Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ở các quốc gia đang phát triển việc đưa đất nước ngày càng hội nhập vàmở rộngcơ chế thị trường nên kèm theo đóvấn đề tranh chấp trong hoạt động kinh tế thương mại cũng ngày một đa dạng và phức tạp.
Cùng với sự đa dạng và phát triển của xã hội, các quan hệ kinh doanh thương mại cũng là điều tất yếu khách quan, những tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh mang tính chất phức tạp. Trong đó, những tranh chấp phát sinh từ quan hệ Hợp đồngrất phổ biến, đây là côngcụ chủ yếu vàquan trọng nhất trong việc xác lập các quan hệ thương mại. Từ những phát sinh đó, việc lựa chọn một phương thức để giải quyết các tranh chấp của Hợp đồng thương mại là rất cần thiết. Việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực này cần kịp thời và nhanh chóng. Mặc dù Nhà nước luôn khuyến khích các chủthểkinh tếgiải quyết mâu thuẫn với nhau thông qua việc cùng nhau thỏa thuận, trong trường hợp không giải quyết được thì mới lựa chọn phương thức giải quyết bằng Trọng tài hoặc Tòa án, đâylà phương thức lựa chọn cuối cùng.
Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam, để giải quyết các tranh chấp Hợp đồng thương mại thì các chủ thể thường chọn phương thức giải quyết bằng Tòa ánnhằm đảm bảo hiệu quả trong việc giải quyết cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.Điều này cũng lý giải được rằng Tòa án là công cụ bảo đảm cho các bên thực hiện nghĩa vụ của mình thông qua biện pháp cưỡng chế thi hành bởi các phán quyết của Tòa.
Tại tỉnh Quảng Nam, hiệu quảcủa việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại Tòa án cũng mang ý nghĩa quan trọng không chỉ đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp mà có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh. Nếu giải quyết tranh chấp có hiệuquảthì góp phần khôngnhỏtrong môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh.
Trước đây, việc áp dụng pháp luật được thayđổi qua các thời kỳtuy cũng mang lại kết quả cao trong công tác giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại tỉnh Quảng Nam nhưng vẫn còn một sốvướng mắc. Thực tiễn thực tiễn áp dụng pháp luật đểgiải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại ởTòa án nước ta nói chung và các Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng cũng còn một số vướng mắc và bất cập cần phải nghiên cứu. Việc hạn chế, bất cập trong khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn xét xửcòn thiếu đồng bộ, chưa thống nhất, cũng như chưa phù hợp với xã hội hiện nay. Điều đó sẽ làm ảnh hưởng không nhỏđến hoạt động xétxửtại Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh, nhiểu bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghi hoặc có thể bị hủy.
Chính vì lẽ đó, từ thực trạng của đất nước cũng như thực tiễn tại địa phương khi các tranh chấp này trở nên đa dạng và phức tạp, việc nghiên cứu giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam sẽ phùhợp với thực tiễn xã hội, cvó ý nghĩa về mặt lý luận.
Từng là là một chuyên viên tại Văn phòng luật sư, nhận thức được rằng vai trò của Tòa án cũng như các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại, những thực trạng khi áp dụng pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trên địa bàn tỉnh và hoàn thiện khung pháp luật nói chung.
Từnhững phân tích trên, tôi đã lựa chọn đềtài:“Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từthực tiễn xét xửsơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam”đểlàmđềtài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tếdưới sựhướng dẫn của TS. Dương Quỳnh Hoa.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Khi nghiên cứu đềtài vềgiải quyết tranh chấp hợp đông thương mại tại Tòa án thì sẽ làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xửsởthẩm của tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảáp dụng pháp luật vềgiải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được nội dung trên, đề tài có những nhiệm vụ sau đây:
– Phân tích làm sáng tỏmột sốvấn đềlý luận vềgiải quyết tranh chấp hợp đồng thương mạinhư: khái niệm, đặc điểm, vai trò, các yếu tốtác động đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại.
– Phân tích làm rõ lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại như khái niệm, nội dung pháp luật vềgiải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại.
– Đánh giá thực trạng các quyđịnhpháp luật vềpháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
– Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luậtvềgiải quyết tranh chấphợpđồng thươngmạitạitòa án nhân dâncấphuyện trênđịabàn tỉnh Quảng Nam,đồngthời nêu lên những thuận lợi, hạn chế và nguyên nhân trong việc giải quyết tranh chấp đó.
– Đưa ra những phương hướng hoàn thiện pháp luật vềpháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại.
– Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện tại tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đềtài là những quy phạm pháp luật vềgiải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại và những bản án của tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam về vấn đề này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tranh chấp hợp đồng thương mại và việc giải quyết tranh chấp này là vấn đềrất rộng lớn, có thểnhìn nhận đánh giáởnhiều góc độkhác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn, tôi chỉ nghiên cứu chủ yếu về mặt lý luận, đồng thời đưa ra thực trạng của pháp luật căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đề cập đến các vụ án được xét xử bởimột số tòa án nhân dân cấp huyện trong thực tiễn điển hình: Duy
Xuyê, Điện Bàn, Tp. Hội An tại tỉnh Quảng Nam nhằm tháo gỡ những vướng mắc đồng thời đưa ra giải pháp để hoàn thiện.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp lý luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lênin; quan điểm của Đảng và nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu nêu trên chủ yếu vận dụng nghiên cứu theo phương pháp truyền thống và phổ biến là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đó là:
– Phương pháp khai thác tài liệu sẵn có như Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Luật thương mại 2005, Luật Trong tài thương mại và các Văn bản pháp luật khác có liên quan đến nội dung cần nghiên cứu tại Chương 2 của luận văn.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tranh chấp hợpđồngthương mại và việc giải quyết vụán tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án.
– Phương pháp thu thập, bình luận: Đưa ra một số bản án trên thực tế tại các tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam để phân tích, bình luận,…nhằm đánh giá việc thực hiện pháp luật trong thực tế.
– Phương pháp phân tích đánh giá: Nhằm đưa ra những vướng mắc chưa rõràng mà pháp luật hiện hành không thểhiệnđược nhằm góp phần hoàn thiện hơn cho pháp luật nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án giúp các chủthểkinhtếhiểu rõ, tiếp cận sâu rộng hơnvềkiến thức pháp luật lẫn thực tiễn giải quyết. Mặtkhác, khi phân tích, tìm hiểu rõvềlý thuyết, dẫn chứng bằng thực tiễn sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về phương thức giải quyết này, từđó đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn để hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao đội ngũ cán bộ tốt hơn, giải đáp những vướng mắc của các chủ thể khi tham gia trong hoạt động kinh doanh thương mại.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được trình bày theo 03 chương:
Chương 1 Lý luận chung vềgiải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án
Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1. Lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp hợp đồng thương mại 1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng thương mại
Trong nền kinh tếthịtrường, các nhà kinh doanh có quan hệkinh tếthương mại chặt chẽ và khắng khít với nhau. Các chủ thể khi tham gia quan hệ kinh tế đều muốn giữ lòng tin, duy trì sự hợp tác lâu dài nhằm đảm bảo tình đoàn kết, phát triển ổn định. Tuy nhiên, vì lý do nào đó, mối quan hệ kinh tế giữa họ lại có sự bất đồng dẫn đến tranh chấp trong kinh tếthương mại, đặc biệt là tranh chấp Hợp đồng thương mại.
Đểhiểu nhưthếnào là Tranh chấp hợp đồng thương mại thì cần tìm hiều rõcác khái niệm về Tranh chấp là gì? Hợp đồng là gì? Thương mại là gì? từ đó ta có thể hiểu rõ hơn về Tranh chấp Hợp đồng thương mại.
a, Tranh chấp là gì?
Khi các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế đều không tránh những mâu thuẫn, việc tranh chấp thường phát sinh từ những mâu thuẫn đó. Như vậy, mâu thuẫn được
hiểu là quy luật chung của xã hội, là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển – đây là quan điểm theo chủ nghĩa – Mac Lênin. Trong cuộc sống, mâu thuẫn luôn tồn tại, đó là điều tất yếu ở mọi nơi, trên mọi lĩnh vực tạo nên sự phát triển của xã hội. Vàtranh chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích của các bên tranh chấp muốn đạt được nhằm bảo về quyền lợi của mình.
Theo định nghĩa của từđiển Tiếng Việt, “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bấtđồng, thường trong vấn đềquyền lực giữa hai bên” [1,66, tr1024].
b, Hợp đồng là gì?
Các quốc gia trên thếgiới khác nhau sẽcó cách định nghĩa hợp đồng khác nhau. Xét từkhía cạnh bảo vệquyền lợi của các chủthểkhi tham gia trong hoạt động kinh tế,các quốc gia và vùng lãnh thổđã đưa ra khái niệm hợpđồng:
Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hồng Kong,Ấn Độ,
Nauy, Anh…
Tại Cộng Hòa Pháp thì có quan điểm:“Hợp đồng là sựthỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”.
Theo quan điểmcủa Hoa Kỳcho rằng: “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ
pháp lý phát sinh từ sự “thỏa thuận” của các bên…”.
Trung Quốc quy định: “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận vềviệc xác lập, thayđổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sựgiữa các chủthểbình
đẳng tự nhiên, các tổ chức khác…”.
Th.s Phan Thị Thu Hà (Viện khoa học xét xử TANDTC) cũng có bài viết bàn về những điểm chung và sự khác biệt của một số nước và Việt Nam về khái niệm hợp đồng và cho rằng:
“ỞViệt Nam, thì có rất nhiều quan điểmkhác nhau vềHợp đồng dẫn đến nhiều tranh cãi khái niệm dân sự theo nghĩa rộng (gồm cả kinh doanh, thương mại, lao động) và theo nghĩa hẹp là không bao gồmkinh doanh, thương mại, lao động.Đồng tình với quan điểm của tác giả Lê Minh Hùng trong luận án tiến sĩ về “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” như sau: “Về lôgic, từ dân sự được đặt ở vị trí này là nhằm xác định rõ nghĩa của khái niệm hợp đồng, nhằm đểchỉđâylà hợp đồng dân sựchứkhông phải là hợp đồng khác (thương mại, lao động).”
Yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sựưng thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếucủa tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tựdo quyđịnh nội dung hợp đồng, tựdo xác định phạm vi quyền và nghĩa vụcủacác bên. Đương nhiêntựdo hợp đồng không phải là tựdo tuyệt đối.
Tóm lại, theo quan điểm của bản thân thì chorằng Hợp đồnglà sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên với mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụcủa các bên. Đồng thời, khi giao kết một hợp đồng nào đó thì đâylà một hành vi pháp lý, thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ.
Ngoài ra, các chủ thể trong hợp đồng luôn đóng vai trò quan trọng và cần cósự thống nhất của giữa các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ nên có sự ràng buộc giữa các bên với nhau.
c, Thương mại là gì?
Đối vớithương mại thì thường được hiểu: Thương mại là khâu nốiliền sản xuất với tiêu dùng thông qua việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa người bán và
người mua bao gồm những hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,…giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụkhác như trong hình thức thương mại traođổi hàng hóa. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ… cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó.
Hiện nay, các quan hệ kinh tế trong hợp đồng thương mại cũng thay đổi theo sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa dạng và trở nên phong phú hơn. Hợp đồng thương mại thểhiện được nguyên tắccác chủthểtựnguyện, bình đẳng với nhau và trở thành phương tiện nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh. Tóm lại, trong nền kinh tế thì trường thì đây là hình thức pháp lý chủyếu giúp các quan hệ giữa các chủ thể kinh tế thực hiện công việc của mình.
Đồng thời, theo quan điểm của nhiều nước khác trên thế giới, chẳng hạn như:
Pháp, Đức, Tây Ban Nha,…thì họcho rằng giao dịch thương mại là khi các giao dịch gắnliềnvớihoạtđộng thương mại củacác chủthểkinh tếthìmớitrởthành giao dịch thương mại.Còn đối với hợp đồngthương mại thì thể hiện ý chí, sự thống nhất giữ các bên khi thực hiện giao dịch thương mại và đây thực chất cũng là một dạng của giao dịch này.
Hợp đồng thươngmạilà một dạng cụthểcủa hợp đồng dân sự. Do đó, hợp đồng thương mại đều là những giao dịch có bản chất dân sự, thiết lập trên cơsở tự nguyện, bình đẳng và thỏa thuận của các bên; đều hướng tới lợi ích của mỗi bên vàlợi ích chung khi tham gia giao kết hợp đồng; đều có những vấn đề cơ bản như: giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, hợp đồng
vô hiệu và xửlý hợp đồng vô hiệu… Tuy nhiên, do xuất phát từđặc điểmvà yêu cầu của hoạt động thương mại nên hợp đồng thương mại có những vấn đề được quyđịnh có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống như: chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng…
Từnhững khái niệm và phân tích trên thì có thếhiểu nhưthếnào là Tranh chấp Hợp đồng thương mại? Tuy nhiên, bên cạnh thuật ngữ trên, thì trên thực tế córất nhiều thuật ngữ khác nhau, chẳng hạn có người lại nói là “Tranh chấp Hợp đồng kinh tế”.
Tranh chấp hợp đồng thương mại cóthể được hiểu là sự mâuthuẫn, bất đồng về quan điểm, ý kiến của các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng với nhau liên quanđến việc thực hiện hay không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, thậm chí việc bất đồng ý kiến về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ việc vi phạm quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng cũng được xem là tranh chấp hợp đồng.
Tranh chấp hợp đồng thương mại thể hiện qua các loại hợp đồng thương mại cụthểnhư: các thỏa thuận vềmua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; những hợp đồng trong các hoạt động đầu tư thương mại đặc thù khác ví dụ: hợp đồng giao nhận thầu xây lắp, hợp đồng chuyển nhượng dự án khu đô thị mới, khu nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp….
1.1.1.2. Đặc điểm tranh chấp hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền vànghĩa vụ trong hoạt động thương mại. Với cách hiểu về hợp đồng thương mại nhưtrên, hợp đồng thương mại mang những đặc điểm đặc thù như sau:
Thứ nhất, về chủ thể thì hợp đồng thương mại được giao kết giữa các chủ thể
10
là thương nhân. Việc xác định tranh chấp thương mại thì cần xác định trongđó cóít nhất một bên chủ thể là thương nhân. Tuy nhiên, cũng có thể các cá nhân, tổ chức hoạt đông liên quan đến thương mại, chẳng hạn: tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể, chia,
tách…công ty hoặc tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty. Vì vậy, một tranh chấp được coi tranh chấp hợp đồng thương mại thì phải có ít nhất một bên là thương nhân trong giao kết hợp đồng. Ngoài ra, cũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp này.
Thứ hai, về hình thức thì hợp đồng thương mại được thực hiện theo cách thức mà hai bên thỏa thuận. Hợp đồng có thể được thể hiện qua lời nói, bằng văn bản hay hành vi cụ thể của các bên giao kết. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp nhất định thì hợp đồng phải được thiết lập bằng văn bản, ví dụ như hợp đồng quảng cáo, hợp
đồng ủy thác mua bán hàng hóa, triển lãm thương mại, đại lý thương mại,… Thông thường các hợp đồng thương mại được xác lập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn và dễgiải quyết khixảyra tranh chấp, nhưng đối với nhữnghợpđồng đơn giản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thì các bên có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể. Như vậy, sự thỏa thuận của các bên thường quyết định đến hình thức của hợp đồng. Tuy nhiên, đối với một số hợp đồng mà pháp luật quy định phải bằng hình thức văn bản thì các bên phải xác lập hợp đồng bằng văn bản, chẳng hạn như: hợp đồng cung ứng dịch vụ, Hợp đồng chuyển nhượng quyền
thương mại,…
Ở đây, việc tranh chấp hợp đồng thương mại thường phát do các bên vi phạm các điều khoản của hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể cónhững vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp. Những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồnglà nội dung của việc tranh chấp đó.Nội dung của tranh chấp hợpđồng thương mại thường liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các bên vì tại các Hợp đồng thương mại hầu hết đều có quan hệ về tài sản. Mặt khác, tranh chấp hợp đồng thương mại còn chịu chi phối của các yếu tốkhác như mục đích sinh lợi, các yêu
11
cầu về thời cơ kinh doanh và yêu cầu giữ bí mật thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Thứ ba, về đối tượng của hợp đồng thì các hợp đồng thương mại là hàng hóa. Những sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của con người thì đó được gọi là hàng hóa. Dựa vào tính chất pháp lý, hàng hóađược chia thành nhiều loại khác nhau như bất động sản, động sản, tài sản hữu hình,
tài sản vô hình, cácquyền về tài sản…Đối tượng có thể coi là hàng hóa bao gồm:
máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho
thuê, mua, bán,…. Trên thực tế, các hoạt động mua bán có tính chất thương mại ở
Việt Nam không chỉ dừng lại ở những loại hàng hóa này mà hàng hóa còn bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai.
Như vậy, hàng hóa trong hợp đồng thương mại có thể là hàng hóa đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ hình thành trong tương lai, có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông trong thương mại.
Ngoài ra, còn có hợp đồng dịch vụlà hợp đồng cung ứng dịch vụliên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa (hợp đồng trong các hoạt động xúc tiến thương mại, trung gian thương mại, các hoạt động thương mại cụ thể khác); các hợp đồng cung ứng dịch vụ chuyên ngành (hợp đồng dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, đào
tạo, du lịch…). Những hợp đồng trong các hoạt động đầu tư thương mại đặc thùkhác (hợp đồng giao nhận thầu xây lắp, hợp đồng chuyển nhượng dự án khu đô thịmới, khu nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp…).
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, bản chất, vai trò của giải quyết tranh chấp hợpđồng thương mại tại Tòa án
1.1.2.1. Khái niệm của giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án Mối quan hệ trong hoạt động kinh tế tương đối đa dạng và phức tạp vừa mang
tính xung đột, vừa mang tính hợp tác. Tuy nhiên, khi các chủ thể kinh tế tham gia trong quan hệ hợp đồng đều biết rằng việc có thể xảy ra tranh chấp và việc lựa chọn
12
phương thức giải quyết tranh chấp đó cũng là vấn đề đặt lên hàng đầu, có thể ngay trong thỏa thuận tại Hợp đồng cũng có thể tại thời điểm có tranh chấp. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án nhân danh quyền lực nhà nướcđược tiến hành theo trình tự, thủ tục nhất định, nghiệm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
Như vậy, giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án là khi các tranh chấp hợp đồng phát sinh do bất đồng giữa các chủthểtrong quá trình thực hiện hợp đồngmà các bên không thể tự thỏa thuận, tự liên hệ với nhau để hòa giải, đồng thời đã sử dụngcác phương thức khác trong tranh chấp hợp đồng thương mại để giải quyết nhưng mang không lại kết quả thì có thể nộp đơn đến Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp về hợp đồng nêu trên.
Tuy nhiên, khi chọn con đường giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng Tòa án thì cần quan tâm đến việc lựa chọn mới giải quyết sau cho phù hợp với quy định của pháp luật.
1.1.2.2. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án Theo những phân tích trên, khi một trong các bên khởi kiện ra Tòa án yêu cầu
giải quyết những vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích của họ hay quyền lợi của họ bị xâm phạm trong khi giao kết hợp đồng thì thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án được bắt đầu.
Thứ nhất, về trình tự thủ tục khi giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại Tòa án
Các trình tự, thủ tục giải quyết đối với những vụ án này thường cũng tuân thủđúng theo Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành mà pháp luật Việt Nam quy định. Thể hiện qua các cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) đến cácthủ
tục xem xét lại bản án, quyết định (Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm).
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại Tòa án luôn tôn trọng quyền sự định đoạt của các đương sự
Trong quan hệ kinh doanh, các chủ thể luôn muốn đảm bảo được quyền tự do
13
kinh doanh, tự do hợp đồngcủa các chủ thể kinh doanh, không muốn ai can thiệp vào hoạtđộngkinh doanh đúng pháp luật của hộ, kểcảNhà nước.Các bên tranh chấp có quyền lựa chọn phương thức đểgiải quyết tranh chấp sao cho có lợi cho bản thân. Tòa án giải quyết chỉkhi các đương sựyêu cầu hoặc trường hợp thỏa thuận bằng Trọng tài vô hiệu. Khi có tranh chấp xảy ra, đương sự có quyền tự quyết định việc có khởi kiện hay không, đưa ra các yêu cầu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp hợp cho mình, tùy thuộc vào phạm vi và mức độ khác nhau. Kể cả khi đưa vụán ra giải quyết thì các đương sự vẫn có quyền thay đổi, bổ sung hoặc thậm chí cóthể rút yêu cầu khởi kiện.
Ngoài ra, trước khi khởi kiện,đươngsự cóquyền mời Luật sư hay người nàođó chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, phương án khởi kiện và có thể thay mặt đương sự tham gia tốtụng nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp tại Tòa án mà không cần trực tiếp phải có mặt tại Tòa khi khởi kiện.
Thứba, tính cưỡng chếkhi giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án
Sau khi đượcTòa án ra Bản án hoặc Quyết định thì buộc các bên phải thực hiện đúng theo Bản án hoặc Quyết định đó. Đồng thời, việc thi hành này sẽ có biện pháp cưỡng chếnêu các bên không tựnguyện thi hành án. Đâylà điểmlà một ưuđiểm so các phương thức giải quyết khác trong tranh chấp thương mại, lợi ích của bên bị xâm phạm được đảm bảo.
Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mạitại Tòa án thìcũng có một số điểm hạn chế nhất định. Các thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua tòa án thường dài hơn so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Đồng thời, trong hoạt động kinh doanh thì việc xét xử công khai tại tòa án không phù (có thể làm sút
giảm uy tín của các bên trên thương trường; lộ các bí mật kinh doanh…). Ngoài ra, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền kháng cáo khiếu nại nên thời gian kéo dài.
14
1.1.2.3. Bản chất của giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại thông qua Tòa án
Về bản chất, phương thức giải quyết tranh chấp tại tòa án là một phương thức mang ý chí quyền lực nhà nước, tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp trên cơ sởcác quyđịnh của pháp luật. Khi vụán tranh chấp có Quyết địnhhoặc bản án của tòa án có hiệu lực thì bắt buộc đương sự phải thực thi và có thể kèm theo các biện pháp cưỡng chế thi hành. Bởi vậy, các đương sự thường tìm đến Tòa án là nơi giải quyết cuối để bảo vệ họ một cách có hiệu quả các quyền, lợi ích hợppháp khi họthất bại trong việc sửdụng cơ chếthương lượng, hòa giải vàcũng không vụán tranh chấp khi được giải quyết xong nhưng không thểthi hành. Như vậy, bản chất của giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại thông qua Tòa ánđược thể hiện nhưsau:
Thứ nhất, cơ quan tài phán nhân danh nhà nước để giải quyết tranh chấp. Tòaán đươc nhà nước giao quyền lực đểmang lại sựcông bằng khi xã hội ngày càng phát triển, việc phát sinh nhiều tranh chấp trong hoạt đông thương mại là không thểtránh khỏi. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều phương thức để lựa chọn giải quyết tranh chấp nhanh chóng, ngắn gọn, tốn ít chi phí nhưng không đảm bảo được quyền lợi cuối cùng của họcó thểlấylại được.Do đó, phán quyết của tòa án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế.
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp của tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quyđịnh mang tính hình thức cũng như các quyđịnh vềthẩm quyền, thủtục, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại của pháp luật tố tụng nhất là các quyđịnh của BLTTDS năm 2015. Bởi, Tòa án là cơ quan nhân danh quyền lực của nhànước, tất cảcác văn bản pháp luật liên quanđến giải quyết tranh chấp bằng conđường Tòa án thì Tòa án phải căn cứ thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục nhằm tạo sự công bằng, nghiêm minh, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Thứba, tòa án giải quyết tranh chấp theo nguyên tắcxét xửcông khai. Việc xét xửcông khai này một mặt thểhiện tính dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân kiểm tra, giám sát được các hoạt động của Tòa án, của các chủ thể tiến hành tố tụng,
15
qua đó phát hiện những thiếu sót hoặc sai lầm trong tiến trình giải quyết vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân theo quyđịnh của pháp luật, mặt khác qua xét xử công khai còn có tác dụng tuyên truyền pháp luật cho quần chúng nhân dân trong nhận thức về pháp luật.
Như vậy, có thể thấy xét xử công khai nhằm đảm bảo cơ chế kiểm tra và giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử và tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân.
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp tại tòa án có thể thực hiện qua hai cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm, bản án có hiệu lực pháp luật còn có thể được xét lại theo thủ tục: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Vì khi bản án hoặc quyết định giải quyết vụán tranh chấp của Tòa án sơ thẩm khi ban hành sẽ chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà được dựliệu một thời gian nhất định cho các đương sựsuy nghĩ vềquyền lợi của mình có đã đảm bảo hay chưa và các đương sựcó thểkháng cáo; đồng thời Viện kiểm sát có thể kháng nghị khi cho rằngnhận địnhcủa Tòa án chưa chính xác. Chính vì vậy, bản án hoặc quyết định của Tòa án có thể sẽ phải được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm và có thể xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm đảmbảo quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đảmbảo Tòa án giải quyết đúng vấn đề cần giải quyết và đưa ra phán quyết cuối cùng chính xác nhất.
Thứ năm, tòa án giải quyết theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theođa số.
Bản chất của nguyên tắc nàythể hiện ởviệc bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ, khách quan của việc nghiên cứu, giải quyết các vụ án dânsự vàbảo đảm tính đúngđắn, công bằng, khách quan của các bảnán và quyếtđịnhcủaTòa án, tránh được tính chủ quan, độc đoán và tùy tiện trong hoạt động xét xử. Đồng thời, pháp luật tố
tụng dân sựnước ta chỉthừa nhận việc xét xửdo Hội đồng xét xửthực hiện, màkhông thừa nhận việc xét xử do một cá nhân thực hiện.
Hội đồng xét xử giải quyết vụ án tranh chấp Hợp đồng thương mại cũng nhưcác vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật gồm: một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xửsơ thẩmgồmhai
16
Thẩm phán và baHộithẩm nhân dân. Khi xét xử, Tòa án quyết định theo đa số, theo đó Hội đồng xét xử dựa vào cách biểu quyết theo đa số để giải quyết các vấn đề. Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng. Sau khi biểu quyết, người chiếm thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ.
Vì vậy, trong thời gian gần đây, hầu hết các doanh nghiệp khi xảyra tranh chấp thường chọn conđường giải quyết thông qua Tòa ánđểđảm bảo tính minh bạch cũng như lợi ích của các bên. Tuy nhiên, không thể chắc chắn một điều là tất cảcác doanh nghiệp khi tranh chấp đều biết các thủtục cũng như quá trình giải quyết một vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại như thế nào là đúng theo pháp luật nước ta quy định.
1.1.2.4. Vai trò của giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án
Tòa án là cơ quan tư pháp có quyền nhân danh ý chí, quyền lực của nhà nước khi xét xử bất kỳ vụ án tranh chấp nào. Các Bản án hoặc Quyết định của Tòa án khiđã có hiệu lực pháp luật phải đượccơ quan nhà nước, tổchức kinh tế, tổchức xãhội, công dân tôn trọng và chấp hành. Chính vì vậy, đối với những vụ án tranh chấp về Hợp đồng thương mại các chủ thể kinh tế thường chọn con đường giải quyết nàyđể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong trường hợp Bản án của Tòaán không tự nguyện thi hành sẽ bị cưỡng chế bởi quyền lực của nhà nước trong khi các phương thức giải quyết khác như Trọng tài không có cơ quan cưỡng chếthi hành nên hiệu quả hoạt động của Trọng tài rất thấp.
Hiện nay, các nhà kinh doanh ở nước ta luôn tin tưởng vào phương thức giải quyết bằng Tòa án; đồng thời phương thức này luôn chiếm ưu thế chủ đạo khi trong quan hệ kinh tế có phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn; bởi ở đây luôn có sự công bằng, bình đẳng, giải quyết công việc một cách liêm chính. Bằng các Quyết định hoặc Bản án của Tòa án thì các bên có tranh chấp buộc phải thực hiện để khắc phục và chấm dứt tranh chấp, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh thương mại nói chung vàviệc giao kết Hợp đồng thương mại nói riêng trong nền kinh tế trật tự lập pháp. Dođó, Tòa án luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như nhu cầu phát triển của các chủ thể thương mại.
17
1.1.2.5. Các yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án
Hoạt động xét xử của Toà án nhân dân nói chung và hoạt động giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân nói riêng là hoạt động áp dụng pháp luật. Chủthểcó quyền áp dụng pháp luật tại các Tòa án nhân dân bao gồmcác Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Hội đồngxét xử. Bảnán và quyết định của Toà án là kết quảcủa quá trình áp dụng pháp luật.ỞViệt Nam hiện nay, giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng con đường Toà án đang là phương thức giải quyết thông dụng và phổ biến nhất. Theo quy định tại Điều 29 BLTTDS Việt Nam năm 2005 thì tranh chấp vềkinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án liên quan đến nhiều lĩnh vực của hoạt động kinh doanh, thương mại,đểđảmbảo hiệu quả, chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân cần có những điều kiện nhất định, trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin đưa ra một số yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan
Một trong những yêu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, chính là sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Khi áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân nói riêng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phải áp dụng các quy định của Hiến pháp, pháp luật tố tụng dân sự và hệ thống các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Xây
dựng… nhằm đưa ra bản án và quyết định dân sự chính xác, đúng pháp luật, có hiệu quảvà hiệu lực cao. Chính vì vậy, nếu hệthống pháp luật có liên quan đến hoạt động ápdụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại không hoàn thiện, thì chất lượng áp dụng pháp luậtsẽkhông cao, thậm chí không thực hiện được. Vì vậy, để hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải cósự đảm bảo về pháp lý, bao gồm sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định; sự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật; ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của
18
cán bộ, công chức Ngành Tòa án và nhân dân.
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định, nhất là các quy định về Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật ngân hàng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật doanh
nghiệp… được thểhiện ởnhững tiêu chuẩn như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính hiệu lực, hiệu quả và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong xã hội; công tác tổ chức và chất lượng hoạt động của cơ quan áp dụng pháp luật; năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia áp dụng pháp luật; chất lượng của các
văn bản áp dụng pháp luật… Ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân phụ thuộc không nhỏ vào công tác phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật cũng như chất lượng của pháp luật; chất lượng của hoạt động thực hiện, áp dụng pháp luật. Do đó, nhằm nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật thì cần hoàn thiện hệ thống pháp luật tốt hơn.
Thứ hai, năng lực đội ngũ cán bộ công chức của Toà án
Thực tế chứng minh, hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật của Toà án phụthuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố, những nguyên nhân chủquan, khách quan khác nhau, cóthểtrực tiếp hoặc gián tiếp. Một trong nhữngyếutốvô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân nói chung, trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án nói riêng,đó là: Chất lượng độingũ cán bộ, công chức Ngành Toà án, trước hết là trình độchuyên môn, phẩm chất đạo đức, năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán.
Đối với các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,.. những người tham gia trong việc xét xử các vụ án tranh chấp này, họ nhân dân quyền lực của Nhà nước để bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tếnói riêng và các đương sựnói chung. Trong họcần phải có những tốchất nghề nghiệp nhất định, vì ở đây ngoài việc thay mặt cho quyền lực Nhà nước thì họcòn là tấm gương trong lòng của công dân. Chính vì vậy,vớivai trọvịtrí quan trọng nhưvậythì đòi hỏi bản thân những người tham gia xét xửnhằm giải quyết
19
tranh chấp phải được trang bị đầy đủ kiến thức, trình độ chuyên môn, lý luận chính
trị và đặc biệt là có đạo đức tốt,…
Chất lượng đội ngũ cán bộtham gia xétxửlà sựtổng hợp chất lượng của
từng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân…tham gia xét xửđược đánh giá thông qua các tiêu chuẩn về chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức; khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao theo qui định của pháp luật và theo qui định của ngành.
Là người giữ vị trí quan trọng trong hoạt động xét xử tại Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải là những người am hiểu pháp luật, có trình độ chuyên môn và kỹ năng xét xử. Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật đểlàm nhiệm vụxétxửnhững vụán và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án. Xét xử là một công việc phức tạp, nó đòi hỏi người tham gia phải có trình độ am hiểu về pháp luật, có tinh thần trách nhiệm, có kỹ năng sống, cókhảnăng nắm bắt được diễn biến phức tạp của vấn đề. Chính vì vậy, ngoài những tiêu chuẩn “cứng” về điều kiện trở thành Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã được pháp luật qui định thì họcòn phải có những năng lực “đặc biệt” được hình thành thông qua quá trình giao tiếp xã hội, qua học tập… Có thể kể đến một số kỹ năng cơ bản như:
Nắm vững các qui định pháp luật thuộc lĩnh vực được phân công đảm nhiệm một cách chuyên sâu; thu nhận vàxử lýthông tin để phục vụ việc thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Có khảnăng phân tích, đánh giá một cách chính xác, toàn diện những tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ cho việc ra các quyết định, bản án phù hợp với thực tiễn.
Có khảnăng lập luận, tranh luận, lấylời khai với những ngườitham gia tố
tụng; kịpthời xửlý các tình huống phát sinh tại phiên toà theo đúng qui định của pháp luật.
Ngoài các điều kiện về chuyên môn, họ còn phải có trình độ lý luận chính trị, phải thường xuyên trau dồi đạo đức nghề nghiệp, coi đây là một yếu tố quan trọng, có tác động trực tiếp đến quá trình xét xử của Toà án nhân dân hiện nay. Mặt khác,
20
đây cũng là cơ sở quan trọng, mang tính pháp lý cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm vàđào tạo cán bộ. Những giá trịđạo đức của đội ngũ nàyđượcthểhiện rõ nét nhất trong hoạt động nghề nghiệp và trong đời sống hàng ngày.
Trong hoạt động nghề nghiệp, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và các cán bộtư pháp khác phải đảm bảo được yếu tố khách quan, công bằng, vô tư, không vụ lợi cá nhân, có lý, có tình. Sự công bằng, vô tư và khách quan là hiện thân những giá trịcủa một nền tư pháp dân chủ. Trong quá trình xét xửhọphải cương quyết tôn trọng nguyên tắc này,vượt qua những tác động khách quan đểđưara quyết định, bản án đảm bảo tính khách quan, công bằng, vô tư, đúng pháp luật. Trong quá trình xét xử đòi hỏi họ phải có lương tâm, sẵn sàng nhận và sửa chữa những sai sót gặp phải, có tinh thần trách nhiệm trong xét xử, luôn đặt niềm tin vào công lý.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất của Toà án nhân dân, điều kiện làm việc và chếđộ đãi ngộ đối với cán bộ ngành Toà án có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng áp dụng pháp luật nói chung, trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại
Toà án nhân dân nói riêng như: Trụ sở, phương tiện lỹ thuật,…. Điều kiện vật chất,
cụthểlà máy móc; phương tiện làm việc, đi lại; trụsởlàm việc, phòng xét xử,
phòng nghị án… được trang bị đầyđủ, hiệnđại thìsẽ góp phần trực tiếp vào việc thểhiện sựtrang nghiêm của cơ quan công quyền; đội ngũ cán bộ Toà án có đủphương tiện làm việc thì việc xétxử sẽ đảm bảo chất lượnghơn, họ sẽ tập trung vào công việc mà không bị chi phối bởi sự khó khăn về điều kiện, phương tiện làm việc.
Ngoài ra, cần đềcao các chếđộđãi ngồnhằm khắc phục tình trạng lơ làtrong công việc, không có trách nhiệm đối với công việc mình đang làm, đạo đức nghề nghiệp sẽtừđó mà suy thoái vì tư lợi cá nhân. Còn chếđộchính sách cũngđóng vai trò hết sức quan trọng, từ chế độ đề bạt, bổ nhiệm bố trí đến chế độ khen
thưởng, chế độ tiền lương và kỷ luật…đây làđộng lực thúc đẩy cán bộ Ngành Toà án không ngừng vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Đồng thời, luônđảm bảo sựlãnh đạo củaĐảng, sựtham gia giám sát của Hội đồng nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Toà án, đối với công
21
tác cán bộ của Ngành Toà án, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng được củng cố, phát triển, là những nhân tố hậu thuẫn tích cực, đảm bảo hiệu quả cao cho hoạt động áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân.
1.2. Lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện
1.2.1. Khái niệm pháp luật vềgiải quyết tranh chấphợpđồngthương mại tại Tòa án
Tranh chấp Hợp đồngthương mại là việc phát sinh mâu thuẫn, bất đồng từ
hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ,…Việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại Tòa án là các bên tranh chấp thông qua phương thức này thực hiện các thủ tục thích hợp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi cish kinh tế nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của mình. Pháp luật giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại Tòa án là các quyđịnh điều chỉnh quy trình tiến hành giải quyết tranh chấp đó.
Tóm lại, pháp luật về giải quyết tranhchấp hợp đồngthương mại tại Tòa án làtổng hợpcác quy phạm pháp luật điều chỉnh các mâu thuẫn phát sinh trong quátrình giải quyết các tranh chấphợpđồng thương mại tạiTòa án nhằm phânxửđể
làm rõ quyền và nghĩavụhợp pháp của các bên, buộc bên vi phạm nghĩa vụphải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên vi phạm. Việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại được tiến hành khi có một bên cho rằng quyền lợi của họ vịxâm phạm và có yêu cầu đến Tòa án. Từ đó, các bên sẽ nhận được phán quyết nhằm xác định lại quyền và nghĩa vụ, giữ gìn tình đoàn kết, dung hòa các xung đột.
So với phương thức giải quyết tranh chấp tạiTòa án thì hiện nay ở nước ta việc hòa theo sựphát triển, hội nhập của quốc tếthì phương thức giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài cũng được quan tâm. Trong cơ chế thị trường, cùng với sựvận độngđa dạng và phức tạp của các quan hệ kinh tế trong nước cũng như quan hệthương mại quốc tế, trọng tài ngày càng khẳng định vai trò chủ đạo trong giải quyết các tranh chấp thương mại. “Trọng tài thươngmạilà phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luậtnày”. Do đó,
22
trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên đối với một vụ tranh chấp mà chỉ cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên tranh chấp thỏa thuận chỉ định ( thỏa thuận trọng tài). Chính vì vậy, Tòa án cũng đã quyđịnh về công nhận phán quyết của Trong tại thông qua Tòa án. Tuy nhiên việc này làm kéo dài thời gian khi phải thông qua hai phương thức giải quyết và thủ tục tố tụng cũng không rõ ràng khi các chủ thể kinh tế muốn thực hiện.
1.2.2. Nội dung của pháp luật vềgiải quyết tranh chấphợpđồng thương mại tại Tòa án
Trong quá trình hợp tác kinh doanh, việc xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, khi các bên không thể tự giải quyết, một trong các
bên có quyền yêu cầu cơ quan tài phán nhà nước giải quyết tranh chấp – đó là Tòaán. Ở các nước như Pháp, Anh, Đức thì họ giải quyết tranh chấp thương mại đối với các chủthểlà thương gia, hoạtđộngkinh doanh vì lợi nhuận. Chẳng hạn như tại Đức, các Tòa án thương mại hình thành nhằm xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp liên quan đến một hành vi thương mại theo Bộ luật thương mại Đức. Ngoài ra, thủ
tục giải quyết tranh chấp ở các nước trên thế giới hầu hết là tương đối đơn giản, linh hoạt, mềm dẻo, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của cácchủthể kinh tế. Tuy nhiên, hầu hết các thủ tục giải quyết tranh chấp đều được thực hiện theo trình tự sau:
1.2.2.1. Khởi kiện và thụ lý vụ án
Một trong những phương thức các chủ thể tham gia trong hoạt đông kinhtếyêu cầu nhà nước bảo vệquyền lợi đó là quyền khởi kiệnđến Tòa án. Trong quátrình giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại thì việc khởi kiện luôn là thủ tục đầu tiên mà các đương sự phải thực hiên khi muốn bảo vệ quyền lợi của mình.
So với quy định về tố tụng ở các nước trên thới giới, về các cơ bản thì quyền khởi kiện được biết đến từ rất lâu của xã hội loài người. Chẳng hạn như ở La Mã cổđại thì hình thành Nhànước chiếm hữu nô lệvà có nền dân chủquân sựthì việc khởi kiện thể hiện ở các lần va chạm với nhau vì những lợi ích cá nhân. Tại Hy Lạp,
trước đây đã tồn tại hai hình thức tố tụng là công tố vàtư tố,…
Qua thời gian thì quyền khởi kiện sẽ dần dần được hoàn thiện và nó đã thành
23
chếđịnh pháp luật độc lập và được thừa nhận qua các Hiến pháp cũng như trong pháp luật tố tụng.
Đặc trưng của phương thức khởi kiện này là trao cho đương sự quyền tự do hành động, xuất phát từ quyền tự địnhđoạt đối với yêucầu khởi kiện của mìnhđểlàm cơsở tố tụng.Từ đó Tòaán có thể can thiệp giúp bảo về quyền lợi cho đương sự. Để đảm bảo được tính pháp lý khi khởi kiện vụ án tranh chấp Hợp đồng thương mạithì người khởi kiện phải xây dựngmộthồsơ khởi kiện bao gồm: Đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo chứng minh cho yêu cầu khởi kiện.
Khi người khởi kiện hoàn tất hồ sơ khởi kiện và nộp hồ sơ tại Tòa án thì Tòaán sẽ chấp nhận đơn của người khởi kiện và tiến hành thụ lý vụ án.
Thụ lý vụ án dân sự không phải là một tổ hợp của các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với vụ án tranh chấp hợp đồng thương mại. Khái niệm “thụ lý” các vụ việc/án dân sự đã có từ rất lâu trong lịch sử lập pháp và có mối quan hệbiện chứng với quyền khởi kiện của cácchủthể. Như vậy, khi có quyền khởi kiện của các chủ thể được thực thi thì mới có hoạt động thụ lý. Và ngược lại chỉ cóhoạt độngthụ lý mới có hoạt động khởi kiện của các đương sự.
Việc Tòa án xem xét có nhận hay trả lại đơn khởi kiện phải được nghiên cứu kỹ, xem xét về tư cách pháp lý, về thẩm quyền giải quyết đối với vụ án tranh chấp đó, cũng như người khởi kiện có đủ điều kiện để khởi kiện hay không.
Đặc biêt, khi Tòa án thụ lý vụ án thì có thể xem xét giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường, việc này tùy thuộc vào từng vụ việc/án.
1.2.2.2. Giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử
Hòa giải là việc tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhauvềgiải quyết vụ án dân sự; đặc biệt đối với vụ án tranh chấp Hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, không phải các Tòa án trên thế giới cũng thực hiện việc hòa giải này, vì rất tốn thời gian để thực hiện thủ tục. Đồng thời ngoài việc hòa giải tại Tòa án thì các chủ thểcó quyền chọn phương thức Hòa giải ngoài tố tụng để giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên ở Việt Nam, việc hòa giải tại Tòa là một giai đoạn không thể thiếu trước khi đưa vụ án ra xét xử công khai tại Tòa. Đặc biệt, khi hòa giải lại có sự tham
24
gia của Luật sư–đại diện cho đương sự, người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong quá trình này là rất cần thiết. Tại buổi hòa giải, các bên có thểthương lượngvớinhau vềhướng giải quyếtvụviệc, thểhiện tính dân chủcông khai; đồng thời giảm bớt tiết kiệm được thời gian, công sức.
Đối với giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng thương mại thì đây là giai đoạn quan trọng. Trong đó, Toà án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, từđó xác định được đầyđủnguyên đơn, bịđơn, những người có quyền và nghĩavụliên quan. Trong đó, Toà án xácđịnhđúng quan hệpháp luật tranh chấp,từ đó xácđịnh được đầy đủ nguyên đơn, bị đơn,những người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Khi đã xác định được các đương sự trong vụ án, Toà án cóthểyêu cầu họ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác
lại yêu cầu của đương sự khác…Nếu cần phải bổ sung chứng cứ thì Toà án sẽ thu thập theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để hoàn thiện hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, Toà án có thểyêu cầu các đương sựcung cấp chứng cứđểchứng
minh cho yêu cầu của mình hoặc bác lại yêu cầu của đương sự khác…
Trong giai đoạn chuẩn bị xétxử sơ thẩm vụán tranh chấp Hợp đồng thương mại, Tòa án sẽ tiến hành nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ án. Từ đó, Tòa án sẽ kiểm tra thật kỹ lưỡng tất cả các vấn đề liên quan tới vụ án để chuẩn bị tốt cho phiên tòa sơ thẩm, đồng thời dự liệu một số khó khăn gặp phải trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án. Không chỉ có vậy, trong giai đoạn này các đương sự có thể chuẩn bị cảvề mặt tâm lý cũng như kiến thức pháp luật để sẵn sàng cho phiên tòa sơ thẩm được tiến hành sau đó.
Ởcác nước trên thếgiới, khi tham giatốtụng tại Tòa án thì Luật sưsẽthay mặt các bên tranh tụng với nhau và Thẩm phán là người ởgiứa đứng ra phân xử, không tham gia trong quá trình tranh tụng nhưng lại có quyền đưa ra phán quyết đối với vụ án tranh chấp Hợp đồng thương mại. Đồng thời, việc phân xử này căn cứ vào chứng cứvà quá trình tranh tụng. Tòa án quốc tếrất ít khitựmình trực tiếp thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ, nhưng việc đưa ra phán quyết vẫn phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
25
Có thể nói, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án tranh chấp Hợp đồng thương mại là giai đoạn rất quan trọng, làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảmbảocho việc xét xửvà ra các phán quyết của toà ánđược khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.
1.2.2.3. Giai đoạn đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm
Tất cả các vụ án dân sự nếu đã phải đưa ra vụ án nếu đã đưa ra xét xử thì phải trải qua việc xét xửtạiphiên Tòa sơ thẩm. Do đó, trongmộtthời gian, thời điểm nhất định thì phiên Tòa sơ thẩm xét xử vụ án dân sự được tiến hành.
Phiên tòa sơ thẩmvụán dân sựnói chung và vụán tranh chấp Hợp đồng thương mại nói riêng là phiên xét xử vụ án lần đầu tiên của một vụ án và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án tranh chấp. Tại đây sẽ quyết định kết quảgiải quyết vụ án tranh chấp, xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự làm cơ sởcho việc thi hành án.
Tại phiên tòa sơ thẩm tập trung các hoạt động tốtụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Lúc này, Tòa án sẽ xem xét và giải quyết tất cảnhững vấn đềliên quan đến vụán; đồng thời các đương sựsẽđược công khai bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa. Hội đồng xét xửthực hiện việc xét xửthông qua việc nghe các bên trình bày, tranh luận tại phiên tòa, kiểm tra xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện, khách quan, áp dụng đúng pháp luật giải quyết vụ án nhằm đưa ra phán quyết.
Thời hạn mở phiên Tòa phải được quy định rõ và đối với vụ án tranh chấp cólý do chính đáng thì có thể gia hạn thêm thời hạn nhất định. Ngoài ra, phiên Tòa xét xử cũng có thể bị hoãn vì một số lý do như: vắng mặt của đương sự, Hội đồng xét xử không đảm bảo, hoặc một số lý do khách quan khác.
Phiên Tòa xét xử sơ thẩm nơi thực hiện việc giáo dục đạo đức, pháp luật,… Thông qua phiên xét xử những người đến tham dự phiên Tòa sẽ hiểu rõ hơn các vấn đề về phápluật giúp nâng cao hiểu biết của người dân cũng như các chủ thể ;tham gia hoạt động kinh tế.
26
1.2.2.4. Kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát
Việc quy định quyền kháng cáo, kháng nghị vừa là một công cụ tốt đảm bảo công lý, vừa là một điều gây khó khăn cho các tòa án.
Theo Chánh án Tòa phúc thẩm Pari, cho rằng:“việc quyđịnh quyền kháng cáo, kháng nghị là một công cụ tốt để đảmbảo công lý hơn là một điều gây khó khăn cho tòa án”.
Mỗi ngườisửdụng quyền kháng cáo, kháng nghị nhằm mộtmục đích khác nhau tuỳ theo lợi ích của riêng mình. Về phía các bên đương sự, có thể họ tận dụng quyền kháng cáo, kháng nghị để kéo dài thời hạn. Về phía luật sư, họ khuyên đương
sựkháng cáo, khiếu nại để có thêm việclàm… Như vậy, để xem xét vấn đềnày, một vấn đề hết sức quan trọng, chúng ta cần phải tính đến nhiều yếu tố, nhiều khía cạnh khác nhau.
Nhìn chung, việc quyđịnh quyền kháng cáo, kháng nghị, khiếu nạilà một biện pháp bảo đảm thực hiện nền công lý, bảo đảm quyền và lợi ích của công dân trước tòa án. Công dân được quyền khiếu nại lên tòa án cấp cao hơnđể phảnđốilại một quyết định của tòa án. Nhưngnếu sửdụng một cách thái quá quyền này sẽ làm cho tòa án bị quá tải, và như vậy cũng sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của tòa án. Điều này thực tế đã xảy ra ở Pháp, nhất là ở cấp tòa phúc thẩm.
Người có quyền kháng cáo bao gồm: các đương sự, đại diện đương sự, cơquan, tổ chức khởi kiện kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm khi chưa có hiệu lực thi hành.
Đối vớiviệc kháng nghị thì Viện kiểm sát nhân dân cùng cấpcó quyền kháng nghị các bản án hoặc quyết định khi chưa có hiệu lực pháp luật do Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm.
Việc kháng cáo, kháng nghị nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cácđương sự khi thấy phán quyết của Tòa án chưa phù hợp, đồng thời tạo điều kiện cho các cấp xét xử xét xử lại để vụ án đưa ra phán quyết chính xác nhất.
Thời hạn kháng cáo, kháng nghịđối với Bản án hoặc Quyết định sẽkhác nhau, thông thường thì việc kháng cáo, kháng nghị một Quyết định thì thời hạn sẽ
27
ít hơn việc kháng cáo, kháng nghị Bản án. Tuy nhiên, việc kháng cáo, kháng nghịvụ án theo thủ tục rút gọn sẽ có thời gian ngắn hơn so với việc giải quyết theo thủtục thông thường.
Mặc dùđãnộp đơnkháng cáo, quyết định kháng nghị nhưng các chủ thể cóquyền rút đơn nhưng phải trong thời hạn cụ thể.
ỞPháp, quyền kháng cáo, kháng nghị là một quyền có giá trịpháp lý mang tính phổquát. Tuy nhiên, quyền này lại không được thừa nhận trong Công ước Châu Âu về quyền con người. Một điều trái ngược hoàn toàn với những gì chúng ta thường nghĩ. Điềunày có nghĩa là hoàn toàn có thểquyđịnh một hệthống“lọc” nhằm hạn chế việc kháng cáo, kháng nghị và điều đó không hề trái với quy định tại Điều 6, Công ước Châu Âu vềquyền con người quyđịnh vềviệc đảmbảo xét xửcông bằng. Điển hình là trường hợp của nuớc Anh, ởđócác bên phải có sựcho phép của Tòa án mới được thực hiện việc kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Do đó, việc kháng cáo, kháng nghị tùy thuộc vào mỗi quốc gia, tuy nhiên ởViệt Nam, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự, Viện kiểm sát thì vấn đề kháng cáo, kháng nghị đều được cho phép.
Qua các phân tích trên, tôi muốn tóm tắt lại nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại ở hầu hết các Tòa án qua sơ đồ sau nhằm giúp các chủ thể trong tranh chấp có thể dễ tiếp cận bao quát hơn như sau:
28
Sơ đồ 1: Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng thương mại
Khởi kiện
Trả lại đơn khởi kiện
Thụ lý vụ án
đình
chỉ
Tạm
định
Quyết
Hòa giải và chuẩn bị xét xử
– Thu thập chứng cứ- Hòa giải
–
Quyết định đình chỉ
Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Quyết định công nhận sự
thỏa thuận giữa cácđương sự
Đưa vụ án ra xét xử
sơ thẩm
thỏa thuận
tại phiên Tòa
QĐ CN sự
* Phiên Tòa sơ thẩm gồm các thủ tục:
– Thủ tục bắt đầu phiên Tòa – Thủ tục hỏi
– Thủ tục tranh tụng
– Nghị án và tuyên án
QĐ đình chỉ tại phiên Tòa
Bản án
sự
và/hoặc
đương
của
cáo
Kháng
của
VKS
nghị
kháng
29
Tiểu kết chương 1
Nước ta ngày một hội nhập với các nước trên thế giới, cùng với đó sự phát triển kinh tế cũng phát triển đa dạng hơn. Các tranh chấp về hợp đồng thương mại ngày càng phức tạp và không tránh khỏi những vấn đề tất yếu, cần thiết đối với các chủthểtrong quan hệtranh chấp này. Hiện nay, có rất nhiều phương thức đểchủthể trong tranh chấp hợp đồng thương mại lựa chọn, tuy nhiên mỗi phương thức đều có ưu và nhược điểmriêng nên các bên thương rất cân nhắc đểáp dụng một cách hiệu quả tháo gỡ những mâu thuẫn đó. Đồng thời, khi ta di sâu trên phương diện lýthuyết về giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì thấy được tầm quan trọng của Tòaán trong hoạt động kinh doanh thương mại.Đâycũng là phương thức giải quyết giúp các chủ thể trong tranh chấp tin tưởng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia trong hoạt động kinh tế.
30
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP
TẠI QUẢNG NAM
2.1. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay
Trong những năm trở lại đây, do diễn biến phức tạp của đời sống xã hội nên các tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Theo đánh giá của TANDTC, trong thời gian qua, toàn ngành đã thụ lý, giải quyết gần 200.000 các việc dân sự. Một trong số những việc đó là những tranh chấp liên quan đến kinh doanh, thương mại nói chung và giải quyết hợp đồng thương mại nói riêng. Điều này cho thấy, đó là một con số không nhỏ, nó đánh giá tình hình thực tếnhững tranh chấp trong vụ án kinh doanh thương mại ở nước ta ngày càng đa dạng, cụ thể những vụ án mới phát sinh muốn giải quyết đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên sao cho ổn thỏa thì còn là điều rất nhiều khó khăn.
Toà án là cơ quan tài phán của nhà nước tiến hành áp dụng pháp luật trong trường hợp xảyra tranh chấp phát sinh trong hợp đồng thương mại của hoạt động thương mại giữa các chủ thể mà họ không tự giải quyết được với nhau và một bên làm đơn khởi kiện yêu cầu sự can thiệp của Toà án để bảo vệ quyền lợi của mình.
Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại Tòaán ở Việt Nam cũng được thực hiện thủ tục theo quy định của pháp luật hiện hành; cụ thể như sau:
2.1.1. Đối với giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án
Ở nước ta, pháp luật quy định về chủ thể nào có quyền khởi kiện thì mới cóthể khởi kiện nhằm hạn chế các tranh chấp khi gửi đơn đên Tòa án không đúng thực quyền của mình. Đây là yêu cầu bắt buộc trong bất cứ một vụ án dân sự nói chung và vụán tranh chấp hợp đồng thương mạinói riêng. Như vậy, theo Điều 186 BLTTDS 2015 quy định về Quyền khởi kiện: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền
31
tựmình hoặc thông qua người đại diện hợppháp khởi kiện vụán (sau đâygọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
Hiện nay,ngườikhởi kiện luôn thểhiện ýchí của mình thông qua hành vi gửi đơn khởi kiện. Nội dung đơn khởi kiện thường biểuđạt yêu cầu của bên khởi kiện nhằm giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện hợpđồng thương mại. Chính vìlẽđó, đơn khởi kiện cần phải thểhiện rõ ràng nội dung vụviệc và những yêu cầu của người khởi kiện để Tòa án có cơ sở xem xét, giải quyết.
Ngoài ra khi khởi kiện, người khởi kiện cần xác định thẩm quyền theo loại việc tranh chấp về kinh doanh, thương mại, là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh tế, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau vàđều có mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên, hầu hếtcác chủthểkhi xảyra tranh chấpđều không thể xácđịnhđúng, bởi kiến thức pháp luật của người khởi còn hạn hẹp,chỉbiết mơ hồ, không rõ ràng.
Đồng thời, trên thựctếviệc xác định các tranh chấp phát sinh trong hoạt độngkinh doanh, thương mại thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nào, đây cũng là vướng mắc đối với những người khởi kiện và cán bộ công chức của Tòa án nói riêng. Theo quy định của pháp luật Tòa nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụsởsẽcó thẩm quyền giải quyết vụán đó. Đốivới các vụán cóđương sựhoặc tài sản ởnước ngoài hoặc cần phải ủythác tư pháp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh như quy định của BLTTDS 2015.
Đối với hình thức và nội dung đơn khởi kiện sẽ được căn cứ theo quyđịnh
tại Điều 189 BLTTDS 2015. Tuy nhiên, những nội dung cơ bản theo quy định của BLTTDS 2015 không thể thiếu những nội dung tại khoản 4 Điều 189 của BLTTDS này bao gồm: ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; thông tin về nhân thân của người khởi kiện, nêu là cá nhân thì gồm: tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; thông tin về nhân thân người có quyền và lợi ích được bảo vệ; thông tin của người bịkiện gồm tên,địachỉ, năm sinh là cá nhân hoặctrụsởcủa người bịkiện là cơ
32
quan, tổchức; sốđiệnthoại; tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi vànghĩa vụliên quan; Quyền, lợi ích hợppháp của người khởi kiệnbịxâm phạm, những vấn đềcụthểyêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bịkiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có); danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Đặc biệt,đểTòa án giải quyếtvụán tranh chấp Hợp đồng thươngmạithì việc chuẩn bịcác tài liệu, chứng cứchứng minh phải liên quanđến Hợp đồng thương mại; đồng thời nhằm chứng minh cho yêu cầu khởi kiện để có căncứ hợp pháp để kèm theo đơn khởi kiện.
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp các vụ án tranh chấp này là nghĩa vụ chứng minh luôn thuộc vềngười có yêu cầu. Việc chứng minh nhằm làm rõ tồn tại của những mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ kinh doanh thương mại mà các chủ thể đãcố gắng giải quyết nhưng vẫn không được. Trong quá trình giải quyết vụ án, người có yêu cầu phải luôn đưa ra được các chứng cứ, tài liệu chứng minh quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm phạm bởi hành vi vi phạm của một hoặc các bên còn lại. Các tài liệu, chứng cứ đối với vụ án tranh chấp hợp đồng thương mại thường gồm các giấy tờ sau:
– Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và những người có liên quan.
– Hợp đồng thương mại, các văn bản hoặc tài liệu liên quan đếngiao dịch
trong hợp đồng đó,…
Tùy từng trường hợp tranh chấp trong hợp đồng thương mại mà cần chuẩn bịcác tài liệu chứng cứ liên quan khác nhau.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp của Tòa án, nếubên nào không cung cấp được chứng cứ bảo vệ quyền lợi cho mình thì bên đó phải chịu hậu quả pháp lý. Tòa án chỉ tham gia vào quá trình thu thập, cung cấp chứng cứ khi các bên không thể tự thu thập được và có đơn yêu cầu. Chứng cứ phải đảm bảo: khách quan, liên quan và hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ phải được thu thập từ những nguồn sau: tài liệu đọc được,nghe được, nhìn được,dữliệu điện tử; vậtchứng; lời khai của
33
đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quảthẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; văn bản ghi nhận sựkiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực; các nguồn khác mà pháp luật quy định.
Điều này trong thực tiễn các Tòa án đều yêu cầu các đương sự áp dụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên có ai đảm bảo được rằng, người khởi kiện khi nào cũng cung cấp tất cả các tài liệu, chứng cứ mình có? Việc này rất khó để xác định, đồng thời cũng gây khó khăn trong việc xem xét hồ sơ khởi kiện tại Tòa án.
Đối với việc gửi đơn, thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện của Tòa án được quy định rõ tại Điều 190 và Điều 191 BLTTDS 2015, khi người khởi kiện gửi đơn khởi kiện đến Tòa án thì theo đó phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung khởi kiện và chứng minh được yêu cầu đưa ra là có căn cứ. Việc nộp đơn khởi kiện có thể bằng 03 cách: đến trực tiếp Tòa án, gửi qua đường bưu điện hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cồng thông tin điện tử của Tòa án.
Ngày khởi kiện là ngày đương sựnộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngàyđược ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.
Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngàyđươngsựgửiđơn tại tổchức dịch vụbưu chính.Đương sựphải chứng minh ngày mình gửiđơn tại tổchức dịchvụbưu chính; trường hợp đương sựkhông chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.
Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.
Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộluật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quyđịnh tại khoản 2 và khoản 3Điều này.
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hànhĐiều này.”
Và tại “ Điều 191 Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện: Tòa án qua bộ phận
34
tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụbưu chính và phải ghi vào sổnhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.
Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kểtừngày nhận đượcđơnkhởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từngày được phân công và có một trong các quyết định sau đây:
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
Tiến hành thủtục thụlý vụán theo thủtục thông thường hoặc theo thủtục rút gọn nếu vụán có đủđiều kiện đểgiải quyết theo thủtục rút gọn quyđịnh tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Việc Thẩm phán đưa ra quyết định khi xử lý đơn phải được ghi chép đầy đủ
tại sổnhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tửcủa Tòa án (nếu có) theo khoản 3 Điều này.
Sau khi hồ sơ khởi kiện được chấp nhận thì Tòa án sẽ tiến hành thủ tục thụ lývụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
Mặc khác, chuyển đơnkhởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo
35
cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
Trảlại đơn khởi kiện khi người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tiến hành thụ lý vụ án, tòa án ra thông báo người khởi kiện đồng thời thông báo nộp tạm ứng án phí theo quyđịnhcủapháp luật tại Điều 195 BLTTDS 2015.
Trong thời gian 07 ngàykểtừngày nhận được thông báo của Tòa án thìngười khởi kiện phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí đến cơ quan Thi hành án; đồng thời nhận biên lai và nộp lại cho Tòa án thụlý. Kểtừngày người khởi kiện nộp biên lainộp tạm ứngán phí cho Tòa án, Tòa án vào sổ thụ lý. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tòa án sẽcó trách nhiệm ra Thông báo vềviệc thụlý vụán đúng thời hạnvà gửiđến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp,các đương sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụliên quan, người làm chứng (nếu có). Nội dung thông báo thụlý của Tòa án được thực hiện theo đúng nội dung theo quyđịnh tại khoản 2 Điều 196 BLTTDS 2015.
Nhìn chung ở giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án thì hầu hết các Tòa án trên cả nước chắc chắn phải áp dụng theo quy định của pháp luật tố tụng. Tuy nhiên, từphân tích nêu trên vẫn có những bất cập kèm theo sự thiếu hiểu biết của các chủ thểtrong quanhệkinh tếlàm cho những bước đầu trong giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại còn khó khăn.
2.1.2. Đối với giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử
Đây là thời điểm quan trọng để Tòa án có thể lập hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải vụ án và sau đó xem xét để đưa vụ án ra xét xử. Giai đoạn này được tính từ ngày thời gian thụ lý vụ án đến ngày Tòa án ra quyết định đưa vụán ra xét xử được quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015. Đặc biệt, thời hạn xétxửđối với các vụ án tranh chấp thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại là 02 tháng. Với
36
các vụán phức tạp, cần phải có thời gian đểkiểm tra, xem xét lại do các trởngại khách quan thì chánh án Tòa án có thể gia hạn chuẩn bị xét xử không quá 01 tháng. Việc quyđịnh vềthời hạn nhưvậynhằmđảmbảo giải quyết vụán kịp thời, đảm bảo được quyền lợi của người khởi kiện khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên trong thực tế, tại Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụán tranh chấp Hợp đồng thương mại cần khoảng thời gian tương đương khi giải quyết các vụán tranh chấp dân sự thông thường là 04 tháng, thậm chí vụ án có thể kéo dài hơn nữatrong trườnghợpvụán đóphức tạp. Như vậy, thờihạntheo quyđịnhcủa BLTTDS chưa phù hợp với thực tiễn giải quyết vụ án tranh chấp Hợp đồng thương mại.
Trong giaiđoạn chuẩnbịđưa vụán ra xétxửthì việc quyđịnhphiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứvà hòa giải là vừa bảo đảm thực hiện một trong những yêu cầu quan trọng của nguyên tắc “tranh tụng” là mọi tài liệu chứng cứphải được công khai và bảo đảmnguyên tắc “Hòa giải trong tố
tụng dân sự”. Tuy nhiên, nhằm tránh phát sinh thêm những thủ tục không cần thiết cho nên BLTTDS kết hợp hai nội dung kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào cùng một phiên họp. Trên thực tế, việc này được áp dụng ở hầu hết các Tòa án khắp cả nước, nhằm rút ngắn được thời gian giải quyết vụ án, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.
Trình tự phiên họp này có 02 phần: phần thứ nhất là kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; phần thứ hai là tiến hành hòa giải. Tuy nhiên, luật tố
tụng không đưa phần này vào giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử mà lại để vào phần chung trong BLTTDS 2015. Trên thực tế, khôngchỉcăn cứvào các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự cung cấp mà Tòa án có thể xác minh lại các chứng cứđương sựcung cấp và thu thập thêm các tài liệu, chứng cứkhácchủyếutạigiai đoạn này, mặc dù pháp luật có quyđịnh rất rõ v

ềviệc thu thập chứng cứvà cung cấp chứng cứ của đương sự nhưng khó có thể căn cứ toàn bộ vào đó.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TẠI QUẢNG NAM
Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam



