CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

LỜIMỞ ĐẦU

1.Sự cầnthiết của việc nghiên cứu đề tài :

Trongnềnkinh tế thịtrường thất nghiệp mang tính khách quan vàđượcbiểu hiện như một đặctrưngvốncó củanó màngườita chỉcó thểhạnchếchứkhông thể loại bỏ nó ra khỏi đời sống kinh tế – xã hội.

Ở nước ta, tuy mới thực hành kinh tế thị trường nhưng thất nghiệp đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cựcnhiều mặtđến đời sống kinh tế- xã hội, cản trởquá trình công nghiệp hoá – hiệnđại hoáđấtnước.Với tốcđộtăng dân sốnhư hiện nay (khoảng 1,4%/ năm) thìdựtính đến năm 2010 dân số nước ta sẽ có khoảng 85 triệu người, trong đócó khoảng 56 triệu ngườiởđộtuổi lao động, chiếm khoảng 65 % (nguồn: dựbáo dânsố Việt Namđến năm 2010 – Tổng cục thống kê). Cùng với việc tăng dân số thì việc chuyển dịch cơ cấu kinhtế,thay đổi công nghệ, sẽ dẫn đến tình trạng không có việc làm củangười ở độ tuổi lao động ngày càng cao. Vì vậy, thất nghiệp sẽ gia tăng và các nhà xã hội họcdự báo đến từnăm 2010 trở đi. Tuy nhiên, khitỷlệ thất nghiệp ở giới hạn cho phép cũng tạo ra sựcạnh tranh lành mạnhvềlao động,thúc đẩyquanhệlao độngphát triển theo hướngtích cực, tạo ra năng suất chất lượngvà hiệuquảcao.Ngượclại,nếutỷlệthất nghiệp vượt quá giới hạn cho phép sẽ ảnhhưởngkhôngchỉđến kinh tế mà còn ảnhhưởngsâu sắc đến xã hội. Hậu quả kinh tế của tình trạng thất nghiệp phụ thuộc vào những chi phí liên quan đến thất nghiệp, cả trên giác độ từng hộ gia đình cũng như toàn xã hội. Chi phí liên quan đến thất nghiệp bao gồm: chi phí bằng tiền (chủ yếu là tiền từ ngân sách và các quỹ xã hội); lãng phí sản phẩm xã hội do khôngsửdụng đầy đủ các yếu tố sẵn có của sản xuất. Tăng nhanh thất nghiệp trở thành một trong nhữngvấn đềnhức nhối của xã hội. Thất nghiệp tạo ra các điều kiện để các

loạitộiphạm tăng nhanh, như: trộmcướp,giết người…vàcáctệ nạnxã hội: nghiện hút, mại dâm, làm băng hoại giá trị đạo đức, văn hoá của gia đình cũng như

2

củadân tộc. Ngoài ra, phảikểđếnnhững vấnđềxãhộicơbảnđi kèmvớithất

nghiệp là: suy sụp thể lực và tinh thần, mâu thuẫn gia đình tăng…

Trong thờikỳ kinh tế kếhoạch hoátậptrung, quan hệlao độngđượcxáclập

giữa một bên là cơ quancủaNhànước(doanh nghiệp nhànước,đơnvị…)vàngười lao động (quan hệ trực tiếp) và được phân phối theo chỉ tiêu đã được duyệt. Trong điềukiện nền kinh tế vậnhành theo cơchếkếhoạch hoá tập trung cao độnhư vậy, khái niệm “quanhệlao động”không tồntại đúngvớibảnchất và nội dung kinhtế.Ở thời kỳ này, vẫn có tình trạng thất nghiệp nhưngđược gọi với thuật ngữ“việcít”,“biênchếnhiềungười”,“dưthừa laođộng”.Khi chuyển sang xây dựng kinhtế thịtrường thì thất nghiệp ngày càng hiệnhữuvàvấnđềgiải quyết thất nghiệp cũng được đặt ra. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật đểgiải quyết vấn đềnày như: Quyết định số 176/ HĐBT ngày 09/10/1989về sắp xếp

lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh, Quyết định số 111/ HĐBT ngày 12/04/1991 vềmột số chính sách trong việc sắp xếp lạicác doanh nghiệp Nhà

nước…,Pháp lệnh hợp đồng lao độngđượcHội đồng Nhànướcban hành ngày 30/08/1990, Nghịđịnh số 165/ HĐBT ngày 12/05/1992 hướngdẫnthi hành Pháp

lệnh hợp đồnglao động,Bộ luật Lao động và một số Thông tư hướng dẫnthực hiện của ngành Lao động Thương binh và Xã hội. Có thể nói các văn bản pháp luật nàyđãbướcđầutạo khung pháp lýđểđiềuchỉnhvấnđềthất nghiệp nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinhtế thịtrường, còn mang nặngdấu ấn của thời kỳ bao cấp, nên bất lợi cho cả người sử dụng lao động, người lao động và Nhànước.

Theo các vănbảnpháp luật trên thì cácchếđộ trợcấp thôi việc,trợcấp mất việc làmđượcthực hiệnđối với người lao độngkhi mất việc trong các doanh nghiệp Nhànướcvà sau nàyđãđượcmởrộng ra các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinhtế.Ngoài ra, Nhà nước còn dành một khoản tiền lớn từ ngân sách đểcho vay hỗ trợ việc làm với lãi suất ưu đãi, cùng với các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất khác nên hàng nămđãgiải quyết được trên một triệu người có việc

3

làm mới. Tuy nhiên, đây chỉ là những biện pháp tình thế, tạm thời chưa giải quyếtđượcnhữngnộidung thuộcvềbảnchấtcủathất nghiệp. Vì vậy,Đảng và Nhànướcchủtrương xây dựng chính sáchbảohiểm thất nghiệp đápứng yêucầucủa nền kinh tế thị trường. Chủ trương đó đượcghi trong Nghị quyết Trung ương 7 khoá VII của Đảng cộng sản Việt Nam; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII của Đảng và trongNghị quyết Đại hội Đảngtoàn quốclần thứIX có nêu: “Sớmxây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểmđốivớingườilao độngthất nghiệp”.Gầnđây, Nghị quyết Hộinghị lầnthứba Ban chấp hành Trung ương Đảngkhoá IX đãghi rõ:“Khẩntrươngbổsung chính sách bảo hiểm xã hội, ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướngNhànước,doanh nghiệp vàngười lao động cùng đónggóp”. Chủtrương này của Đảngđãđược kỳ họp thứ11 Quốc hội khóa X thể chế bằng việc thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Lao động, trong đó có quiđịnh:“Chínhphủquiđịnhcụ thể điều kiện và mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, việc thành lập quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp” (Điều 140).

Do vậy, việc nghiên cứu, ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn hiện nay là cần thiết và phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nướccũng như quá trìnhsửađổi,bổ sung pháp luật Lao động.Đểđảmbảo cho ngườithất nghiệp có mộtkhoản thu nhập bùđắp một phầnđãmất do không cóviệc làm,đểổn định cuộc sống, tiếp tụctìm việc làm không chỉ là hoạt độngvềkinhtế- xãhộimàvềmặt pháp lý còn là trách nhiệmcủaNhànước,ngườisửdụng laođộng vàcủachính bảnthânngườilao động.Ởnướcta,vấnđềnày còn chưađượcnghiêncứuđầy đủnênđềtài : “Chếđộbảohiểm thất nghiệp trong nềnkinh tế thị trƣờng ở Việt Nam” được nghiên cứuvớimong muốn góp phần giải quyết yêucầuthực tiễnvềthất nghiệp, chống thất nghiệp và bảo đảmquyền lợi của người bị thất nghiệp ở nước ta hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài.

3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài :

Đềtài nghiên cứu nhằmmụcđích :mộtmặt, làm sángtỏ nhữngvấn đềlý luận về thất nghiệp, người thất nghiệp vàchế độbảo hiểm thất nghiệp cũng như ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tếthịtrường ở Việt Nam. Mặt khác, phân tích, đánh giá tình hình thất nghiệp, các chếđộ hỗ trợngườilao độngmất việc làm qua các thờikỳphát triểncủanềnkinhtếcũng như luận giải về sự cần thiết khách quan của việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp ởViệt Nam.Từđó,đềxuất một số kiến nghị bướcđầuvềviệc xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinhtế thịtrườngở Việt Nam.

Thất nghiệp và chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinhtế thịtrườngở Việt Nam là một vấn đề rất mới và phức tạp, hơn nữa mộtchế độtrợ cấp bảo hiểm thất nghiệp thực sự ở Việt Nam hiện nay là chưa có. Do vậy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là thực trạng tình hình thất nghiệp và các qui phạmđiềuchỉnh chếđộ hỗtrợngười lao động mất việc làm ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu giới hạn trong việc xem xét vấn đề thất nghiệp và chế độ bảo hiểm thất nghiệp đối với những người lao động làm công ăn lương, có tham gia vào quanhệlao động,có giao kết hợp đồng lao động.Tuy nhiên, để luận án có độ sâu, rộng cần thiết, trong một chừng mực nhất định, những chuẩn mực quốctế và kinh nghiệm pháp luật nướcngoài trong lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp cũngđược đềcập đến.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu :

Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tàiđược cụ thể hoátrong việc giải quyết các nhiệm vụ sau :

– Nghiên cứu mối quan hệ giữa thị trường sức lao động với thất nghiệp và tính tất yếukhách quan của thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Luận án tìm hiểu một số vấn đềvề thất nghiệp như: khái niệmvềthất nghiệp, người thất nghiệp vàảnhhưởngcủa nó đối với đời sốngxã hội.

– Nghiên cứu nội dungcơ bản chế độ bảo hiểmthất nghiệp, cũng như mối quan hệ giữa chế độ bảo hiểm thất nghiệp với bảo hiểm xã hội. Từ đó thấy được ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật với bảo hiểm thất nghiệp.

– Nghiên cứu thực trạng tình hình thất nghiệp cũng nhưcác chế độ hỗ trợ người lao động mất việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ phát triển của nền kinh tế, từ đóluận giải về sự cần thiết khách quan của chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta.

– Đềxuất và luận giải phươnghướngxây dựng, thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ởViệt Nam, bao gồmcác nguyên tắc,đốitượngphạm vi áp dụng,điều kiện, thời gian, mức hưởng chế độ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp; quĩ bảo hiểm thất nghiệp, quản lý và tổ chức, thực hiện chếđộ bảo hiểm thất nghiệp, cũng như một số biện pháp pháp lý giúp người thất nghiệp trở lại với thị trường lao động.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu :

Đểgiải quyếtđềtài, phép biện chứng duy vật củatriết họcMác – Lênin và tưtưởngHồ Chí Minhđược sử dụngvới tư cách là phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực của đềtài cũngđược vận dụngnhư : tổng hợp, so sánh luật, phân tích lịch sử,

thốngkê, đốichiếu, diễn giải, qui nạp, điều tra xã hội học… 6. Những đóng góp khoa học của luận án:

Về mặt lý luận:

– Có thể nói đây là công trình khoahọcnghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diệnvềthất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp dướigócđộ luật học. Luận án phân tích làm rõ nhiều vấn đề mà từ trước đến nay còn nhiều ý kiến khác nhau trong quátrình xây dựng pháp luật, như khái niệmvềthất nghiệp, người thất nghiệp,đối tượng, phạm vi áp dụng bảo hiểm thất nghiệp,điềukiện hưởng,mứchưởng, thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cũng như nguồn hình thành quĩ bảo hiểm thất nghiệp.Đâylà nhữngvấnđềkhôngchỉcó tính chất phương pháp luận cho việc xây dựngchếđộ bảo hiểm thất nghiệp mà còn là những khái niệm, tư liệu phục vụcho việc xác định, xây dựng các vấn đề quan trọng khác trong lĩnh vực laođộng, việc làm ở Việt Nam.

– Luận án lý giải qui luật của thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường cũng nhưnhững quiđịnh củapháp luật nhằmđiềuchỉnh, hạn chếnhững tác hại củahiện tượngnày trongđời sốngxã hội, đặc biệt là việc đảm bảo quyền lợi cho người laođộngkhihọ bị thất nghiệp và tạo điều kiện đểhọ có thể tìm kiếm việc làm mới.

– Luận án làm rõ đặc điểm thị trường sức lao động ở Việt Nam, tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam làm cơ sở cho việc đề xuất, ban hành những văn bản pháp luật điềuchỉnh vấnđềthất nghiệp và giải quyết thất nghiệp ởnướcta trong giaiđoạn hiện nay và những năm tiếp theo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Luận án đã khảo sát thực trạng thất nghiệp, thực trạng giải quyết thất nghiệp,đồngthờichỉrõ nguyên nhân gây ra thất nghiệp ởnướcta trong những năm gần đây và các hạn chế trong việc đảm bảo quyền lợi người lao động bị thất nghiệp.

– Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thất nghiệp, khảo cứu kinh nghiệm củaTổchức lao động Quốctế và một số nướctrênthếgiới luận ánđãđềra các phương hướngcũng như giải pháp cụ thể trong việc xây dựng và áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam.

Về thực tiễn: Nội dung và kết quảnghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạchđịnhchính sách,chếđịnhpháp luật trong việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian tới, cũng như góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Ngoài ra, luận án còn là tài liệu tham khảo phụcvụtrong việc nghiên cứu giảngdạyvàhọctập củacán bộ,giáo viên và sinh viên chuyên ngành luật và không chuyên luật.

7.Bố cục của đề tài.

Ngoàilờinóiđầu,kết luận, tài liệu tham khảo vàphụlục, luận ánđượcchia thành 3 chương:

Chương1: Cơ sở lý luận của chếđộbảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thịtrường.

Chương 2:Chếđộhỗ trợ người lao động mấtviệc làm vàsựcần thiết khách quan của chếđộ bảo hiểmthất nghiệp ở Việt Nam.

Chương 3: Phương hướng xây dựng và thực hiện chếđộ bảo hiểmthất nghiệpở Việt Nam.

 

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾĐỘ BẢO HIỂM THẤTNGHIỆP

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG

1.1 KINH TẾ THỊ TRƢỜNG VÀVẤN ĐỀTHẤT NGHIỆP

1.1.1 Vấn đề lao động việc làm trong nền kinh tế thị trƣờng

1.1.1.1 Thị trường sức lao động

TừĐạihội Đảngtoàn quốc lần thứVI (1986),Đảngvà Nhànướcta đãchủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướngxã hội chủ nghĩa. Chủ trương nàyđượchoàn thiện trong các văn kiệncủaĐại hội Đảngtoàn quốc lần thứVII, VIII, và IX.Đồng thờiĐảng cũng chủ trương: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản chất văn hoá dân tộc,bảo vệmôi trường sinhthái”[45, tr. 72]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứIX tiếp tục khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơchế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướngxã hội chủ nghĩa” [47,

11

tr. 86]. Đây là mô hình kinhtế vừa kếthừa những thành tựu của mô hình kinhtế xãhội chủnghĩa, vừa tiếp thu những kinh nghiệm và xu thế phát triển của kinh tế thị trường. Mục tiêu hàng đầu của nền kinh tế thị trườngđịnhhướng xã hội chủ nghĩaở Việt Nam là giải phónglực lượngsản xuất,độngviên mọi nguồn lực trong nước và ngoàinướcđểthực hiện công nghiệp hoá, hiệnđạihoá nhằm xây dựng cơsởvật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội, cải thiện từngbước đời sốngnhân dân. Nền kinh tế thị trường có tínhđịnhhướngxã hội chủ nghĩa mà Việt Nam lựa chọn là phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quanhệsảnxuất mớiphù hợp trêncả3 mặt:sởhữu, quản lý và phân phối.

Như vậy, có thểthấyĐảngvà Nhànướcta chủtrương phát triểnnềnkinhtếvớisựtham giacủanhiều thành phần kinhtếvà theo đó các thành phần kinhtếcùng bìnhđẳng trướcpháp luật.Sựphát triển kinh tế trên cơsởđảmbảo lợiích củangườisảnxuất kinh doanh,ngườilaođộng,gắntăng trưởng kinh tế vớitiến bộ,công bằng xã hội,đặt con ngườivào vịtrí trung tâmcủasựphát triển. Thực hiện chủ trương đó cũng có nghĩa là thừa nhận trong xã hội tồn tại nhiều loại hình thịtrường, tạo khảnăng phát triển năngđộngcho các hoạt động kinhtế như: thị

trường hàng hoá, thị trường tài chính, thị trườnglao động…

Thịtrườngsứclao động hay còn có lúc đượcgọi tắt làthịtrường lao động, làbộ phận tất yếu của nền kinhtế thịtrường. Nóiđến thịtrườngsứclao động là nói đếnviệc cung vàcầu“hànghoásứclao động”,là nơi diễn ra hoạt độngtrao đổi giữa hai bên: người lao động làm thuê cần bán sức lao động và người sử dụng laođộng.Thị trường sức lao động là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sứclao động (người lao động làm thuê) và người mua sứclao động (người sửdụng sức lao động), thông qua các hình thức thoả thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và cácđiềukiện làm việc khác, trên cơ sở một hợpđồnglaođộngbằng văn bản, bằng miệng hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác [26, tr. 11]. Như vậy,thịtrườngsứclao độnglà một không giancủasựtrao đổitiến tới

12

thoả thuận giữangườisởhữusứclao độngvàngườicầncósứclaođộng đểsửdụng. Kết quả của quá trình trao đổi, thoả thuận đó là tiền công được xác lập cùng với điều kiện, nghĩa vụ lao động cho một công việc cụ thể. Đó chính là sự mua vàbánsứclao độnggiữa haichủthểngườilao động (người bán) vàngườisửdụng lao động (người mua). Khác với thị trường hàng hoá thông thường, thị trường sức lao động là nơi trao đổi, mua bán sức lao độngcủangườilao động. Nó khôngthểtách khỏi người bán nên người lao động phải bán chínhkhảnăng lao động, “công năng và trí năng” của mình để duy trì cuộc sống. C. Mác đã chỉ ra rằng: “lao động chỉxuất hiện sau khi tiến hành mua, bánsứclao độngtrênthịtrường thông qua hợp đồngmua, bán sức lao động. Do đó, cái mà người lao động bán cho người sửdụng lao động là sức lao độngchứkhông phải là lao động. Người công nhân không bán cái gì mà anh ta không có” [35, tr. 255-256]. Như vậy, muốn có thị trường sức lao động thìsứclao động phải được coi là hàng hoá. Khi phân tích quá trình phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã nêu ra hai điều kiện để sức lao độngtrởthành hàng hoá [36, tr. 251-252], đó là:

-Ngườilaođộngphảiđượctựdo vềthân thể,sứclao động thuộcvềsởhữu củangườilao động,họ có đủ tư cách pháp lý ký hợp đồng bánsứclao động của mình.

– Người lao động không có tư liệu sản xuất hay vốn. Do đó, muốn tồn tại phải bán sức lao động.

Haiđiềukiện trênđâyxuất hiệnởgiaiđoạnđầucủachủnghĩa tư bản, trong nền kinh tế cạnh tranh tự do. Khi nền kinhtế hàng hoá phát triển lên cao thìđiều kiệnthứhai có những thayđổinhất định.Như vậy, không phải chỉ những người mất hết tư liệu sản xuất hoặc hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mới bán sức laođộng của mình. Sự phát triển của nền kinh tế với năng suất, kết quả lao động ngày càng cao,ngườilao độngcó tàisảnvàtrởthành chủsởhữunhỏ.Họ có bakhảnăng đểlựa chọn: tự mình sản xuất kinh doanh theo qui mô nhỏ; đi làm thuê (bán sức lao động) hoặc vừa là cổ đông, sở hữu một phần nhỏ các công ty vừa là người

13

làm thuê. Trongđiều kiện củanền sản xuất nhỏ sựlựa chọn thứ nhất có khả năng mang lại hiệuquảvìsảnxuất xãhộichưa phát triển, kinhtế thịtrường chưaổn định thì kinh doanh theo qui mô nhỏ được chấp nhận. Trong trường hợp không biết kinh doanh, kinh doanh không cólợibằng đi làm thuê hoặc trongđiềukiện sản xuất lớn, qui luậtlợiích không cho phép ngườilao động tiến hành sản xuất kinh doanh bằng số tài sảnít ỏi củamình thìhọ sẽ lựa chọn khảnăngthứhai hoặc thứbađểcó thu nhập cao hơn.

Như vậy, muốn hình thànhthịtrường sức lao động thì điều kiện đầu tiên là sức lao động phải trở thành hàng hoá. Nền kinhtế thịtrường khôngđồngnghĩa với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, do vậy phạm trù hàng hoá sức lao động không phải riêng có của chủ nghĩa tư bản. Hàng hoá sức lao động ra đời báo hiệu một giai đoạn phát triển mới của xã hội. Một khiđãthừa nhận tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường tất yếu phải thừa nhận tự do mua bán sức lao động, thừa nhận phạm trù sởhữu sức lao động, và do đó buộc phải thừa nhận phạm trù lao động làm thuê. Tuy nhiên, hàng hoá sức lao động là một loại hàng hoáđặc biệt.Tính đặc biệt của hàng hoá sức lao độngthể hiện ở chỗ:

Thứnhất, hàng hoásứclao độngkhôngthểtáchrờikhỏingườilao động. Chính vì vậy,ngườilao động phải tham gia tích cựcvàchủđộngtrong quá trình khai thác,sửdụngsứclao độngcủamình,đểtạo rasảnphẩm, hàng hoá, dịchvụ với số lượng, chất lượng ngày càngtốthơn. Họ có quyền thoả thuận về giá cả, vềđiều kiệntrao đổi đã kết thúc, bên mua có quyền sử dụng sức lao độngcủangười lao độngtrong phạm vi đãđượcthoả thuậnchứkhông có quyềnsởhữusứclaođộng này. Điều này có thể hiểu: người lao động bán sức lao độngcủamình trong một thời gian, có thểlâu dài nhưng không bao giờngườilao động bánbảnthân mình một cách vĩnh viễn như chủ bán nô lệ ngày xưa.

Thứhai, sức lao động là một loại hàng hoá mà khi sử dụng bao giờ cũng tạo ra một lượnggiá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu của nó.Vềvấn đềnày, C.Mác đã chỉ rõ: “sức lao động là một hàng hoá như tất cả mọi hàng hoá khác, tuy nhiên nó vẫn

14

là một thứhàng hoá hoàn toànđặcbiệt”[36, tr. 15-16]. Trongnềnkinh tế thị trường, giácảsứclao độngcó thểdao độngxung quanh giátrịcủanó,tuỳthuộc vào quanhệcung cầusứclaođộng.Sứclao độnglà một yếu tố chủ yếucủaquátrìnhsảnxuất nhưng không giống với tư liệu sản xuất ởchỗ: nó đưacácyếutốkháccủasản xuất vào hoạt động,cảibiến hình thức, tính chất cơ lý hoácủađối tượnglao động và biến chúng thành sản phẩm. Người tiêu dùng sức lao động sau khi bánsảnphẩm,trừmọichi phí bỏ ra còn lại một khoản dư làlợinhuận. Lợi nhuận này rõ ràng là do sứclao độngtạo ra,bởicác côngcụlao độngvà các nguyên vật liệu không thể tự kết hợp với nhau. Như vậy, sức lao động là tổng hợp thểlực, trílựcvàkhảnăng vận dụng chúng trong quá trình lao động.Nó tồn tại trong cơthểsốngcủacon người nhưng không đồng nhất với con người vềnhiều

mặt: chính trị, xã hội, đạo đức, pháp luật…

Nếuđối với hàng hoá thông thường, giá trị và giá trị sửdụng sẽgiảm dần trong quá trình sử dụng, thì đối với hàng hoá sức lao động, giá trị và giá trị sử dụng sẽngày càng cao cùng vớiquá trình sửdụng.Ngườilao động càng làm việc lâu, thì trìnhđộ lànhnghề của họ ngày càng tăng, sản phẩm do họ làm ra vì thế sẽ càng nhiều và chất lượng càngtốtlên. Thêm nữa, sức lao động khiđược sử dụngsẽ tạo ra giá trị lớn hơn so với giá trị của chính bản thân nó [26, tr. 16].

Thứba, cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động đều có giá trị vàcó giá trị sử dụng. Trước hết, nói về giá trị hàng hoá sức lao động. Người ta đo giátrịấy bằng: thời gian laođộng cầnthiết; giá trị tư liệu sinh hoạt duy trìđời sống của bản thân người lao động và gia đình, chi tiêu cần thiết cho tái sản xuất mở rộng sứclao động củabảnthân người lao động.C. Mác coiđâylà chi phíđểduy trì vĩnh viễn sức lao động trên thị trường:“Nhữngngười sở hữu lao độngđều có thểchết đi. Muốn luôn luôn có nhữngngườilao độngtrênthịtrường nhưsựchuyển hoá không ngừng của tư bản, thì phải làm cho họ sống vĩnh viễn như mỗi cá nhân sống vĩnh viễn bằng cách sinh con đẻ cái” [37, tr. 238]. Trong lúc làm việc, người lao động phải tiêu hao sức lực và thần kinh. Để khôi phục lại những hao phí đó con

15

người phải được ănuống, nghỉ ngơi hợp lý, phải tiêu dùng một lượngtư liệu sinh hoạt cần thiết:“Nếungườisởhữusứclaođộngđãlao độngngày hôm nay càng nhiều thì chi phí tiêu dùngđểsản sinh, bùđắp lại sứclao động cànglớnvà do đógiá trị sức lao động càng cao thì anh ta phải có thểlại bắt đầulao động ngày mai trong những điều kiện cường tráng như cũ. Vậy, tổng số tư liệu sinh hoạt phải đủ đểgiữanh ta ởtrạng thái sinh hoạt bình thường”[37, tr. 238]. Quađó,chúng ta thấy tiêu hao lao động càng nhiều thì chi phí tiêu dùngđểsản sinh, bù đắp lại sức lao độngcàng lớn, và như vậy, giátrịsứclao độngcàng cao. Mặt khác,sứclaođộng là năng lựchoạtđộngcủacon người bao gồmcảthểlựcvà trí lực. Vì vậy, sản xuất sức lao động không chỉ khôi phục lại sức lao độngđãhao phí mà tạo cho con người có khả năng hiểu biết nhất định cả vềvăn hoá và chuyên môn. C. Mácđãđánh giá quá trình đó như sau:“Đểcho sức lao động phát triển theo hướng nhấtđịnh phải có sựgiáo dụcnào đó mà chínhsựgiáodụcnày lạitồntại mộtlượng hàng hoá ngang giá” [37, tr. 240].

Như vậy, giá trị sức lao động bao gồm: giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiếtđểbùđắp lại sứclao động đãhao phí trong quá trìnhsảnxuất; giá trịcủanhững chi phí cần thiết cho việc học hành; tích luỹ kiến thức phổ thông, xã hội và chuyên môn. Ngoài ra, những chi phí này còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xãhội, trình độ văn minh đạt được. Giá trị sức lao động không phải là yếu tố cố định,

nó thayđổigiữa cácnước,cácvùng…Nhưng không phải bao giờ giá trị sứclaođộng cũngđượcmua và bán theo đúng bản thân nó. Cũng như giá trị củamọi hàng hoá khác, giá trị sức lao động thường dao động xung quanh giá trị thật của nó, lúc cao hơn, lúc thấp hơn tuỳ theo tình hình cung và cầu lao động [116, tr. 16].

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện rõ trong quá trình người sửdụng lao động(người mua)sửdụng sứclao độngcủangườilao động(người bán). Do đó, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao độngbiểu hiện ở chỗ nó được sửdụng như một yếu tố của quá trình sản xuất khi tiêu dùng sức lao động.

16

Do vậy, thị trường sức lao động là toàn bộ những quan hệ kinhtế,pháp lý hình thành trong lĩnh vực mua bán thứ hàng hoá đặc biệt, đó là: sức lao động, giữa các bên người lao động và người sử dụng lao động. Các quan hệ kinh tế này muốn thực hiện được phải thông qua cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường là sự tác động tổng hợp củacác nhântố,quanhệ,môi trường động lựcvà qui luật, thông quađó,thị trường cóthểtựvậnđộng,tựđiều chỉnhđược.Nềnkinhtế thị trường là một tất yếu khách quan của quá trình phát triển kinh tế hàng hoá. Thị trường sức lao động là một bộ phận khôngthểthiếuđượccủanềnkinhtế thịtrường.Đó là biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và bên kia là người sử dụng laođộng,nhằm xác địnhsố lượngvà chất lượnglao động sẽ đem ra trao đổi với mức thù lao tương ứng. Khi thị trường hàng hoásứclao động đãtồntạinhư một hiện thực khách quan thì việc hoàn thiện và điều tiết nó, phát huy mặt tích cực, hạn chếmặt tiêu cực làmộtđòi hỏi bắt buộc. Hơn thế nữa, sức lao động là một loại hàng hoáđặc biệt,liên quan tới sinh mệnh cuộc sống hàng triệu conngườivà gia đình, vì vậy việc xây dựng một hệ thống các chính sách và pháp luật để điều tiết có hiệu quả thịtrường này có ý nghĩa chính trị – xã hội rất to lớn.

1.1.1.2 Đặc điểm của thị trường sức lao động ở Việt Nam

Thịtrườngsứclao độnglà một bộ phậncấuthànhcủahệthốngthịtrường trongnềnkinhtế thịtrường phát triển.Sựhình thành và phát triểnthịtrường sức lao độngViệt Nam cũng giống như nhiềunướcđang phát triểngắnliềnvớiquátrình phân hoátựnhiên củanền sản xuất nhỏ.Trướcđó,trong một thời gian dài, nước ta duy trì nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trên cơ sở nền tảngcủa chế độsởhữucông cộngvềtư liệu sảnxuất với sựthốngtrịđộctôncủakinhtế quốc

doanh và kinhtế tậpthể. Lao động trong hai khu vực kinh tế này được tuyển dụng theo hình thức biên chế (số lao động được định biên cứng). Nhìn chung, lao độngởkhu vực này đầu vào ngày càng tăng nhưng hiệu quả lao động thấp không đáp ứng đượcyêu cầu phát triển sảnxuấtdẫnđếndư thừa lao động lớn. Đây chính là kết quả của việc sử dụng lao động theo tính kế hoạch hoátậptrung dẫn đến Nhà nước

17

phải chi nguồn kinh phí lớn cho số lao động này, không phụ thuộc vào kết quả laođộng củahọ,tạo ra tâm lý ỷlại, trôngchờcủangườilao động vào Nhànướcmàkhông tự lo cho mình. Trong một điều kiện và cơ sở kinhtế như vậy, không thể cósự tồntại của thịtrường sức lao động.

Từgiữa những năm 80 của thếkỷXX Việt Namđãcó những thay đổi lớn vềchính sách kinh tế,tạo điềukiện cho thịtrườngsứclao độnghình thành và từng bướcphát triển.Đểphù hợp vớinhững thayđổivềkinhtế nói chung và đáp ứng nhucầu sử dụnglao động trong giai đoạn mới, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnhvềHợp đồnglao động (năm 1990), đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Lao động (1994)đãđưa ra quan niệm về việc làm cùng với các qui định có liên quan đến thị trường sứclao độngnhư: hợp đồng lao động,thoảướclao động tập thể, an toànvệsinh lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thờihạnởnướcngoài.Bộ luật Lao động cũngđãcụ thểhoá các quiđịnh của Hiến pháp 1992 vềlao động,quản lý lao động,mối quanhệgiữangườisửdụng lao động và người lao động trên các vấn đề cơ bản về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệmcủacác bên. Tất cảnhững yếutố trênđãtạo điềukiện thuận lợi cho sựrađời và phát triển của thị trường sức lao động ở Việt Nam.

Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển và cơ chế quản lý kinh tế đang chuyển đổi, thịtrường sức lao động Việt Nam có những đặc điểm chính sau đây:

Đặcđiểmthứnhất: Thị trường sức lao động Việt Nam đang ở trong giai đoạn mất cân đối cung cầu, nhìn chung cung lớn hơn cầu cả về qui mô và cơ cấu.

Đây là đặc điểm lớn nhất của thịtrường sức lao động Việt Nam, nó có tácđộng không nhỏ đến thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp.

Hiện tại,số lao độngchưa có việc làmởnướcta rất lớn.Tỷlệthất nghiệp ởthànhthịnăm 2004 là 5,6%, tỷ lệ thời gian lao độngđược sử dụngở khu vực nông thôn là 79,34% [6, tr. 4].Lựclượng lao động phânbố không đồng đềuvẫntập trung chủ yếu ở nông thôn. Năm 2004,lực lượnglao động từ đủ 15 tuổi trở lên của cảnướclà 43.255,3 nghìn người, trongđó khuvựcthànhthịcó 10.549,3 nghìn

18

người, chiếm 24,4%; nông thôn có 32.706 nghìn người chiếm 75,6% lực lượng laođộng toàn quốc [90, tr. 1]. Tình trạng thiếu việc làm ngày càng tăng ởkhu vực nông thôn do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp phục vụ cho quátrình đô thị hoá và phát triển các khu công nghiệp tập trung, trong khi đó người laođộngsốngởnhững vùng này chưakịpđượcđào tạo đểchuyểnđổinghề và tạo việc làm khác, đã dẫn đến thiếu việc làm. Tốcđộ đô thịhoá nhanh ở khu vực thành thị, cùng với sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa thành thị và nông thôn cũng tạo ra một sựdi chuyển laođộng tựdotừnông thôn ra cácđô thị,chủyếu làm việcởnhững khu vực kinh tế phi chính thức, gây ra rất nhiềuvấn đềnhức nhối như: ăn,

ở, đi lại, sinh hoạt,tệnạn xã hội, sức khỏe người lao động…và bản thân họ cũng rơi vào tình trạng yếu thế, luôn chịu thiệt thòi.

Lựclượnglao độngởnướcta tăng nhanhvềsố lượngnhưng chất lượngcòn hạn chế. Đội ngũ cán bộ khoahọcvà công nghệ tuy nhiều nhưng còn yếu về trình độ,bất cập về cơ cấu. Bên cạnhđó,cơ cấu đào tạo lao động vẫn đang trong quĩđạo mất cân đốinghiêm trọng, chưa chuyển kịp vớinềnkinhtế thịtrường. Tình trạng “thầy” nhiều hơn “thợ”, số lao động có trình độ bậc cao còn quá ít, đào tạo không gắn với nhu cầu của thị trường là một trong các nguyên nhân làm gia tăngtỷ lệ thất nghiệp,đặc biệt là lực lượnglao động trẻ. Thực tế hiện nay cho thấy cả “thầy” lẫn “thợ” đều rất khó tìmđược chỗ việc làm phù hợp.

Tình trạng cơcấubất hợp lý cònthểhiệnởchỗ số ngườicó trình độ chuyên môn kỹthuật phânbố không đềugiữa các vùng, các ngành và khu vực. Những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thường tập trung ở các đô thị lớn, khu công nghiệp còn vùng nông thôn, nhất là miền núi, hải đảo, các ngành nông, lâm, ngư nghiệp thì lại rất thiếu. Sự thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động trí thức đang là một thách thức đối với sự phát triển đất nước.

Một trong những nguyên nhân cơbảndẫnđếntình trạng này làsựbất hợp lý vềcơcấuđào tạo ngành nghề. Theo số liệucủaBộ giáo dụcvà Đào tạo công bốngày 15/11/1999 tính riêng trong số 103.519 sinh viên công lập,tỷlệ của các khối

19

chuyên ngành như sau: khối sư phạm: 39,24%, khốikỹthuật: 17,36%; khối kinh tế:13,07%; khối khoahọccơ bản: 7,07%; khối nông nghiệp: 5,05%; khối y dược: 2,03%; khối Luật: 1,98%; khối quốc phòng, công an: 1,12%; khối thể dục thể thao: 1,4%; khối nghệ thuật: 1,6%; cònlạilà các khối khác.Từnhữngsố liệu trên đây cho thấy: tỷ lệ sinh viên học nông nghiệp (kể cả lâm nghiệp và nghề cá) chỉ chiếm 5,05% tổng số sinh viên công lập, tỷ lệ này quá thấp so với yêu cầu của một nước mànềnnông nghiệp là chủ yếunhưnướcta. Tuy nhiên, trong thựctếtỷlệlaođộng đãqua đào tạo không tìmđượcviệc làm hoặc làm việc trái ngành, trái nghề

rất lớn. Hơn nữa, thựctếkhông phải tất cảlao độngcó trìnhđộ đềuđáp ứng yêu cầu của công việc. Do vậy, hiện nay mặc dù cung lớn hơn cầu, nhưng số lao động kỹthuật,thợlành nghề và lao độngquản lývẫnrất thiếu. Trong khi nhiều doanh nghiệp, nhất là các khu công nghiệp ở nông thôn nước ta đang rất cần số lao động có kỹnăng tay nghề và trình độ chuyên môn kỹ thuật thì cũng có không ít lao động đãqua đào tạo ở trình độ trunghọcchuyên nghiệp và cao đẳng, đại học trong tình trạng thất nghiệp. Nhiều ngành nghềmớixuất hiện,đòihỏitrìnhđộ kỹthuật vàcông nghệ cao (lập trình viên, mỹ thuật công nghiệp, thợ lắp ráp và vận hành máy

móc hiệnđại,thợchếbiến lương thực, thựcphẩm…)nhưng đào tạo không theo kịp.Ngượclại, có một số ngành chỗ làm việc ít, nhưng lại đào tạo quá đông, nhiều ngườiđăng ký xin việc, song khôngđượctiếp nhậndẫnđếnsựcăng thẳng trong thịtrường lao động (hiện tượng này thể hiện rất rõ trong các hội chợ việc làm vừa qua).Điềunày cho thấy có một bộ phận không nhỏ lựclượnglao độngsẽkhông thể tìm được việclàm, phải chịu thất nghiệp, thiếu việc làm.

Theo kết quả“Điềutra lao độngviệclàm”củaBộ Lao động Thương binh vàXã hội đến năm 2004, số người có trìnhđộchuyên môn kỹ thuật (lao độngđãquađào tạo) nhìn chung vẫnthấp, chỉ có 22,5%. Trongđó,tỷ lệđãqua đào tạo nghềbao gồm: đào tạo nghề ngắnhạnvà dàihạnkhông phân biệt có hay không cóchứng chỉ hoặc bằng nghề và tốt nghiệp sơ cấp là 13,3%; trung học chuyên nghiệp là 4,4% vàtốtnghiệp cao đẳng,đại họctrởlên là 4,8%. Chính vì vậy,mộttrong

20

những vấn đềlớn hiện nay ở nước ta là nạn thiếu, hiếm lao động có kỹ năng, trình độ,đủđểđáp ứngnhu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá và cạnh tranh quốctế.Do đó đãlàm nảy sinh một nghịch lý là: mặcdù tỉlệthất nghiệp và thiếu việc làm tương đối cao, các cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn đang phải đối mặt với nạn thiếu lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề giỏi, đặc biệt là lao động trong khu vực có giá trị gia tăng cao.

Nhìn chung, cầu về lao động trên thị trường sức lao động nước ta còn hạn chế, sức hút của cầu còn thấp hơn cung rất nhiều. Thị trườngsứclao động nước ta thểhiện rõ nét trạng thái mất cân bằng và cơ cấu lạc hậu. Thực tế hiện nay nơi có khảnăng giải quyết việc làm nhiều nhất là khuvựckinhtế ngoài nhànước(xem phụ lục 1).

Đại bộ phận cung nằm trong khu vực nông nghiệp nhưng nông nghiệp lại đứng trướctrạng thái thiếu việc làm, năng suất thấp. Tình trạngđó gây lãng phí các nguồn nhân lực,kểcảnguồn đãcóhọcvấn.Sựmất cân bằng nghiêm trọng giữa cung và cầu của thị trường sức lao động làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế xã hội,

tạo lực cản cho quá trình phát triển kinh tế. Tình trạng này đãđược Bộ trưởng BộLao động Thương binh và xã hội nhận định khái quát: “15 năm đổi mới nền kinh tếViệt Nam có bước phát triển khá, song chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, chưa thể tạo đủ việc làm cho lao động xã hội, tỷ lệ thất nghiệp ở thànhthịcòn cao (6,28% năm 2001) và tình trạng thiếu việc làmởnông thôn vẫnrất nghiêm trọng. Thời kỳ 2001-2010 theo dự báo dân số nước ta đạt khoảng 88-89 triệu người vào năm 2010,vớitốc độ tăngnguồn lao động 2,4-2,5%, dân số trongđộ tuổilaođộngnăm 2005 đạt 51,1 triệu vào năm 2010 đạt 56,8 triệu, mỗi năm có hơn 1 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động,lựclượnglao động đạt 41 triệu vào năm 2005 và 45 triệu vào năm 2010,mỗinămcầngiải quyết việc làmmớicho khoảng 1,3- 1,4 triệu lao động” [70, tr. 13].

Từ đặc điểmnày có thể nhận thấy rằng,lựclượnglao độngởnước ta là hùng hậu về số lượng. Đây là một thế mạnh, song cũng có một số khó khăn cần phải giải

21

quyết. Do tốc độ tăng dân số hàng năm cao,số người đến tuổilao động ngày một nhiềuđãtạo rasứcép vềviệc làm rất gay gắt đốivớixã hội.Số lượngviệc làm mớiđượctạo ra trong những nămgầnđâyởcác ngành kinhtế quốc dân,kểcảtrong lĩnh vực dịch vụ, còn quá ít so vớinhu cầu, nên đã không đủ sức thu hút sốlao động đang tìm việc làm trên thị trường lao động.Đểgiải quyết một cách hữu hiệu và hạn chế sức ép quá lớn về cung – cầu lao động, sự tác động của Nhà nước trong việc hoàn thiện các qui định của pháp luật lao động hướng đến mục đích cao nhất là giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần tiếp tục khai thác các chính sách thị trường lao động có tính chất “thụđộng”như: chính sáchbồithường mất việc làm cho laođộng dôi dư,

chính sách cho về hưu trước tuổi…và sớm ban hànhchế độ bảo hiểm thất nghiệp ởViệt Nam nhằm giảm bớt rủi ro do cơchếthịtrường gây ra, giảmsứcép vềthất nghiệp do chuyển đổi cơ cấu.

Đặcđiểmthứhai: Thị trườngsứclao động Việt Nam mang tính tựphát cao, phân tán và chia cắt, mối quan hệ cung – cầu còn lỏng lẻo.

Đây là đặc điểm dẫn đến sự phân mảnglớn trong thị trường sức lao động Việt Nam, ảnhhưởngđến thất nghiệp và việc ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

Nướcta sau hơn 15 nămđổi mới, nền kinhtế đãchuyển sangnềnkinh tếthị trường theo địnhhướngxãhộichủnghĩa, nhưng so vớicác loạithịtrường khác như: vốn, công nghệ, hàng hoá thì thị trường sức lao động hình thành và phát triển chậm hơn. Hiện nay, do tácđộng củathị trường cùng với những qui định nhằmđảmbảo quyềntựdo lựachọn việc làm, nơi làm việc cũng như quyềntựdo thuêmướn, sử dụnglao động của công dân đã tạo nên sự di chuyển các dòng lao động trên thị trường lao động nước ta tương đối thuận tiện, dễ dàng. Sự vận động này làcần thiết cho thị trườngsứclao độngvà bước đầuđãhướngtheo các qui luật của thịtrường, góp phần điều chỉnh cung cầu từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm giảm sứcép việc làm trong cảnước.Do tácđộngcủacác yếu tố,nhưđiềukiện sống,khả

năng tìm việc, mức tiền công và khả năng phát triển tương lai…đã tạo ra các dòng

22

di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố, từ miền ngược xuống miền xuôi, từmiền Bắc vào miền Nam, từ khu vực kinh tế quốc doanh sang các thành phần kinh tế khác (chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và tham gia thị trường

lao độngquốctếthông qua xuất khẩu laođộng…Bêncạnhđó,tính linh hoạt của thịtrường sức lao động ở nước ta còn thấp, thể hiện qua khả năng dịch chuyển laođộng còn rất kém,chủyếudo cácthểchếpháp luật liên quan đếnthịtrường lao

động (như chính sách về hộ khẩu, bảo hiểm, tuyển dụng, sa thải, trả lương…) còn cứng nhắc, chưa phù hợp với tình hình mới. Ngoài ra,ngườilao động vẫn còn cótưtưởngmuốn bám vào Nhànướcvà chưa có đủnănglựcvà trìnhđộ,cũng nhưthiếu sự tựtin cần thiết,đểcạnh tranh trên thịtrườngsứclao động trong nướcvàquốctế.

Tính từ năm 1995-1999,đãcó 1.027.000 người di cư ra thành phố lớn và vùng kinh tế trọng điểm, ước tính trong hai thập kỷ nữa, mỗi năm Việt Nam sẽ có thêm khoảng 1 triệu người di cư ra thành thị. Trên phạm vi toàn quốc, di dân tự do nông thôn -đô thịthờikỳ1990-1997 là 1,2-1,5 triệu người, cườngđộ di dânđạt 120.000-200.000 người/năm. Từ năm 1986 đến nay, bình quân mỗi năm dân số HàNộităng thêm 55.000 người, trongđó 22.000 ngườidi cư (40%). Ngoài ra, hàng năm thường xuyên có từ20.000 đến40.000 ngườilaođộngnông thôn ra Hà Nội kiếm việc làm trong lúc nông nhàn. Tại thành phố Hồ Chí Minh, số lao động làm việc theo thời vụ vào thành phố kiếm việc làm gia tăng rất nhanh khoảng 70.000 người/năm [81, tr. 68-69]. Sự có mặt củahọ ởthành thị ngày càng nhiều làm nảy sinh không ít vấnđềbứcxúc, nan giải như: gây áp lựcvềđất ở,làm quátảicác dịch vụhạ tầngxã hội, gây khó khăn cho việc đăng ký, quản lý nhân khẩu tạm trú,ônhiễm môi trường và tất nhiên khôngthểkhôngảnhhưởngđếnvấnđềthất nghiệp. Sự di chuyển này mang nặng tính tự phát, thiếu sự kiểm tra, giám sát và hỗtrợ của Nhà nước. Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, song chủyếuvẫnlàdo nhucầubứcxúcvềviệc làm,sựhấpdẫnvềtiền lương,khảnăng đáp ứng

nhữngdịch vụcơ bản, thiết yếu của con người, sự phồn vinhcủa các đô thị…

23

Sựdi chuyển lao độngtrênđâyđãtạo cho thịtrườngsứclao độngởnướctađang có sự phân mảng lớn. Đó là sự phân mảng giữa lao động ở thànhthịvớilaođộngởnông thôn; giữa lao động chính thức và lao độngphi chính thức; giữa laođộngtrong các doanh nghiệp nhà nước với lao động trong khu vực dân doanh; giữa lao động hiệnđạivớilao động truyền thống; kểcảsựphân mảngthịtrường laođộnggiữa cácbộ,ngành khác nhau.Sựchênh lệch giữathịtrườngsứclao động thành thị với thị trường sức lao động ở nông thôn được thể hiện khá rõ nét. Nếu so vớingườilao độngởnông thôn, lao độngởthànhthịđượchưởngnhiều phúc lợi xã hội hơn. Con cái của người lao động sống ở thành thị có nhiều điều kiện về giáo dục, đào tạo và do vậycó nhiều cơhộitìm kiếm việc làm hơn. Trong khiđó laođộngở nông thôn hầu như khôngđược hưởng(hoặc hưởng rất ít một số dạng phúc

lợi xã hội như : nhà ở, dịch vụ y tế…). Lao động ở nông thôn thường có thu nhập thấp và khôngổnđịnh,ít có cơhộiđượctiếp xúcvớicác tiếnbộ khoahọccông nghệ nên cơ may tìm kiếm việc làm của họ là rất khó khăn.

Một phân mảngthịtrường quan trọng khác là giữa nhữngngườilao độnglàm việc trong các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Lao động. Đó là những ngườilao động làm công ăn lương trong các khuvựcnhànước, đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh có thuê mướn laođộng.Đasố những lao độngnày làm việc trong các ngành kinhtế kỹthuật quan trọng như: công nghiệp chế biến, xây dựng, thương mại, vận tải, thông tin liên lạc,

giáo dục đào tạo…Vì vậy khoảng gần 60% lực lượng này sống ở thành thị và phần lớn họ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao,đượchưởng cácchếđộ bảo hiểmxãhội, an sinh xã hội theo qui định của pháp luật [68, tr. 98-99]. Ngoài ra,số laođộnglàm việctựdo như nhữngngườibuôn bán,thợthủcông,hộ kinh doanh cáthể, người tự tạoviệc làm, hoặc làm thuê theo một “khế ước” có tính chất dân dự, số lao động này không bị điều chỉnh bởi luật Lao động mà chủ yếu tuân theo các yếu tố nộitạicủathịtrường,ởđósựdi chuyển củalao động tựdo hơn.Họtìm kiếm thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, lao động có tính chất phường hội hoặc lao

24

động trong cáchộ gia đình. Những ngườilàm việc trong khu vựcnày thường cóthu nhập khôngổnđịnh.Tuy nhiên,đâyvẫnlà khuvựcrất năngđộngcủathị trường sức lao động Việt Nam và hiện tại đang tạo ra nhiều việc làm cho xã hội.

Sựphân mảng thịtrường sứclaođộngởnướcta đãlàm cho tình hình thất nghiệp rất khó kiểm soát. Hiện nay,thịtrườngsứclao độngViệt Nam đang phải đốimặtvớicác dạng thất nghiệp như: thất nghiệp do chuyểnđổi cơ cấu, thất nghiệp tự nguyện, thất nghiệp tạm thời. Thực trạng trên đây cũng đặt ra nhiều vấn đềcần được nghiên cứu, chọn lựa trong việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệpở Việt Nam sao cho phù hợp.

Đểtạo ra một thị trường sức lao động phù hợp với nền kinh tế thị trường ở giai đoạn hiện nay, Nhà nước cần có các chính sách đầu tư, kế hoạch và chiến lược cho việc di chuyển lao động giữa các vùng miền. Cần ban hànhđồngbộ hệ thốngpháp luật vềlao động,việc làm, giải quyết việc làm,họcnghề, các quiđịnh liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động di cư, người sử dụng lao động nhập cư, giúp các bên di chuyển dễ dàng trongmộtthịtrường lao động thống nhất.

Đặcđiểmthứba: Thị trườngsứclao động Việt Nam là một thị trường đangđượchình thành và chuyển đổi mạnh

Với đặc điểm này đãtạo ra những áp lực rất lớn về việc làm đối với người laođộng,đòihỏiviệc tácđộngcủapháp luật vào nhóm quanhệvềbảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm thất nghiệp nói riêng trong giai đoạn đầu phải đa dạng.

Trướcđây, trongnềnkinhtế kếhoạch hoá tập trung, lao độngđượcsắp xếp làm việc theo chế độ biên chế và trả công lao động theo kiểu bình quân chủ nghĩa. Trong khu vực kinhtếnhà nước, khái niệm “việc làm đầy đủ” bao trùm vàvấn đềthất nghiệp cũng khôngđược đềcập.Vềmặt nhận thức, lao động không được coi là thứ hàng hoá đặc biệt và do vậy khôngđược “mua”, “bán” trên thịtrường. Tính cơ động, cường độ di chuyển lao động hạn chế do các thủ tục hành chính, chế độhộ khẩu cònrườmrà, phức tạp. Dòng di chuyển lao độngchủyếutheo hướngvề

25

các vùng kinhtế mớiởnông thôn, thông qua các chương trình di dâncủaChính phủ.

Khi chuyểnhướngnền kinh tế sang cơ chế thị trường theo địnhhướngxã hội chủ nghĩa đã đánh dấu những thay đổi có tính chất căn bản trong nền kinh tế Việt Nam, trongđó có thịtrườngsứclao động.Thịtrườngsứclao động đãđượchình thành, thông qua các quanhệthuêmướn,trảcông lao độngtheo thoả thuận giữa ngườilao động vàngườisửdụng lao động.Mộtthị trường laođộng đượchình thành do kết quả của việc chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, tuy nhiên, nó còn đang trong quá trình phát triển, chưa có tính ổn định như những thị trường laođộngđãđượchình thành lâuđời.Vì đang trong quá trình hình thành nên thị trường sức lao động ởnướcta còn chưa đồng bộ. Có thể nói là quá trình trao đổi hàng hoásứclao động ởnướcta còn mang tính chất ngẫu nhiên, phiến diện vàkhông ổnđịnh.Tính ngẫu nhiênthểhiệnởchỗ: hệthống dịchvụ việc làm kém phát triển nên người cần bán sức lao động vàngười cầnmua không gặp nhau. Từtính ngẫu nhiên và không nhất quán như vậy, nên giá cảhàng hoásứclao động cũng dao độngvớinhững khoảng cách rất lớn, làm cho việc trao đổinhiều khi không ngang giá.

Lực lượnglao động ở nước ta trong những năm gần đây đã liên tục tăngvới tốcđộ cao, tính trung bình mỗi năm lực lượng lao động tăng thêm 1,2 triệu người [42, tr. 255], một mặt tạo nguồnlựclớncho phát triểnđất nướcnhưng cũng tạo ra áp lực lớn về đào tạo nghềvà giải quyết việc làm. Ngoài ra, quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụbước đầu có tácdụng nhấtđịnh đốivới việc thu hút, chuyển dịch cơ cấu lao động.Tuy nhiên,tốcđộchuyển dịch cơ cấu kinh tế còn rất chậm, cụ thể: trong vòng 10 năm từ năm 1990đếnnăm 2000, khuvựccông nghiệp và dịchvụlựclượnglao độngtăng 14,2%, trong khi đó lực lượng lao động nông nghiệp chỉ giảm 4% (từ trên 72% năm 1990 xuống 68% năm 1999) [71, tr. 1].Đâylà thách thức không nhỏ trong việc huy động nguồn lựcgiải quyết cácvấn đềlaođộng và việc làm. Thách thức này cũng

26

trởnên gay gắt hơn khi chúng ta thực hiện tiến trìnhhộinhập với khu vựcvà thếgiới. Chính vì vậy, tình trạng thiếu việc làm và dư thừa lao động càng trở nên bức xúc. Hiện tại, lao động làm việc trong khu vựcnông nghiệp còn chiếm khoảng 60% tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của cả nước. Trong công nghiệp và xây dựng, chiếm gần 17%, dịch vụ chiếm trên 23% [102, tr. 13]. Consố trênđâycho thấy: cơcấulao độngchắc chắnsẽthayđổitheo hướng lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, lao động trong ngànhdịch vụvà công nghiệp ngày càng tăng. Tỷ lệ người lao động làm công ăn lương tăng cao. Theo kết quảđiềutramứcsống dân cưcủaTổng cụcThống kê 1992-1993, tính chung cảnước, việc làm của người làm công ăn lương chiếm 17,9% trong tổng số việc làm;đến năm 1997-1998tỷ lệnày tăng lên 19,48%. Trong đó,khuvựcthành thị tăng 41,69% lên 45,28%; khu vựcnông thôn tăngtừ12,16% lên 13,14%. Bình quân hàng năm,tỷlệ này tăng thêm 0,2% với khu vựcnông thôn, 0,72%vớikhu vực thànhthịvà 0,32% tính chung cho cả nước và mức tiền công, tiền lương của người làm công ăn lương cũng ngày một tăng ở tất cả các vùng lãnh thổ trongcả nước.

Tỷlệ thất nghiệp củalựclượnglao động trong độ tuổi ở khu vực thành thịđãgiảm liên tục từ 10% năm 1991 xuống 5,88% vào năm 1996. Đến năm 1998,tỷ lệnàylạinhích lên 6,85% (do tácđộngtiêucựccủakhủng hoảng kinhtế,tài chính khu vực) vàlạitiếp tụcgiảmnhẹxuống 6,28%ởnăm 2001.Tỷlệsửdụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn cũng có xuhướngtăng lên (từ 72,1% năm 1996 lên 74,4% vào năm 2001) [50, tr. 5-6]. Đây là thách thức đối với sự phát triển kinh tế nói chung, cũng như phát triển nguồn nhân lực nói riêng ở nước ta.

Thị trường sức lao động nước ta đang hình thành và phát triển, đây là cơ hội đểngườilao độngtìm kiếm việc làm và thu nhập. Tuy nhiên, do có qui luật cạnh tranhcủa thịtrườngsứclao động nên sự khắt khe củathịtrường này rất lớn. Nếu người lao động khôngtự đào tạo,nâng cao trình độ tay nghề, kỷ luật lao động, đạođức nghềnghiệp thì người lao động khó có thể tự khẳngđịnhmình trong thị trường này. Trongthịtrườngsứclao động, tìm được việc làm phùhợp đãkhó nhưnggiữ

27

được chỗ làm việc càng khó hơn. Việc hoàn thiện cơ chế thị trường, đổi mới công cụ quảnlý Nhà nước trong lĩnhvựclao động, tạo điều kiện thuận lợi cho các yếu tố của thị trườngsứclao động phát triển là một vấn đềlớn, phức tạp đòi hỏi phải sớmhoàn thiện đồngbộ các chế độ,chính sách về lao động, tiền lương, bảo hiểm

xã hội,trợcấp thôi việc,trợcấp bảo hiểm thất nghiệp…tạo môi trường pháp lý bình đẳng, công bằng đối với người lao động cũng như người sử dụng lao động khi tham gia cáchoạt độnglao động.

Qua phân tích một số đặcđiểmcủa thịtrường sức lao động Việt Nam chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét sau:

Thị trườngsứclao độngnướcta vẫnđang trong quá trình hình thành và phát triển. Chất lượng lao động còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế.Tình trạng thừa – thiếu lao độnggiả tạo đãvà đang nổi lên nhưmột vấn đềbức xúcđòihỏicầnphảiđượctập trung giải quyết. Lao độngdôi dư trong các doanh nghiệp thuộc một vài thành phần kinh tế đang là bài toán nan giải. Hơn nữa, phân bố lao động còn nhiều bất cập, khôngđồngđều, gây bất lợi cho khu vực nông thôn, các vùng kém phát triển.

Thịtrườngsứclao động Việt Nam có một đặc trưngnổibật là sựmất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu về lao động. Sự mất cân đối này cả về tổng thể vàcơ cấu gây ra tình trạng thất nghiệp cao ở thànhthịvà thiếu việc làm ở nông thôn. Do đó, người lao động thường ở thế rất yếu khi tham gia thị trường sức lao động.

Thịtrường sức lao động bị chia cắt do chưa có đủ những qui định của pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng cũng như các chính sách thị trường chưađồng bộ. Đây là nguyên nhân tạo ra các mảngthịtrường lao động khác nhau như:

thịtrường lao động thành thị – nông thôn; thịtrường lao động trong khu vực Nhà

nước – ngoài Nhànước…dẫnđến khó nắm bắt cungcầulao động một cách chính xác. Hiện tượng phân mảng thị trường nói trên đang là yếu tố cản trở tính linh hoạt của thị trườngsứclao động. Các mảng thị trườngnày tương đối độclập vớinhau gây ra hậu quả là các nhóm dân cư thườngbịbó buộc vào làm việc ở trong một các

28

mảng thị trường đó.Ngườingoại tỉnh khó tìmđượccông việcvừaý tại các khu vực đô thị,nếu không nói làhọ thườngphải trả những giárất đắt đểcó đượcmột công việcrẻmạtởthành phố.Ngườilàm các công việcởkhuvựckinh tế phi chính thức khó thâm nhập vào khu vựcchính thức, nhất là khuvựckinhtế Nhànước.

Do đó, tình trạng thất nghiệp, giải quyết hậu quả của thất nghiệp đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta cũng như toàn xã hội.

1.1.1.3 Tính tất yếu khách quan của thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trong cơ chế thị trường sản phẩm hàng hoá và sự phát triển của doanh nghiệp suy cho cùng là do thịtrường quyết định. Do vậy, việc tuyển dụng lao động cũng chịu sự tácđộngcủa thịtrường, trong đó có tổng quan cung và cầu lao động. Nếu cung lớn hơn cầu về lao động sẽ dẫn tới thất nghiệp. Chính sự mâu thuẫn giữa nhu cầu có việc làm và khả năng giải quyết việc làm là nguy cơ tiềm tàngdẫn đến thất nghiệp, nhất là với nhữngnướcđang phát triển.Tỷ lệthất nghiệp là biểu hiện rõnét nhất của sự chênh lệch cung cầu lao động. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, đại bộ phận các quan điểm đều cho rằng: thất nghiệp là hiện tượng có tính tất yếukhách quan,ngườitachỉcó thểhạn chếchứkhôngthểloạitrừđượcnó. Như vậy, cũng có nghĩa rằng quanhệcungcầutrong thị trườngsứclao động không bao giờ có thểlà cân bằng. Và đương nhiên, sự thayđổi củaquan hệ cung cầulao độngảnhhưởngrất lớnđếnviệc làmcủangườilao động.Tạithờiđiểm thoả thuận nếu cung lao động lớnhơn cầu lao động thì dẫn đến thiếu việc làm vàngượclại nếucung nhỏ hơn cầuthì việc làmtrởnên sẵn có,ngườilaođộng cóquyền lựa chọn cho mình một công việc thích hợp. Mặt khác, ở đây cũngcầnlưu ý, tăng nhu cầu về hàng hoá, sản phẩm của xã hội cũng là yếu tố tăng việc làm. Khi nhu cầu về một loại dịch vụ, hàng hoá, sản phẩm của xã hội đột ngột tăng lên hay giảm đi cũng là một nhân tố đáng kể tácđộngđến sự tănghay giảm việc làm. Tuy việc làm chịusựảnh hưởng rất lớncủaqui luật cungcầunhưng nó cũng có tácđộng ngược trở lại. Nếu cầu lao động cao thì số người có việc làm sẽ lớn, nếu cầu

29

lao động thấp thìsố người được làm việc ítđi và lúc đó nhucầu sử dụnglao động tăng lên dẫnđến cung lớnhơn cầu. Nhìn chung, trong tương quan cung cầu laođộng thườngchênh lệch theo hướngcung lớnhơn cầu nên thất nghiệp xảy ra nhưmột qui luật tất yếu.Sựgia tăngvềdânsố vàngườilao động,cùngvớiquá trình hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế cũng có những mặt tácđộngtiêu cực đến thị trường lao động làm một số bộ phận người lao động bị thất nghiệp.

Kinhtế thịtrường còn chịusựchi phốicủaqui luật cạnh tranh. Cạnh tranh làthuộc tính đồng thời cũng là độnglực củathịtrường. Cạnh tranh trong thị trường được thực hiện bởi các chủ thể tham gia quan hệ có sự độclập vềkinh tế và khác nhau về lợi ích. Sự cạnh tranh này trong nhiều trường hợp lệ thuộc vào tương quan cung cầu. Chẳng hạn, giữa nhữngngườibán (người lao động), khicầulớnhơn cung, họ vẫn cạnh tranh với nhau bởi ai cũng muốn được làm việc trong điều kiện lao độngtốthơn, tiền lương cao hơn. Còn giữa những người mua (người sử dụng lao động), khi cunglớnhơn cầu,họ cũng có thểcạnh tranhvớinhauđểcó được

lựclượnglao độngtốtnhất,rẻnhất. Do có qui luật cạnh tranh khắc nghiệt trong kinh tế thị trường nên dẫn đến lao động trong những doanh nghiệp có vốn ít, kinh doanh nhỏ khó trụ lại trên thương trường buộc phải đóng cửa, giải thể hoặc phá sản dẫn đến nhiều lao động thất nghiệp. Sự suy thoái của ngành này, sự hưng thịnh của ngành kia cuốn theo sựthayđổivềcơcấulao động,làm cho hiện tượng thất nghiệp cơcấuphát triển. Việc áp dụngkỹthuật hiện đại,đổimớicông nghệđãgiúp cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất mà không cần tuyển dụng thêm công nhân hoặc thậm chí giảm số lượng lao động hiện có mà vẫn duy trì hoặc phát triển sảnxuất. Do sựtiếnbộ củakhoahọckỹthuật,đặcbiệt làsựtựđộnghoá, cơ khí hoá quá trìnhsảnxuất diễn ra nhanh chóng, nên trong một chừngmựcnhất định máy mócđãthay thế cho con người. Các nhà sản xuất luôn tìm cách mở rộng kinh doanh,đưanhững dây chuyền tựđộnghoá vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượngsản phẩm,hạgiá thành sản phẩmđểcạnh tranh. Một cỗ máy, một dây chuyền sản xuấttựđộng hoá cóthểthay thếcho hàng chục, thậm chí hàng trăm

30

công nhân.Số lượngcông nhânbịmáy móc thaythếlạitiếp tụcbổ sung vào đội quân thất nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường do có cạnh tranh nên các đơn vị kinh tế luôn phải tính tới việc giảm chi phí sản xuất, trong đó có giảm chi phí về nhân công, sử dụng ít lao động, tất yếu thất nghiệp sẽ xảy ra. Ngoài ra, do cạnh tranh là thuộc tính của kinh tế thị trường nên người lao độngdễbị đào thải, dễmất việc, nhất là lao động

yếuthế(lao động nữ,laođộng tàntật…)rất khó tìm việc làm vàhọ sẽtrởthành người thất nghiệp. Như trên đã trình bày, cạnh tranhlà động lực của thịtrường, vì vậy, duy trì cạnh tranhlà cần thiết đểthúc đẩy và phát triển nền kinhtế.Tuy nhiên, trong thựctế,cácchủthểcó xuhướngmuốn đượcđộcquyền và duy trìthếđộc quyềncủamình trên thương trường. Chính vì vậy,đểduy trì và bảo đảmsựphát triển lành mạnh của kinh tế thị trường, Nhà nước cần can thiệp, đưa ra các tiêu chí nhằm duy trì sựcạnh tranh lành mạnh trong nềnkinh tế.Sựcan thiệpcủaNhànước vào lĩnhvựcnày thể hiện thông qua các qui định pháp luật về cạnhtranh và

chốngđộcquyền…

Hiện tượng có nhiều người cósứclaođộng trong độ tuổi lao động muốn tìm việc làm mà không tìm được,người thất nghiệp xuất hiện một cách định kỳsau những khoảng thời gian nhất định được gọi là chu kỳ kinh tế [96, tr. 16]. Mỗi chu kỳ kinh tế đều gồmbốngiai đoạn: khủng hoảng, tiêuđiều,phục hồi, hưng thịnh. Trong giai đoạn khủng hoảng, tiêu điều việcđầu tưkhông còn thích hợp nữa, nền kinhtế bị đìnhđốn, trì trệ, sản phẩm làm ra thấp, tiền lương của người lao động, lãi suất,lợinhuận đềugiảm dẫn đến sứcmuacủaxã hội cũng giảm. Mặt khác, trong giaiđoạnnày, thất nghiệp tăng nhanh, số lượng các nhà máy, doanh nghiệp, công tybị đóngcửa ngày càng nhiều làm cho tâm lýcủaxã hội là tiết kiệm càng nhiều càng tốt bằng cách giảm bớt mức chi tiêu. Do đó, nhiều doanh nghiệp,đơnvịsản

xuất kinh doanh phải cạnh tranh nhau, nhiều doanh nghiệp, công ty…làm ăn thua lỗ sẽ bị giải thể, phá sản làm cho người lao động bị đẩy ra khỏi quan hệ lao động.

Chu kỳ kinh doanh có thể mở rộng hay thu hẹp do sự điều tiết của thị trường. Khi

31

sảnxuấtmởrộng thì thu hút thêm lao động,nhưng khibịthu hẹp thì lại dư thừa lao động. Chính điều này có tác động đến cung và cầu trên thị trường lao động làm phát sinh hiện tượng thất nghiệp. Do vậy, tình trạng thất nghiệp thường xẩy ra do chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế và khả năng hoạt động, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Sự phát triển của nền kinh tế sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng, miền, giữa khuvựcnông nghiệp, công nghiệp, dịchvụcũng gây ra hiện tượngthất nghiệp.Đâylàđiềukhôngthểtránh khỏiđốivớisựphát triển kinhtếcủa các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Ngoài ra, khi thay đổi một thểchế chính trị thường dẫn đến các chính sách vĩ mô, các giải pháp kinh tế của Nhànước cũng thay đổi theo làm cho nhucấu sử dụnglao động có sự thay đổi ít nhiều và hiện tượng thất nghiệp xuất hiện.

Tính tất yếukhách quancủathất nghiệp trong nềnkinh tế thị trường cònkểđến: Do ngườilao độngkhông ưa thích công việc đang làm, hoặcđịađiểmlàm việc nênhọ phải đi tìm một công việcmớihayđịađiểmlàm việc khác; Do mâu thuẫn giữa người sử dụng lao động và người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ nên dẫn đến người lao động từ chối làm việc hoặc người sử dụng lao động không chấp nhận người lao động, thất nghiệp tất yếu xảy ra.

Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp xẩy ra là tất yếu khách quan do cácyếutố thịtrường lao độngluôn có xuhướngcung nhiều hơn cầu, do áp dụng các tiến bộkhoahọckỹ thuật, do cạnh tranh… Các nhànướcđãnhận thứcđượcqui luật này và có những biện pháp nhằmhạnchếtiêucựccủahiện tượng thất nghiệp. Trong quá trình quản lý củamình, Nhànướcluôn tăngcườngđiều chỉnh và quản lý vĩ mônềnkinhtế một cách kiên quyết, khôn khéo đểđưamọi hoạt độngvào khuôn khổ và tuân theo pháp luật.

ỞViệt Nam, khi chuyển sang xây dựngnềnkinh tếthịtrường thìvấnđềthất nghiệp cũngđãvà đangđặt ra. Cùngvớithịtrường hàng tiêu dùng,thịtrường tư

liệu sản xuất,thịtrườngtiền tệ…thịtrường sức lao động ở nước ta đang trong quá

32

trình tìm tòi, hình thành và phát triển. Nhà nước đã tạo ra môi trường pháp lýđểthị trường sứclao độngphát triển thuận lợi.Tuy nhiên, trongnềnkinh tế thị trường mọi hoạt động đều tuân theo qui luật cungcầu nên vấn đềlao động không thể nằm ngoài qui luật đó. Ảnh hưởng củanền kinhtế thịtrường đốivới lĩnh vựcquanhệ lao độnglà rất lớn. Do vậy, việc nhận thức đúngđắnmốiquanhệcủakinhtế thị trườngvớivấn đềthất nghiệp có vai trò hết sứcquan trọng,đểtừđó có những chính sách về kinh tế và xã hội nhằm hạn chế thất nghiệp, giải quyết thất nghiệp làhết sức cần thiết ở Việt Nam.

1.1.2 Một số vấn đề vềthất nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm thất nghiệp

a) Khái niệm thất nghiệp của Tổ chức laođộng quốctế (ILO)

Do ảnhhưởngcủaý thứchệ vànhận thức xãhộinênvấn đềthất nghiệp được các nhà kinhtế họclý giải rất khác nhau. Người được coi là nghiên cứu khá thành công về thất nghiệp đó là nhà kinhtế họcKeynes trong “Lý thuyết về việc làm, lãi suất và tiềntệ”.Ôngđãnghiêncứurất sâuvềthất nghiệp trên cơsởphân tích cung-cầuvềlao động,thịtrường và cácmốiquan hệ kinh tế xã hội khác. Keynes thừa nhận vấn đềthất nghiệp không phải là hiện tượngđộclập của đời sốngkinhtếmà là kết quả của các qui luật nhất định trongviệc đạt được cân bằngcủa hệ thống kinhtế.Theo ông,nạnthất nghiệp sẽtồntạidướidạng“bắt buộc”,là một trạng thái mà trong đó “tổng cung về lao động của những người laođộngmuốn làm việc với tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có”

[75, tr. 53]. Ông cho rằng, để giảm thất nghiệp thì cần phải tạo nhiều chỗ làm việc trên cơsởtăngđầutư cho sảnxuất. Như vậy, theo ông thất nghiệp đó là cungvềlao động lớn hơn cầu tại một thời điểm. Quan niệm này đãlộttảđược bản chất của thất nghiệp, tuy nhiên quanđiểmmà ông đưara còn hạnchếlà chưa phân biệtđượcngườikhông có việc làm vàngườimất việc làmtựnguyện.“Lýthuyết của Keynesmặcdù còn nhiều phiến diện và hạn chếcủalịch sửnhưng những luận điểm mà ông đưa ra vẫn còn có ý nghĩa cho đến ngày nay” [3,Tr. 8 – 9].

33

Khinềnkinhtế thịtrường phát triển ởmứccao, các lý thuyết vềviệc làm vàthất nghiệp của Keynes và các nhà kinh tế họctrước đóđãtỏra bất lực trước tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng mà các biện pháp nêu trong lý thuyết củahọđãkhôngthểkhắc phụcđược.Nhiều nhà kinh tế họcđãđưara những lý thuyết mớivềthất nghiệp, phân tích các nguyên nhân và tácđộngkinhtế và xãhộiđối vớithất nghiệp. Một trongsố các nhà kinh tế đưara lý thuyết mớivềthất nghiệpđó là Samuelson [97, tr. 261]. Ông cho rằng:“Thất nghiệp là một vấn đềtrung tâm trong các xã hội hiện đại”. Khi mức thất nghiệp cao, tài nguyên bị lãng phí và thu nhập củadân giảm. Trong những thờikỳnhư vậy,nềnkinhtế sẽgặp nhiều khókhăn và ảnhhưởngđến tìnhcảm và đời sốnggia đình của mọi người.

Các lý thuyết vềthất nghiệp tuy có nhiều cách tiếp cậnkhác nhau nhưngđều cho thấy một điều cơ bản là, trong nền kinh tế thị trường vẫn có một bộ phận người lao độngthất nghiệp.Tỷ lệthất nghiệp cao hay thấp phụthuộc rất nhiều vàokhảnăng giải quyết việc làmcủachính phủ vàsựđấu tranh củagiới thợđối vớigiới chủ. Thất nghiệp là hiện tượng người có nănglựclao độngkhông có cơhộitham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất.

Từ điển kinh tếhọchiện đạicho rằng: thất nghiệp là những ngườilao động không có việc làm, bao gồmcảnhữngngườiđang trong giaiđoạntìm việc làm mới hoặc những người không thểtìmđượcviệc làm với đồng lương thựctế hiện hành [88, tr. 1053]. Như vậy, so với định nghĩa về thất nghiệp của Keynes thìđịnh nghĩa nàycụthểhơn, theo đó thất nghiệp bao gồmba loạiđốitượng:ngườilaođộngkhông có việc làm,ngườitrong giaiđoạntìm việc vàngườikhôngthểtìmđược việc làm.

Công ướcsố 102 (1952)củaTổ chức lao động quốctế (ILO)định nghĩavềthất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được mộtviệc làm thích hợp trong trường hợp người có khả năng làm việc và sẵn sànglàm việc”. Địnhnghĩa này của Tổ chức lao động quốc tế dựa trên một tiêu chí quan trọng“sựngừng thunhập”củangườilao độngđểxácđịnh hiệntượngthất

34

nghiệp. Quan điểm này xuất phát từ căn cứ chỉ có việc làm mới mang lại thu nhập cho người lao động và việc bị ngừng thu nhập đồng nghĩa với việc bị mất việc làm.Địnhnghĩa này cònchỉrađiềukiệnbị“ngừngthunhập”(bịmất việc làm) của ngườilao độnglà: Không có khảnăng tìm việc làm thích hợp trong khi có khảnăng và sẵn sàng làm việc và sau này được bổ sung thêm điều kiện người lao động tíchcựctìm việc làmởCôngước168 (1988). Côngướcsố 168 (1988)bổ sung thêm vào định nghĩa về thất nghiệp khái niệm “tích cực tìm kiếm việclàm”.

So với hai định nghĩa nêu trên thìđịnhnghĩa này khôngchỉra các trường hợp cụthể của thất nghiệp mà khái quát ở tiêu chí bị “ngừng thu nhập”củangườilaođộng. Địnhnghĩa này có tính khái quát nhưng khó khăn khi xác định trong thực tế, vìvậyTại Hội nghị quốc tế lao động lần thứ 13 tại Geneva năm 1983 về thống kêdân số hoạt độngkinh tế,việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm đãcụ thể hoákhái niệm thất nghiệp như sau: [126, tr. 97]

Thất nghiệp bao gồmtoànbộ số ngườiởđộ tuổi quiđịnh mà trong suốt thời gian khảo sát đã(a) không có việc làm, (b) có khả năng làm việc, (c) đang đi tìm việc làm.

a) Không có việc làm, nghĩa là đã không có bất kỳ một công việc được trả công hoặc côngviệc tựlàm;

b) Hiện tạicókhảnăng làm việc, nghĩa là có khảnăng làm bất kỳ mộtcông việc được trả công hoặc côngviệc tựlàm;

c) Đang đi tìm việc, nghĩa là trong thời gian khảo sát đãcó những hoạt động tìm kiếm việc làm được trả công hoặc công việc tự làm. Nhữnghoạt độngtìm việc gồm: đăng kýtạicơ quan dịchvụviệc làm; nộp đơncho cácchủdoanh nghiệp,đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng; nhờ sự trợ giúp của bạn bè, người

thân; vv…

Như vậy, các quan niệm nêu trên về thất nghiệp đãchỉra hiện trạng người laođộng có ý muốn đi làm nhưng hiện đang không có việc làm trong một khoảng thời gian xácđịnh.Trongsố các khái niệm nêu trên thìđịnh nghĩa thất nghiệp củaTổ

35

chức lao động quốc tế (ILO)được nhiều nước tánthành và đưa vào áp dụngở quốc gia mình.

Ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ bao cấp thuật ngữ “thất nghiệp” còn có tên gọi khác là “chờ việc“. Thất nghiệp và “chờ việc” khôngkhác nhauvềbảnchất,đềucó nghĩa làsứclao độngkhông hoặc chưađượckết hợp vớitư liệu sản xuất cụ thể. Có hai nguyên nhân khiến lâu nay dùng thuật ngữ “chờ việc” thay cho thất nghiệp: mộtlà, do coi thất nghiệp là phạm trù kinh tếchỉcó trong chủ nghĩa tư bản; hai là, trong thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung truyền thống Nhànước sắp xếp việc làm cho toàn bộ những người có nănglựclao động ở thành thị và nông thôn, khiđãthất nghiệp thì chẳng khác gì được bỏ vào két sắt, vẫn có cái ăn, cái mặc, cho nên cũng khôngcó vấn đềmất việc làm, chỉ có sức lao động mới tăng đang chờ Nhà nước phân phối việc làm là đang“chờ việc” [52,tr. 409]. Trong kinhtế thịtrường, chẳng những Nhànướckhông còn bao biện lo việc làm cho ngườilao động mà hơn nữa do cạnh tranh trên thị trường sức lao động và do khảnăng kinh doanh của các doanh nghiệp có thay đổi nên sẽ dẫn đến có mộtsố người đang có việc làm thành thất nghiệp. Do vậy, dùng thuật ngữ“chờ việc” không thểmô tả và khái quát được thực tế đời sống mà phải dùng thuật ngữ“thất nghiệp“ đểphân tích hành vi của người lao động thì sát thực tế hơn và lại thống nhất với cụm từđược thế giới sử dụng.

b) Khái niệm thất nghiệp ở Việt Nam

Việc làm và thất nghiệp là một vấn đề hết sức phức tạp. Sự phức tạp khôngchỉởchỗ đưa ra một khái niệm mang tính chất học thuật thuần tuý mà nó có được thừa nhận, đượcnhìn nhận một cách khách quan hay không. Từ các góc độ khác nhau, có những quan niệm về thất nghiệp khác nhau. Người nghiên cứuvềviệc làm nói chung nhìn thất nghiệp theo cáchcủahọ,còn các nhà thống kêvềdânsố và việc làmlạiđưara một khái niệm khácvềthất nghiệp, các nhà luật họclại có quan niệm riêngvềthất nghiệp. Có thểnói, các tài liệu nghiêncứuvềvấnđềnàytừtrước tới nay chỉ nêu khái niệm mang tính giải thích thuật ngữ, hoặc điểm qua như

36

là phần phụ khi nói đến một vấn đềchính nào đó có liên quan đến thuật ngữnày, chưa có giải thích rõ khái niệm và nêu nội dungcủanómộtcách đầy đủ. Vềmặt pháp lý, thuật ngữ “thất nghiệp”đãđược đềcập đến ở 3 văn bản, đó là: Sắc lệnh số29/SL ban hành ngày12/3/1947 (Điều 76); Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 của Hội đồngbộ trưởngban hành qui chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (khoản 1 Điều 46) và Bộ luật Lao độngđãđược sửa đổi, bổ sung năm 2002 (Điều 140). Trong ba văn bản này mới chỉđềcập đến thuật ngữthất nghiệp mà chưa đưa ra một định nghĩa về thất nghiệp.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ở Việt Nam đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đềthất nghiệp, nhất là từ khi tiến hành nghiên cứu và xây dựng Bộ luật Lao động. Nhiềuđềtài nghiêncứukhoahọchoặcmộtsố sách tham khảo đãbướcđầutiếp cận đến vấn đềnày. Theo Nguyễn Lê Minh: “Thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao động, có nghề nghiệp, muốn đi làm việc, đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền, nhưng vẫn chưa có việc làm” [12, tr. 20]. Chúng tôi cho rằng khái niệm này tươngđốikhái quát, bao hàm cácđốitượngthất nghiệp trong xã hội. Tuy nhiên, nếu đểxácđịnh đốitượnghưởng trợcấpbảo hiểm thất nghiệp theo qui định của pháp luật thì không thể áp dụng được khái niệm đó. Ở đây, những người lao động đãcó việc làm,nếubịmấtviệc nhưng chưa đăng ký tìm việcởcơ quan có thẩm quyền thì không được coi là thất nghiệp theo quan điểm trên. Như vậy, con số thất nghiệp ở nước ta sẽ rất ít. Bởi lẽ, cơ quan có thẩm quyền để đăng ký tìm kiếm việc làm ở nước ta mới được thành lập thời gian gần đây, hơn nữa, người lao động Việt Nam chưa có thói quen đăng ký tìm việc làm qua cơ quan chuyên trách,mà họ tựtìm kiếm là chính.

Theo Phạm Quý Thọ:“Thất nghiệp là một trạng thái trongđó ngườilao động trong tuổi lao động,có khảnăng và nhu cầulao độngmà không có việc làm. Người thất nghiệp là người hiện không có việc làm hoặc đang tìm việc làm” [105, tr. 28].Địnhnghĩa trên khó phân biệt thất nghiệp và thiếu việc làm. Theo định nghĩa củaTổ chức lao độngquốctế thì thiếu việc làmtồntạikhi làm việc không

37

đủvới tiêu chuẩn đặc trưng hoặc so với việc làm liên tục, có tínhđến kỹ năngnghềnghiệp. Trong cuốn sách“Hướngdẫnnghiệp vụ chỉtiêu xãhộiởViệt Nam” của Tổng cục thống kê xuất bản năm 1995 có đưa ra một khái niệm được coi là chính thứcvềthất nghiệp là: những ngườitrong khoảng thời gian xácđịnh thuộc các diện sau đây:

+ Không làm việc (các việc làm được trả công và việc tự làm);

+ Hiện sẵn sàng làm việc (các việc làm được trả công và việc tự làm); + Đang tìm việc.

Tuy nhiên, cũng do mục đích là thống kê người thất nghiệp cho nên khái niệm trên nặngvề chỉngười thất nghiệp chứ không phải là khái niệm thất nghiệp.

Đểcó thểđưaramộtkhái niệmvềthất nghiệp một cách chính xác, khoa học, theo chúng tôi, cần phải xuất phát từ khái niệm việc làm. Bởi vì, việc làm và thất nghiệp là hai hiện tượngđối lập nhau. Người có việc làm tức là người không thất nghiệp và ngược lại. Việc làm là trạng thái trong đó diễn ra các hoạt động lao động mang lại thu nhập và không bị pháp luật cấm. Trong thực tế, có hai loại việc làm:

một là việc làm thuêhưởngtiền lương hoặc tiền công, hai là việc làmtựthân cóthểlà cá nhân hoặc gia đình, có thểlàchủdoanh nghiệp. Việc làm có thểđược phân chia theo thời gian như: việc làm với thời gian đầyđủ,không đầy đủ,việc làmtạmthời và việc làmcố định,việc làm thường xuyên, việc làm theo thời vụ…Trong Bộ luật Lao độngviệc làmđượcđịnh nghĩa như sau: “Mọihoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”(Điều 13). Có thể nói rằng, đây là quan niệm tươngđối đầy đủvà chính xác về việclàm, nó phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, với quan niệm chung của nhiều nước trên thế giới. Do vậy, khái niệm việc làm chỉ tồn tại và đúng khi nó bao hàm đầy đủ các nội dung sau đây:

1/ Việc làm là những hoạt động lao động.Các hoạtđộngnày thểhiện sựtácđộng của sứclao động vào tư liệu sảnxuất đểtạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.Tuy nhiên, hoạt độnglao độngchỉlà một dấuhiệu cơbảncủaviệc làm mà khôngthể

38

đồng nhất lao động với việc làm. Yếu tố lao động trong việc làm khác với lao động thông thườngởchỗ: nó phải có tínhhệthống, tính thường xuyên và tính nghềnghiệp. Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau theo yêu cầu của một nghề sẽtrởthànhdấuhiệu lao động củaviệc làm.Từđó có thểhiểu rằng,ngườicó việc làm là người thực hiện các hoạt động lao động trong phạm vi một nghề nhất định, trong một thời gian tươngđối ổn định;

2/ Các hoạt động đó phải tạo ra thu nhập;

3/ Các hoạt động lao động đó phải phù hợp với pháp luật.

Như vậy, việc làm luôngắnvớithu nhập và những hoạt độngkhôngbịpháp luật cấm. Những hoạt độngkhông manglạithu nhập thì khôngđượccoi là việc làm. Việc làm phảiđượccoi là phươngkếkiếm sống, là một hoạt độngquađóngười ta được trả công (bằng tiền hoặc bằng hiện vật) và sống nhờ vào khoản tiền đó.Từ khái niệm trên, có thể hiểu: Thất nghiệp là tình trạng mà trong đó người laođộng không có công việcđượctrảcông hoặc không có công việc do mình tựthu xếp nhưng vẫn có khả năng lao động và hiện đang tìm kiếm việc làm.

Từ những phân tích trên có thể hiểu thất nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau.

–Thứnhất, dưới góc độ kinhtế – xã hội: thất nghiệp là một tình trạng tồn tại, trong đó có một số người trong lựclượnglao động muốn làm việc, nhưng không tìm đượcviệc làm ở mức tiền công đang thịnh hành.

–Thứhai,dướigócđộ dânsố:thất nghiệp là hiện tượng những người khoẻmạnh muốn lao động để kiếm sống nhưng chưa tìm được việc làm.

–Thứba, dưới góc độ pháp lý: các nhà làm luật cần phải quan tâm đến việc xácđịnh đối tượngnào trong số những người thất nghiệp nói trên đượchưởng bảo hiểm thất nghiệp hay nói cách khác để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì những ngườithất nghiệp phải có nhữngđiềukiện luật định.Tuỳtheo quiđịnhcủatừng nước mà điều kiện trên rộng hay hẹp và vì vậy khái niệm thất nghiệp dưới gócđộpháp lý cũng rộng hẹp khác nhau phụ thuộc vào kinh tế – xã hội, tương quan cung – cầu của mỗi nước.

39

Từnhững phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm thất nghiệp như sau: Thất nghiệp là hiện tượng xã hội phản ánh tình trạng toàn bộ số người có khả năng laođộng,ởđộ tuổi do pháp luật quiđịnh mà không có việc làm hoặc đang tìm việc làm mà không có thu nhập nên Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ.

Với cách tiếp cận đó, theo chúng tôi khi Việt Nam xây dựng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp thì nênthểhiện quan điểm:thất nghiệp là hiệntượngnhững người lao động bị mất việclàm, có nhu cầu lao động và đang tích cực tìm việc.

1.1.2.2 Khái niệmngƣờithất nghiệp

a) Khái niệmngườithất nghiệp ở một số nước trên thế giới

Dướigiácđộ củathịtrường lao động,khái niệmngườithất nghiệpđượcđịnhnghĩa rất khác nhau ở mỗi nước. Chẳng hạn:

– Luật bảo hiểm thất nghiệp ở Cộng hoà liên bang Đứccó nêu:“Ngườithất nghiệp làngườilao độngtạmthời không có quanhệlao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn” (Điều 101) [48, tr. 74].

– Luậtvề việclàm và thất nghiệp của Ba Lan quiđịnh:“Ngườithất nghiệp làngười có khả năng làm việc nhưngbịmất việc làm và không đihọcở các trường,đượccơ quan việc làmởcấp huyện đăng ký vào sổ dành chongườiđang sống trong vùng và kèm theo các điều kiện khác về độ tuổi và tình hình tài sản” (Điều 2) [78, tr. 2].

-ỞPháp người ta quan niệm:Ngườithất nghiệp làngườicó đủđiềukiệnđểlàm việc nhưng không có việc làm và đang tìm việc. Hay ở Nhật Bảnngười ta lại cho rằng: Người thất nghiệp là người hiện đang có khả năng làm việc nhưng không có việc làm và đang tíchcựcđi tìm việc làm hoặc đangchờkết quảxin việc làm

[15, tr. 23 – 24].

– Theo luật bảo hiểm xã hội Thái Lan qui định:“Thất nghiệp là một người được bảo hiểm ngừng việc do sự chấm dứt các quan hệ pháp lý giữa mộtngười sửdụng lao độngvà một ngườilao độngtheo sựthuêmướncủahợp đồngcác dịch vụ“ (Điều 5)[127, tr. 2].

40

– Ở Trung Quốc người thất nghiệp được hiểu: là người trong độ tuổi lao động, có sứclaođộng,mong muốn có việc làm nhưng không có việc, baogồmhai bộphận: một là lao động ở độ tuổi mới lớn, hai là sau khi đi làm mất việc phải đi tìm việc làm. Bộ phận thứ hai là đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm thất nghiệp [106, tr. 66].

– Văn phòng lao động quốctế(BIT) cho rằng: Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm. Họ có thểlà người chưa có việc làm, hoặc đã có việc làm nhưngđãthôi việc và đang cần tìm việc làm có tiền công [107, tr. 10 – 11]. Sau đó định nghĩa này được thông qua tại Hội nghị thống kê lao động quốctế lần thứ8 năm 1954 tại Geneva và được ghi lại trong khuyến nghị về thống kê lao động của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) năm 1975, trong đó chỉ rõ, người thất nghiệp là những người trongđộtuổi lao động vàthuộc một trong những trường hợp sau: 1) Người có việc làm nhưnghợp đồnglaođộngđãhết hạnhoặctạmthờibịgiánđoạnnên hiện không có việc làm và đang cần tìm việc làm có trả công. 2) Người chưa bao giờ có việc làm hoặc chưa từng làngườilàm công ăn lương (có thểlàchủdoanh nghiệp) hoặcđãthôi việc và đang cần tìm việc làm có trả công. 3)Người bị “treo giò”tạm thời hoặc không thời hạn mà không có tiền công.

Cũng theo khuyến nghị này, không coi là người thất nghiệp những trường hợp sau: 1)Người có dựđịnhlập doanh nghiệp hoặc khai thác nông nghiệp nhưng chưa tiến hành mà không tìm việc làm có trả công. 2) Những lao động gia đình không cótiền côngđãthôi làm việc mà không tìm việc làm có trả công.

Như vậy, trên thế giới tuy có những quan niệm rộng, hẹp khác nhauvềngười thất nghiệp nhưngđều tựutrung ởba tiêu thức cơbảnsau: 1) Có khảnăng laođộng;2) Đang không có việc làm; 3) Đang tìm việc làm. Ngoài ra, để gắn với quản lý lao động của mỗi quốc gia, thực hiện tốt cơ chế bảo hiểm thất nghiệp và khuyến khích ngườithất nghiệp tích cựctìm việc làm, cácnướcthường nêu ra cácđiều

41

kiện bổ sung như: đăng ký tìm việc làm; không có nguồn thu nhập nào khác; giới hạn độ tuổi;luôn sẵn sàng đi tìm việc làm.

b) Khái niệmngườithất nghiệp ở Việt Nam

Ở Việt Nam, để kiểm soát tình trạng thất nghiệp,Nhà nước phải nắm được sốlượngngườithất nghiệp. Theo điềutravềthực trạng lao động- việc làmcủaBộLao động Thương binh và Xã hội, người bị coi là thất nghiệp là: “người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, hiện tại đang:

– Có hoạt động đi tìm việc làm trong 4 tuần lễ đã qua, hoặc không đi tìm việc vì lý do không biết tìm việc ở đâu, hoặc tìm nhưng chưa tìm được;

– Trong tuầnlễtrướcđó (tínhđếnthời điểmđiềutra) có tổngsố giờlàm việc dưới 8 giờ có mong muốn và sẵn sàng làm thêmgiờnhưng khôngtìm đượcviệc” [18, tr. 17].

Ngoài ra, trong cuốn“Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao độngởViệt Nam”ngườithất nghiệp đượcđịnhnghĩa như sau:“Làngườitrongđộtuổi laođộng,có khảnăng lao động,trong tuầnlễtham khảo không có việc làm, đang cónhu cầu tìm việc làm và có đăng ký tìm việc làm theo qui định” [15, tr. 60].

Qua các khái niệm trên cho thấy việc nhìn nhận người thất nghiệp chủ yếu theo hai giácđộ: Ngườinghiêncứuvềviệc làm nói chung thì tập trung vào yếu tố cókhả năng lao động và nhu cầu làm việc, đăng ký tìm việc. Nhà thống kê về dân số, việc làm thì nhấn mạnh vềkhoảng thời gian thất nghiệp trướclúcđiềutra. Nhìn chung, hai cách tiếp cận này tuy có những điểm khác nhau song cùng gặp nhau ởmột điểmlàđềunhằm vào ngườikhông có việc làm hoàn toàn, nhưngtuỳtheo mục đích nghiên cứu, quản lý của từng lĩnh vực mà nhấn mạnh điểm này hay điểm khác. Như vậy, những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động mà không làm việc, không có nhu cầutìm việc làm, nhữngngườilàm việc ít giờtheo qui định, nhưng không có nhu cầu làm nhiều hơn đều không được coi là người thất nghiệp.

Từ sựphân tích trên,dướigócđộ pháp lý chúng tôi cho rằng: Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, hiện đang không có

42

việc làm và đang đi tìm việc làm. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp thì cầnphải có qui định ngườithất nghiệp vàngườihưởng bảo hiểm thất nghiệp là khác nhau (về vấn đề này xin trình bầy kỹ ở phần sau).

Ngoài ra, cũng cần phân biệt giữa người không làm việc với người thất nghiệp. Vềvấn đềnày, chúng tôi tán thành với ý kiếncủaĐỗNăng Khánh [74, tr. 29]: khái niệm “người không làm việc” rộng hơn khái niệm “người thất nghiệp”. Trong số ngườikhông làm việc có thểbao gồmcảngườithất nghiệp.Ngườikhông làm việc bao gồm cả những người có khả năng lao động, trong độ tuổi lao động nhưng lại không có nhu cầu tìm việc làm.

Nhưđãtrình bày, khái niệm“ngườithất nghiệp”và khái niệm“thấtnghiệp” không hoàn toàn giống nhaumặcdù chúng có cùng cơsởvà một số điểmchung như: đều chỉ ra tình trạng không có việc làm, trong khi người lao động có khả năng

lao động, không có thu nhập và đang tìm kiếm việc làm…Tuy nhiên, hai khái niệm này khác nhau về bản chất: Khái niệm “thất nghiệp” dùngđểchỉmột hiện tượng xãhội mà ở đó một số lượnglao động xã hội bị dư thừa (không có việc làm) mặc dù ngườilao động hoàn toàn có khảnăng laođộngvà đang tìm kiếm việc làm; Còn khái niệm“ngườithất nghiệp”đểchỉramộtcá nhânđơnlẻ ngườikhông có việc làm, trên cơsởđó Nhànướccó những hỗtrợcầnthiết đểhọ tồntại và tìm kiếm việc làm.

1.1.2.3 Phân loại thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng xã hội – pháp lý phức tạp nên tìm hiểu bản chất củanó luônđượccác nhà kinhtế,các nhà luật họcquan tâm. Một trong những hướngnghiên cứu để tiếp cận bản chất của hiện tượng thất nghiệp là tìm cách phân loại chúng. Việc phân loại này không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn giúp cho các nhà hoạch định chính sách về lao động, thất nghiệp, hỗ trợ thất nghiệp đưa ra những quyết sách đúng, phùhợpvới thực tếkhách quan. Tuy nhiên, việc phân loại thất nghiệp là công việc khó mà cho đến nay còn nhiều ý kiến khác nhau.

43

Không phảiởtất cảcác quốc gia, thất nghiệp đềuxuất hiệndướimột dạng thống nhất, mà ngược lại thất nghiệp được thể hiện dưới các hình thức khác nhau. Vì vậy, tiến hành phân loại chúng là một việc làm hết sức cần thiết, vừa mang tính lý luận lại vừacó ý nghĩavềthực tiễn. Hơn nữa, qua việc phân loại, chúng tasẽhiểu thêm được bản chất của vấn đề, từđó có những quiđịnhthích hợp.

Thất nghiệp thườngđược phânloại dựa trên các tiêu chí khác nhau, ở mỗi tiêu chí đưa lại cho chúng ta nhận thức ở những khía cạnh khác nhau của thất nghiệp.

Tiêu chí thứnhất, căn cứvào ýchí của người lao động thì thất nghiệp được chia làm 2 loại:

Thất nghiệp tựnguyện là loại thất nghiệp tạmthời do ngườilao độngchỉđi làm việc với mứclương cao, hay nói cách khác, những ngườithất nghiệp tựnguyện là những người không chấp nhận một mức lương hiện hành trên thị trường, nên không nhận việc mà trở nên thất nghiệp.

Thất nghiệp khôngtựnguyện là những người mong muốn làm việcvớimức lương hiện hành vào thời điểm đó, nhưng vẫn không tìm được việc làm.

Phân loại thất nghiệp dựatrên căncứýchícủangườilao độnggiúp chúng ta phânđịnhmột cách rạch ròi cácđốitượng đượchưởngtrợcấp thất nghiệp,từđóbảo đảm cho quá trình giải quyết việc làm, quản lý và chi trả trợ cấp cho đối tượng này một cách chính xác, đáp ứng được yêu cầu của người lao động.

Tiêu chí thứhai, căn cứvào thời gian thất nghiệp, người ta chia thất nghiệp thành 3 loại:

Thất nghiệp tạm thời là loại thất nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, do thay đổi nghề nghiệp, thay đổi nơi làm việc, thay đổi nơi ở, hoặc trong thời gian mới tốtnghiệp ra trường chưa xin được việc. Thất nghiệp tạm thời xảy ra ngay cảkhi nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Phần lớn những người thất nghiệp tạm thời là những người thất nghiệp tự nguyện.

Thất nghiệp tiềm tàng là tình trạng người lao động ở nông thôn không có việc làm trong một thời gian, vì không đúng mùa nông nghiệp. Loại thất nghiệp tiềm

44

tàng này đang ngày càng phát triển ởcácnướcđang phát triển, trongđó có Việt Nam.

Thất nghiệp dai dẳng là tình trạng thất nghiệp thường xuyênđốivớinhững người lao động có khả năng lao động nhưng do bị tàn tật,bị mắc các tệnạn xã hội

(ma tuý, mại dâm…), những người mãn hạn tù về nên khó tìm việc làm.

Phân loạidựavào thời gian thất nghiệp tạo điềukiện đểNhànướcxây dựng được kếhoạch sắp xếp,bốtrí thêm công việc cho người lao động dần dần đảm bảo hạn chế thời gian để trốngcủa họ.Đây là một việc làm hết sức cần thiết, vì có nhưvậy, chúng ta mới tránh được những tiêu cực trong xã hội do thất nghiệp là nguyên nhân chính gây ra “nhàn cư vibất thiện”.

Tiêu chí thứ ba, căn cứ vào nguyên nhân thất nghiệp thì có 2 loại:

Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khicó sựmất cân đốigiữa “cung”và “cầu” vềlaođộngở một số ngành hay một số vùng kinhtế.

Thất nghiệp chu kỳ xảy ra khi tổng mức cầu về lao động của toàn bộ nền kinh tế quốcdân thấp hơn mức cungvềlao động tươngứngvớitừng thời kỳ suy thoái của nền kinhtế.

Vớicách phân loại này, Nhànướccóthểđưarađượcnhững chính sách ưu tiên, ưuđãiđốivớimột số ngành nghề đangcầnthu hút lao động,hoặc nâng cao một số yêucầuđốivớingườilao độnglàm việc trong một số ngành nghềđãquádư thừa về nhân công, từđó lấylại thế cân bằng giữa các ngành nghề và tránhsựsuy thoái của nền kinh tế. Nếu Nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ này thì thất nghiệp chu kỳ và thất nghiệp cơ cấu sẽ được hạn chế một bước.

ỞViệt Nam hiện nay, trongbốicảnh thị trường sứclao động đang trong quátrình hình thành và phát triển, ngoài những loại thất nghiệp theo tiêu chí trên thì thất nghiệp còn có những hình thức biểu hiện khác mang tính đặcthù đólà: 1) Thất nghiệp hữu hình tích cựclà nhữngngườithất nghiệp tíchcựctìm việc làm. Tỷlệ thất nghiệp này phụ thuộc nhiều vào thời điểm điều tra. Chẳng hạn, điều tra

các trường dạynghề, cao đẳng,đại học…khiđang duy trì khoá học,tỷ lệthất

45

nghiệp hữu hình tích cực có thể thấp, nhưng sau khi kết thúc khoáhọcvài tháng, tỷ lệ này có thể tăng mạnh. 2) Thất nghiệp hữu hìnhthụđộnglà những người không có việc làm, nhưng không tích cực tìm việc mặc dù họ có khảnăng lao động.Họkhông tíchcựctìm việcbởivìhọ nghĩ rằng: khôngthểcó việc làm, hoặc có việc nhưng họ sẽ khôngđáp ứng đượcvề trình độ tay nghề, nghiệpvụ. Đối tượng này thường tập trung vào nhữngđốitượnghọcvấnthấp vàđặcbiệt là nhóm người “yếu thế” trongxã hội. 3) Thất nghiệp trá hình (thất nghiệp vô hình) là hiện tượng khingườilao độngđượcsửdụng dướimứckhảnăng màngườiđó vẫnsẵnsàng làm việc. Loại thất nghiệp này rất khó thống kê, có thểbao gồmtoàn phần hoặc

từng phần. 4) Thất nghiệp toàn phần là trường hợp ngườilao độnghoàn toàn không có việc làm và họ vẫn có nhu cầu làm thêm. 5) Thất nghiệp từng phần (bán thất nghiệp) là hiện tượng người lao động vẫn có việc làm nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao độngthựctế trong ngày thấp vàhọ vẫncó nhucầulàm thêm. 6) Thất nghiệp thời vụ là loại thất nghiệp xuất hiện có tính định kỳ trong một khoảng thời gian xác định do tính mùavụ của quá trình sản xuất, kinh doanh gây ra.

Với các hình thức biểu hiện trên đây, cho thấy thất nghiệp đang hiện hữu trong nềnkinh tế nướcta.Mỗiloại thất nghiệp có những tácđộngkhác nhauđếnnền kinh tế. Chính vì thế Nhà nước cần phải kiểm soát thất nghiệp ở tỷ lệ cho phép.Đểgiảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và hạn chế hậu quả của nó, ngoài những biện pháp hiện hành, Nhà nước nên sớm ban hành chế độ hỗ trợ cho người lao động khihọ bị mất việc làm thông qua trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp.

1.1.2.4 Ảnh hưởng kinh tế – xã hội của thất nghiệp

Kinh tế thị trường tất yếu nảy sinh ra thất nghiệp.Đó là một vấn đềnóng bỏng được các quốcgia trên thế giới quan tâm. Nó ảnhhưởngrất lớnđến sựphát triển và ổn địnhkinhtế,chính trị, xã hội của từngnước.

–Ảnh hưởng củathất nghiệp về mặt kinh tế

46

Đốivớicá nhânngườilao động,thất nghiệp đãlàmmấtnguồn thu nhập chủ yếu, thậm chí duy nhất của người lao động (tiền lương, tiền công), cũng có nghĩa làcắt đứt phương tiện sống của người lao động và gia đìnhhọ,đẩy nhữngngười này vào cảnh túng quẫn không có khả năng thanh toán cho các chi phí thường ngày. Do thất nghiệp mà có khi người lao động trở thành vô gia cư. Họ phải vật lộn với cuộc sốngđểduy trì sự tồn tại của mình và gia đình.

Đốivới quốc gia, thất nghiệp là một sự lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển. Hậu quả kinh tế của tình trạng thất nghiệp đốivớimỗi quốc gia còn phụ thuộc vào chi phí liên quan đến thất nghiệp của quốc gia đó. Những chi phí này bao gồm tiền từngân sách nhà nước, từ các quỹ của doanh nghiệp, cũng như của xã hội chi cho bảo hiểm thất nghiệp,trợcấp thất nghiệp,trợcấp mất việc làm, chi phí cho đào tạo,

đào tạo lại…

Xem xét các khoản chi cho thất nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) như: Bỉ, Pháp, Phần Lan, Cộng hoà liên bang Đức, Hy Lạp, Ý, Ba Lan, Tây Ban Nha bao gồmtiền bảo hiểm vàtrợcấp thất nghiệp cùng những chương trìnhthịtrường lao động tích cựccho thấyđó là những khoản chi rấtlớn, chẳng hạn: ỞThụyĐiểnchi trung bình cho mộtngười thất nghiệp mộtnăm là 35.570 USD; Đan Mạch: 26.693 USD; Đức:23.063 USD; Pháp: 12.153 USD; Thụy Sỹ: 18.371 USD; Phần Lan: 10.884 USD; Áo,Bỉ,Hà Lan và Na Uy:từ8.500 – 9.500 USD (số liệu năm 1993).Ởcácnướcnày, ngân sách dành cho chương trình thị trường laođộng thườngtừ2 – 6% GDP [84, tr. 38]. Chi phí liên quan đến thất nghiệp dẫn đến việc giảm sút ngân sách quốc gia. Người thất nghiệp không có thu nhập, không đóng thuế, chỉ đóng ít hoặc không đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Chi phí củaChính phủ cho tình trạng thất nghiệplớnsẽdẫn đếnhậu quảlà gia tăng thâm hụt ngân sách.

– Ảnh hưởng của thất nghiệp về mặt xã hội

47

Tăng nhanh số lượng người thất nghiệp trở thành một trongnhững vấn đềnhức nhối nhấtcủaxã hội. Thất nghiệp không chỉ đồng nghĩavớitình trạng vật chất ngày càng xấuđi mà còn kèm theo những hậu quảtâm lý – xã hội màngườithất nghiệp cũng như xãhộiphải gánh chịu. Những kết quảđiềutra xãhộihọcvà nghiên cứu kinh nghiệm chỉ ra rằng:

Điều khó khăn nhất mà người thất nghiệp gặp phải là sự chấn thươngtinh thần hơn là mất (hoàn toàn hay phần lớn) thu nhập củamình.Ngườithất nghiệp sống với tâm trạng nặng nề như“bịtách ra khỏi đời sống xã hội”, bị coi như“người ăn bám”,thậm chí “không còn là conngườitheo đúng nghĩacủanó”luôn luôn cómặccảm,tựti vớiđồngnghiệp đang đi làm vàvớicảvợcon, dođó dễbịkích độngvà rơi vào những hành vi thiếu tựchủ”[116, tr. 22].

Điềunày cho thấy,ngườimất việc làmsẽtrải qua giaiđoạndiễn biến tâm lýnhấtđịnh.Giai đoạn đầulàsựlạcquan và tintưởngtìmđượcchỗlàm việc mới; giai đoạn này thường ngắn. Giaiđoạntiếp theo là thời kỳ bi quan vàmấtdần hy vọng. Thời gian thất nghiệp kéo dài dẫn đến vô vọng và buông xuôi số phận, người thất nghiệp mặccảmvới chính mình, suy giảm tinh thần vàkhảnăngtựtìm việc làm, phôi phai dần những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đã có. Mất việc làm sẽdẫn đến không thể thoả mãn những nhu cầu cơ bản như: nhucầuhoạt động trong một tổchức, tiếp xúcvớimôi trường ngoài gia đình, có cơhộitựđánh giá và so sánhvớinhững thành viên khác của tổ chức, địnhhướnghoạt độngvà tổ chức cơ

cấuthời gian trong ngày, trong tuần…Ngoài ra, phảikểđếnnhữngvấnđềxã hội cơ bản đi kèm với thất nghiệp là: suy sụp thể lực và tinh thần, mâu thuẫn gia đình tăng, số người tựtửgia tăng cùng với việc gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự. Thất nghiệp tạo ra các điều kiện để phát triển các loại tội phạm khác nhau: trộm

cướp,hãm hiếp,giết người…và các tệnạn xã hội: nghiện hút, mại dâm, làm băng hoại giátrịđạo đức,văn hoá,củagia đình cũng nhưcủadân tộc. Cácđiềutra xãhội và tội phạm ở hầu hết các nước đều xác nhận: đối với thanh niên, rất dễ xảy ra tình trạng “tam giác đen”(thất nghiệp – nghiện hút – tội phạm).Đểthoát khỏi

48

“tam giác đen”này là rất khó khăn. Đốivớiquốc gia, khi có nhiều cá nhân thất nghiệp, toàn xã hội sẽ bị ảnhhưởngrất lớn. Xãhội sẽ phải đối đầu với nhiều tệ nạn hơn. Tác động của thất nghiệp đốivới xãhội thực sựđáng lo ngại, nó ảnh hưởng lâu dài đến đời sống của mỗi cá nhân cũng như cộngđồng, dễdẫn đến những xáo trộn về xã hội, thậm chídẫn đến biến độngvề chính trị.

– Ảnh hưởng của thấtnghiệp đến hệthống chính trị quốc gia

Thất nghiệp vốn làvấn đềhết sứcnhạy cảm với chính trị. Người dân có cuộc sốngấmno, đầy đủ, thì tình hình chính trị – xãhội sẽ ổn định vàngượclại. Dưới góc độ chính trị, thất nghiệp cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bấtổn của hệ thốngchính trị mỗi nước. Nếu thất nghiệp gia tăng, kéo dài còn làm cho tình hình chính trị, xã hội mất ổn định, hiện tượng bãi công, biểu tình có thể xảy ra. Ngườilao độnggiảm niềm tin vào chếđộvàkhảnăng lãnhđạo củanhà cầm quyền.

Do thất nghiệp có ảnhhưởngsâu rộngđếnnhiều lĩnh vựcnên hiện nay Chính phủcácnướcđềucoi thất nghiệp làmốiquan tâm hàngđầuvà thực hiện nhiều biện pháp đểgiải quyết tình trạng này, trongđó có việc nghiên cứu, quiđịnhchếđộ bảo hiểm thất nghiệp.

1.2 CHẾĐỘ BẢO HIỂM THẤTNGHIỆP

1.2.1 Khái niệmchế độ bảo hiểmthất nghiệp

Khắc phục và giải quyết tình trạng thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải, bởi lẽnó là căn bệnh cố hữu của nền kinh tế thị trường và do đó được các nước rất quan tâm.Tuỳtheo điềukiện kinhtế màmỗinướccó những chính sách và biện pháp giải quyết khác nhau. Các biện pháp giải quyết thất nghiệp mà cácnướcthường hay áp dụng đó là:

– Chính sách dân số, đây là chính sách mang tính chiến lược lâu dài, nó không chỉgóp phần hạ thấp tỷ lệ tăng dân số, giảm thất nghiệp mà còn tácđộngnhiều mặtđến đời sốngkinh tế – xã hội.

49

–Hạn chếdi cư từ nông thôn ra thành thị, tỷ lệ thất nghiệp ở thànhthịthường cao hơn nông thôn do có một bộ phận dân cư nông thôn vẫn có xuhướngra thành thịđểtìm kiếm việc làm. Đây là một áp lực lớn cho cư dân thànhthịcũng lâm vào tình cảnh thất nghiệp.Đểgiải quyết vấn đềnày, người ta đã thực hiện một loạt các chương trình như:địnhhướngphát triển nông nghiệp, thayđổicông nghệ trong nông nghiệp, xây dựng các cơ sở hạ tầng, tăngcườngcác dựán đầu tư đểphát triển

công nghiệp ở khu vực nông thôn…Tuy nhiên, khi thực hiện các chươngtrình này, Chínhphủcác nước thường gặp khó khăn về vốn và sử dụngvốn đầu tư.

– Áp dụng các công nghệ thích hợp, nhìn chung, khi áp dụng các công nghệthích hợp sẽ sử dụng được nhiều lao động hơn.

– Giảm tuổi nghỉ hưu, việc giảm tuổi nghỉ hưucủangườilao động sẽnhanh chóng thu hútđượcmột bộ phận lao độngđangbị thất nghiệp thaythếchỗ làm việc củangườivềhưu. Tuy nhiên giải pháp này sẽ làm cho số tiền chi trả trợ cấp hưu trí tăng lên, ảnhhưởngtrực tiếp đến cuộcsống và sản xuất củahọ,đồngthời ngân sách Chínhphủcũng phải gánh vác mộtphần đểgiải quyết hậu quả.

– Chính phủ tăng cường đầu tư cho nền kinh tế, việcđầutư cho nềnkinhtếchính là thực hiện nhữngmụctiêu kinh tế – xã hội nhưng đồng thời cũng tạo thêm việc làm cho ngườilao động.Tuy nhiên,nếusố chi lớn hơnsố thutừthuế của Chínhphủthì rất có thể lạm phát sẽ xảy ra.

– Trợ cấp thôi việc, mất việc làm,đâylà biện pháp mà các doanh nghiệp thường áp dụng nhằm góp phần giải quyết khó khăn, ổn định cuộc sống khi người lao động phải thôi việc hoặc mất việc làm do doanh nghiệp bị phá sản, giải thể, sắp xếp lạilao động.Biện pháp này có nhượcđiểmcơbảnlà khi doanh nghiệp cónhiều người thôi việc hoặc mất việc cũng là lúc doanh nghiệp gặp khó khăn trong sảnxuất kinh doanh,đồngthờilạiphải chi một khoản tiềnlớnđểtrảtrợcấp thôi việc hoặc mất việcnên rất bị độngvề tài chính, nhiều doanh nghiệp không có khảnăng chi trả.

50

– Bảo hiểm thất nghiệp, là mộtbộphận của bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ người lao độngtrong trường hợp bị mất việc làm. Ngoài việc chi trảtrợcấp cho người thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp còn có sự gắn kết giữa người thất nghiệp với thị trường laođộng như: việc đào tạo, đào tạo lại, môi giới việc làm, tư vấn nghềnghiệp, hỗ trợ kinh phí cho người thất nghiệp lập nghiệp v.v. Do đó ở hầu hết các nướcphát triểnđềuđãxây dựnghệthống bảo hiểm thất nghiệp đểđảmbảo đời sống cho người thất nghiệp.

Ngày nay, bảo hiểm thất nghiệp không chỉ được coi là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia mà còn được xem xét, điều chỉnh trong phạm vi quốctế.Tổ chức lao động quốc tế (ILO), là một tổ chức Liên chính phủ có vai tròto lớntrong lĩnh vựclao động và xã hội. Thông qua việctổchức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi rộng, với nguyên tắc“lấy số đôngbù số ít”,chia sẻ rủiro, ILO qui định trong Công ước số 102 (1952) về an toàn (hay còn gọi là an ninh, an sinh) xã hội, trong đó bảo hiểm xã hội đóng vai trò trụ cột và gồm có các “chế độ”:

1- Chăm sóc y tế.

2- Trợ cấp ốm đau.

3- Trợ cấp thất nghiệp. 4- Trợ cấp tuổi già.

5- Trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp. 6- Trợ cấp gia đình.

7- Trợ cấp thai sản. 8- Trợ cấp tàn tật.

9- Trợ cấp mất người nuôi dưỡng.

Côngướcsố 102 cũng khuyến nghị cácnướccăncứvào điềukiện kinh tế, chính trị xãhội đểtriển khai thực hiện các nội dung của chương trình An toàn xãhội.

51

Nhiềunướcđãxếp trợcấpbảo hiểm thất nghiệp là một chếđộcủahệthống bảo hiểm xã hội. Cũng phải thấy rằng cho dù chế độ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp có nhữngđặcđiểmchungcủachếđộbảohiểm xã hội, nhưng nó cũng có những đặc điểm riêng khác với các chế độ khác trong cùnghệ thống. Đó là, chế độtrợ cấp bảo hiểm thất nghiệp gắn liền với vấn đềviệc làm vàtạoviệc làm, dovậyvề đối

tượng, mục đích, quỹ, công tácquản lý…đều có nhữngnét riêng biệt.

Dưới góc độ pháp lý, có thể hiểuchếđộ bảo hiểmthất nghiệp (một dạng thuộc hệthốngchếđộ bảo hiểmxã hội) là tổng hợp những qui định của Nhà nước nhằmđiều chỉnh các quan hệxã hội hình thành trong lĩnh vựcđảm bảo điềukiện vật chất cho ngườilao động đang có việc làm mà bị mất việc vì lý do khách quan, cũng như trong lĩnh vực giúp người thất nghiệp trở lạivới thịtrường lao động.

Như vậy,“chếđộ bảohiểm thấtnghiệp”ởđâycũng đượcdùng tương đương như“chếđịnh bảo hiểm thất nghệp”.Tuy nhiên, do trong luật Lao động,luật An sinh xã hội người ta quen dùng hai từ “chế độ”, nhưchế độ hợp đồng lao động, chếđộ kỷluật lao động, nên trong luận án cũng sử dụng hai từ này.

1.2.2 Nội dung của chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Nhưđãphân tíchởtrên, thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp là tất yếu khách quan trongnềnkinhtế thịtrường đòihỏimỗi quốc gia phải có các chính sáchđiềuchỉnh nhằm một mặt bảo đảmquyền lợi củangườilao độngkhi bịthất nghiệp, mặt khác duy trì và phát triển nền kinh tế.Một trong những công cụhữu ích có tính hiệu quả cao là dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ thất nghiệp vàbảo hiểm thất nghiệp. Điều chỉnh pháp luật được hiểu là : “Việc Nhà nước dựa vào pháp luật,sử dụngmột loạt các phương tiện pháp lý đặc thù (qui phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, quan hệ pháp luật, hành vi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý)đểđiềuchỉnh các quanhệxã hội, tácđộng đếncác quanhệxãhộitheo phươnghướngnhất định”[123, tr. 430].Vớiquan niệm này thìđiềuchỉnh pháp luật đối với thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp trước hết bằng việc Nhà nước ban hành các văn bản qui phạm pháp luật làm cơ sở cho việc giải quyết các mối quan

52

hệ khi xuất hiện thất nghiệp,đểcác cơ quan có thẩm quyền ra các văn bản áp dụng pháp luật. Thông qua việc xây dựng và ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về thất nghiệp,Nhà nước địnhhướng cho những quan hệ xã hội trong lĩnh vực thất nghiệp phát triển phù hợp với các yêu cầu phát triển kinhtế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, việc xác định phạm vi điều chỉnh của pháp luật (tức là số lượng và mứcđộ các quanhệxã hội được qui phạm pháp luật tácđộng)nói chung và trong lĩnh vựcthất nghiệp nói riêng khôngđơngiản, nhất là trong điềukiện chúng ta mới bước đầu thực hiện kinhtế thịtrường. Xác định phạm vi điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vựcthất nghiệp là xácđịnhranh giớicủaviệcsửdụng pháp luật vào điều chỉnh các quan hệ xã hội, xác định ranh giới sự can thiệp công khai của Nhà nước thông qua pháp luật vào sựphát triểncủacác quanhệxãhộitrong lĩnh vựcthất nghiệp. Vì vậy, khi xácđịnh phạm vi điềuchỉnh pháp luật trong lĩnh vựcthất nghiệp cần phải dựa vào các điều kiện kinh tế, xã hội vào điều kiện nhận thức xãhội củacác chủ thểtham gia quanhệđó.Chính nhữngđiềukiện nàyđãlàm cho phạm vi điều chỉnh pháp luật không bất biến mànó có thể đượcmởrộng hay thu hẹp tuỳthuộc vào sự thay đổi của điều kiện kinhtế,xã hội và nhận thức xã hội.

Trongđiềukiện thực hiệnnềnkinhtếthịtrường theo định hướngxãhộichủ nghĩa ởnướcta mới bắt đầuvà hội nhập quốctế là xuhướngtất yếu củathời đại thì việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực thất nghiệp phải căn cứ vào những đặcđiểm này của đất nước ta.

Như đã trình bày, khái niệm thất nghiệp dùngđểchỉ tổng số người trong xã hội tạimột thờiđiểmnhất địnhkhông có việc làm và Nhànướccầncó chếđộ bảo hiểmđốivớihọ.Tuy nhiên, không phải tất cảmọingườithất nghiệp đềuđược hưởngchế độ bảo hiểm thất nghiệp mà một bộ phận sẽ khôngphải là đối tượngcủa chếđộ này nên việc xácđịnhđốitượngcủabảo hiểm thất nghiệp làvấnđềquan trọngở mỗi quốcgia. Điều này cũngđồngnghĩa với việc xác lập quan hệ pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động mà mỗi bên có những quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nhất định.

53

– Người lao động khi thất nghiệp được hưởng tiền bảo hiểm thất nghiệp do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chitrả, đượcgiúp đỡkinh phíđểđào tạo nâng cao tay nghềhoặc đào tạo lại nghề, có quyền khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động hoặc cơ quan thực hiện bảo hiểm thất nghiệp có hành vi vi

phạm pháp luật vềbảo hiểm thất nghiệp…Đồngthời, người lao động cũng cónghĩa vụ đóng bảo hiểm thất nghiệp theo qui định, thực hiện đúng các quiđịnh vềthủ tụcđểhưởng chếđộbảo hiểm thất nghiệp, khi thất nghiệp phải tíchcựctìm việc làm, sẵn sàng đi làm hoặc tích cực tham gia các khoá đào tạo do cơ quan lao

độnggiới thiệu…

-Ngườisửdụng lao độngcó quyềntừchối thực hiện những yêucầukhông đúng vớiquiđịnh củapháp luật, khiếu nạivớicác cơ quan nhànướccó thẩm quyền khi cơ quan thực hiện bảo hiểm thất nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật về

bảo hiểm thấtnghiệp…Ngườisửdụng laođộng có nghĩa vụ đóng bảohiểm thất nghiệp đúng qui định,thông báo nhu cầu cần tuyển dụngmớicho cơ quan laođộng địaphương, lưugiữhồ sơ liên quanđến việc thực hiện đóng bảo hiểm thất nghiệp và xuất trình các tài liệu và cung cấp thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhànướccó thẩm quyền khi có kiểm tra, thanh travềbảohiểm thất nghiệp.

– Trách nhiệm của cơ quan thực hiện bảo hiểm thất nghiệp: tham gia với các cơquan có thẩm quyền xây dựng,bổ sung,sửađổicác quiđịnhvềbảo hiểm thất nghiệp, từ chối việc chi trả tiền trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp khi người thất nghiệp vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp,tổ chức thu, quản lý,sửdụngquỹbảo hiểm thất nghiệp,trảtrợcấp thất nghiệp kịp thời,đầy đủvà thuận tiện, giúp đỡ

người thất nghiệp tìm việclàm…

Qua việc nghiêncứucác vănbảncủaTổ chức lao độngquốctế (ILO), pháp luật về thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới có thể thấy nội dungcủa chế độbảo hiểm thất nghiệp là các yếu tố cơ bản, cấu thành nên bảo hiểm thất nghiệp. Cụ thể bao gồm:

54

1.2.2.1 Đối tượng tham gia/hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là một trong 9 nhánh màTổ chức lao động quốctế

(ILO) đưa ra trong công ước số 102 năm 1952. Về thực chất,nó là một chế độliên quan đến người lao động, nhằm mụcđích ổn định cuộcsống của họ và gia đình họ. Tuy nhiên,tuỳthuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi quốc giamà chế độ bảo hiểm thất nghiệp đặt tronghệthống bảo hiểm xãhộihay tách ra thành“bảo hiểm thất nghiệp”một cáchđộclập. Song, dùthếnào nó vẫnkhácvớibảo hiểm con người tronghệthống bảo hiểm thươngmạiở3 điểmsau: Không có hợp đồngtrước, người tham gia và người thụhưởngquyền lợi là một, không có sự chuyển nhượng củanhữngngườibịthất nghiệp sang nhữngngườikhác có khảnăng thất nghiệp; Bảo hiểm thất nghiệp mang tính chất qui định củamột văn bảnpháp luật hơn làmột hợp đồngthụ hưởng; Bảo hiểm thất nghiệp không thể dự báo chínhxác về sốlượngngườithất nghiệp, phạm vi thất nghiệp,đồng thời cũng khôngthểdựbáođược thiệt hại về kinhtế.

Đốitượng của bảo hiểm thất nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của Tổ chức laođộng quốctế cũng như các quốc gia trên thế giới. Tổ chức lao động quốctế đãcónhiều Công ước quiđịnhrõ đối tượngáp dụng bảo hiểm thất nghiệp. Trong Công ước số 44 “Côngước về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp không tựnguyện”ban hành năm 1934 quiđịnháp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho tất cảnhững ngườilàm việc được trả tiền công hoặc tiền lương. Khi cần thiết pháp luật của mỗi quốc gia có thể qui định những ngoại lệ đối với những người giúp việc giađình, làm việc tại nhà, những người làm công ăn lương trong các hệ thống dịch vụ công íchcủaNhànước,nhữngngườilao độngchưađếntuổi qui định,những người đãđến tuổi nghỉ hưu, có thu nhập đủ đảm bảo tham gia bảo hiểm thất nghiệp

(Điều 2) [14, tr. 96-98].

Theo Côngướcnày nhữngngườithuộc diệnđượcbảo hiểm phải bảo đảmcác yếu tố sau: có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc; đã đăng ký tìm việc làm tại một cơ sở dịch vụviệc làm công cộng hoặc các cơ sở khác có thẩm quyền; và có

55

thể qui định ngoại lệ đối với một số lao động khi có điều kiện. Tiếp đến Công ước số 102 năm 1952 [13, tr.130] quiđịnhnhữngđối tượngđược bảo vệ phải bao gồm:

a) Những ngườilàm công ăn lương được qui định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương.

b) Hoặc mọi người thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quiđịnhtheo Điều 67.

c) Hoặc, nếu đã có bản tuyên bố để áp dụng Điều 3, bao gồm những người làm công ăn lương mà tổngsố ít nhất chiếm 50% toànbộ nhữngngườilàm công ăn lương làm việc trong các cơ sở công nghiệp đang sử dụng 20người trởlên (Điều 21).

Ngoài ra tại Điều 20 của Côngước cònquiđịnh:“Trườnghợp bảo vệ phải bao gồmtình trạng giánđoạnthu nhập như pháp luật quốc gia qui địnhvàxảyra do không thể có được một công việc thích hợp, trong tìnhhình người được bảo vệ cókhả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”.

Từ hai Công ước trên, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau:

– Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp là những người làm công ăn lương. Tuy nhiên,tuỳvào điềukiện kinhtế- xãhộicủamỗiquốc gia có thểmởrộng thêm đối tượng.

–Đối tượng hưởngbảo hiểm thất nghiệp là những người đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc.

Trước tình hình thất nghiệp trên thế giới ngày một gia tăng, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, những ngườilầnđầutìm kiếm việc làm, các nhà kinh tế củaTổ chức lao độngquốctế cho rằng: các chính sách kinhtế và xãhộicầnđạt tớisựtăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định, không lạm phát và có những biện pháp mềm dẻođểdễdàng thích ứng với những thay đổi của nền kinhtế,tạo được nhiều việc làm cho ngườilao độngnhằm chốnglạitình trạng thất nghiệp ngoài mong muốn của người lao động. Công ước số 168 “Công ước về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống lại thấtnghiệp”đượcTổ chức laođộng quốctế (ILO) thông qua 1988 nhằmbổ

56

sung, hoàn chỉnh các Công ước và khuyến nghị trước đó trong lĩnh vực việc làm vàchống thất nghiệp, tại Điều 11 qui định:“Nhữngngười được bảo vệ sẽ gồm những người làm công ăn lương theo quiđịnhkhông ít hơn 85% toàn bộ những người làm công ăn lương, kể cả những người làm công ăn lương khu vực công cộng và những người họcnghề” [14, tr. 276]. Ngoài ra, tại Điều 26 còn đưa ra một số điều khoản đặcbiệt đểáp dụngvớimột số loại lao độngmớixin việclầnđầu,hoặc không đượcxem là thất nghiệp, hoặc chưa bao giờ, hoặc không đượctham gia chương

trình bảo vệngườithấtnghiệp…Vìvậycóthểlựachọn ít nhất 3 trong các nhóm lao độngdưới đây đểcho tham gia và hưởng loại trợ cấp này [14, tr. 284] :

– Các thiếu niên đã hoàn thành chương trình dạy nghề; – Những thiếu niên đã hoàn thành chương trình học;

– Thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc;

– Người mới nghỉ nuôi con nhỏ, chăm sóc người ốm, người tàn tật, người già; – Người có vợ hoặc chồng chết, khi họ khôngđược hưởngtrợ cấp đểsống;

– Người đã lydị;

– Người hết hạn tù;

– Người đã trưởng thành bao gồm cả người tàn tật đãtốtnghiệp một khoá đào tạo;

– Người di trú ranướcngoàitrởvềnước,trừtrường hợp họ đãđượchưởng quyền lợi theo luật pháp của nước mà họ đã làm việc trước đó;

– Người trước đó tựlàm việc cho mình.

Vềđiều kiện đểđược hưởngbảo hiểm thất nghiệp, trongCông ước số168 qui định khá chặt chẽ“hoànthành một thời gian làm việc, thời gian này không được vượt quámứccầnthiết đốivới từng nghề nghiệp củanhữngngườilao độngtheo thời vụ” (Điều 17).

Như vậy, có thể nói Công ước số168 đãkhuyến khích cácnướcmởrộng đối tượngtham gia vào bảo hiểm thất nghiệp.Điểmmớivà hơn hẳn của Côngước số168 là khuyến khích cácnướcbảo hiểm cho cảlao độngbán thời gian,kểcảđối

57

tượngkhông có việc làm gì khác, lẫn đối tượng làm bán thời gian để tìm việc toàn phần.

Ngày nay, nhiềunướcđãtriển khaimộtsố chếđộ bảo hiểm xãhộimột cáchđộclập, trong đó có chế độ bảo hiểm thất nghiệp, songđối tượngcủa bảo hiểm thất nghiệp cũng giốngđối tượngcủa các chế độ khác trong hệ thống bảo hiểm xã hội,đó là người lao động. Còn đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp cũng là người lao động và người sửdụng lao động,song đối tượng này rộng hay hẹp còn tuỳthuộc vào điều kiện cụ thể và qui định của từng nước [108, tr. 93].

Theo kinh nghiệm của các nước, đối tượng của bảo hiểm thất nghiệp là những ngườilao độngbị thất nghiệp phải có thời gian lao động nhất định,ởlĩnh vực ngành nghề nào đó và làm trong cơ sở có qui mô lao động theo qui định. Ví dụ nhưở Hàn Quốc, chương trình bảo hiểm thất nghiệp được triển khai từ năm 1995, lúcđầu chỉ baogồmnhững doanh nghiệp với30 lao động trở lên loại trừmộtsố loại hình lao động quan trọng, đặc biệt là những người làm việc bán thời gian và người lao độnghưởngtiền lương ngày vớiít hơn 30,8 giờ/tuần.Vớiphạm vi áp dụngđược mở rộng doảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã ảnh hưởng nghiêm trọng đếntình hình kinh tế-xãhộiđất nướcnày. Thất nghiệpđãxảy raở mức chưa từng có, đãảnhhưởngđến các khu vực mà lực lượng lao động trước đây thường làm những côngviệc được bảo đảm. Chươngtrình bảo hiểm thất nghiệp đãđượcmở rộng ra, đến tháng 10/1998 các doanh nghiệp có một ngườilao độngtrởlên đều thuộcđối tượngáp dụng. Cuối cùng từ tháng 6/1999 lao động bán thời gian vàhưởngtiền lương ngày có việc làmtừmột tháng trởlên cũng thuộcđốitượng của chương trình [76, tr. 101].

HayởTrung Quốc, bảo hiểm thất nghiệp đượcáp dụngtừnăm 1986 đốivới những người lao động mới tuyển dụng vào doanh nghiệp Nhà nước. Sau một số lần sửađổi,đếnnăm 1999, ChínhphủTrung Quốcđãthông qua“Điềulệbảo hiểm thất nghiệp”. Điều lệ bảo hiểm thất nghiệp áp dụngđối với tấtcả lao động ở thành thị, lao độngtrong các doanh nghiệp Nhànước,doanh nghiệp tư nhân, doanh

58

nghiệp có vốnđầutưnướcngoài và những nông dân làm hợp đồngtrong các doanh nghiệp này [79, tr. 62]. Hoặc như ở Cộng hoà liên bang Đức, về nguyên tắc, tất cả nhữngngườilao độngtrên cơ sở hợp đồng như: công nhân, nhân viên hoặc

nhữngngườiđang đihọccũng nhưchủcủahọ,khôngphụthuộc vào mứcthu nhập,đều là đốitượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Theo cơ chế hiện hành củaChính phủCộng hoà liên bangĐức,công chức Nhànướclàđốitượng duy nhất không cần tham gia bảo hiểm thất nghiệp vì thời gian phụcvụtrong Nhànướclà cả đời.Họcsinh, sinh viên vàngườilao động làm việc dưới 18 giờ trong tuần hoặc có mức thu nhập ít hơn 1/7 thu nhập trung bình của tất cả thành viên của bảo hiểm thất nghiệp cũng không tham gia loại bảo hiểm này [42, tr.33 – 34]. Theo quiđịnhcủaVăn phòng thống kê lao độngcủaHoaKỳ,thì nhữngngườithất nghiệp là nhữngngườitừ16 tuổitrởlên trong vòng một tuần thăm dò mà vẫn không có công ăn việc làm,đãthực hiện những biện pháp cụthểđểkiếm việc trong khoảng 4 tuầntrướckhiđàmthoại vàsẵnsàng đi làm. Nhữngngườiđang chờgọilại đilàm ởnơi cũ sau khi bị sa thải hàng loạt hoặc đangchờ được làmởnơi mới sau 30 ngày cũng đều coi là thất nghiệp, khôngphụthuộc vào việchọ cótích cực đi tìm việc hay không. Những người trước đây không thuộc trongsố người đi làm, thì chính thức được coi là thất nghiệp nếu họ đang cố gắng đi tìm việc. Mặt khác, người nào trước đây đã đi làm, nhưng trong thời điểm hiện tại không đi làm và ngừng tìm kiếm công ăn việc làm, thì không được tính là thất nghiệp và do đókhông có quyền nhận trợ cấp theo chương trình đền bù thất nghiệp [38, tr. 16].

Như vậy,đốitượngtham gia bảo hiểm thất nghiệp củacácnướcchỉbó hẹp trong phạm vi những người lao động, đó là những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp hoặc làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan nhà nước. Còn công chức Nhà nước, lực lượng vũ trang, những người lao độngđộc

lập không có chủ, những người làm thuê theo mùavụkhông thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

59

Căncứtrên các qui địnhcủaILO vềthất nghiệp, cũng như tham khảo kinh nghiệm thực tiễn thực hiện bảo hiểm thất nghiệp của một số nước trên thế giới, tác giả luận án cho rằng: Trong giai đoạn trước mắt ở Việt Nam, đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp gồmnhữngngườilaođộng làm công ăn lương (có quanhệlaođộng), có đóng bảo hiểm thất nghiệp, nằm trong giới hạn độ tuổi lao động và bịmất việc làm.

1.2.2.2 Chế độtrợ cấpbảo hiểm thất nghiệp

Rủiro thuộc phạm vi bảohiểm thất nghiệp làrủiro nghề nghiệp,rủiro việc làm. Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bị mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp bảohiểm thất nghiệp. So với các chếđộ bảo hiểm khác, trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp phải thoả mãn các điều kiện cần và đủ tức là những điều kiện trước khi thất nghiệp, những điều kiện liên quan đến thất nghiệp và những điều kiện phải cótrong quá trình hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp là mức trợ cấp thay tiền lương cho người mất việc làm đểhọ ổn định cuộcsống và có điều kiện tham gia vào thị trường lao động.

Chếđộ trợcấpbảo hiểm thất nghiệp bao gồm:điềukiệnhưởngtrợcấp, mức trợ cấp; thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp.

a)Điều kiện hưởng trợ cấpbảo hiểm thất nghiệp

Là những quiđịnh củapháp luật màngườilao động phải thoả mãn cácđiều kiện đặt ra mới được hưởngtrợ cấp bảo hiểm thất nghiệp; thông thường bao gồm:

+Ngườitham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm trong mộtthời gian nhấtđịnh.Đểđượchưởngtrợcấp bảo hiểm thất nghiệp, thông thườngngườilao động phải có một quá trình làm việc nhất định và tham gia đóng bảo hiểm trong một thời giantốithiểu. Việc quiđịnhthời giantốithiểu là bao nhiêutuỳthuộc vào mỗi nước.Vídụ:Pháp quiđịnhlà 3 tháng trong 12 tháng cuốitrướckhi thất nghiệp; NhậtBảncó 6 tháng tham gia vào hệthống bảo hiểm trong 12 tháng cuối cùng (hoặc 1 năm đóng bảo hiểm trong 2 năm cuối cho các đối tượng lao động bán thời gian). Hungari: người lao độngđãcó ít nhất 48 tháng làm việc trước khi mất việc.

60

Trung Quốctốithiểu 1 năm tham gia bảo hiểm việc làm, khôngtựnguyện thôi

việc…[129].

+ Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm tại cơ quan lao động có thẩm quyền do Nhà nước quiđịnh. Đểđược hưởngtrợ cấp bảo hiểm thất nghiệp, người lao động phải đăng kývớicơ quan dịchvụviệc làm hoặc cơ quan quản lý laođộng. Chẳng hạn, ở Nhật, người thất nghiệp nhất thiết phải đăng ký tại cơ quan bảođảmviệc làm quốc gia, có khả năng và sẵn sàng đi làmnếunhận được công việc. Việc đăng ký phải được làm thường xuyên 4 tuần một lần. Hoặc ở Anhđãđăng ký với văn phòng lao động, có nănglựcvàkhảnăng làm việc, tích cực tìm việc làm

và có một bảnhợp đồng tìm kiếm việc làmmớinhất [129]…Việcđăng ký này giúp cho cơ quan lao động theo dõi, quản lý, kiểm soát được số người thất nghiệp cũng nhưđảmbảochitrảtrợcấpđúngđốitượng.Ngượclại, thông qua đăng ký thất nghiệpngườilao độngcũng phải chứng minh đượchọ có khảnăng lao động và luônsẵnsàng làm việc khiđượcgiới thiệu việc làm. Thậm chí,ngườithất nghiệp còn phải tham dự các hoạt độngtạonghề mới hoặc đào tạo lại khi cơ quan quản lý lao độngtriệu tập. Một sốnướccũng qui định rấtcụthểvềviệcđiều tra thu nhập của người hưởng trợ cấp trong thời gian thất nghiệp. Nếu họ có nguồn thu nhập nào khác thìđươngnhiên khôngđược hưởngtrợ cấp.

+ Thất nghiệp không phải do lỗicủangườilao động:trong trường hợp này ngườilao động phải chứng minh được việc thất nghiệp không do lỗi của bản thân họ. Các nước đều đưa ra các tiêu chí xác định trường hợp mất quyền hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp với các lý do như: tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng, vi

phạm kỷ luật lao độngdẫn đến mất việc…

+ Có sổ bảo hiểm thất nghiệp. Sổ bảo hiểm thất nghiệp là cơ sở pháp lý chứng nhận sự tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động bao gồm mức đóng phí và thời hạn đóng.

Bốnđiềukiện nêu trên là những yếu tố bắt buộc phải có đốivới người laođộngkhithụhưởngchế độ bảo hiểm thất nghiệp.

61

b) Mức trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

Qua nghiêncứupháp luật vềbảo hiểm thất nghiệp củanhiềunướccho thấy: Mứctrợcấp bảo hiểm thất nghiệp là khoản tiền màngườilao động(khi mất việc làm) nhận được từ cơ quan bảo hiểm thất nghiệp hay cơ quan quản lý lao động chi trả trợ cấp. Mức trợ cấp thất nghiệp đượchình thành trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng của người lao động.

Vềnguyên tắcmứctrợ cấp bảo hiểm thất nghiệp phải thấp hơn mức thu nhập củangườilao động khi đang làm việc nhưngvẫn phải đảmbảo đời sốngtối thiểu cho người thất nghiệp. Theo ILO, mức trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp tối thiểu bằng 45% thu nhập trướckhi thất nghiệp. Thông thường,ởcácnướcthường thiết kếmức hưởngtừ 50% đến 60% tiền lương trước khi thất nghiệp. Chẳng hạn:

Ở MôngCổ,Luật về trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp (1994) quiđịnh:“Tỷlệ trợcấpbảo hiểm thất nghiệpđượctínhdựatrên %mứclương hoặc thu nhập bình quân 3 tháng cuối của người thất nghiệp vàdựavào thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp nếu thời gian đóng: Từ 1 đến 5 năm tỷ lệ trợ cấp là 45%; Từ 5 đến 10 năm

tỷlệ trợ cấp là 50%; Từ 10 đến 15 năm tỷ lệ trợ cấp là 60%; Từ 15 năm trở lên tỷ lệtrợcấp là 70%. Mứctrợcấp tối thiểu cũng khôngđượcthấp hơn 75% mức lươngtốithiểu do chính phủqui định”(Điều 3) [128, tr. 76-77].TạiNhật mức hưởngtừ60%đến80%mứclương tiền công ngày(tỷlệnàysẽcao hơnđốivới người có thu nhập thấp); 50% đến 80% cho người thất nghiệp trong khoảngđộ tuổi từ60 đến 64. Mức trợ cấp tối thiểu ở mức 3.260 yên một ngày (2.610 yên cho đối tượnglao động lao động ngắn hạn) và tối đa là 10.900 Yên. Khoản trợ cấp này sẽđược trả sau 7 ngày cho đến từ 90 đến 300 ngày tuỳ thuộc vào độ dài của thời gian đóng bảo hiểm, tuổi tác, tương lai việc làm và các yếu tố khác [124, tr. 79 – 80].

Tuy nhiên, cũng có nước quiđịnhmức hưởngtrợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trên cơsởmứctiền lương tối thiểu. Nhưởthành phố BắcKinh (Trung Quốc) mức hưởngbảohiểm thất nghiệp đượccấpphát từ70%đến90%mứclương tối thiểu trong thành phố. Cụ thể là:

62

– Thời gian đóng tiền liêntụcchưa tròn 5 nămsẽhưởng70%củamứclương tối thiểu;

– Thời gian đóng tiền liêntụctròn 5 năm nhưng chưađược10 nămsẽđược hưởng75% của mức lương tối thiểu;

– Thời gian đóng tiền liên tụctròn 10 năm nhưng chưađược15 nămsẽphát 80% của mức lương tối thiểu;

– Thời gian đóng tiền liêntụctrên 15 năm nhưng chưađược20 nămsẽphát 85% của mức lương tối thiểu;

– Thời gian đóng tiền liên tục trên 20 năm sẽ phát 90% của mức lương tối thiểu (Điều 19) [43, tr. 8].

Cũng nhưBắcKinh (Trung Quốc), ở Hà Lan trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp vừa căn cứ vào tiền lương tối thiểu vừa căn cứ vào mức lương cuối cùng trước khi bịthất nghiệp. Khácvớicácnướctrên, một số nướcmứctrợcấpbảo hiểm thất nghiệp xác định theo tỷ lệ giảm dần so với tiền lương tháng cuối cùng nhưở Cộng hoà Séc quiđịnh:“Trợcấpbảo hiểm thất nghiệp đượctính bằng 50% tiền lương tháng trong suốt 3 tháng làm việc đầu tiên; 40% cho 3 tháng tiếp theo; 60% trong trường hợp người lao động phải đào tạo lại” [129, tr. 102].

ỞHungarimứctrảtrợcấpbảo hiểm thất nghiệp giảm dần theo thời gian thất nghiệp “Ngườithất nghiệp nhậnđược70%lương thực lĩnh cho nămđầutiên và50% cho năm thứ hai” [129, tr. 167]. Chỉ riêng ở Anh là xác định một mức hưởng trợcấp chung cho mọi đốitượng(32,75 bảng/tuần). Ngoài ra, một số nướccũng căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh gia đình để xácđịnhmứchưởng trợ cấpnhư: Bỉ, Phần Lan…

Ngoài ra,mứctrợcấpbảo hiểm thất nghiệp cònđượcxácđịnhtheo tỷlệlũy tiến điềuhoà, có nghĩa làmứclương thấp thìđượchưởngtỷ lệtrợcấp cao vàngượclại. Phương pháp này nhằmđảmbảomứcsống tối thiểu cho ngườithất nghiệp và tránh tình trạng lạm dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Các nước thực hiện mức trợ cấp này có Áo, Canada và một số nước EU.

63

Như vậy, quá trình vận dụng của các nước tuy có sự khác nhau nhưng mức trợcấpbảo hiểm thất nghiệp thường không cao đểkhuyến khíchngườilao độngtích cựctìm kiếm việc làm. Qua phân tích trên, cho thấy có 3 phương pháp xácđịnh mức trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cơ bản hiện nay mà nước ta có thể tham khảo là:

– Phương pháp thứnhất: Xácđịnhtheo một tỷlệđồngđềucho tất cảmọi ngườithất nghiệp căncứvào mứclương tối thiểu,mứclương bình quân cá nhân hay mức lương tháng cuối cùng.

– Phương pháp thứhai: Xácđịnh theotỷlệlũy thoái; những thángđầuđược hưởngtỷ lệ cao, những tháng sau tỷ lệ thấp hơn.

– Phương phápthứba: Xácđịnh theo lũy tiếnđiều hoà, những ngườithuộc nhóm lương thấp thìđược hưởngtỷ lệ cao và những người ở nhóm lương cao được hưởngtỷ lệ thấp.

Ngoài ra, có nướccòn căncứvào số con trong gia đình, lao độngtrí óc, laođộng chân tay, thành thị và nông thôn khi xácđịnh mứctrợcấpbảo hiểm thất nghiệp.

c) Thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

Thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp tối đaphụthuộcchủyếu vào yếu tố tài chính, vào quỹ bảo hiểm và thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế – xã hội khác. Trong các thời kỳ mà

tỷlệ thất nghiệp thấp, người lao động có khả năng tìm kiếm được việc làm và xuất hiện nhiều ngành nghề có mức cầu về lao động dễ hơn, thì thời hạn hưởng trợ cấp sẽhạthấp xuống.Ngượclại, vào thời kỳkhủng hoảng kinh tế,số người thất nghiệp gia tăng thì thời hạn hưởng đượckéo dài, nhưng cũng chỉcóthểkéo dài trong phạm vi quĩ bảo hiểm thất nghiệp có thể chịu được [108, tr. 100].

Công ước số 102 của ILO quiđịnh: “việcchi trả trợ cấp thất nghiệp có thể giới hạn ở 13 tuần trong thời kỳ 12 tháng, nếu người được bảo vệ là người làm công ăn lương; 26 tuần trong thời kỳ 12 tháng, nếu người được bảo vệ là người thường trú

64

mà các phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quágiới hạn qui định” (khoản 1 Điều 24).

Còn theo Công ước số 168 của ILO thì có thể được “Giới hạn tới 26 tuần cho mỗi kỳ thất nghiệp, hoặc tới 39 tuần trong mỗi giai đoạn 24 tháng” (Điều 19). Tuy nhiên,ởcácnướckhác nhau thời giantrảtrợcấp có quiđịnhkhác nhau. Thông thườngởcácnước,thờihạnhưởngkhoảngtừ12 tuần đến52 tuầnlễ như: Cộng hoà liên bangĐức13 tuần, Anh 24 tuần, Italia 180 ngày, Canada 36 tuần, Áo 20

tuần…Tuy nhiên, cũng có một số nướcquiđịnhthời gianđểhưởngtrợcấp bảo hiểm thất nghiệp rất chặt chẽ. Chẳnghạnnhư: Trung Quốc quiđịnh:trợcấpbảo hiểm thấtnghiệp sẽ đượchưởng trong vòng 12 tháng nếungười bịthất nghiệp đãđóng góp vào quĩ bảo hiểm thất nghiệp trong thời giantừ1 đến5 năm; những người đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 5 đến 10 năm thì hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa là 18 tháng. Những ngườiđóng bảohiểm thất nghiệp trên 10 năm thì sẽđược nhận tối đa là 24 tháng. Khi người lao động lại bị thất nghiệp sau khi đãtìm được việc làm thì thời gian đóng góp cho quĩsẽđượctính toánlạitrên cơsởxem xét khoảng thời gian họ đã nhận bảo hiểm thất nghiệp trước đây, tuy nhiên mức tối đa cũng không được vượt quá 24 tháng [79, tr. 61].

Nghiên cứu trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp ở các nước cho thấy, mức trợ cấp vàthờihạnhưởngtrợcấp đượccácnướcquan tâm vìảnhhưởngcủachúng có tính hai mặt. Mặt tích cực là trợ giúp kịp thời người thất nghiệp đỡ khó khăn túng quẫn trong thời gian mất thu nhập từlao động và có một khoản tiền tối thiểuđểsinh sống,chờcó việc làm mới. Mặt tiêucựclà khó cân đối tài chính giữa thu và chi bảo hiểm thất nghiệp,dễgâyỷ lại cho người thất nghiệp kéo dài thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp,nếu địnhmức trợ cấp và thời hạn hưởng trợ cấp quá cao.

Nhìn chung, thời hạn hưởngtrợcấpbảo hiểm thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian đóng phí bảo hiểm thất nghiệp nhưng thời hạn hưởng trợ cấp không dài. Tuy nhiên, nhiều nước còn qui định một khoảng thời gian tạm chờ chưa được trợ cấp từ3 đến 7 ngày (Thuỵ Điển quiđịnhtạm chờ là 6 ngày). Cách quiđịnhnày làm giảm

65

nhẹ tài chính cho quĩ bảo hiểm và đơn giản hoá khâu quản lý trong trường hợp thất nghiệp ngắn ngày.

1.2.2.3 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *