CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiếtcủa đề tài
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền có nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệcông lý, quyền con người, quan điểm của Đảng ta về việc hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng ngừa vàđấu tranh chống tội phạm (ĐTCTP) theo hướng xây dựng các cơ quan bảo vệpháp luật là nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội có ý nghĩa quan trọng, địnhhướng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) nói chung, chế định các biện pháp ngăn chặn (BPNC) nói riêng.
Các BPNC và những quyđịnhliên quan bảo đảmtínhkhảthi là một chế định quan trọng của pháp luật TTHS. Bởi lẽ, chúng là phương tiện cưỡng chếnhànướccó hiệuquảnhất đểphòng ngừa, ngăn chặntộiphạm và bảo đảm cho việc giải quyết vụ ánhìnhsự đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp này sẽ hạn chế quyền và tự do cá nhân được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận. Trong trường hợp, người bị oan bị áp dụng các BPNC, thì “chẳng những người ấy đau khổ, mà cả gia đình, con cái họ” [12, tr. 665]. Vàkhông ít trườnghợpáp dụng, thay thế,hủybỏbiện pháptạmgiam chịusựtácđộngcủatiêu cực. Nhữngvấnđềnày làm giảm uy tíncủacác cơ quan tiến hànhtố tụng(THTT) và giảm sút lòng tin của nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước. Đâylàvấn đềnhạy cảm mà thế lực thùđịch lợi dụngđểkích động “vi phạm nhân quyền”. Mặt khác, chế định này còn là phương tiện pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đối với người bịhại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cảngườiliên quanđếntộiphạm chưabịkhởitố,bịcan,bịcáo, cũng như thân nhân của họ.Đểthi hành được các BPNC, Nhà nước phải bỏ ra những chi phí không nhỏ cho bộ máy hoạt động, cơ sở vật chất nhà tạm giữ, trại tạm giam vànhiều khoản bồithường thiệt hạicho ngườibị oan.Bởivậy,chếđịnhcác BPNC và việc thi hành chúng luôngắnliềnvớichính trị, pháp luật, xã hội, kinh tế mà Nhà nước, tổ chức và cá nhân đều đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên, trong khoahọcluật TTHS,chếđịnhcác BPNCvẫnchưađược quan tâm, nghiên cứu một cách thỏa đáng đối với tầm quan trọng của nótheo định hướngcủa Đảngta về việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng ngừa và ĐTCTP. Ví dụ, dưới gócđộkhoahọc, nhiều vấn đềchưa được làm sángtỏ đểcó quan điểm thống nhất, đầy đủ và toàn diện, như: khái niệm BPNC, bản chất pháp lý, mục đích, căn cứ áp dụng, căn cứ phân loại và những nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC; còn thiếu những tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ chúng, giải quyết việc bồi thường thiệt hại cho ngườibị oan do ngườicó thẩm quyền TTHS gây ra,hệthống giải pháp nâng cao hiệuquảáp dụng; bên cạnhđó,pháp luật thựcđịnhvẫnchưa có địnhnghĩa pháp lývềBPNC; các BPNC tạo thành hệ thốngđộclập được quy địnhtạichương VIcủaBộluậttốtụng hình sự(BLTTHS) năm 2003, nhưng vẫn còn nhiều quy phạm nằm rải rác tại một số chương khác nhau làm mất đi tính khoahọccần thiết của nó; các quy phạm về: bắt bị can, bị cáo để tạm giam, tạm giữ và cấm đi khỏi nơi cư trú (các điều 80, 86, 91) đều không có căn cứ áp dụng; căn cứ khởi tố bị can không rõ ràngvề địnhlượng, địnhtính (Điều126) ảnh hưởngtrực tiếp đến việc ra quyết địnháp dụng các BPNC; quy định về bắt giữ trongHiệp địnhtương trợ tư pháp và pháp lý (TTTP&PL) không phùhợpvớibắtvàtạmgiữtrong BLTTHS năm 2003; Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH ngày 17/3/2003 củaỦyban ThườngvụQuốchộivềbồi thường thiệt hại, phụchồidanhdự,quyền lợichongườibị oan do người cóthẩm quyền trong TTHS gây ra (Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH) có những nộidung bất cập; thực tiễn áp dụng chế định trên đòi hỏi khoahọcluật TTHS giải đáp những vấn đềnổicộmsau đây: bằng biện pháp nào để hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam; định lượng thờihạn tạmgiam bao nhiêu là cần thiếtđểhoàn thànhhoạt độngđiều tra; vớibiện pháp nào đểkhắc phục được tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp, tưtưởng”bắt thay cho điều tra”; cơ chế bảo đảm quyền bồi thường thiệt hại cho người bị oan; sự công bằng trách nhiệm hoàn trảgiữa nhữngngườiTHTTđềucùng cólỗitrong việc gây ra oan; nên hay không nên loại bỏ biện pháp bắt ra khỏi hệ thống các BPNC và tiếp thu thẩm quyềnáp dụng biện pháp tạm giam tại phiên tòa; v.v…
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa nhữngvấn đềlý luận đốivớichếđịnh các BPNC, thực tiễn áp dụng thay thế, hủy bỏchúng trong một khoảng thời gian tương đối dài (1998-2008) và việc giải quyết bồi thường cho ngườibịoan trong thời giangầnđây(2003-2006) nhằm đánh giá những mặt tích cực, hạn chế, xác định những nguyên nhân, tồn tại của chúng, trên cơsởđó đưara phươnghướnghoàn thiệnchếđịnhcác BPNC nhằm nâng cao hiệuquảáp dụng trong giaiđoạnhiện nay không những có ýnghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng, mà còn là vấn đề cấp thiết mang tính thời sự. Đây là lý do giải thích cho việc quyết định chọnđề tài:“Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án * Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu những vấn đềcụ thể củachế định các BPNC và thực tiễn áp dụng, thay thế,hủybỏ chúng, quađóđánh giánhữngtồntại, nguyên nhâncủachúng,đồngthời,đưarahệthống giải pháp hoàn thiện chế định các biện pháp đó trong pháp luật TTHS Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Đểđạt đượcmụcđích nghiên cứu nêu ra trên đây, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụchủyếu sau:
Vềmặt lý luận: 1) Xây dựng khái niệm khoahọcvềBPNCbảođảm tính khoa học, logíc,đầyđủ,chính xác,thểhiện rõ bảnchất pháp lý của chúng; đưa ra các tiêu chí, căn cứ để phân loại, phân biệt các BPNC và phân tích ýnghĩa củachúng; 2) Phân tích nguyêntắcáp dụng, thay thế,hủybỏcác BPNC; 3) Hệ thống hóa sự hình thành và phát triển các BPNC trong pháp luật TTHStừthờikỳphong kiến cho đếnnay, rút ra những giá trị tiếnbộ,nhân đạo đểkếthừa kinh nghiệm lập pháp.
Về mặt thực tiễn:1) Nghiên cứu, đánh giá những quy phạm về các BPNC theo bốn tiêu chí:đối tượngbị áp dụng, căn cứ áp dụng, người có thẩm quyền áp dụng, thủ tục thực hiện, cũng như quy phạm về bắt tạm giữ người để dẫn độ và bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt độngTTHS gây ra; 2) Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC, cũng như việc bồi thường thiệt hại cho ngườibịoan do người có thẩm quyền trong hoạtđộngTTHS gây ra; chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của chúng; 3) Từ kết quả nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC, cũng như việc bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan, luận án chỉ ra sựcầnthiết, quanđiểm,cũng như, phươnghướnghoàn thiện chúng nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong công cuộc phòng ngừa và ĐTCTP ở Việt Nam.
* Đối tượng nghiên cứu
Đốitượngnghiên cứu của luận án đúng như tên gọi của nó: “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam”.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu, giải quyết nhữngvấnđềcụthểcủachếđịnhcác BPNC và thực tiễn áp dụng, đó là: bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng, người có thẩm quyền áp dụng, đốitượng bịáp dụng, mục đích và phạm vi áp dụng để đưa ra khái niệm khoahọcvềBPNC; phân biệt, phân loại các BPNCvớicác biện phápcưỡngchếTTHS khác theo nhiều tiêu chí và căncứ;nghiêncứunhững nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ chúng; hệ thống hóa sự hình thành và phát triển chúng trong pháp luật TTHS Việt Namtừthời phong kiến chođếnnay; phân tích các quy phạmvềcác BPNCđượcquyđịnhtạiBLTTHS năm 2003, HiệpđịnhTTTP&PL, cũng như,vềbồithường thiệt hại, phụchồidanh dự, quyền lợi cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS gây ra theo Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH để chỉ ra những bất cập của chúng; phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC trong khoảng thời gian mười một năm và thực tiễn giải quyết việc bồi thường thiệt hại cho người bịoan do người có thẩm quyền TTHS gây ra trong khoảng thời gian bốn năm gầnđây đểxác định những tồntạivà nguyên nhân của chúng, qua đó chỉ ra sự cần thiết, quan điểm và phương hướng của việc hoàn thiện chế định này.

Vềthời gian: việc phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC trong khoảng thời gian liêntụcmườimột năm (1998-2008) và
lấy mốcnăm 2003 ban hành BLTTHS hiện hànhđểtách khoảng thời gian này thành hai giaiđoạn1988-2002 và 2003- 2008 đểcó cơ sởđánh giá hiệuquảáp dụng cả hai Bộ luật nói trên.
4. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Đểđạt đượcmụcđích và thực hiện nhiệmvụnghiên cứu nói trên, cơsở lýluận của luận án được dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước ta về phòng ngừa vàĐTCTP trong giaiđoạnxây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay.Đó là cơsởphương pháp luậnđểgiải quyết nộidungcầnnghiên cứu củaluận án. Ngoài ra, luận án còn dựa vào những thànhtựu đãđạt được
từcác chuyên ngành khoahọcpháp lý, như: triết học, lịchsửnhànướcvàpháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, luật TTHS, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết trong các tạp chí của nhiều nhà khoahọcluật ở trong và ngoài nước.
Luận ánsửdụng phương pháp tiếp cậnđểlàm sáng tỏ vềmặt khoa họctừngvấn đềtương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu, như: lịch sử,
so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, v.v… Trong sự kết hợp với những liều lượngkhác nhau giữa các phương pháp nghiên cứu, thì phương pháp phân tích, thống kê, so sánh là phương pháp có vai trò chủđạo.
Việc nghiêncứuđềtài còndựavào các tài liệuhướngdẫn thi hành BLTTHS năm 2003 của các cơ quan ở Trung ương, những báo cáo của Viện kiểm sát nhân dântốicao (VKSNDTC)về”Tổng kết công tác kiểm sát việc
tạmgiữ,tạmgiam, quản lý và giáo dụcngườichấp hành án phạt tù” trong mười một năm liên tục từ năm 1998 đến năm 2008, Báo cáo của Ban Chỉđạo
13
cải cách tư pháp về kết quả bốn năm triển khai Nghị quyết 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Thừa Thiên -Huếvềthực hiện Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH, quađó cho phép đánh giá hiệuquảviệc áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC vàkết quảgiải quyết việcbồithường cho ngườibịoan do ngườicó thẩm quyền trong TTHS gây ra.
5. Những điểmmớivềmặtkhoa học của luận án Công trình chuyên khảo này có sáu điểm mới, như sau:
Một là, phân tích những ưuđiểmvàhạnchếcủacác khái niệm khoa họcở trong và ngoài nước về BPNCđểtừđó xây dựng khái niệm khoahọcvềnódựatrên những tiêu chí sau:bảnchất pháp lý, căncứáp dụng,ngườicóquyền áp dụng, đối tượng bị áp dụng, mục đích và phạm vi áp dụng bảo đảm logic, chính xác,đầyđủ.Lậpluận thuyết phụcvềbảnchất pháp lýcủacác BPNC có tínhcưỡngchế và phòng ngừa.
Hai là, phân loại các BPNC theo những căncứcầnthiết vàchỉra ý nghĩa củachúngđểlàm sâusắchơn khái niệm trên,đồngthời,sửdụng việc phân loại đó làm tiêu chí nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ chúng.
Ba là, phân tích ba nguyêntắcáp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC nhằm nâng cao nhận thức và quán triệt cho ngườiTHTT phương châm “không đểlọttội phạm và không làm oan người vô tội” trong công cuộc phòng ngừa và ĐTCTP.
Bốn là, phân tíchnộidungcủatừng BPNCđượcquyđịnh trong BLTTHS năm 2003 theo các tiêu chí thống nhất, như:đốitượngbịáp dụng, căncứáp dụng,chủthểcó quyền áp dụng,thủtụcthực hiện và làm rõ các trường hợp thay thế, hủy bỏ các BPNC, cũng như,mộtsố nội dung bất cập của Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH.
14
Năm là, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC theo hai giai đoạn 1988-2002 và 2003-2008,đồng thời, phân tích,đánh giá thực tiễn việc bồi thường thiệt hại, phụchồidanh dự, quyền lợi cho người bịoan trong thời gian bốnnăm (2003-2006), quađó xácđịnhnhững tồn tại và nguyên nhân của chúng.
Sáu là,từcáctồntại và nguyên nhân đó,luận án chỉ rasựcầnthiết, quan điểm và những định hướng hoàn thiện chế định các BPNC, qua đó đề ra phương hướng hoàn thiện nóđểnâng cao hiệuquảphụcvụcông cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam có nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý và quyền con người.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Đểtạo điều kiện và mở rộngnộidung nghiêncứu đềtài này, tác giả đãcôngbố kết quảcác công trình sau: “Vềbiện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam“, trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, 2002; “Biện pháp ngăn chặn
tạm giữ, tạm giam và thực tiễn áp dụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát các cấp tỉnh Thừa Thiên Huế“, trong Luận văn thạc sĩ Luật học, 2002; “Một sốvấn đề về thời điểm kết thúc của thời hạn đượcquy định trong Bộ luật tố tụng hình sự“, trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, 2005; “Chế định các biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng tạitỉnh Thừa Thiên Huế”, trong đềtài Khoahọccông nghệ cấp Bộ, 2005; “Bảo đảm quyền khiếu nại tố cáo theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” và “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,bị can,bị cáo trong luậttố tụng hình sựViệt Nam” trong hai chuyênđềbảo vệvào tháng 8, 2007,đãđượccôngbố một phần tại Tạp chí Nhànước pháp luật, số 8, 2007 và số 2, 2008, đồng thời, nghiên cứu đề tài khoahọccủa Vụkiểm sát giam, giữ,cảitạo về”Kháng nghị của Viện kiểm sát với các cơquan có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành hình phạt tù“, 2004.
15
Kể từkhi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực pháp luật cho đến nay, luận án này là công trình chuyên khảo đầu tiên trong lĩnh vực khoahọcluật TTHS ở cấp độ tiến sĩnghiên cứu chế định các BPNC một cáchhệ thống, đồng bộ vềnhữngvấn đềlý luận và thực tiễn sau đây:
– Luận án phân tích và xây dựng một hệ thống quan điểm có tính chất họcthuật vào kho tàng lý luậncủakhoahọcluật TTHS Việt Namvềcác BPNC, như: các tiêu chí thống nhất để phân tích từng BPNC cụ thể; những đặcđiểmcủacác BPNC; so sánh chúngvớicác biện phápcưỡngchếTTHS khác; căncứphân loại các BPNC vàýnghĩacủanó;vấnđề”tiết kiệm” và hiệuquảcủa việc áp dụng, thay thế, hủy bỏ chúng.
– Trên cơ sở phân tích một sốquy phạm pháp luật TTHS theo những đặc điểm củakhái niệm BPNCđãđược xây dựng, luậnán đãphát hiện ra ba biện pháp ngăn chặn không tuân theo những nội dung cần thiết đó, gồm: a) Bắt bịcan, bịcáo đểtạm giam; b) Tạm giữ; c) Cấm đi khỏi nơi cư trú, đồng thời, chỉra nhiều nguyên nhân dẫn đếnviệc tùy tiện sửdụng các BPNC và hiệu quả thấp của ba biện pháp: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hay tài sản có giá trị đểbảo đảm.
– Luận án còn chỉ ra nhữngbất cập về đối tượngđược bồi thườngthiệt hại, trách nhiệm bồi thường, nghĩavụbồihoàn và thời hiệu yêucầubồi thường thiệt hại trong Nghị quyết 388/NQ- UBTVQH, đưa ra nhiều kiến nghịđược rút ra từ thực tiễn áp dụng các BPNC thông qua việc nghiên cứu, đánh giábáo cáo của VKSNDTC về “Tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dụcngười chấp hành hình phạt tù” trong khoảng thời gian mười một năm liên tục (1988-2008), báo cáo của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ươngvềkếtquảbốnnăm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002củaBộChínhtrịvềmộtsốnhiệmvụtrọng tâm công tác tưpháp trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, luận án đánh giá được hiệu quả áp dụng chế định các BPNC.
16
– Chính vì vậy,ởmộtchừng mựcnhấtđịnh,luận ánsẽlà tài liệu bổích phụcvụcho công tác lập pháp và áp dụng pháp luật TTHS, cũng như làtài liệu khoahọctham khảo cho giảng viên,họcviên, sinh viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự trong các cơ sở đào tạo luật học.
7.Kếtcấucủa luận án
Ngoài phầnMởđầu,Kết luận, Danhmụctài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chế định các biện pháp ngăn chặn trong luậttố tụnghìnhsự ViệtNam.
Chương 2: Những quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hànhvề chế địnhcác biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Phươnghướngvà giải pháp hoàn thiệnchếđịnhcác biện pháp ngăn chặn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng.
17
NHỮNG VẤN ĐỀCHUNG
VỀCHẾĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG LUẬTTỐ TỤNG HÌNH SỰ, PHÂN BIỆT VÀ PHÂN LOẠI CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
Đểthực hiện nhiệmvụchủđộngphòng ngừa, ngăn chặntộiphạm, phát hiện chính xác, kịp thời vàxửlý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, BLTTHS cho phép cơ quan THTT áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp cưỡng chế TTHS.
Các biện pháp cưỡngchếấyđượchầuhết các giáo trình luật TTHS Việt Nam chia ra làm ba nhóm, như sau: a) Nhóm thứ nhất, các BPNC, gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản cógiátrịđểbảo đảm; b) Nhómthứhai, các biện pháp thu thập chứng cứ, gồm:
khám xét người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; xem xét dấu vết trên thân thể; thugiữthư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm; tạm giữ đồ vật là vật chứng, tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án; c) Nhóm thứ ba, các biện pháp bảo đảm cho hoạt động điều tra, truytố,xét xử và thi hành án, gồm: kê biên tài sản; áp giảibịcan,bịcáo,dẫngiảingườilàm chứng; tạmđìnhchỉchứcvụcủabị can; những biện pháp kỷ luật người vi phạm trật tự phiên tòa.
Trong ba nhóm biện pháp cưỡngchếTTHS nói trên, thì các BPNC thuộc nhóm thứ nhất chiếm vị trí trung tâm và vai trò quan trọng hơn cả. Bởi vì nhiềulẽ: thứ nhất, nó có khả năng ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, việc bỏ trốn, tiêu hủy chứngcứ,ngăn ngừa phạm tội mớivà bảo đảmcho hoạtđộngđiều tra, truytố,xét xử, thi hành án nhằm góp phần hạn chế tội phạm vàcác vi phạm pháp luật khác;thứhai, việc áp dụng các BPNC làm hạn chế một
18
số quyền và tự do cá nhân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật và cómức độ hạn chế nghiêm khắc hơn so với các biện pháp khác trong TTHS;thứba, nếu việc áp dụng các BPNC đối với người bị oan có thể gây ra hậu quả rất nghiêm trọng không nhữngđốivới cá nhân người bị áp dụngmà cảgia đình họ,đồngthời, làm mất uy tíncủa cả hệ thốngcơ quan tư pháp, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Vấn đềtựdo cá nhân và bảo đảm các quyền công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận, như: a) Công dân có quyền bất khảxâm phạm thân thể,được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm; b) Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật; c) Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dựnhân phẩm của công dân, đồng thời, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm nênthểhiện trong nhiều văn bản trước đây và gần đây nhất là Văn kiện Đại hội đạibiểu toàn quốclầnthứXcủaĐảngkhẳng định:”Tiếptụcthực hiện cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người” [21, tr. 291].
Vớitinh thầnđó,BLTTHS hiện hành có quyđịnhcác nguyên tắc, như: Bảo đảm pháp chế xãhội chủnghĩa (XHCN) trong TTHS; tôn trọng vàbảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm vềthân thể của công dân; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danhdự,nhân phẩm, tài
sản của công dân, v.v…
Việc áp dụng các BPNC luôn đi đôi với sự hạn chế một số quyền và tựdo cá nhân, như:tựdo đi lại, tự do cư trú, tự do hộihọp, quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, quyền bảo hộ về tài sản, v.v…
Mặc dù, việc áp dụng các BPNC gắn liền với sự hạn chế một số quyền và tựdo cá nhân đối với bị can, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tộiphạm, nhưng lại bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều công dân
19
khác, như: ngườibị hại,bịđơndânsự,ngườicó quyềnlợivà nghĩavụliên quan. Bảo vệ các quyền và tự do ấy trong TTHS có ý nghĩa chính trị – pháp lý và trên bình diện chung là bảo vệquyền vàlợiích hợp pháp củacông dân. Ngoài ra, việc áp dụng các BPNC cònloại bỏ được nhữngcản trở đốivới hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án từ phía bị can, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, bảo đảm cho việc nghiên cứu đầy đủ, khách quan, toàndiện đốivới vụán. Chính vì vậy, các BPNC là phương tiện cần thiết của Nhà nước bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Chính điều đóthể hiện ý nghĩa xã hội của chúng trong việc giải quyết tội phạm.
Trong những năm gần đây, thực tế cho thấy việc áp dụng các BPNC đãkịpthời chặnđứngđượctộiphạm, ngăn chặn việccảntrởhoạtđộngđiềutra, truy tố, xétxử,thi hành án, góp phần làm giảm tình hìnhtộiphạm. Tuy nhiên, trong việc thi hành đó vẫn xảy ra vi phạm pháp luật, như: lạm dụng bắt khẩn cấp, lạm dụngtạmgiam, tạm giam quá hạn, dùng nhục hình, tra tấn gây chếtngười
và đặc biệt, trung bình hàng năm có gần một trăm người bị oan; v.v…
Vì vậy, việc tiếptụcnghiêncứulàm sángtỏkhái niệm BPNC và nội dungcủanó cóýnghĩa quan trọngđốivớiviệc nâng cao nhận thứccủangười THTT, bảo đảm cho việc áp dụng các BPNC đạt hiệu quả cao hơn.
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn
Một trong những nội dung cơ bản của công cuộc phòng ngừa và ĐTCTP là: “Cần thiết phải phát hiện,điềutra khám phákịpthờimọitộiphạmxảyra.Đảmbảotộiphạm khôngthểkhôngbịphát hiện,điềutraxửlý. Không một người phạm tội nào có thể tránh khỏi hình phạt của pháp luật” [98, tr. 10].
Đểthực hiện công việcđó,cơ quan chức năng phải áp dụng các BPNC như là những phương tiện có hiệu quả nhất để ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, ngăn chặn phạm tội mới.
Các BPNC là cơsởpháp lý cóýnghĩatạođiềukiện thuậnlợicho việc phòng ngừa và ĐTCTP, đồng thời, là biện pháp hạn chế một số quyền và tự do cá
20
nhân nên chúngđượcquan tâm không nhữngtừphía các nhàlậppháp màcảnhững nhà nghiên cứu khoa học luật TTHS ở nước ngoài cũng như ở trong nước.
Các chuyên gia luật họccủanướcngoài có những khái niệm khác nhau về BPNC, các BPNC như:
Z.D. Enhikeev cho rằng: “Các biện pháp ngăn chặn là một phạm trù đặcbiệt, có ý nghĩa phòng ngừa” [Dẫn theo 37, tr. 16]. Tácgiảđãđúng khi xác định BPNC có ý nghĩa phòng ngừa, nhưng lại không đề cập đến căn cứ áp dụng,đốitượngbịáp dụng, cũng nhưchủthểcó quyền áp dụng và còn làm khó hiểu, trừu tượng nó là “phạm trù đặc biệt”.
P.M. Đavưđop nhận thấy:
Biện pháp ngăn chặn như là biện pháp cưỡngchếđượcCơ quan điềutra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng theo trình tựđược pháp luậttố tụng hìnhsựquyđịnhđốivới ngườibịtình nghi thực hiện tộiphạm,bịcan haybị cáo vớimụcđích ngăn chặn việcbỏtrốncủahọ khỏisựđiềutra, xét xửvà tránh khỏi hình phạt, cũng nhưcảntrởphanh phui sựthật và tính nguy hiểm cho xãhộicủa những người này khi họ đang tự do [Dẫn theo 100, tr. 11].
Iu.Đ. Livsic đánh giá quan niệm trên, như sau: “Xác định này rõ ràng hơn, nhưng lại dựa trên pháp luật tố tụng hình sự đã hết hiệu lực pháp luật vàkhông vạch rõ được mộtsố hướng tồn tại của chế địnhtốtụng hình sự này (ví dụ, đặc điểm phòng ngừa của nó)” [100, tr. 11].
M.S. Strogovich cho rằng: “Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chếhạnchếtựdo củabịcáo với mụcđích ngăn ngừasựtrốn tránh việc điều tra, xét xử” [Dẫn theo 37, tr. 30]. Tác giả đã đúng khi cho rằng các BPNC là những biện pháp cưỡng chế hạn chế tự do của bị cáo, nhưng cósự nhầm lẫn giữa mục đích và căn cứ áp dụng chúng.
Iu.Đ. Livsic xác định:
21
Các biện pháp ngăn chặn trongtố tụng hình sựXô viết làbiện pháp cưỡngchếnhànướccó đặcđiểmphòng ngừa,đượcCơquan điều tra sơ bộ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đốivới bị can (trong trường hợp hạnhữu, áp dụngđối vớingười bị nghi thực hiện tội phạm) chỉ trong trường hợp rõ ràng cần thiết cho thực hiện nhiệmvụtư pháp hìnhsự xãhội chủnghĩa, với mục đích ngăncảnnó bỏ trốn khỏiđiều tra, Tòa án, loạibỏ khảnăng củanógâyảnhhưởngđếnthiết lập sựthật vụán, tiếp tụchoạt độngphạm
tộivà đểbảo đảm thực hiện bản án. Các biện pháp này được áp dụng trongsựtươngứngnghiêm chỉnhvớipháp luậttố tụng hìnhsựvàtính đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can (người bị nghi thực hiện tộiphạm), bị cáo và người đang thi hành án [100, tr. 30].
Tác giả đã xác định đúng bản chất và đặc điểm của các BPNC, nhưng khôngđềcập đến căn cứ áp dụng chúng.
Từ các khái niệm trên, có thểrút ra nhữngđặcđiểmcủakhái niệm BPNC, gồm:
– Bản chất pháp lý:sự cưỡngchế nhà nước mang tính phòng ngừa; – Quyền lựa chọn BPNC;
– Cơ quan (người) có thẩm quyền: Điều tra viên, Dự thẩm viên, Tòa án;
– Đối tượngbị áp dụng:ngườibịnghi thực hiện tội phạm (bị can), bị cáo và người đang thi hành án;
-Mụcđích áp dụng: ngăn chặn việcbỏ trốncủahọ khỏi hình phạt, cũng nhưcảntrởphanh phuisựthật và tính nguy hiểm cho xãhộivà ngăn ngừa phạm tội mới.
Những khái niệm khoahọctrênvềBPNCcủacác nhà luật họcnước ngoài có nhiều điểm khác nhau. Tuy nhiên, chúng đã phản ánh được khái quát nhữngđối tượngnghiên cứu mà chúng ta cần tham khảo, tiếp thu, như: quan
22
niệmvềbảnchất pháp lý củaBPNC -sựcưỡng chếnhànướcmang tính phòng ngừa, quyền lựa chọn BPNC trong TTHS.
Trong khoahọcluật TTHS Việt Nam cũng có nhiều khái niệm khác nhau về BPNC, như:
Thứnhất, Từ điển Luật học giải thích BPNC là:
Biện pháp cưỡngchế về mặt tố tụnghình sự áp dụng khi cóđủcăncứđối vớibịcan,bịcáo hoặcngườichưabịkhởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tangđểngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành độnggâycảntrởcho việcđiềutra, truytố,xét xử và thi hành án [70, tr. 69].
Từ điển đãxác định đúngđối tượngvà mục đích áp dụng các BPNC, nhưng khôngchỉra chủ thể có quyền áp dụng chúng.
Thứhai, TS. Trịnh Văn Thanh cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp có tính chất bắt buộc của Nhà nước do những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành
tố tụngvà các cơ quan được quyền tiến hànhmột số hoạt độngđiều tra theo luật định áp dụng, tạm thời tước bỏ hoặc hạn chế một phần quyền tự do thân thể của bị can bị cáo và trong trường hợp đặc biệt có thể áp dụng đốivới người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm ngăn chặn
tội phạm, bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc không cho họ tiếp tục gây nguy hại cho xã hội [53, tr. 40].
Khái niệm này đã đúng khi xác định BPNC có tính bắt buộc, nếu hiểu “bắt buộc”đó là nghĩavụchấp hànhtừphíađốitượngbịáp dụng và thừa nhận việc áp dụng các BPNC sẽ “hạn chế một phần quyền tự do thân thể của bịcan bị cáo”, nhưng không hợp lý cho rằng nó “tạm thời tước bỏ quyền tự do thân thể”củabịcan,bịcáo. BPNC không phải là hình phạt “nhằmtướcbỏ
23
hoặchạnchếquyền,lợiíchcủangườiphạm tội”, nhưĐiều26Bộluật Hình sự (BLHS) đã quyđịnhlà căn cứ cho đánh giá sự bất hợp lýđó.
Thứba, TS. Nguyễn Văn Điệp cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chếcần thiết vềmặttố tụng hìnhsự,do các cơ quan và những người cóthẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng đối với bị can,bị cáo hoặc người chưabị khởi tố khi có căn cứdo Bộ luậttố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố,xét xửvà thi hành án. Các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt người,tạmgiữ,tạmgiam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [22, tr. 26].
Khái niệm nàyđãđúng khichỉrabảnchất cưỡngchếcủaBPNC, nhưng lại không nói đến mục đích ngăn ngừa phạm tội mới.
Thứtư, luật gia Phan Hữu Kỳvà Phạm Quang Mỹ cho rằng các biện pháp ngăn chặn: “có tác dụng trấn áp mạnhmẽkẻđịchvà cácbọntộiphạm khác, thỏa mãnđượcyêu cầu, nguyện vọngcủanhân dân” [29, tr. 14]. Khái niệm của các tác giả này chưa hợp lý vìdườngnhưđồngnhất BPNC với hình phạt.Vấn đềnày đã được TS. Nguyễn Vạn Nguyên giải thích:
Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp được áp dụng đểngăn ngừa bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm. Chúng không phải là những biện pháp trừng trị, trấn áp bị can, bị cáo hoặc được dùng để răn đe người khác, bởi chúng không phải là hình phạt [37, tr. 32].
Ngoài ra, còn có một số khái niệm khácnữavềBPNCcủacác nhàkhoahọcnghiên cứu pháp luật, cán bộ làm công tác thực tiễn phòng ngừa vàĐTCTP được công bố trong các giáo trình Luật TTHS Việt Nam, sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành luật học. Các khái niệmđó đềudựatrên cơsởphân tíchnộidung củacác quy phạm pháp luật tại Điều61 BLTTHS năm
24
1988 và Điều 79 BLTTHS năm 2003, cũng như thực tiễn áp dụng chúng trong công tác phòng ngừa và ĐTCTP.
Những khái niệm trên đã nêu lên được nhiều khía cạnh của các BPNC và tươngđối thống nhất đềcập đếnbảnchất pháp lýcủachúng làsựcưỡng chếnhànước.Nhìn chung, từng khái niệmđó chưađầy đủ,khoahọcchứađựngtất cả các đặc điểm của BPNC. Cho đến nay, trong BLTTHS năm 2003 vẫn chưa có quy phạm nào chứa đựng định nghĩa pháp lý về BPNC. Bởi vậy, vẫn còn những ý kiến khác nhau về vấn đề này là điều dễ hiểu.
Để có cơ sở khoa học đưa ra khái niệm BPNC được hoàn chỉnh, đầy đủvà toàn diện, theo chúng tôi nội dung của nó cần được nghiên cứu từ sáu vấn đề: a) Khái niệm ngăn chặn, biện pháp ngăn chặn; b) Bản chất pháp lý; c) Căn cứ áp dụng; d) Chủ thể có quyền áp dụng; e) Đốitượngbị áp dụng; g) Phạm vi và mục đích áp dụng của các BPNC được trình bày sau đây:
– Về khái niệm ngăn chặn, Đại từ điển Tiếng Việt do GS, TS Nguyễn Như Ý làm chủ biên giải thích theo nghĩa của động từ “ngăn chặn” là: “Chặn lại, làmhạnchếkhảnăng gây tác hại” [96, tr. 1186],đồngthời, theo nghĩa của danhtừ”biện pháp” là: “cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đềcụ thể” [96, tr. 161].
Trong TTHS, giải quyết vấn đề cụ thể đó là giải quyết tội phạm. Từ các nội dung này, ta có khái niệm BPNC trong luật TTHS là: Cách thức chặn lại, làm hạn chế khả năng gây tác hại của tội phạm.
–Vềbản chất pháp lý củaBPNC, thì có nhiều khái niệm khác nhau trong khoahọcluật TTHS, như:
M.S. Strogovich xác định:
Biện pháp ngăn chặn không phải là hình phạt. Hình phạt chỉ áp dụngđốivớingườimà Tòa án công nhận có lỗi trong thực hiện tộiphạm, còn biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng đối vớingườibị
25
buộc thực hiện tội phạm, áp dụng biện pháp ngăn chặn như là khởi tố bịcan khôngdựđoán trước kết quả giải quyết vụán và áp dụng hình phạt của Tòa án [Dẫn theo 101, tr. 11].
Tác giả đã xác định đúngvề đốitượng áp dụng hình phạt khác hẳn với đốitượng áp dụng BPNC, nhưng không chỉ ra bản chất pháp lý của chúng là gì.
Từ điển nghiệp vụ phổ thông của Viện KhoahọcCông an, Bộ Nộivụcho rằng: “Biện pháp ngăn chặn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm là biện pháp chủ động đối phókịpthời không đểcho bọnphản cách mạng và bọn phạmtộikhác thực hiện âm mưu phạmtộicủachúng” [74, tr. 353]. Khái niệm này coi BPNC như là phương tiệnđốiphó vớiđốitượngphạmtộimàkhôngchỉra bản chất và tính phòng ngừa của nó.
I.I. Karpeds thừa nhận: “Các biện pháp ngăn chặn là những hình thức thực hiện trách nhiệm hìnhsự,còn việc áp dụng chúng làsựbắtđầuthực thi trách nhiệm này” [Dẫn theo 37, tr. 27]. Khái niệm này không hợp lý, do cósựnhầm lẫn về thời điểm thực hiện TNHS và được lý giải như sau: Thứ nhất, cơ sởvật chất để thực hiện TNHS là việc thực hiện tội phạm một cách cố ý hoặc vô ý,được Tòa án thừa nhận bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Khi bản án kết tộicó hiệu lực pháp luật, thì lúc đó mới là thời điểm để có thể bắt đầu thực hiện TNHS. Thứ hai, các BPNC chỉ là phương tiện hỗ trợ cho việc thực hiện TNHS.
Iu.Đ. Livsic thấy rằng: “Các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sựXô viết là biện pháp cưỡng chế nhà nước có đặc điểm phòng ngừa” [100, tr. 14]. Chúng ta có thể đồngývới quan niệm thứ tư về bản chất pháp lýcủaBPNC là biện pháp cưỡngchếnhànước- Buộc cá nhân phải phục tùng chấp hành quyết địnháp dụng một BPNC nào đó củacơ quan có thẩm quyền. Quyếtđịnh này làm xuất hiện quanhệpháp luật TTHS giữamộtbên là cơ quan (người) THTT và một bên kia là người tham gia tố tụng, như: bị can, bị cáo, người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố. Quan hệ pháp luật này chịusựtácđộngcủaphương pháp “Quyền uy”. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng
26
chếsẽngăn ngừa việc phạm tội mới. Do vậy, các BPNC mang tính cưỡng chế, đồngthời, mang tính phòng ngừa.
Bảnchất pháp lý củacác BPNCđượcxácđịnh bởitính chất và nội dungcủasựcưỡngchếthểhiện trong trong khi áp dụng chúng. Xét vềtính chất của sự cưỡng chế, các BPNC là sự tácđộngtrực tiếp của Nhà nước và xãhội lên đối tượngbị áp dụng. Theo BLTTHS Việt Nam hiện hành, thìchủ thểtham gia vào việc quyết địnhvà thực hiện chúngchủyếulà: các cơ quan (người) THTT, một số cơ quan được giao tiến hànhmột số hoạt độngđiều tra. Bên cạnhđó,có sựtham giacủachính quyềnđịaphương,tổ chức và công dân, như: việc theo dõi, giám sát củachính quyềnđịaphươngđốivớiviệc thực hiện biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo; việc bảo lĩnh của tổ chức và công dân; việc công dân tham gia vào cáchoạt độngbắt người với tư cách là người chứng kiến hoặc trực tiếp bắt quả tang. Xét về nội dung cưỡng chế, các BPNC tácđộngđến thể chất và tâm lý của chínhđối tượngbị áp dụng bằng sự cấm đoán mộtsố hành vi nhất định, như: tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, rời khỏi nơi cư trú mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền, cảntrởđiềutra, truytố,xét xử,thi hành án, phạmtộimới; và còn tácđộng tâmlý lên cả đối tượngnhận bảo lĩnh về trách nhiệm của mình khi để cho bị can,bị cáo vi phạm nghĩa vụ đãcam đoan. Như vậy, các BPNC còn mang tính phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Điđôivới sự cấm đoán đólà hạn chế mộtsố quyền và tự do cá nhân, như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tựdo đilại, tựdo cư trú, v.v… Mức độ hạn chế tự do cá nhân cũng khác nhau trong việc áp dụng từng BPNC mà khôngthểáp dụngđồngthời, nhiều BPNC cùng một lúc trong một thời điểm để gia tăng cao hơnmức độ hạn chế đó.Các biện pháp tạm giữ, tạm giam có mức độ hạn chế tự do nhiều hơn so với các BPNC khác, bởi sự cách ly đối tượng ra khỏi cộng đồng và biện pháp tạm giam lại cómức độhạn chế tựdo nhiều hơn so với biện pháp tạm giữ dođốitượng bịcách ly khỏi cộngđồngtrongmộtkhoảng thời gian vài tháng, có thểtớivài năm, trong khi đó biện pháp tạm giữchỉcách lyđối tượngkhông quá 9 ngày đêm.
27
Tóm lại,vềbảnchất pháp lý, ngoài tínhcưỡngchế, các BPNC còn mang tính phòng ngừa.
– Về căn cứ áp dụng
Trong khoa học luật TTHS, phần lớn các luật gia đều cho rằng, căn cứ áp dụng các BPNC là các tài liệu thực tế và phạm vi của chúng, thì khác nhau. Ví dụ:
A.A. Philiusencô và Z.F. Kôvriga cho rằng: “Căncứáp dụng biện pháp ngăn chặn là nhữngdấuhiệucủatội phạmđãphát triểnđếnmứchình thành quanhệpháp luật hìnhsựvà có vi phạm các nghĩavụtố tụng hìnhsựcủa bị cáo” [Dẫn theo 37, tr. 39]. Chúng ta có thểđồngývới quan niệm này về căn cứ áp dụng BPNC là “có dấuhiệu vi phạm các nghĩa vụtốtụng hình sựcủa bị cáo”. Bởi vì, có tài liệu xác định đối tượng bỏ đi khỏi nơi cư trú màkhông được phép của cơ quan có thẩm quyền tố tụng hoặc không có mặt đúng thời gian, đúng địa điểm theo giấy triệu tập của các cơ quan này, thì đây chính làsựvi phạm nghĩa vụTTHScủacácđốitượngđangbịáp dụng các biện pháp cấmđi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,đặt tiền hay tàisảncó giátrịđểbảođảm. Tài liệuvềvi phạm này là căn cứ áp dụng biện pháp nghiêm khắc nhất là biện pháp tạmgiam, mà chính xác hơn, thìđâylà căncứthaythếBPNC theo pháp luật TTHS Việt Nam. Chúng ta khôngthểđồngývớiquan niệm “Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn là những dấu hiệu của tội phạm đã phát triểnđến mứchình thành quan hệpháp luật hình sự”.Bởivì, nhưđãnói ởtrên, việc áp dụng các BPNC làm xuất hiện quan hệ pháp luật TTHS. Quan hệpháp luật hình sự và quan hệ pháp luật TTHS là hai phạm trù pháp lý có cùng cơsởxuất hiện làsựkiện phạm tội, nhưng lạihoàn toàn khác nhau vềthời điểmxuất hiện,chủthểcó quyền áp dụng,đối tượngbị áp dụng, quyền vànghĩa vụcủacác bên,bảnchất pháp lý,số lượngcác biện pháp cưỡngchếđược áp dụng. Mặt khác, quan hệ pháp luật hình sự chỉ được giải quyết thông
qua quan hệ pháp luật TTHS… Quan niệm này của tácgiả sẽ dẫn đến sự đồng nhất quanhệpháp luật hìnhsựvớiquanhệpháp luật TTHS và gây ra nhận
28
thức tùy tiện làđãthực hiệntộiphạm, thìbịáp dụng BPNCđểtruy cứu TNHS và có thểlàm cho việc dụng các BPNC không có căncứ.Vềvấnđề
này, PGS. TS Trịnh Văn Thanh đãchỉra: “Các biện pháp ngăn chặn…chỉ đượcáp dụng trong trường hợpcầnthiết, không phải là biện pháp bắt buộcđốivớitất cảngườiphạm tội” [53, tr. 33] hoặc PGS,TSĐỗ Ngọc Quang khẳng định:”Nếu khi họ không còn gây khó khăn cho việcđiềutra, truy tố, xét xửhoặc cản trở việc thi hành án nữa, thì không cần phải áp dụngđốivới họ biện pháp ngăn chặn” [41, tr. 257] là phù hợp với nguyên tắc “Tôn trọng vàbảo vệ các quyền cơ bản của côngdân” được đềcập tạiĐiều 4 BLTTHS.
I.L. Pêtrukhinđãkhẳng định:”Căn cứáp dụng biện pháp ngăn chặn không phải là sự kiện bị cáo thực hiện hành vi vi phạm các nghĩa vụ tố tụng, mà làsự dự báo có đầy đủ cơ sở vềkhảnăng thực hiện hành vi bất lợi của bịcáo” [Dẫn theo 60, tr. 53]. “Những hành vi bất lợi của bị cáo được hiểu là: 1) trốn tránhhoạt độngđiều tra, xét xử; 2) gây khó khăn cho việc thi hành án hình sự; 3) gây khó khăn cho việc xác địnhsự thật của vụán; 4) tiếp tục phạm tội)” [Dẫn theo 60, tr. 53]. Quan niệm này hợp lý khi cho rằng căn cứ áp dụng BPNC: “làsựdựbáo có đầyđủcơsởvềkhảnăng thực hiện hành vi bất lợi của bị cáo”. Bởi vì, đểxác định sự thật của vụán, các cơ quan THTT phải áp dụngmọibiện pháp do pháp luật TTHS quyđịnhđểthu thập tài liệu, chứng cứ.Các tài liệu, chứngcứđó có trong hồ sơvụán cho phép dựbáo vềkhảnăngbịcan,bịcáo,ngườicó liên quanđếnviệc thực hiệntộiphạmsẽgây khó khăn cho hoạt động điều tra, truytố,xét xử và thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội.Khảnăng này có thểđượcxácđịnh qua các thông tinvềhành vi, như: tính chất,mứcđộ nguy hiểmcủahành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng TNHS, các tìnhtiết địnhkhung tăng nặng, bàn bạc với nhau bỏ trốn, tiêu hủy các tài liệu, xóa dấu vết đối phó với Cơ quan điều tra, đe dọa, mua chuộc người bị hại, người làm chứng… hoặc về nhân thân, như: học vấn thấp, không nghề nghiệp, tháiđộ châylười đối vớilao động, quan hệ không tốtvới đồng
nghiệp, ý thức kém đối với pháp luật, có tiền án, tiền sự… Khả năng trên chỉ
29
là mầm mống và sẽ xảy ra khi có điều kiện thuận lợi. Nắm được các thông tin đó,cơ quan THTTsẽáp dụng các BPNCđểmầmmốngđó khôngtrởthành hiện thực. Tuy nhiên, không nắmthông tinđầyđủ hoặc đánh giá không hết khảnăng thực hiện hành vi bất lợiđó đểkịp thời áp dụng các BPNC, thì cơquan THTT sẽ bị cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Nếu chủ quan, không xem xét đầy đủ căn cứ áp dụng từng BPNC cụ thể mà vội vãquyết định,thì sẽdẫnđến lạmquyền, áp dụng không “tiết kiệm”, vi phạm
quyền vàtựdo cá nhân… Quan niệm này hoàn toàn không hợp lý khi cho rằng: “căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn không phải là sự kiện bị cáo thực hiện hành vi vi phạm các nghĩa vụ tố tụng”. Đánh giá này được giải thích, nhưsau: theo quyđịnhcủa các điều 91, 92, 93 BLTTHS năm 2003, nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụđãcam đoan, như: đi ra khỏi nơi cư trú mà không cóphép của cơ quan đã ra lệnh này, không có mặt đúng thời gian, địa điểm theo giấy triệu tập củacơ quan THTT, thì có thểbịáp dụng BPNC khác nghiêm khắc hơn,đólà biện pháptạmgiam. Quađó cho thấy, vi phạm nghĩavụ đãcam đoan cũnglà căn cứ đểáp dụng BPNC hay nói đúng hơn là căn cứ thay thế BPNC nghiêm khắc hơn so với BPNC đang áp dụng.
P.M. Đavưđôp cho rằng:
Căncứáp dụng biện pháp ngăn chặn chẳng những bao gồm các tài liệu nói lên khả năng cảntrởviệc xác định sự thật của cácvụán, khả năng trốn tránh việc điều tra, xét xử của bị can, bị cáo hoặc khảnăng tiếp tục thực hiện tội phạm củahọ,mà còn baogồmcác chứng cứ khẳng định mộtngười đã thực hiện tội phạm [Dẫn theo 37, tr. 38].
Quan niệm này hợp lý hơn cả,khi xácđịnh phạm vi căn cứáp dụng các BPNC gồm: các tài liệu nói lên khả năng cản trở việc xác định sự thật của vụ án,khảnăng trốn tránh việcđiềutra, xét xửcủabịcan,bịcáo hoặckhảnăng tiếp tụcthực hiệntộiphạmcủahọ vàcảcác chứngcứkhẳngđịnh một người đãthực hiện tội phạm. Tất nhiên, chỉ có thể áp dụng các BPNCđối với người đãthực hiện tội phạm và đối tượng có liên quan đến nó.
30
Các giáo trình luật TTHS Việt Nam đều xác định bốn căn cứ áp dụng các BPNC là: để kịp thời ngăn chặn tội phạm; khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bịcáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truytố,xét xử; khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội; để bảo đảm thi hành án [30, tr. 194-197], [64, tr. 206-208], [66, tr. 201-203]. Ở đây có sự chưa rõ ràng về căn cứ áp dụng và mục đích áp dụng các BPNC.
ĐạitừđiểnTiếng Việt do GS.TS Nguyễn Như Ý làmchủbiên giải thích theo nghĩa củadanhtừ:Căncứlà “cái làm cơsởđểlập luận,đểhành động”[96, tr. 269]. Cái làm cơsởđểlập luận,đểhànhđộngmà chúng ta đề cập ở đây là nhữngtài liệu đểlập luận, quyết định áp dụng các BPNC.
Tài liệu làm căn cứ áp dụng các BPNC có phạm vi rất rộng và có thểchia làm hai nhóm: a) Nhómthứnhất: các tài liệu nói lên khảnăng cảntrởviệc xác địnhsự thật củavụán, khả năng trốn tránh việc điều tra, xét xử của bịcan, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm hoặc khả năng tiếp tục thực hiện tội phạm của họ; b) Nhómthứhai: các tài liệu khẳng định một người đãthực hiện tội phạm.
Các tài liệu thuộc nhóm thứ nhất chỉ ra:
a) Đối tượng không có nơi cư trú rõ ràng, rời khỏi nơi thường trú, bỏviệc làm, không có mặt đúng thời gian, đúng địa điểm theo giấy triệu tập của cơ quan THTT mà không có lý do chính đáng, tìm cách bán nhà hoặc tài sản
có giá trị, trốn khỏi nơi giam,giữ…Có những hành vi dựbáosẽgây khókhăn cho hoạt độngđiều tra, truy tố,xétxửtrởthành nguy hiểm cho xã hội đángkểnênđượcđiềuchỉnh trong BLHS, tại Điều305 vềtội “Không thi hành án”;Điều 310vềtội”Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản”; Điều 311 về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang
bịxét xử”; v.v…
b) Cản trở việc xác địnhsự thật vụán được hiểu là cố ý thực hiện các hành vi làm cho hiểu sai bản chất của vụ án hình sự. Hành vi đó được thể hiện
31
dướicác hình thức, như: tiêu hủy vật chứng, che giấutộiphạm, xóa dấu vết hoặc làm sai lệch chứng cứ bằng cách đe dọa, mua chuộc người làm chứng đểhọ khai báo gian dối, đedọangười bị hại để họ không cung cấp tài liệu, thông đồng vớibịcan,bị cáo khácđểkhai báo gian dối, đánh lừacơ quan THTT
hìnhsự,mua chuộcngườiTHTT có thẩm quyền giải quyết vụán… Những hành vi này dự báo cản trở việc xác địnhsự thật củavụán là nguy hiểm cho xã hội đãđược nhà làm luật tiên liệu trước bằng cách điều chỉnh trong BLHS
tại Điều 307 về tội “Khai báo gian dối”; Điều 308 về tội “Từ chối khai báo,từchối kết luận giámđịnh hoặc cung cấp tài liệu saisựthật”; Điều 309vềtội “Mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật”; Điều 289 về tội “Đưa hối lộ”; v.v…
Các tài liệu thuộc nhóm thứ hai chỉ ra:
a) Hành vi phạm tội có 2 trường hợp: hành vi phạm tội bị bắt quả tang, hành vi phạm tội bị bắt khẩn cấp theo các điều 81, 82 BLTTHS;
b)Sựkiện nhậntộicó 2 trường hợp:ngườiphạmtộitựthú, người phạm tội đầu thú theo Điều 86 BLTTHS;
c) Kháchthểđặcbiệt bịxâm hại: an ninh quốc gia mà hành vi phạm tội xâm hại đến theo Điều 88 BLTTHS;
d) Tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm đã được thực hiện: tội ít nghiêm trọng,tộinghiêm trọng, tội rấtnghiêm trọng, tội đặcbiệt nghiêm trọng (trường hợp bắt khẩn cấp người chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng,đặcbiệt nghiêm trọng, bắt bịcan,bịcáo đểtạmgiam,tạmgiam, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị đểbảo đảm);
e) Giới hạn tốithiểu hai nămcủahình phạt tùđối vớitội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng được quy định trong BLHS theo Điều 88 BLTTHS;
g)Lỗicố ýcủachủthểđặcbiệt làngườichưa thành niêntừ14 tuổi đến dưới 16tuổi phạm tội rất nghiêm trọng; lỗi cố ýhoặc vô ý phạm tộiđặc
32
biệt nghiêm trọng.Lỗi cố ý của chủthểđặc biệt là người chưa thành niên từ16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng hoặc lỗi cố ý và vô ý đối với tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng theo Điều 303 BLTTHS;
h) Hậu quả đối với tội phạm có cấu thành vật chất: 2 triệu đồng; 4 triệuđồng; 50 triệu đồng; 11%tổnthất vềsứckhỏe theo cácđiều138, 289, 145,
104 BLHS; v.v…
– Về chủ thể có quyền áp dụng
Nhiều khái niệm về các BPNCcó đềcập tới chủthể có quyền áp dụng các BPNC là những người có thẩm quyền trong các cơ quan THTT và các cơquanđượcgiao tiến hành một số hoạt độngđiềutra. Như thế, còn thiếu một chủthểkhác là công dân cũng có quyền bắt quảtang – một trong bốnbiện pháp bắt người. Có thểgọichung tất cảnhữngngườinày làngườicó quyền áp dụng các BPNC mà BLTTHS quyđịnh.
– Về đối tượng bị áp dụng
Hầu hết các khái niệm trên đều đề cập đến bađốitượngbị áp dụng các BPNC là:bị can,bịcáo hoặcngườichưabịkhởi tố.Đối tượngbị áp dụng BPNC là bị can, bị cáo, thìđãrõ, bởi vì, định nghĩa pháp lý về chúng đãđượcđềcập tạicác điều 49 và 50 BLTTHS. Riêng về người chưa bị khởi tố, thì vẫn chưa có địnhnghĩa pháp lý nên cần đượclàm rõ.Đốitượngngườichưabị khởitố có thểlà ngườicó hành vi vi phạm hình sựhoặc vi phạm pháp luật khác.Từđó,cho thấyđốitượngngười chưabịkhởi tố là quá rộng và chưa chuẩn xác. Đối tượng chưa bị khởitốmà bị áp dụng các BPNC chỉ có thể lànhữngngườicó liên quanđến việc thực hiện tộiphạm nên có thểxácđịnh phạm vi nàyđểthay vào đó là “người có liên quanđếnviệc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố”.
Ngoài ra, đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt theo lệnh truy nã có thểlà bị can, bị cáo, người đang thi hành án. Vậy, các khái niệm trên chưa đềcậpđếnngườiđang thi hành án làđốitượngthứtư có thểáp dụng các BPNC là
33
đúng hay sai? Các quan niệm này đúng, bởi lẽ: về phạm vi, thì các BPNC chỉ áp dụng đối với người chưa bị kết tội (trừ trường hợp giám đốc thẩm, tái thẩm đểđiều tra lại, xét xửlại), nhưng trong trường hợp này, người đang thi hành án bỏ trốn nên có dấu hiệu của tội phạm mới, như các tội “Không chấp hành án” được quy định tại Điều 304 BLHS, “Trốn khỏi nơi giam giữ” được quy định tại Điều 311 BLHS. Do đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét khởi tố bị can vềnhững tội này. Cho nên, đối tượng là người đang thi hành án bỏ trốn không phải là đối tượng áp dụng các BPNC mà lại là người liên quan đến tội phạm chưa bịkhởi tố hoặc bị can bị khởi tố về một trong những tội nêu trên.
Tóm lại, bađốitượngsau có thểbịáp dụng các BPNC, gồm: người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can và bị cáo.
– Về phạm vi và mục đích áp dụng * Về phạm vi áp dụng:
Tất cảcác BPNCđượcáp dụng trong mọi giai đoạntố tụng (trừ giai đoạn đang thực hiện thi hành án), kể cả khi bản án của Tòaán đãcó hiệu lực pháp luật. Khi đìnhchỉhoặc việc áp dụng không còncầnthiết, thì cơ quan THTT phải hủy bỏ hoặc thay thế chúng.
Các BPNCđượcáp dụng trong một khoảng thờihạnnhất định,phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng, cấp xét xử phúc thẩm và tính chất tội phạm.
Mỗimột BPNCcụ thể lại được áp dụngvới một đối tượngcụ thể theo căn cứ, mục đích áp dụng khác nhau tùy theo từng giai đoạn TTHS. Có những BPNCchỉđượcáp dụng trong phạm vi củamộtgiaiđoạntố tụng, như: bắt khẩn cấp, bắt quả tang, tạm giữ, thìchỉđược áp dụngtrong giai đoạn điều tra, nhưng cũng có những biện pháp lạiđượcáp dụng trong nhiều giaiđoạntố
tụng khác nhau (điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm), như: bắt bịcan, bị cáo để tạm giam, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị đểbảo đảm.
34
*Vềmụcđích áp dụng, trong khoahọcluật TTHS, có một số quan niệm khác nhau về vấn đề này:
TS. Nguyễn Duy Thuân cho rằng: “Mục đích các biện pháp ngăn chặn là nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xãhộicủahọ,ngăn ngừahọ tiếp
tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hoạt động cản trở việc điều tra, truy tố,xét xử, thi hành án” [58, tr. 14]. Tác giả có sự nhầm lẫn về căn cứ với mụcđích áp dụng các BPNC.
TS. Trịnh Văn Thanh quan niệm:
Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trongtốtụng hìnhsựtrước hết nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, tức là ngăn chặn không đểtội phạm xảy ra và ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội; mục đích thứ hai là: ngăn chặn không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội; ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn cómụcđíchbảođảmhiệu quả cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [53, tr. 44-45].
Quan niệm này hợp lývềmụcđíchthứba là bảo đảmhiệuquảcủa hoạtđộng điềutra, truy tố,xétxửvà thi hành án, nhưng có sựtrùng lặp vềmục đích thứ nhất và mục đích thứ hai.
Hầuhết các nhà luật họctrongnướcđềuthống nhất việc áp dụng các BPNC có hai mục đích: a) Ngăn chặn tội phạm; b) Bảo đảm cho công tácđiều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” [4, tr. 21], [60, tr. 51]. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn TTHS, mục đích của việc áp dụng các BPNC phụ thuộc vào nhiệm vụcủa
từng giai đoạn tố tụng khác nhau. Theo đó, khi hồ sơ vụ án thuộc cơ quan nào thụ lý, thì cơ quanđó có quyền áp dụng, thay thế,hủybỏ các BPNCđểbảođảm hoàn thành nhiệm vụ của mình do pháp luật quy định, như:
Ở giai đoạn điều tra, việc áp dụng biện pháp bắt người nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội; việc áp dụng biện pháp tạmgiữnhằm xácđịnh có căncứ khởitố bị can hay không đối vớingườibị bắt khẩn cấp, phạm tội quảtang,ngườiphạm tội tựthú,đầuthú hoặcđểchuyển giao người bịbắt
35
theo lệnh truy nã cho Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã; việc bắt bị can, bị cáo đểtạmgiam nhằm bảo đảmcho hoạtđộngđiềutra, truytố,xét xử,thi hành án và thờihạnáp dụng nó căncứvào bốnloại tính chất tộiphạmđãđượcquyđịnhtạiĐiều8 BLHS, còn việc áp dụng các biện pháp khác, như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tàisản có giá trị đểbảo đảm lại có mục đích bảo đảm sự có mặt của bị can khi Cơ quan điều tra triệu tập theo các điều 91, 92, 93 BLTTHS.
Ởgiai đoạn truy tố, nếu VKS tiếp tục áp dụng biện pháptạmgiam màCơ quan điều tra đã áp dụng trước đó, thì biện pháp tạm giam này được áp dụng vớimục đích bảo đảm cho các hoạt động: quyết định truy tố, quyết định trảhồ sơ điều tra bổ sung, khi có căn cứ được quy định tại các điều 167, 168 BLTTHS. Thời hạn tạm giam quy định tại Điều 166 BLTTHS được áp dụng theo bốn loại tính chất tội phạm nói tại Điều 8 BLHS. Nếu VKS thay thế biện pháp tạm giam mà Cơ quanđiềutrađãáp dụngtrướcđóbằng các biện pháp khác ít nghiêm khắc hơn, như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị đểbảo đảm, thì chúng có mục đích bảo đảm sự có mặt của bị can khi VKS triệu tập theo các điều 91, 92, 93 BLTTHS.
Ở giai đoạn xét xử, nếu Tòa án tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam, thì mục đích của nó nhằm bảo đảm cho các hoạt động: điều tra bổ sung, chuẩn bịbịxét xử hoặc xét xử tại phiên tòa, như: quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; quyết định đưa vụ án ra xét xử khi có căn cứ tại các điều 176, 177, 179 BLTTHS. Thời hạn tạm giam quy định tại Điều 176 BLTTHS sẽ áp dụng cũng tùy theo bốn loại tính chất tội phạm nói ở Điều 8 BLHS. Nếu Tòa án thay thế biện pháp tạm giam mà VKS đã áp dụng trước đó bằng các biện pháp khác ít nghiêm khắc hơn, như:
cấmđi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản cógiá trị để bảo đảm, thìchúng cómụcđíchbảo đảm sự cómặt củabịcáo khi Tòa án triệu tập theo cácđiều91, 92, 93 BLTTHS.Tạiphiên tòa sơ thẩm,Hộiđồngxétxử(HĐXX) áp dụng biện pháp tạm giam chỉ nhằm mục đích bảo đảm cho thi hành hình phạt tù có thời hạn, chung thân hoặctửhình.Tạiphiên tòa phúc thẩm, ngoài mục
36
đích trên, HĐXX còn áp dụng biện pháp tạm giam để điều tra lại, xét xử lại vàthời hạn của nó phụ thuộc vào cấp xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự quân khu hay Tòa án phúc thẩm TANDTC, Tòa án quân sự Trung ương theo Điều250 BLTTHS.Ở phiên tòa giámđốcthẩm, HĐXX áp dụng biện pháp tạm giam để điều tra lại, xét xử lại theo Điều 287 BLTTHS.
Mụcđích áp dụng các BPNC trong từng giai đoạntố tụng có thểkhông giống nhau hoàn toàn nhưđãphân tích ở trên, nhưngmụcđích áp dụng chúng trong mỗi giai đoạnấycó ýnghĩa không những bảo đảmhoàn thành nhiệmvụcủatừng cơ quan THTT mà còn bảo đảmcho sựliêntụccủaquátrình giải quyết vụ án theo đúng thời hạn mà BLTTHS quyđịnh.
Từ các nội dung trên có thể rút ra một số đặc điểm sau của các BPNC:
– Bản chất pháp lý: biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa; – Căn cứ cụ thể áp dụng: những tài liệu nói lên khả năng cản trở việc xác
định sự thật của vụ án, khả năng trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử từ phía bịcan, bị cáo hoặc khả năng tiếp tục thực hiện tội phạm của họ và chứng cứ khẳng định mộtngười đã thực hiện tội phạm, cũng như các điều kiện áp dụng đã được luật hóa. Những tài liệuđóphảithểhiện trong hồsơvụán đểlàm căncứra quyết định áp dụng, thay thế, hủybỏcác BPNC;
– Chủ thể có quyền áp dụng: người có quyền hạn được quy định tại BLTTHS;
– Đối tượngbị áp dụng: người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bịcan, bị cáo;
-Mụcđích áp dụng: ngăn chặnđối tượngnói trên phạm tội vàbảođảm cho hoạt động điều tra, truytố,xét xử, thi hành án hình sự.
Và, có thểđưara khái niệm khoa học: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định trong BLTTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo, người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố,khi có căn cứ áp dụng nhằm ngăn chặn tộiphạm, bảođảmcho hoạtđộngđiềutra, truy tố, xét xử và thi hành án hìnhsự.
37
* Ý nghĩa của những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn Các BPNC trong BLTTHS đượcsửdụnghầunhưđốivới mọi vụán
hình sự. Chúng có tác dụng ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc cản trở hoạtđộng điều tra, truytố,xét xử và thi hành án, bảo đảm cho quá trình giải quyết vụán theo thờihạnđãquyđịnh,nên có ýnghĩa rất to lớntrong công cuộc phòng ngừa ĐTCTP thông qua các khía cạnh, như:
Thứnhất, những quy phạm pháp luậtvềcác biện pháp ngăn chặnthểhiệnsựchuyên chínhcủaNhànướctrongđấutranh chốngtộiphạm bằng sức mạnh cưỡng chế
Tộiphạm gây ra hoặc đedọagây ra những thiệt hạicho những quan hệxãhộiquan trọngđượcBLHS bảo vệ.Nó trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởngđếnsựổnđịnhvàbềnvữngcủađộclập,chủquyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ Tổ quốc,chếđộ chính trị,chếđộ kinhtế,nềnvăn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản của công dân, xâm phạm những lĩnh vựckháccủatrật tựpháp luật XHCN. Bởi vậy, Nhà nước ta luôn coi công cuộc phòng ngừa ĐTCTP là một trong những nhiệmvụquan trọng nhấtđượcxácđịnh ởĐiều1 BLTTHS năm 2003 cần phải được giải quyết triệt để.
Tham gia vào công cuộc phòng ngừa ĐTCTP là trách nhiệm của toàn xã hội, nhưng vai trò chính và quyết định vẫnlà các cơ quan (người) THTT. Điều 13 BLTTHS năm 2003 xácđịnh:”Khi phát hiện códấuhiệu củatội phạm, thì Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyềnhạncủamình có trách nhiệm khởitố vụán và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quyđịnhđểxác định tội phạm và xử lý tội phạm” [49, tr. 3].
Với nhiệm vụ và trách nhiệm trên, cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định, trong đó có các BPNCđểtác động lên thân thểhoặc tâm lýđốitượngbuộc phải chấm dứt ngay hành vi phạm tội, ngăn
38
chặn việc bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, phạm tội mới và bảo đảm cho hoạt độngđiều tra, truytố,xét xử, thi hành án hình sự.
Thứhai, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn có ýnghĩa tạo điều kiện thuận lợi cho cả quá trình xử lý vụ án
Đểthực hiện nhiệmvụchủđộngphòng ngừa, ngăn chặntộiphạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng vàxửlý công minh, kịp thờimọihành vi phạm tội, khôngđểlọt tộiphạm, không làm oanngườivô tộimàĐiều1 BLTTHSđãxácđịnh,thì cơ quan (người) THTTđượcsửdụng các BPNC như là một phương tiện có hiệu quả nhất giải quyết tình hình tội phạm xảy ra trong toàn quốc, trên địa bàn quản lý theo lãnh thổ.
Hiệu quả của chúng thể hiện ở việc: bảo đảm bí mật của vụ án, cácđối tượngkhôngthểthông cung với nhau, xóa dấu vết, cất giấu công cụ, phương tiện phạmtộihoặc đe dọa,trảthù, cưỡng ép hoặc mua chuộcngườibịhại, người làm chứng; tạo điều kiện thuận lợi cho thu thập chứng cứ mà khôngbị cản trở từ phía bị can, bị cáo; bảo đảm tiến độ giải quyết vụ án trong thời hạn điều tra, truytố,xét xử theo quyđịnhcủa BLTTHS.
Thứba, những quy phạm pháp luậtvềcác biện pháp ngăn chặnthểhiện tính ưu việt của Nhà nước XHCN
BLTTHS năm 2003 quy định các BPNCđược thực hiện chỉbằng văn bản, như quyết định hoặc lệnh mà không có hình thức bằngmiệng đểtùy tiệnáp dụng như pháp luật tố tụngcủamột số nước ngoài. Điều này thể hiện tính pháp chế trong áp dụng các BPNC.
Các BPNC không tước bỏ quyền và tự do cá nhân nhưmụcđích trừng trị của hình phạt mà chỉ hạn chế những quyền và tự doấy đểcơ quan có thẩm quyền xác định sự thật khách quan của vụ án hìnhsự.
Tạmgiam là biện pháp nghiêm khắc nhất sovớicác BPNC khác. Nó không thể kéo dài vô hạn như pháp luật của Hoa Kỳ áp dụng đối với “Chiến binh củakẻ thù” [95] đang bị giam ở Guantanamô. BLTTHS năm 2003 có quy định
39
giớihạn củanó trongmộtkhoảng nhất định và tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng, cũng nhưbốnloại tính chấttộiphạm,cấpxétxửphúc thẩm.Từđó,thời gian hạn chế quyền và tự do cá nhân cũng chỉ trong một giới hạn nhất định.
TrongbảyBPNCđượcquyđịnhtạiBLTTHS năm 2003, thì có bốn biện pháp được thực hiện ở cộng đồng, như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,đặt tiền hoặc tàisảncó giátrịđểbảo đảm,việc giám sátngườichưa thành niên phạm tội.
BLTTHS quy định trình tự,thủ tục, căn cứáp dụng các BPNC đòi hỏi ýthức nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật củangười THTT khi lựachọn quyết định một BPNC cụ thể, đồng thời, có tác dụng giáo dục nâng cao nhận thứccủanhân dânđểhọ chủ động,tíchcựctham gia vào các hoạt độngtốtụng như bắt người phạm tội quả tang, chứng kiến việc bắt khẩn cấp, bắt bịcan bị cáo để tạm giam góp phần vào công cuộc phòng ngừa và ĐTCTP.
Cơ quan THTT phải nghiêm chỉnh chấp hành những quy định về căn cứ áp dụng, trình tự, thủ tục thực hiện các BPNC. Mọi vi phạm pháp luật vềviệc bắt,tạmgiữ,tạmgiamđềubị xửlý nghiêm khắc và cóthểbịtruy cứu TNHS theo các điều: Điều 302 BLHS về tội “Tha trái pháp luật người đangbị giam, giữ”; Điều 303 BLHS vềtội”Lợi dụng chứcvụ,quyền hạn giam,giữngười trái pháp luật”.
Tính ưu việt của các BPNC còn thể hiện bằng các quy phạm mang tính nhânđạotrong BLTTHS, như: không áp dụng biện pháp tạm giamđốivới đối tượng đặc biệt là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi,
làngườigià yếu,người bịbệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng… theo Điều 88; giao con chưa thành niêndưới14 tuổi,ngườithân thíchcủangườibịtạmgiữ,
tạm giam là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc cho người thân thích chăm nom theo Điều 90; chế độ sinh hoạt, nhận quà, liênhệvớigia đình theo Điều 89 về chế độ tạm giữ, tạm giam và khám, điều trị khi bị ốm, bệnh tật, thương tích; bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự, quyền lợi cho những người
40
bịoan do người có thẩm quyền tố tụng hình sự áp dụng các biện pháp tạm ngăn chặn theo các điều 29, 30 và Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH.
Thứtư, những quy phạm pháp luậtvề các biện pháp ngăn chặn cóýnghĩa to lớn trong việc tôn trọng vàbảovệquyền tựdo cá nhân đượcHiến pháp, pháp luật ghi nhận
Điều 50 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận:”ỞnướcCộng hòa xãhộichủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa vàxãhộiđượctôn trọng,thểhiệnởcác quyền công dân vàđượcquyđịnhtrong Hiến pháp và pháp luật” [45] và các điều 4, 6, 7 BLTTHS quy định các nguyên
tắc: Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm quyền bất khảxâm phạmvềthânthểcủacông dân; bảo hộ tính mạng,sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân.
Trên tinh thần này, thái độ cần thiết của người có thẩm quyền áp dụng các BPNC là: phảiđốixửvớibịcan,bịcáo như một công dân bình thường, không định kiến với những tiêu cựctrong quákhứcủahọ.Bởivì,họchưa phải là người bị kết tội; kịp thời thay thế hoặc hủy bỏ BPNC khi việc áp dụng chúng không còncầnthiết nữa; áp dụng biện pháp bảoquản thích đángđối với tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam mà không có người trông nom bảo quản; không dùng các biện pháp nhục hình, tra tấn trong điều tra.
Việc tôn trọng và bảo vệquyềntựdo cá nhân không nhữngđối với ngườiliên quan đếntộiphạm chưabịkhởitố,bịcan,bịcáo vàngườithân thích củahọ mà cònđốivới cảngười bịhại, nguyênđơndân sự,ngườicóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đểbảo vệquyền vàlợiíchhợppháp củacông dân, BLTTHS còn dành chương XXXV độclậpvềkhiếu nại,tố cáo trong TTHS. Trongđócónóiđếnquyền khiếunạiđốivớihành vi, quyết địnhcủacơ quan (người) THTT. Hành vi, quyếtđịnhđó có thểlà hành vi và quyết định áp dụng các
41
BPNC mà cơ quan, tổ chức, cá nhân cho rằng trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nào đó.
Ngoài nhữngnộidung trên vềcác BPNC, trong nhiềuấn phẩm khoa họccủamình, các tácgiảcòn bànđếnkhái niệmcủatừng BPNCvớitừng khía cạnh khác nhau, như:
Thứnhất,về bắt người
Giáo trình Luật TTHS Việt NamcủaKhoa luật thuộcĐại họcQuốc gia Hà Nội cho rằng:
Bắt người là biện pháp ngăn chặn trongtố tụng hình sựđượcáp dụngđối vớibịcan,bịcáo,ngườibịnghi thực hiện tội phạm hoặc người phạmtộiquảtang hoặcngườiđang có lệnh truy nã nhằmkịpthời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừahọ phạm tội,tạođiều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự [30, tr. 199].
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trung tâm Đào tạotừxa Đại học Huế coi:
Bắt là một trong biện pháp ngăn chặn do Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đốivới bịcan, bị cáo và có thể đối với chưa bị khởitốnhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật [64, tr. 214].
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam củaĐại học luật HàNội xác định:
Bắt ngườilà biện pháp ngăn chặn trongtố tụng hình sựđược áp dụngđốivới bị can, bị cáo người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, thì áp dụngcả đối với nhữngngườichưabịkhởitố vềhìnhsựnhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạmtộicủahọ,ngăn ngừahọtrốn tránh pháp luật,tạo
42
điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố,xét xửvà thi hành án hình sự [66, tr. 204].
Cả ba quan niệm trên đều không hợp lý, khi cho rằng một trong những mục đích của bắt người là “tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố,xét xử và thi hành bản án hình sự”. Quan niệm về vấn đề này, Iu. Đ. Livsicđãđúng khi cho rằng: “Sự thuận tiện cho tiến hành điều tra không phải là căn cứpháp luật đểhạnchếtựdo cá nhâncủacông dân vàsựhạnchếđó là cái giá đắt mà từđó các thuận tiện này phải trả giá” [Dẫn theo 37, tr. 18].
Theo Từđiển tiếng Việt đượcTrung tâm từđiểnngônngữHà Nội xuất bảnnăm 1992, thì: “Bắt là một độngtừdiễntả sựnắmlại,giữlạimột ngườihay một sinh vật nào đó không đểcho tựdo hoặc hoạt độnghoặccửđộng” [65, tr. 60].
Bắt người có đặc điểm: a) Hành độnggiữngười; b)Đối tượngbị bắt: Người có hành vi phạm tội; c) Mục đích của bắt người: Khôngđểcho người phạm tội tựdo thực hiện tội phạm.
Từ đó,chúng ta có khái niệm khoa học: Bắt người trong tố tụng hình sựlà giữ người có hành vi phạm tội, không để cho họ tiếp tục phạm tội.
Thứhai, về khái niệm bắt bị can,bị cáo đểtạm giam
TS. Nguyễn Văn Điệp cho rằng: “Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đãbịkhởi tố bịcanhoặc đãbịTòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự” [22, tr. 26]. Quan niệm này chưa hợp lý, khi coimục đích bắt bịcan, bị cáođểtạmgiam là “phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”.Bởivì,vớimụcđích nàysẽdẫnđếnhệquảlàhễngườinào màbị khởi tố bịcan, thì tấtyếu sẽ bịbắt để tạmgiam.
ThS. Nguyễn Mai Bộ cho rằng, bắt bị can, bịcáo đểtạmgiam không phải là biện pháp độclập mà là biện pháp thực hiện lệnhtạmgiam.Ởđây
43
cùng một lúc áp dụng cả hai biện pháp bắt và tạm giam [4, tr. 62].Tác giả đãđúng khi cho rằng, “bắt bịcan,bịcáo đểtạmgiam không phải là biện phápđộclập”, nhưng hoàn toàn sai lầm khi cho rằng “ở đây áp dụng một lúc cả hai biện pháp bắt và tạm giam”. Vấn đề này, M. M. Grôzincki đã giải thích từ lâu: “Trong giai đoạn điều tra, đốivới bịcan có thể lựa chọnchỉ mộtbiện pháp ngăn chặn nào đó. Như vậy, quyết định đồng thời, hai hay nhiều biện pháp ngăn chặn
(vídụ:kýcấmđi khỏi nơi cư trú vàbảolĩnh…)khôngđượcquyđịnhtrong BLTTHS là hạn chế bất hợp pháp quyền của bị can” [Dẫn theo 100, tr. 41]. Bên
cạnhđó,Điều79 BLTTHS năm 2003 cũng quyđịnh:”…Cơquanđiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyềncủamình hoặcngườicóthẩm quyền theo quyđịnhcủaBộ luật này có thểáp dụng mộttrong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị đểbảo đảm”.
Thứba, về bản chất của hai biện pháp tạm giữ, tạm giam Có bốn quan niệm khác nhau:
Một là, Giáo trình Luật Việt NamcủaTrung tâm Đào tạo từxaHuếđịnhnghĩa:
Tạmgiữlà biện pháp ngăn chặn trong luậttố tụng hình sựthể hiện việc người hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết địnhtướctựdovớithời gian ngắnđốivớingườibịbắt trong trường hợp khẩn cấp, trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc người có lệnh truy nãnhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn việc điều tra, xác minh vàđểquyết địnhviệc truycứutrách nhiệm hình sựđối với họ [64, tr. 241].
Và, “tạm giam là biện pháp ngăn chặn trongtố tụng hình sựmà theođó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng trong những trường hợp nhất định có thểtướctựdo đốivớibịcan,bịcáo nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử” [64, tr. 244].
44
Hai là, Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật trực thuộcĐại họcQuốc gia Hà Nội định nghĩa:
Tạmgiữlà biện pháp ngăn chặn do cơ quan tiến hànhtố
tụng có thẩm quyền quyết địnhtướctựdo thân thể trong thời hạn nhất địnhđốivớingườibị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm bảo đảm cho Cơ quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để có cơ sở khởi tố bị can, tạm giam hoặc trả tự do cho người bị bắt [30, tr. 214].
Và, “tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, do việctước bỏ quyền tự do thân thể trong một thời hạn tương đối dài so với biện pháp tạm giữvà các biện pháp ngăn chặn không tước quyền tự do thân thể khác” [30, tr. 220].
Ba là, Sách chuyên khảo “Hệ thống các biện pháp ngăn chặn trongtố
tụng hình sựViệt Nam – Những vấn đềlý luận và thực tiễn áp dụngcủalực lượngcảnh sát nhân dân”củaTS. Trịnh Văn Thanh viết: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp tạmthờitước bỏhoặchạnchếmột phần quyềntựdo thân
thể củabị can, bị cáo…” [53, tr. 40].
Bốn là, Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nộiđịnh nghĩa: “Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách ly với xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền của công dân” [66, tr. 224].
Hai giáo trình đầu tiên và sách chuyên khảo đều chưa hợp lý khi cho
rằng: biện pháp tạmgiữ,tạmgiam do cơ quan có thẩm quyền quyết định “tướctựdo”.Bởivì, chúng ta biết rằng, việc quyếtđịnh tướctựdo theo BLTTHS năm 1988 và năm 2003 chỉthuộc thẩm quyềncủaTòa án vàđược thểhiện trong bản án nhân danhnước Cộnghòa xãhội chủnghĩa Việt Nam, còn Cơ quan điều tra, VKS đều không có quyền này. Biện pháp tạm giữ, tạm giamđượcthực hiệnởnhàtạmgiữ, trại tam giam, cho nênđốitượngsẽbị cách ly tạm thời ra khỏi cộngđồngtrongmộtkhoảng thời gian nhất định. Khi đó,quyền và tự do của họ bị hạn chế, nhất là tự do đi lại, quyền bất khả xâm
45
phạm về thân thể… Đây là căn cứ cho sự đồng ý của chúng tôi với quan niệm thứtư.
Thứtư, về căn cứ áp dụng của biện pháp tạm giữ
Có hai quan niệm khác nhauvềcăncứáp dụng biện pháp tạmgiữ.
Quan niệm thứ nhất của TS. Trần Quang Tiệp cho rằng: “…có thể hiểu những căncứđượcáp dụngđểbắt ngườitrong trường hợp khẩn cấp, phạmtộiquảtang hoặc đangbịtruy nã, cũng chính là căncứđểáp dụng biện pháp tạm giữ” [60, tr. 112]. Quan niệmđókhông vững chắc. Bởi vì, luậtthực địnhhoàn toàn khôngđềcậpđến căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ. Quan niệm thứ hai củatác giả, thì khẳngđịnhluật thực địnhkhông đềcậpđếncăncứcủabiện pháp tạm giữ, nhưng thực tế cho thấy các căn cứ sau thường được áp dụngđối vớibiện pháp này, như: a)Đểlàm rõ hành vi đãxảyra làtộiphạm hay vi phạm pháp luật khác; và b)Đểxác minh lai lịch, cũng như nhân thân củađối tượngbị tạmgiữ.
Thứ năm,về việcgiám sát đối với người chưa thành niên phạm tội
Có hai quan niệm trái ngược nhau về việc giám sát đối với người chưa thành niên phạmtộilà một BPNCđộclập tronghệthống các BPNC hay không? Đại diện cho nhóm thứ nhất, TS HoàngThịMinh Sơn cho rằng:
Nếuxét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên không cần thiết, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha mẹ, người đỡđầu củahọ giám sát đểbảo đảmsự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hànhtố tụng[52, tr. 500].
Tácgiảkhông ghi nhận biện pháp này là một trong những BPNC. Khác với quan niệm trên, đạidiện cho nhómthứ hai, TS. Nguyễn Vạn Nguyên cho rằng: “Giao bịcan,bịcáo chưa thành niên cho chamẹhoặc ngườigiám sát là một biện pháp ngăn chặnđộclậptronghệthống các biện pháp ngăn chặn” [33, tr. 166].
46
Điều 304 BLTTHS quy định: a) Cơ quan có thẩm quyền áp dụng là cơquan THTT; b) Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽngười chưa thành niên, theo dõi tưcách, đạo đứcvà giáo dụcngườiđó; c)Đối tượngbị áp dụng là bị can, bị cáo chưa thành niên; d) Mục đích áp dụng biện pháp này là bị can, bị cáo chưa thành niên phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan THTT. Bốn nội dung trên được xây dựng tương tự như các tiêu chícủabiện pháp Bảo lĩnhđượcquyđịnhtạiĐiều 92 BLTTHS.Vềhình thức, chúng có nhữngđiểmgiống nhau, cho nên đâylà căncứđồngýcủa chúng tôi với quan niệm của nhóm thứ hai.
Làm rõ khái niệm BPNC và một sốkhái niệm liên quanđếnnó cóýnghĩa quan trọng đối với việc nâng cao ý thức và nhận thức cho người THTT đểáp dụng đúng quyđịnhcủapháp luật, đồng thời, việc phân biệt, phân loại các BPNCvớicác biện phápcưỡngchếkhác trong luật TTHS còn cóýnghĩa làm sâu sắc hơn nhận thức này.
1.1.2. Phân biệt các biện pháp ngăn chặn và những biện pháp
cƣỡng chế khác trong luật tố tụng hình sự
Nhưđãnói ở trên, các biện pháp cưỡngchếTTHS được chia thành ba nhóm, nhưng chúng có một số điểm giống nhau, đó là:
– Do người có quyền hạn được quyđịnhtrong BLTTHS quyết định vàquyết định áp dụngđó được thể hiện bằnghình thức văn bản;
– Đối tượngbị áp dụng có vi phạm pháp luật hình sự, pháp luật TTHS, có lỗi;
– Đốitượngbị hạn chế một số quyền và tựdo cá nhân;
-Mụcđíchcủachúngđềukhông nhằm trừngtrịngườiphạmtộivàgiáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội nhưmụcđích của hình phạt.
Các BPNC hoàn toàn khácvớibiện pháp cưỡngchếTTHS khác bởi các dấu hiệu sau:
47
a) Vềnộidungcưỡngchế: việc thực hiện các BPNCđược thểhiệnởsựhạnchếmột số quyền vàtựdo cá nhânđượcghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật. Trong mộtthờiđiểm,đối tượngchỉ bị áp dụng mộtBPNC nhưĐiều 79 BLTTHS năm 2003 đã quyđịnh.Họ bị cách ly khỏi cộngđồngtrong một khoảng thời gian nhất định hoặc đedọa bịtước đimột số tiền hoặc tài sản có giá trị đã đặt nếu chínhhọ vắngmặt mà không có lý do chính đáng, khibị cơ quan THTT triệu tập. Còn việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế TTHS khác, thì không liên quan đến hai vấn đề trên;
b)Vềđối tượngbị áp dụng: đối tượngbị áp dụng các BPNCchỉgồm ba đối tượng là những người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo, còn các biện pháp cưỡng chế TTHS khác được áp dụng có phạm vi rộng hơn, như: đối với bađối tượngtrên và cả những người khác, như: người có quyền lợi, nghĩa vụcó liên quan đếnvụán,ngườilàm chứng, người bị hại, người vi phạm trật tự phiên tòa;
c) Vềmụcđích áp dụng: việc áp dụng các BPNC nhằm ngăn chặn tội phạm; bảo đảm cho điều tra, truytố,xét xửvà thi hành án, còn việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS khác, thì nhằm thu thập chứngcứhỗ trợ cho mục đích trên của các BPNC;
d)Vềsố lượng: hệ thống các BPNC có bảy biện pháp trong BLTTHS, gồm: bắt;tạmgiữ; tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền hoặc tài sản có giá trị đểbảo đảm theo các điều 80, 81, 82, 86, 87, 88, 91, 92, 93); việc giám sát đốivớingười chưa thành niên phạm tội theo Điều 304, còn các biện pháp cưỡng chế TTHS khác, thì có số lượng nhiều hơn, không thành hệ thống, gồm: tạm đìnhchỉ chức vụ của bịcan đang đảm nhiệm; áp giải bị can tại ngoại; dẫn giải người làm chứng; khám xét; thu giữ; tạm giữ; kê biên tài sản; xem xét dấu vết trên thân thể; những biện pháp đối với người vi phạm trật tự phiên tòa theo các điều 128, 130, 134, 140, 141, 142, 143, 144, 145, 146, 152, 198.
Các BPNC và các biện pháp cưỡngchếTTHS khác có mối quan hệmật thiết vớinhau.Bởivì, việc áp dụng các BPNCsẽtạo điềukiện cho áp
48
dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS khác được thuận lợi. Ngược lại, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS khác sẽ thu thập được những chứng cứ, tàiliệu đểlàm cơ sở, căn cứ cho quyết định áp dụng các BPNC.
1.1.3. Phân loại các biện pháp ngăn chặn
Nhưđãchỉra ở trên, BLTTHS năm 1988 và năm 2003 đều quy định hệthống các BPNC có bảybiện pháp, gồm: bắt,tạmgiữ,tạmgiam,cấmđi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, việc giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội. Việc thực hiện các BPNC này cónét đặc thù, như: phương thức tác động của các BPNC, việc cách ly đối tượng khỏi cộng đồng, việc phê chuẩn của VKS. Cho nên, việc phân loại các BPNC theo những tiêu chí trên sẽ hợp lý và có ý nghĩa quan trọng đối với lập pháp, thực tiễn áp dụng pháp luật, như sau:
– Căncứtheo phương thức tácđộngcủacác BPNC, thì có thểphân loại chúng thành hai nhóm: a) Nhóm thứ nhất, những BPNC tác động lên thểchất của đối tượngbị áp dụng, gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam; b) Nhóm thứ hai, những BPNC tácđộnglên tâm lýcủa đối tượngbị áp dụng, gồm: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,đặt tiền hoặc tàisảncó giátrịđểbảo đảmvà việc giám sát đốivới người chưa thành niên phạm tội.
Các BPNC tácđộnglênđốitượngbằng hai phương thức khác nhau. Nếubiện pháp bắt người,tạmgiữ,tạmgiam tácđộng lênthểchất củađối tượngbị áp dụng, thì biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hay tài sản có giá trị đểbảo đảm, việcgiám sát đối với người chưa thành niên lại tácđộnglên tâm lý của chínhđối tượngbị áp dụng.
Tác động lên thể chất của đối tượng bằng việc khóa còng số 8, buộc dây vào tayđốitượng, có thểdùng vũ lực, vũ khínếuđốitượngchống đối, cảntrởviệc thi hành côngvụhoặc buộcđốitượngchỉđượcởtrong một khuôn viên nhất định trong nhà tạm giữ, trại tạm giam. Tác động tâm lý được thểhiện bằng việc sẽ áp dụng biện pháp tạm giam nghiêm khắc hơn đối với bị can,
49
bịcáo và sung công tiền hoặc tài sản đã đặt khi chính họ vi phạm nghĩa vụđãcam đoan. Không những thế, khi bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan, thì tổ chức hoặc cá nhân đứng ra nhận bảo lĩnh phải chịu một trong những hình thức trách nhiệm theo Điều 92 BLTTHS, như: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật hoặc có thể cả TNHS nếu che giấu tội phạm hoặc không tố giác
tội phạm… Chính vì thế, đối tượng nhận bảo lĩnh còn có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chếkhác. Như vậy, việc áp dụng các BPNCđãtácđộng tâm lýđếnbị can,bịcáo,ngườicó liên quanđếnviệc thực hiện tội phạm chưabị khởi tố và cả tổ chức, cá nhân khác do phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý vìđối tượngvi phạm nghĩa vụ cam đoan.
Việc áp dụng các BPNC thuộc nhóm thứ nhất sẽ hạn chế quyền và tựdo cá nhân nhiều hơn sovớiviệc áp dụng các BPNC thuộc nhómthứhai. Việc phân loại theo phương thức tácđộngcó ý nghĩa quan trọng không những đối với lập pháp để có trìnhtự, thủtục thực hiện chặt chẽ, chính xác, kịp thời, nhanh chóng mà không vi phạm quyền vàtựdo cá nhânđượcHiến pháp, pháp luật bảovệmà cònđối vớithực tiễn áp dụng các biện pháp ấy đòihỏi phải nghiêm chỉnh chấp hành những quyđịnhcủapháp luật từphía cơ quan (người) có thẩm quyền tố tụng.
Thực hiện các BPNC thuộc nhóm thứ hai có sự tham gia của cơ quan nhànước, tổ chứcvà cá nhânthểhiện quan điểm xãhộihóahoạt độngpháp luật của Đảngvà Nhà nước ta đi vào cuộc sống. Thống kê số liệu áp dụng các BPNC thuộc nhóm này cho phép đánh giá hiệu quảcủachúng đối vớicác BPNC thuộc nhóm kia.
– Căn cứ vào sự cách ly đối tượng khỏi cộng đồng, các BPNC có thểchia thành ba nhóm: a) Nhómthứnhất, các biện pháp khởi đầu để thực hiện việc cách ly, tức là đưa đối tượngtừngoài xã hội vào nơi giam giữ: bắt người gồm: bắt khẩn cấp,bắtquảtang, bắt theo lệnh truy nã, bắt bị can,bị cáo để
tạmgiam; b) Nhómthứhai, các biện pháp buộcđốitượngphải cách ly khỏi cộngđồng,gồm: tạmgiữ,tạmgiam; c) Nhómthứba, các biện pháp không
50
buộcđốitượngphải cách ly khỏi cộngđồng,gồm: cấmđi khỏi nơi trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và việc giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội.
– Các biện pháp bắt người thuộc nhómthứ nhất nằm ở”trận tuyến hàngđầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm” [58, tr. tr. 60]. Hoạt động bắt người do Cơ quan điều tra thực hiện là chủyếuvà được tiếnhành ở ngoài xãhộiđể đưađốitượng vào nơi giam, giữ. Hoạt động này yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ cao mới bảo đảmhiệu quả.Từ đó, cần có sự phốihợp chặt chẽ giữa cáclựclượng tiến hành bắt. Phân loại các biện pháp bắt người này có ý nghĩa thực tiễn.
Khi áp dụng các BPNC thuộc nhóm thứ hai, nhà nước cần có một bộmáy thực hiện chức năng quản lý. Khisốlượngđốitượngbịtạmgiữ, tạm giam tăng lênsẽgây khó khăn cho bộ máy quản lý, cơsởvật chất nơi giam giữvà kinh phí hoạt độngcho bộ máyấylạităng lên gây lãng phí cho Nhànước.Hiện nay, nhiều nơi giamgiữtrong tình trạng quá tải. Việc phân loại theosự cách ly đối tượngcó ý nghĩadựbáo cho công tác quản lý nhànước trong lĩnh vực này. Còn việc áp dụng các BPNC thuộc nhóm thứ ba cũng có ý nghĩa thực tiễn nhưđãnói ở trên.
– Căn cứ vào sự phê chuẩn của VKS, các BPNC do Cơ quan điều tra áp dụng có thể được chia làm hai nhóm: a) Nhóm thứ nhất, các biện pháp cần phải có sự phê chuẩn của VKS, gồm: bắt khẩn cấp, bắt bị can, bịcáo đểtạm giam, gia hạn tạm giữ, tạm giam, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; b) Nhóm thứhai, các biện pháp không có sự phê chuẩn của VKS, gồm: bắt quả tang, bắt theo lệnh truy nã, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hay tài sản có giá trị để bảo đảmvà việc giám sátđốivớingườichưa thành niên phạm tội. Việc phân loại này có ýnghĩa tăngcườngtrách nhiệmcủaVKS trong việc áp dụng các biện pháp tácđộnglênthểchất và tàisảncủađốitượngbảođảmcó căncứ,chính xác, cũng như trách nhiệm phối hợp của cả hai cơ quan là VKS và Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra [37, tr. 60].
51
1.2. NHỮNG NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG, THAY THẾ, HỦY BỎ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
Nhưđãphân tích ở trên, việc áp dụng, thay thế, hủybỏcác BPNC cómục đích chặn đứng tội phạm và bảo đảm cho hoạt độngđiều tra, truytố,xét xử, thi hànhán. Đểđạt được mụcđích trên, trong quá trình áp dụng, thay thếchúng, một số quyền vàtựdo cá nhânđượcghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật bị hạnchế. Cho nên, việcsửdụng chúngđòihỏiphải thận trọng, cân nhắckỹtính đúngđắn,sựcầnthiết củatừng biện pháp mộtvàđiềukiện áp dụng. Từ đó, người THTT sẽ quyết định lựa chọn một BPNC phùhợp đối với một đối tượngcụ thể có hành vi phạm tội.
Đểthực hiệnđượcmụcđích củacác BPNC,đồng thời, bảo đảmcác quyền vàlợiích hợp pháp củacông dân, cũng như tránh tùy tiện, lạmdụng, hoạt độngáp dụng, thay thế,hủybỏ chúngcầnđượctiến hành theo những nguyêntắcchung mà BLTTHS năm 2003 quyđịnhvàcảmột sốnguyên tắc cụ thể dưới đây.
1.2.1. Nguyên tắcsử dụngcác biện pháp ngăn chặnđểđấu tranh, xử lý tội phạm
Khi hành vi phạm tội xảy ra, việc khám phá nó và người thực hiện cóýnghĩa rất quan trọngđốivớicông cuộc phòng ngừa và ĐTCTP. Vềvấn đềnày V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Điều quan trọng không phải ở chỗ đã phạm tội, thì bị trừng phạt nặng, mà làởchỗ khôngtộiphạm nào khôngbịphát hiện” [32, tr. 508]. Trên tinh thầnđó,Điều1 BLTTHS hiện hànhđãxácđịnhmột trong những nhiệmvụ củamình là ngăn chặntộiphạm, phát hiện chính xác nhanh chóng vàxửlý công minh, kịp thờimọihành vi phạm tội, khôngđểlọt tộiphạm, không làm oan ngườivô tội. Và, “Loại tội phạm có tổ chức hoạtđộng theo kiểu “xãhộiđen”,tộiphạm khủngbố,bắt cóc con tin,tộiphạm xuyên quốc
gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm trong lĩnh vực tinhọc… sẽ diễn biến phức tạp và có xuhướngphát triển” [63, tr. tr. 2].
52
Từ những phương châm, nhiệm vụ và tình hình tộiphạm được dự báo trên, việc áp dụng, thay thế,hủybỏ các BPNCcầndựatrên nguyêntắcsửdụng các BPNCđểđấu tranh, xử lý tội phạm với bảy nội dung sau đây:
Trướchết,sử dụngcác BPNCđểđấu tranh, xử lý tội phạm bằng cách huy động toàn bộ hệ thống các BPNC mà BLTTHS năm 2003 quy định, trong đó, có những biện pháp có tính chất mở rộng và thủtục thực hiện đơn giản đểkịp thời chặn đứng ngay hành vi đang thực hiện tội phạm, như: bắt quả tang, bắt khẩn cấp và những biện phápđượcáp dụng theo những trình tự,thủ tục chặt chẽ có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hànhđối với trường hợp phạmtộirất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạmtội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2 nămtrởlên và biện pháp áp dụng có liên quan đếntàisảncủacông dân, như: bắt bị can, bịcáo đểtạm giam, tạm giam, đặt tiền hoặc tàisản có giá trị đểbảo đảm. Bên cạnhđó,trong hệ thống này còn có các BPNC mà mức độ nghiêm khắc ít hơn, như:cấmđi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, việc giám sát ngườichưa thành niên phạm tội đểáp dụng đối với đối tượngphạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng mà có nơi cư trú rõ ràng. Toàn bộhệthống này sẽphát huy đượcsức mạnh của nó trong phòng ngừa và ĐTCTP.
Thứhai, khôngsửdụng các BPNCđểgiải quyết các vi phạm pháp
luật khác, như: vi phạm hành chính, vi phạm kinhtế,vi phạm dânsự… Bởi vì, tưtưởngvà quyết định hìnhsựhóa các quanhệpháp luật khác là nhận thức sai lầm và hành vi trái pháp luật đang bị xã hội lên án và Nhà nước truy cứu trách nhiệm pháp lý.
Thứba,sửdụng các BPNCđểđấu tranh,xửlýtộiphạm bằng các chứngcứthựctếđãđượcthu thập bằng các hoạt động tố tụng, trongđó cóhoạt động áp dụng các BPNC. Các chứng cứ đó được thể hiện trong hồ sơ vụ án có nghĩa là “án tại hồ sơ”.
Thứtư, sửdụng các BPNCđểđấutranh,xửlýtộiphạm bằng sức mạnh của toàn xã hội. Cơ quan THTT có trách nhiệm quyết định áp dụng mọi
53
biện pháp do BLTTHS quyđịnh,trongđó có các BPNCđểchặnđứngtội phạm. Tham gia vào quá trình thực hiện các biện pháp đó,ngoài cơ quan (người) THTT còn có cả chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và công dân.
Thứnăm,sử dụngcác BPNCđểđấu tranh, xử lý tội phạm luôn đi đôi vớicác biện pháp phòng ngừa, như: áp dụng các biện pháp loạitrừnguyên nhân và điều kiện dẫn đến tội phạm, tuyên truyền và giáo dục nhận thức pháp luật và ý thức tuân theo pháp luật, nêu gươngngườitốtviệc tốt,điểnhình
dũngcảm bắt cướp,…
Thứsáu,sử dụngcác BPNCđểđấu tranh, xử lý tội phạm với tinh thần kiên quyết áp dụng BPNC sẽ khắc phục “sự chùn tay” của người THTT trước tình huống phức tạp, khó khăn khi ra quyết định hoặc thi hành công vụ, cũng như chiến thắng “tưtưởnge ngại”vềtrách nhiệmbồihoàn theo Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
Thứbảy,sửdụng các BPNCđểđấutranh,xửlýtộiphạm phải dựa trên nguyêntắcbảo đảmpháp chếXHCNgắnliền vớinguyêntắctôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận.
1.2.2. Nguyên tắcbảo đảmpháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế được hiểu là việc thường xuyên, nhất quán tuân thủ và chấp hành những quy định củaHiến pháp, cácđạo luật và các vănbảnpháp luật khác phù hợp vớiHiến pháp, cácđạo luậttừphía các cơ quan nhànước,tổchức xã hội,mọicông dân.Nộidungcủanguyêntắcnàyđượcquyđịnh tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992.
Nguyên tắcbảo đảmpháp chế XHCN được thể hiện bằng quy phạm:
“Mọihoạt động tốtụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải theo quyđịnhcủa Bộ luật này” theo Điều 2 BLTTHS. Theo đó, hoạtđộngáp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC phải theo quyđịnhcủa BLTTHS.
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN đối với hoạt động áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC với bảy nội dung sau đây:
54
Trướctiên, việc áp dụng các BPNCchỉđược tiếnhành khi có căn cứvà cần thiết. Phầnlớncác BPNCcụ thể được quyđịnhtrong BLTTHScó đềcập căn cứ áp dụng. Người THTT có trách nhiệm phải kiểm tra sự hiện diện, chính xác và đầy đủ các căn cứ đó tronghồ sơ vụán, đồng thời, phải xem xétáp dụng BPNC nào là cần thiết đểđạt được hai mụcđích của BPNC và những quyđịnhvềđiềukiện áp dụng. Sau khi có sựkiểm trakỹ lưỡngđó,họ sẽquyết định lựa chọn một BPNC phùhợp nhất đốivới một đối tượngcụ thể.
Thứhai, việc áp dụng các BPNC phải tuân theo quyđịnhcủa BLTTHS về thẩm quyền. Do tầm quan trọng, sự phức tạp về thủ tục, trìnhtựthực hiện vàmức độ nghiêm khắc khác nhau của từng BPNC, cũng như yêu cầu thận trọng áp dụng chúng, BLTTHS quyđịnhthẩm quyền áp dụng các BPNC có tính nghiêm khắc cao, thì giao cho lãnhđạo củaba cơ quan THTT, còn những BPNC có tính nghiêm khắc thấp hơn, thì giao cho cá nhân, như: thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa hoặc công dân (bắt quả tang).
Thứba, BLTTHS còn quyđịnhchặt chẽ trìnhtự, thủtục đốivới việcáp dụng, thay thế,hủybỏ các BPNC.BảyBPNC khác nhau trong BLTTHS đều có những điểm khác nhau theo cácvấn đề trên đòihỏingười có thẩm quyền hoạt động tố tụng phải nắm vững để thực hiện đúng.
Thứtư, trong các BPNCđược quy địnhtạiBLTTHS, thì sự phê chuẩn củaVKS cùng cấp làđiều kiện bắt buộcđểcó hiệulựcpháp lýđốivới các BPNC sau: Bắt khẩn cấp, bắt bị can, bịcáo đểtạm giam, gia hạn tạm giữ, tạm giam,đặt tiền hoặc tàisảncó giátrịđểbảo đảm.Việc quyết địnhphê chuẩn hoặc không phê chuẩn các biện pháp đó cũng đòihỏiphải thận trọng, khách quan để bảo đảm tính có căn cứ, tính hợp pháp của việc sử dụng chúng.
Thứnăm, BLTTHS quyđịnhnghĩa vụchấp hành pháp luật TTHS không nhữngtừphía bị can, bị cáo, người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưabị khởitố mà còncả từphía những cơ quan, chính quyềnđịa phương,tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát, theo dõi việc chấp hành pháp luật của cácđốitượng trên. Việc họ chấp hành những quy phạm về các
55
BPNC có ýnghĩa tạo điều kiện cho cơ quan (người) THTT tuân thủ các quy địnhcủa pháp luật TTHS.
Thứsáu, các quy định về căn cứ áp dụng, thay thế,hủybỏ và thủ tục thựchiện đốivới từng BPNC phải rõ ràng, không mâu thuẫn nhau là tiền đề cho việctriệt đểnghiêm chỉnh tuân thủ, chấp hành pháp luật TTHS nói chung và những quy định về các BPNC nói riêng.
Thứbảy, nguyêntắcbảo đảmpháp chếXHCN cònđòihỏi cơ quan THTT có trách nhiệmbồithường thiệt hại, phụchồidanh dự, quyền vàlợiích hợp pháp củangười bịoan màbịáp dụng các BPNC. Việc giải quyết đó cần kịp thời, đúng đắn và đầy đủ.
Việc tùy tiện áp dụng các BPNCdễdẫn đếnnhững hậuquảxấu, nên nhất thiết phải thận trọng, khách quan và tuân theo các quyđịnhcủa BLTTHS về đối tượng, căn cứ, thẩm quyền và thủtục đểbảo đảm tránh khỏi những sai lầm nghiêm trọng có thể xảy ra.
1.2.3. Nguyên tắc dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM


