GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO CƠ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO CƠ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO CƠ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Những năm cuối thế kỷXX, thế giới ghi nhậnsựphát triển vũ bão của toàncầuhoá vớinhững biểu hiện mạnhmẽ của trào lưu xoá bỏcác ràocảnđốivớithươngmạiquốc tế, thúc đẩythươngmạitựdo và thắt chặtbảohộquyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Đáp ứng nhu cầu khách quan, Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO) được thành lập năm 1995 trên nền tảng các camkếttạo thành 3 trụ cột chính, bao gồm: Thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ vàSHTT. Trong lĩnh vực SHTT, Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mạicủaquyền SHTT (HiệpđịnhTRIPS) là thoả thuận đa phương toàn diệnđầutiênđã thiếtlậpchuẩn mực chungvềbảohộquyền SHTT trên phạm vi toàn cầu,được xây dựng trên cơ sở phát triển, kế thừa có chọn lọc các điềuước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực như Công ước Paris về bảo hộ quyền sởhữu công nghiệp (Công ước Paris), Công ước Berne về bảo hộ quyền tácgiảvà quyền liên quan (Công ước Berne). Việc thực thi Hiệp định TRIPSbởicác thành viên WTO có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định tính hiệu lực vàhiệu quả của tổ chức thương mạilớnnhất hành tinh. Đồng thời, tuân thủ Hiệpđịnh TRIPS cũng là yêu cầu tiên quyết đối với các thành viên của WTO.

Trong xã hội ngày nay, khi mà lợi ích của chủ thể quyền SHTT và lợiích của công chúng ngày cànggắnbó và ràng buộc lẫnnhau thìbảohộhài hoà lợiích của các bên liên quanđược xem là đíchđếncủachính sách vàpháp luật trong lĩnh vực này. Trong bối cảnh các thành viên có mức độ phát triển và hoàn cảnh kinh tế nhiều khác biệt, Hiệp định TRIPS áp dụng nguyên tắc bảohộ“linhhoạt”, cho phép các thành viên WTO thực thi các nghĩa vụcamkếttheo mức độvà phương thức phù hợp. Theo nguyên tắc này, trong mộtsốtrườnghợpvàvớimộtsốđiềukiện nhất định, các thành viên WTOđược phépsửdụng và khai thác các ngoại lệ, hạnchế đốivớiquyềnđộc quyền của chủ sở hữu cácđối tượngSHTT được bảo hộ. Trên quanđiểmưu tiên lợi ích quốc gia, các thành viên WTO có xu hướng nội luật hóa các quyđịnhlinh hoạt trongbảohộquyền SHTT theohướngcólợicho mình. Đây cũng là nguyên nhân của nhiều tranh chấp về bảo hộ quyền SHTT được giải tạiCơ quan giải quyết tranh chấp (DSB)vớitrình tự, thủtục theo quyđịnh của WTO (giải quyết theo cơ chế của WTO).

Thực tế cho thấy, do đặc tính của tài sản tranh chấp là tài sản “vô hình”, các tranh chấp bảo hộ quyền SHTT giữa các thành viên WTO thường rất phức tạp. Để giảiquyết các tranh chấp này, DSB (thông qua hoạt động của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm) đã giải thích pháp luật bảo hộ quyền SHTT của WTO theocấutrúc ngôn từ, văn phong thể hiệntạiđiềukhoảncụthể, cũng như hoàn cảnh, điềukiện và thậm chí cách hiểu của các bên tham gia đàm phán về một điều khoản tại thờiđiểmký kết. Nói cách khác, trong giải quyết tranh chấp về bảo hộ quyền SHTT theo cơ chế của WTO, giải thích pháp luật

bảohộquyền SHTT (bởi Banhộithẩm và Cơ quan phúc thẩm) cóýnghĩa quyết định việc “thắng”, “thua”của các bên có liên quan trong vụ việc. Vấnđề này lại càng có ý nghĩa trong việc xác định phạm vi và mức độ áp dụng các quy định “linh hoạt” trong bảo hộ quyền SHTT (đặc biệt là bảo hộ sáng chế) tạiHiệpđịnhTRIPS vì mục tiêu khuyến khích sángtạocá nhân hài hòa với bảo đảmlợi ích cộng đồng.

Do đó, việc tìm hiểu và áp dụng những kinh nghiệm rút ra từthực tiễn giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trong việc nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách, pháp luậtbảohộquyền SHTTnộiđịa nhằm ngăn ngừa và thích ứng với cơ chế giải quyết tranh chấp WTO; cũng như tận dụng tối đa các quy định linh hoạt trong bảo hộ quyền SHTT để phát triểnđất nước gắn với giảm thiểu tranh chấp tiềm ẩn.

Xuất pháttừ thực tế cònrấtthiếu vắng các nghiêncứutrong và ngoài nướctrực tiếp liên quanđếnvấnđề nêu trên, nghiêncứusinhđã lựa chọn “Giảiquyết tranh chấpvề bảohộquyềnsởhữutrítuệtheo cơ chế củaTổchức Thương mại Thế giới” làm đề tài cho luận án của mình.

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiêncứulý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT theo cơ chế của WTO, luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách, pháp luậtbảohộquyền SHTT tại Việt Nam nhằm ngăn ngừa nguy cơ gây tranh chấp và sẵn sàng ứng phó khi tranh chấp xảy ra.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:Đểđạtđược mục đíchtrên, luận án có nhiệm vụ giảiquyết những vấn đề sau:

– Nghiên cứu đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đếnđề tàiđể từ đó rút ra những vấn đề cầntiếp tục nghiên cứu;

– Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp về bảohộquyền SHTT theo cơ chếcủa WTO: Khái niệm,đặc điểmgiải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT tại WTO, pháp luật áp dụng và trình tựthủ tục giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT tại WTO;

– Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấptạiWTO (thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩmđã được DSB phêduyệt và công bố) liên quanđếnnhững nội dung cơ bản trong bảo hộ quyền SHTT bao gồm: (i) các nguyên tắc cơ bản trong bảo hộ quyền SHTT; (ii) nội dungbảohộquyền SHTT(điềukiệnbảohộ,phạm vibảohộvà giới hạn quyền của chủ sở hữu); và (iii) thực thi quyền SHTT cũng như trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp; trên cơ sở đórút ra các bài học kinh nghiệm cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

– Đề xuất các giải pháp nhằm ngăn ngừa sớmtranh chấp và nâng cao năng lực ứng phó khi tranh chấp xảy ra; đồng thời khai thác hiệu quả các quy định linh hoạt trong bảo hộ một số đối tượng SHTT vì lợi ích cộng đồng mà không tiềm ẩn tranh chấp.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án cóđốitượng nghiên cứu là việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên WTO (bởi Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm) liên quan đến các biện pháp bảo hộ quyền SHTT (bao gồm các chính sách và quy định pháp luật của một nước thành viên WTO bị cáo buộc vi phạm Hiệp định TRIPS bởi một thành viên khác) theo các nguyên tắc, trình tự thủ tục của WTO.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm viđề tài, tác giả nghiêncứuviệc giải quyết tranh chấpvềbảohộquyền SHTT theo trìnhtựthủtục của WTO do Banhộithẩm và Cơquan phúc thẩm tiến hành thông qua các vụ việc thực tế được công bố chính thức trên trang thông tin điện tử của WTO “https://www.wto.org” (giải quyết tranh chấp tại DSB).

Luận án không nghiêncứuviệc giải quyết tranh chấpvề bảohộquyền SHTT bởi các phương thức khác như trung gian, hòa giải, môi giới, trọng tài (giải quyết tranh chấp ngoài DSB).

Bộ máy giải quyết tranh chấp (DSB, Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm) và các thủ tục tố tụng để giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO chỉ được nghiên cứu dưới góc độ cần thiết gắn với mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận

Luận ánsửdụng phương pháp luận chung của chủnghĩa duyvậtbiện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung củađề tài.

Đặc biệt, luận án trú trọng vận dụng các học thuyết (các cách tiếp cận)chuyên biệt về bảo hộ quyền SHTT để luận giải cách thức áp dụng pháp luật WTO trong giải quyết tranh chấp của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm:

– Thuyếtvịnhân “Personality Theory”: Học thuyết này sơ phát từ những nghiêncứucủaKant và Hegel, cho rằng conngườinhưmộtcá thể độc lậpđược đặtở trung tâm; và quyềnsở hữu cánhân là hết sức quan trọng. SHTT với tư cách là quyền sở hữu tư nhân cầnđược bảohộ để thoả mãnnhu cầu cánhân của mỗingười. Do đó, pháp luậtcầnbảovệ conngười(với tư cách làtác giả) khỏi những tác nhân có hại, tạo môi trường thuận lợi cho tác giả sáng tạo, thể hiệnbảnthân. Theo cách này, học thuyếtcổvũ cho việc đề cao “quyền nhân thân” và các quyền tương tự.

– Cách tiếpcậnLocke hayhọcthuyết lao động“Lockean Approach or Labour Theory”: Đây là học thuyết tiếpcậnquyền SHTT dưới góc độ quyền

tựnhiên. Nhữngngườiủnghộhọc thuyết này cho rằng, nếumộtngườibỏcông sức lao động, sáng tạo ra các giá trị mới từ những nguồn lực cósẵnthìanh ta có toàn quyền đối với thành quả lao động của mình. Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng và thi hành quyền tự nhiên đó.

– Học thuyếtkế hoạch hoá xãhội“Social Planning Theory”:Theo học thuyết này, các mục tiêu xã hội cần được ưu tiên trong quy định bảo hộ quyền SHTT. Nói cách khác, quyền SHTT cần được quy định sao cho nó giúp phát triển các thành tựu văn hóa, xã hội. Mục đích kế hoạch hoá xã hội đang được bàn thảo khá phổbiến hiện nay liên quanđếnphạm vi thíchhợpcủa quyền SHTT trên Internet.

– Cách tiếp cận vị lợi “Utilitarian Approach”: Đây là cách tiếp cậnphổbiến nhất hiện nayvớitư tưởng chủ đạorằng việc định hình quyền SHTT là để tối đa hoá phúc lợi xã hội ròng. Theo đó, hướng đến sự thịnh vượng xã hội

(social welfare) là mục đích của bảohộquyền SHTT. Điềunày có nghĩa là, pháp luật cần cân bằng tối ưu giữa một bên là đảmbảođộc quyềncho chủ sở hữu tài sản trí tuệ để khuyến khích sáng tạo và một bên là hạn chế các quyềnđóđể công chúng có cơ hộitậnhưởngnhững thànhtựusángtạomộtcách rộng rãi.

Trong các học thuyết nêu trên, phù hợpvớimục tiêu ra đời của WTO, phương pháp tiếpcận“vịlợi”(Utilitarian Approach)vớitưtưởngchủđạo hướngđếnsựthịnhvượngxã hộitrên cơsở bảohộcân bằng quyền SHTT,được ưu tiên sử dụng để luậngiải phương thức giải quyết tranh chấp bảohộquyền SHTT tại DSB.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấnđề nghiên cứu, luận ánsửdụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

– Phương pháp tổng hợp, phân tích và hệ thống hóa: Phương pháp nàyđược sử dụng trong toàn bộ luận án để phát hiện, luận giải các tài liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan đến đề tài của luận án.

– Phương pháp so sánh, quy nạp được sử dụng nhiều tại Chương 2 để xây dựng các khái niệm và làm rõ các vấn đề lý luận của luận án.

– Phương pháp nghiêncứutình huống (case study) được đặc biệt trútrọng tại Chương 3 để nghiên cứu các vụ việc tranh chấp bảo hộ quyền SHTTđược giải quyết theo cơ chế của WTO.

– Phương pháp phỏngvấntrực tiếp các chuyên gia được sửdụng tại Chương 4 nhằm cungcấpcái nhìn đa chiềuvề thực trạng vàđề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật SHTT Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập.

– Phương pháp đa ngành, liên ngành luật học được sử dụng trong toàn bộcác chương của luận ánđể làmsáng tỏ các khía cạnh phức tạp, đa chiều củađề tàinghiên cứu.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Trên cơ sở nghiêncứutoàn diện, cóhệ thốngđề tài“Giải quyết tranh chấp quyềnsởhữutrítuệtheo cơchếcủaTổchức ThươngmạiThếgiới”, luận án:

– Góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về giải quyết tranh chấp bảo hộquyền SHTT theo cơ chế WTO: Khái niệm;đặc điểm;pháp luật áp dụng vànguyêntắcgiải quyết các tranh chấp này thông qua hoạtđộngcủa Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm;

– Làm rõ cách thức áp dụng và giải thích một số điều khoản quan trọng về bảo hộ quyềnSHTT được quy định tại Hiệp định TRIPS (bao gồm cả các điều ước quốc tế được dẫn chiếu tại Hiệp định TRIPS) trong giải quyết tranh chấp về bảo hộ quyền SHTT giữa các thành viên WTO; qua đó rút những bài học kinh nghiệm có tính ứng dụng đối với các nước đang phát triển, phù hợp với thực tế Việt Nam.

– Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách, pháp luật bảohộquyền SHTTtạiViệt Nam nhằm ngăn ngừa nguy cơ gây tranh chấp và sẵn sàng ứng phó khi tranh chấp xảy ra.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận:

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và cập nhật về giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT theo cơ chế của WTO. Với phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học, luận án góp phần hình thành luận cứ, tưduyđầyđủvềbảohộquyền SHTTđápứngđầyđủyêucầucủaHiệpđịnh TRIPS gắn với đảm bảo hài hoà lợi ích của các quốc gia thành viên WTO.

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO CƠ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO CƠ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

6.2. Ý nghĩa thực tiễn:

+ Những kinh nghiệm rút ra qua phân tích các vụ việc tranh chấp quyền SHTTđã được giải quyết theo cơ chế WTO(cụthể là thông qua việc giải thích và áp dụng pháp luật của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm) có tínhđiểnhình cao và là các bài học quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng

7

chính sách, pháp luậtđápứng camkếtquốc tế để ngăn ngừa khả năng xảy ra tranh chấp; nâng cao năng lực quốc gia trong ứng phó khi tranh chấp xảy ra; và khai thác được những quyđịnhbảohộlinh hoạt trong pháp luậtbảohộquyền SHTT của WTO để phát triểnđất nước.

+ Luận án có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạyởcác cơ sở đào tạo có chuyên môn liên quan đến đề tài.

7.Kếtcấu luận án

Ngoài phầnmở đầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo vàphụlục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Chương 2. Lý luận về giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

theo cơ chế của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Chương 3. Thực trạng giải quyết tranh chấpbảohộ quyền sở hữu trí tuệtheo cơ chế của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Chương 4. Giải pháp nâng cao nănglựcvà hiệu quả bảohộquyềnsởhữu trí tuệ tại Việt Nam nhằm thích ứng cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổchức Thương mại Thế giới.

8

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2.1. Những nộidung nghiên cứu đãsángtỏvàđượcluận án kếthừa, phát triển

Kếtquả của các công trình nghiên cứu đã cung cấp một lượng kiến thức quan trọng về giải quyết các tranh chấp về thương mại nói chung, trong đó cócác tranh chấpvề bảo hộ quyềnSHTT giữa các thành viên của WTO theo cơchế của tổ chức này. Theo phân tích tổng hợp tình hình nghiên cứu liên quanđến đề tài của luận án, có thể nhận thấy một số nội dung liên quan đến chủ đềcủa luận ánđã đượcgiải quyết và được nghiêncứusinhkế thừa, phát triển trong quá trình nghiên cứu. Cụ thể:

– Về lý luận:

+ Trên phương diện lý thuyết, các công trìnhđã nghiêncứukỹvề hệthống các cơ quan giải quyết tranh chấp, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp nói chung theo quy định của WTO. Về cơ bản, các nội dung nghiên cứu trên là rõ ràng, mang tính khoa học cao và không còn vấn đề gây tranh cãi.

+ Các khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp và nguyên tắc giải quyết tranh chấp theo cơ chế củaWTO áp dụng trong giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT đã được các tác giả làm sáng tỏ ở mức độ nhất định.

17

– Về thực tiễn:

+ Nghiên cứu thực trạng giải quyết tranh chấp thương mạitạiWTO với cách tiếp cậntừ góc độ cácnước đang phát triển đã cung cấp một khối lượng kiến thức thực tiễn có khả năng áp dụng cao trong việc khai thác các quy địnhđối xử đặc biệtvà khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong việc sửdụng cơ chế WTO để giải quyết các tranh chấp.

+ Đặc biệt, một số nghiên cứu chuyên sâu đã cung cấp các thông tin chi tiếtvềthực tếgiải quyếtmộtsốvụviệc tranh chấpbảohộquyền SHTT tại WTO thông qua phân tích báo cáo của Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm.

– Về giảipháp

+ Về tổng quan, hệ thống giải quyết tranh chấp WTOđược các nghiên cứuđánh giá là khá hoàn thiện và hiệu quả cao trong giải quyết tranh các tranh chấp thươngmạinói chung, tranh chấpbảohộquyền SHTT nói riêng giữa các thành viên WTO. Với ý nghĩa đó, các nghiên cứu khuyến cáo thành viên WTO tích cực sử dụng cơ chế này để giải quyết các tranh chấp.

+ Từ góc độ các nước đang phát triển, nhiều nghiên cứu hướng sự quan tâmđếnđề xuất các giải pháp khai thác, sửdụnghệ thống giải quyết tranh chấp WTO với các quy định đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nướcđang phát triển và chậm phát triển theo hướng có lợi cho các quốc gia này.

+ Một sốcông trình nghiêncứutrong nước đã đề xuấtgiải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam đápứngcác điều ước quốc tế liên quanđếnSHTT mà Việt Nam tham gia như giải pháp phòng ngừa sớm tranh chấp.

Kếtquảtừcác công trình nghiêncứulà nguồn tư liệu quý, là tài liệu tham khảo bổ ích để nghiên cứu sinh thực hiện đề tài luận án.

1.2.2. Những vấn đề liên quan đến đề tài chưađược giải quyết thấuđáo và chưa được đặt ra nghiên cứu

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp hay gián tiếpđến đề tài của luận án, nghiên cứu sinh nhận thấy trong lúc hầu hết các nghiên

18

cứutậptrung vào phân tích các thuận lợi, khó khăn trong việc áp dụng các quy định về pháp luật hình thức (DSU) trong giải quyết tranh chấp, thì có một khoảng trốngrấtlớntrong áp dụng những quyđịnhcủa pháp luậtnộidung (Hiệp định TRIPS) giải quyết các tranh chấp về bảo hộ quyền SHTT. Cụthểnhư sau:

– Các nghiêncứu về giải quyết tranh chấpbảohộquyền SHTT do các tác giả nước ngoài tiến hành không có liên hệ với Việt Nam và không đưa ra những gợi ý trực tiếp về nâng cao năng lực và hiệuquả bảohộ và giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT đối với Việt Nam.

– Mộtsốnghiêncứutrongnướcđã đềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật SHTT Việt Nam nhằm ngăn ngừa sớm tranh chấp; tuy nhiên, các đề xuất này chưa được xây dựng và có sự kết nối hữu cơ với thực tiễn giải quyết tranh chấp về bảo hộ quyền SHTT theo Hiệp định TRIPS – camkếtquốc tế cơ bản và quan trọng nhất cho đến thời điểm hiện nay.

– Cònmộtkhoảng trốngrấtlớntrong nghiêncứucác tài liệu trực tiếp giải quyết tranh chấpvề bảo hộ quyềnSHTT tại DSB (thông qua các báo cáo của Banhộithẩm và Cơ quan phúc thẩm) để hiểu rõ cách giải thích và áp dụng các quy định về bảo hộ quyền SHTT tại Hiệp định TRIPS (và các điềuước quốc tế được dẫnchiếutạiHiệpđịnhTRIPS); qua đóđềxuất các giải pháp phù hợp để vừa phòng ngừa tranh chấp, nâng cao năng lực ứng phó khi tranh chấp xảy ra; vừa tạo điều kiện khai thác các quy định bảo hộ linh hoạt tạiHiệp định TRIPS (đặc biệt đối với bảo hộ sáng chế) vì lợi ích cộng đồng gắn với hạn chế tối đa khả năng tiềm ẩn tranh chấp.

1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1.3.1. Nội dung cần nghiên cứu củađề tài

Trên cơ sở phân tích thực trạng tình hình nghiên cứu liên quanđếnđề tài của luận án và trên cơ sở các học thuyết nghiên cứu được đề cập tại Mục 4.1

19

(Phầnmở đầu), có thể thấy không gian nghiên cứu dành cho luận án còn rất rộng rãi.

Thứ nhất, trên cơ sở nềntảng lý luậnvề giải quyết tranh chấpbảohộquyền SHTT, luận áncầnhoàn thiện khung lý thuyết về khái niệm, đặc điểm và cơ sở pháp lý áp dụngđể giải quyết tranh chấpvề bảohộquyền SHTT giữa các thành viên WTO;

Thứ hai, từgóc độcác nước đang phát triển, nghiêncứuthực tiễn áp dụng pháp luật nội dung trong giải quyết tranh chấp (Hiệp định TRIPS và cácđiềuước quốctếđược dẫnchiếutạiHiệpđịnhTRIPS) thông qua hoạtđộng của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm, trong đó đặc biệt trú trọng việc giải thích và áp dụng các quy định về bảo hộ linh hoạt, các ngoại lệ và hạnchế đối với quyền của chủ sở hữu;

Thứ ba, từkếtquả nghiêncứulý luận và thực tiễn, luận án đưa ra những giải phápcụthể nhằm vừa phòng ngừasớmtranh chấp và nâng cao năng lực quốc gia trong ứng phó khi tranh chấp xảy ra; vừa tạo điều kiện khai thác tốiđa các quyđịnhbảohộlinh hoạttạiHiệpđịnhTRIPS(đặc biệtđối vớibảohộsáng chế) vìlợiích cộngđồnggắnvớihạnchếtốiđa khảnăng tiềm ẩn tranh chấp.

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Để giảiquyết những nội dung cần nghiên cứu của đề tài, luận án cần giải quyết các câu hỏi với các giả thuyết tương ứng như sau:

1.3.2.1. Câu hỏi nghiên cứu

– Giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT giữa các thành viên WTO làgì? Pháp luật nội dung và pháp luật hình thức nàoáp dụng để giảiquyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT?

– Thực trạng giải quyết tranh chấpbảohộquyền SHTT giữa các thành viên WTO như thế nào? Thông qua thực trạng giải quyết tranh chấpbảohộ

20

quyền SHTT theo trình tự thủ tục tại DSU, các nước đang phát triển như Việt Nam có thể rút ra những kinh nghiệm gì?

– Việt Namcầnáp dụng những giải pháp nàođểđạtđược mục tiêu vừa phòng ngừa sớmtranh chấp, nâng cao nănglựcquốc gia trongứngphó khi tranh chấp xảy ra; vừa tạo điều kiện khai thác tối đa các quy định bảo hộ linh hoạttạiHiệpđịnhTRIPS (đặc biệtđốivớibảohộsáng chế) vìlợiích cộngđồng gắn vớihạn chế tối đa khả năng bị khởi kiện ra DSB?

1.3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu

– Giả địnhrằng các nghiêncứuđã đượcthực hiện chưa tạodựngđược một hệ thống cơ sở lý luận đầyđủ để nhận diện vấn đề giải quyếttranh chấp bảohộquyền SHTT theo cơ chế WTO, baogồmcác nội dung cơ bản: Khái niệm, đặc điểm, phương thức và pháp luật (cả pháp luật nội dung và pháp luật hình thức) áp dụng trong giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT giữa các thành viên WTO.

– Giả địnhrằng các nghiêncứuchưa quan tâm thoả đángđếnviệc áp dụng các camkết về bảo hộ quyềnSHTT trong khuôn khổ WTO (Hiệpđịnh TRIPS và cácđiềuước quốc tế có liên quanđượcdẫnchiếutạiHiệpđịnh TRIPS)để giải quyết các tranh chấp trong lĩnhvựcnày; do vậy, nhiềuđiều khoản tại các camkếtcòn chưa được hiểu và vận dụng phù hợp tại các quốc gia WTO (đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam).

– Giả địnhrằng tranh chấpbảohộquyền SHTT có thể gây những hậu quả đángkể về nhiều mặt; tuy nhiên, Việt Namvẫnchưa có giải pháp phùhợp để giảibài toán hài hòa giữa việc tuân thủ đẩy đủ các camkếtquốc tế đểhội nhập, và khai thác hợp lý các thành tựu khoa học và công nghệ (gắn với giảm thiểu nguy cơ gây tranh chấp) để phát triển đất nước.

21

Kết luận Chƣơng 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy có một số lượng rất phong phú,đồ sộ các công trình nghiên cứu về giải quyết các tranh chấp thương mại nói chung theo cơ chế của WTO (bao gồm cả tranh chấp về thương mại hàng hóa theo Hiệp định GATT 1994 và thương mại dịch vụ theo Hiệp định GATTS); tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên biệt về giải quyết tranh chấp bảo hộ quyền SHTT (tranh chấp theo Hiệp định TRIPS) khá thưa vắng. Theo kết quả nghiêncứutạiChương này, trong khi các công trìnhđã nghiêncứucủa các tác giả trong và ngoài nước đã phân tíchkỹ lưỡng hệthống cơ quan giải quyết tranh chấp, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế WTO và các khó khăn, thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật về hình thức của WTO (DSU) để giải quyết tranh chấp (bao gồm cả các tranh chấp về bảo hộ quyền SHTT); thì cònmộtkhoảng trống rất lớn trong nghiên cứu việc áp dụng các quy định về nội dung các camkếtbảo hộ quyền SHTT trong giải quyết tranh chấp (áp dụng HiệpđịnhTRIPS). Đặc biệt là, nghiên cứu liên quan đếnvấnđề nàytừgóc độcácnước đang phát triển như Việt Nam còn đangbỏngỏ. Nội dung bỏ ngỏ này là nhiệm vụ mà luận án cần tập trung làmsáng tỏ để từđóđề xuất những giải pháp cho Việt Nam nhằm thíchứngvớicơ chế giải quyết tranh chấp WTO, tận dụng tốt những cơ hội để phát triểnđất nướcgắn với giảm thiểu khả năng bị khiếu kiện tại DSB.

22

Chƣơng 2

LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẢO HỘ

QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO CƠ CHẾ CỦA

TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI

2.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

2.1.1. Khái niệm

2.1.1.1. Sở hữu trí tuệ

Trên thế giới, theo quanđiểmtruyền thống của nhiềuhọc giả, “sở hữu trítuệ” (Intellectual Property)gồmcó 4hợpphần cơ bản là bảnquyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu. Đó là loại tài sản đặc biệt, cóchủsở hữuđược xácđịnhvà có chế địnhpháp luật chuyên biệtđể bảohộ. Theo quanđiểmnày,“sở hữutrítuệ”khôngđồngnhấtvới“tàisảntrítuệ” (Intellectual Assets) vì “tàisản trí tuệ”có nội hàm rộng hơn, baogồm cả “sởhữu trítuệ” và các đối tượng không được bảohộ quyền sở hữu trí tuệ như các bí mật thương mại [52; tr.1]. Theo quan điểm khác, các học giả có xu hướngđồngnhất thuậtngữ“sở hữutrítuệ”và “tàisảntrítuệ” khi cho rằng bằng cách sử dụng thuật ngữ “tài sản trí tuệ”, các nhà kinh doanh và lập pháp muốn nhấn mạnh giá trị kinh tế của chủ thể nắm giữ loại tàisảnđặc biệt này [63].

TạiViệt Nam, các nghiêncứukhôngđưara định nghĩa rõ ràng và phân biệt giữa“sởhữutrítuệ”và“tàisảntrítuệ”.TiếnsỹPhạm Đình Chướng, Nguyên Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ cho rằng “sở hữu trí tuệ” là khái niệm chỉcách tiếp cận “tài sản trí tuệ” từ góc độ pháp lý. Khái niệm “sở hữu trí tuệ” được hiểu đồng nghĩa với chế định pháp lý “quyền sở hữu trí tuệ”, dùng để chỉ các đối tượng “tài sản trí tuệ” được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ (Phụ lục 10.1).

Nghiên cứu sinh đồng ý với quan điểm nêu trêncủa Tiến sỹPhạm Đình Chướng. Việc đồng nhất khái niệm“sở hữu trí tuệ” với“quyềnsở hữu trí tuệ”

23

từ khía cạnh pháp lý mang tính khái quát và phản ánh được thực tế luôn biếnđộng (theo hướng mở rộng) các loại tàisảntrí tuệ được bảo hộ trong thế giới hiện đại.

Tiếpcậntheođốitượngbảohộtruyền thống, quyền SHTTđược chia thành hai nhánh. Nhánh thứ nhất bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, cóđối tượng là quyền đối vớicác tác phẩm văn học, nghệ thuật, các tác phẩm trình diễn, nghe nhìn và chương trình máy tính. Nhánh thứ hai gồm quyền cácđối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó có sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý. Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quanđến các đối tượng sở hữu công nghiệp cũng thuộc nhánh này.

Trong văn bản pháp lý, mặc dù có nhiều các hiệp định và công ước quốc tế về SHTT nhưng khôngmộtvăn kiện nào trực tiếpđịnhnghĩa khái niệm này, mà nhiều nhất cũngchỉliệt kê phạm trùcủa“sở hữutrítuệ” mộtcách khái quát. Điều 2(viii) Công ước Stockholm 1967 thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, xác định “sở hữu trí tuệ” bao gồm các quyền đối với: (1) Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; (2) Chương trình biểu diễn của các nghệ sỹ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; (3) Sáng chế trongtấtcả các lĩnh vực hoạtđộngcủa con người; (4) Các phát minh khoa học; (5) Kiểu dáng công nghiệp; (6) Nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉdẫnthươngmạivà tên thương mại; (7) Bảohộchống cạnh tranh không lành mạnh.

Sau Công ước Stockholm 1967, kháiniệm “sở hữu trí tuệ” tiếp tục nhậnđược sựthayđổimang tính pháp lývớisựra đờicủa Tổchức Thương mại Thế giới ngày 1/1/1995 theo định nghĩa tại Hiệp định TRIPS.

Theo nghĩa hẹp tại khoản 2 Điều 1 Hiệp định TRIPS, “thuật ngữ„sở hữu trí tuệ‟ có nghĩa là tất cả các đối tượng sở hữu trí tuệ nêu tại các mục từ mục 1 đếnmục 7 của Phần II” Hiệpđịnhnày. Có nghĩa là 07đốitượng, bao gồm:

24

Quyền tác giả và quyền liên quan, Nhãn hiệu, Chỉ dẫn địa lý, Kiểu dáng công nghiệp, Sáng chế, Thiếtkếbố trí mạch tích hợp (topograph) và Thông tin bímật. Vớiđịnhnghĩa này, điểmđáng lưuýlà HiệpđịnhTRIPS lầnđầutiên tuyên bố Chỉ dẫn địa lý là đối tượng chính thức, cần được các nước thành viên WTO bảo hộ do ý nghĩa, tầm quan trọng của đối tượng này trong thương mại quốc tế. Hiệp định TRIPS cũng trực tiếp cụ thể hóa “thiết kế bố trí mạch tích hợp” và “thông tin bí mật” như các đối tượng “sở hữu trítuệ”.

Mặtkhác, với việc buộc các thành viên WTO phải tuân theo các ĐiềutừĐiều1 đến Điều12 và Điều 19 của Công ước Paris về bảo hộ quyềnsở hữu công nghiệp (Côngước Paris);đồngthời quyđịnhkhông nghĩa vụnào theo Hiệp định TRIPS làmảnh hưởng đếncác nghĩa vụ đang tồn tại mà các Thành viên có thể có đối với nhau theo Công ước Paris, Công ước Berne về bảo hộcác tác phẩm văn học và nghệ thuật (Côngước Berne), Côngước Rome vềbảo hộ các nhà biểu diễn, các nhà sản xuất băng đĩa âm thanh và các tổ chức phát thanh truyền (Côngước Rome ) và Hiệpước về sở hữutrí tuệ đốivới mạch tíchhợp(Hiệpước IPIC), HiệpđịnhTRIPS đãthống nhấtđịnhnghĩa thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” với nội hàmbao trùm các đối tượng “sở hữu trí tuệ” tạicác công ước quốc tế cơ bản trong lĩnh vực này. Theođó, vớinghĩa rộng, “sở hữutrítuệ” tạiHiệpđịnhTRIPS baogồmquyềnđốivớicác đốitượng:

Quyền tác giả và quyền liên quan, Sáng chế (baogồmcả Giải pháphữuích/Mẫu hữu ích), Kiểu dáng công nghiệp, Nhãn hiệu (bao gồm cả Nhãn hiệu hàng hóa và Nhãn hiệu dịch vụ), Chỉ dẫn địa lý, Tên thương mại, Thông tin bímật, Thiết kế bố trí mạch tích hợp, Quyềncủangườitạogiống(có thể được bảohộdướidạng sáng chế hoặc quyềnđốivớigiống cây trồng) và Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Cho đến thờiđiểmhiện tại, khái niệm “sở hữu trí tuệ” theo định nghĩa tại Hiệp định TRIPS cả về nghĩa rộng và nghĩa hẹp vẫn được coi là khái niệm cơ

25

bản và được sử dụng phổ biến. Theo đó, tại một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, quyền SHTT được chia ra làm 3 nhóm, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quanđến quyềntác giả, quyềnsởhữucông nghiệp (gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thông tin bí mật, thiếtkế bốtrí mạch tích hợp, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh) vàquyền đối với giống cây trồng.

2.1.1.2. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Theo nghĩa thông thường, “bảo hộ” là việc ghi nhận và đảm bảo cho aiđó hoặc cái gì đó trong tình trạng an toàn, không bị xâmhại[44; tr.79]. Theođó,“bảohộquyềnsở hữutrítuệ” cóthểhiểu là việc nhà nướcghi nhận vàđảmbảocho chủ thể quyềnsở hữu trí tuệ được độc quyềnsử dụng, cho phép hoặc ngăn cấmngườikhác sử dụng đối tượng được bảohộ phù hợp với quyđịnh củapháp luật.

Trong khuônkhổWTO, Chú thích 3,Điều3 HiệpđịnhTRIPS định nghĩa “bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” baogồm tấtcả các vấn đề liên quanđếnđiều kiệnbảohộ, duy trì hiệu lực và thực thi các quyền SHTT, cũng như các vấn đề liên quan đến sử dụng quyền SHTT được đề cập tại Hiệp định.

Từcác khái niệm trên, nghiên cứu sinh đề xuất trong nội dung luận án, theo ý nghĩa các quy định pháp luật WTO, thuật ngữ “bảo hộ quyền sở hữu trítuệ”được hiểu là hệ thống các quy định tại Hiệp định TRIPS (và các điềuước quốc tế có liên quanđược dẫnchiếutạiHiệpđịnhTRIPS), có hiệu lực thi hành đối với các thành viên WTO liên quan đến 3 nhóm quy định cơ bản, bao gồm: (i) các nguyên tắc chung về bảohộquyền SHTT; (ii) nộidungbảohộ(baogồmtiêu chí, điềukiệnbảohộ, xácđịnhquyềncủachủsở hữuvà giới hạn quyền); và (ii) thực thi quyền SHTT được bảo hộ.

26

2.1.1.3. Tranh chấp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Trong tiếng Anh, thuật ngữ “dispute” (tranh chấp) có nguồn gốc từ tiếng La-tinh, được ghép bởi tiếpđầu tố “dis-” (cónghĩa là “khác biệt, chia tách”) và “putāre”, (có nghĩa là “suy nghĩ, niềm tin”), để chỉ sự chia rẽ (không đồng thuận) về suy nghĩ, hành động hoặc niềm tin.

Theo Oxford Advanced Learner‟s Dictionary, thuậtngữ“dispute” được định nghĩa là“anargument or a disagreement between two people, groups or countries” [60, tr.422]. (Tạmdịch:“sựtranh luận hoặc sựkhôngđồngthuận (bất đồng) giữa hai người, hai nhómngườihoặc hai quốc gia”).Vớiđịnh nghĩa này của Oxford Advanced Learner‟s Dictionary, có thể thấy rằng theo thời gian, ngoài ý nghĩa ban đầu là để chỉ “sự không đồng thuận” (disagreement), thuật ngữ “dispute” trong tiếng Anh hiện đại có thêm ý nghĩa là “sự tranh luận” (argument). Với ý nghĩa bổ sung này, có thể thấy thuậtngữ“dispute” đang tiệm cận ý nghĩa của sự đối thoại để giải quyết bất đồng.

Trong tiếng Việt, “tranhchấp” được hiểu là“sựbấtđồng,trái ngược nhau” hoặc “sự giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào” [44, tr. 1628]. Dưới góc độ pháp lý, Từ điển Luật học không định nghĩa riêng khái niệm “tranh chấp” mà chú giải thuật ngữ này trong mối quan hệ với một đối tượng nhất định như “tranh chấp hợp đồng”, “tranh chấp kinh tế”, “tranh chấp lao động”, “tranh chấp thương mại” [45, tr. 805-807]. Theo đó, “tranh chấp” (về một đối tượng) được hiểulà “mâuthuẫn”, “bấtđồng” hay“xung đột” vềquyền và nghĩa vụ đối vớiđối tượng cụ thể (như “hợpđồng”, “kinh tế”, “laođộng” hay“thương mại”).

Như vậy, cóthểthấy rằng mặc dù thuậtngữ“dispute” trong tiếng Anhđược dịchnghĩa tương đương sang tiếng Việt là “tranh chấp”; tuy nhiên, nội hàm hai thuậtngữnày không hoàn toàn trùng nhau. Trong khi “tranhchấp” theo tiếng Việt mang ý nghĩa tương đối thống nhất là để chỉ sự bất đồng, xung

27

độtthì thuậtngữ“dispute” trong tiếng Anh, ngoài nghĩa banđầugiống nhưtiếng Việt, đã “tiếnhóa”xa hơn, mang ngụ ý của xu hướng đối thoại để giải quyết xung đột, đối kháng. Xu hướng này cũng thể hiện khá rõ trong quá trình giải quyết tranh chấp về bảo hộ quyền SHTT mà nghiên cứu sinh sẽ đề cập tại các phần tiếp sau của luận án.

Vớiýnghĩa trên, trong phạm vi luận án, khái niệm “tranh chấpbảohộquyềnsở hữutrítuệ”đượchiểu là sựbấtđồnggiữa các thành viên WTO trong việc tuân thủ các camkếttại Hiệp định TRIPS (và các điềuước quốc tếcó liên quan được dẫn chiếu tại Hiệp định TRIPS) đối với 3 nhóm cam kết cơbản, bao gồm: (i) các nguyên tắc bảohộ;(ii) nộidungbảohộ(baogồmcác tiêu chí, điều kiện bảo hộ, quyền của chủ sở hữu và giới hạn quyền); và (iii) thực thi quyền SHTT.

2.1.2. Đặc điểmtranh chấpbảohộquyền sở hữu trítuệtạiTổchức Thương mại thế giới

2.1.2.1. Đốitượngtranh chấp là chính sách và pháp luậtvề bảohộquyền SHTT của các thành viên WTO

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO CƠ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *