Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay

Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay

Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Cải cách tư pháp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đã được đề ra từ rất lâu và luôn được đặt trong tổng thể cải cách về bộ máy nhà nước. Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược Cảicách tư phápđếnnăm 2020 là chủtrương cảicách sâu sắc và toàn diện nhất trong quá trình hình thành, phát triển của hệ thống tư pháp Việt Nam từ năm 1945đến nay. Chiếnlược Cảicách tư pháp đề ra mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu lực và hiệu quả cao [37]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định“Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp” [34, tr.178],”Cụ thể hóa đầy đủ các nguyên tắc hiến định về chức năng, nhiệm vụ của Tòaán nhân dân và hoạtđộngxétxử”[34, tr.179]. Trước những yêucầunêu trên, thìnhiệm vụ của ngành tòa án là rất quan trọng, có thể nói đây là công tác có vai tròquyết định của hoạt động cải cách tư pháp bởi vì tòa án là cơ quan giữ vị trí “trung tâm” trong hệ thống các cơ quan tư pháp, nơi thể hiện kết quả hoạt động cuối cùng của hệ thống tư pháp. Để tòa án thực sự thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 thìviệc cải cách, đổi mới hoạt động của tòa án nhân dân nói chung, hoạt động của hội thẩm nói riêng cần phải được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện theo hướng đề cao hơn nữa mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, góp phần giữ vững ổn định xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước mà các Nghị quyết của Đảng đã đề ra.

Hội thẩm có vị trí, vai trò quan trọng đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, là người đại diện cho nhân dân, hội thẩm tham gia trực tiếp vào công tác xét xử với tư cách là chủ thể xét xử, mang tiếng nói của đời sống xã hội, của đạo lý đểđánh giá vềvụviệc phải giải quyết, góp phần giúp hoạtđộngxétxửcủa tòa án

1

được chính xác, khách quan, đảm bảo công bằng, công lý trong xét xử. Sự tham gia của hội thẩm trong hoạt động xét xử đã được ghi nhận trong Hiến pháp như là một nguyên tắc hiến định. Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”. Chính vì vai trò quan trọng của hộithẩm trong hoạtđộngxétxửnên việc nghiên cứu và không ngừng hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm theo hướng hiệu lực, hiệu quả là một nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, nhằm năng cao chất lượng hoạt động tư pháp.

Trong những năm qua,hệthống pháp luậtvềchếđịnhhộithẩm không ngừngđược hoàn thiện. Các quyđịnhcủa Hiến pháp, pháp luậtvềđịa vịcủa hội thẩm đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện đảm bảo cho sự tham gia của nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị của hội thẩm cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập như về tiêu chuẩn của hội thẩm, quy trình lựa chọn, cách thức thànhlậphộithẩm, đã khiến cho việc hộithẩm tham gia xétxửmang nặng tính cơ cấu, giảm tính ngẫu nhiên, làm mất đi tính chất “bình dân” của người hội thẩm. Mặc dù pháp luật đã quy định cho hội thẩm những quyền và nghĩa vụ khi tham gia trực tiếp vào hoạt động xét xử nhưng lại thiếu các cơ chế đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý này được thi trên thực tế. Dẫn tới thực tiễn thực hiện pháp luậtvềđịa vịcủa hộithẩmđã bộc lộnhữnghạnchếnhất định, những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng hội thẩm chưa chủ động khi tiến hành các hoạt động tố tụng, nghiên cứu hồ sơcũng như thẩm vấn tại tại phiên tòa, không ít hội thẩm trong suốt nhiệm kỳ xétxửcủa mình (05 năm), hầunhư không đưa ra được ýkiếnđộc lậpvề việc giải quyết vụ án, vẫn còn thụ động, chờ đợi vào quyết định của thẩm phán, chủ tọa. Do vậy, việc hội thẩm tham gia xét xử còn mang nặng tính hình thức, chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của hội thẩm chưa cao, hội thẩm chưa phát huy được hết vị trí quan trọng mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xửđộc lậpvàchỉtuân theo pháp luật…”[82]; “Khi biểu quyếtvềquyếtđịnhgiải quyết vụ án, Hộithẩm nhân dân ngang quyềnvớiThẩm phán”[89] và dẫntớicác quy định này dường như không có tính khả thi trong thực tiễn hoạt động xét xử.

Trong tiến trình nghiêncứuvềcảicách tư pháp, mặc dù thẩm phán và hội thẩmđềulà nhữngngườitiến hànhtốtụng, là chủthểxét xử, có vịtrírấtquan trọng và cơ bản trong tòa án nhưng hiện nay việc nghiên cứu mới chỉ tập trung vàođịa vị pháp lý của thẩm phán mà chưa thấy có một đề tài hay một công trình nghiên cứu cơ bản chuyên sâu nào về địa vị pháp lý của hội thẩm, nên nhiều vấn đề lý luận và thực tiễnvềđịa vịpháp lý của hộithẩm chưa được làm sáng tỏ. Do đó, việc thường xuyên nghiên cứu, hoàn thiện pháp luậtvề địa vị hộithẩm, nâng cao hiệu quả xétxử của tòa ánđược xem là giải pháp vừacó tínhcấpthiết, lâu dài, nhằmđáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vừa giải quyết những vướng mắc bất cập hiện nay trong hoạt động xét xử của tòa án.

Những phân tích trênđâycho thấy tínhcấpthiếtcảvềmặtlý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài, do vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn “Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án tiến sĩ của mình.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sởlàm rõ nhữngvấnđềlý luận và thực tiễnvềđịa vịpháp lý của hội thẩm trong xét xử tại tòa án, Luận án đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị của hội thẩm, góp phần nâng cao chất lượng xét xử của tòa án, đápứng yêu cầu cải cách tư pháp.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Các nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án gồm:

– Đánh giá tổng quan tình hình nghiêncứuliên quanđếnđề tài, xácđịnh những góc khuất, những khoảng trống chưa được nghiên cứu.

– Làm rõ những vấn đề lý luận về sự tham gia của hội thẩm trong xét xử như:

khái niệm, ýnghĩa, vai trò,địavịpháp lý của hộithẩm, các yếutốcấuthành vànhững yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm…

– Nghiên cứu địa vị pháp lý của hội thẩm (bồi thẩm, thẩm phán không chuyên)ở một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

– Đánh giá thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩmở ViệtNam hiện nay, phát hiện những hạn chế,bấtcập về địa vị pháp lý của hội thẩm và nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó.

– Đề xuấtnhững giải pháp hoàn thiện pháp luậtvề địa vị của hội thẩmnhằm góp phần nâng cao chất lượng xét xử của tòa án.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận án

Đối tượng nghiên cứu của Luận án tập trung vào những vấn đề sau:

– Những vấn đề lý luận về chế định hội thẩm trong pháp luật Việt Nam

– Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của hội thẩm trong hoạt động xét xử của tòa án.

3.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án

– Phạm vi nội dung: nghiên cứu địa vị pháp lý của hội thẩm nhân dân ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ Luật Hiến pháp.

– Phạm vi không gian: nghiên cứu trên phạm vi cả nước

– Thời gian: Các số liệu liên quan đến đề tài từ năm 2008 đến 2018 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận án

Phương pháp luận: Luận án nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.Một sốnguyên lý như mối liên hệ phổ biến và sự phát triển được vận dụng để nghiên cứu về vai trò của nhân dân trong mối quan hệ với cơ quan thực hiện quyền tư pháp (tòa án), xem xét các hiệntượngphát sinh khi thực hiện các quyđịnhvềđịa vịpháp lýcủahộithẩm trongmốiliênhệhữucơ với các yếutốnhư cách thứctổchứchệ thống tư pháp, việc thực hiện các nguyêntắcnềntảng của hoạt động tư pháp như độc lập xét xử, hội thẩm ngang quyền thẩm phán, bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Quy luật những thayđổivề lượngdẫnđếnnhững thayđổivề chấtđượcvậndụngđể nghiên cứu quá trình chuyển đổi từ chế định phụ thẩm sang hội thẩm nhân dân, việc tăng, giảm thành phần hộithẩm tronghộiđồngxét xử…Cáccặpphạm trù như khả năng và hiện thựcđược vận dụng để xemxét khả năng giải quyết mâu thuẫn giữa trình độchuyên môn nghiệp vụ của hội thẩm với yêu cầu xét xử.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Chương 1: Luận án sửdụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp nhằm phát hiện một cách đầy đủ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án; đánh giá về tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án, hệ thống hóa để đưa ra những vấn đề cần nghiên cứu của đề tài Luận án.

Chương 2: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử cụ thể, tiếp cận hệ thống, phân tích, tổng hợp, kết hợp tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học để giải quyết các vấn đề liên quan đến các khái niệm khoa học mà Luận án cần phải làm sáng tỏ. Phương pháp so sánh luật học đã được sử dụngtrong quá trình nghiêncứu địa vịpháp lý của hội thẩm (bồi thẩm, thẩm phán không chuyên) của một số quốc gia trên thế giới có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Chương 3: Luận án sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp, suy luận logic đểđảmbảođánh giá khách quan, toàn diện thực trạngđịavịpháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay.

Chương 4: Luận ánsửdụng phương pháp phân tích và tổng hợp, kếthợp giữa lý luận và thực tiễnđảmbảotính thuyết phục trong cáclậpluận, suy luận logic trong việc đưa ra định hướng các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm, nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án.

5. Những điểm mới của Luận án

Luận án có những ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau đây:

– Hệ thống và bổ sung, làm sâu sắc các vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của hộithẩmgồmkhái niệm, ýnghĩa, vai tròđịa vịpháp lý của hộithẩm trong hoạt động xét xử nhằm bảo vệ công lý, công bằng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm dân chủ, tiến bộ xã hội và bảo đảm chất lượng hoạt động tư pháp, đềcao tính thượng tôn của pháp luật; làm rõ các yếu tố cấu thành địa vị pháp lý của hội thẩm, các yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm; xây dựng bức tranh

tổng quát về quá trình hình thành và phát triển địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam; nghiên cứu địa vị pháp lý của hội thẩm của một số nước trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

– Tổng hợp, phân tích có hệ thống văn bản pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm ở Việt Nam, từ đó chỉ rõ thực trạng địa vịpháp lý của hội thẩm ở Việt Nam, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân về địa vị pháp lý của hội thẩm, phân tích, làm rõ những vấn đề cần đặt ra.

– Đưa ra những yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩmở ViệtNam, với 05 yêu cầu về: xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa;bảo đảmquyền con người, quyền cơ bản của công dân; phù hợp và phục vụ đường lối đổi mới,chủtrương cải cách tư pháp của Đảngvà Nhà nước;đáp ứnghộinhập quốctế và 04 nhóm giải pháp, gồm: nhóm giải pháp về nhận thức; nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luậtvề địa vịcủa hội thẩm; nhóm giải pháp thực hiện pháp luật vềđịa vị của hội thẩmvà nhóm giải phápđảm bảo các điều kiện cần thiết để hội thẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận án nghiên cứu, làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của hội thẩm trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng nhànước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Kết quả nghiên cứucủa Luận án góp phầnbổsung lý luậnvềdân chủ, công lý, công bằng trong hoạt động xét xử, trong đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án, đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học chuyên sâu về địa vị pháp lý của hội thẩm. Luận án cũng làtài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trách nhiệm xã hội xây dựng và hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm, hướng tới xây dựng một nềntư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, bảovệcông lý, công bằng trong xãhội, bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu gồm 04 Chương như sau:

– Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

– Chương 2: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của hội thẩm – Chương 3: Thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam

– Chương 4: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm ởViệt Nam hiện nay.

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến địa vị pháp lý của hội thẩm được thể hiện dưới dạng đề tàikhoa học, luận văn, sách, bài đăng tạp chí

chuyên ngành, hộithảo…Cáccông trìnhđãcôngbốgầnđâyđược tácgiảnghiên cứu là cơ sởquan trọngđểphân tích, đánh giá kếtquảnghiêncứucủa các công trình và hệ thống các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án cần giải quyết. Trong số các công trình đã công bố, có một số công trình nổi bật có nội dung khásâu về địa vị pháp lý của hội thẩm như:

      1. Những công trình đề cập khái quát về địa vị pháp lý của hội thẩm
      2. Những công trình có nội dung chuyên sâu về địa vị pháp lý của hội thẩm

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của hội thẩm ởViệt Nam và ở nướcngoài, tác giả cómộtsốnhận xét, đánh giá về các kếtquảnghiên cứu như sau:

– Hiện naymặcdù khái niệmvề địa vịpháp lý của hộithẩm không còn là mới về mặtthời gian nhưng chưa được hiểu một cách đầy đủ về phương diện khoa học pháp lý. Hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về địa vị của hội thẩm theo pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn thực hiện pháp luậtvề địa vị của hội thẩmnằmtrong Chiến lược Cải cách tư pháp hay dưới góc độ hoàn thiện Nhànước pháp quyền xã hộichủnghĩa, hoặcđặttrongmốiquanhệ với quyền con người, quyền công dân.

– Các công trình nghiên cứuvề địa vịpháp lý của hộithẩm nêu trên đặtra các vấnđề lý luận, vấn đề thực tiễn ở nhữngmứcđộkhác nhau. Các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của hội thẩm thường chỉ nghiên cứu trong tổng thể cácđiều kiện chung hoặc ở từng lĩnh vựcnhỏ lẻ.Có công trình nghiên cứu lý luận về địa vịpháp lý của hộithẩm trongtốtụng hìnhsự hoặc theo những nguyêntắctố

tụng, để từ đó đưara các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm trong tố

14

tụng hìnhsự,hoặc kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắctốtụng. Cócông trình nghiên cứu lý luận cơ bản về hội thẩm, trên cơ sở đó kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bồi dưỡng cho hội thẩm. Ngoài ra cũng có những bài viết mang tính chất tổngkếtthực tiễn, đánh giá hoạtđộngcủa hộithẩm khi thực hiện những nguyên tắc hiến định.

– Các công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích một số nội dung về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của hội thẩm trong hoạt động xét xử, đã làm sáng tỏmộtvài khía cạnh lý luậnvềbảnchấtđịa vịpháp lý của hộithẩm, vềhoàn thiện pháp luật và hiệuquảáp dụng pháp luật vềđịa vịpháp lý của hộithẩm. Những công trình này có giá trị quan trọng, là tiền đề lý luận để tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu, phân tích cácvấn đề về địa vị pháplý của hội thẩm, thực tiễn thực hiện địa vịpháp lý của hộithẩm trongđiềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủnghĩa và thực hiện Chiến lược Cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

– Các công trình khoa học nói trên cũng đã góp phần làm rõ hơn các vấn đềlý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của hội thẩm trong hoạt động xét xử của tòaán, trong đó, có nhiều kiến giải, luậnđiểmkhoa học đã được vậndụng vào thực tiễn như hoàn thiện pháp luật về địa vị của hội thẩm, thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm.

– Kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên cũng khái quát kinh nghiệm một số nước trên thế giới về địa vị pháp lý của hội thẩm, từ đó giúp tác giả có cơsởđể nghiên cứu so sánh với thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay và luận giải để đưa ra một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm, nâng cao chất lượng xét xử của tòa án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hướng tới bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo đảm cho việc xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh.

Trong điều kiện mới, tư duy và nhận thức mới đã phát sinh nhiều vấn đề lýluận cần được tiếp tục soi sáng, nhiều vấn đề thực tiễn cần đượctổngkếtsâu sắc hơn. Do đó, cần có một đề tài chuyên sâu về địa vị pháp lý của hội thẩm phù hợp yêu cầu nhiệm vụ cải cách tư pháp “xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là

15

hoạt động trọng tâm” [37], đảmbảotòa án thựcsự thựchiện quyền tư pháp, bảo vệcông lý, bảo vệ quyền conngườivà quyền công dân, đề cao nguyên tắc tranh tụng trong xétxử theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, đápứngyêucầunhiệmvụcải cách tư pháp chưa được nhận diện một cách thấu đáo.

1.4. Những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu 1.4.1. Những vấn đề cần nghiên cứu

Luận án sẽ tiếp thu những ưu điểm phù hợp của các công trình nghiên cứu đãnêu, đồngthời tác giả cũng tiếp tục làm rõ nhữngvấnđề chưađược nghiên cứu hoặc đã nghiên cứu nhưng ở mức độ tổng quát, cụ thể:

Thứ nhất, trên cơ sở tổng hợpnhững vấn đề lý luận về địa vị pháplý của hội thẩm, Luận án sẽ xây dựng cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của hội thẩm, địa vị pháp lý của hội thẩm bao gồm các vấn đề: khái quát về hội thẩm, khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm, ý nghĩa, vai trò địa vị pháp lý của hội thẩm, các yếu tố cấu thànhđịa vị pháp lý của hội thẩm, các yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm. Bên cạnh đó, Luận án đưa ra kinh nghiệm lập pháp của một số nước có nền tư pháp tiến bộ trên thế giới về mô hình nhân dân tham gia hoạt động xét xử của tòa án và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Thứ hai, Luận án sẽ làm rõ thực trạng pháp luật Việt Namvề địa vị của hội thẩm với tư cách là người tiến hành tố tụng, chủ thể xétxử tạitòa án. Luận án khái quát quá trình hình thành và phát triển về địa vịpháp lý của hộithẩm trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay. Làm rõ thực trạng pháp luật về cách thức thành lập, hoạt động của hội thẩm; nhiệm vụ, quyềnhạn củahội thẩm; mối quanhệcủa hộithẩm trong hoạtđộngxétxử;cácyếuđảmbảo cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hội thẩmđượcthực thi trên thựctế.Đồng thời, Luận án làm rõ thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về địa vị của hội thẩm, đánh giánhững ưu điểm, hạn chế trong việc thực hiện địa vị pháp lý của hội thẩm và phân tích các nguyên nhân cụ thể.

16

Thứ ba, từ nhữngvấnđề lý luận và thực tiễn đã nêu, Luận án sẽ đề xuất những giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của hội thẩm, bảođảmchất lượng, hiệu quả xét xử của tòa án, đápứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới.

1.4.2. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu của Luận án:

Sựtham gia và giám sát của ngườidân vào hoạtđộngxétxửcủa tòa ánởViệt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập so với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Chiến lược cải cách tư pháp. Hội thẩm chưa phát huy được hết vị trí, vai trò là đại diện của nhân dân tham gia trực tiếp hoạt động xét xử của tòa án và bảo đảm dân chủ trong hoạt động xét xử. Do đó, cần có những giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của tòa án.

Từ những vấn đề cần nghiên cứu là những câu hỏi lớn mà Luận ánđặtra cầnđược trả lời, cụ thể:

Thứ nhất, lý luận về địa vị pháp lý của hội thẩm gồm những vấn đề gì, vấn đề nào là cơ bản cần giải quyết trong Luận án? Tại sao lại cần thiết có sự tham gia của người dân vào hoạt động xét xử của tòa án?

Thứhai, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềđịa hội thẩm ở Việt Nam hiện nay như thế nào? thực trạng pháp luật về địa vị của hội thẩm đã đạt được những tiến bộ gì; thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm đạtđược kếtquảthếnào? Nhữngbấtcập, hạnchếtrong thực trạng pháp luật vàthực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm và những nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó?

Thứ ba, các yêu cầu đặt ra và cần áp dụng những giải pháp gì để hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tòaán ở Việt Nam hiện nay?

17

Kết luận chương 1

Hoàn thiệnđịa vịpháp lýcủa hộithẩm làmộttrong những vấn đềcấpbách hiện nay của hệ thống tòa án nhân dân, giải quyết được vấn đề này sẽ giúp đổi mới tổchức, hoạt động của tòa án nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của tòa án.

Hiện nay có một số công trình nghiên cứu liên quan đến địa vị pháp lý của hội thẩm. Tác giả chia làm hai phần trong nội dung chương 1 là tình hình nghiên cứu ởViệt Nam và tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.

Phần tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, tác giả phân theo hai nhóm: (1) nhóm công trình đề cập khái quát về địa vị pháp lý của hội thẩm, (2) nhóm công trình cónộidung chuyên sâuvềđịa vịpháp lý của hộithẩm, và trong từng nhóm, tácgiảchia theo các cấp độ khác nhau như công trình khoa học các cấp, các luận văn, sách chuyên khảo, các bài viết của các tạpchí có liên quan đếnđịa vịpháp lý của hội thẩm ở Việt Nam. Phần tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, tác giả nêu một số công trình có liên quanđếnđịavịpháp lýcủahộithẩm, cách thức thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn của hội thẩm để làm căn cứ cho việc xây dựng khung lý luận ở chương sau.

Qua nghiên cứu cho thấy,đếnnay chưa có công trình nào nghiêncứumột cách toàn diệnvềđịavịpháp lýcủahộithẩm. Trongtấtcảcác cách tiếpcậnkhác nhau để đánh giá về địa vị pháp lý của hội thẩm, thì cách tiếp cận hoàn thiện địa vịpháp lý của hội thẩm đặt trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa và Chiến lược Cải cách tư pháp, đề cao tính dân chủ trong hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền con người, mang ý nghĩa chính trị và thời đại, cách tiếp cận này chưađược các công trình trên nghiên cứu một cách thấu đáo. Từ thực trạng như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa lýluận và thực tiễn góp phần cungcấpcác luận chứng khoahọccho việc kiến nghịhoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị của hội thẩm, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử. Có thể khẳng định đây là hướng nghiên cứu cho phép luận chứng được các giải pháp có tính cơ bản, lâu dài góp phần cho thành công trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

18

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM 2.1. Khái niệm, ý nghĩa, vai trò địa vị pháp lý của hội thẩm

2.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm 2.1.1.1. Khái quát về hội thẩm

Khi nói về vai trò của quần chúng nhân dân, triết học Mác-Lê nin đã khẳngđịnh, quần chúng nhân dân là ngườisángtạochân chính ra lịch sử, là lựclượng quyết định sự phát triển của lịch sử. Xét các mặt trong đời sống xã hội, từ kinh tếđếnchính trị, từthực tiễnđếntinh thần tư tưởng, thì quần chúng nhân dân là sức mạnh vật chất và mọi sự vận động lịch sử do quần chúng nhân dân trực tiếp tạo ra [8, tr.178].

Trên thế giới, việc công dân tham gia xét xử tại tòa án có lịch sử từ lâu đời, được ghi nhận lại ít nhất từ thời phong kiến. Sự tham gia của những người không chuyên với tư cách là bồi thẩm đoàn/thẩm phán không chuyên/hội thẩm (gọi chung là hội thẩm) là một trong những cách thức nhân dân tham gia vào quá trình xét xử. Tại một số nước những người không chuyên cũng được ngồi ghế chủ tọa và được tham gia vào việc quyết định bản án cùng với thẩm phán chuyên nghiệp (Cộng hòa Pháp) [93], [108]. Đây là các hình thức đưa ý kiến của nhân dân vào quá trình xét xử và nhân dân tham gia giám sát hoạt động tư pháp.

Hộithẩmđược hiểu là mộtnhómngườikhông chuyên nghề luậtđượclựa chọn hoặc chỉđịnhtham gia giải quyết các vụán hình sự, dân sự, đểra các phán quyết về vấn đề tình tiết, vấn đề pháp lý và có thể về cả hình phạt và trách nhiệm pháp lý. Trong xã hội hiện đại, ở rất nhiều nước, không chỉ các thẩm phán chuyên nghiệp mới có quyền phán quyết mà hội thẩm, những người đại diện cho các tầng

lớp dân cư đều có quyền tham gia vào hoạt động tư pháp tại tòa án. Công dân được tham gia trực tiếp vào hoạt động xét xử của tòa án dưới các hình thức khác nhau, tên gọikhác nhau như bồithẩm, thẩm phán không chuyên, hộithẩm là tùy thuộc từng hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia.

19

Đại diện nhân dân tham gia trực tiếp vào quá trình xét xử là một nguyên tắc thểhiện rõ nét nhấtbảnchất dân chủcủa mộtnềntư pháp tiến bộ, theo đó, mọi hoạt động của nhà nước đều cósự tham gia tích cực của nhândân, đều đặt dưới sựkiểm tra, giám sát của nhân dân. Chế độ xét xử có sự tham gia của hội thẩm được coi là một trong những biểu hiện của tính xã hội, tính nhân dân của tòa án – cơ quan xét xử duy nhất, biểu tượng của nền công lý thuộc về nhân dân, công lý phải được người dân nhìn nhận và chấp nhận. Một phán quyết của tòa án đảm bảo được công bằng, bảo vệ được công lý hay không, phán quyết đó phải được nhân dân đồng tìnhủng hộ.

Sự tham gia của nhân dân vào quá trình đưa ra các phán quyết tư pháp bảo đảmcho các phán quyết tư pháp khôngchỉtuân thủpháp luật mà còn trên cơ sởnhững giá trịxã hội, giá trịcộng đồng, những quanđiểmvềđạođức,vềnhững hành vi mà pháp luật chưa ghi nhận đầy đủ và kịp thời. Đại diện nhân dân tham gia xét xử khôngchỉdựatrên pháp luật mà dựa trên những giá trị xã hội để đánh giátính chất tranh chấp của đươngsự,đánh giá tính chất, mức độnguy hiểm cho xãhội do bị cáo gây ra. Là những người làm việc trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội nên họ có nhiều kinh nghiệm của thực tiễn đời sống cũng như hoạt động xã hội, vì vậy, họgầngũivớiquần chúng nhân dân, từmốiquanhệđó, họhiểuđược nguyên nhândẫntớitranh chấp trong nhân dân cũng như hoàn cảnhcụthểcủa ngườiphạm tội. Đạidiện nhân dân tham gia tham gia xétxửsẽgiúp cho phán quyết của tòa án hướng tới mục tiêu bảo vệ công lý, công lý không chỉ là công bằng trên cơ sở pháp luật mà còn là lẽ phải và đạo đức xã hội.

Tư pháp với ý tưởng về một nền công lý, đòi hỏi hoạt động xét xử của tòa án khi giải quyết các tranh chấp, các hành vi trái pháp luậtxảyra trong xãhộiphải công bằng, đúng pháp luật, bảođảmtrậttựkỷcương theothểchếnhà nướcmàHiến pháp và pháp luật quy định. Tòa án là cơ quan quyền lực của nhà nước, nhà nước thông qua tòa án để thực hiện quyền lực tư pháp của mình. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ tài sản nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dựvà nhân phẩmcủacông dân.Mọiquyếtđịnhcủa tòa án nhân danh nhà nước

20

phải tuân thủ pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Chế định hội thẩm chính là sự thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động tư pháp. Mô hình đại diện nhân dân tham gia xét xử sẽ góp phần đảm bảo tính toàn diện, đầy đủ và khách quan trong các phán quyết của tòa án. Bằng sự hiểu biết của mình về kinh nghiệm sống, sự từng trải trong xã hội, về những lĩnh vực chuyên ngành…, hội thẩm tham gia vào hoạtđộngxétxửsẽlàm tăng thêm niềm tin cho thẩm phán, phùhợpvới nguyện vọng của đôngđảoquần chúng nhân dân. Hoạtđộngxétxửcóđạidiện nhân dân tham gia làm tăng tính thuyết phục của các phán quyếtđốivớixã hội, phán quyết của tòa án không phải là sự áp đặt của nhà nước mà là sự nhìn nhận của xã hội, của ngườidânđối vớicác tranh chấp, các hành vi phạm tội, sựnhìn nhận của ngườidân vềcông lý, công bằng và lẽphải. Qua đó, làm tăng hiệuquảgiáo dục,cảitạođốivớingườibịkếtán, đemtớisựtâm phục, khẩu phục cho các đối tượng bị phán xử.

Sựtham gia của nhân dân vào hoạtđộngxétxửcũng chính là thểhiệnsựgiám sát, kiểm tra trực tiếp của nhân dân trong hoạtđộngtư pháp. Nếunhư coi nguyên tắc xét xử công khai là sự kiểm tra có tính chất tổng thể, chung nhất của xãhội đối với hoạt động xétxử của tòa án thì nguyên tắc hội thẩm tham gia xét xử là sự kiểm tra trực tiếp, cụ thể và từ bên trong của hoạt động này.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu hội thẩm là những người đại diện của nhân dân, được lựa chọn,được bầu theo quy định của pháp luật để cùng thẩm phán trực tiếp tham gia xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án để quyết định các vấnđềvềsựkiện, quyếtđịnh các vấnđềvềpháp luật hoặc hình phạt, nhằm đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, góp phần bảo vệ công lý, công bằng trong xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

2.1.1.2. Khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm

Quanđiểmcơ bản của chủnghĩa Mác-Lê ninvềconngườicho rằng, con ngườilà thực thểthống nhất giữa cái tâm sinh lý và cái xã hội, làmộtthựcthểsinh vật – xã hội. Toànbộđờisống và sinh hoạtcủacon người không tách khỏi

21

môi trường xã hội, nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác khẳngđịnh:

“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xãhội” [59, tr.11]. Cóthểthấy rằng, tính đa dạng trong quanhệxãhộicủamỗi người đã tạo nênđịa vị xã hội của người đó. Nếu xét ở một góc độ nàođó thì địa vị pháp lý cũng chính là một bộ phận nằm trong địa vị xã hội của con người, xác định vị trí của con người trong mối quan hệ với những người khác trong xã hội.

Nghiên cứu Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “Địa vị” là:“Vị trícá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi trọng nhiều hay ít” [129, tr.321]. Theo định nghĩa này thì“Địa vị”được hiểu là vị trí trong quan hệ xã hội, vị trí này được xem xét dưới sự tác động của các mối quan hệ xã hội và nó được quyết định bởi nhiều yếu tố như chính trị, kinh tế, vai

tròcủanó trong đời sống xãhội…Đối vớicácchủthểlà các cơ quan nhà nước, yếu tố quan trọng nhất quy định nên địa vị của các cơ quan này chính là các quyđịnh của pháp luật. Bởi vì, đối với các chủ thể này, pháp luật phải quy định một

cách cụ thể về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, phạm vi thẩm quyền…để tránh sự chồng chéo, trùng lặp giữa chủ thể này với chủ thể khác trong quan hệ quản lý.

TheoTừđiểngiải thích thuậtngữpháp lý thông dụng, địa vịpháp lý nói chung là “Tổng thể các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập” [57, tr.150].

Trong cuốn Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư phápđã định nghĩa về “Địa vị pháp lý” như sau: Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật bao gồm tổng thể các quyền và nghĩavụpháp lýcủachủthểđó,quađóxáclậpcũng như giớihạnkhảnăng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Cũng thông qua địa vị pháp lý của chủ thể, ta có thể phân biệt được chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác,đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, vai trò và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [128]. Khi nói tới “Địa vị pháp lý” là luôn gắn với chủ thể quan hệ phápluật, đề cập đến “Địa vị pháp lý” là nói về tổng thể các quyền

22

và nghĩa vụ của một chủ thể quan hệ pháp luật cụ thể mà không có địa vị pháp lýchung chung.

Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho các chủ thể đó. Địa vị pháp lý của chủ thể thể hiện vịtrí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật, đồng thời đi liền với nó là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý phát sinh, ràng buộc. Xác định quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, là cơ sở để xem xét và xử lý các xung đột, tranh chấp pháp lý, là cơsởcho việc thực thi quyền, nghĩa vụ,trách nhiệm của cá nhân haytổchức trong mối quan hệ pháp luật.

Trên thế giới mô hình đại diện nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử là một trong những đặc thù của hoạt động tư pháp và quá trình thực hiện quyền tư pháp,đãtrở thành truyền thống tư pháp, góp phần bảo đảm cho những giá trị bất biến của hệ thống tư pháp, đó là xác định sự thật, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyềnđược xétxửcông bằng cho các bên trên cơ sởcác giá trịchung của cộng đồng và nguyên tắc độc lập xét xử.

Mô hình nhân dân tham gia hoạt động xétxửcủatòa án xuất pháttừtriết lýtòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, mộttrong các lĩnh vực của quyền lực nhà nước. Quyền lực này nhà nước được chuyển giao từ nhân dân thông qua “khế ước xã hội”. Trong xã hội dân chủ, nhân dân được quyền tham gia vào các công việc của nhà nước, nhà nước xây dựng những cơ chế đảm bảo cho nhân dân thể hiện tiếng nói của mình trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử của tòa án nằm trong logic này của nguồn gốc quyền lực nhà nước nói chung, của quyền tư pháp nói riêng. Tiếng nói của đại diện nhân dân, của quần chúng, ý chí của bồithẩm đoàn hoặc hộithẩm trong hội đồng xét xử thường được ghi nhận và thậm chí có vai trò quyết định. Nhiều nước trên thế giới, bồi thẩm là người đưara nhận định, quyếtđịnh vềcác vấn đề vềsựthật, sự việc, tình tiết, có thể thấy như ở Hoa Kỳ, Liên bang Nga [7],[9]; hội thẩm làngười đưara nhận định và quyết định về tội danh, hình phạt và trách nhiệm pháp lýnhư ở Việt Nam. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử, vào quá trình áp

23

dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp tại tòa án nhằm đảm bảo cho các phán quyết tư pháp khôngbịcác quy phạm pháp luật mang thuộc tính giai cấp, bảo vệlợi ích của giai cấp cầm quyền hoàn toàn chi phối. Trong thời đại toàn cầu hóa,sự

tham gia của đại diện của những sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo trong thành phần hội đồng xét xử là rất cần thiết, không những giúp cho bản án của tòa án có những lập luận, nhận định thấu đáo hơn về sự việc, tình tiết mà còn bảo đảm tính dân chủ, sựđoàn kết trong xã hội, ghi nhận tiếng nói của tất cả các sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật.

Hội thẩm khi tham gia xét xử các vụ án có những quyền hạn và nghĩa vụ đãđược Hiến pháp và pháp luật quy định. Hội thẩm là người được lựa chọn, được bầu, cử theo quy định của pháp luật để tham gia xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án, pháp luật đã quy định cho hội thẩm một địa vị pháp lý khá rộng rãi, bao gồm những nguyên tắc hoạt động chủ yếu và những quyền, nghĩa vụ cụ thể trong tố

tụng và cả những hoạt động ngoài tố tụng. Bản chất địa vị pháp lý của hội thẩm là

tổng thể các quyền, nghĩa vụ pháp lý và các mối quanhệ của hội thẩm được xáclập thông qua các quyđịnhcủa pháp luật trong quá trìnhhộithẩm tham gia vào các quan hệ tố tụng (hoạt động xét xử) do pháp luật tố tụng điều chỉnh.

Tham gia xét xử tại tòa án là quyền của công dân nhưng đối với từng người dân cụ thể thì khi tham gia hoạt động xét xử vừa là trách nhiệm, là nghĩa vụ công dân mà họ phải thực hiện. Nói cách khác, tham gia xét xử tại tòa án là nghĩa vụ đểthực hiện quyền, nếu không thực hiện tốt nghĩa vụ tham gia xét xử đồng nghĩa với vớiquyền tham gia xétxửcũng khôngđược thực hiện hiệu quả. Bên cạnh đó, những vấn đề quan trọng khác được đặt ra như: phải có cơchế đảm bảo để những công dân tham gia xét xử thực sự là người đại diện cho nhân dân, đưa tiếng nói của đại diện nhân dân vào hoạt động xét xử; tiếng nói của nhân dân phải được đặt đúng lúc, đúngchỗtrong quá trình xétxử;cầntách bạch rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán và những người đại diện nhân dân tham gia xét xử. Đây cũng là vấn đềmà hiện nay nhiều quốc gia trênthếgiới đang đi tìmlờigiải, tuy nhiên, khi nghiên cứu, hoàn thiệnđịa vịpháp lýcủahộithẩm cầnphải dựa trênmộtsốtiêu chí nhấtđịnhnhư: phương thức lựa chọnđạidiện nhân dân tham gia xétxử;mô

24

hình nhân dân tham gia xétxửtạitòa án (bồi thẩm đoàn hayhộithẩm); lĩnh vực

tham gia xét xử (hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động…); cấp xétxử

(sơ thẩm, phúc thẩm); đối tượng, phạm vi được quyền đưa ra phán quyết…

Địa vịpháp lý của hộithẩm có nhữngđặc điểmnhư sau:thứnhất, địa vịpháp lý của hội thẩm xuất phát từ triết lý của một nền tư pháp nhân dân. Có thể nói bảnchất nhân dân, tính chất dânchủtrong xétxửkhôngchỉthểhiện ởviệc các công chức tư pháp tận tụy, hết lòng với nhân dân mà còn thể hiện đậm nétở việc huy động ngày càng đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và kiểm tra, giám sát công tác xét xử. Hộithẩm, mộtchếđịnhphùhợpvớitư tưởngcủa V.I Lê, đólà“Bản thân chúng ta phảitựmình xét xử, toànthểcông dân khôngtrừmộtaiđều phải tham gia vào việc xét xử và quản lý đất nước” [138, tr.67-68]. Chủ tịch Hồ ChíMinh cũngđã chỉrõ: “Nhà nước phải phát huy quyền dân chủ, phát huy tính tích cực và sángtạocủa nhân dân, làm chomọicông dân Việt Nam thực sựtham gia quản lý công việc của Nhà nước” [54, tr. 150-151]. Chính vì vậy, khi tham gia xét xử, hộithẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa mìnhvớitư cách là ngườiđại diện cho nhân dânđểđảmbảotính dânchủtrong xét xử, thểhiện quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân. Cóthểthấy như ởViệt Nam, các cuộc cảicách lớncủa nhà nước trên lĩnh vực tư phápđềunhằm mục đích nâng cao chấtlượngvà hiệu quảxétxửcủa tòa án vàđểnhân dân ngày càng cóđiềukiện kiểm tra, giám sát, hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp. Chế định hội thẩm thể hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra và đang thực hiện trong giai đoạn hiện nay; thứ hai, địa vị pháp lý của hội thẩm hội thẩm chỉ tồn tại ở một giai đoạn nhất định của tố tụng, chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, cụ thể là hội thẩm không tham gia vào tất cảcác quan hệ tố tụng mà chỉ tham gia vào quan hệ tố tụng phát sinh do hoạt động xét xử của tòa án. Hội thẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đã được Hiến pháp và pháp luật quy định từ khi được tòa án phân công tham gia xét xử các vụ án (Qua nghiêncứucho thấy mộtsốnước như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga hội thẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia xét xửtạiphiên tòa [7], [9], còn như ởViệt Nam, từkhiđược chánh án tòa án phân

25

công tham gia xétxửvụán, hộithẩm thực hiện các nhiệmvụ,quyềnhạnnhư:

nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa, đề nghị chánh án ra các quyết định cầnthiết thuộc thẩm quyền và tham gia hộiđồngxét xử), hộithẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa và ra các phán quyết về việc giải quyết vụán; thứ ba, địa vị pháp lý của hội thẩm không mang tính hoàn hảo như địa vị pháp lý của mộtcông chức hay viên chức nhà nước,vìhộithẩm không phải là những người xét xử chuyên nghiệp, xét xử đối với họ không phải một nghề, hội thẩm cóthểlà nhữngngườikhông phải là công chức, viên chức nhà nước,hoặc là công chức nhà nước nhưng tham gia hội thẩm mang tính kiêm nhiệm, hoặc là những cán bộ nhà nước đã về hưu…; thứ tư, khi tham gia hoạt động xét xử, hội thẩm cùng với thẩm phán có trách nhiệm làm trọng tài giữa hai bên: bên nguyên và bên bị trong vụ án phi hình sự (dân sự, hành chính); bên buộc tội và bên gỡ tội đối với các vụ án hình sự mà cân bằng nhau về quyền hạn và trách nhiệm. Với chức năng làm trọng tài giữa các bên, để bảo vệ công lý, công bằng, bảo vệ quyền con người, hội thẩm phải thực sựđộc lập, vô tư và khách quan, đềcao tính thượng tôn của pháp luật; thứ năm, hội thẩm là một trong những chủ thể tiến hành tố tụng, chủ thể xétxử của tòa án, vì vậy, khi tham gia hoạt động xét xử, hội thẩm có mối quan hệ tố tụng với nhữngngườitiến hànhtốtụng và có mốiquan hệvớinhữngngườitham gia tố

tụng. Về mối quan hệ của hội thẩm với những người tiến hành tố tụng, đó là: mối quan hệ với thẩm phán chủ tọa phiên tòa; mối quan hệ với kiểm sát viên (công tố); và mối quan hệ với thư ký tòa án. Mối quan hệ của hội thẩm với những người tham gia tố tụng, đó là: mối quan hệ với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngườikhởi kiện, ngườibịkiện,ngườicó quyền lợi, nghĩa vụliên quan, ngườilàm chứng, ngườibào chữa,ngườibảovệquyềnlợicủađươngsự, người

giám định, ngườiphiên dịch…). Ngoài ra,hộithẩm còn có mốiquanhệvớicác phương tiện thông tin đại chúng và mối quan hệ với nhân dân.

Tham gia trực tiếp cùng các thẩm phán vào hoạtđộngxét xử, hộithẩm có mối quan hệ công tác với thẩm phán, nhưng hội thẩm khác với thẩm phán ở những đặc điểm sau: thẩm phán là nhân viên nhà nước đại diện cho công quyền, được đào

tạo bài bản, chuyên nghiệp và thực hiện chức năng xét xử như một “nghề”. Không giống như thẩm phán, hội thẩm tuy vẫn có thể được xem là “một nghề”, nhưng làmột “nghề không chuyên nghiệp”. Xét xử không phải là công việc chính cũng nhưkhông phải là công việc có thể đảm bảo nguồn sống tối thiểu của hội thẩm. Nhưng vớitrách nhiệm trước nhân dân, nhữngngườiđã đặtniềm tin và trao quyền cho mình, hội thẩm phải dành nhiều thời gian, tâm huyết khi tham gia xétxử để xứng đángvớivịtrí, vai trò mà nhân dânủynhiệm. Hộithẩm là nhữngngườicó kinh nghiệm sống và kinh nghiệm xã hội sâu sắc được lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách cử tri (ví dụ ở Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc) hoặc được bầu, cử (ởViệt Nam),đểtham gia vào quá trình xétxử;còn thẩm phán là nhữngngườicótrìnhđộcaovềluật pháp, được đàotạonghiệpvụxét xử, là những “chuyên gia pháp lý”. Trong các phiên tòa xét xử các vụ án, thẩm phán là người quan tâm nhiều hơn đến việc áp dụng pháp luật thế nào để xử lý vụ án đúng pháp luật thì hội thẩm có thểđượcxem là nhữngngườilàm công tác “chính trị” trong phiên tòa. Cóthểnói, hộithẩm tham gia xétxửnhằm thuhẹpkhoảng cách giữa pháp luật và cuộc sống trong hoạt động áp dụng pháp luật của tòa án khi xét xử. Pháp luật không thểquy định chi tiết theo hướng lượng hóa tất cả mọi trường hợp xảy ra trong đời sống xã hội, ví dụ như trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, hay các chi phí hợp lý cho việc mai táng trong các vụán tranh chấpvềbồithường thiệthạido tính mạngbịxâm

phạm…Hoạtđộngáp dụng pháp luật trong những trườnghợpnêu trênrấtcầnýkiến, quan điểm của hội thẩm, với tư cách là chủ thể xét xử, đại diện cho tiếng nói của nhân dân,đưanhững kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết của mình về đạo đức xãhội, những chuẩn mực ứngxửchung trongđờisống xã hộiđược cộngđồngthừa nhận và tôn trọng; hay theo thông lệ chung trong cộng đồng thì như thế nào được coi là các chi phíhợplý cho việc mai táng trong trườnghợpbịthiệthạido tính mạng bị xâm phạm; hay hành vi phạm tội của bị cáo có đáng được hưởng sự khoan

hồng của pháp luật hay không… Như vậy, hội thẩm đã mang tới phiên tòa hơi thởcủa cuộc sống thực tiễn đang diễn ra sinh động. Hội thẩm đóng vai trò là người đưa pháp luậtgầnvớithực tiễn hơn, làm cho cácbảnán, quyếtđịnhcủatòa án mang tính “chính trị hơn” và do đó, cần có sự hiện diện của đại diện nhân dân trong hoạt động xét xử.

Theo truyền thống pháp lý của mỗiquốc gia mà mỗi quốc gia quyđịnhvềtiêu chuẩn lựa chọn hội thẩm, nhiệmvụquyềnhạncủahộithẩm có nhữngđiểm khác biệt, cóthểthấy như ởViệt Nam, theo quanđiểmtruyền thống pháp lý, hội thẩm là những “công dân tiêu biểu”, đại diện cho những tầng lớp, thành phần nhất định và do đó phải đáp ứng những tiêu chuẩn chuyên biệt, được giới thiệu và bầu ra theo mộtquy trình chặt chẽ: là nhữngngườicó kiến thức vềpháp luật, được mặt trận tổ quốc giới thiệu để hội đồng nhân dân bầu làm hội thẩm, hội thẩm trở thành những chủ thể xét xử “bán chuyên nghiệp”, được tạo đào, bồi dưỡng về pháp luật, vềnghiệpvụxét xử, được nghiêncứuhồsơ vụán trước khi xét xử. Pháp luậttố

tụng Việt Nam quyđịnhviệc hộithẩm tham gia xétxửsơ thẩmtạicác phiên tòa hình sự, dân sự, hành chính là bắt buộc, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; khi xét xử hội thẩm ngang quyền với thẩm phán; quy định số lượng hội thẩm đông hơn thẩm phán trong thành phần hội đồng xét xử (2/3 hoặc 3/5) và quyết định theo nguyên tắc đa số, vì vậy ở góc độ pháp lý, quyết định của hội thẩm rất quan trọng, cùng với thẩm phán xác định tội danh, hình phạt và trách nhiệm dân sự.

Vềmô hìnhbồithẩm đoàn, điểnhìnhởHoa Kỳ, vớiquy trình lựa chọn bồi thẩm viên bằng hình thức bốc thăm và ngẫu nhiên, bồithẩm đoànđạidiện cho tiếng nói của ngườibình dân, của quần chúng vào phiên tòa. Pháp luật HoaKỳphân địnhrõ nhiệmvụcủa bồithẩm đoàn và thẩm phán. Nhiệmvụcủa bồithẩm viên tại phiên tòa chỉ là xác định một người có tội hay không có tội, còn việc xácđịnh tội danh và mức hình phạt thuộc trách nhiệm của thẩm phán, bồi thẩm viên lànhững người không có kiến thức pháp lý chuyên sâu nên những quyết định của họsẽbám sátvớithực tiễn hơn và căncứvào những chuẩn mực chung của xã hội nhiều hơn, đây là yếu tố cần thiết trong việc xác định một người có tội hay không có tội. Có thể nói, chế định bồi thẩm đoàn thể hiện rất mạnh mẽ tính dân chủ trong xét xử, đó là đại diện xã hội xét xử người bị buộc tội, làm giảm được sự chi phối quá lớntừphía buộc tội (phía nhà nước – côngtố)đốivớitư pháp hìnhsựvì bồi thẩm hoàn toàn khách quan và “trong sáng” đối với kiến thức pháp luật. Không cần

28

quá nặng nề về việc phân biệt giữa khía cạnh sự kiện và pháp lý của vụ án, làm cho quá trình xét xử các vụ án hình sự dễ hiểu hơn với người dân vì bồi thẩm phải hiểu được mọi tình tiết của vụ án. Pháp luật do thẩm phán hướng dẫn, giải thích cho bồi thẩm cũng cần phải rõ ràng, đơn giản hơn để bồi thẩm có thể áp dụng chính xác khi ra các phán quyết. Mặt khác, vai trò quan trọng của chế định bồi thẩm đoàn trong hệ thống tòa án Hoa Kỳ đã thúc đẩy sự phát triển của các luật sư. Luật sư phải đưa ra lập luận của mình để thuyết phục bồi thẩm đoàn chứ không phải để thuyết phục thẩm phán. Bồithẩm đoànchỉlà những công dân bình thường và cách thức cũng như phương pháp lập luận của luật sư có thể ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của họ. Vì vậy, luật sư xuất sắc là luật sư có những lập luận thuyết phục được bồi thẩm đoàn.

Tuy nhiên, chế định bồi thẩm đoàn (điển hình như ở Hoa Kỳ) có những điểm hạn chế nhất định, những công dân bình thường được cơ cấu theo cách rút thăm là bồi thẩm viên, nên họ không có lối tư duy và lập luận pháp lý, đôi khi thiên về tình

cảm, ấntượng, dễthay đổiýkiến, quyết định theocảmtính… Theo truyền thống pháp lý, bồi thẩm đoàn chỉ đưa ra phán quyết trên cơ sở nhất trí tuyệt đối, nếu cóbồi thẩm viên vắng mặt hay không nhất trí với các bồi thẩm viên khác thì sẽ không có phán quyết nào được đưa ra và vụ án sẽ phải được xét xử lại trước một bồi thẩm đoàn khác. Bồi thẩm đoàn hay bị ảnh hưởng bởi những lời bào chữa của luật sư vàcũng dễ ảnh hưởng của công luận và báo chí, các luật sư bào chữa có kinh nghiệm trong các vụ án hình sự thường cố ý chọn các bồi thẩm viên với trình độ, xuất thân,

tôn giáo…thật khác nhau và họ chỉ cần cố gắng để thuyết phục được một trong các bồi thẩm viên ủng hộ cho người bị kết án là đã đủ để bồi thẩm đoàn không đưa rađược lời kết tội thân chủ của họ [93]. Như vậy sẽ mất nhiều thời gian của quy trình

tố tụng do việc xét xử bởi bồi thẩm đoàn có rất nhiều công đoạn. Trong trường hợp bồi thẩm yếu năng lực sẽ ảnh hưởng chất lượng xét xử. Chế định bồi thẩm đoàn tại Hoa Kỳ rất tốn kém và mất nhiều thời gian cho một phiên tòa xét xử nếu phải tập trung các bồi thẩm viên làm nhiều lần, đây cũng là gánh nặng quá tải của nền hành chính tư pháp Hoa Kỳ.

29

Về lĩnh vực, đối tượng, phạm vi tham gia xét xử của đại diện nhân dân tham gia xétxửởmỗi nướccũng có nhữngđiểmkhác biệt, cơ bảnpháp luật các nước đều quy định đại diện nhân dân tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm (trừ Cộng hòa Pháp có đặc trưng riêng là tòa đại hình xétxửphúc thẩm có bồi thẩm). Lý giải về việc đạidiện nhânchỉtham gia xétxửởcấpsơ thẩm mà không tham gia ởcấpphúc thẩm là ởcấpxétxửsơ thẩm có sựtham gia của đạidiện nhân dânthểhiện tính nhân dân, tính dân chủ trong hoạt động xét xử; còn ở cấp xét xử cao hơn là cấp xét xửphúc thẩm thì phải thuộc thẩm quyền của các nhà chuyên môn. Vềlĩnh vực tham gia xét xử, có bồi thẩm đoàn tham gia xét xử trong cả lĩnh vực hình sự và dân sự (Hoa Kỳ); thẩm phán không chuyên (hội thẩm) xétxử sơthẩm các tranh chấp vềthương mại, lao động, đất đai (Cộng hòa Pháp); bồi thẩm đoàn tham gia xét xử các vụ án hình sự (Nhật Bản); bồi thẩm đoàn tham gia xét xử trong các vụ án hình sựvà hội thẩm viên thương mại theo tố tụng thương mại (Liên bang Nga) [7],[9],[93]; hội thẩm tham gia xét xử sơ thẩm là bắt buộc trong các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình, lao động, hành chính (trừ trường hợp xétxửtheo thủtụcrút gọn) (Việt Nam). Vềphạm vi tham gia xét xử, cácnước cũng cónhững quy định khác nhau, đó là: khi xét xử, bồi thẩm đoàn là người đưa ra phán quyếtvềcác vấnđềvềsựthật, tình tiết, sựviệc, còn thẩm phán là ngườiđưara quyết định các vấn đề về pháp lý như định tội danh, quyết định hình phạt hoặc áp dụng luật nào, điều khoản nào để giải quyết tranh chấp. Trên cơ sở phán quyết của bồithẩm đoàn, thẩm phánmớicóthểđưara các nhận định, quyếtđịnháp dụng pháp luật (Hoa Kỳ, Liên bang Nga)[7], [9]; với tư cách là thành viên hội đồng xét xử, cùng với thẩm phán, bồi thẩm quyết định có tội hay không có tội và quyết định hình phạt (Cộng hòa Pháp và Nhật Bản) [108, tr.17]; hội thẩm có vai trò quyết định trong việc đưa ra các phán quyết tư pháp, cụ thể hội thẩm chiếm đa số trong thành phầnhộiđồngxétxử(2/3 hoặc 3/5), khi xét xử, hộithẩm ngang quyềnvớithẩm phán, cùng nghị án với thẩm phán và biểu quyết theo đa số (Việt Nam).

Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay
Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *