CHẾ ĐỊNH ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Án treo là một chế định pháp lý ra đời rất sớm trong pháp luật hình sựnướcta, thể hiện tư tưởng nhân văn, nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Ngay sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công, ngày 13/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 33C thành lập các Tòa án Quân sự, trong đó tại Điều IV quy định về án treo. Từ đó đến nay, án treo luôn là chế định quan trọng của pháp luật hình sựnước ta, là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện; có tác dụng khuyến khích người bị kết án tựcải tạo, giáo dục trở thành người lương thiện. Trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, án treo với tư cách là một chế định của pháp luật hình sựluôn luôn có sự thay đổi, bổ sung (Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 là một vídụ minh chứng) cho phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội.
Trên phương diện lý luận, cho đến nay,đã có hàng trăm công trình nghiên cứu dướinhiều góc độ và cấp độ khác nhauvề án treo, đóng góp quan trọng vào việc nâng cao nhận thức lý luận, hoạch định chính sách pháp luật hình sự và hoàn thiện pháp luật hình sự,trong đó có chế địnhán treo. Tuy nhiên, án treo không phải do con người tự đặt ra mà án treo bắt nguồn từ xã hội, do các nhu cầu của đời sống xãhội quyết định. Tình hình kinhtế- chính trị – xã hội củađấtnước ta không ngừng phát triển theo xu hướng hiện đại, dân chủ,hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng.Trong khi đó, mặc dù đã đượcnghiên cứu, bàn bạc nhiều trên các diễn đàn khoa học; nhưng án treo vẫn chủ yếu được đề cập nghiên cứu nhiều và sâu dưới góc độ luật hình sựthực định mà chưa được bàn sâu dưới góc độ xã hội học pháp luật nói chung và xã hội học luật hình sự nói riêng, tác động rất lớn đến quá trình nhận thức lý luậnvề ántreo. Thực trạng nhận thức không thống nhất trong nhiều vấn đềvề án treo, nhất là chưa dựa nhiều trên nền tảng xã hội của án treo, tác động tiêu cực không nhỏ đến kết quả xây dựng pháp luật về án treo ở nước ta. Nhiều quyđịnh pháp luật hình sự tỏ ra lạc hậu, không còn phù hợp với đời sống xã hội.Các hướng dẫn của Tòa án nhân dân (TAND) tối cao được ban hành khá nhiều nhưng chưa thật sựkhoa học là một trong các nguyên nhân làm cho nhận thức pháp luật của Hộiđồng xét xử(HĐXX) trong nhiều trường hợp không thống nhất, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử gặp nhiều khó khăn,bấtcập, giảm hiệu quả. Ví dụ các quy định như: Cách tính thời gian thử thách khi cho bị cáo hưởng án treo,
nhân thân người phạm tội, tổng hợp hình phạt có bản án treo… Minh chứng rõ nét nhất là BLHS năm 2015 được Quốc hội ban hành, lẽ ra nó có hiệu lực thi hành từngày 01/7/2016 nhưng do có nhiều sai sót nên Quốc hội phải lùi ngày có hiệu lực thi hành của BLHS này. Vì vậy, việc hoàn thiện lý luận pháp luật về án treo là đểnâng cao hiệu quả xây dựng và áp dụng phápluật vềán treo,đểán treo đi vào đời sống xã hội là một nhiệm vụ, một yêu cầu hết sức cấp bách.
Trên phương diện thực tiễn áp dụng án treo, những hạn chế trong nhận thức lýluận, trong xây dựng pháp luật về án treo cũng tác động tiêu cực không nhỏ đến thực tiễn áp dụng án treo trong hoạt động xétxửở nước ta nói chung và ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên nói riêng. Những vi phạm, sai lầm trong đánh giá nhân thân ngườiphạm tội, đánh giá các tình tiết giảmnhẹtrách nhiệm hình sự,trong quyết định áp dụng hay không áp dụng án treo, trong cách tính thời gian thử tháchán treo, trong tổng hợp hình phạt đối với người phạm tội mới trong thời gian thử
thách án treo,… gây bức xúc lớn trong xã hội; một mặt phản ánh những hạn chếtrong nhận thức lý luận, trong xây dựng pháp luật, mặt khác còn phản ánh ý thức cố tình áp dụng án treo không đúng pháp luật trên địa bàn, địa phương nhất định. So với hai đầu Tổ quốc thì Miền Trung và Tây Nguyên là địa bàn có những nét đặc thù riêng biệt, đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, vất vả; nhất là đồng bào các dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa còn nghèo nàn lạc hậu, nhận thức pháp luật hạn chế, ít có điều kiện tiếp cận với công nghệ thông tin; tình hình tôn giáo diễn biến khó lường (nhất là các tỉnh Tây Nguyên); địa bàn dân cư vô cùng phức tạp(nhất là những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống)… Các nhân tốxã hội nêu trên tác động trực tiếp đến hoạt động áp dụng pháp luật của TAND các cấp (cấp tỉnh và cấp huyện) khu vực này. Thực tiễn áp dụng án treo trong thời gian qua của TAND các cấp khu vực Miền Trung và Tây Nguyên đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thiết thực vào việc cải tạo, giáo dục con người, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; song cũng còn nhiều thiếu sót, hạn chế mànguyên nhân của nó xuất phát từcác nhân tố xã hội nêu trên, làm giảm hiệu quảcông cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Việc khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng án treo cũng là một yêu cầu vô cùng cấp bách.
Trên phương diện quốc tế, xu hướng đề cao quyền con người, phát huy tính nhân đạo của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng ngày càng được các quốc gia quan tâm nghiên cứu và phản ánh vào trong các quyđịnh pháp luật hình sự,tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mình. Liên hợp quốc cũng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tăng cường áp dụng các hình phạt có tính nhân đạo, không tước tựdo; quy tắc Tokyo năm 1990 về các biện pháp không giamgiữđã minh chứng cho tinh thần này. Hiện nay rất nhiều quốc gia trên thế giới như: Trung Quốc, Liên bang Nga, Mỹ, Pháp, Úc, Thụy Điển, Cu Ba… đều quy định chế định án treo trong pháp luật của mình theo xu hướng trên đây. Xu hướng toàn cầu hóa về án treo dần trở thành hiện thực và tác động không nhỏ đến hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật về án treo ở Việt Nam.
Từnhững tồn tại, hạn chế về lý luận, pháp luật và thực tiễn áp dụng án treo trong cả nước, đặc biệt tại khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, đòi hỏi cần phải cónhững công trình nghiên cứu mới về án treo dựa trên cách tiếp cận mới – cách tiếp cận xã hội học, xã hộihọcpháp luật, xã hội học luật hình sự…để khắc phục được những hạn chế, thiếu sót trong các phương diện nêu trên. Bởi lẽ:“Một trong những nhiệm vụ cấp bách của khoa học pháp lý nước ta hiện nay là nghiên cứu pháp luật trong đời sống, trong thực tế. Để giải quyết hiệu quả nhiệm vụ đó cần phải dựa vào các nghiên cứu pháp lý – xã hội về tính quyết định xã hội và hoạt động xã hội của các chế định, thiết chế pháp luật, của việc thực hiện các đạo luật trong đời sống xãhội” [104, tr 8]. Điều đó còn có nghĩa rằng, chính những hạn chế, bất cập trong nhận thức, trong quy định pháp luật hình sự, trong thực tiễn áp dụng án treo và xu hướng phát triển của luật hình sự đặt ra nhu cầu cấp thiết của việc nghiên cứu một cách thấu đáo, hệ thống, chuyên sâu án treo từ phương diện xã hội ở phạm vi quốc gia cũng nhưở một vùng miền hayđịa bàncụ thể khác của Việt Nam. Đó cũng chính là lý do NCS lựa chọn đề tài: “Chế định án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Miền Trung và Tây Nguyên” làm luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài này tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về án treo;hướng tới xác lập những luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá, hoàn thiện các quy định của pháp luật về án treo, đánh giá thực tiễn áp dụng án treo tại Miền Trung và Tây Nguyên, xây dựng các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng án treo theo pháp luật hình sựViệt Nam trên địa bàn các tỉnh, thànhphốMiền Trung và Tây Nguyên; từđónhân rộng ra cả nước, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệquyền con người, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn cả nước và khu vực.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích này, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
– Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trongnước vàở nước ngoài có liên quanđến nội dung luận án, xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
– Phân tích nhữngvấn đềlý luận (khái niệm, bản chất, vai trò, ý nghĩa của án treo), cơ sở pháp lý của các quy định trong chế định án treo, tìm ra những điểm bất cập trong các quy định đó.
– Tổng hợp số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về án treo của TAND hai cấp thuộc các tỉnh, thành phố khu vực Miền Trung và Tây Nguyên trong 10 nămtừ2007 đến năm 2016; quađóđánh giá những ưu điểmcũng nhưnhững bất cập, hạn chế trong lý luận, trong pháp luật và trong hoạt động xét xử tại khu vực này, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót đó và đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng án treo đối với người phạm tội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận án lấycác quan điểmkhoa học đã được nêu ra trong khoa học pháp lýnói chung và khoa học luật hình sự nước ta nói riêng, thực tiễn xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật về án treo trên địa bàn Miền Trung và Tây Nguyên, các nhân tố xã hội tác động đếnviệc nhận thức, xây dựng pháp luật và áp dụng án treo làmđối tượngnghiên cứuđể nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn củaán treo thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài. Luận áncó đề cậpđến các quy định của pháp luật hình sựmột số nước về án treo để nghiên cứu, song từphương diện so sánh chính là để làm sáng tỏ thêm pháp luật hình sự của Việt Nam về án treo.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Đề tài luận án được nghiên cứu dưới gócđộ luật hình sựvà tố tụng hình sựtheo mã số chuyên ngành của luật hình sự và tố tụng hình sự.
– Về không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về lý luận và pháp luật trong phạm vi toàn quốc, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luậtvề án treo của TAND các cấp tại khu vực Miền Trung và Tây Nguyên.
-Vềmốc thời gian sửdụng các sốliệu nghiên cứu: Từnăm 2007 đến năm 2016.
– Các số liệu phục vụ nghiên cứu: Kết quả áp dụng án treo từnăm 2007 đến năm 2016 do TAND các tỉnh, thành phố khu vực Miền Trung và Tây Nguyên cung cấp, mộtsố bản án treo TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh xétxửtừnăm 2007 đến năm 2016.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án lấychủ nghĩa duyvậtbiện chứng và chủ nghĩa duyvậtlịch sửcủa
chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về cải cách tư pháp, về quyền con người và bảo vệ quyền con người, về hiệu quảhoạt động của bộ máy Nhà nước làm phương pháp luận để nghiêncứu các vấn đềthuộc nội dung nghiên cứu.
Luận án nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài từ cách tiếp cận xã hội học, xã hội học pháp luật, xã hội học luật hình sự và triết học pháp luật; sửdụng phương pháp tiếpcậnđa ngành, liên ngành khoa học xã hội và đa ngành, liên ngành luật học.
Trên cơ sở phương pháp luận, NCS sửdụng kết hợp trong một tổng thểcác phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
– Phương pháp phân tíchđược sử dụng đểphân tích, luận giải những vấn đề cơbản của pháp luật về án treo, dự báo khoa học, phân tích những nhân tố tác động (cảtích cực và tiêu cực) đến hoạt động áp dụng án treo; từ đó xây dựng khái niệm về án treo; làm rõ bản chất, vai trò, ý nghĩa của án treo.
– Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh sự thay đổi về quan điểm, nhận thức, áp dụng pháp luật về án treo trong từng giai đoạn lịch sử, so sánh chế định án treo vớicácchếđịnhvềhình phạt khác không phải là hình phạt tù, cũng nhưsựso sánh pháp luậtvềán treocủanướctavớipháp luậtvềán treocủacácnướctrênthếgiới nhằm tìm ra những điểm tương đồng cũng như những điểm khác biệt.
– Phương pháp hệ thốngđược sửdụng đểthống kê các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết, các khóa luận, luận văn, luận án, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, phục vụ cho giai đoạn đầu nghiên cứu; đồng thời sắp xếp, phân loại nó cho phù hợp với từng câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu nhằmđạt hiệu quảnghiên cứucao nhất. Trong quá trình triển khai nghiên cứuđề tài, phương pháp này còn được sử dụng để hệ thống những tri thức lý luận liên quanđến án treo và đưa ra dự kiến thiết kế luận án.
– Phương pháp thống kê – tổnghợpđược sửdụng cho việc thu thậpvà xửlýmột cách khoa học, hiệu quả các số liệu liên quan đến thực tiễn áp dụng án treo tại các tỉnh, thành phố Miền Trung và Tây Nguyêntừnăm 2007 đến năm 2016; làm cơsở để đánh giá tính khoa học của pháp luật về án treo, kiểm nghiệm giá trị của pháp luật về án treo đối với thực tiễn cuộc sống.
– Phương pháp lịch sử cụ thể được sử dụng nghiên cứu quá trình ra đời, hình thành và phát triển của pháp luật về án treo gắn liền với một quá trình vận động vàphát triển của xã hội.
– Phương pháp xã hội học, nhất là phương pháp điều tra xã hội họcđược sửdụng để phân tích làm rõ tính quyết định về mặt xã hội của án treo.
Ngoài ra, luận án còn sửdụng các phương pháp khác như tổng kết thực tiễn, tham khảo ý kiến của các chuyên gia có uy tín, cán bộ làm công tác tổ chức thi hành án treovà một số người bị kết ántreo,tọađàm khoa học; làm cơsởcho việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về án treo và bảo đảm áp dụng đúng án treo.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện chế định án treo trong BLHS, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo trong hoạt động xét xử tại TAND các cấp khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khoahọcở tầm tưduy để hoàn thiện pháp luật về án treo, bảođảm áp dụng đúng pháp luật về án treo trong thực tiễn xét xử.
Luận án làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ xã hội, nhu cầu cuộc sống với pháp luật về án treo, từđóxác định quy luật khách quan của xã hội, đó là:
Pháp luật hình thành từ cuộc sống, do các nhu cầu của xã hội quyết định; án treo làsản phẩm của quy luật tất yếu khách quan đó.
Đóng góp mới của luận án nổi bật ở chỗ:
– Thứ nhất: Lý luận và pháp luật về án treo được tiếp cận nghiên cứu trên quanđiểmxã hội học, xã hội học pháp luật, xã hội học luật hình sự,vì vậylàm sáng tỏ được tính quyết định của xã hội đối với án treo, giá trịxã hộicủa pháp luật về án treo đối với cuộc sống.
– Thứ hai: Nét đặc thù của Miền Trung và Tây Nguyên trong nhận thức và áp dụng án treo so với hai đầu củađất nướcđược làm sáng tỏ thông qualăng kính xãhội học, xã hội học pháp luật, tức là thông qua việc làm rõ những nhân tố xã hội nào tác động đến quá trình áp dụng án treo (áp dụng đúng và những vi phạm, sai lầm).
Giá trị của luận án chính là công trình có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa xã hội cho khu vực Miền Trung và Tây Nguyên mà chưa có công trình nào nghiên cứu.
– Thứ ba: Chế định án treo trong BLHS năm 2015 cũng được luận án nghiên cứunhằm làm sáng tỏnhững hạn chế, bất cậpcủachế định này trong BLHS năm 2015 và cần khắc phục những hạn chế, bất cập đó như thế nào.
– Thứ tư: Các giải pháp mà NCS nêu ra đều xuất phát từ đời sống xã hội, các nhu cầu xã hội và ở tầm tư duy, nhất là tư duy xây dựng chính sách pháp luật hình sự.
Các điểm mới cơ bản này đã chi phối toàn bộ công trình nghiên cứu của đề tài, khẳng định án treo đã trở thành một giá trị của pháp luật và của cuộc sống.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
– Luận án là một công trình khoa học góp phần làm sáng tỏ tính khoa học của lý luận, pháp luật về án treo, bổ sung những khiếm khuyết, bất cập trong lý luận, trong các quy định của pháp luật về án treo.
– Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho việc đổimớitư duy, nhận thức của những người làm công tác hoạch địnhchính sách pháp luật hình sự, xây dựng pháp luật về án treo (nhất là tư duy trong việc phân tích chính sách) và áp dụng pháp luật hình sự về án treo trong hoạt động xét xử tại TAND các cấp khu vực Miền Trung và Tây Nguyên; góp phần nâng cao hiệu quảhoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về án treo trong hoạt động xét xử.
– Luận án là một tài liệu tham khảo có giá trị cho hoạt động áp dụng pháp luật về án treo, cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy thuộc chuyên ngành luật tại các cơ sở đào tạo. Những người làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cóthể sử dụng công trình này để phục vụ cho nhiệm vụ của mình.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình nghiên cứu của NCS, luận án gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2. Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự về án treo.
Chương 3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo tại Miền Trung và Tây Nguyên.
Chương 4. Yêu cầuvà các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu 1.3.1. Đánh giá tình hình nghiên cứu
* Đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước
23
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đều khẳng định: Án treo thể hiện tính nhân đạo, hướng thiện và khoan hồng, làsựân huệ của Đảng và Nhà nướcđối với người phạm tội. Các tác giả đã làm sáng tỏ các đặc điểm của án treo, khái niệm về án treo, bản chất, vai trò và ýnghĩa của án treo đối với đời sống xã hội, cơ sởkhoa học để ban hành chế định án treo. So với án phạt tù thì án treo đem lại lợi ích xã hội rất cao. So với các hình phạt không tước tự do như hình phạt cải tạo không giam giữ thì án treo được Tòa án áp dụng với tỷ lệ cao hơn hẳn trên số án và số bị cáo thụ lý, thấp nhất cũng không dưới 20%, trong khi án phạt cải tạo không giam giữchỉ chiếm khoảng 01%. Đây là cơ sở khoa học để các tác giả khẳng định phải tiếp tục duy trì và phát triển chế định về án treo trong BLHS. Vì vậy, các quan điểm cho rằng do có hình phạt cải tạo không giamgiữnên không cần thiết phải có chếđịnh án treo, theo NCS lập luận này là không phù hợp với thực tiễn. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều có tiếng nói chung về phương diện lý luận là chúng ta đãđạt được nhiều tiến bộ, làmnền tảng cho việc xây dựng chính sách pháp luật hình sự và ban hành pháp luật về án treo.
Các tác giả nghiên cứu mộtcách toàn diện các yếutố thuộc nội hàm củaán treo, trong đó vấn đề nhân thân người phạm tội, tổng hợp hình phạt có bản án treo, cách tính thời gian thửthách của án treo được các tác giả tranh luận nhiều nhất. Không chỉ dừng lại ởđó, các tác giả còn nghiên cứu pháp luật án treo củanước ngoài để so sánh, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt làm tư liệu cho việc hoàn thiện pháp luật về án treo của Việt Nam. Các tác giả đều thống nhất đánh giácông tác ban hành và phát triển pháp luậtvềán treo trong 2/3 thế kỷqua đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng, án treo là nhân đạo, là cần thiết của đời sống xãhội và có lợi về mặt tài chính cho các quốc gia, xu hướng chung là ngày càng cónhiều quốc gia ủng hộ ban hành chế định án treo. Trong thực tiễn áp dụng án treo,
tất cả các công trình nghiên cứu đềuthống nhất đánh giá rằng hoạtđộng áp dụng pháp luật đã đạt đượcnhiều thành quả to lớn, góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, các bản án treothật sựđi vào cuộc sống xã hội và án treo đã trở thành một giá trị của pháp luật và của cuộc sống. Ngoài việc đánh giánhững thành tựu, các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tồn tại, yếu kém
24
trong nghiên cứu lý luận (đặc biệt là yếu kém trong việc nghiên cứu mô hình lý luận về án treo, trong việc nghiên cứu xây dựng chính sách pháp luật hình sựvà phân tích chính sách pháp luật hình sự), trong xây dựng pháp luật và ban hành pháp luật, trong thực tiễn áp dụng và đề xuất các giải pháp khắc phục.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về lý luận, pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật vềán treo đã phản ánh cơ bản phù hợp với thực trạng của các phương diện nêu trên, đáng trân trọng và kế thừa đểtiếptụcnghiên cứu, hoàn chỉnh. Song, công bằng mà nói thì thành tựu nghiên cứu của các tác giả cơ bản dựa trên cơ sở pháp luật thực định để xác định nguyên nhân thành công và thiếu sót, chưa xem xét mối tương tác giữa pháp luật về án treo với các nhân tố xã hội qua lăng kính xã hội học, xã hội học pháp luật; ví dụ như: Yếu tố đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, kinh tế, chính trị, văn hóa, đào tạo, cơ sở vật chất, chính sách pháp luật, ý thức pháp luật, ý thức hệ để làm rõ nguyên nhân củacác thành tựu, cũng như nguyên nhân của các tồn tại, yếu kém trong hoạt động nghiên cứu lý luận, pháp luật và áp dụng án treo. Vì vậy, cách nhìn mới là phải đứng trên quan điểm xãhội học, xã hội họcpháp luật và xã hội học luật hìnhsựthìmớinghiên cứu được mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và xã hội, trong đó các yếutố đờisống xãhội quyết định việc xây dựng và ban hành pháp luật, tácđộngđếnviệc áp dụngđúng pháp luật về án treo trong thực tiễn xét xử. Ngoại trừđề tài này thì chưa cócông trình nghiên cứu nào về thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo riêng cho khu vực Miền Trung và Tây Nguyên.
Trong các công trình nghiên cứu, hầu hết các tác giả dù gián tiếp hay trực tiếp đều đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về án treo, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về án treo. Quytụ lại có hai nhóm giải pháp: Giải pháp về hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác. Trong các giải pháp hoàn thiện về pháp luật, các tác giả kiến nghịcần phải sửa đổi,bổ sung các quy định về án treo trong BLHS, không chỉ có một Điều 60 mà có thể là nhiều điều luật, định nghĩa lại án treo một cách thống nhất, càng luật hóa pháp luật về án treo thì càng tốt cho việc nhận thức và áp dụng pháp luật của Thẩm phán. Các giải pháp khác các tác giả đề xuất xoay quanh việc nâng cao ý thức pháp luật, nhận thức pháp luật, đạo đức của đội ngũ cán
25
bộ áp dụng pháp luật, nhất là Thẩm phán, đào tạo, bồi dưỡng… nhằm phục vụ cho việc áp dụng pháp luậtvề án treo trong thực tiễn xét xửngày càng hiệu quả hơn. Nhìn chung, các giải pháp do các tác giả nghiên cứu đề xướng là tích cực và toàn diện. Đây là điểm nhấn trong các công trình nghiên cứu. Nhưng để chế định án treo trở thành một giá trị của pháp luật thì các giải pháp đưa ra phải ở tầm tư duy, phải được dựa trên quan điểm xã hội học và xã hội học pháp luật, phải đánh giá sát thực các nhân tố xã hội tácđộng đến hiệu quảáp dụng án treo. Các công trình nghiên cứu hầu hết tập trung vào các giải pháp hoàn thiện lý luận và thực tiễn áp dụng án treo trong hoạt động xét xử có tính chất liệt kêchứchưa đi sâu vào yếu tố phân tích chính sách pháp luật hình sự. Trong nhóm các giải pháp về xây dựng chính sách hình sự chưa đánh giá đúng sự tác động của các nhântố xãhộiđối với hoạtđộnglýluận, xây dựng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo, vì vậycác giải pháp đưa ra chưa đạt tầm tư duy. Đâylà một khiếm khuyết trong các công trình nghiên cứu trước đây, NCS cần phải khắc phục.
* Đánh giá tình hình nghiên cứu ở ngoài nước:
Vì nhiều lý do khác nhau, việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về án treo ở nước ngoài còn hạn chế. Trong khả năng có thể,NCSđã tiếpcậnđược pháp luật hình sự của một số nước có quy định chế định án treo như: Trung Quốc, Pháp, Đức,
Nga, Úc,Mỹ…và một số luận án tiến sĩ liên quan đến chếđịnhán treo. Vì vậy, chắc chắn còn có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu chế định án treo ngoài các tác giả và công trình nêu trên. Các công trình nghiên cứu của các tác giả này cóchiều sâu và xuất pháttừquan điểm xã hội học, có giá trị cho việc tham khảo đểhoàn chỉnh luận án. Các công trình nghiên cứu nêu trên thể hiện đầyđủ trên các phương diện: Lý luận, pháp luật về án treo, thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo trong hoạt động xét xử; những ưu điểm và những tồn tại, hạn chế trên các phương diện đó. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì các công trình nghiên cứu ở nước ngoài mà NCS được tiếp cận mới chỉ bước đầu toát lên quan điểm xã hội học chứchưa đi sâu nghiên cứu, đánh giá sự tác động của các nhân tố xã hội (cả tích cực lẫn tiêu cực) đối với những vấn đề thuộc nội dung đề tài mà các tác giả nước ngoài nghiên cứu; họ mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định vị thế của án treo đối với tù giam
26
và nghiêng về lợi ích tài chính khi cho hưởng án treo (quan điểm của chúng ta là
xuất phát từ nhân đạo mới cho hưởng án treochứkhông vì lợi ích tài chính)… chứchưa làm rõ nguyên nhân xã hội họccủa những vấn đềnày. Song, các công trình nghiên cứu này thật sựcó giá trị tham khảo rất thiết thực để NCS có cái nhìn bao quát hơn, rộng hơn, tư duy hơn những vấnđềthuộc vềchếđịnhán treo. Trong quá trình nghiên cứu NCS sẽ cố gắng tìm tòi, sưu tầm để bổ sung cho luận án của mình phong phú hơn.
1.3.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu trước đây, NCS thấy rằng còn rất nhiều vấn đề tranh luận, có nhiều ý kiến khác nhau, cần phải tiếp tục nghiên cứu và có những vấn đề mới phát hiện cần phải nghiên cứu.
* Về phương diện lý luận:
– Định nghĩa về án treo:
+ Nhóm quan điểm 1 cho rằng: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá 3 năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù” [62, tr. 372]; “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bịcoi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định” [12, tr. 810)].
Theo Nghị quyết số 01/1990/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”. Đâylàđịnh nghĩa chính thống hiện nay.
+ Nhóm quan điểm 2: Án treo chỉ được coi là hình thức xử lý nhẹ hơn tù giam. + Nhóm quan điểm 3: Án treo là một biện pháp tạm đình chỉ việc thi hành án. + Nhóm quan điểm 4: Án treo là một hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù.
Cần phải tiếp tục nghiên cứu để có một định nghĩa khoa học nhất. – Về sự tồn tại của chế định án treo:
27
+ Nhóm quan điểm1 cho rằng: Do có hình phạt cải tạo không giam giữ, tha miễn phạt tù trước thời hạn có điều kiện nên sự tồn tại của chế định án treo là không cần thiết.
+ Nhóm quan điểm 2 cho rằng (số đông): Án treo cùng với những hình phạt khác không phải hình phạt tù là bộ phận cấu thành trong chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự nên sự tồn tại của chế định án treo là một nhu cầu tất yếu khách quan.
Cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ nội dung này.
-Về mức hình phạt đểlàm căn cứ, điều kiện cho hưởng án treo: Có nhiều ýkiến cho rằng cần quyđịnh là 5 năm như trước đây, chứ3 năm là không phù hợp với tình hình hiện nay.
– Ngoài ra còn có mộtsố quan điểm cho rằng chế định án treo cầncó nhiều điều luật mới bao quát hết nội hàm của nó; cần bổ sung việc giải thích án treo, quyđịnh loại tội phạm được áp dụng án treo, các yếu tố về nhân thân người phạm tội, tổng hợp hình phạt tù với bản án treo, cách tính thời gian thử thách án treo, cơ chế giám sát người chưa thành niên phạm tội được hưởng án treo vào chế định án treo. Vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu những quan điểm này.
*Về phương diện pháp luật: Cần tiếp tục nghiên cứu những hạn chế, bấtcập trong các quy định của pháp luật về án treo để có giải pháp hoàn thiện.
* Về phương diện thực tiễn áp dụng án treo:
Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao quy định không được áp dụng án treo đối với bị cáo phạm các tội vềtham nhũng, chức vụ,nhưng có nhiều quanđiểmkhông đồngtình với hướng dẫn này mà cho rằng khi nào bị cáo đủ điềukiện được hưởng án treo thì Tòa án cho hưởng án treo. Đây là vấn đề thực tiễn áp dụng pháp luật cần tiếp tục nghiên cứu.
* Về cách tiếp cận khi nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu trước đây chưađứng trên quan điểm xã hội học, xã hội học pháp luật, xã hội học luật hình sự và các giải pháp đưa ra chưa đạt tầmtư duy. Vì vậyNCS có cách tiếp cận mới dựa trên quan điểm xã hội học, xã hội học pháp luật và xã hộihọcluật hình sựđể luậngiải vấn đề;cần phải làm rõ những nhântố xã hội nào tác động đếnhoạt độngnghiên cứu lý luận, xây dựng pháp luật hình sự về án treo và hoạt động áp dụng pháp luật
28
về án treo trong thực tiễn xét xử; các giải pháp NCS đưa ra phảiở tầm tưduy. Đây là điểm mới cần đượcnghiên cứu mới.
Kết luận chương 1
Việc tham khảo, phân tích, đánh giá các công trình nghiêncứukhoa học trướcđâyliên quanđếnđềtài cho phép khẳngđịnh:Vềcơbảncác công trình nghiêncứutrướcđây đãđạtđượcnhiều thànhtựuquan trọng đáng ghi nhận trong lý luận, pháp luật và thực tiễn áp dụng án treo, các giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng và áp dụng án treo. Những giá trị tinh hoa này phù hợp với những giátrịnghiêncứuởngoàinước,đáng ghi nhận vàkếthừa. Nhữngvấnđềcòn tranh luận thì NCS tiếptụclàm rõ, nhữngvấnđềmớiphát hiện thì NCS thực
hiện nghiên cứu mới… Mục đích cuối cùng là đạt sự hoàn thiện về lý luận; khắc phục nhữngtồntại,hạnchếtrong thực tiễn áp dụng án treotạiTAND các cấp khu vực Miền Trung và Tây Nguyên.
Với nộihàm án treo phong phú, vì vậy về lý luận và thực tiễn áp dụng án treođược nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu sẽ là cơ sở để tổng hợp nhằm hoàn thiện từng vấn đề của nội hàm, xây dựng chế định án treo khoa học, tiên tiến. Các công trình nghiên cứu về chế định án treo theo pháp luật hìnhsựViệt Nam trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, đáng ghi nhận; nhưng cơ bảnvẫn là nghiên cứu trên pháp luật thực định, chưa nhìn nhận rõ tính quyếtđịnh của các nhân tố xã hội, của quá trình xã hội đối với sự ra đời và phát triển củaán treo cũng nhưsựtác động của pháp luật về án treo đối với các nhân tố, quá trình xã hội đó; các giải pháp đưa ra chưa đạt tầm tư duy, nên việc vận dụng vào thực tiễn xét xửđạthiệu quả chưa cao; đây là một khó khăn cho việc nghiên cứu của tác giả. Vì vậy con đường nghiên cứu hiệu quả nhất vẫn là khai thác tối đa những tinh hoa của các công trình nghiên cứu trước đó, cọ xát với thực tiễn để hoàn thiện lý luận vềán treo, từđó tác động lại thực tiễn, thúc đẩyxã hội phát triển, chứng minh tínhđúng đắn trong chính sách nhân đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chìa khóa để giải quyết các vấn đề lý luận, pháp luật về án treo, thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo, các giải pháp
29
hoàn thiện pháp luật về án treo và nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật về án treo là tác giả nghiên cứu đề tài phải đứng trên quan điểm tiếp cận xã hội học, xã hội học pháp luật và xã hội học luật hình sự. Phải nghiên cứu mô hình lý luận mới về án treo, từ đó mới có chính sách hình sự và pháp luật hình sự về án treo sát thực tiễn; phải đưa pháp luật thực định chảy vào dòng chảy của đời sống xã hội để phản ánh,điều chỉnh vàtừthực tiễn xã hội nhìn thấy được các nhân tố tácđộng đến tưduy lýluận và tư duy xây dựng chính sách pháp luật hình sự. Làm được điều này mới cócơ sởkhoahọccho việc ban hành pháp luật hình sựvềán treo đạt chấp lượng, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng án treo và dựbáo đượcnhững nhu cầu xã hội trong tương lai.
30
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ ÁN TREO
2.1. Những vấn đề lý luận về án treo
2.1.1. Khái niệm, bản chất pháp lý, vai trò và ý nghĩa của án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam
2.1.1.1. Khái niệm án treo
“Trong tiến trình phát triển của nhân loại, nhân đạoluôn là niềm khát vọng cháy bỏng của con người. Cùng với những giá trị xã hội khác như công bằng, bình
đẳng, dân chủ, pháp luật,… nhân đạo có giá trị xã hội và ý nghĩa cực kỳ quan trọngđối với sự phát triển của xã hội nói chung và của mỗi con người nói riêng” [70, tr. 15]. Án treo là một giá trị của pháp luật, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng và hướng thiện trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta. Ngay sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chế định vềán treo xuất hiện trong các vănbảnpháp luật về hình sựcủa Nhànước ta và nókhông ngừng được bổ sung, hoàn thiện qua các thời kỳ. Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và phát triển, khái niệm về án treo được hiểu và giải thích không thống nhất trong nhiều văn bản khác nhau của các cơ quan có thẩm quyền.Vấn đề cốt lõi là luận giải án treo có phải là một hình phạt hay không, nó có phải là hình thức xử lý nhẹ hơn tù giam hay không, hay nó là sựân huệ của Nhà nước đối với người phạm tội. Các điều kiện cho hưởng án treo, cách tính thời gian thử thách khi cho bị
cáo hưởng án treo, tổng hợp hình phạt có án treo, hậu quả pháp lý của án treo… là những yếu tố thuộc nội hàm của chế định án treo, nảy sinh nhiều bất cập trong quátrình áp dụng pháp luật vào thực tiễn, cần phải được nhận thức thống nhất.
Trong mỗi một giai đoạn lịch sử của đất nước, nhận thức về khái niệm án treo cũng có sự khác nhau, mặc dù bản chất của nó vẫn là thể hiện tính nhân đạo, hướng thiện của giai cấp cầmquyền, người bị kếtán không phải vào trại giamđể chấp hành hình phạt tù. Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủcộng hòa ban hành Sắc lệnh số 33C thành lập các Tòa án Quân sự, trong đó án treo được quy định tại Điều IV như sau: “Nếu có những lý do đáng khoan hồng vì ít tuổi,
31
vì biết hối cải, vì lầm lẫn… thì Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo. Nghĩa là bản án làm tội tuyên lên, nhưng không thi hành; nếu trong năm năm bắtđầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Toà án Quân sự làm tội một lần nữa về việc mới thì bản án đã tuyên sẽ huỷ đi, coi như là không có; nếu trong hạn năm năm ấy, tội nhân bịkết án mộtlần nữa trước Toà án Quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành” [20]. Như vậy, theo quy định này thì điều kiện để được hưởng án treo phải là
người phạm tộilà người ít tuổi, biết hối cải, vì sựlầm lẫn,…mà không kèm theo
những điều kiện ràng buộc khác nhưvề mứchình phạt, về nhân thân,… Ưu điểm của quy định này lànhững điều kiện đượchưởng án treo đơn giản, dễ áp dụng, quyđịnh vềthời gianthửthách đốivớingườiđược hưởngán treo; còn nhược điểm của nó là không quy định điều kiện về hình phạt và nhiều yếu tố khác thuộc nội hàm củaán treo nên việc hướng dẫn áp dụng pháp luật sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Tại Điều 10 Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức và hoạt động của các Tòa án Quân sự (thay thế Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945) quy định: “Khi phạt tù Tòa án có thể cho tội nhânđược hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng. Bản ánxử treosẽ tạm đình việc thi hành. Nếu trong 5 năm bắt đầutừ ngày tuyên án,tộinhân không bị Tòa án Quân sự làm tội một lần nữavề mộtviệc mới, thìbản án đãtuyên sẽ hủy đi, coi như không có. Nếutrong 5 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một Tòa án Quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành” [21]. Ưu điểm của quy định này không nêu các điều kiện để được hưởng án treo mà nêu có những lý do đáng được khoan hồng; là việc dành cho HĐXX sự lựa chọn, đánh giá rộng hơn, không chỉ xét xửtheo pháp luật mà còn theo lương tâm; đồng thời quy định về thời gian thử tháchđể ràng buộc người bị kết án. Cũng như Sắc lệnh số 33C, Sắc lệnh số 21 không quyđịnh điều kiện về hình phạt và các yếu tố khác thuộc nội hàm của án treo mà chỉ nói
“Khi phạt tù Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo…”,mà hình phạt tùtheo Điều 8 của Sắc lệnh này là từ01 nămđến 10 năm là quá rộng. Nhìn chung, khái niệm này vẫn chưa toàn diện và chưa đầy đủ. Theo Điều 12 Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 sửa đổi, bổ sung chế định án treo như sau: “Đối với những kẻphạm
tội bị phạt không quá 2 năm tù thì trong những trường hợp đặc biệt do Thủ tướng
32
Chính phủ quy định, Tòa án có thể cho bị cáo hưởng án treo” [22]. Quy định sửađổi, bổ sung này công bằng mà nhìn nhận thì quá khắt khe, đặc biệtlà điều kiện vềhình phạt. Các cơ quan bảo vệ pháp luật lúc bấy giờ có nhận thức khác nhau về án treo. Theo Thông tưsố2308/NCPL ngày 01/12/1961 của TAND tối cao thì “án treo là một biện pháp hoãn hình có điều kiện” [85]; nhưng theo Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 của TAND tối cao thì “án treo phải được xem là hình thức xử lýnhẹ hơn tù giam” [86]. Tronglờitổng kết công tác năm 1976 của Chánh án TAND
tối cao cũng cho rằng“án treo là hình thứcxử lý nhẹ hơn án tù giam” [87]. Còn theo Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946 thì án treo có ý nghĩa như là biện pháp “tạmđình chỉ việc thi hành án” [21].
Như vậy, ngay trong những ngày đầu đất nước vừa tự do, độc lập, chế định vềán treo đã được quy định trong các sắc lệnh về tổ chức và hoạt động của các Tòa án Quân sự. Nhưng do hoàn cảnh, điều kiện kinh tế – xã hội củađất nước lúc bấy giờđã chi phốiđếnsựnhận thức về án treo và các hướngdẫnban hành đểthực hiện quy định pháp luật về án treo cũng đều xuất phát từ quan điểm cho rằng án treo nhẹhơn án tù và án treo là không phải vào tù để cải tạo; án treo xuất phát từ tính nhân đạo, hướng thiện của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong giai đoạn lịch sửnày. Nhìn chung, các khái niệm về án treo trong giaiđoạnlịchsửnày là chưa đầyđủ, vẫn còn thiếu nhiều quyđịnh thuộc về nội hàm của án treo dẫn đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất.
Tuy nhiên, sau ngày Miền Namđược giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, bối cảnh xã hội hoàn toàn thayđổi đãtác động mạnh mẽ đến ý thức trong chính sách hình sự (trong đó có án treo) của Nhà nước ta, các quy định pháp luật về án treo và cáchướngdẫn trước đây không còn phù hợp với thực tiễn. Do đó, ngày 27/6/1985, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLHSđầu tiên và bộ luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986. Chế định án treođược quy địnhtạiĐiều 44 BLHS năm 1985 như sau:“Khi xử phạt tù không quá 5 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo vàấnđịnh thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm” [65]. Luật sửa đổi,bổ sung một số
33
điều của BLHS năm 1985 cũng như khoản 1Điều 60 BLHS năm 1999 quyđịnh:
“Khi xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòaán cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1 đến 5 năm” [66]. BLHS năm 2015 quyđịnh về án treo cụ thể hơn tại khoản 1 Điều 65: “Khi xử phạt tù không quá 3 năm, căncứ vào nhân thân người phạm tội, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự” [67].
Ngoài ra, liên quan đến pháp luật về án treo, bên cạnh những nội dung thể hiện trong các BLHS nêu trên còn có những văn bản bổ trợ khác hướng dẫn thi hành, đólà các nghị quyếtcủa Hội đồngThẩm phán TAND tối cao, các thông tư liên tịch vàcác văn bản khác.
Căn cứ vào các quy định trên thì thấy rằng trong các BLHS năm 1985, 1999 và 2015 không có định nghĩa như thế nào gọi là án treo, mà chỉ quyđịnh khi xửphạt tù không quá 05 năm (BLHS năm 1985) hoặc không quá 03 năm (BLHS năm 1999 và 2015), căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm. Nhưng tại Điều 1 Nghị quyết số 01 ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TANDtốicao (hướng dẫn thi hành Điều 60 BLHS năm 1999) cũng như các nghị quyết, hướng dẫn trước đây của TAND tối cao và giáo trình luật hình sựViệt Nam thì định nghĩa: Án treo làbiện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Đồng thời, Điều 44 BLHS năm 1985 cũng như Điều 60 BLHS năm 1999 và Điều 65 BLHS năm 2015 không nằm trong chương hình phạt. Và như vậy, theo định nghĩa nêu trên thì án treo không phải là một hình phạt, không phải là hình thức xửlý nhẹ hơn tù giam, không phải là “biện pháp của việc tạm đình chỉ thi hành án”, không phải là “biện pháp hoãn hình có điều kiện” và nó không phải là hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, mà nó là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Nhiều nước trên thế giới cũng coián treo không phải là hình phạt. Chẳng hạn như BLHS của nước Cộng hòa nhân dân
34
Trung Hoa, án treo không nằm trong hệ thống các hình phạt chính (Điều 28) mà án treo được hiểu là cách thức thi hành hình phạt tù (Điều 67), cơ bản giống chế định pháp lý về án treo của BLHS Việt Nam. Điều 44 BLHS nước Cộng hòa Liên bang Nga cũng coi án treo như là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, trong hệ thống các hình phạt (Điều 21) cũng không có án treo. Như vậy, chế định án treo trong BLHS nước Cộng hòa Liên bang Nga cũng tương đồng nhưchế định án
treo trong BLHS Việt Nam. “Luật hình sự của Anh – Mỹ coi án treo là trường hợp hoãn tuyên án kèm theo biện pháp bảo lĩnh hoặc biện pháp bảo đảm bằng tiền. Luật hình sự của Pháp, Bỉ và một số nước khác coi án treo là việc hoãn hoặc miễn chấp hành hình phạt. Các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây đa số coi án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điềukiện; nhưng cũng cónước coi án treo là hình phạt chính như nước Cộng hòa dân chủ Đức”[19].Vì lý do tài chính cũng như hiệu quả của án treo trong việc ngăn ngừa người phạm tội tái phạm, nhiều quốc gia có xu hướng sử dụng án treo nhưlà một sựlựa chọn tốt nhất khi xửphạt người phạm tội.
Có thể nói rằng, ưu điểmcủa chế định án treo quyđịnh trong BLHS năm 1985, 1999 và 2015 là đã luật hóa được các yếu tố quan trọng thuộc nội hàm của án treo như: Điều kiện về hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, về nhân thân người phạm tội, quy định về thời gian thử thách và chế tài khi vi phạm, tổng hợp hình phạt tù có
bản án treo… đã làm cho khái niệm về án treo đầy đủ hơn và phù hợp với thực tiễn cuộc sống hơn, tuy vẫn còn một vài hạn chế.
Trên cơsởgiải thích án treo của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, của các giáo trình luật hình sự Việt Nam, các quan điểm của các tác giả trong các công trình nghiên cứu trong nước trước đây, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, tham khảo pháp luật hình sựnhiều nước trên thế giới, đánh giá những ưu điểm, hạn chếcủa các quyđịnh pháp luật về án treo trong quá trình lập pháp và kết quả nghiên cứu của luận án tiến sĩ này, NCSđề xuất địnhnghĩa về án treo như sau: “Án treo làbiện pháp miễn chấp hành hìnhphạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bịxử phạt tù không quá 3 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đáng đượckhoan hồng”.Quanđiểm nàyvề cơ
35
bản đồng tình với hướng dẫntạiNghị quyết số 01 ngày 06/01/2013 củaHĐTP TAND tối cao và có sựtiếp thu, chọn lọc những tinh hoa trong các quyđịnh của pháp luật về án treo trước đâycũng như những quan điểmkhoa học, tiến bộ của nhiều tác giả. Cơ sở lý luận của đề xuất định nghĩa này là án treo không phải là hình phạt mà là một biện pháp không tước tự do đối với người phạm tội mà thôi.
* So sánh án treo với hình phạt cải tạo không giam giữ và chế định về tha tùtrước thời hạn có điều kiện:
So với hình phạt cải tạo không giam giữ thì án treo được áp dụng trong trường hợp phạm tội nặng hơn so với những trường hợp người phạm tội được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và hậu quả pháp lý cũng khác nhau (người bị phạt cải tạo không giamgiữbịkhấu trừtừ5% đến 20% thu nhập để sung công quỹNhànước trừtrường hợp đặc biệt được Tòa án miễn, còn người bị áp dụng án treo phải chịu thời gianthửthách từ01 năm đến05 năm theo khoản 5 Điều60 BLHS năm 1999). Hình phạt cải tạo không giam giữ và án treo tuy là hai quy định khác nhau nhưng xétvề bản chấtđều thểhiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và cónhiều điểm giống nhau như: Người bịkết án không bị cách ly ra khỏi xã hội màbuộc họ phải tựcải tạo, giáo dục dưới sự quản lý của chính quyền địa phương, đều có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Song giữa hai chế định này có sự khác biệt lớn, đó là: Tại sao cùng có tính chất nhân đạo nhưng lại có quy định khác nhau và hậu quả pháp lý cũng khác nhau? Vấn đề được luận giải ở chỗ: Cải tạo không giam giữlà một hình phạt chính nằmtrong hệ thống các hình phạt quyđịnh tại Điều 28 BLHS năm 1999 (nay là Điều 32 BLHS năm 2015), còn án treo theo giải thích hiện nay thì nó không phải là hình phạt trong hệ thống hình phạt được quyđịnh trong BLHS mà làmộtbiện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Phạm vi loại
tội phạm được áp dụngán treo rộng hơn loạitội phạm được áp dụngcải tạokhông giam giữ. Hậu quả pháp lý của án treo cũng khác với cải tạo không giam giữ, đó là: Trong thời gian thử thách án treo người bị kết án phạm tội mới và bị xử phạt tù thì ngoài việc phải chấp hành hình phạt của bảnán mới, họ còn phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo; còn đối với người bị phạt cải tạo không giam giữ phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt thì họphải chịu phần hình phạt còn lại(cứ3
36
ngày cải tạo không giam giữ bằng 1 ngày tù giam) của bản án và tổng hợp hình phạt chung theo Điều 51 BLHS năm 1999; người bị phạt cải tạo không giamgiữbị khấu trừtừ5% đến 20% thu nhập để sung công quỹ, còn ngườibị kếtán treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Haivếcủa chính sách nhânđạođều cónhữngđiểm ưu việt, nó tồn tại để bổ sung cho nhau, cần nhau, khắc phục những điểm yếu của nhau, làm cho chính sách nhân đạo,hướng thiện của Đảng, Nhà nước ta thểhiện một cách toàn diện. Xã hội cần có án treo và cần cả cải tạo không giam giữ, nó đều do các nhu cầu của xã hội quyết định và có giá trị phản ánh lại thực tế các nhu cầuxã hội đó.
Tha tù trước thời hạn có điềukiện là một chế địnhpháp lý mới quyđịnhtạiĐiều 66 BLHS năm 2015, áp dụng đối với người đang chấp hành hình phạt tù đápứng đủ các điều kiện do điều luật này quy định. Đây là một vế của chính sách nhânđạo trong pháp luật hình sự. Cùng với án treo, cải tạo không giamgiữvà các chế định nhân đạo khác trong BLHS tạo nên một chính sách pháp luật hình sự nhân đạo, văn minh, đápứng “khát vọng cháy bỏng” về tựdo của người phạm tội như tácgiảHồ Sỹ Sơn đã viết, nó giống nhau là chỗ đó. Tuy nhiên, hai chế định này khác nhauở chỗ: Người được áp dụng án treo được tựdo ngay sau khi Tòa tuyên án, còn tha tù trước thời hạn được tựdo sau quá trình thi hành án phạt tù. Xét trên phương diện xã hội học và bản chất nhân đạothì tha tù trước thời hạn có thể nhận thức như làmột khía cạnh của án treo.
Trên cơ sở chế định án treo quy định trong các sắc lệnh và các BLHS nêu trên, chúng ta thấyđược tư duy của các nhà làm luật trong việc xây dựng chế định án treo là:
– Đi từ nhận thức án treo là hình thức xử lý nhẹ hơn án tù, án treo là biện pháp hoãn hình có điều kiện, án treo là biện pháp tạm đình chỉ thi hành án đến nhận thứcán treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù cóđiềukiện, không coi án treo làhình phạt; nhưng dù giải thích thế nào thì các nhà làm luật đều chung một nhận thức là thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng, hướng thiện trongđường lối lãnh đạo củaĐảng về chính sách pháp luật hình sự Việt Nam.
37
– Nội dung thiết kế trong chế định án treo qua các thời kỳ là từ đơn giản đến cụthể, bao hàm nhiều nội dung, sát với thực tiễn đời sống xã hội, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể củađất nước.
– Cách hành văn trong chế định án treo cho từng vấn đề ngắn gọn, chung nhất, còn giải thích cụ thể do TAND tối cao đảm nhiệm.
2.1.1.2. Bản chất của án treo
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHẾ ĐỊNH ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN
CHẾ ĐỊNH ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN CHẾ ĐỊNH ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN CHẾ ĐỊNH ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN CHẾ ĐỊNH ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN CHẾ ĐỊNH ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN


