. Mã số hàng hóa giúp phân biệt nhanh chóng, chính xác các loại hàng hóa khi lưu thông trên thị trường đảmbảo tính minh bạch đối với khách hàng và nhà quản lý khi “can thiệp” nếu có dấu hiệu nghi ngờ vi phạm.

Có thể hiểu, kiểm soát mã số hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là nội dung, cách thức, biện pháp pháp lý đối với hoạt động thương mại của doanh nghiệp nhằm thực hiện các quy định pháp luật phù hợp với quy định về nhập khẩu của các quốc gia nhằm giám sát, kiểm tra, thanh tra tình hình thực hiện pháp luật nhập khẩu của doanh nghiệp, các chủ thể khác khi thực hiện hoạt động thương mại qua biên giới.

Mã số hàng hóa được xem như con số định danh một hàng hóa nhất định. Vì thế, việc kiểm soát đối với nội dung này cần được tuân thủ theo những yêu cầu sau:

+ Kiểm soátcầnxác định đượcmã số hàng hóa rõ ràng,đầyđủ,chính xác theo mức độ chi tiết hàng hóa của mặt hàng cần phân loại tại danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể, cần đối chiếu theo danh mục hàng hóa mà quốc gia

46

quyđịnh dựa vào sựcung cấp của nước xuất khẩu, hoặc thông tin tổng hợp của quốc gia nhập khẩu.

+ Kiểm soát mã số hàng hóa nhập khẩu phải đối chiếu tên hàng, mã số hàng hóa khai báo với tên hàng, mã số tại danh mục hàng hóa rủi ro về phân loại trong lĩnh vực nhập khẩu, danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu lực tại thờiđiểmđăng ký tờkhai. Thu thập thông tinvềmã hàng, thu thập thông tin trêntờkhai hải quan, xácđịnhtrên cơ sở dữ liệu quốc gia để đối chiếu với mã số hàng hóa mà doanh nghiệp, chủ hàng khai khi thực hiện thủ tục nhập khẩu.

2.2.2.2. Kiểm soát số lượng, chất lượng hàng hóa nhập khẩu – Kiểm soát số lượng

Kiểm soát số lượng hàng hóa là cơ sở để nhà nước thực hiện các chính sách quan trọng trong lĩnh vực quản lý thuế, thống kê xuất nhập khẩu, đánh giá tỷ lệ cán cân xuất nhập khẩu hàng hóa, điều tiết chính sách quản lý mặt hàng xuất nhập khẩu. Việc kiểm soát sốlượng đượcthực hiệndựavào nhiềuyếutố như yếu tố vềcon người, công nghệ, chính sách, pháp luật… nhằm đánh giá sựtuân thủ nguyên tắc, phương pháp và quy định đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa.

Có thể hiểu, kiểm soát số lượng hàng hóa là cách thức, phương pháp có thểtổng hợp đượcít hay nhiều hàng hóa dựa vào thông tin cung cấp của nhà sản xuất haycủadoanh nghiệp thực hiện hoạtđộngthương mạinhằm mụcđích giám sát, thống kê hay xác định mức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, nhà sản xuấtđối vớicác quy định của pháp luật.

Kiểm soát số lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là cách thức, phương pháp có thể tổng hợpđược số lượng thực tế chính xác các hàng hóa mà doanh nghiệp nhập khẩu vào lãnh thổ quốc gia nhằm thực hiện các quy định của pháp luật hải quan và pháp luật khác nhằm đánh giá sự tuân thủ quy định về chính sách thuế, kiểm soát nguồn gốc sản phẩm và sựtuân thủ pháp luật củadoanh nghiệp trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa.

Thực tế cho thấy, hàng hóa nhập qua biên giới hiện nay rất đa dạng.Để kiểm soát số lượng hàng hóa hiệu quả đòi hỏi cơ quan chức năng phải thực hiện các công

47

đoạn, nghiệp vụ và chức năng kiểm soát của mình theo quy tắc, quy trình và chuẩn mực nhất định. Kiểm soát số lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới thông qua việc xác minh hành vi khai báo hàng hóa nhập nhập khẩu của doanh nghiệp khi làm thủ tục thông quan, các thông tin về số lượng ghi trong hợpđồng,ghi trong tờ khai tính thuế để kiểm soát gian lận. Đồng thời đó là cơ sở để tăng cường tính minh bạch trong thực thi chính sách quản lýmặthàng, xác địnhtrịgiá hải quannhằm đảm bảo các chính sách về thuế, thu đủ trong quá trình kiểm tra hải quan, xácđịnh số lượng giúp thống kê xuất nhập khẩu chính xác…

Từnội dung kiểm soát trên, để tăng hiệu quả đối với hoạt động này, pháp luật hải quan hiện nay gồm các cách thức kiểm soát:

Kiểm soát qua thông tin trêntờkhaihảiquan: Thông tin trêntờkhai hải quan là những thông tin do doanh nghiệp hoặc cácchủthểhợppháp khác cung cấp trên cơsởcác quyđịnhcủapháp luật.Chủthểkhai báo thực hiện cácthủtụchải quan có trách nhiệm cungcấpthông tinđầyđủ,đúng quyđịnhvà đúnghạncác thông tin và những yêu cầubắtbuộc khi thực hiện hoạtđộngnhập khẩu hàng hóa. Vớiviệc kê khai này, cơ quanhảiquan cóthểxácđịnhđượcsốlượng hàng hóa do doanh nghiệptựxác nhậnđểhảiquan có căncứkiểm tra, xác minh tình hình chấp hành pháp luật xuất nhập khẩuđốivớihàng hóa doanh nghiệp kê khai.

Kiểm soát trên cơsởxácđịnhsốlượngthực tế: Kiểm soátsốlượng thực tếhàng hóa nhập khẩuđãtồntạitừlâu. Hoạtđộngkiểm soát này thườngđượcthực hiện do công chức hải quan hoặclực lượngkiểm soát theo quy địnhcủapháp luật từng quốc gia. Tuy nhiên,vớitình hình hiện nay các hoạtđộngkiểm soátđốivới hàng hóa nhập khẩu qua biên giới việc áp dụng đa dạng cách thức kiểm soátsốlượnglà yêucầucăn bản.Mặcdù kiểm soátsốlượngthựctếkhôngđượckhuyến khích trong thực hiệnthủtụchảiquan hiện đại nhưng đây cũng là cáchđểgiúp nhànướcquản lýtốtđốivớihàng hóa nhập khẩu liên quanđếnsốlượng, hài hòa các biện pháp kiểm soát khi thực thi pháp luậthảiquan.

Kiểm soát bằng cách thức giám sáthảiquan: Kiểm soát bằng giám sát hải quan là việc thực hiện các nhiệmvụliên quanđếnthực thi pháp luậtcủachủthể

48

liên quanđếnhàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới. Giám sát hải quan là hoạtđộng đặc thù của cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu nhằm xác minh tính tuân thủpháp luật củacác chủthể thực hiện việc xuất nhập khẩu qua biên giới, kiểm tra tính hợppháp, nguyên vẹn hàng hóa, bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quácảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý của cơ quan hải quan. Giám sát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới có thể hiểu là “hoạt động đặc thù của cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý nhà nước về nhập khẩu nhằm xác minh tính tuân thủ pháp luật của các chủ thể thực hiện việc nhập khẩu hàng hóa qua biên giới, kiểm tra tính hợp pháp, nguyên vẹn hàng hóa, bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sửdụng hàng hóa thuộc đối tượng quản lý của cơ quan hải quan.

– Kiểm soát chất lượng

Chất lượng hàng hóa là mối quan tâm hàng đầu trong quá trình quản lý, giám sát của cơ quan quản lý và người tiêu dùng. Chất lượng hàng hoá liên quan trực tiếpđến sựan toàn, sức khỏe người tiêu dùng, tài sản và môi trường, quyền SHTT, liên quan đến an ninh quốc gia trong lĩnh vực thương mại. Trong quá trình hội nhập vàtoàn cầu hoá, bên cạnh thúc đẩy chính sách thương mại thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa lưu thông, trao đổi thuận tiện, các quốc gia cũng đưa ra những hàng rào, tiêu chuẩn, khung kiểm soát nhằm ngăn cản các sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng nhập khẩu. Kiểm soát chất lượnghàng hóa nhập khẩu không chỉ được thực hiện trên cơ sở nền tảng nâng cao về nhận thức mà thể hiện qua các tiêu chí, các chuẩn mực nhất định.Chấtlượnghàng hóa làthướcđo đánh giá uy tín của doanh nghiệp, giá thànhcủasảnphẩm và cũng là cơsởđểcơ quan nhànướccho phép hàng hóađượclưu thông qua biên giới. Kiểm soát chấtlượnghàng hóa nhập khẩu làmộttrong những căncứlàmthướcđođốivớichức năng quản lý nhànước trong kiểm soát nhập khẩu khi hàng hóa lưu thông qua biên giới.

Theođịnhnghĩa thông thường, kiểm soát chất lượnglà các hoạt động vàkỹthuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm khuyết tật. Tuy nhiên, xétvềcơ bản thì chất lượng hàng hóa làsựđolườngbằngsựthỏa mãncủa ngườitiêu dùng trongmộtsốtiêu chí

49

cụthể. Theo tácgiảHoàngHữuThám [77, tr.32] thì“chấtlượnghàng hóa làkhảnăngtậphợpcácđặctínhcủasảnphẩm, hàng hóađểđápứngcác yêucầucủa khách hàng và các bên liên quan”.

Nhưvậy từnhững phân tích trên, có thể hiểu kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới là những hoạt động xem xét, theo dõi như kiểm tra, giám sát, theo dõi, xử lý vi phạm và các hoạt động khác đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới liên quan đến đặctínhcủasảnphẩm, hàng hóa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái các chủ thể trong việc quản lý, tổ chức và thực hiện các quyđịnh của pháp luật về chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo một quy chuẩn hay tiêu chí nhất định được doanh nghiệp công bố hay theo tiêu chuẩn mà quốc gia nhập khẩu quy định.

Đặcđiểmcủachấtlượnghàng hóa: Chấtlượnghàng hóa thườngđượcđo bằngsựthỏa mãn nhucầucủangườidùng. Do chấtlượnghàng hóađượcđo bằng nhucầucủangườidùng nên chấtlượnghàng hóa luôn thayđổitheo thời gian, không gian vàđiềukiện sửdụng. Chấtlượnghàng hóa còn baogồm cảyếu tốgiá

cả,dịchvụ,vấnđềvềgiao hàng…[78, tr.32].

Nội dung kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới: Kiểm soát chất lượng hàng hóa là một yêu cầu cần thiết và cấp thiết, đặc biệt là kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu đối với các hàng hóa đặc thù, hàng hóadễ hưtổn và các sản phẩm theo quy định của pháp luật. Vì vậy, đối với sản phẩm hàng hóa khi nhập vào lãnh thổ quốc gia cần tiến hành kiểm soát các nội dung như:

+ Kiểm soát bằng cách kiểm tra tính đầyđủcủa hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu;

+ Kiểm soát trên cơ sở kiểm tra kết quả đánh giá sựphù hợp, dấuhợp quy, nhãn hàng hóa (đối với hàng hóa phải ghi nhãn) và các tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa cần kiểm tra;

+ Kiểm soát thông qua kiểm tra sự phù hợp của nội dung chứng chỉ chất lượng của lô hàng nhập khẩu so với yêu cầu của quy chuẩn kỹthuật, tiêu chuẩn công bốáp dụng và các quy định hiện hành; kiểm tra tính chính xác và đồng bộ vềthông tin của bộ hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng;

50

+ Kiểm soát thông qua kiểm tra cácnộidungbắtbuộc ghi trênmẫunhãn (vànhãn phụ) bao gồm tên hàng hóa, tên địa chỉ của tổ chức cá nhân chịu trách nhiệm vềhàng hóa; Xuất xứ của hàng hóa và các nội dung khác quy định cho từng loại hàng hóa; Sự phù hợp của mẫu nhãn với bộ hồ sơ nhập khẩu lô hàng; Kiểm tra vị trí, màu sắc, kích thước và ngôn ngữ trình bày của nhãn;

+ Kiểm soát thông qua kiểm tra việc thể hiệndấuhợpquyđượctrình bày trực tiếp trên sản phẩm, hàng hóa hoặc trên bao bì hoặc nhãn gắn trên sản phẩm, hàng hóa.

+ Cuối cùng, kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới được thực hiện qua việc kiểm nghiệm, xét nghiệm đối với những hàng hóa có dấu hiệu vi phạm, thành phần không rõ ràng, thành phần mới để có căn cứ đưa ra quyết định đối với sựdịch chuyển của hàng hóa nhập khẩu liên quan này trong chính sách quản lýchất lượng của nhà nước.

2.2.2.3. Kiểm soát xuất xứ hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Xuất xứhàng hóađược xem như“quốctịch”của hàng hóa, được doanh nghiệp tự chứng nhận hoặc nhà nước xác định nguồngốctạo ra sản phẩm để cung cấp thông tin đến cơ quan quản lý và người tiêu dùng.

Theo Phụ lục chuyên đề K của Công ước quốc tế về hài hoà và đơn giản hoáthủ tục hải quan (Công ước Kyotosửa đổivà bổ sung), xuất xứ hàng hoá “lànước tại đó hàng hoá được chế biến hoặc sản xuất, phù hợpvớitiêu chuẩnđược áp dụng

trong biểu thuế hải quan, giới hạn về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại”.

Theo Điều 3 Luật thương mại 2005 [58], xuất xứ hàng hoáđượcđịnh nghĩa: “là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối vớihàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá đó”

Về góc độ quản lý, kiểm soát, xác định xuấtxứhàng hóa đóng vai trò quan trọng đốivới sựdịch chuyển của hàng hóa.Xuất xứhàng hóa liên quan đến chính sách, pháp luật về thuế, chính sách quản lý mặt hàng xuất nhập khẩu. Đối với hàng hóa nhập khẩu, việc xác định xuất xứhàng hóa, kiểm soát xuất xứhàng hóa bao

51

gồmkiểm tra tính hợplệ, hợp pháp của giấy chứng nhận xuất xứ, tiêu chuẩn, cácđiều kiện, thông tin.Để đảm bảo tính minh bạch, nhanh chóng và hiệu quả kiểm soát xuất xứcần đượcthiết lập quy trình, cách thức phù hợp, đúng pháp luật vàtương thích với thông lệ quốc tế.

Kiểm soát xuất xứ hàng hóa nhập khẩu qua biên giới được hiểulà hoạt động kiểm soát các tiêu chí cơ bản trên thông tin chứng nhận xuấtxứhàng hóa,sựphùhợp với nội dung trên giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và các chứng từ thuộc hồsơ hải quan như vận đơn, hợp đồng thương mại, hóa đơn thương mại hay các chứng từtheo quy định của pháp luật các quốc gia đối với hàng hóa làm thủ tục nhập khẩu qua biên giới quốc gia khác theo quy định của pháp luật hải quan và pháp luật khác.

Đối với kiểm soát xuất xứhàng hóa nhập khẩu qua biên giới, việc xác định hình thức của giấy chứng nhận xuất xứ thực hiện theo hai cách. Đối với giấy chứng nhận xuất xứ bằng dạng giấy thì đối chiếu mẫu thông tin do quốc gia nhập khẩuđã đăng ký; đối với giấy chứng nhận dạng điện tử đối chiếu trên trang thông tinđiện tửmà nước nhập khẩu hàng hóa đăng ký.

Tuy nhiên, để đảm bảo được cácyếutố cơ bản khi kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, cần xác định vai trò cụ thể đối với kiểm soát xuất xứ hàng hoánhập khẩu qua biên giới:

Thứnhất, kiểm soát xuất xứhàng hóa nhập khẩu qua biên giới là căn cứđểxác định nguồn gốc của hàng hóa, cách tính thuế nhập khẩu.

Thứhai, kiểm soát xuất xứhàng hóa nhập khẩu qua biên giới đóng vai trò quan trọng đối với thống kê hoạt động ngoại thương;

Thứba, kiểm soát xuất xứ hàng hóa nhập khẩu qua biên giới nhằm nâng cao uy tín, trách nhiệm của doanh nghiệp khi cung ứng hàng hóa ra thị trường, khách hàng và vị trí của nước xuất trong thương mại quốc tế;

Thứtư, kiểm soát xuấtxứhàng hóa nhập khẩu qua biên giới để thực thi các biện pháp, công cụ thương mạiphòng vệ thương mạinhư thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, biện pháp tự vệ trong chính sách thương mại quốc tế của quốc gia.

52

2.2.2.4.. Kiểm soát trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\KIỂM SOÁT HÀNG HÓA NHẬP KHẨU QUA BIÊN GIỚI THEO PHÁP LUẬT HẢI QUAN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *