GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

1. Lý luậnvềgiải thích pháp luật làmột bộ phậnquan trọng của khoa họcpháp lý, được tổngkết từ thực tiễn giải thích phápluật ởnhiều nước, có tính phổ biến, có giá trị hướng dẫn và thúc đẩy hoạt động giải thích pháp luậtở mỗi quốcgia. Tuy nhiên, ở Việt Nam, lý thuyết về giải thích pháp luật chưađược quan tâm đúng mức, chưa có điều kiện hệ thống lại và thống nhất quan điểm trên những phương diện căn bản nhất.

2.Hoạt độnggiải thích pháp luật ở nước ta do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thực hiện theo quyền hạn, thực sự chưa đáp ứng được nhu cầu. Do đó dẫn đến tình trạng nhiều chủ thểngoài UBTVQH“đãtham gia” giải thích pháp luật ngoài quy định, đưa ra nhiều sản phẩm đangcần sự đánhgiá thống nhất, nghiêm túc.

3.Nướcta đang đẩymạnh sựnghiệp xây dựng Nhànướcpháp quyền và Cải cách tư pháp theo những yêu cầu vàmụctiêu chiếnlượcđãđược hoạch định. Vì thế, những giải pháp khả thiđểnâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp này cần sớm phải xác định.

4. Hiện nay cách đánh giávề thựctiễn giải thích pháp luật từnhiềuvị trí nghiêncứurất phân tán, các quanđiểm vềgiải thích pháp luật ởnướctađang có nhiều điểm trái ngược, tranh cãi.

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay” là một đềtài nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Trên cơsởlý luậnvềgiải thích pháp luật, đánh giá tình hình giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay, từđóđưa ra giải pháp nâng cao chất lượng

1

giải thích pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới.

Nhiệm vụ

Đểđạt được mụcđích trên, luận án có nhiệm vụcụ thể:

– Tóm tắt tình hình nghiêncứuvềgiải thích pháp luật ởnướcngoài vàtrong nước, xác địnhcác vấn đềcần nghiên cứu của Luận án.

– Trình bày nhữngnộidung cơbảnvềlý luận giải thích pháp luật: Khái niệm, vai trò, mục đích, nguyên tắc, phương pháp, các mô hình của giải thích pháp luật.

– Nghiên cứu thực tiễn giải thích pháp luật ởViệt Nam (cơsởpháp lý, thực tế hoạt động, kết quả, nhữngvấn đềđang đặt ra.)

– Đềxuất mô hình và giải pháp nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ởViệt Nam

3. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án tập trung vào các vấn đề sau:

– Lý luận về giải thích pháp luật chính thức

– Hoạt độnggiải thích pháp luật chính thứccủaỦyban ThườngvụQuốc hội

– Thành tựu, hạn chế của hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam – Giải pháp nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt Nam

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

– Phương pháp chung: Luận ándựatrên cơsởphương pháp luậncủachủ

nghĩa Mác–Lênin,sửdụng các phương pháphệthống, so sánh, phân tích,

tổng hợp,văn bản học… đồngthời vận dụng các quan điểm của Đảng về xây

dựng pháp luật vàcảicách tư pháp trong nhànướcpháp quyền… đểnghiên cứu giải thích pháp luật ở Việt Nam.

– Phương pháp cụ thể: tìm mối liên hệ logic của hoạt động giải thích pháp luật khi thực hiện, áp dụng pháp luật (lý luận chung chương 2) và thực tiễn hoạt động giải thích pháp luật của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (mô hình hiện

tại, chương 3) và cơ sở lý luận của hoạt động giải thích pháp luật của tòa án (mô hình tương lai, chương 4).

5. Đóng góp của luận án

-Đặt hai quá trình giải thích pháp luật: giải thích khi xây dựng pháp luật của chủthể lập pháp và giải thích khi thực hiện, áp dụng pháp luật của chủthểáp dụng pháp luật trongsựđốichiếu, so sánhđểnghiêncứuthực tiễn giải thích pháp luật ở Việt Nam.

– Đưa ra quan điểm: giải thích pháp luật là một hoạt động độc lập, tất yếu, diễn ra tập trung nhất tạinơi có sựvướngmắccủapháp luật trong quá trình áp dụng.

– Chứng minh hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là hoạt động giải thích pháp luật trong khuôn khổ lập pháp nên khôngđápứngđược nhu cầu giải thích pháp luậtvốn tồntạingoài mong muốn của nhàlập pháp.

– Chứng minhyếutố giải thích pháp luật trong vănbảnquy phạm pháp luật dướiluật (vănbảnhướngdẫn, quyđịnhchi tiết) là giải thích pháp luật trong quá trình xây dựng pháp luật.

– Lý giải Tòa án Việt Nam có đủđiềukiệnđểnhận nhiệmvụgiải thích pháp luật chính thức trong quá trình áp dụng pháp luật đáp ứng nhu cầu giải thích pháp luật trongđời sốngpháp lý.

6.Kếtcấucủa luận án

Luận án ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danhmụctài liệu tham khảo, gồm 4 chương:

3

Chương 1: Tình hình nghiên cứu về giải thích pháp luật Chương 2: Lý luận về giải thích pháp luật

Chương 3: Thực tiễn giải thích pháp luật ở Việt Nam

Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt Nam.

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chƣơng 1

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVỀGIẢI THÍCH PHÁP LUẬT 1.1 Tình hình nghiên cứu giải thích pháp luật ở nƣớc ngoài

1.2 Tình hình nghiên cứu giải thích pháp luật ở Việt Nam

16

1. 3. Những vấn đề nghiên cứu của Luận án

Trên thựctế,giải thích pháp luật là một hiện tượngphức tạp, ngay bản chất củakhái niệm cũng không phảiđãhoàn toàn thống nhất. Vì thế,cảlý luận và thực tiễn giải thích pháp luật đều có nhiều cách tiếp cận,từđó cónhiều quan điểm, nhiều cách đánh giá khác nhau.

Nếutheo dõi các công trình nghiên cứu của nước ngoài, thấy cósựchuyên sâuởnhiềuvấnđề,có sựbềthếcủahệthống lý thuyết,đâylàđiều khác biệt khá rõ so với việc nghiên cứu ở trong nước. Sở dĩ việc nghiên cứu ởnước ngoài có được sự phát triển như vậy là do hoạt động giải thích pháp luật của họ có từlâu đời, hình thành và tồn tại cùng với công việc lập pháp và thực hiện pháp luật, là do truyền thống pháp luật, tập quán pháp luậtcủahọthúcđẩy. Còn ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về giải thích pháp luật chưa có nhiều,mớitập trung vào những khía cạnh nhất định,chưa có công trình nào nghiên cứu một cách bao quát về thực tiễn hoạt động giải thích pháp luậtở nước ta trên cả một chặng dài là do công tác giải thích pháp luật ở nước ta chưa thực sự phát triển.

Trên cơ sở một cái nhìn tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, Luận án tập trung vào nghiên cứu ba vấn đề chính sau đây:

– Khái niệm của giải thích pháp luật chính thức

– Thực tiễn hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam

– Giải pháp để nâng cao chất lượng giải thích pháp luật ở Việt Nam. Phương pháp chungđểgiải quyết bavấnđềnày là tìm hiểu mối liênhệ

biện chứng giữa chúng và lấy thực tiễnhoạt độnggiải thích pháp luật ởViệt Nam hiện nay làm xuất phát điểm.

17

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

1. Ở nước ngoài, có nhiều công trình nghiên cứu về giải thích pháp luật và giải thích pháp luật của tòa án rất công phu. Họ đúc kết được nhiều phương diện, tạo thành mộthệthống lý thuyết vềgiải thích pháp luật như lý thuyết chung, lý thuyết vềnguyêntắcgiải thích,vềphương pháp giải thích,vềgiải thích hiến pháp, giải thích đạo luật, giải thích hợp đồng, giải thích di chúc, về

khám phá ngôn ngữ văn bản, về giải thích pháp luật của tòa án… Cơ sở xã hội của sự phát triển lý thuyết này là sự phát triển của hoạt động giải thích pháp luật ở các quốc gia có truyền thốngđềcao giải thích pháp luật của tòa án.

2. Ở nước ta,hoạt độnggiải thích pháp luật chưa phát triển, còn nhiều tranh cãi trong việc xây dựng lý thuyết và đánh giá thực tiễn, nên việc nghiên cứu giải thích pháp luật nhìn chung chưa ngã ngũ ở nhiều gócđộ nhưvấn đề chủthể giải thích pháp luật,vấn đềhình thức giải thích pháp luật chính thức, vấn đềnội dung trong văn bảnquy định chi tiết,hướngdẫn thi hành pháp luật,vấn đềgiải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giải thích pháp luật trong thời gian tới.

3.Ở Luận án này, qua việc nghiên cứubảnchất, hình thứccủagiải thích pháp luật sẽ tập trung nghiên cứuvềhoạt độnggiải thích pháp luật của UBTVQH, lấy đó làm cơ sở để nghiên cứu sự “tham gia” giải thích pháp luật

của Chính phủ, các bộ, tòa án các cấp,… và cuối cùng là đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượnghoạt độnggiải thích pháp luật ở Việt Nam.

18

Chƣơng 2

LÝ LUẬN VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT

2.1. Khái niệm giải thích pháp luật

2.1.1. Định nghĩa giải thích pháp luật

Như một quy luật, lý thuyết vềgiải thích pháp luật phải tự hoàn thiện, phảiđạt đượcnhững giá trịkhoahọcvà phụcvụtíchcựcđờisống pháp lý. Theo đó, những giá trị mà lý thuyết chung về giải thích pháp luật mang lại làcó tính phổ biến. Tuy nhiên, những phương diệncụthểtronghệthống lý thuyết giải thích pháp luật như khái niệm, nguyên tắc, phương pháp, hình thức, chủ thểvà đối tượngcủagiải thích phápluật ởmỗi quốc gia có những điểm khác biệt nhất định, điềunày do cách thức tổ chức nhà nước, do truyền thống pháp luật và hoạt động giải thích pháp luật của quốc gia đó chi phối.

Giải thích pháp luật, cho đếnnay, chưa thấy có một khái niệm,mộtđịnhnghĩa thống nhất ởnhiềunước.Mỗi quốc giađềucó sựtiếp cậngiải thích pháp luật nhất định.Cáchọcgiảpháp lý trênthếgiới đãtừng đưara nhiều định nghĩa về giải thích pháp luật:

Có định nghĩa nhấn mạnh đến tính mục đích của giải thích pháp luật đó là“đưa ranghĩa” hoặc tìmra “thông điệp” củamộtvănbảnpháp luật như: “Giải thích pháp luật là một hoạt động có lý trí mà đưa ra nghĩa của một văn bản pháp luật.”[81, tr. 10] và“Giảithích pháp luật là hoạtđộngliên quanvớiviệc xácđịnh thông điệp có tính quy phạm mà nó xuất hiện từ văn bản.” [75, tr. 230]

Có định nghĩavừanhấn mạnh việc tìm nghĩacủavăn bản quy phạm pháp luật vừanhấn mạnh việc nghĩa đó phảiđảm bảoý định củatácgiảvăn bản, hay giải thích pháp luật chính là việc tìm ra ý định của nhà lập pháp như:

“Giải thích pháp luật là hoạt độngđểtìm ra nghĩa và hiểu rõ mục đích của tác

19

giảvănbảnpháp luật.”[70, tr. 298] hay“Giảithích pháp luật là nhằm xây dựnglạiýtưởngmà tácgiảmong muốn truyền đạt qua các quyđịnhcủavăn bản pháp luật đó.” [55, tr. 20]

Có định nghĩa tập trung xác định các trường hợp và phạm vi của giải thích pháp luật, một phạm viđượctiếp cậnởgócđộ hẹp:“Giảithích pháp luật làhoạt độngxuất hiện chỉ tại nơi mà văn bản không rõ ràng và có sự khác biệt về ý kiến đối với văn bản.” [95, tr. 88]

Lại có địnhnghĩa đưa ra cách hiểuvềgiải thích pháp luật vớimột yêu cầu lớn nhưng cũngtrừu tượng, rất khó xác định, đó là nhằm đạt đến “sự hợp lý”củapháp luật:“Giảithích pháp luật là một hoạt động trí ócvớiyêu cầu nòng cốt là sự hợp lý” [72, tr. 348]

Ở Việt Nam, thuật ngữ“giải thích pháp luật”xuất hiệnlầnđầu tạiHiến pháp 1959, Điều 53, khoản 3, nhưng từ đó đến nay, tại các văn bản pháp luật ởnước ta chưa có một quy định nào diễn giải, hoặc đưa ra khái niệm, định nghĩa vềgiải thích pháp luật đểlàm cơsởpháp lý xây dựng một lý thuyết chính thống, tiên tiến đối với hoạt động này.

Do vậy,đặt vấnđềxácđịnhkhái niệmvềgiải thích pháp luật ởViệt Nam là việc làmcầnthiết,bởimuốn đánh giávềthực trạng giải thích pháp luật cho thật chính xác thì phải bắtđầu từquan niệm,từkhái niệmvềgiải thích pháp luật. Khi đã xác định được thế nào là giải thích pháp luật, xác định được phạm vi và nội dungcủa hoạt độngnày thì sẽ có cái nhìn thốngnhất vềcác yếu tố giải thích pháp luật trong hoạt động và trong văn bản của các chủ thểkhác không phải là UBTVQH hiện đang diễn ravớitầnsuất lớnởViệt Nam. Đồng thời sẽ trả lời một cách thỏa đáng lý do tại sao mô hình giải thích pháp luật mà chủ thểgiải thích pháp luật là Tòa ánlạichiếmvịtrí phổ biến trong các mô hình giải thích pháp luật trênthếgiới hiện nay, và cũng đang dầncó vịtrí trọngyếuhoặc tiếndầnđến trọngyếuởnhững quốc gia vốn

20

không giao quyền giải thích pháp luật cho tòa ántừđầu.Ngoài ra, cũngsẽthấy được tại sao trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, việc hoàn thiện vàcảicáchhệthống tư pháp lạicó vịtrí quan trong như vậy.

Ở Việt Nam, quan niệmvềgiải thích pháp luật cũng chưađượcthống nhất. Vì chưa có một hệthống lý thuyết từmột họcthuyết pháp lý, và cũng chưa có mộtnềngiải thích pháp luật giàu kinh nghiệm tương ứng vớilý thuyết đó,hơn nữa, nguồn pháp luật chính thức hiện nay củaViệt Nam mới chủyếulà vănbảnquy phạm pháp luật, tập quán pháp là nguồnthứyếu, vàtiềnlệpháp chưađượcthừa nhận.Đâycũng là nhữngyếutố ảnhhưởngđến quan niệm giải thích pháp luật ở Việt Nam.

Do đó,những câuhỏiđơngiản nhưthếnào là giải thích pháp luật, giải thích pháp luật là gì, cũng khó trả lời được kín nhẽ và phân minh. Mà khó nhất lại là điểm này: vậy, khi nào thì có giải thích, khi cần phải giải thích (tức là khi áp dụng gặp “sự cố”) thì giải thích, hay cứ hễ có pháp luật là có giải thích, vànhững hoạt động giải thích pháp luật để có sản phẩm áp dụng không nằm trong khu vực “giải thích pháp luật” như Hiến pháp Việt Nam (đặc biệt là Hiến pháp năm 1959)đãnóitớithì có là giải thích pháp luật chính thức không, có hợp pháp không?

Các nhà nghiên cứu pháp lý ởnướctađãđưara những cáchđịnhnghĩa khác nhau về giải thích pháp luật.

“Vềthực chất, giải thích pháp luật là việc xácđịnhnộidung và phạm vi áp dụng của văn bản hay một quy định cụ thể của văn bản đó”[42, tr. 15]

“Giảithích pháp luật là hoạt độngcủacơ quan nhànướccó thẩm quyền làm rõ nộidung một quy phạm nào đó củapháp luật thành vănđểngườiáp dụng pháp luật nói chung (cơ quan nhànước,tổ chức, cá nhân) có thểthấy

21

được một cách chắc chắn rằng quy phạm pháp luật đó điều chỉnh một hoặc một số hành vicụ thể nào đónhư thế nào” [50, tr. 40]

Nhữngđịnhnghĩa trên tập trung xác định phạm vi, khu vực của giải thích pháp luật là tại nơi diễn ra hoạt động áp dụng pháp luật, nơi chính yếu nhất của hoạt động này.

Có định nghĩa tiếp cậngiải thích pháp luật dướigócđộ ngữnghĩa của thuật ngữgiải thích, có phần nhấn mạnhđếnhoạt động giải thích pháp luật không chính thức: “Giải thích pháp luật là quá trình tự nhận thức và giải thích cho người khác hiểu về quy phạm pháp luật”[23, tr. 150]

Còn có địnhnghĩa tiếp cậngiải thích pháp luật dướigócđộ chung, chú trọng nhiều đến tính phổ quát, tính logic học của giải thích pháp luật, bao gồm cả hoạt độnggiải thích pháp luật chính thức và không chính thức: “Giải thích pháp luật là hoạt động nhằm làm sángtỏ về mặt tưtưởng, nội dung của các quy phạm pháp luật, đảm bảo cho sự nhận thức, thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất pháp luật”[51, tr.200]

Như vậy là, giải thích pháp luật đã không thể có một khái niệm tuyệt đối. Bởi vì, dù tiêu chí “làm cho hiểu rõ” pháp luật là tiêu chí chủ đạo của giải thích pháp luật thì bên cạnh nó còn nhiều tiêu chí khác thuộc về phạm trù không gian và thời gian, về các quy định pháp lý của giải thích pháp luật cần xác lập theo nộidungcủamỗihệ thống pháp luật, theo thực tiễn củamỗiđời sống pháp lý quy định.Tuy nhiên, có thểthấy, dù tiếp cậndướigócđộ nào thì giải thích pháp luật cũng phải hàm chứa trong nó các điểm cốt yếu sau:

– Một là, tính thẩm quyềncủahoạt độnggiải thích pháp luật. Giải thích pháp luật là nhu cầu, nó xuất hiện tronghầuhết các quá trìnhcủahoạt động pháp luật,từviệc xây dựng, thực hiện, áp dụng cho đếncác hoạtđộnggiảng dạy, nghiên cứu khoahọcpháp lý. Do vậy sẽ có rất nhiều cách giải thích khác nhauvềcùng một vấnđề,cùng một quy phạm pháp luật. Tình trạng này gây

22

khó khăn, phức tạp cho các đối tượng liên quan trực tiếp và rộng ra là gây phức

tạp cho cả đời sống pháp lý. Vì khi có nhiều cách giải thích khác nhau về cùng một quy phạm pháp luật mà không có cách giải thích nào mang tính thẩm quyền thì các cách giải thích đó đều không có giá trị áp dụng mà chỉ có giá trị tham khảo. Điều đó sẽ dẫn đến khó khăn cho công tác thực hiện pháp luật bởi người ta sẽ không biết hiểu quy phạm pháp luật theo cách nào, pháp luật sẽ trởnên khó thực hiện. Yêu cầu bắt buộc đặt ra là pháp luật phải được làm cho hiểu rõ bởi một chủ thể mang quyền lực nhà nước (cá nhân, tổ chức, cơ quan được nhà nước trao quyền). “Tính thẩm quyền là mộtđặc điểm tất yếu của hoạt động giải thích pháp luật bởi lẽ nó đem đến cho hoạt độnggiải thích pháp luật tính chính thức và giá trị ràng buộcđốivới tất cả các bên dù họ có những giải thích khác nhau về cùng một quy phạm. Nói cách khác là giải thích pháp luật chính thức cũng mang giá trị bắt buộc về mặt pháp lý giống như chính bản thân quy phạm pháp luật mà nó giải thích vậy.”[50, tr.40].

Tính thẩm quyềncủahoạt độnggiải thích pháp luật còn liên quanđến yêu cầu về quy trình của hoạt động này. Quy trình giải thích pháp luật sẽ phải là quy trình pháp lý, được ghi nhận rõ ràng trong pháp luật về giải thích pháp luật của nhà nước. Các chủ thể có thẩm quyền giải thích sẽ bắt buộc phải tuân theo những trình tự, thủ tục của quy trình giải thích đó. Nói đến quy trình của giải thích pháp luật bên cạnh yêu cầu về thẩm quyền đôi khi tưởng không cần thiết vì chúng có mối liên hệ qua lại, phái sinh, nhưng thực chất lại là một yêu cầubắtbuộc,bởithực tiễnđãchứng minh, hoạt độnggiải thích pháp luật chỉ phát triển thực sự khi chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật có đầy đủ cơsở pháp lý đểhoạt động, mà một trong những yếu tố quan trọng của cơ sở pháp lý là quy trình pháp lý.

– Hai là, tính chất, phạm vi của giải thích pháp luật là một hoạt động độc lập, khu biệt hẳn với hoạt động xây dựng pháp luật. Nếu xây dựng pháp luật là

xác lập những quytắcxửsự,làđặt nghĩa cho những quy phạm pháp luật, thì

23

giải thích pháp luật là xácđịnh những quy tắcxửsự,làđọcnghĩacủanhững quy phạm pháp luật đó. Sự phân biệt tưởng như không cần phải đặt ra này lại làsựphân biệt hết sứccầnthiết, vì giữa hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động giải thích pháp luật có một đường biên rất “nhạy cảm”, nó rất dễđểhoạtđộnggiải thích pháp luật – thuộcvềmột quá trình nhận thức thành hoạt động xây dựng pháp luật – thuộcvềmộtquá trình thểhiện. Giải thích pháp luật trong hai quá trình này cùng có một tiêuđiểm,nhưng nó diễn rađốichiều nhau và bổ trợ nhau:

Khi xây dựng pháp luật, phảitựgiải thích xem pháp luật, chủ yếulàcác quytắcxử sự có hình thù như thế nào, nhằm vào đối tượng nào,cái “sự” ấylà gì, nó lộ diện, biến hóa và dừng lại ở chỗnào,đểđặt ra cách “xử” cho phù hợp nhất, phải lẽ nhất, thuận lòng người nhất.Đólà giải thích của người xây dựng pháp luật, từ việc nghiên cứu các quan hệ lớn nhỏ của đời sống con người,đặcbiệt là khi conngườitổ chức vàdựavàomộtbộ máy quyền lực chuyên làm việc điều tiết các quan hệ xã hội, buộc phải có các quytắcxử sựchungmới giữđược trật tự.

Khi thực hiện pháp luật, thì người ta lần ngượclại quá trình trên màgiải thích, tức là đã có pháp luật rồi, có quytắcxử sự rồi, vấn đềlà phải xem “sự” ấy có đúngnhư pháp luật muốn nói đến không, và cách “xử” ấy có đúng ý người làm ra không.Đólà giải thích củangười thực hiện pháp luật. Nếu không có sự tự giải thích của người “nghĩ ra luật” đã dồn nén những sự việc, những quan hệ, những tình huống vào một phán đoán về một khái niệm, một quy tắc, thì cũng chẳng bao giờ có cơ sở để cho người “nói lại luật” giải thích lạinhững phán đoánvềkhái niệm,vềquy tắcđãcó ấy; nếukhông có người kiểm chứng quytắcxửsự bằngthực tiễn (hành pháp, tư pháp) thì cũng chẳng bao giờ người ấn định quytắcxửsự bằngphán đoán (lập pháp) thấy được cái thiếu hụt củamình, nghĩa làsựgiải thíchởhai quá trình trênđãbổ trợcho nhau, cái nọ làm cơ sở cho cái kia tồn tại, để một cái (lập pháp) khỏi siêu hình

24

và một cái (hành pháp, tư pháp) khỏi ngộ nhận, và về cùng một đích: ý nghĩađích thực của pháp luật – của quytắcxửsự.

Tuy nhiên,sựgiải thíchcủangườixây dựng luật vàngườithực hiện

luật có sựkhác nhaurấtđặcthù: giải thíchcủangườixây dựng pháp luật –

xin gọi bằng khái niệm giải thích để“lập”pháp –là giải thích theo quy trình lập pháp, một quy trình chính trị, là giải thích để khẳngđịnh ý chícủamình,

còn giải thíchcủangườithực hiện pháp luật –xingọibằng khái niệm giải

thích để“hành”pháp –là giải thích theo quy trình giải thích, một quy trình pháp lý, là giải thích để thấy được ý nghĩa cuối cùng, đích thực của pháp luật trong quá trình hiện thực hóa pháp luật vào cuộc sống. Haisựgiải thích với hai quy trình này phân rõ ranh giới quyền lựcgiữa cơ quan xây dựng pháp luật với cơ quan thực hiện pháp luật, đồng thời cũng làm nên những sắc thái củahoạt động giải thích pháp luật ởgiữa hai nhómchủthể(như đang nói) như là trái ngược nhau, trước hết là những trái ngược trong cách tư duy, trong cách lập luận. Do vậy, có thể thấy, giải thích pháp luật ở quá trìnhthứhai, quátrình hiện thực hóa pháp luật mới nên được nhìn nhận là hoạt động giải thích pháp luật cần được nghiên cứu nhiều. Bởi giải thích pháp luật ở quá trình này mớituân thủ quy trình giải thích, mới đúng chủ thểgiải thích vàsảnphẩm mới là sản phẩm của giải thích pháp luật.

Xem xét lý thuyết giải thích pháp luật hiện nay, thấy về cơ bản đều tập trung vào giải thích pháp luật trong quá trình hiện thực hóa pháp luật,tứclàqúa trình thứhai, quá trình thực hiện pháp luật.Đâyđượcxem là hoạt động giải thích pháp luật chính thức, mang tính chủđạo,diễn ra với tần suất lớn. Ởquá trình này, hoạt động giải thích pháp luật tập trung vào giải thích pháp luật mang tínhvụviệc, tình huống, giải thích này thường làcủatòa án trong quátrình xét xử những vụ việc cụ thể, giải thích vụ việc mangtính chất “động” đểnhằm giải tỏa tình huống, khi có những vướng mắc trong thực hiện pháp luật, mà chủ yếunhất là khi có vướngmắctrong việc áp dụng pháp luật củacác

25

chủthểcó thẩm quyền, khácvớigiải thích pháp luật ởquá trình xây dựng pháp luật,đólà giải thích pháp luật trong trạng thái “tĩnh” đểhướngdẫn thực hiện thống nhất.

Giải thích mang tính quy phạm và giải thích mang tínhvụviệc trong thực tế đều là giải thích chính thức của các chủ thể có thẩm quyền, tuy nhiên giải thích mang tính quy phạm thường là do cácchủthểcó thẩm quyền lập pháp thực hiện, là hoạt độnggiải thích pháp luật trong trạng thái tĩnh, cho nhữnglầnsau. Do đó,ởmột gócđộ nhấtđịnh,có thểthấy, hoạt độngban hành văn bản dưới luật, thườngđểdùnghướngdẫn, quyđịnhchi tiếtđốivới văn bảncó hiệulựcpháp lý cao hơn mặcdù chứađựngnộidung củagiải thích pháp luật, nhưng xét cặn kẽ, nó chính là hoạt động lập pháp theo nghĩa

rộng, nó là hoạt động kéo dài của lập pháp, nó chỉ được thực hiện bởi các chủ thể được nhà nước trao quyền, quy trìnhcủanó là quy trình của lập pháp. Còn giải thích pháp luật mang tínhvụ việc là giải thích pháp luật trong trạng thái động, gắn liền với những tình huống cần giải tỏa.

Nhận xét một cách khách quan, thì giải thích pháp luậthầunhư chủ yếuxuất hiện khi có nhu cầu giải thích, tức là khi pháp luật bộclộ khảnăng phải giải thích trong quá trình áp dụng pháp luật vào giải quyết những vụ việc, tình huống cụ thể trong cuộc sống, là khi có độ “vênh” giữa pháp luật vàthực tiễn cuộc sống.Đặcbiệt,nếukiểm nghiệm nhậnđịnhtrênởthực tiễn giải thích hiến pháp của các quốc gia tiên tiến trên thế giới thì thấy, hoạt động giải thích hiến pháp chính thức xuất hiện trong quá trình áp dụng pháp luật của các chủthểcó thẩm quyền. Khôngphải tựnhiên Hiến pháp được mang ra giải thích, mà chỉ trong quá trình áp dụng pháp luật,nếumột hành vi hoặc một quyết định, một văn bản pháp luật nào đó của nhà nước hoặc một chủthểnào đó không có giá trị áp dụng, hoặc có dấuhiệu vi phạm hiến pháp, người ta mới tiến hành giải thích hiến pháp.

26

Giải thích pháp luật ở Việt Nam trên thực tế hiện chưa có sự thống nhất về phạm vi (giải thích những cái gì) và thời điểm (khi nào thì giải thích). Tình trạng nàydẫnđếnnhững khó khăn khi đánh giávềthực trạng giải thích pháp luật ở Việt Nam, từ đó làm khó khăn khi đưa ra mô hình hoặc những giải pháp đểnâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tế.

Tìm hiểu vềhoạt động giải thích pháp luật của các quốc gia điển hình cho các mô hình giải thích pháp luật, thì thấy,hoạt độnggiải thích pháp luật củahọ cũng tập trungchủyếutạiquá trình thực hiện pháp luật, khi áp dụng pháp luật gặp nhữngvướngmắc phải đưa ra tòa. Đây được xem là điểm hội tụ của giải thích pháp luật, bởi sau quá trình lập pháp phải là quá trình thực hiện pháp luật, trong quá trình này, nếu pháp luật có vướngmắc, mâu thuẫn, đa

nghĩa, tối nghĩa… mới phải tiến hành giải thích pháp luật, do đó, có thể khẳng định, giải thích pháp luật hiểu theo nghĩa chính thống nhất, tập trung nhất phải là hoạt động cắt nghĩa, làm rõ những điều còn chưa rõ ràng trong quá trình áp dụng pháp luật vào cuộc sống. Phải hiểu giải thích pháp luật theo khía cạnh này, phạm vi này có lẽ mới có cách đánh giá rạch ròi về nó,mới thấy được tại sao trên thế giới, người ta lại giao công việc này cho Tòa án, tại sao người ta

lại tiến hành phân chia quyền lực thành công.

Hoạtđộnggiải thích pháp luật mà Hiến pháp Việt Namđãquyđịnh cho UBTVQH, tại khoản 3, Điều 53 Hiến pháp năm 1959 và ở các Hiến pháp tiếp theo chính là hoạtđộng giải thích pháp luật nằmởquá trình thực hiện pháp luật.Nếu đọckỹ Hiến pháp, thì thấy rằng, hoạt động giải thích pháp luậtđược nói ở đây thực sự không phải là hoạt động lập pháp, cũng không phải làhoạt độnghướngdẫn, quy địnhchi tiết thi hànhđốivớivăn bảncó hiệu lực pháp lý cao hơn, mà là một hoạt độngđộclập, hoạt động này được Nhà nước coi trọng, vàrấtphù hợp vớinguyêntắctập trung quyền lực. (Và, theo suy luận ở Việt Nam mặc nhiên, quyền giải thích pháp luật này đã được giao cho

27

UBTVQH, một cơ quan quan trọng của Quốc hội từ Hiến pháp 1959 đến nay là vì thế.)

– Ba là, đối tượngcủa giải thích pháp luật dù thuộc hình thức nào, thì tinh thần chungđềulà những quytắcxửsự- quy phạm pháp luật. Cho nên giải thích pháp luật cũngchủyếu nhằm vào các đơn vị cơ bản đó. Tức là mỗi hoạt động giải thích đều được đặt vào một quy phạm pháp luật cụ thể hay một quy tắcxử sự nào đó. Vì thế, có thể nói, đối tượng trực tiếp của giải thích pháp luật là quy phạm pháp luật, còn việc nó tập trung vào bộ phận nào trongcấutrúc của một quy phạm là do nhu cầu cụ thể, do các biện pháp kỹ thuật cụ thể.

Đốitượng củagiải thích pháp luật cũng có thểlà tập quán pháp, tiềnlệpháp vàcảchính sách pháp luật …, nhưng đốitượngchủyếucủagiải thích pháp luật vẫn là pháp luật thành vănvớihình thức phổ biến và cơ bản nhất làcác vănbảnquy phạm pháp luật. Như vậy, trung tâm thu hút hoạt độnggiải thích pháp luật là các văn bản quy phạm pháp luật, nơi tập hợp nhiều nhất các quy tắc xử sự trong một hệ thống các quy phạm pháp luật mà từ khi ban hành cho đến khi áp dụng gặp vướng mắc đều cần đến giải thích.

Giải thích pháp luật là một nhu cầu khách quan, không riêng với hệ thống pháp luật nào, còn việc giải thích những hình thức pháp luật nào, loại văn bản pháp luật nào là do quyđịnh của mỗi quốcgia. Song dù sao, trong sự vận hành của pháp luật thì quy phạm pháp luật thực sự là những thực thể có sinh mệnh trongsựvậnhànhấy,là thànhtố có mứcbộclộ khảnăng phải giải thích cao nhất.

Có ý kiến cho rằng, giải thích pháp luật là giải thích tất cả những gì thuộc về pháp luật,kểcả những đường lối, chính sách về pháp luật khi thấy cần phải giải thích, tức là cho rằng giải thích pháp luật chỉ quan tâm đến giải thích quy phạm pháp luật là phiến diện, là bỏ sót mất nhiều đối tượng của giải thích pháp luật. Ý kiếnđó có phần đúng. Nhưng như vậy là chú ýnhiều đếnnhiệmvụ

28

pháp lý và địa bàn hoạt động của công tác giải thích pháp luật chứ chưa thật sựquan tâm đến mục đích và quy luật hoạt động của hoạt động này.

– Bốn là,mụcđíchcủagiải thích pháp luật.Mụcđích cao nhất và mang tính quyết định của giải thích pháp luật là xác định đúng quytắc xử sựmà nhà

lập phápđãthểhiện trong những quyđịnhpháp luật đểgiúp cho việc nhận thức, thực hiện pháp luật đúng đắn, thống nhất. Khi xác lập một quytắcxử sự, mong muốn cao nhất củacác nhà xây dựng pháp luật là làm sao để pháp luật đượctiếp nhận và thực hiện như nhauởmọi đối tượng thuộc phạm viđiều chỉnhcủanó. Khiấy,bảnthânhọđãphải nghĩđếnviệc quytắcxửsựđósẽđượchiểu nhưthếnào, do đó mớicó giải thích pháp luật ngay trong lúc ban hành pháp luật do người xây dựng pháp luật giải thích, tuy nhiên, hoạt động đóxét về bản chất vẫn là trong khuôn khổ xây dựng pháp luật. Còn khi pháp luật được đem ra thực hiện, nhất là khi áp dụng vào giải quyết nhữngvụviệc cụ thể, giải tỏa những tình huống cụ thể, khi các quy định pháp luật cọ xát trực tiếp với những quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, thì người ta mới thật sự thấy nhữngkẽhở,những chỗ thiếu hụt, nhữngchỗkhông hợp lýcủanhững quyđịnhpháp luật trong thựctế,và tất yếupháp luật phảiđượctiếp tục khám phá, đánh giácác nghĩa thực bao hàmcảcác nghĩa cho phép, các nghĩa hợp lýtừmột quy phạm đểthực hiện quy phạm pháp luật đó, tức là phải tiến hành giải thích pháp luật trong quá trình thực hiện pháp luật. Khi đó, hoạt động giải thích pháp luật sẽ chính là hoạt động đảm bảo cho pháp luật thực sự trở thành đại lượngđược nhận thức và thực hiện thống nhất trong thực tế. Và, hoạt động giải thích pháp luật khi đó mới thật sự thể hiện đúng bản chất, đúng phạm vi – một hiện tượng khách quantồntạingoài mong muốncủacác nhà xây dựng pháp luật, phản ánh bản chất nhận thức pháp luật của giải thích pháp luật. Vậy nên, mục đích của giải thích pháp luật chính là nhằm xác định cho đúng quy phạm pháp luậtđểthực hiện pháp luật được thống nhất, đúngđắn.

29

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về giải thích pháp luật chính thức như sau:

Giải thích pháp luật là hoạt động của cácchủthể có thẩm quyền theo một quy trình pháp lý nhằm xác định chính xác ý nghĩa, nội dung quy tắc xửsự trong vănbảnquy phạm pháp luật (mà chủ yếu là những quy phạm pháp luật khi áp dụng gặp vướng mắc)đểnhận thức, thực hiện pháp luật đúngđắn, thống nhất.

Khái niệm giải thích pháp luật trong Luận ánđượcxácđịnhtrên tưtưởngnày, theo đó,làm cơ sở đểđánh giá về thực trạng, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượngvà phát triển lý thuyết giải thích pháp luật ởViệt Nam hiện nay.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *