CHẾ ĐỘ BẦU CỬ Ở NƯỚC TA NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHẾ ĐỘ BẦU CỬ Ở NƯỚC TA NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHẾ ĐỘ BẦU CỬ Ở NƯỚC TA NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

MỞ ĐẦU

1. Tínhcấpthiết của đề tài

“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Tấtcả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công

nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.Đó là tuyên bố trịnh trọng trong Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

(sửa đổi năm 2001). Điều 6 Hiến pháp 1992 tiếp tục khẳng định “Nhân dân sửdụng quyền lực nhà nước thông qua Quốchộivà Hộiđồngnhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.

Trải qua hơn sáu mươi năm, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, thành tích mà chúng ta đạt được như ngày hôm nay thật đáng tựhào! Đểcó Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công – nông – trí vững chắc như ngày nay, không thể không kể đến vai tròcủa pháp luật bầu cử,được xây dựng, ban hành và thực thi trong những năm vừa qua.

“Tuy nhiên,nước ta đangđứngtrước nhiều thách thức lớn”,“Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ,toàn diện và đồng bộ”,“Dânchủxã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là độnglực của công cuộc đổi mới”[125-tr.75].Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 4 năm 2006) đãkhẳngđịnh nhiệmvụ trọng tâm của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước “Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [125-tr.40]. Một trong những phươnghướngquan trọngđể thực hiện nhiệmvụ chiến lược này là “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơchế bầu

cửnhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội…phát huy tốt vai tròcủa đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội”[125-tr.126].Định hướng của Đảng về đổi mới chế độ bầu cửđược thể hiện khá rõ.Từ2001,Đảng đã chỉ rõ cần phải “Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội,đại biểu Hội đồng nhân dân, hoàn thiện những qui định về bầu cử, ứng cử, về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trên cơsở thật sựphát huy dân chủ”[124-tr.134]. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Công tác xây dựng Đảng tại Đại hội X của Đảng (năm 2006) nêu rõ “Ðổi mới và hoàn thiện chế độ

bầu cử, thực hiện bầu cử có số dư, mở rộng quyền tiến cửvà tựứng cử…giám sát cán bộ sau bầu cử” [125-tr.294].

Trongđề tài khoa học mang mã số KHXH 05.05 “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam dưới sựlãnh đạocủa Đảng”,nhóm nghiên cứu, đứng đầu là GS.TSKH. Đào Trí Úc – Chủ nhiệm đề tài,đã khẳng định “Trong nội dung dân chủphải kểđến chế độ bầu cử. Lâu nay, chúng ta ít bàn đến việc cải tiến chế độ bầu cử, gầnnhư là yên tâm với chế độbầu cử đãđược hìnhthànhtừtrước nhưng trong nhiều năm qua không hề có sự thay đổi” [111-tr.305, 306].

Do đó, để “Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa”, “phảiđổi mới từnhận thức, tư duyđến hoạtđộngthực tiễn; từkinh tế,chính trị,đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”[125-tr.70],“cần đổi mới các thể chế bầu cử: từqui trình lựa chọn, ứng cửvà đề cử,hiệp thương lập danh sách ứng cửviên, qui trình tiếp xúc với cử tri cho đến chương trình tranh cử của các ứng cử viên” [99-tr.314].

Như vậy, xétvề cơsởlý luận cũng như cơsởthực tiễn,định hướng chính trị của Đảng cũng như định hướng nghiên cứu của khoa học pháp lý vàkhoa học chính trị, việc đổi mới nhận thức về pháp luật bầu cử là hoàn toàn phùhợp với mục tiêu chính trị cũng như mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Vì vậy,đề tài “Chế độ bầu cửở nướcta – những vấn đề lý luận vàthực tiễn” là vấn đề có tính cấp thiết trên phương diện lý luận và thực tiễn, làmộttrong những hướng nghiên cứu quan trọng của khoa học pháp lý, rất cầnđược nghiên cứu một cách cơ bản ở nước ta hiện nay.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích nghiên cứu và nhiệmvụ của Luậnán

Mục đích của Luận án là làm sángtỏ cơsởlý luận và cơsởthực tiễn của chế độ bầu cửở Việt Nam. Trên cơsởđó,Luận án đưa ra những kiến nghịnhằm đổi mới chế độbầucửđể pháthuy dân chủ, tăng cường vai trò của nhân dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Để đạt được mục đích nói trên,Luận án có nhiệmvụ:

Phân tích cơsởlý luận về chế độ bầu cửtrong xã hội dân chủ nói chung và ở Việt Nam nói riêng: khái niệm, bản chất, vai trò củachế độbầu cử; những nộidung cơbản của chế độ bầu cử, như những nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cử, ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, vậnđộng bầu cử, đơn vị bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử, phương pháp xác định kết quả bầucử.

Phân tích sự phát triển của chế độ bầu cửở nước ta từcuộc Tổng tuyển cửbầu Quốc dân đại hội năm 1946 đến nay. Căn cứ vào những vấnđề lýluận, nhất là các nguyên tắc đã được đề cập trong Chương 1,để làmrõ những thành tựu và những vấn đề còn tồn tại của chế độ bầu cửnước ta. Những thành tựu to lớn của chế độ bầu cửnước ta trong việc xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân từcuộc Tổng tuyển cửngày 6/1/1946 đến nay là điều không cần bàn cãi. Tuy nhiên,vì chế độ bầu cửcó phạm vi rộng, trong khi dung lượng của Luận

án có giới hạn, nên Luận án tập trung phân tích nhữngvấn đề còn bất cập của chế độ bầu cửnước ta hiện nay. Căn cứ vào những vấn đề lý luận, nhất là các nguyêntắc đã được đề cậptrong Chương 1, làm rõ những thành tựu và những vấn đề còn tồn tại của chế độ bầucửnước ta.

Phân tích tính tất yếu khách quan về sự đổi mới chế độ bầu cử, phương hướng đổi mới và hoàn thiện chếđộ bầu cử, những giảipháp hoàn thiệnchế độbầu cửtrongđiều kiện phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta.

4. Giới hạn của Luận án

Về phạm vi nghiên cứu:

Đề tài Luậnán có nội dung rộng và phức tạp. Trong khuôn khổ chuyên ngành Lý luận và lịch sửnhà nước và pháp luật, Luận án chỉ tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ bầu cử; phần thực trạngchế độ bầu cửnước ta, Luận án đi sâu hơn vào việc phân tích những vấn đề còn tồn tại, bất cập để tìmra nguyên nhân; trên cơsởđó đề xuất quan điểm và những giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử trong điều kiện ở nước ta hiện nay.

Mặt khác,chế độbầu cử được đề cập trong Luận án chỉ giới hạn trong bầu cửcác cơ quanđại diện (ởnước ta là Quốc hội,Hộiđồngnhân dân các cấp). Luận án không đề cập đến bầu cửTổng thống hoặc các chức danh khác. Nếu có, thì mục đích của việc đề cập là làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.

Bên cạnh đó,do chế độ bầu cửthể hiện điểnhình và rõ nét hơn trong việc bầu cửcác cơ quan lập pháp, ở nước ta là Quốc hội, do vậy, trong Luận án này,bầu cửđại biểu Quốc hội được Luận án đề cập tập trung hơn so với bầu cửđại biểu Hội đồngnhân dân, nhất là nhữngvấn đề về lý luận được đề cập trong Chương 1 của Luận án.

Về góc độ tiếp cận của Luận án:

Chế độ bầu cửvà những nội dung của nó là những vấn đề mang tính

chính trị, pháp lý, xãhội… Do đó,nó làđối tượngnghiên cứu của nhiều khoa

học như chính trị học, xã hội học… Luận án chỉ xem xét chế độ bầucửdưới gócđộ củakhoa học pháp lý. Tuy nhiên, như trên đã nói,vì chế độbầu cử lànhững vấn đề mang tính chính trị, xã hội, pháp lý,đặc biệt là tính chính trị – pháp lý, do vậy, phạm vi nghiên cứu của Luận án, mặc dù chủ yếu nhìn nhận dưới lăng kính pháp lý, nhưng để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu, trong một sốtrường hợp, một số mục của Luận án, để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu, có thểvấn đề được tiếp cận dưới gócđộ của khoa học chính trị và một số khoa học khác có liên quan, như xã hội học, tâmlý học …

5.Cơ sởlý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Quan điểmcủa chủnghĩa Mác – Lê-nin vềnhà nước và pháp luật nói chung, nhànước và pháp luật xã hội chủnghĩa nói riêng đóng vai trò là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho việc nghiên cứu tất cả các vấn đề trong Luận án. Các quan điểmcủa Đảngcộng sản Việt NamvềNhà nước và cách mạng Việt Nam, nhất là cácquan điểm về đổi mới đất nước,về phát huy dân chủ, vềxây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là cơsởlý luận cho việc phân tích, đánh giá các vấn đề trong Luận án. TưtưởngHồ Chí Minh về giành và giữ chính quyền,vềquyền lực nhân dân,về Tổngtuyển cử là những giá trị không gì có thể thay thếđược,làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiêncứu chế độ bầu cử và hoàn thiệnchếđộbầucửởnước ta. Quan điểm của các nhà lãnhđạo Đảng,Nhànước ta, như quan điểm lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy sức mạnh đại

đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủtrongĐảng… mang tính chất xuất phátđiểm khi nghiên cứu những vấn đề đặt ra trong Luận án.

Bên cạnh đó, trong xu thế toàn cầu hóa và sự hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào các diễn đàn quốc tế, những văn kiện quốc tế về quyền con người nói chung,về bầucửnói riêng, như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc (1948), Tuyênbốvề tiêu chí bầu cửtựdo và công bằng của Liên minh nghị viện thế giới (1994), các nghị quyết của Liên hợp quốc và các cơ quan của Liên hợp quốc vềthúc đẩy và mởrộng dân chủtrong bầu cử,vềbầu cử tự do, tiến bộ và công bằng, đặc biệt là các côngước quốc tế của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã gia nhập như Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sựnăm1966 (có hiệu lực từ23/3/1976, Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982), Côngước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xửvới phụ nữnăm 1979 (có hiệu lực từ ngày 3/9/1981, Việt Nam gia nhập ngày

19/3/1982)… sẽ được đề cập khi giải quyết một số vấn đề đặt ra trong Luận án. Ngoài ra, những thành tựu lý luận và một số kinh nghiệm tổ chức mà nhân loại đã đạt được trong hoạt động bầu cử cũng được xem xét, chắt lọc khi phân tích,đối chiếu các vấn đề đặt ra trong Luận án, bởi lẽ dù không giống nhau về quanđiểm chính trị – pháp lý, về bản chất giaicấp của từng chế độ nhà nước,các hệthống bầu cử mang tính phổ biến trên thế giới ngày nay chứa đựng không ít yếu tố hợp lý, nhất là dưới góc độ tổ chức, quản lý.

Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác- Lênin, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp phân tích theo hệ thống, phương pháp kết hợp lý luận

với thực tiễn, phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong Luận án.

Phương pháp phân tích, tổng hợp mang tính xuyên suốt toàn bộ Luận án,được sửdụng phối, kết hợp để làm sángtỏnhiệm vụ của từng mục, từng chương và toànbộ Luận án. Phương pháp phân tích thường được thểhiện: đểlàm sáng tỏ các vấn đề lớn, trước hết cần làm rõ các nội dung bên trong của nó.

Từnhững vấn đề nhỏ,từng nội dung, từng tiểu mục,từng mục…,phương pháp tổng hợp sẽ góp phần làm rõ những nhiệmvụ đặt ra đối với từng chương vàtoàn bộ Luận án.

Phương pháp phân tích theo hệ thốngđặt vấnđề nghiên cứu trongmột

hệ thống, hệ thống này lại nằm trong hệ thống lớn hơn…Tất cả được đặt trong mộtchỉnh thể thống nhất.Chếđộ bầu cửkhông tồn tạiđộc lập, mà nó là mộtđịnh chế trong bộ máy nhànước,có chức năng thành lập các cơ quan đại diện.Đến lượt mình, bộ máy nhà nước lạilà một bộphận của hệ thống chính trị. Do vậy, nghiên cứu chế độ bầu cửViệt Nam trước hết phải đặt trong tương quan với Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; tiếp theo,cầnxem xét nó trong tổng thể bộ máy nhà nước và cả hệ thống chính trị.

Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn xem xét từngvấnđề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận, các qui định của pháp luật bầucửvới thực tiễn tổ chức thực hiện.Điềunày có ý nghĩa rất lớn trong toàn bộ Luận án,đặc biệt trong Chương 2 của Luận án. Những vấnđề lýluận về chếđộ bầucửcầnđược đặt trong thực tiễn, từng giai đoạn lịch sửcụ thể của Việt Nam. Không phải tất cả nhữngvấn đề lý luận về chế độ bầu cửđược áp dụngthành côngởcác nước thì điều đó cũng hoàn toàn đúng đối với Việt Nam và ngược lại, hoặc có thể có những nội dung phù hợp ở Việt Nam, nhưng không được các nước áp

dụng… Không chỉ trong Chương 2, phương pháp này có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ Luận án.

Phương pháp lịch sửđòi hỏi khi nghiên cứu chế độ bầu cửvà các bộphận hợp thành,phải đặtchúng trong bối cảnh lịch sửcụ thể.C.Mác đã chỉ rõrằng pháp luật không thể vượt ra khỏiđiều kiện kinh tế – xã hội mà pháp luật

đó tồn tại.Do vậy, mỗi bộ phận,mỗi chế định của chế độ bầu cửchỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi chúng được đặt trong một hoàn cảnh lịch sửcụ thể.Phương pháp lịch sử còn cho phép làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa sựvận động,phát triển của cách mạngnướcta nói chung,bộ máy nhà nước Việt Nam nói riêng với sự vận động, phát triểncủa chế độ bầu cử. Vì vậy,cùng với sựthay đổi về điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chế độbầu cử cầnđổi mớimộtcách hợp lý đểđáp ứngviệc thực hiện những mục đích đó; đặc biệt,chế độbầu cửphải là côngcụ hữu hiệuđể thực hiện những mục tiêu trong công cuộc đổi mới bộ máy nhà nước. Phương pháp này thể hiện rõ nét trong Chương 2, Chương 3 của Luận án.

Phương pháp so sánh được sử dụng trong Luận án để đối chiếu các vấnđề tương ứng trong chếđộ bầucửở ViệtNam với chế độbầucửcủa cácnước trên thế giới, nhất là mộtsố chếđộ bầucửmang tính điển hình. Trên cơsởmối liên hệ cái chung với cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù, giữa bản chất và hiện tượng, phương pháp này cho phép tìm ranhững đặcđiểm chung nhất của chế độ bầu cửcác nước trên thế giới, xu hướng phát triển của chúng cũng nhưnhững vấn đề mang tính đặc thù của chế độ bầu cửViệt Nam. Mục đích của phương pháp so sánh,mộtmặt để thấy được những vấn đề thuộc về bảnchất hoặc có tính độc đáo của chế độ bầu cửViệt Nam, mặt khác cho phép chúng ta tham khảo, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc nhữnghạtnhân hợp lý vềbầu cửtựdo, tiến bộ, công bằng mang tính phổ quát ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thếgiới trong việc đổi mới chế độ bầu cử ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới.

Bên cạnh đó,phương pháp so sánh còn thểhiện trong việc đối chiếu những bộ phận, những khía cạnh của chế độ bầu cửtrước đây với những vấn đềtươngứngcủa chế độ bầu cửhiện nay, giữa các bộ phận của chế độ bầu cửtrong từng giai đoạn lịch sử nước ta với nhau. Do vậy, phương pháp so sánh cómối liên hệ chặt chẽ với phương pháp lịch sử. Mục đích của việc đối chiếu này là tiếp thu những nội dung tiến bộ, hợp lý củachế độ bầu cửnước ta trong các giai đoạn trước đây, đặc biệt trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946. Phương pháp so sánh xuyên suốt toàn bộ Luận án và có ý nghĩa rất quan trọng đối với bản Luận án này.

6. Ý nghĩa khoa học và điểm mới của Luận án

Luận án là chuyên khảo khoa học đầu tiên ởViệt Nam nghiên cứu cơbản, toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về chế độ bầu cử dưới góc độ khoa học pháp lý.

Ý nghĩa khoa học của Luận án:

Về mặtlý luận, Luận án làm rõ vai trò nền tảng của chế độ bầu cử trong việc xây dựng, phát huy dân chủ nói chung và dân chủ đại diện nói riêng. Bằng việc nhân dân lựa chọn và trao quyền thông qua chế độ bầu cử, nhân dân đã ủy thác quyền lực cho những người đại diện.Họ nhận được quyềnlực từ nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Chính quyền là kếtquả củachế độ bầucửtiến bộ, công bằng mới mang tính hợp pháp và tính chính đáng.

Bất luận trong bất cứnhà nước và xã hội nào, chế độ bầu cửphản ánhđúng đắn ý chí của nhân dân trong việc thành lập các cơ quan đại diện là chìa khóa xây dựng đồngthuận xã hội, là phương thức nhân dân thành lậpvàchuyển giao chính quyền bằng phương pháp hòa bình.

Mặt khác, mỗi chếđộ bầu cửđượcthiết kế,xây dựng phảiđặttrong một thể chế chính trị nhất định, nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của nhà nước và hệ thống chính trị.Chếđộ bầu cử Việt Nam cần được thiết kế,vận hành trongđiều kiện cụ thể của thể chế chính trị – xã hội Việt Nam, cần cân nhắc đến truyền thống, lịch sử của dân tộc Việt Nam, cần phù hợp với đặc điểm truyền thống, trình độ dân trí của nhân dân Việt Nam.

Về mặt thực tiễn, Luận án phân tích,đánh giá chế độ bầucửở Việt Nam từ1945 đến nay, đặc biệt phân tích, làm rõ cơsởpháp lý, thực tiễn trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946 nhưmộtthực tiễn sinhđộngvề một cuộc bầu cửthực sựtựdo, thực sựdân chủ; phân tích, đánh giá thực trạng chế độbầu cửViệt Nam hiện nay, lý giải nhữngbất cập của chế độ bầucửhiện hành.

Trên cơsởnhữngvấn đề lý luận về chế độ bầucử, thực trạngchế độ bầu cửở nước tahiện nay, Luận án đưa ra những kiến nghị trong việc đổi mới chếđộ bầu cửở Việt Nam, đặc biệtđổi mới về nhận thức đốivới vai trò củachế độbầu cử, về bầu cử tựdo,về đơn vị bầucử, về hiệp thương, về tuyên truyền,vậnđộngbầu cử, về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với bầu cử, nhằm xây dựng một chế độ bầu cửdân chủ, phù hợp với thế chế chính trị và các điều kiện khác của nước ta, mặt khác tiếp thu các giá trị tiến bộ hợp lý, mang tính phổ quát trongchế độ bầu cửcủa các nước trên thế giới.

Ý nghĩa khoa học của Luận án là việc tiếp cận chế độ bầu cửtrên nền tảng dân chủ. Dân chủ là sự thừa nhận vai trò của nhân dân trong việc thành lập và chuyển giao chính quyền, trong việc thực thi quyền lực nhà nước.Đổi mới

chế độ bầu cửtheo những tiêu chí dân chủ, hiện đại của bầu cửtiến bộ,công bằng, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta là góp phần thực hiện sứ mệnhđó.

Luận án có những điểm mới cơbảnsau:

Khẳngđịnh vai trò nền móng của chế độ bầucửđối với việc phát huy dân chủ, nhất là dân chủ đại diện. Luận án phân tích và làm sáng tỏ rằng, trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân vàvì dân ở nước ta hiện nay, đổi mới chế độbầu cửlà một yêu cầu mang tính cấp thiết.

Luận án làm rõ nguyên nhân và các giải pháp khắc phục sựbất cập vềnguyên tắc bìnhđẳngtrong một số giai đoạncủa hoạt động bầu cửnhư hiệp thương, ấn định số lượng đại biểu được bầu cho từng đơn vị bầu cử, việc phân bổ các ứngcửviên về các đơn vị bầu cử.

CHẾ ĐỘ BẦU CỬ Ở NƯỚC TA NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHẾ ĐỘ BẦU CỬ Ở NƯỚC TA NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Phân tích thấu đáo ưu điểm và hạn chế của mô hình đơn vị bầu cử mộtđại diện và đơn vị bầu cửnhiều đại diện, tầm quan trọng của việc lựa chọn môhình đơn vị bầu cử phù hợp. Luận án chỉ rõ trong điều kiện hiện nay ở nước ta, cần chuyển từ mô hình đơn vị bầu cửnhiều đạidiện sangđơn vị bầu cửmột đại diện.

Luận án đãchỉ rõ rằng,về địnhhướnglâu dài, phương pháp lãnhđạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong điều kiện và hoàn cảnh mới cần sựđổi mới. Vì chếđộ bầu cửcó vai trò hợp pháp hóa quyền lựcchính trị thành quyền lực nhà nước, nên sự lãnh đạo của Đảng cần thông qua các đảng viên mànhân dân đãthừa nhận thông qua bầu cử(đã trúng cử). Cácđảngviên này lànhững“trạm” chuyển tải đườnglối, chính sách của Đảngvào bộ máy nhànước,qua bộ máy nhà nước và bằng pháp luật đến toàn thể xã hội. Đây phải là“kênh” chính để Đảng lãnh đạo Nhà nước; những cơ cấu khác của Đảng không qua bầu cử, về nguyên tắc, chỉ nên hoạt động trong nội bộ hệ thống Đảng. Kiến nghị này có ý nghĩa rất quan trọng trongđiều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và trong xu thếhội nhập, bởi lẽ nó góp phần tường minh cơ chế “Đảng lãnh đạo,Nhànước quản lý, nhân dân làm chủ” thể hiện đúngbản chất “quyền hành và lực lượngđều ởnơi dân”của chế độ và hệthống chính trị nước ta.Điềuđáng nói hơn, khi đó,vai trò lãnh đạo của Đảngkhông nhữngđược nhân dân Việt Nam suy tôn,mà sựlãnh đạo đó còn được cộng đồng quốc tế công nhận một cách “tâm phục, khẩu phục”.

Ngoài những nội dung về chính trị – pháp lý, Luận án còn chỉ rõ các yếu tố tổ chức,kỹ thuật cũng không được xem nhẹ trong chế độ bầu cử, vì quá trình

tổ chức, quản lý các hoạt động trong tiến trìnhbầu cửkhông đảm bảo chặt chẽ, khách quan, hay quá trình kiểm phiếu không minh bạch, công thức tính phiếu thiếu sựchính xác, phù hợp, quyền lực của nhân dân có thể trao không đúng cho những người cần trao.

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Luận án là công trình không những có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa các thông tin, các quan điểm, các học thuyết pháp lý về chế độ bầu cử của các

15

chuyên gia bầu cửtrên thế giới, mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng, phát triển cơsởlý luận về chế độ bầucửvà thực tiễn việc áp dụng nó tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứucủa Luận án là sựbổ sung quan trọng và đángkểvào kiến thức lý luận vềchế độbầu cử,về vai trò củachế độbầu cửđốivới việc thành lập,hoạt độngcủa bộ máy nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhân dân – những vấn đề còn có những“khoảng trống” nhất định trong khoa học pháp lý ở nước ta hiện nay.

Những kết luận trong Luận án là những vấn đề đáng được xem xét, cân nhắc trong việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung (hoặc xây dựng mới) các Luật bầu cửđại biểu Quốc hội,Luật bầu cửđại biểu Hội đồng nhân dân ở nước ta trong thời gian tới.

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu và giảng dạy về nhà nước và pháp luật,về dân chủ nói chung và dân chủ đại diện nói riêng, nhất là về cơsở,nền tảng của quyền lực nhà nước,về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

8.Kết cấucủa Luận án

Luận án gồmcó: Mởđầu,Ba chương, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo:

Chương 1: Cơsởlý luậnvềchế độ bầu cử;

Chương 2: Chếđộ bầu cử nước ta từ năm1945 đến nay;

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

16

CHƢƠNG 1

CƠ SỞLÝLUẬN VỀ CHẾ ĐỘ BẦU CỬ

1.1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA CHẾĐỘ BẦUCỬ

1.1.1. Khái niệm chế độ bầu cử

1.1.1.1. Khái niệm vàbản chất của bầu cử

Bầu cửđã xuất hiệntừxa xưa trong lịch sửnhân loại. Trong chế độcộng sản nguyên thủy, do nhu cầu cần có người phụ trách công việc chung của thị tộc nên mỗi thị tộc đều cóthủ tục bầura người đứng đầu, thường bầu ra Tùtrưởng và Thủ lĩnh quânsự.Tất cảcác thành viên nam,nữtrongthịtộc đều tham gia các cuộc bầu cử này [19-tr.155].Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, ngoài hình thức chính thể quân chủ là phổ biến, thì cũng đã tồn tại chính thể cộng hòa với Viện nguyên lão bao gồmđại diện củanhững chủ nô quý tộc(Comita centuria) và đại diện của những người cầm vũ khí [90-tr.19]. Giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, bên cạnh các chính thể quân chủ, còn tồn tại hình thức cộng hòa phong kiến, ở đó những người có vị thế bầu raĐại hộinhân dân. Dưới chếđộ phong kiến chuyên chế, nói chungbầu cửkhôngđược áp dụng[32-tr.307].

Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản đã sửdụngbầu cửnhư một vũ khí hữu hiệu để hạn chế quyền lực của giai cấp phong kiến. Cách mạng dân chủ tư sản xác lập, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố chủquyền nhân dân, cũngđồng thời khẳng định bầu cửlà phươngthức căn bản đểủy quyền, qua đó thành lập ra các thiết chế đại diện.

Với tính chất là chế định pháp luật đểbầu cơ quan đại diện, pháp luật bầu cửlà sản phẩm của chế độ dân chủ châu Âu. Vào đầu thế kỷ XVIII, tínhđại diện trong cơ quan lập pháp ở một số nước dựa trên cơ cấu của nhữngđẳng cấp xã hội (categories of society) và là kết quả của bầu cử gián tiếp. Chẳng hạn, Bản hướngdẫnbầu cửởTây Ban Nha ngày 1 tháng 1 năm 1810 quiđịnh quyền bầu cử cho những người đàn ôngtừ25 tuổi trở lên,bầuNghị viện (Las Cortes) qua ba cấp(athird-degree indirect vote): Công dân bầuchọn đại biểu thành phố tự trị (municipalities), tiếp theo cácđại biểunày bầu đạidiện trong từng vùng (regions) và cuối cùng, những đại diện vùng bầu người Hội đồng lập hiến (Constituent Assembly). Cuối thế kỷ XVIII và suốt thế kỷ XIX, công dânđấu tranh đòi mở rộng quyền bầu cửcủa họ.Tính đại diện dựa trên cộng đồng

17

(communities) dần được thay thế bằng các cá nhân công dân.Bầu cửtrực tiếp dần thay thế cho bầu cử gián tiếp [157].

Chủ quyền nhân dân (quyền lực nhân dân) là bản chất và là đặc trưng các nhà nước và xã hội dân chủ. Tuy nhiên, việc thực thi chủ quyền nhân dân thì vấn đề lại không đơn giản trong các nhà nước và xã hội. Có hai hình thức cơbản để thực hiện quyền lực nhân dân là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Dân chủ trực tiếp là việc người dân trực tiếp quyết định các vấn đề của họ, mà không cần qua các đại biểu hoặc cơ quan trung gian.Vềphương diện lý luận, dân chủ trực tiếp mới thực sự là dân chủ, vì nhân dân trực tiếp quyếtđịnh,nhưnó đã được áp dụng trong hoạt độngcủa chính quyền Athens thời cổ đại.Về phương diện tổ chức thực hiện, dân chủ trực tiếp gặp một khó khăn rất lớn, vì thường xuyên triệutập hộinghị toàn dân là vấn đề không hề đơn giản,đặc biệtđối với những quốc gia đông dân và rộng lớn. Bên cạnh đó, rất nhiều các học giả, chính khách cho rằng chính trị là những công việc phức tạp, không phải vàkhông nên dành cho tất cả dân chúng. Vào thế kỷ XVIII, trong đời sống chính trị thế giới đã xuất hiện lý thuyết đại diện gắn liền với tên tuổi của Locke, Rousseau và Montesquieu. Theo lý thuyết đại diện, quyền lực về nguyên tắc thuộc về nhân dân, nhưng do những nguyên nhân khác nhau, nhân dân không thể trực tiếp thực hiện toàn bộ quyền lực của mình, mà phải uỷ thác cho những người đại diện để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân. Rousseau, mặc dù cho rằng dân chủ trực tiếp mới là dân chủ thực sự,nhưng cũng phải thừa nhận rằng đó là một hình thức lý tưởng; nhân dân phải uỷ quyền cho người đại diện, mà không thể trực tiếp thực hiện quyền lực của mình. John Stuart Mill, tác giả của Chính thể đại diện, một tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây,được xem như những khảo cứu mang tính nền tảngđối với các thiết chế chính trị -xã hội ở các nước Anh, Hoa Kỳ thế kỷ XIX [52-tr.7, 8], cũngđã viết “Chỉ có Chính phủ toàn dân tham dự là thỏa mãn đầy đủ mọi nhu

cầu cấp bách của tình trạng xã hội…và rằng không có gì đáng mong muốn hơn là sựthừa nhận của mọi người cùng chia sẻchủ quyền nhà nước.Nhưng vìtrong một cộng đồng vượt quá một đô thịđơn lẻ nhỏ bé, thì không thể tấtcả mọi người đều đích thân tham dự vào mọi việc công cộng, ngoại trừ một phần nhỏ bé công việc nào đó.Từđósuy ra rằng loại chính thể hoàn hảo lý tưởng nhất phải là chính thể mang tính đại diện” [52-tr.128].

Như vậy, phương thức để nhân dân lựa chọnngười đại diện và uỷ thác quyền lực cho người đại diện chính là bầu cử. Ở bất cứ quốc gia nào, trong xã

18

hội nào và thời kỳ nào, nói đến bầu cử, trước hết là nói đến việc lựa chọn của nhân dân. Phổ biến hiện nayởcác nước là lựa chọn người đại biểu trong cơquan lập pháp. Các nước tư sản được tổ chức và hoạtđộngtheo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy,bầu cửkhông những là phương thức thành lập cơquan lập pháp mà còn có thể được áp dụng để bầu các chức danh trong các nhánh quyền lực khác, như Tổng thống, các Thị trưởng và có thể các chức danh trong các cơ quan Tư pháp. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhànước thuộc về nhân dân, bầu cử là phương thức để thành lập ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Khác với nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa không tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, mà quyền lực nhà nước là thống nhất, dođó,đối tượngđược bầu cửởcác nước xã hội chủnghĩa thường chỉ là các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước,bao gồmQuốc hội (ởTrung ương) và Hội đồngnhân dân các cấp (ởđịa phương).Ở nước ta hiện nay, bầu cửlà phương thức nhân dân trực tiếp bầu ra Quốc hộivà Hộiđồngnhân dân các cấp.

Cũng cần nói thêm rằng, vì đối tượngcủa việc lựa chọn trong bầu cửkhông chỉ có cơ quan lập pháp, mà có thể là người đứng đầu quyền hành pháp, hoặc các chức danh trong quyền tư pháp; do đó,có thể nói: các đại biểu, các chức danh là kết quả của bầu cử đều là người đại diện cho nhân dân, vì họ do nhân dân trực tiếp bầu ra và trao quyền. Khi nhân dân bầu ra Quốc hội và trao cho Quốc hội quyền lập pháp, thì điều đó có nghĩa Quốc hội đại diện cho nhân dân để thực hiện quyền lập pháp. Khi nhân dân bầu ra Tổng thốngđể thực hiện quyền hành pháp, có nghĩa là Tổng thống đại diện (thay mặt) cho nhân dân đểthực hiện quyền hành pháp. Dođó,theo quan điểm của chúng tôi: những ai,tổ chức nào do nhân dân bầu ra, thì đồng thời cũng có nghĩa họ là người đại diện cho nhân dân.Họ đại diệncho nhân dânđểthực hiện chức năng gì (làm gì), thìđó lại là một vấn đề khác cần bàn.Có lẽ vì bầu cửcơ quan đại diện (đặc biệt làcơ quan lập pháp) phổ biến hơn rất nhiều so với bầu cửcác chức danh trong hành pháp và đặc biệt là tư pháp, nên thuật ngữchế độ đại diện hiện nay được sửdụng với nghĩa phổ biến là chỉ cơ quan lập pháp.

Ngoài ra,bầu cửcòn là việc trao quyền lực (ủy thác quyền lực) của nhân dân cho người đại diện. Điều đó có nghĩa là, thông qua hành vi bỏ phiếu, người dân lựa chọn,đồngthời trao quyền lực của mình cho người đại diện. Ai,chủthể nào được chọn lựa qua bầu cử,chủ thể đó nhận quyền lực từnhân dân. Thực chất củavấn đề trao bao nhiêu (mứcđộ) quyền lựccho người đại diện

19

không chỉ đơn thuần là hành vi bỏ phiếu, mà còn liên quan đến việc ai là người qui định quyền lực (nhiệmvụ,quyền hạn ) cho cơ quan đại diện và nhiệm vụ, quyền hạn của đạibiểu dân cử. Ai là người qui định nhiệm vụ, quyền hạn cho Quốc hội, cho đại biểu Quốc hội, thì người đó quyết định về mức độ quyền lực. Nói cách khác, ai phân công quyền lực nhà nước,thì người đó quyếtđịnhvềmức độ trao quyền lực. Trong các nền dân chủđươngđại thì vấn đề này thường được qui định trong hiến pháp của mỗi nước.Khi nhân dân bầu ra đạibiểu Quốc hội, thì đại biểu Quốc hội đượcbầu ra có quyền lực (thẩm quyền) của người đại diện,thẩm quyền này thường được ấn định trong hiến pháp. Nếu hiến pháp đó vẫn tồn tại, thìngười đại diệndù được bầu ở nhiệm kỳ nàyhay nhiệm kỳ khác, họ vẫn có nhiệm vụ, quyền hạn giống nhau do hiến pháp qui định; nếu hiến pháp thay đổi, thì các đại biểu được bầu có nhiệmvụ,quyền hạn thay đổi theo sựấnđịnh củahiến pháp mới. Như vậy, phạm vi thẩm quyền của ngườiđại diện không phải do cử tri trực tiếp quyết định trong kỳ bầu cử, mà do hiến pháp qui định. Nói cách khác, trongbầu cử, cửtri chỉ trao quyền cho người đại diện. Ai được cửtri lựa chọn thì người đó nhận được quyền lựctừnhân dân, người đó sẽ có quyền lực của người đại biểu nhân dân. Còn nhận được bao nhiêu quyền (phạm vi thẩm quyền): vấn đề này do hiến pháp qui định.Nhưvậy, nếu hiến pháp – văn bản phân công quyền lực là do nhân dân quyết định, thì nhân dân không những trực tiếp lựa chọn, trực tiếp trao quyền, mà còn trực tiếp qui định về phạm vi thẩm quyền (trao bao nhiêu) cho người đại diện. Trong trường hợp nhân dân không quyết định hiến pháp, thì nhân dân chỉ trao quyền cho người đại diện thông bầu cử. Phạm vi thẩm quyền bao nhiêu, “nhiều” hay “ít” là do hiến pháp ấn định.

Mặcdù thẩm quyềncủangười đạidiệnđược qui định trong hiến pháp, nhưng nếu không được nhân dân chọn qua bầu cử, thì không có quyền lực của người đại diện.Thông qua bầu cử, cử tri vừa lựa chọn, vừa ủy thác quyền lực cho người đại diện. Nói cách khác, hành vi bỏ phiếu của cửtri cùng một lúc thực hiện hai chức năng: vừa lựa chọn người đại diện, vừa trao quyền lực cho người đại diện. Do vậy, kể cả trong trường hợp nhân dân không trực tiếp phân công quyền lực nhà nước (nhân dân không trực tiếp thông qua hiến pháp), vẫn có thể nói rằng hành vi bầu cử của cử tri đồng nghĩa với việc cử tri trao quyền

lực của mình cho người mình chọn.

Liên quan đến vấn đề ủy quyền, theo quan điểm của các học giả ủng hộchế độ đại nghị,nghị sĩ không chỉ đại diện chocửtri bầu ra họ, mà còn đại diện

20

cho toàn thể dân tộc.Sựủy quyền này gọi làủy quyền tựdo (free mandate). Theo nguyên tắc ủy quyền tựdo, các nghị sĩ là người đại diện cho toàn thể nhân dân, không một ai có thể trao cho cácđại biểu ủynhiệm thư, dođó,họkhông phụthuộc vào cửtri và khôngbịcửtri bãi nhiệm.Đại biểu hoạtđộng theo pháp luật và theo sự nhận thức của mình để thông qua những quyết định. Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”,Lê nin khẳng địnhsựcầnthiết của chế độ đại diện trong chế độ xã hội chủnghĩa:“Chúng ta không thể quan niệm một nền dân chủ, dầu là dân chủ vô sản, mà lại không có cơ quan đại diện”.Lênin cũng chỉ rõ rằng cơ quan lập pháp của nhànước tưsản không thểgọilà cơquan dân cử(chữcửnghĩa là bầu cử) [99-tr.51], vì nó đại diện cho các thành phần tư sản, quí tộc thậm chí không qua bầucử. Nó chỉ có thể gọi là cơ quanđại diện mà thôi [136-tr.370-372]. Theo Lênin, nội dungcủasựủy quyền lànguyên tắc ủy quyền mệnh lệnh (imperative mandate). Theo nguyên tắc này, cửtri thông qua bầu cử trao cho các đại biểu ủy nhiệm thư, đồng thời có quyền bãi nhiệm đại biểu nếu họ không thực hiện hoặc không thực hiện tốt ủy nhiệm thư. Lênin cho rằng, bằng hình thức đó,chế độ dân chủ đại diện mới thực sựdân chủ và cơ quan đại diện mới thực sự đại diện cho ý chí của nhân dân. Nhân dân ủy quyền chocác đạibiểu thực hiện quyền lập pháp, đồng thời yêu cầu cácđại biểu thực hiện quyền lập pháp phù hợp với ý chí của nhân dân [99-tr.63].

Tóm lại, bầu cửtrước hết là một loại hoạt độngxã hội mang tính lựa chọn của con người. Nó phát triển cùng với quá trình phát triển của con người và bầu cửngày càng mang tính chính trị – pháp lý sâu sắc. Trong xã hội hiện đại,đối với các quốc gia dân chủ,bầucửlà một hoạt động và là chế định khócó thể thiếu trong cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân.

1.1.1.1. Khái niệm chế độbầu cử

Chế độ bầu cửlà một khái niệm có nội dung phong phú. Trên các diễnđàn trongnước cũng như quốc tế,nó đượcxem xét dưới phạm vi và mức độkhác nhau.Dưới góc độ xã hội, có thể thấy rằng vì bầu cửlà hoạt độnglựa chọn của con người. Sự lựa chọn đó được nhà nước quan niệm ra sao, qui định và bảo đảm thực hiện như thế nào thìđó là chếđộ bầu cử[63-tr.251]. Dưới gócđộ chính trị học “chế độ bầu cử được coi như bầu khôngkhí chính trị, là biểu hiện của nền dân chủ, là tiêu chuẩn đánh giá mức độ dân chủ, nguyên tắc thực hiện dân chủ của một nước”[63-tr.251, 252].Chế độ bầu cửlà khái niệm gắn với nhà nước, quốc gia nhất định.Nói đến chế độ bầu cử, cần xác địnhrõ là chế

21

độ bầu cửcủanhà nước nào, không có chế độ bầu cử mang tính chung chung [63-tr.251, 252].

Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữchế độ bầu cử(Electoral Systems)được nhiều học giả đềcập: Trong sách chuyên khảo vềchế độ bầu cử“Electoral System Design: The New International Handbook” do IDEA (International Institute for Democracy and Electoral Assistance) xuất bản năm 2005 diễn giải:

Chế độ bầu cửđược hiểu là việc chuyển hóa những lá phiếu của cửtri trong cuộc Tổng tuyển cử thành các “ghế” (các ứng cửviên hoặc các đảng phái chính

trị) mà chìa khóa là công thức được sửdụng (đa số hay tỉlệ…),cấu trúccủa

phiếu bầu (bầu cho đảngphái chính trị hay các ứngcửviên cụ thể…),cách phân vạch,ấn định số lượngđại biểu được bầu cho đơn vị bầu cử[142-tr.5]. Phần Chú giải của cuốn sách giải thích cụ thể hơn “Chế độ bầucửlà một bộphận của luật bầu cửvà những qui tắc (khác) điều chỉnh quan hệbầu cử,nóquyết định cách thức bầu chọn vào cơ quan đại diện (đối với các đảng phái, cácứng cửviên).Chế độ bầu cửbao gồm ba yếu tố quan trọng nhất: công thức tính phiếu (electoral formula), cấu trúc của các phiếu bầu (ballot structure) và sốlượngđại biểu được ấn định cho mỗi đơn vị bầu cử(district magnitude)”[142- tr.177]. Một nhóm học giả khác định nghĩa Chế độ bầu cử“chuyển hóa” những phiếu bầu trong cuộc bầu cử thành cơ quan lập pháp.Sựlựa chọn chếđộ bầu cửmang tính quyết định đảng phái chính trị, lực lượng nào trong xã hội được bầu chọn và cách thức nhận quyền lực; Chế độ bầu cửcòn tác động rất

lớn đến sựvận động,phát triển của hệ thống đảng phái chính trị,số lượng,mối quan hệ của các đảng phái chính trị trong Nghị viện/Quốc hộivà ảnhhưởngđến mứcđộ chặt chẽhay lỏng lẻotrong điều lệ,kỷ luật của các đảngphái chính trị [206-tr.191-193]. Trong nhiều tài liệu khác, thuật ngữ chế độbầu cửcũngđược hiểu theo nghĩa tươngtự[155-tr.113-117], [214-tr.7-9], [228-tr.20, 21], [250-tr.126]…

Chế độ bầu cửđược một số học giả trong nước xem xét theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, chế độbầu cửlà tổng thể các quan hệxã hội gắn với cuộc bầucửhợp thành trình tự bầu cử và nhấn mạnh rằng, chế độ bầu cửlà tổng thể các quan hệ pháp luật và những quan hệ xã hội khác được điều chỉnh bởi điều lệ,qui định củacác đảngphái chính trị, hoặc phong tục, tập quán hay bởi qui phạm đạo đức,bởi lẽ,không phải tất cả những quan hệ của chế độ bầu cửđều được điều chỉnh bởi qui phạm pháp luật [32-tr.308-310]. Theo nghĩa hẹp, chế độbầu cửđược hiểu là phương pháp phân ghếđại biểu

22

giữa các ứngcửviên dựa trên kết quả biểu quyết của cử tri hay những cá nhân có thẩm quyền.Chếđộ bầu cử theo nghĩa hẹp nhìn chung rất đa dạng và phức

tạp [2-tr.15, 16].

Như vậy, có thể thấy rằng các học giả trong nước xem xétchế độ bầucửthường mô tả hình thức biểu hiện bên ngoài hơn là nhìn vào bản chất bên trong của chế độ bầu cử; trong khi đó các học giả nước ngoài thường nhấn mạnh cách thức “chuyển hóa” những lá phiếu, tức là họ tiếp cận theo bản chất bên trong hơn là theo hình thức bên ngoàicủa chế độ bầu cử.

Với mỗicách tiếp cậnkhác nhau,sựvậthoặc hiện tượng có thểđượcđịnh nghĩa khác nhau. Nếu chỉ căncứvào hình thức thể hiện thì không thấy rõbản chất bên trong của chếđộ bầucử; ngược lại, hình thức thểhiện của chế độbầu cửsẽ không được thể hiện rõ nếu chỉ chúý đến bản chất củanó. Do vậy,để xem xét chế độ bầu cửmột cách toàn diện, nên kết hợp hai cách tiếp cận nói trên.Chế độ bầu cử cóhình thức thể hiện ra bên ngoài là tổng thể các qui định của pháp luật; nếu xét về bản chất của sự vật,chế độ bầu cửlà công cụ pháp lýđể “chuyển tải” ý chí của cửtri thành cơ quan đại diện.

Như vậy,chế độ bầu cửlà tổng thể các quy định của pháp luật của một nước bao gồm các nguyêntắc bầucử, các qui định của pháp luật về quyền bầu cử, quyền ứng cử, vận động tranh cử, đơn vị bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử,việc quản trị bầu cử,cách thức, trìnhtựtiến hành bầucử,các biện phápđảm bảo trật tựbầu cử, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình bầucử, quy định trật tựbầu ra các cơ quan đạidiện quyền lực nhà nước,nhằm “chuyển hóa”ý chí của nhândân được thểhiện trong những phiếu bầu thành cơ quan đại diện. Chế độ bầu cửkhông những quyết định ứng cửviên,đảng phái chính trị, lực lượng xã hội nào được bầu chọn, mà nó còn quyết định cách thức chuyển hóa quyền lực từ nhân dân sang cho người đại diện.

Chế độ bầu cửlà một bộ phận của pháp luật, là công cụ để chuyển hóa từquyền lựcchính trị thành quyền lực nhà nước,nó chuyển hóa và phản ánh tương quan quyền lực của các đảngphái chính trị thành quyền lực nhà nước. Do vậy,chế độ bầu cửcủa bất cứquốc gia nàođều chịu sựchi phối của thể chếchính trị. Ngoài ra,chế độ bầucửcònảnh hưởngbởi các điều kiện kinh tế, xãhội, lịch sử, văn hóa, truyền thốngcủa mỗi nước.

Chế độ bầu cửViệt Nam là tổng thể các qui định của pháp luật bầu cửViệt Nam, bao gồm các nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cử, ứng cử, hiệp thương

23

để giới thiệu, tuyển chọn các ứng cửviên, vận động bầu cử,các tổchứcphụtrách bầu cử, trình tự, thủ tục trong quá trình bầu cử, bầu cử thêm,bầu cử lại,

bầu cửbổ sung… điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình bầu cử,nhằm “chuyểnhóa” ý chí của nhân dân thành Quốc hội,Hộiđồng nhân dân các cấp.

Do đặc thù của thể chế chính trị Việt Nam, chế độ bầu cử Việt Nam còn bao gồm các qui định của Đảng cộng sản Việt Nam liên quan đến việc chỉ đạo, hướng dẫn công tác bầu cử, các vănbản củaMặt trận Tổquốc Việt Nam, hoặc sựphối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan, tổ chức qui định, hướngdẫnqui trình hiệp thương và những vấnđề liên quan đến bầu cử. Chế độbầu cửViệt Nam chịu sựchi phối, tác độngcủa thể chế chính trị Việt Nam,điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Để làmsáng tỏ về chế độ bầu cử, cần tìmhiểu và làm rõ nhữngvấn đềcơ bản sau đây: bản chất, vai trò của chế độ bầu cử; những nguyên tắc cơ bản của bầu cử; quyền bầu cử,quyền ứngcử,vận độngbầu cử; đơn vị bầu cử, phương thức xác định kết quả bầu cử; vấn đề tổ chức bầu cử; cơchế đảmbảo tính khách quan, trung thực của bầu cử; thể chế chính trị, truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc trong quốc gia nơi chế độ bầu cử vận hành.

1.1.2.Bảnchất, giá trị dân chủ và những yếu tố chi phối, tácđộng đến chếđộbầu cử

1.1.2.1. Bản chất, giá trị dân chủcủa chế độ bầu cử

Chế độ bầu cử là mộtbộ phậncủa chế độchính trị, do đó,chế độ bầucửcủa bất cứquốc gia nào đều có tính giai cấp và tính xã hội.

Dưới góc độ tính giai cấp, chế độ bầu cửbao giờcũng là côngcụ của giai cấp thống trị, nó phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị bằng cách bảo đảm cho giai cấpnày nắmđược bộ máy nhà nước.Chế độ bầucửphản ánh mối tương quan lực lượng trong cuộc đấu tranh giai cấp. Khi tương quan lực lượng đấu tranh giai cấp thay đổi thì chếđộ bầucửthường thay đổi theo.Chếđộ bầu cửlà phương tiện pháp lý để chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực nhà nước,“biến” tương quan đó thành quyền lực nhà nước theo tỉ lệ tương ứng. Chế độ bầu cửthực chất là cuộc “trưng cầu ý dân” về các đảngphái, các lực lượngchính trị trong một quốc gia.Đây là đặc điểmcơbảncủa bất cứchế độ bầu cửnào [19-tr.154, 155]. Bản chất của chế độ bầu cửđược thể hiện ởhai vấn đề cơ bản: Thứnhất,Sựlựa chọn đó như thế nào: Ai có quyền bầu cử?

24

Nhân dân, nhưng nhân dân là những ai? Ai có thể được bầu? ứngcửviên hayđảngphái chính trị, lực lượng xã hội? Bầu như thế nào? Trình tự, thủ tục và cơchế đảmbảo thực hiện ra sao? Làm sao để đảmbảo đúng ý chí của nhân dân khi bầu cử? Thứhai, việc trao quyềnlựccủanhân dân cho người đạidiện ra sao: cách thiếtkế đơn vịbầu cử? Theo tiêu chí lãnh thổhay theođảngphái chính trị? Phương thức xác định kết quả bầu cửnhư thế nào: Đa số hay tỉ lệ? Ủy thác cho các cá nhân hay đảngphái? Công thức haykỹ thuật nào đểquátrình chuyển hóa kết quả bầu cửthành “ghế” trong cơ quanđại diện phảnánh trung thực sự trao quyền lực của các cử tri vào các đại biểu hay các đảng phái trong cơ quan đại diện.

Dưới góc độ xã hội, đối với các quốc gia dân chủ,chế độ bầu cửcó vai trò như một “phần mềm” để chuyển tải sựlựa chọn của cửtri thành cơ quan dân cử. Sự chuyểntải của“phần mềm” đó càng “tiệm cận”ý chí của hàng triệu chủ nhân đi bỏ phiếu, càng chứngtỏ chế độ bầu cửđó có “chất lượng” tốt. Một chế độ bầucửdân chủ phải có hai khả năng: Một là, nó phải tạo điều kiện, cơhội cho nhân dân chọn đúng cái cần chọn; Hai là,chếđộ bầu cửphải chuyển

tải quyền lực của nhân dân cho đúngđối tượngcần trao.

Chế độ bầu cửlà biểu hiện quan trọng của dân chủ, là một trong những thiết chế nền tảng của nền dân chủ. Rất nhiều nhà nghiên cứu về dân chủ đều liên hệ, viện dẫn đến bầu cử, như Dân chủ là một “dạng”nhà nước,trong đó quyền lực chính trị do nhân dân thực thi trực tiếp hoặc thông qua những ngườiđại diện do họ bầu ra [157]; dân chủ là nhà nước, mà nhà nước đó do nhân dânưng thuận (một cách tựdo) tạo ra [157].“Chế độ dân chủ là chế độ trong đó các người cầm quyền đều do dân bầu lên. Ở chỗ nào có những cuộc bầu cửtựdo và thànhthật tức là ở đócó dân chủnảy nở” [23-tr.121]. Giáo sư Goodwin- Gill cho rằng “Bầu cử tự do và công bằng là trái tim của dân chủ” [233], [204- tr.208], [142]. Tổng thốngMỹthứ39 củanước Mỹ Jimmy Cater (sau khi rời Nhà trắng đã thành lập Trung tâm Carter, qua đó cống hiến cho việc giải quyết xungđột,mở rộng dân chủ và nâng cao vị thế quyền con người,được nhận giải thưởng Nobel hòa bình vào 2002), Thư ký thứ 61 Nhà nước Mỹ Jame A. Baker

(là người từng đứng đầu chiến dịch tranh cử cho ba Tổng thống Ford, Reagan và Bush (cha) qua năm nhiệm kỳ tổng thống từ 1976 đến 1992) đều khẳng định bầu cửlà trái tim của dân chủ và nhấn mạnh rằng nó là phương thức để nhân dân lựa chọn người lãnh đạo và giữ họ chịu trách nhiệm trước nhân dân.Nếu

25

chế độ bầu cửbị khiếm khuyết, toànbộ nềndân chủ đặt dưới nguy cơ khủng hoảng [199-tr.II].

Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằngchỉ bầu cửkhông“đủ sức” tạo ra cả nền dân chủ mà nó chỉ là tiền đề cho dân chủ thông qua việc tạo lập, ủy thác quyền

lực cho các cơ quan đại diện và là một bộ phận của nền dân chủ. Do vậy,vấnđề quan trọng là bằng cách nào để sự lựa chọn và ủy thác đó diễn ra như đúng bản chất của nó? Làm sao để các cuộc bầu cử có vai trò như “những trục khuỷu trung chuyển từ quyền lực của hàng triệu chủ nhân thành quyền lực của chính quyền”? [71-tr.3]. Montesquieu, một trong những nhà tư tưởng khai sáng kiệt xuất, trong Tinh thần pháp luậtbất hủ,đã từng viết “Luật về cách bầu cử cũng là một luật cơbảntrong nền dân chủ” [65-tr.51].Chế độ bầucửlà nội dung vàlà hình thức thể hiện của dân chủ.Tiếp cận dưới góc độ thể chế,dân chủ là chế độ xã hội,chếđộ nhà nước,chế độ bầucử[55]. Mức độ của dân chủvà hiệu quả của sựủy trị quyền lực của người dân đến đâu,điều đóphụ thuộc rất nhiều vào chế độ bầu cử: ai bầu,bầuai,bầunhư thế nào?

Ngay từnhững ngày đầu giành chính quyền,Hồ Chí Minh đã nói:

“Nước ta là một nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việcđổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.Sựnghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từxã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.Đoàn thể từtrung ương đến xã đều do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ởnơi dân”. Đối với nước ta, dân chủ đại diện lại càng có vai trò đặc biệt quan trọng, vì Hiến pháp chỉ khẳng định về dânchủ đạidiện, chưa đề cập rõ ràng về dân chủ trực tiếp.Để có mộtNhà nước “của dân”,trước hếtphải thiết kế và thực thimột chếđộbầu cửsao cho bộ máy nhà nước đó “đúng” là kết quả của sự lựa chọn dựa trêný chí của nhân dân. Mối quan hệ giữa chế độ bầu cử với bản chất, mục đích của nhà nước là mối quanhệ biện chứng: Một mặt, một chế độ bầu cửđảmbảođúng ý chí của nhân dân trong việc lựa chọn và ủy quyền, thì bản thân việc lựa chọn và ủy quyền đó không những đảm bảo nhà nước đó là nhà nước “của dân” mà đã bao hàm ý nghĩa nhà nước đó là nhà nước “do dân và vì dân”; Mặtkhác, một nhà nước đích thực “của dân” sẽ là cơsở rất quan trọng để nó là một nhànước “do dân và vì dân”.Ngược lại, nếu khôngđảmbảo nhà nước đó là nhànước đích thực của dân, nhân dân còn “đứng ngoài”, hoặc chưa đóng vai tròquyết định, thì dù nó tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc nào, mục đích “do dân và vì dân” của nhà nước đó khó cóthể đạtđược.Điều đó không những không

26

đảm bảo cơsởpháp quyền của nhànước,mà mục đích nhànước sẽkhông đảm bảo dân chủ, hoặc mục đích dân chủ có thể được đặt ra, nhưngsẽ bịchệch hướng.

Tóm lại, chế độ bầucửlà một chế định trung tâm của dân chủ.Đối với bất cứquốc gia nào,chế độ bầu cửlà công cụ để chuyển tải ý chí của nhân dân thành cơ quan đại diện.Một chế độ bầu cửdân chủ phải tạo điều kiện, cơ hội cho nhân dân chọn đúng cái cần chọn; mặt khác,chế độ bầu cửphải chuyển tải quyền lực của nhân dân cho đúng đối tượng cần trao. Việc thiết kế, thực thi chếđộ bầu cửtiến bộ, phù hợp mang tính chất nềntảng đối với bấtcứquốc gia dân chủ nào.

1.1.2.2. Những yếu tố chi phốivà tác động đến chế độ bầu cửCác yếutố chủquan

Mỗi chế độ bầu cửđều tồn tại và vận hành trong một chế độ chính trị, chế độ nhà nước nhất định.Chế độ bầu cửkhông tồn tại độc lập và nó cũng không thể hoạt động tách biệt với “môi trường” mà nó tồn tại. Có thể nói rằng, nhà nước nào thì chế độ bầucửấy. Đồng nhất mọi thể chế chính trị mà không xem xét tính đặc thù của mỗi loại thể chế là cách nhìn nhận không mang tính khoa học. Do vậy, quan điểm “Không có sự nghi ngờ chút nào rằng của chế độdân chủ ngày nay là mộtchế độ dânchủ của những phe đảng và một hệ thống bầu cửphải tham chiếu tới một thể chế chính trị đa đảng,vì chỉ có như vậy, mới có thể nói về các cuộc bầu cửtựdo và các cuộc bầu cử cạnh tranh. Cơ chế chính trị một đảng phái là không thể chấp nhận,kể cả trên phương diện lýthuyết về tính hợp pháp của cuộc bầu cử” của các học giả tư sản [157] là mang tính cào bằng, chưa thấy tính đặc thù của cơ chế chính trị, cơchế bầu cửtrong các nước xã hội chủ nghĩa và trong mỗi nhà nước.Sựtác động,ảnhhưởng qua lại giữa chế độ chính trị, chế độnhà nước với chế độ bầu cửlà vấn đềmang tính hiển nhiên. Rất nhiều học giả tư sản cũng khẳngđịnh điều đó [142-tr.7, 160]. Sự ảnh hưởng, tác động của các yếu tố chủ quan đến chế độ bầu cử có thểđược giải thích:

Thứnhất, chế độ bầu cửlà một bộ phận cấu thành thể chế chính trị, do đó,nó cần phù hợp với thể chế chính trị mà nó tồn tại.Chếđộ bầu cửlà công cụ để phục vụ cho những mục tiêu chính trị, mục tiêu của bộ máy nhà nước. Chế độ bầu cửcủamỗi nhà nước cần phải căn cứ vào những đặc điểm củathể

27

chế chính trị, xã hội và phải nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của hệthống chính trị, của bộ máy nhà nước.

Thứhai,đối với các chế độ chính trị – xã hội khác nhau, nội dung vàcách hiểu đối với các nguyên tắc bầu cử mang tính phổ biến không phải lúc nào cũng giống nhau, thậm chí rấtkhác nhau. Chẳng hạn, các chếđộ bầu cửdân chủ đều thừa nhận nguyên tắc bầu cửbình đẳng,nhưng nội dung của nguyên tắc này được thể hiện như thế nào? Điều này không phải lúc nào cũngđược hiểu một cách thống nhất trong các chế độ bầu cử. Do vậy,mỗi chế độ bầu cửcó những“bộ tiêu chí”,những chuẩn mực áp dụng khác nhau, thậm chí cónhững vấn đề trái ngược nhau cũng là điều dễ hiểu.

Thứba, ngay trong một nhànước,trong các giai đoạn khác nhau, yêu cầu đặt ra đối với chế độbầu cửlà khác nhau. Nếu chế độbầu cửvận hành phục vụ tốt mục đích đề ra của nhà nước, của hệ thống chính trị, chứng tỏ nó có hiệu quả và phù hợp. Do vậy, không nên cứng nhắc ấnđịnhtất cả các tiêu chíđể đánh giá chất lượng chế độ bầu cử. Ngoài những tiêu chí mang tính phổ biến nói trên, việc đánh giá chế độ bầu cửphải đặt nó trong một thể chế chính trị, mộtnhà nước cụ thể. Có thể chếđộ bầucửlà tiến bộ hoặc phù hợp với nhànước này, nhưng chưa chắc đã phù hợp với nhà nước khác. Do vậy, không phải nhất nhất tuân theo một cách cứng nhắc những nguyên tắcđócó nghĩalà đảm bảo chế độ bầu cửdân chủ, mà quan trọng là phải hiểu thấu đáo mỗi nguyên tắcđó có nội dung gì, nó phục vụ gì cho mục tiêu của nhà nước và cho nền dân chủ.

Thứtư, chế độ bầu cửchịu sựchi phối, tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội. Một quốc gia kém phát triển, thu nhập đầu người còn thấp, khócó thể nói tới việc áp dụng những mô hình bầu cử tốn kém, hoặc tổ chức nhiều

cuộc bầu cửtrong một thời gian ngắn… Ngoài ra,các đặc điểm về đạo đức,tập

quán, truyền thống của dân tộc, tính chất, trìnhđộ dân chủ…cũng cần được cân nhắc, xem xét khi thiết kế,xây dựng chế độ bầu cử.

Các yếu tố khách quan

Trong bất cứxã hội nào, nói đến bầu cửlà nói đến dân chủ. Bản thân bầu cửđãhàm chứa dân chủ, vì bầucửlàsựlựa chọn và ủy thác quyền lực của cửtri cho người đại diện. Nhưng làm sao để sự lựa chọn và ủy thác đó diễn ra như đúng bản chất của nó? Làm sao để các cuộc bầu cửcó vai trò đúng như“nhữngtrục khuỷu trung chuyển từquyền lực của hàng triệu chủ nhân thành

28

quyền lực của chính quyền”? Đây là câu hỏi đã đặt ra qua nhiều thời đại và con người vẫn đang trong hành trình tìm kiếm để tìm ra những cách thức, những bộtiêu chí khả dĩ nhất để đáp ứng mục đích đó.Mặc dù mỗi nước đều có chế độ bầu cửriêng với những đặc thù nhất định, nhưng cần khẳng định rằng, một chếđộ bầu cửdân chủ, trước hếtchế độbầu cửđó cần tuân theo các chuẩn mựcđược nhiều quốc gia dân chủ trên thế giới thừa nhận.Bầu cửtựdo, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp,định kỳvà bỏ phiếu kín có thể được coi là sự“tích hợp” những“tinh hoa”của loài người về bầu cử; nó được tranh luận,đúcrút vềlýluận trên rất nhiều các diễn đàn khác nhau, được kiểm nghiệm trong thực tiễn bầu cửởphạm vi nhiều nước,nhiều khu vực trên thế giới, qua nhiều thời kỳ. Một chế độ bầu cửtuân theo những nguyên tắc đó là tuân theo những chuẩn mực tốt nhất để kết quả bầu cửphản ánh đúng ý chí của nhân dân trongbầu cử.

Việt Nam đã gia nhập nhiều Công ước quốc tế, nhưCông ước quốc tế vềcác quyền dân sựvà chính trị(gia nhập 24/9/1982), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (gia nhập 24/9/1982), Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xửvới phụ nữ(gia nhập 19/3/1982). Quốc hội nước ta là thành viên của Liên minh nghị viện thế giới (IPU) [113-tr.1]. Ngày 26/3/1994, tại Paris, tại phiênhọp lần thứ154, Hội đồng Liên minh nghị viện thế giới đã thông qua Bản tuyên bố về tiêu chuẩn cho bầu cửtựdo và công bằng (The Declaration on Criteria for Free and Fair Elections) [193]. Do vậy, tiến trình hội nhập ở nước ta nói chung, việc sửa đổi, bổ sung pháp luật bầu cửnói riêng trong thời gian tới không thể không xem xét các qui định của Bản tuyên bố này. Với tính chất làtổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh, Liên hợp quốc và các cơ quan của Liên hợp quốc đã ban hành nhiều văn kiện và tiến hành những hoạt động cụ thể để thúc đẩy,khuyến khích các quốc gia trên thếgiới mở rộng việc thực hiện và mở rộng bầu cử tự do và công bằng. Rất nhiều các Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc như Nghị quyết 43/157(1988) “Nâng cao hiệu quả của bầu cửđịnh kỳ và trung thực”,Nghị quyết 46/130

(1991) “Tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộcủa các nước trong quá trình bầu cử”,Nghị quyết 49/190 (1994) “Tăng cường vai trò của Liên hợp quốc trong việc nâng cao vai trò của bầu cử định kỳ,trung thực và mởrộng dân chủ”, Nghị quyết 58/189 (2003) “Tôn trọng chủquyến quốc gia và tính đa dạng về dân chủ là một biện pháp quan trọng khuyến khích và bảo vệ quyền con người”.Các Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc, như Nghị quyết (A/RES/60/164 năm 2006) về “Tôn trọng những nguyên

29

tắc chủ quyền quốc gia vàsự đadạng trong hoạt động bầu cử như mộtyếu tốquan trọng bảo vệ quyền con người”[255], Nghị quyết (A/RES/60/162 năm 2006) “Tăng cường vai trò của Liên hợp quốc trong việc nâng cao hiệu quả của bầu cửđịnh kỳ,trung thực và mở rộng dânchủ” [256]. Liên hợp quốc cũng xuất bản nhiều cuốn sách, bản hương dẫn nhằm thúc đẩy dân chủ và bầu cử, như“Quyền con người và bầu cử” (1994) [ 251],“Phụ nữvà bầu cử” (2005)

[252],“Thúc đẩy sựtham gia của phụ nữ vào bầu cử” [253]…

Phát biểu trước Đại hội đồngLiên hợp quốc ngày 27/9/2007 tại New York, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định “Việt Nam ý thức sâu sắcvềvinh dự to lớn và trách nhiệm nặng nề của cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, nếu được bầu vào cương vị này, Việt Nam thực hiện các nguyên tắc đề ra trong Hiến chương Liên hợp quốc, và sẽ làm hết sức mìnhđểđóng góp vào việc thực hiệnsứmệnh caocảcủa Hội đồng Bảo an”.Sau khiđược bầu làm thành viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệmkỳ 2008-2009, Thủ tướngtiếp tục khẳngđịnh “Các quyết định và nghịquyết của Hội đồng Bảo an đều có tính chất ràng buộc và tất cả các thành viên của Liên hợp quốc và các nước không là thành viên của Liên hợp quốc đều phải tôn trọng và thi hành” [12]. Quan trọng hơn, sau sự kiện này, Việt Nam sẽcó trách nhiệm và chủ động tham gia đầy đủ vào các hoạt độngkiến tạo, xây dựng những quyết định quan trọng của HộiđồngBảo an liên quan đến các vấnđề hòa bình và an ninh của các khu vực và trên toàn thế giới. Trong tháng 7/2008, Việt Nam nhận trọng trách là Chủ tịch Hội đồngBảo an.Để hoàn thành tốt các trọng trách này, Việt Nam cần chủ độngquán triệt tôn chỉ,mụcđích, các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc,vấn đềbảo vệ quyền con người, trongđó có bầu cửtiến bộ và công bằng.

Tóm lại, chế độ bầu cử của bất cứ quốc gia nào đều chịu sự tác động của các yếu tố chủ quan và các yếutố khách quan. Một mặt, chế độ bầu cửđược qui định bởi bản chất của chế độ chính trị, các đặc điểmvềlịch sử,văn hóa, truyền thống. Mặt khác, chế độ bầu cửcần tuân thủ các nguyên tắc của bầu cửtiến bộ và công bằng. Chế độ bầu cử càng chokết quảtiệm cận ý chí của nhân dân, tính dân chủ của nó càng cao. Do vậy,đểhướng tới dân chủ, các quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng cần thiết kế,xây dựng chế độ bầu cửvừa phùhợp với điều kiệncủanước mình, vừa tuân thủ các nguyên tắcbầu cử tiếnbộ, công bằng mang tính phổ biến trên thế giới hiện nay.

1.1.3. Vai tròcủa chế độ bầu cử

30

1.1.3.1. Bầu cử là hoạt động hợp pháp hóa (Legitimacy) chính quyền

Tuyên ngôn quốc tếvề quyền conngười1948 của Liên hợp quốcđãkhẳng định “Nền tảng uy quyền của các quyền lực công cộng là ý chí của nhân dân; ý chí này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử thường kỳ và chân thực,được tổ chức theo nguyên tắc bìnhđẳng,phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cửtựdo tương đương” (Điều 21). Côngước quốc tế về các quyền dân sựvà chính trị trịnh trọng tuyên bố “Mọi công dân,

không có bất kỳ sự phân biệt nào… và không có sự hạn chế bất hợp lý nào,đều có quyền và cơ hội để: a) Tham gia vào việc điều hành các công việc nhà nước mộtcách trực tiếp hoặc thông qua những người đại diệnđược họtựdo lựa chọn; b) Bầu cửvà ứng cử trong cáccưộc bầucửđịnh kỳ chân thực, bằng phổthông đầu phiếu, bìnhđẳng và bỏphiếu kín nhằm đảm bảo chocửtri tự do bày

tỏ ý nguyện của mình” (Điều 25). Hiến chương Paris cho một châu Âu mới tuyên bố: “Ý chí của nhân dân thông qua bầu cửtựdo, công bằng và định kỳ lànền tảng cho một nhà nước dân chủ” [145].“Ý chí của nhân dân thông qua bầu cửđịnhkỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm quyền và tính hợp pháp của quyền lực nhà nước” là khẳng định của Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE) [146].Điều 4, Hiến pháp Cộng hòa Pháp ngày 4/10/1958 quiđịnh “Các đảng phái và các tổ chức chính trị tranh giành quyền lực qua kết quả bầu cử”.

Trong xã hội dân chủ, ý chí của nhân dân là nền tảng của quyền lực nhànước; bằng bầu cử, nhân dân lựa chọn, thành lập ra cơ quanđại diệnvà ủythác quyền lựccho họ.Cơ quan đại diện nhận quyền lựctừnhân dân và thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực (chủ quyền nhân dân) trong bộ máy nhà nước. Chính vì lẽđó,chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử tiến bộ, công bằng là quyền lực hợp pháp,được cộngđồngquốc tế công nhận.

Lịch sử phát triển của nhà nước trên thế giới đã trải qua nhiều cách thức tổ chức chính quyền mà không qua bầu cử. Dân chủ xét dưới góc độ tổ chức bộmáy nhà nước có nghĩa là nhân dân chính là chủ thể của quá trình tổ chức. Do vậy, các phương thức tổ chức không thể hiện bản chất đó như truyền ngôi thế

tập, dùng bạo lực…có xu thế chuyển sang bầu cử.Trong thế giới hiệnđại, chính quyền thành lập không qua bầu cử, như bằng đảo chính quân sự, bất luận dù nhằm mục đích gì (kể cả được coi là chính đáng, như chính quyền quá thối nát), thường không được các quốc gia, các tổ chức quốc tế công nhận, hoặc có chăng thì sựthừa nhận hết sức dè dặt. Ngược lại, một chính quyền do người

31

dân thành lập thông qua bầu cửtheo những nguyên tắc tiến bộ: tựdo, công bằng và trung thực, thì về nguyên tắc, chính quyền đó được coi là hợp pháp vàđược thừa nhận của cộngđồngquốc tế.

Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, trong một hệ thống chính trịdân chủ, không gì có thay thế được những cuộc bầu cử đại chúng có vai trò hợp pháp hóa quyền uycủa người đại diện.Chức năng thiết yếu của các cuộc bầu cửlà hợp pháp hóa uy quyền công cộng và cung cấp những đại biểu dâncửvới một sựuỷ nhiệm quyền lực đặc biệt [250-tr.115]. Chế độ bầu cửđược coi là“Phương thức chính thống thay đổiquyền lực nhà nước” [30-tr.347]. J.Locke cho rằng chính quyềnđược tạodựng trên cơsở sựbằng lòng của dân chúng; hành động của chính quyền không được sự đồng lòng của dân chúng là không có giá trị hay không được uỷ quyền.

Sự hậuthuẫn củacửtri càng lớn, việc thực hiện quyền lực của cơ quan dân cửsẽ càng thuận lợi [99-tr.143]. Cuộc bầu cửcàngđảmbảo chế độ phổ thông đầu phiếu,cửtri tham gia bầu cử càng đông, ứng cử viên hoặc đảng phái chính trị trúngcửđạt độ tín nhiệm càng cao, càngđảmbảo tính chính đáng. Cũng thật dễ hiểu, những cơ quan, những chức danh do nhân dân trực tiếp bầu ra bao giờtính “chính danh” cũng cao hơn các cơ quan được thành lập gián tiếp, vì tấn phong của nhân dân tạo vị thế vững chắc cho họ: họ là người đại diện cho nhân dân, nhận được quyền lực trực tiếp từchính nhân dân.Về nguyên tắc, những cơ quan do nhân dân bầu ra, thì phải do nhân dân phế truất

(Trong trường hợp cần xử lý kịp thời,thủ tụcthực hiện cần chặt chẽ và thuờng kết hợp những hình thức nhất định để đảm bảo ý chí của nhân dân). Và cũng vậy, các cơ quan được thành lập từ cơ quan đại diện thường được gọi là những cơ quan phái sinh từ nhân dân.

Mặt khác, cũng cần thấy rằng không phải tất cả các cuộc bầu cửđều tạo tính hợp pháp, tính chính đáng cho quyền lực nhà nước. Nếu như các cuộc bầu cửkhông phản ánh ý chí của nhân dân thì bầu cửchỉ là “vỏ bọc” được mượn đểhợp thức hóa chính quyền. Không phải ngẫu nhiên, cộng đồng tiến bộ quốc tế, bằng nhiều biện pháp khuyến khích các nước mở rộng bầu cửtựdo, công bằng, cạnh tranh, để thúc đẩy quá trình dân chủ hóa,vì đólà cách thức tốt nhất để các cuộc bầu cửphản ánh đúngđắn nhất,trung thực nhất ý chí của nhân dân. Vìsựchặt chẽ, tính thống nhất và sựràng buộc của pháp luật quốc tế đối với các quốc gia còn ở mức độ nhất định, trong khi đó, các cuộc bầu cửở mỗi nước là do pháp luậtcủa nước đóqui định, do vậy, không dễ dàng để có tiêu chí thống

32

nhất về bầu cử tựdo, công bằng đối với các nước. Tuy nhiên, các cuộc bầu cửkhông tuân thủ các nguyên tắc bầu cửtiến bộ,như khôngđảmbảo phổ thông

đầu phiếu (như bầu cử chỉ dành cho nam giới…),hạn chế tựdo (như khủng bố,

ám sát các ứng cử viên…), không đảm bảo bình đẳng, công bằng (như tìm mọi

cách loại bỏ ứng cử viên, gian lận phiếu…), hay các biểu hiện bất minh hạ thấp

vai trò của cửtri…khó có thể được coi là các cuộc bầu cửđúngđắn,chân chính. Do đó,tính chính đáng của chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cửnhưvậy là một vấn đề cần được xemxét.

Ở Việt Nam, ngay sau khi mới được thành lập, chính quyền cách mạng phải đối phó với một tình thế hết sức khó khăn. Chính phủ lâm thời long trọng tuyên bố với thế giới: nước Việt Namđã trởthành một nước tựdo,độc lập. Chính phủnước Việt Nam dân chủcộng hòađã rađời,song chưa được một quốc gia nào trên thế giới công nhận [95-tr.27]. Mặc dù trongđiều kiện thùtrong, giặc ngoài, tình hình chính trị, kinhtế,xã hội hết sức khó khăn,tạiphiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãchỉ ra rằng “Phải bầu ngay Quốc hội, càng sớm càng tốt. Bên trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế độ mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được”,“Chỉ có Tổng tuyển cửmới để cho dân chúng có dịp nói hết những ý muốn của họ và chỉ có Chính phủ

lập ra bởi Tổng tuyển cửmớilà đại diện chân chính và trung thành của toàn thể quốc dân. Sau hết cũng chỉ có Tổng tuyển cử mới có thể cấp cho nước Việt Nam một Hiến pháp, mới ấn định rõ ràng quyền lợi của quốc dân và Chính phủmới phá tan được hết những nghi ngờởtrong cũng nhưởngoài với chính quyền nhân dân” [66-tr.133].

Thắng lợi Tổng tuyển cửđánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra triển vọng của một thời kỳ mới,thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội mới, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý đểđại diện cho nhân dân Việt Namvề đối nội và đối ngoại. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có tính chất hợp pháp, dân chủ – Nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng tráchđiều hành đấtnước,tổ chức toàn dân kháng chiến và kiến quốc, giải quyếtmọiquan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế [69-tr.103].

Sau chiến thắng 30/4/1975, đất nước thống nhất, để thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc

33

(từ15-21/11/1975) đã quyết định tổ chức Tổng tuyển cử trên toàn bộ lãnh thổViệt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho cả nước. Quốc hội sẽ xác nhận thể chếnhà nước,bầu ra các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và qui định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất. Do vậy, Quốc hội khóa VI do nhân dân cảhai miền Nam, Bắc bầu ra (vào ngày 25/4/1976) là người đại diện hợp pháp cho toàn thể nhân dân Việt Nam.

Tóm lại, nhữngcuộc bầu cửtheo những chuẩn mực hiện đại tự do, tiến bộ và công bằng tạo tính hợp pháp và chính đáng nhất cho cơ quan đại diện vàcho bộ máy nhà nước.

1.1.3.2. Chế độ bầu cửlà yếu tốquan trọng ảnh hưởngđến cơ chếchính trị, cơ chế hoạt động của cơ quanđại diện

Chế độ bầucửlà một trong nhữngyếutố quan trọng tácđộngđếncơchế chính trị (tức là tác động đến vai trò,sựtương tác,ảnh hưởngqua lại giữa các thực thể chính trị trong thể chế chính trị và bộ máy nhà nước), nhất là mứcđộ tranh luận (cạnh tranh) của Nghị trường. Trong cơ chế chính trị đa đảng, chế độbầu cửthậm chí được coi là côngcụ tác độngmạnh mẽ nhất đối với chính trị, vì nó không những quyết định cách thức chuyển hóa từ những lá phiếu của cửtri thành các“ghế” trong cơ quan lập pháp, quyết định ai, đảng phái nào sẽđược bầu chọn, mà còn quyết định quyền uy, sức mạnh của các đảngphái chính trị.Sựlựa chọn chế độ bầu cửcó vai trò rất quan trọng trong việc hình thành chế độ song đảng hay nhiều đảng phái chính trị. Sự liên hiệp hay không liên hiệp, mức độ liên hiệp của các đảngphái chính trị trong việc thành lập Chính phủ và mức độ ổn định của Chính phủ trong việc điều hành đất nước,đều do sựtác động và quyết định trực tiếp từchế độ bầu cử. Bên cạnhđó,chếđộ bầu cửcòn tác động mạnh mẽ đến tổchức, kỷ luật (chặt chẽ hay lỏng lẻo) trong nội bộ các đảngphái chính trị. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chế độbầu cửcó tácđộngrấtlớn đếncơ chế, hoạtđộng của cácđảng phái chính trịtrong thể chế chính trị; thậm chí nó quyết định các đảngphái chính trị “phân mảnh” thành hai đảngphái chính trị lớn hay thành nhiều đảngphái chính trị[206-tr.115-127].

Các chế độ bầu cửtheo đa số,nhất là áp dụng đơn vị bầu cửmột đại diện thì hệ thống chính trị thường có hai đảngchính trị lớn chi phối đời sống chính trị ở quốc gia đó. Anh và Hoa Kỳ là những ví dụ điển hình cho nhận định này. Chính vì vậy, John F. Bibby,mộtnhà khoa học chính trịhàng đầu ở Mỹ

34

cho rằng: hệ thống bầu cử một đại diện tạo ra động cơ để hình thành hai đảng với cơsởrộng, có khả năng giành đa số phiếu ở khu vực bầu cử, làm cho cácđảng nhỏ hơn và đảng thứ ba hầu như phải chịu thất bại. Đây làmột đặcđiểm rất quan trọng của hệ thống chính trị Anh, Mỹ, “vì cạnh tranh giữa hai đảng làmột trong nhữngđặc điểmnổi bật và bền vững nhất tronghệ thống chính trịHoa Kỳ.Kể từ1860, các thành viên của ĐảngCộng hòa và Dân chủ đã chi phối nền chính trị bầu cử.Thành tích vô địch này của hai đảngtrong việc chi phối nền chính trị bầu cửcủa mộtquốc giađã phản ánh những công đoạn cótính cơ cấu của hệthống chính trị cũng như nhữngđặc điểm nổi bậtcủa cácđảngphái chính trị Hoa Kỳ” [20-tr.4].

Chế độ bầu cử áp dụng phương pháptỉ lệ thường tạo ra một Nghị viện và thể chế chính trị nhiều đảng. Các đảng nhỏ cũng có thể có đại diện, thậm chícác ứngcửviên tự do cũng có thể có mặt trong Nghị viện [156-tr.115].

Ngoài ra, chế độ bầu cửcó vai trò quan trọng trong việc tạo ra “hình dáng” của Nghị viện,“diện mạo” của Chính phủ và tác động đến các thiếtchếkhác của bộ máy nhà nước [142-tr.1-14], [201-tr.85-111]. A. Lijphart, một trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng, tác giả của nhiều cuốn sách về chính trịvà bầu cửđã viết rằng“Lựa chọn chế độ bầucử,đặc biệt giữa việc lựa chọn bầu cửđa số hay bầu cử theo đại diện tỉ lệ là vấn đề quan trọng trong tất cảcác định chếtạo thành nềndân chủ”[204-tr.208], hay theo Giovanni Sartori “Bầu cửlà công cụ điều khiển mạnh mẽ nhất của chính trị” [206-tr.191].

1.1.3.3. Chế độ bầu cửdân chủ là phương thức cạnh tranh để nhân dân chọn lựa đường lối hợp lòng dân

Bầu cửnhư một cuộc trưng cầu ý dân về quan điểm,chủ trương,vềnăng lực của các đảngphái chính trị và của các ứngcửviên tranh cử.Người Anh coi bầu cửnhư một “trò chơi chính trị” trong việc hướngđến quyền lực nhà nước.Cửtri là trọng tài, thông qua những lá phiếu quyết định thắng thua trong cuộc chơi đó.Muốn thuyết phục cửtri, các đảngphái, các lực lượngxãhội, các ứngcửviên trước hết cần xây dựngđườnglối chính trị hợp lòng dân.Đảngphái nào,ứng cửviên nào thu phục được niềm tin của cử tri nhiều nhất, sẽ thắng cử. Chế độ bầu cửchỉ là công cụ để nhân dân quyếtđịnh sự thắng bạiđối với các đối thủ trong cuộc chơi đó.

Việc cạnh tranh để tìm ra một đường lối chính trị hợp lòng dân phải lànhững giải pháp tổng thể, mang tính lâu dài và toàn diện,chứkhông đơn thuần

35

chỉ là lời “hứahão” chỉ lấy lòngcửtri khi bỏ phiếu, như một chính trị gia người Ý đã từngnói [148-tr.1]. Để thuyết phục niềm tin của nhân dân, các đảng phái chính trị không những cần thu phục cử tri trong chiến dịch vận động tranh cử,mà quan trọng hơn “lời hứa” đó cần được thực hiện sau khi đắccử.Nếu không như vậy, ngoài việc cử tri phản đối họ, khi hết nhiệm kỳ,cửtri sẽ “sửa sai” và dồn phiếu cho các lực lượng đối lập. Chính vì vậy,bầu cử địnhkỳ (cơquan dân cửcó nhiệmkỳhợp lý)sẽ làmộtnguyên tắcquan trọng, không những nó đảm bảo việc tạo ra cơ chế để nhân dân chọn lựa đường lối phù hợp với nguyện vọng của mình, mà còn là biện pháp quan trọng đảm bảo tính khảthi trong việc thực thi đường lối, chính sách mà các đảng phái, các ứng cử viên “đã hứa” trong bầu cử. Mặt khác, chính các đảng phái chính trị, các lực lượng tranh cử, các chính khách hiểu rõ hơn ai hết, chính trị cũng giống như luật đời: việc gây dựng niềm tin đã khó, nhưng việc giữ, duy trì niềm tin còn khó hơn nhiều.

Chế độ bầu cửtiến bộ công bằng không những tạo sân chơi cạnh tranh lành mạnh trong việc thu phục niềm tin của cử tri, tạo ra một cơ chế ganh đua giữa các đảngphái, các lực lượng, các ứngcửviên để tìm ra một đườnglối chính trị hợp lòng dân, mà nó cần phải đo đúng, chuyển hóa đúngýchí của nhân dân thành kếtquả bầucử. Nếuxét về bản chất, những cuộc bầu cử trung thực, diễn ra trong dân chủ, theo những nguyên tắc tiếnbộ,công bằng sẽ làthước đo đánh giá ý chí của nhân dân đối với các lực lượng tranh cử; xét về kỹthuật chuyển hóa, chế độbầu cửphải có khả năng phản ánh đúng ý chí của nhân dân, phải trao quyền lực cho đúngđối tượngcần trao mới là chế độ bầu cửdân chủ (Chẳng hạn, vì công thức tính kếtquả rối rắm hoặc không hợp lý, những ứng cử viên, hoặc đảng phái chính trị nhận được ít phiếu hơn lại thắng

cử, thì chế độ bầu cửđó đã cho kết quả không đúng với ý chí của nhân dân…). Bầu cửtự do và công bằng chính là phương tiện người dân sống trong một nền dân chủ quyết định cơ cấu chính trị và định hướng chính sách tương lai của chính quyền quốc gia [247].

1.1.3.4. Chế độ bầu cửdân chủ, có địnhkỳ là công cụ quan trọng để nhân dân giám sát quyền lực nhà nước,chế ngựsự tha hóa, lạm quyền của quyền lực nhà nước

Nhà chính trị học Italia Norberto Bobbio nổi tiếng gọi Nghị viện trong những năm đầu thếkỷ hai mươi là thiết chếcủa “những lời hứahão”,vì sựquan liêu, xơ cứng mang tính phổ biến của thiết chế này và thường xảy ra sự

36

trái ngược giữa “cái được hứa và sự thật hiện hữu” [148-tr.1]. Nhiều biện phápđược áp dụngđể giải quyết nghịch lý này, trong đó bầu có vai trò quan trọng, thậm chí, có ý kiến cho rằng đây là hình thức giám sát quan trọng nhất đối với cơ quan và đại biểu dân cử[99-tr.140].Về bản chất, bầu cửkhông những làcon đường kiến thiết chế độ đại diện mà nó cũng chính là phương thức để nhân dân dỡbỏ những người đại diện. Bản chất của bầu cửlà lựa chọn người đại diện và trao quyền của họ cho người đại diện, thì họ (nhân dân) phải có quyền phế truất và rút lại quyền lực từngười đại diện,nếu họ không còn sự tín nhiệm của nhân dân.

Do vậy, để nhân dân giám sát,hạn chế sựtha hóa,lạmquyền của quyền lực nhà nước có hiệu quả nhất, đồng thời với bầu cử, nhân dân phải có quyền phế truất đại biểu dân cử.Vì vậy, chúng tôi cho rằng nên qui định việc cửtri bãi nhiệm đại biểu dân cử bằng mộtđạoluật bên cạnh luật bầu cử, hoặc có thể

thiết kế cùng với các đạo luật về bầu cử, như cách thức chúng ta qui định trong các bản Hiến pháp. Tuy nhiên, khi xây dựng luật bầu cử,chúng ta đã không quan tâm nhiều về vấnđề cử tribãi nhiệm (trừ Luậtbầu cử đạibiểu Hội đồng nhân dân 1983, Luật bầu cửđại biểu Hội đồngnhân dân 1989. Bên cạnh đó, việc trì hoãn cơ chế bãi nhiệm là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoạt động chưa thực sự hiệu quả, vì khi đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ra,các đại biểu cứ“yên vị” đến hết nhiệm kỳ mà không có cơ chế thực sự hữu hiệu để nhân dân phế truất. Điều đó làmgiảm hiệu quả giám sát; nhân dân không thể phế truất khi đại biểu tha hóa, biến chất, hoặc không cònsựtín nhiệm của nhân dân, mặc dù họdo nhân dân bầu và nhận quyền lực từ nhân dân. Niềm tin của cử tri gửi gắm vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân là yếu tố quan trọng tạo nên sự gắn kết giữa các thiết chế dân cử với nhân dân. Tuy nhiên, quan trọng không kém là cần có cơchế để nhân dân “trói” nhà cầm quyền thực hiện ý chí nguyện vọng của mình, “buộc” họ phải “cần,kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Không nên phó thác theo kiểu “maynhờ, rủi chịu”,phụthuộc hoàn toàn vào lòng tốt của người cầm quyền. Nhân dân ủy quyền nhưng khôngmấtquyền.Đó là vấn đề mang tính nguyên lý đảm bảo cho sự vận hành của dân chủ đại diện, theo tư tưởng của Lênin. Ngoài ra, việc chậm trễ xây dựng cơ chế cử tri trực tiếp bãi nhiệm đại biểu dân cử là một nguyên nhân không nhỏ dẫn đến việc xem nhẹ vai tròcủa chếđộbầu cửở nước ta. Do vậy,cần đổi mới chế độ bầu cửtheo hướng coi việc bãi nhiệmđại biểu dân cửlà một vấn đề không thể tách rời với hoạt độngbầu cử.

37

Bên cạnh đó, bầu cử định kỳ có ý nghĩa quan trọng để nhân dân giám sát quyền lực nhà nước,chế ngựsựtha hóa, lạm quyền của quyền lực nhà nước:

Thứnhất, làm cho các lực lượng tham gia tranh cử, cácứng cửviên phải thực hiện lời hứa với cửtri,bởinếu không, khi nhiệmkỳ kết thúc,cửtri không những không bầu cho họ, mà còn dồn phiếu cho các lực lượng đối lập.Thứhai, bầu cửcóđịnhkỳ là phương thức tốtnhất để đảmbảotính đạidiện (về mặt hoạt động) của cơ quan dân cử.Làm sao để cửtri bầu lại là phương thức tốt nhất để đảm bảo chức năng đại diện của các nghị sĩ [39-tr.20].Thứba, bầu cửđịnh kỳ có tác dụng như một chiếc “van” an toàn để nhân dân lựa chọn ngườiđại diện mới, khi các đại biểu dân cửkhông còn sựtín nhiệm của cửtri,đặc biệt đối với các nướctheo chếđộ đại nghị, nơi nghị sĩ không bị cửtri bãi nhiệm, hoặc đối với nhữngnước,đại biểu dân cửcó thể bịcửtri bãi nhiệm, nhưng chưa xây dựng cơ chế bãi nhiệm, hoặc cơ chế này chưa thực sự có hiệu quả. Do vậy, không nên qui định nhiệm kỳ quá dài cho cơ quan dân cử. Ngoài ra, bầu cử định kỳ còn là biện pháp “thay máu” cơquan dân cử – yếu tố mang tính tiền đề cho sự đổi mới và phát triểncủa bộmáy nhà nước.

1.1.3.5. Chế độ bầu cử dân chủ là chìa khóa xây dựng đồng thuận xã hội, làphương thức quan trọng để giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội bằng phương pháp hòa bình

Bầu cửlà chế định trung tâm của dân chủ đại diện, vì trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước được hình thành dựa trên sựnhất trí của người dân. Cơchế để chuyển sựnhất trí đó thành quyền lực nhà nước là bầu cửtiến bộvàcông bằng. Chức năngđại diện là trung tâm, quyết định sựtồn tại, phát triển của các thiết chế đạidiện, đúng như tên gọi của nó. Nếu chức năng đại diện không được đảm bảo thì các chức năng khác, như chức năng lập phápsẽ bịảnh hưởng, thậm chí biến dạng, vì khi đó Hiến pháp, luật và các quyết sách khác của các cơ quan đại diện có thể phản ánh không đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Suy cho cùng, cơ quan dân cử với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận trong xã hội, là những thiết chế cósứmệnh hòa giải thông qua bàn luận,đối thoại, thậm chí thỏa hiệp [148-tr.1]. Chính vì vậy, nhiều chuyên gia về bầu cửtrên thế giới cho rằng, một trong những tiêu chuẩn hàngđầu của một chế độbầu cửlà cần thiết kế sao cho nó phản ánh hợp lý tính đại diện cơ cấu xãhội mà nó tồn tại [142-tr.9], [156-tr.9], [207-tr.10].

Đi tìmsựđồngthuận xã hội là đi tìm tiếng nói chung của các chính đảng,các lực lượng, các giai cấp, các sắc tộc, các tín ngưỡng, các bộ phận

38

trong cơ cấu xã hội. Thông qua bầu cử,tiếng nói chungđó được chuyển hóa thành cơ quan đại diện. Quốc hộilà “tấmgương phản chiếu dân tộc” (mirro of the nation), cơ quan dân cửở địa phương, là “tấmgương” phản chiếu các tầng lớp nhân dân ởđịa phương. Chính vì vậy, Quốc hội được nhân dân trao cho chức năng lập pháp. Thông qua hoạt động lập pháp,sựđồngthuận đó được cơquan đại diện chuyển hóa thành pháp luật, các quyết sách của nhà nước.Nhàkhai sáng kiệt xuất Jean Jacques Rouseau đã từng viết: “Lập pháp là đỉnh cao nhất của sự hoàn thiện mà sức mạnh tập thể có thể đạt tới” [51-tr.72]. Montesquieu cũng cho rằng“Trong một nước lớn thì không thểmỗicông dânđều làm việc lập pháp, trong một nước nhỏ việc này cũng rất khó khăn, cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm các việc mà các cá nhân không thể tự mình làm lấy” [65-tr.104]. Các cá nhân chọn lựa những người đại diện cho mình trong việc lập pháp, xã hội đươngnhiên cần đến bầu cử[99-tr.48, 49]. Chế độ bầu cửcó vai trò kiến tạo nền tảng để tạora sức mạnh tập thể, là cơchếchủ yếu để chuyển hóa sự đồng thuận xã hội thành quyền lực của chính quyền [244-tr.19]. Các quyết sách của cơ quan đại diện phản ánh “mẫu số chung” lợi ích của các nhóm xã hội. Mặc dù không tồn tại các mâu thuẫn mang tính đối kháng như trong xã hội tư sản, nhưng cần khẳng định rằng, do sự khác biệt về nhận thức,về kinh tế, về nhận thức chính trị, về tư tuởng, ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, ở Việt Nam nói riêng trong thời kỳ quá độ, xã hội cũng luôn tồn tại những mâu thuẫn và đócũng là vấn đề mang tính tất yếu. Có chăng, sự khác nhau giữa các xã hội, các nhà nước, là tính chất,mức độcủa những mâu thuẫn đó. Vì vậy, trong bấtcứnhà nước và xã hội nào, việc tìm kiếm một cơ chế hữu hiệu và kịp thời để giải quyết các mâu thuẫn xã hội luôn là vấn đề quan trọng, là nhiệm vụ cơ bản của nhà nước và của cả hệ thống chính trị.

Lý luận và thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra rằng, có hai phương thức cơ bản để giải quyết mâu thuẫn, xungđột xã hội: phương pháp bạo lựcvà phương pháp hòa bình.Bầucửlà cách thức giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội và chuyển giao quyền lực bằng biện pháp hòa bình. Lý luận đã chỉ rõ và thực tiễn trên thế giới cũngđã kiểm nghiệm rằng,ởnhiều quốc gia sau những khủng hoảng chính trị, xung đột hoặc những biến cố xã hội,đểthiết

lập và xây dựng nền dân chủ, một trong những việc cần tiến hành là tổ chức tuyển cử.Như thế, bầu cửlà phương thức không tiếng súngđể hòa hợp dân tộc, giải quyết xung đột giai cấp, mâu thuẫn xã hội và những bất ổn xãhội

39

khác. Nhưngđó chưa phải là ưu thế lớn nhất của bầu cửso với phương pháp bạo lực, mà quan trọng hơn là ở chỗ: không như phương pháp bạo lực, giai cấp bị khuất phục sẽ“nằm đợi” để “chờthời” và luôn “tìmmưu tính kế” để giành lại “vinh quang đã mất”; điều đó có nghĩa là: giai cấp chiến thắng phải đối mặt với đầy rẫynhững mâu thuẫn và những bất ổn xã hội; ngược lại, kết quả của bầu cử“cho ra” một“mẫu số chung” được “qui đồng” – là nền tảng vững chắc cho sự hòa hợp và phát triển của cả một quốc gia, dân tộc, thậm chí châu

lục và trong tương lai, có thể sẽcòn ởphạm vi lớn hơn. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, nếu bầucửđược tiến hành trongđiều kiện bạo loạn, có sựgian lận,dốitrá trong bầu cử, niềm tin của các tầng lớp xã hội,củanhân dân bịsút giảm, hoặc việc lựa chọn một “mô hình” bầu cử không phù hợp, thì bầu cửcó thể lại là “ngọn lửa” thổi bùng các xung đột, các mâu thuẫn của xã hội [142- tr.6], [201-tr.85-111]. Do vậy, không những chế độ bầu cửphải dựa trên các nền tảng của bầucửtựdo, tiến bộ và công bằng, mà nó cần được thiết kế phùhợp với điều kiện,đặc điểm của mỗi thểchế chính trị,mỗidân tộc, mỗi quốc gia và đó là chìa khóa trong việc kiến tạo nền tảng cho việc xây dựng và thực thi dân chủ trong xã hội (Nội dung này sẽ được phân tích kỹ hơn trong mục về Đơn vị bầu cử). Việc thiếtlập một chế độ bầu cửhợp lý đã trở thành một yếu tố trung tâm của chính trị [252-tr.5].

Ở Việt Nam, những ngày đầu sau khi giành độc lập, tình thếhếtsức khókhăn, thù trong, giặc ngoài, nhiều đảng phái chính trị như Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống phá chính quyền cách mạng, chúng dựa vào quân Tưởngchiếm giữmột số nơi, chúng quấy nhiễu, phá phách,cướp của,tống tiền, gây rối loạn trật tựtrị an. Chúng rải truyền đơn, ra báo công khai xuyên tạc chính sáchcủaĐảng,của Việt Minh, đòi loại các Bộtrưởng là đảngviên cộng sản ra khỏi Chính phủ. Một số lực lượng phản động khác cũngnổi dậy ở một số nơi.Chưa bao giờ trên đất nước ta có nhiềukẻ thù đến thế![95-tr.28]. Trước tình hình đó, Chủtịch Hồ Chí Minh đã chủ trương Tổng tuyển cử và sau đó, áp dụng một sốbiện pháp mềmdẻonhư nhượng bộ,dành thêm 70 ghếcho Việt Quốc, Việt Cách.Người nói “Trong lúc toàn thể đồng bào đang tranh đấu thì những đồng chí cách mạng Việt Nam ở hải ngoại không có thì giờ tham gia vào cuộc Tổng tuyển cử của dân ta. Vì thế,muốn tỏsựđoàn kết của toàn dân, Chính phủđã đềnghị với đại hội mởrộng số đại biểu ta thêm 70 người nữa. 70 người ấy là cácđồng chí của Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hộiởhải ngoại mới về nước,và như thế là Quốc hội của ta tỏ cho thế giới, cho

40

toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí, mà đoàn kết nhất trí thì việc gì cũng thành công” [68-tr.295, 296], [106-189].

Rõ ràng, với cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 cùng với sách lược ứng phó khôn khéo, giương cao ngọn cờ đoàn kết, tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc và phương châm “dĩ bất biến, ứng vạnbiến” đầy nghệ thuật, chính quyền không nhữngđược hợp pháp hóa, mà cuộc Tổng tuyển cửcòn là giải pháp mang tính gốc rễ để giải quyết những mâu thuẫn, những xungđột giai cấp,đảngphái của xã hội Việt Nam trong những năm tháng mới giành được độc

lập. Không có phương sách nào tốt hơn bầu cử trong điều kiện “chưa baogiờtrên đất nước ta có nhiều kẻ thù đến thế” để “thu phục thù trong giặc ngoài”. Kể cả chính quyềnlâm thời có đầy đủ sức mạnhvà giả thiết rằng chính quyền cách mạng dùng bạo lực để giải quyết tình hình; nếu như thế, liệu sau đó chúng ta có điều kiện thuận lợi để tập hợp các lực lượngđể đánh Pháp và kiến thiết quốc gia? Các lực lượng đối lập tìm mọi cách chốngphá để cuộc bầu cửkhông thể thực hiện được,vì chúng cũng thừa hiểu tính hợp pháp của chính quyền thông qua bầu cử. Nhưng với khả năng tập hợp, khả năng vận động, khả năng lôi kéo nhân dân của chính quyền cách mạng và quan trọng hơn,bầu cửtựdo là khát vọng ngàn đời của người dân Việt Nam “bỏ được lá phiếu có chết cũng hả dạ”,cuộc bầu cửvẫn được tổ chức.Khi cuộc bầu cử đã được tổ chức trong dân chủ,tựdo, chúng lại tìm cách để trì hoãn và không công nhận. Với sách lược khôn khéo của Chính phủ lâm thời,đứngđầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh như đã nói ở trên, mặc dù không hề mong muốn, các lực lượngđối lập không thể không công nhận kết quả bầu cử. Nhưng vì sao bầu cử lại có vai trò to lớn như thế? Câu trả lời rất đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục là, vì bầucửthểhiện ý chí nhân dân, Nghị viện nhân dân trong cuộc Tổng tuyển cử là sản phẩm của cuộc Tổng tuyển cửthực sựtựdo,thực sựdân chủ, là kết quả của lòng dân, của ý chí dân tộc Việt Nam.

1.1.3.6. Chế độ bầucửlà phong vũ biểu của nhân dân về chính quyền và thể chế chính trị

Bầu cửlà hoạt động thể hiện nhu cầu tự bộc lộ, tự thể hiện về nhãn quan chính trị và hành vi chính trị của người dân.Sựtham gia bầu cử của nhân dân luôn được nhấn mạnh thậm chí nhiều học giả thu hẹp khái niệm dân chủ trong một chế độ bầu cử[241]. Bầu cử được coi là cơ chế tham gia dân chủ có tính hiện thực trong các nhà nước hiện đại.Sựtham gia của nhân dân về bầu cửkhông đơn thuần chỉlà việc bỏphiếu, mà là sựquan tâm của họ đốivới đời

41

sống chính trị. Trong bầu cử, thông qua lá phiếu cử tri trao quyền và đặt niềm tin vào người đại diện để họ thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước. Ngược lại,bầucửcũng có thể là nơi cử tri thể hiện sự phản kháng, sự bất tín nhiệmđối với các ứng cửviên, các đảng phái chính trị hoặc cả hệ thống chính trị.Sự thờơ, lãnh đạm, thất vọng của cử tri với bầu cử và với chế độ chínhtrịlà biểu hiệnsựsút giảm niềm tin của nhân dân vào chếđộ bầucửvà hệ thống chính trị.

Trong các nền chính trị đa nguyên,đa đảng, bầu cửlà dịp các đảng phái chính trị : Một là, xây dựngđường lối, hoạch định chính sách, xácđịnh các mục tiêu của đảng phái mình. Các đảng phái dùng mọi biện pháp, thậm chí cảcác thủ đoạn để tô vẽ,đánh bóng tên tuổi “phe mình” và tìm cách hạ thấp uy tín của các đảng phái, các lực lượng đối lập để thu phục cử tri về mình. Ngoài các nhóm cử tri “truyền thống”, các đảng phái luôn hướngtới sựmở rộng tầm ảnh hưởng, làm dao động nhóm cửtri “ruột”của các đảng phái đối lập,đặc biệtlàđể lôi kéo cửtri trung lập, những nhóm còn dao động“chưa quyết định bỏphiếu cho ai”. Hai là, bầu cử là thời điểm bản thân các đảng phái chính trị chọn lựa những người có uy tín của đảng mình để tranh cử với các đảng phái chính trị hoặc các lực lượngxã hội khác, do vậy nội bộ của các đảngphái chính trịđược “phơi bày” trong các cuộc bầucử.Ba là, Các cuộc bầucửphản ánh tình hình trong nội bộ các đảng phái chính trị, các lực lượng xã hội.Bầu cửcũng làdịp các đảng viên thể hiệnmứcđộ sựtrung thành đảngphái thông qua việc tham gia tuyên truyền, cổ động, vận động, ủng hộ cho đảng phái và các ứng cửviên của đảng phái mình.

Sẽ là thiếu nếu nghiên cứu chế độ bầu cử, khôngđề cập đến niềmtin của nhân dân vào chế độ bầu cử. Nó được coi là “khối óc” của chế độ bầu cử. Đây là yếu tốbên trong, thuộcvề bảnchất, có vai trò mang tính gốc rễ cho sự thành bại của chế độ bầu cử.Trong bầu cử,thông qua lá phiếu cửtri trao quyền vàđặt niềm tin vàongười đạidiện để họthay mặt mình thực hiện quyền lực nhànước.Chính vì vậy,bầu cửkhông những là một cuộc trưng cầu dân ý về quanđiểm, đường lối chính trị, năng lực chính trị của các ứng cử viên, các đảng phái và các lực lượng tranh cử, mà sâu xa hơn, nó là thước đo về niềm tin của nhân dân đối với họ.Kết quả trong bầu cử là hình thức thể hiện chỉ số niềm tin đó. Suy cho cùng,đảngphái nào, lực lượngxã hội nào,ứngcửviên nào chiếm được niềmtin của nhân dân cao hơn,họ sẽ thắngcử. Ở những nước có chỉ số

lạc quan và niềm tin cao, những cuộc bầu cửthường diễn ra theo trật tựvà là

42

một cuộc sinh hoạt chính trị rộng khắp. Cuộc Tổng tuyển cửngày 6/1/1946 ởnước ta là một điển hình. Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đếnthành công trong Tổng tuyển cửngày 6/1/1946 là việc Chính phủ lâm thời,đứngđầu làBác Hồ đặt niềm tin sâu sắc vào nhân dân trên cơsởtôn trọng tự docủacông dân trong bầu cử. Đây là bài học vô cùng bổ ích đối với chúng ta, bởi trongthếnước “ngàn cân treo sợi tóc”,khó khăn chồng chất khó khăn, nhưngĐảngvàChủ tịch HồChí Minhvẫnđặt niềm tin không bờ bến vào nhân dân, vì Người tin rằng, nhân dân Việt Nam có niềm tin mãnh liệt vào Đảng, vào chính quyền cách mạng và họ giao trọn niềm tin cho Chính quyền cách mạng. Đó mới thực sựlà hình thức thể hiện của mối quan hệ biện chứng về niềm tin giữa nhân dân với các thiết chế quyền lực trong một xã hội dân chủ. Hãy liên tưởng để ngheâmhưởngsụcsôi củangày Tổng tuyển cửthuở nào: Tiếng trống, chuông, chiêng… cùng vang dậy khắp Hà Nội, báo hiệu ngày hội Tổng tuyển cửđầu tiên của dân tộc Việt Nam bắt đầu. Tại miền Nam, người dân cũng nô nức tham gia ngày bầu cử theo lời ca giục giã vang khắp mọi nơi:“Hãy ra bầu cử, người công dânnướcNam! Hãy rabầucử,Nghị viện của mình…!”,“Bây giờcóchết cũng hả dạ, vì đã bỏ được lá phiếu góp phần xây dựng nền móng đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho con cháu mình”[106-tr.180]. Rõràng, những âmhưởngcủa niềm tin, hy vọng của người dân theo từng tiếng trống, hòa cùng lời ca, gửi gắm trong từng lá phiếu.Đó thực sựlà Tổng tuyển cửcủa lòng dân; là niềm tin, là hy vọng của người dân vào tương lai của dân

tộc, vào tiền đồ củachính quyền cách mạng. Kết quả bầucửđã chứng minh việc đặt niềm tin đó là hoàn toàn sáng suốt và đúng đắn.Đómới thực sựlà tưtưởng trọng dân, tin dân. Đây là bài học rất có ý nghĩa đối với chúng ta khi bàn về đổi mới chế độ bầu cửtrong giai đoạn hiện nay và đối với hậu thế.

Từthực tiễn tổ chức của các nhà nước trong những năm cuối của thế kỷXX, trong báo cáo về tình hình phát triểnthếgiới 1997, Ngân hàng thếgiới đãđưa ra thông điệp chung cho nhiều nước về việc đưa nhà nước gần gũi với dân hơn, cho người dân có tiếng nói trong quá trình hoạch định và họ khuyến cáo:

Cơ chế dễ nhất và tốt nhất để người dân có tiếng nói chính là hòm phiếu [101].

Tóm lại, vai trò của chế độ bầu cửvới nền dân chủ, với việc thực hiện quyền lực nhân dân được ví như vai trò của nền móng trong việc xây dựng một ngôi nhà. Để có ngôi nhà nguy nga, vững chắc, trước hết cần thiết kế, xây dựng nền móng hợp lý.Chế độ bầu cửcủamỗi nước cần thiết kế phù hợp với chế độ chính trị của nước đó, điều này chẳng khác nào với việc thiết kế nền móng của

43

ngôinhà cần phù hợp với đặc điểm địa chấtcủa mỗi mảnh đất.Tuy nhiên, bất luận trong bất cứ nhà nước và xã hội nào,chế độ bầu cửdân chủ đều phải tuân theo những nguyên tắc bầu cử như tự do, tiến bộ, côngbằng; chế độ bầu cử cần phản ánh đúngýchí của nhân dân trong việc thành lập các cơ quanđại diện như đúng với bản chất vốn có của nó.Điềunày chẳng khác nào trong xây dựng, có rất nhiều mẫu nhà, nhưng tất cả đều phải tuân thủcác “bộ”tiêu chíkỹthuật chuẩn mực mà không thể khácđược,như qui luật về trọng lượng, về lực

gánh, về ánh sáng…Như thế,việc thiết kế một chế độ bầu cửmột mặt phù hợp với thểchếchính trịvà các đặcđiểmcủa quốc gia mình,đồngthời tiếp thu những hạt nhân hợp lý, tiến bộ,mang tính phổ quát của bầu cửtựdo, công bằng là công việc quan trọng hàng đầu đối với bất cứ quốc gia nào, trong đó cóViệt Nam.

1.2. CÁC NGUYÊN TẮCBẦUCỬ

Những nguyên tắc bầu cửtiến bộvà phổ biến hiện nay được nhiều nước trên thế giới áp dụng là: nguyên tắc bầu cử phổ thông, nguyên tắc bầu cử bìnhđẳng, nguyên tắc bầu cử trực tiếp và nguyên tắc bỏ phiếu kín.Mỗinguyên tắc là những định hướng, có ý nghĩa khác nhau trong việc đảm bảo chế độ bầu cử“đúng” là công cụđể chuyểnhóa ý chí của nhân dân thành đại biểu trong các cơ quan đại diện. Nguyên tắc phổ thông đảm bảo sự tham gia rộng rãi của nhân dân trong bầu cử; nó trả lời câu hỏi: Ai chọn và chọn ai? Nguyên tắc bình đẳng đảmbảo giá trị như nhau cho mọi công dân trong bầu cử; nó trả lời câu hỏi: “dân chủ nhân dân” hay “dân chủ đẳng cấp”? Nguyêntắc bầucửtrực tiếp đảm bảo công dân trực tiếp chọn người đại diện,chứkhông phải người khác chọn “hộ” mình; nó trả lời câu hỏi: người dân trực tiếp chọn lựa và trao quyền lực hay phải thông qua người khác? Nguyên tắc bỏ phiếu kín đảm bảo tự do,đảm bảo việc chọn trên phiếu bầu “đúng”với suy nghĩ của họ;nó trả lời cho câu hỏi: làmthế nào để cửtri tự do biểu lộsựlựa chọn của họ trên phiếu bầu?

Những nguyên tắc bầu cửđược thể hiện thông qua các qui định của pháp luật bầu cử, thông qua việc tổ chức thực hiện trong thực tiễn bầu cử ở các nước.Do đó, những nội dung, yêu cầu cơ bản của các nguyên tắc bầu cửđược thể hiện xuyên suốt trong những chế địnhcủa chế độbầu cửvà hoạt động tổchức bầu cửtrong thực tiễn.Đó sẽlà “bộ”tiêu chí để đánh giá đánh giá tính chất,mức độ dân chủ,đánh giá “chất lượng” chế độ bầu cửở các nước.

1.2.1. Nguyên tắc bầu cử phổ thông

44

Nội dung của nguyên tắc này trả lời cho câu hỏi: Ai có quyền bầu cử?Đây là tiêu chuẩnđầu tiênđể đánh giá chế độ bầu cửcó dân chủhay không, bởi lẽ quyền bầu cửlà một trong những quyền chính trị cơbảnnhất của công dân; mặt khác, dân chủ có nghĩa phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân tham gia vào công việc nhà nước, công việc xã hội.Bầu cửphổ thông có nghĩa là bầu cửrộng rãi, mọi công dân đủ điều kiện do pháp luật qui định đều được đi bầu (quyền bầu cửchủ động)và có thể được bầu(quyền bầu cửbịđộng). Nguyên tắc bầu cử phổ thông trước hết phải đảmbảobỏ phiếu phổ thông; tiếp theo, nguyên tắc này đòi hỏi pháp luật bầu cửphải tạo điều kiện rộng rãi cho công dân ứng cử, có thể được bầu vào cơ quanđại diện.

Nguyên tắc bầu cửphổ thôngđược thể hiện: công dân đến tuổi trưởng thành không phân biệt về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,

chính kiến, nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh… đều có quyền bầu cử.Nói chung, quyền bầu cửcàngđược mởrộng cho nhiều người tham gia một cách hợp lý, càngthểhiện mức độ dânchủ của chếđộ bầu cử. Điềuđó có nghĩa là, việc hạn chế quyền bầu cử của công dân phải đảm bảo tính hợp lý và có lý do chính đáng, nhưngườichưa đến tuổi trưởng thành, người mắc các bệnh làm

mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức…Sự hạn chế đó cần qui định chặt chẽ, rõràng trong các văn bản pháp luật,tốtnhất là qui định trong cácđạo luật bầucử. Việc đảm bảo thực hiện quyền bầu cử của công dân (cả quyền bầu cửchủ động và quyền bầu cửbị động) được hầu hết cácnước qui định bằng nhiều biện pháp chặt chẽ,kểcả sựcan dự của tư pháp khi cần thiết.

Mọi qui định của pháp luật hoặc các biện pháp tổ chức thực hiện hạn chế quyền bầu cửhoặc khôngđảmbảo thuận lợi cho công dân trong việc bỏphiếu, trong việc trở thành ứng cử viên mà không vì mục đích chính đáng làm giảm tính dân chủ của chế độ bầu cử.

Thực tiễn sinh động trên thế giới cho thấy quyền bầu cửvà bầu cửphổthông là chặngđườngđấu tranh lâu dài của nhân loại vì quyền con người vàdân chủ [73]. Dân chủ phát triển càng cao, càng hoàn thiện, đòi hỏi sự tham gia của công dân vào tổ chức, hoạt độngcủa nhànước,tham gia vào các vấn đềchính trị ngày càng nhiều. Việcdỡbỏ cácđiềukiện ngăn cản quyền bầucửcủa công dân nói riêng cũng như thực hiện bầucửtiến bộ, công bằng nói chung làxu thế tất yếu của lịch sử. Bầu cử phổ thông ngày càng trở nên thịnh hành hơn trong xu thế dân chủ hóa ởkhắp nơi trên thế giới, nhất là trong thời gian gầnđây.

1.2.2. Nguyên tắc bầu cử bìnhđẳng

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHẾ ĐỘ BẦU CỬ Ở NƯỚC TA NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *