Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết củađề tài
Về mặt lý luận: Trong bộ máy tổ chức các quốc gia đều có thiết chế đứng đầu nhà nước (ĐĐNN) hay còn gọi là nguyên thủ quốc gia (NTQG). Dù có thể giữa các nước có sự khác nhau về tên gọi và tổ chức, hoạt động nhưng thiết chế ĐĐNN luôn có vị trí, vai trò hết sức đặc biệt và quan trọng, khôngchỉ đối với Nhànước mà cònđối với cả đất nước và Nhân dân. Vì vậy, thiết chế này là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó khoa học pháp lý; đồng thời, nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện pháp luật về thiết chế này là yêu cầu, nhu cầu tất yếu, khách quan đối với các nước trên thế giới.
Nghiên cứu thế giới tự nhiên, lịch sử xã hội loài người cho thấy, trongbất kỳtổ chức tự nhiên hay tổ chức xã hội nào đều luôn tồn tại vị trí và chủ thể đứng đầu.
Trong tổ chức tự nhiên, đó là cá thể đầu đàn, được hình thành nhờ sức mạnh, sự khôn ngoan và kinh nghiệm sinh tồn; có vai trò, trách nhiệm duy trì sự tồn tại, gắn kết, dẫn dắt hoạt độngsống của cả đànvà chiến đấu bảo vệ lãnh địa của đàn. Quy luật, vị trí tự nhiên đó tiếp tục tồn tại, được duy trì và phát triển trong lịch sử tiến hoá của loài người để hình thành nên vị trí, vai trò của người đứng đầu các tổ chức do con người lậpra,kểcảnhà nước. Vềđiềunày, Ăngghen có viết,đứngđầuthịtộclà các Hội đồng (boule), lúc đầu, có lẽ nó gồm tất cả các trưởng thị tộc; về sau, khi có quá nhiều trưởng thị tộc, thì làmột số người được bầu ratrong số họ. Khi nhà nước xuất hiện, Hộiđồngnày biến thành Viện Nguyên lão [44] và theo thời gian, Viện Nguyên lão nhận ra một nhu cầu tất yếu là cần phải có một người lãnh đạo duy nhất, vì vậy họ đã bầu ra Vua và giao cho ông quyền lực tối cao [138].
Cùng với quá trình phát triển của nhân loại qua các hình thái kinh tế – xã hội, trong cơ cấu bộ máy nhà nước (BMNN) các quốc gia đều đã hình thành chức vụ/thiết chế ĐĐNN hay còn gọi là NTQG. Mặc dù, ở mỗi nước, NTQG có các tên gọi khác nhau nhưChủtịchnước,Vua, Nữhoàng, Quốc vương,Đạidiện toàn quyền, Tổng
thống, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (HĐNN),… nhưng luôn có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà nước, với xã hội và với nhân dân. Người nắm giữ chức vụ này không chỉ là ĐĐNN, đại diện cao nhất cho quốc gia trong đối nội, đối ngoại cấp nhànước, cấp quốc gia – là chủ thể trong pháp luật quốc tế; mà còn là biểu tượng cho sựtrường tồn của dân tộc, là lãnh tụ tinh thần tối cao nhằm duy trì ổn định chính trị, phát huy khối đại đoàn kết và sức mạnh toàn dân tộc.
Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy, NTQGở cácnước nói chung, Chủ tịch nước ở Việt Nam nói riêng đã trở thành đối tượng, chủ đề nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc các ngành, lĩnh vực khác nhau; trong đó, có khoa học pháp lý. Nghiên cứu pháp luật về thiết chế này đã trở thành vấn đề, nhiệm vụ quan trọng, tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới; không chỉ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia nhằm xác lập hành pháp lý cho NTQG hình thành, tổ chức và hoạt động; mà còn là cơsởnềntảng cho việcđổimớithểchếchính trị, hoàn thiện cơcấutổchức và phương thức hoạt động của nhà nước. Việc Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện phápluật về Chủ tịch nước” cho Luận án cũng xuất phát và nhằm phát huy hơn nữa vị trí, vai trò của Chủ tịch nước.
Về mặt thực tiễn: Trải qua 70 năm ra đời, phát triển của Nhà nước ta thì pháp luật về Chủ tịch nước đã dần hoàn thiện hơn; từng bước xác lập địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước để khẳng định, phát huy vị trí, vai tròcủa người ĐĐNN, thay mặt cho Nước Việt Nam trong trong đối nội, đối ngoại. Quađó,góp phần quan trọng giúp Chủ tịch nước cùng toànĐảng,toàn dân, toàn quân phát huy truyền thống yêunước,sứcmạnhcủakhốiđạiđoànkếttoàn dân tộc,đẩy mạnh toàn diện vàđồngbộcông cuộcđổi mới; quan tâm giải quyết có hiệu quảnhững vấn đềquốckếdân sinh, nhữngvấnđềbức xúc trong xã hội, nâng caođời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh, bảovệvững chắcđộclập, chủ quyền, thống nhất, toànvẹnlãnhthổvàchủquyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; thúc đẩy quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực và trên trường quốc tế, giữgìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước [10].
Tuy nhiên, cùng với mặtưu điểm, thành công thì thựctếcũng đã cho thấy không ít hạn chế, bất cập và đặt ra những yêucầu, đòi hỏi cần phải đổi mới đối với tổchức BMNN nói chung vàđốivớiChủtịchnướcnói riêng. Nhất là khi, Việt Nam quyết tâm xây dựngchế độ xãhội chủ nghĩa (XHCN) và đang trongthời kỳ đầu của giai đoạn quáđộlên chủ nghĩa xã hội (CNXH) nên còn“nhiều vấn đề vềnội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền, về tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, về quyền làm chủ của nhân dân còn chưa được làm sángtỏ” [33]. Trong nhiều nguyên nhân của những hạn chế, bất cập thì nguyên nhân chủ yếu nhất là pháp luật về Chủ tịch nước còn chưa hoàn thiện. Nổi lên một số vấn đề lớn đólà:
– Xét trong suốt lịch sử hình thành, phát triển pháp luật về Chủ tịch nước là hạn chế về tính ổn định. Trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, qua 8 lần lập hiến, nhìn chung,vấnđềđổimớitổchức BMNN nói chung và thiếtchếĐĐNN nói riêng luônđượcđặtra và cósựthayđổikhá thường xuyên trên thựctế,nhất là giaiđoạn trước Hiến pháp năm 1992. Trong 5 phiên bản Hiến pháp (HP) được ban hành vào các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 thì có đến 3 lần dẫn đến sự thay đổi khá cơ bản về thiết chế ĐĐNN, cả về tên gọi, cấu trúc tổ chức và thẩm quyền. Theo HP năm 1946, BMNN “có nhiều đặc điểm của chế độ lưỡng tính cộng hòa” [14, tr.170], [18], tức là, kếthợpgiữa cộng hòa nghị viện(đạinghị)vớicộng hòa tổng thống [109]; theo đó, thiết chế ĐĐNN là cá nhân, có tên gọi là Chủ tịch nước, rất thực quyền, đồng thời đứngđầu Chính phủ. Đến HP năm 1959, BMNN ta có sự tương đồng với mô hình cộng hòađại nghị [121]; theo đó, Chủ tịch nước có vị trí khá độc lập trong BMNN, mang tính biểu tượng do không còn đồng thời đứng đầu hành pháp. HP năm 1980 lại có sự thayđổi, do ảnh hưởng từ mô hình Cộng hòa Xô Viết [41], HĐNN vừa là Chủ tịch tập thểcủa Nước, vừa là cơ quan thường trực của Quốc hội nên thẩm quyền rất rộng. Đến HP năm 1992, thiết chế ĐĐNN lại thay đổi, trở về mô hình biểu tượng của HP năm 1959. HP năm 2013 tiếp tục duy trì mô hình của HP năm 1992. Điều này cho thấy, chúng ta vẫn đang trong quá trình tìm tòi, đổi mới để có được mô hình tổ chức BMNN phù hợp nhất với điều kiện Việt Nam, trong đó có thiết chế ĐĐNN.
– Ở góc độ thực trạng pháp luật về Chủ tịchnướcđã cho thấy những hạn chế, bất cập về mặt thực địnhvà những yêu cầu, đòi hỏi mới đặt ra trong quá trình thực thi pháp luật (xem thêm Mục 3.2.3). Về mặt hình thức, pháp luật về Chủ tịch nước qua các thời kỳ cũng như hiện hành cònrất tảnmạn, thiếu tính thốngnhất, đồng bộ, cụthể, chi tiết. Dù QuốchộiKhoá XIIIđã đưavào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnhdự ánLuậtvề Chủ tịchnước nhưng cho đến nay vẫn chưa được ban hành.Vềnội dung, pháp luật về Chủ tịch nước còn (i) thiếu nhiều quy định điều chỉnh vai tròthay mặt Nước, nhất là trong mối quan hệ với các thiết chế khác trong hệ thống chính
trị nước ta như Đảng, Mặt trận Tổ quốc…; (ii) chưa phân định một cách rõ ràng và cụthể hoá nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với các cơ quan thực thi quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhất là, nguyên tắc kiểm soát quyền
lực nhà nước (QLNN) mới được ghi nhận trong HP năm 2013; (iii) cònchưa đầy đủ, thiếu quyđịnhcụthể, chi tiếtvềbộmáy của thiếtchếChủtịchnướccũng nhưvềnhững nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù của Chủ tịch nước trong đối nội, đối ngoại như
điều kiện, tiêu chuẩn, tuyên thệ, trường hợp khuyết, đặc xá,… Về yêu cầu trong tình hình mới, pháp luật về Chủ tịch nước hiện hành chưa thể chế hoá mạnh mẽ, đầy đủquanđiểmcủa ĐảngvềChủtịchnướctheo hướng“nghiêncứuxácđịnhrõ hơn quyền hạn và tráchnhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ chức năngNTQG, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh các lực lượng vũ trang; quan hệ giữaChủ tịch nước với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” [32]. Bên cạnh đó, chủ trương hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Đảng, của Nhànước,của Quốc gia đòi hỏi pháp luật về Chủ tịch nước cần phải được hoàn thiện để tạo cơsở pháp lý cho Chủ tịch nước trong xây dựng hìnhảnh, vị thế của đất nước, Nhà nước Việt Namđối với cộngđồngquốc tế; phát huy hơn nữa vai trò của Chủ tịch nước trong duy trì, mở rộng, tham gia các tổ chức quốc tế, trong mối quan hệ song, đa phương, cũng như trong vai trò đại diện Nhà nước, Quốc gia với tư cách là chủ thể trong pháp luật quốc tế.
Về sự phùhợp với chuyên ngành đào tạo và bảo đảm tính mới: Việc lựa chọn đề tài Luận án nghiên cứu Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nướclà phù hợpvới chuyên ngànhđàotạo “Lýluận và lịchsửnhà nước và pháp luật” (Mã số: 60 38 01 01). Đồng thời, qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu cho thấy, dùđãcó những công trình nghiêncứuởtrong và ngoàinướccó liên quanđếnđềtài Luận án, tuy nhiên, vẫn còn không ít vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra chưa được giải quyết một cách hệ thống, đầy đủ, cụ thể, thấu đáo. Trên cơsở nền tảngnghiên cứu đãcó và kế thừa, phát huy những kết quả nghiên cứu của các tác giả đã đạt được, Luận ánsẽtậptrung giải quyết nhữngvấnđềnghiên cứucòn dang dở, nhữngvấnđềnghiêncứumớiliên quan trực tiếptớiĐềtài Luận án.Điềunàybảođảmtính mới trong nghiên cứu của Luận án
Tóm lại, đề tài Luận án “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật vềChủ tịchnước”là cần thiết, mang tính cấp thiết.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu củaĐềtài
Mục đích cơ bản của Luận án là thông qua nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễnđểđềxuất quanđiểm,giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềChủtịch nước.Với mụcđíchđó,nhiệmvụnghiên cứu củaLuật án gồm: (i) Tìm hiểu, phản ánh, đánh giá khái quát lịch sửtình hình nghiêncứuởtrong và ngoàinướccó nội dung liên quan mật thiết đến đề tài Luận án; từ đó, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiêncứuvà xácđịnhrõ nhữngvấnđềmà Luận ánsẽtậptrung nghiên cứu; (ii) Làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước như khái niệm, đặc điểm của Chủ tịch nước; khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng, điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước; tìm hiểu mô hình NTQG và pháp luật về NTQG ở một số nước trên thế giới, từ đó rút ra một số kinh nghiệm có thể tham khảo cho Việt Nam; (iii) Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luậtvềChủ tịch nước từ quá trình hình thành, phát triển pháp luật về Chủ tịch nước ở Việt Nam qua các thời kỳ cho đến nay; hệ thống hoá, đánh giá, phân tích thực trạng pháp luật về Chủ tịch nước hiện nay; từ đó, chỉ ra những ưuđiểm,hạnchếvà nguyên nhân; (iv)Đềxuất quanđiểm,giải pháp hoàn thiện pháp luật về Chủ tịchnước.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Đề tài
3.1. Đốitượng nghiên cứucủa Luận án là pháp luật Việt NamvềChủtịch nước dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Với đối tượng nghiên cứu này, ngoài việc làm rõ những vấn đề mang tính bổ trợ như khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò và kinh nghiệm quốc tế thì Luận án sẽ tập trung nghiên cứu về hình thức và nộidung pháp luậtvềChủtịchnước.Nộidung và hình thức pháp luậtvềChủtịch nước sẽ được Luận án tiếp cận, phân tích làm rõ một cách thống nhất, xuyên suốt từlý luận đến thực tiễn và đề xuất kiến nghị hoàn thiện. Trong đó, nội dung pháp luật vềChủ tịch nước là đối tượng nghiên cứu trọng tâm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án:Về đối tượng,Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý về tổ chức, hoạt động của thiết chế Chủ tịch nước như địa vịpháp lý,cấutrúcbộmáy, chức năng, nhiệmvụ,quyền hạn…Vềtài liệu nghiêncứu, Luận án chủ yếu nghiên cứu các văn bản mang tính pháp lý; trọng tâm là HP và các văn bản cấp luật. Luận án còn nghiên cứu một số tài liệu khác như văn kiện của Đảng, các báo cáo công tác, các công trình nghiên cứu,… Về thời gian, ngoài những nghiên cứu để làm rõ lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật về Chủ tịch nước thì Luận án
tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan trong khoảng những thập niên gần đây, trọng tâm là từ khi HP năm 2013 được ban hành cho đến nay. Về không gian, Luận án tập trung nghiên cứu trong và trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu
Đểnhận diện, làm rõ và giải quyết cácnộidung,vấnđề,câuhỏinghiên cứu, Luận ándựatrênnềntảng cơsởlý luận là quanđiểmcủachủnghĩa Mác-Lênin, tưtưởngHồChí Minh và quanđiểmcủaĐảngCộngsảnViệt Namvềnhànước,pháp luật, về tổ chức QLNN. Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng là nền
tảng, xuyên suốt; quan điểm toàn diện và phát triển trong triết học Mác – Lênin là cơ sởđể xác định, xem xét, phân tích, luận giải và giải quyết các vấn đề, nội dung nghiên cứu một cách có hệ thống, có trọng tâm, trọng điểm; gắn với lịch sử và từ thực tiễn.
Ngoài phương pháp luận nghiên cứu, Luận án cònsửdụng các phương pháp nghiêncứucụthể,chủyếugồm(i) nhóm phương pháp nghiêncứulý thuyết và (ii) nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Việc sử dụng các nhóm phương pháp và từng phương pháp trong nhóm là linh động và có thể kết hợp với nhau, tuỳ thuộc vào từng nội dung, vấn đề và mục đích, mức độ nghiên cứu. Về cơ bản, được sử dụng như sau:
– Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyếtđược sử dụng chủ yếu để làmrõ cơ sở lýluận của việc hoàn thiện pháp luật về Chủ tịchnước, cụ thể:Phương pháp phân tích – tổnghợplý thuyếtđượcsửdụngchủyếutrong Chương 1 và Chương 2 của Luận án để nghiên cứu các văn bản, tài liệu chứa đựng những quan điểm, học thuyết, luận điểm của một hoặc một số nhà khoa học khác nhau về tổ chức QLNN, mô hình chính thể, mô hình NTQG;từ đó,phát hiện ra những xu hướng, những trường phái nghiên cứu; sau đó, liên kết, sắp xếp, tổng hợp lại thành một hệ thống lý thuyết đầyđủ, sâu sắc hơn về vấn đề, chủ đề cần nghiên cứu. Phương pháp phân loại, hệ thống hoá lý thuyết và mô hình hoá chủ yếu được dùng khi nghiên cứu Chương 1, Chương 2 và một phần tại Chương 3 nhằm phân chia các tài liệu sưu tầm được thành những nhóm nhất địnhcó chungdấuhiệu bản chất hoặc cùng hướng phát triểnđểhiểu rõ hơn từng vấn đề và sự liên kết giữa chúng (ở Chương 1 và Chương 2 là theo nhóm vấnđề; ởChương 3 là theo thời gian); sauđó,sắpxếp cácvấnđềthànhhệthống, thành mô hình lý thuyết để có nhìn nhận tổng thể, toàn diện và sâu sắc hơn. Phương pháp này sẽ được ưu tiên sử dụng khi nghiên cứu về kinh nghiệm các nước trên thếgiới, với sự phân loại mô hình để làm rõ những đặc trưng của từng mô hình tổ chức BMNN cũng như mô hình Chủ tịch nước. Phương pháp lịch sử là nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hóacủacácvấnđề, nhiệmvụnghiêncứuliên quan đếnhoàn thiện pháp luật vềChủtịchnướcđểphát hiện bản chất và quy luậtcủađối tượng hoặc ngược lại.Phương pháp giả thuyết là đặtra giảthuyết rồi bằng lý thuyết hoặc lịchsửđểchứng minhgiảthuyết.Cảhai phương pháp nàyđược sửdụng trong Luận ánđểnghiêncứuvềnguồn gốc ra đời, quá trình phát triển của pháp luật cũng như trong phần tổng quan; giúp Nghiên cứu sinh phát hiện những thiếu hụt, những điều chưa hoàn chỉnh trong các tài liệu đã có,
từ đó xác địnhchính xác vấn đề nghiên cứu của Luận án. Ngoài ra, phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu Chương 2 (để làm rõ các khái niệm) và chủ yếu khi nghiên cứu Chương 3 (để hệ thống, so sánh, phân tích quá trình hình thành, phát triển pháp luật về Chủ tịch nước). Phương pháp giả thuyết cònđược dùng để chứngminh một số nhận định, đánh giá tại Chương 3 và để đặt ra các phương án sau đó phân tích chỉ ra ưu điểm, nhược điểm (Chương 4).
– Nhóm phương pháp nghiêncứuthực tiễnđượcsửdụngchủyếuđểnghiên cứu về thực trạng pháp luật về Chủ tịch nước ở Việt Nam. Theo lý thuyết phân loại, nhóm này gồm các phương pháp như quan sát, điều tra, thực nghiệm, chuyên gia và phân tích, tổng kết kinh nghiệm… Căncứvàođặc thùcủa đốitượngnghiên cứu và điều kiện thực tiễn, Luận án tập trung sử dụng phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm. Theo đó, dựa trên các văn bản, tài liệu, báo cáo công tác và những kết quảnghiên cứu trước đó, Nghiên cứu sinh sẽ kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu lý thuyết như lịch sử, so sánh, tổng hợp, thống kê… để tổng kết, phân tích, đánh giá tìm ra những ưu điểm, hạnchế,bấtcậpvà nguyên nhântừthực trạng pháp luậtvềChủ tịch nước. Luận án cũng tiếp cận phương pháp điều tra, khảo sát nhưng do điều kiện không cho phép nênchỉ sử dụngmột cách gián tiếp với việc kế thừa kết quả điều tra, khảo sátcủacông trìnhtrướcđó.Phương pháp nàyđượcsửdụngchủyếutại Chương 3 và Chương 4. Bên cạnh đó, Luận án còn sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu như tìm kiếm, tra cứu thông tin, dịch thuật…
5. Đóng góp mới của Luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án sau khi hoàn thành sẽ mang lại những đóng góp mới về mặt khoa học như:
5.1. Về mặt lý luận: Luận án góp phần: (i) Làm rõ hơn khái niệm,đặc điểm của Chủ tịch nước; (ii) Xây dựng khái niệm pháp luật về Chủ tịch nước, làm rõ hơnđặc điểm, vị trí, vai trò và nội dung, hình thức của pháp luật về Chủ tịch nước; (iii) Xây dựnghệtiêu chí đánh giámứcđộhoàn thiện;chỉra cácyếutốảnhhưởngvà điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng vàđềxuất quanđiểm,giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềChủtịch nước; (iv) Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu mô hình, pháp luật một số nước trên thế giới vềNTQG, đã khái quát hoá để rút ra một số bài học kinh nghiệm mà Việt Nam cóthểnghiêncứutiếp thu trong quá trình hoàn thiện pháp luậtvềChủtịchnước.Trong những đóng góp về mặt lý luận như trên, so với các công trình khác, Luận ánđã lần đầu tiên chỉ ra một số đặc điểm của NTQG, nhất là tính tự nhiên – lịch sử, chính trị – pháp lý và biểu tượng dân tộc; từ đó, lý giải, làm rõ hơn vì sao Chủ tịch nước thường là cá nhân;tạisaoChủtịchnướcvừalàngườiĐĐNN,đồngthời là NTQG; vì sao Việt Nam lấy tên gọi là Chủ tịch nước; cơ sở, nguyênlý để cácquốc gia lựa chọn các mô hình NTQG…
5.2.Vềmặtthực tiễn: Luận án là công trình nghiêncứumộtcáchhệthống, đầyđủ, cụthể, cập nhật nhất pháp luậtvềChủ tịchnướccho đến hiện nay. (i) Quátrình hình thành, phát triển của pháp luật về Chủ tịch nước được chia thành các giaiđoạn,phản ánh khái quát về nội dung, hình thức, chỉ ra sự kết thừa, phát triển và phân tích những nguyên nhân,yếutốtácđộngdẫn hếtsựthayđổi;đánh giá ưu, nhược điểm, rút ra bài học kinh nghiệm và nguyên nhân. (ii) Đối với pháp luật về Chủ tịch nước hiện hành (từ năm 2013 đến nay), đã hệ thống hoá để phản ánh đầy đủ nội dung (theo từng nhóm quy phạm pháp luật), hình thức (theo cấp độ văn bản), có phân tích, đánh giá ưu,nhượcđiểm,chỉra nguyên nhântừthực trạng pháp luậtvềChủtịch nước hiện hành gắn với thực tiễn thi hành; từ đó, cho thấy rõ nhu cầu, yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với việc tiếp tục phải hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước trong thời gian tới.
5.3. Về kiến nghị giải pháp: Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, Luận án đềxuất quanđiểmvà giải pháp hoàn thiện pháp luật vềChủtịch nước. Những kiến nghị hoàn thiện này là toàn diện, cả về hình thức, nội dung pháp luật vềChủ tịch nước. Nghiên cứu sinh nhận thấy, đây là luận án tiến sỹ luật học đầu tiên và là một trong số rất ít công trình nghiên cứu khoa học đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể, toàn diện và cụ thể nhất nhằm hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước theo HP năm 2013. Đồng thời, Luận án cònđềxuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước một cách căn bản, về lâu dài, khi cóđiều kiện sửa đổi, bổ sung HP năm 2013.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận: Với kếtquảnghiên cứu, đặc biệt là những đóng góp mới như đã trình bày thì Luận án đã góp phần bồi đắp, làm sáng tỏ hơn những giảthuyết, luận điểm, học thuyết của các nhà khoa học về những vấn đề liên quan đến sựra đời, phát triển của thiết chếĐĐNN, NTQG cũng như pháp luật vềChủtịch nước. Từ đó, giúp mọi người hiểu rõ hơn những vấn đề pháp lý về Chủ tịch nước.Đồng thời, thông qua nghiên cứuthực trạng pháp luậtvềChủtịch nước, Luận án cũng góp phần giúp người đọc có thêm thông tin, hiểu biết hơnvềtổchức, hoạtđộng của Chủtịch nước; cung cấp thêm những tri thức kinh nghiệm, thực tiễn đểkiểm nghiệm, đánh giá tính tương thích củanhững quan điểm, lý thuyết vềpháp luật Chủ tịch nước; qua đó, tiếp tục làm sáng tỏ, củng cố thêm sự đúng đắn của lýthuyết trên thực tế hoặc phát hiện những khía cạnh, xu thế mới làm cơ sở và đặt ra yêu cầu cần đổi mới, hoàn thiện lý thuyết.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: (i) Góp phần giúp Chủtịch nước, các cơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan nhìn nhận lại, hiểu rõ hơn quyền, nghĩa vụ và thực tiễn hoạt động của mình; từ đó, có những điều chỉnh phù hợp để khắc phục những hạn chế, bất cập, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình. (ii) Cung cấp thêm thông tin tham khảo phục vụ hoạtđộng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm thể chế hoá kịp thời,đầy đủ, cụ thể các quy định của HP năm 2013 nói chung và pháp luật về Chủ tịch nước nói riêng. (iii) Là tài liệu tham khảo tin cậycho hoạt động nghiên cứu vàgiảng dạy ở Việt Nam.
7. Bố cục của Luận án
Ngoàiphần mở đầu,kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bốliên quanđến đề tàiluận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận án được kết cấu gồm 4 chương, 12 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊNCỨULIÊN QUANĐẾNĐỀTÀI LUẬN ÁN
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Luận án
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Bên cạnh những kết quả, giá trị của các công trình nghiên cứu ở trong, ngoài nước có liên quan đến đề tài Luận án đã được Nghiên cứu sinh chỉ rađể học hỏi,kếthừa, phát huy, tiếp tục phát triển nhằm giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án thì lịch sử nghiên cứu cũng như yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay đã xuất hiện, đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về thiết chếĐĐNN, pháp luật vềthiết chếĐĐNN cũng như đối với xây dựng, hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước Việt Nam. Có thể kể đến như:
– Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu về thiết chế ĐĐNN, đó là: (i)Ở góc độ chính trị – xã hội là những vấn đề như lý giải về xu thế bầu trực tiếp ngườiĐĐNN; hay vấn đề phát hiện, đào tạo, quy hoạch, giới thiệu ứng viên tham gia ứng cửchức danh ĐĐNN trong các tổchức chính trịởcác quốc gia trênthếgiới; mối liên hệgiữa người đứng đầu tổchức chính trịvới ứng viên tham gia ứng cửchức danh ĐĐNN. (ii) Ở góc độ kinh tế là vấn đề đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế giữa các mô hình NTQG; là ngân sách dành cho hoạt động của thiết chế… (iii) Ở góc độkhoa học tổ chức nhà nước là vấn đề tại sao mô hình cộng hoà tổng thống trên thếgiới là phổ biến hơn và lý giải xu thế chuyển đổi sang mô hình này ở một số nước trên thếgiới. (iv) Ởcác góc độkhác như vấn đềtruyền thông, quảng bá, giữgìn, bảo vệ hình ảnh NTQG gắn với hình ảnh nhà nước, dân tộc; vấn đề chuẩn mực đạođức, lối sống của người ĐĐNN và gia đình của họ; v.v.
– Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu đối với pháp luật về thiết chếĐĐNN, đó là: (i) Lịchsửhình thành, phát triển pháp luật ởphạm vi toàn thếgiới cũng như ở các nước trên thế giới; (ii) So sánh sự khác biệt, sự ảnh hưởng và xu thếgiao thoa giữa các trường phái, hệ thống pháp luật lớn trên thế giới khi quy địnhvềthiết chế ĐĐNN; (iii) Mối quan hệ giữa pháp luật về ĐĐNN với quy phạm đạo đức, tôn giáo; (iv) Nghiên cứu quy định pháp luật về hình thành chức vụ ĐĐNN như kếvị, bầu cửtrực tiếp, gián tiếp; vềđiều kiện, quy trình, thủtụccó liên quan…; (v) Quy định của pháp luật về mức lương, thu nhập đối với chức danhĐĐNN; chế độvề đi lại, nhà ở; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ và phục vụ; v.v..
Như vậy, còn nhiều vấn đềđặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, nhưng Luận án “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện phápluật về Chủ tịch nước” sẽ chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề nhất định gắn với mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Đề tài. Đây chính là cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của Đề tài, cụ thể:
-Vềmặt lý luận: Luận án sẽphải làm sángtỏhơn cơ sởlý luận của việc hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước thông qua việc trả lời một số cầu hỏi, vấn đềnghiên cứu gồm:
+ Chủ tịch nước là gì; có đặc điểm gì so với các thiết chế khác trong BMNN và so với NTQG các nước khác; tại sao các quan hệ liên quan đến Chủ tịch nước lại cần phải điềuchỉnh bằng pháp luật? Nội dung nghiên cứu này là cần thiết, không chỉ cho thấy Luận án nghiên cứu cái gì và tại sao phải nghiên cứu mà còn là cơ sởnền tảngđểđưara khái niệm pháp luật vềChủtịch nước cũng như đặc điểm, vai trò, nộidung và hình thức pháp luật vềChủtịch nước.Nhiệm vụcủa Luận án là thông qua nghiên cứu vềmặt học thuật cũng như hệthống hoá và phân tích, bình luận các quan điểm, quan niệm, khái niệm khác nhau vềChủtịch nước, các khái niệm liên quan của các tác giảđểđưara cách hiểu chính thức, thống nhất vềkhái niệm Chủ tịch nước. Đồng thời, chỉ ra những đặc điểm cơ bản, mang tính điển hình của Chủ tịchnước.Làm rõ những vấn đề trên, Luận ánsẽgiải quyết được một sốvấn đềcòn tồn tại hiện nay như: (i) tại sao trong BMNN lại cần phải có thiết chếĐĐNN; (ii) tại sao ở Việt Nam lại sử dụng thuật ngữ “Chủ tịch nước” trong khi các nước khác lại có các tên gọi khác; (ii) tại sao còn những khái niệm, quan điểm khau nhau về Chủ tịch nước (là một chức vụnhà nước, là người đứng đầu nhà nước, làmột thiếtchếtrong BMNN); (iii) tạisao Chủtịch nước là ngườiĐNNN mà còn được gọi là NTQG; (iv) tại sao Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước thường cá nhân; chức vụ Phó Chủ tịch nước chỉ có một; (v) có những mô hình NTQG nào, với đặc điểm gì và cơ sở, nguyên lý nào để các nước lựa chọn mô hình…?
+ Khái niệm pháp luật về Chủ tịch nước? Pháp luật về Chủ tịch nước có đặc trưng gì về nội dung, hình thức so với pháp luật về các thiết chế khác trong BMNN cũng như so với pháp luật về NTQG ở các nước trên thế giới? Pháp luật về Chủ tịch nước có vịtrí, vai trò như thếnào đối với tổchức, hoạt động củaChủtịch nước
cũng như với hệ thống pháp luật quốc gia? Dựa vào đâu để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về Chủ tịch nước? Các yếu tố nào ảnh hưởng, tác động tới việc hoàn thiện pháp luật vềChủtịch nước?… Làm rõ những câu hỏi trên, Luận án sẽgiải quyết được vấn đề nghiên cứu đó là (i) nghiên cứu pháp luật về Chủ tịch nước là phải nghiên cứu cái gì, như thếnào và tạisao phải nghiên cứu; (ii) hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước ở Việt Nam hiện nay là hoàn thiện những gì, dựa trên cơsở nào, bằng cách nào để có thể đánh giá, hoàn thiện? Trong đó, có một số vấn đềmới của Luận án so với các công trình nghiên cứu trước đây như: (i) lần đầu tiên chỉra hệthống tiêu chí đánh giá mức độhoàn thiện pháp luật vềChủtịch nước; (ii) luận giải thêm cơ sở của việc ban hành hay không ban hành luật về Chủ tịch nước…; + Pháp luậtvềthiếtchếĐĐNNởcácnướctrênthếgiới nhưthếnào? Việt
Nam cóthểnghiêncứutiếp thuvấnđềgì? Vấnđềnghiêncứucầntậptrung giải quyết ở đây là qua nghiên cứu pháp luật các nước trên thế giới thì rút ra được nhận xét gì về đặc điểm, xu thế mới; qua đó, củng cố, chứng minh bằng thực tiễn về tính đúng đắn của các lý thuyết, học thuyết đã được nêu lên hoặc hình thành cơ sở lý luận mới cho việc hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước ở Việt Nam trong thời gian tới.
-Vềmặt thực tiễn, Luận án tập trung vào các vấn đềđặt ra cầntiếp tục nghiên cứu sau đây: (i) Pháp luật về Chủ tịch nước ở Việt Nam được hình thành khi nào, trải qua các giai đoạn nào; có những bước phát triển, hoàn thiện gì và nguyên nhân từ đâu? (ii) Thực trạng nội dung và hình thức của pháp luật về Chủ tịch nước hiện nay là như thế nào? So sánh với hệ tiêu chí đánh giá thì pháp luật về Chủ tịch nước hiện hành đã hoàn thiện chưa, ởmức độ nàovề kết quả, hạn chế, bất cập vànguyên nhân? Qua việc làm rõ, trả lời các câu hỏi trên, Luận án sẽ giải quyết vấn đềnghiên cứu đặt ra đó là pháp luật vềChủtịch nước có cần hoàn thiện không; nếu cần thì là về những nội dung, vấn đề gì; vấn đề gì là cơ bản, là nổi cộm nhất?
– Về quan điểm, giải pháp, Luận án tập trung vào các vấn đề sau đây: (i) Từcơ sở lý luận, thực tiễn và trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước vềphát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, Luận án sẽ đề ra những quan điểm hoàn thiện pháp luật về Chủ
tịch nước. Tức là, giải quyết vấn đề nghiên cứu là nên hoàn thiện pháp luật về Chủtịch nước dựa trên cách tiếp cận, lập trường và định hướng, yêu cầu nào? (ii) Đề
xuất giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước. Vấn đề nghiên cứu đặt ra là cần phải làm gì và như thế nào để hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước trong thời gian tới?
Với những vấn đề cần giải quyết như trên, có thể nói, Luận án là công trìnhđầu tiên nghiên cứu toàn diện, hệthống vềcơ sởlý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước.
Tiểu kết chương 1
Trong Chương này, Luận án tập trung nghiên cứu 2 vấn đềlớn: (i) Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đế Luận án; (ii) Nhữngvấn đề đặt racần tiếp tục nghiên cứu. Có thể rút ra một số kết quả, kết luận như sau:
1. Chủ tịch nước ta cũng như NTQG các quốc gia trên thế giới có vị trí, vai trò đặc biệt, quan trọng đối với nhà nước, xã hội. Do đó, từ trước đến nay, ở trong và ngoài nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đế đề tài Luận án, với cách tiếp cận, phạm vi, mục địch nghiên cứu khác nhau. Với đề tài và giới hạn quy mô Luận án, trong điều kiện cho phép, Nghiên cứu sinh tập trung lựa chọn những công trình tiêu biểu, cóliên quan nhất tới nội dung Luận án và trong thời gian gần đây. Đồng thời, kết hợp giữa
lựa chọn một số công trình để nêu, nhận xét về nội dung với liệt kê các công trình cóliên quan và giữa sắp xếp theo lôgic nội dung với theo tên tác giả và thời gian nghiên cứu của công trình. Để nghiên cứu, Nghiên cứu sinh đã căn cứ vào đối tượng nghiên cứu của Luận án đểchia thành: (i) Nhóm công trình nghiên cứu vềBMNN, pháp luật về BMNN; (ii) Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về thiết chế ĐĐNN.Ởmức độ nhất định,trong từng nhóm công trình, Luận án còn sắp xếp các công trình theo thứ tự hợp lý dựa trên thời gian, tác giả và mức độ liên quan.
2. Kết quả tìm hiểu lịch sử tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy: (1) Chưa có công trình của các tác giả nước ngoài nghiên cứu trực tiếp, hệ thống, toàn diện và cụ thể về cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước. (2) Nhưng có nhiều công trình nghiên cứu vềthiết chếvà pháp luật vềthiết chếĐĐNN ở các nước trên thế giới; chủ yếu theo hai hướng đó là: (i) Nghiên cứu gắn
với lý thuyết và thực tiễn về tổ chức QLNN, tổ chức BMNN gắn với chế độ chính trị, mô hình chính thể hoặc gắn với lịch sử…; (ii) Nghiên cứu trực tiếp phápluật về
thiết chếĐĐNN ởphạm vi thếgiới, khu vựchoặc theo mô hình chính thểhoặc ởmột quốc gia hoặc nghiên cứu một khía cạnh của pháp luật về thiết chế này.
3. Kếtquảtìm hiểu lịch sửtình hình nghiên cứu trong nước cho thấy, cónhiều công trình nghiên cứu liên quan đến thiết chế và pháp luật về Chủ tịch nước. Tuy nhiên, đa phần các công trình thường tập trung nghiên cứu vềnhững vấn đềchung như về tổ chức BMNN và pháp luật về BMNN. Có một số công trình nghiên cứu trực tiếp pháp luật vềChủtịchnước nhưng sốlượng không nhiều và chưa nghiên cứu tập trung, hệ thống và sâu sắc về cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước; nhất là kể từ khi HP năm 2013 có hiệu lực thi hành.
4. Đánh giá kết quảvà giá trịsửdụng kếtquảnghiên cứu các công trình ởtrong và ngoài nước đối với Luận án: (i) Đã cho thấy quan điểm,luận điểm, lýthuyết nền tảng của các trường phái, tư tưởng chính trị, pháp lý điển hình trênthếgiới và ở Việt Namđể Luận ánlàm rõ, hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước; (ii) Cung cấp cơ sở thực tiễn ở thế giới, khu vực và các quốc gia cho Luận án để so sánh, đối chiếu phân tích thực trạng pháp luật vềChủ tịch nước ở Việt Nam; (iii) Chỉ ra sự sáng tạo, xu thế phát triển và những giá trịchung từ pháp luật về thiết chế ĐĐNNở cácnước trên thế giới để Luận án tiếp tục nghiên cứu, làm rõ, kiến nghị hoàn thiện pháp luật vềChủtịch nước ởViệt Nam trong tương lai.
5. Kết luận, qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có thểkhẳng định, việc Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ của mình là cần thiết, đáp ứng yêu cầu về tính mới trong nghiên cứu khoa học.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỦ TỊCH NƯỚC
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỦ TỊCH NƯỚC
2.1.1. Khái niệm pháp luật về Chủ tịch nước
2.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của Chủ tịch nước
“Chủtịchnước”là thuậtngữkhá phổbiến, xuất hiện thường xuyên trên phương tiện thông tin đại chúng và đời sống hàng ngày ở nước ta. Tuy nhiên, không phải lúc nào thuật ngữ này cũng được hiểu một cách thống nhất, chính xác và đầy đủ.
Về mặt học thuật: Qua nghiên cứu, không có nhiều Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm “Chủtịchnước”,thường làvề“chủtịch”và‘nước”.TheoTừđiển Hán Việt, “chủ tịch” là“người ngồi đầu chiếu, đầu tiệc, chỉ người đứng đầu, ngồiở chỗ chính của một cuộc họp hẹp, của một tổ chức” hay là “người đứng đầu, duy trì trật tự cho một hội nghị” [57]; trong đó, “chủ” là đối lại với “khách”, chỉ người có quyền quản lý,xửlý toàn bộ; còn“tịch”là cái chiếu hoặc chỗngồi [123]. “Nước”trong trườnghợpnày là“vùngđấttrongđónhữngngườithuộcmộthay nhiều dân tộc cùng sống chung dưới một chế độ chính trị – xã hội và cùng thuộc vềmộtnhànước nhất định[87, tr.746]. Vớinghĩa này,“nước”đượchiểu theo nghĩa rộng, bao hàm cả“nhànước”vàđồngnghĩavới“đấtnước”,“tổquốc”, “quốcgia”. Vậy, cóthểhiểu,“Chủtịchnước”làngườiđứngđầumộtđấtnước, mộtquốc gia. Theo nghĩa Hán Việt,ngườiđứngđầuquốc gia cònđượcgọilànguyênthủquốc gia. Tuy nhiên,TừđiểnTiếng ViệtcủaViện Ngônngữhọcdo Hoàng Phêchủbiên -mộttrongsốíttừđiểnTiếng Việtđưarađịnhnghĩavề“Chủ tịch nước” lại có cách hiểu hẹp hơn. Trong mục “chủ tịch”, Từ điển này cóđưa ra định nghĩa “Chủ tịch nước”là người đứng đầu nhà nước trong một số nước cộng hoà dânchủ[87, tr.179].Tứclà,từ“nước”trong cụm từ“Chủtịchnước” được là “nhà nước”; theo đó, “Chủ tịch nước” được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, chỉngười đứng đầu nhà nước của quốc gia/đất nước đó.
Ở góc độ khoa học pháp lý: Trong lịch sử pháp lý Việt Nam, thuật ngữ “Chủ
tịch nước” xuất hiện đầu tiên trong HP năm 1946 [92]. Theo HP này, Chủ tịch nước được quy định là người thay mặt cho Nước (Điều 49), là người đứng đầu Chính phủ
(Điều44); không có quyđịnhvềngườiĐĐNN. Cóthểnói, quyđịnhcủaHP năm 1946 vềtổchức BMNN nói chung và tên gọicũng như thẩm quyền của Chủtịch nướcnói riênghếtsức độcđáo,thểhiệnsựsángtạocủacác nhà lậphiếnnướcta, nhất là của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua nghiên cứu, việc HP năm 1946 sử dụng tên gọi“Chủtịchnước”trướctiên là tham khảo têngọicủamộtsốchứcvụđứngđầuđảngvà nhànướcđãđượcsửdụngtạiLiên Xô (Liên bang cácnướcCộng hòa XHCN Xô viết) và Trung Hoa Dân quốc. Ở Liên Xô, đứng đầu Đảng Cộng sản Nga (bolshevik) là Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga; về mặt nhà nước, theo HP Liên Xô năm 1917 và năm 1924 thì “Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên Nhân dân” làChủ tịch nước
tậpthể.ỞTrung Hoa Dân quốc giaiđoạn3/1940-11/1944, khi Uông TinhVệkếnhiệm Viên Thế Khải thì chức vụ ĐĐNN là “Chủ tịch Chính phủ Quốc dân” [176]. Theo đó, ở Việt Nam, về mặt đảng, vào năm 1925 khi thành lập “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên”[137, tr.481-482] (tiền thâncủaĐảngCộng sản Việt Nam) thìNguyễn Ái Quốc là “Chủ tịch Hội”; về mặt chính quyền, ngày 16/8/1945, Đại hội Đại biểu quốc dân (tiền thâncủaQuốc hội)đãbầuraUỷban dântộcgiải phóng Việt Nam (Chính phủ lâm thời) và Hồ Chí Minh là “Chủ tịch Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam”. Việc HP năm 1946sửdụng têngọiChủtịchnướclàsựkếthừa vàđểchính danh, chính thức hoá chứcvụ Chủ tịchChính phủ lâm thời trước đó. Sau HP năm 1946, thuật ngữ “Chủ tịch nước” tiếp tục được sử dụng cho đến ngày nay. Theo quyđịnhcủaHP năm 2013,Chủtịchnướclà ngườiđứngđầuNhànước,thay mặt Nước Cộnghoà XHCN Việt Nam trongđối nội,đối ngoại.
Tuy nhiên, nếu xem xét Chủ tịch nước ở góc độ tổ chức QLNN hay cấu trúc BMNN thì Chủ tịch nước là một cơ quan nhà nước. Bởi, Nhà nước là một bộ máy quyền lực đặc biệt do giai cấp thống trịlập ra đểduy trì việc thốngtrịvềkinh tế, chính trị, tư tưởng đối với toàn bộxã hội. BMNN là hệthống các cơ quan nhà nướctừTrung ương đến địa phương được tổchức và hoạt động theo nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp thống trị. Với cách tiếp cận này, Chủ tịch nước được hiểu là một cơ quan hay thiết chế ĐĐNN, thay mặt cho Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam trongđối nội, đối ngoại. Việc pháp luật quy định hay trên thực tế thường giải thíchChủ
tịch nước là “người đứng đầu nhànước” chứ không phải cơ quan hay thiết chế đứng
đầu nhà nước là vì cơ quan này thường do một (01) cá nhân đảm nhiệm. Ngoài ra, nếu xem xét trong hệ thống chức vụ nhà nước thì Chủ tịch nước còn được hiểu làmột chức vụ nhà nước, cụ thể là chức vụ nhà nước cao nhất.
Ở phạm vi ngoài nước: Trong BMNN của bất cứ quốc gia nào đều có vị trí, chức vụ ĐĐNN nhưng do khác nhau về ngôn ngữ và hình thức chính thể nên tên gọi, thẩm quyền vàcấutrúctổchức là không giống nhau (xem thêm Mục2.5 và Phụ lục). Thuật ngữ Tiếng Anh phổ biến được sử dụng chung để chỉ vị trí, chức vụĐĐNN là “Head of State”. Trên thực tế, thuật ngữ “Chief of State”cũng được sửdụng thaythếcho“Head of State”vớinghĩa như nhau nhưng khôngphổbiến. Còn thuậtngữ“Head of Nation”vớinghĩa là “nguyênthủquốc gia” hay“đứngđầu đất nước” rất ít khi được dùng, ngoại trừ một số nước thuộc Khối thịnh vượng chung Anh nhưngchủyếuđểlàm rõ thêm vai tròđạidiện quốc giacủaVua/Nữhoàng, còn vềvăn bản pháp lý vẫn sử dụng “Head of State”. Theo Từ điển Oxford, ĐĐNN (Head of State) được hiểu là“Trưởng đại diện công cao nhất của một quốc gia (country), như tổng thống hoặc quốc vương, người có thể đứng đầu chính phủ (head of government) [158], Hay là người đại diện chung cho sự thống nhất quốc gia (national) và tính hợp pháp của một nhà nước (state) có chủ quyền [174]. Có thể thấy, các khái niệm này đều hiểu ĐĐNN ở phạm vi rộng, không chỉcho thấymốiquanhệvớinhànước(State) mà cònvớicảđấtnước/quốcgiađó(National/Country).
Tóm lại, từ những nghiên cứu trên, trong phạm vi Luận án này, Chủ tịch nước làcơ quan/thiết chế đứngđầuNhà nước, đại diện chung cho sự thống nhất và thay mặt Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong đối nội và đối ngoại.
Chủ tịch nước có những đặc điểm sau đây, gồm cả đặc điểm chung của thiết chếĐĐNN của các quốc gia trên thế giới và đặc điểm riêng phản ánh đặc thù Việt Nam:
Thứnhất,vềloại hình, Chủtịch nước là một cơ quan nhà nước nên mang tính quyền lực nhà nước. Đặc điểm này giúp phân biệt Chủ tịch nước với cá nhân, tổchức không phải là cơ quan nhà nước nhưChủtịch Hội đồng quản trịcủa các doanh nghiệp, Chủ tịch các hiệp hội nghề nghiệp, kể các thiết chế đứng đầu các tổ
chức chính trịhay cáctổchức khu vực và quốc tế… Do là một thiết chếtrong
BMNN nên việc hình thành và hoạt động của Chủ tịch nước hết sức chặt chẽ, được quy định bởi pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng QLNN.
Thứ hai, về cấu trúc, thiết chế Chủ tịch nước được tổ chức theo mô hình cánhân hoá (do tính tự nhiên – lịch sử).
Đâylà đặc điểm riêng biệt của thiết chếChủtịch nước ta cũng như NTQG nhiều nước khác so với các cơ quan/thiết chếcòn lạitrong BMNN. Trước hết, nguyên tắc tổ chức QLNN đã “phân chia” phần QLNN để thực hiện vai trò NTQG,ĐĐNN một cách “trọn gói”, không phân cấp, phân quyền; vì vậy, trong BMNN từTrung ương đến địa phương chỉ có duy nhất 1 thiết chế Chủ tịch nước. Trong khi, quyền hành pháp, tư pháp và kể cả lập pháp lại được tổ chức gắn với các cấp đơn vịhành chính lãnh thổ. Tiếp đó, phần QLNNđóđi kèm là toàn bộ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thiết chế lại được trao tập trung cho 01 cá nhân đảm nhiệm. Điều này rất khác biệt so với các cơ quan khác trong BMNN, kể cả cơ quan theochế độthủ trưởng (như Chính phủ, Kiểm toán nhà nước và một số cơ quan khác). Trong cơquan theo chế độ thủ trưởng, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan không phải và cũng không trao tập trung cho người đứng đầumà trao cho nhiều chủthểđảmnhiệm; trong đó, người đứng đầu có thể đảm nhiệm một phần chức năng, nhiệm vụ của cơquan nhưng quan trọng hơn là vai trò tổ chức, điều hành và chịu trách nhiệm về việc thực hiện chức năng, nhiệmvụcủacơ quanđó.Mô hình cá nhân hoá củaNTQG còn thểhiện ởchỗ, một sốquốc gia không hình thành chứcvụ“Phó” NTQG một cách chính thức, với tư cách là “cấp dưới” của NTQG mà chỉ quy định chức vụ nhà nước sẽ thay thế đương nhiên NTQG trong trường hợp khuyết NTQG.
Đặc điểm này do tính tự nhiên – lịch sử để lại. Tính tự nhiên là mô hình con đầu đàn trong thế giới động vật tự nhiên. Đối với loài người, cùng quá trình sinh tồn, tiến hoá thì con đầu đàn đã trở thành các Tộc trưởng, Thị trưởng và khi nhà nước rađời (Chủ nô, Phong kiến) thì trở thành người ĐĐNN (Vua). Tính lịch sử còn thể hiện ởtiến trình phát triểncủakhoahọctổchức BMMN. Chođếnnay, sau hàng nghìn năm thì cá nhân ĐĐNNvẫnlà mô hình chiếm đa số,kểcảcácnướctheo mô hình NTQG thực quyền hay biểu tượng. Rõ ràng, chưa tính đến tính hiệu lực, hiệu quả thì để đại diện cho một nhànước,một quốc gia trong một tình huống, sự việc cụ thể thì
01 cá nhân là phù hợp, dễ nhận biết, dễ thực hiện hơn; đồng thời, còn cho thấy tính thống nhất, tính biểu tượng của nhà nước, của quốc gia đó. Kể cả ở các nước theo mô hình NTQGtậpthểthì quy môcấutrúccủathiếtchếĐĐNN cũngrấttinhgọnvà cuối cùng thì vẫn là 01 cá nhân sẽ thay mặt tập thể để chủ trì, phát ngôn, điều hành công việc tại một thời điểm, để giải quyết một sự vụ cụ thể.
Tuy nhiên,ởđặc điểm này, cần lưu ý2 vấn đề. Một là, dù là mô hình cánhân hoá nhưng đểthực hiện chức năng, nhiệm vụđược giao thì NTQG vẫn cóquyền phân công hoặc uỷ quyền một phần cho Phó NTQG (nếu có) hoặc hình thành các bộ phận chuyên môn, tư vấn, giúp việc, phục vụ mình (như Văn phòng NTQG hoặc một sốhộiđồng,uỷban do NTQG thành lập). Điều này hình thành nên tổchức của thiết chế NTQG. Hai là, cần hiểu chính xác để phân định rõ vị trí, vai trò, thẩm quyền và tổchứcbộmáycủathiết chếNTQG ởcác nước mà NTQG vừa là người ĐĐNN đồng thời đứng đầu hành pháp (điền hình là mô hình cộng hoà tổng thống). Ở đó, chỉ quyền lực hành pháp mới có sự phân cấp, phân quyền cho các bộvà chính quyền địa phương; vị trí, vai trò đứng đầu hành pháp của NTQG có được là theo chế độ thủ trưởnNg; còn vai trò, chức năng ĐĐNN thì không phân cấp, phân quyền. Điều này lý giải vì sao ở các nước đó, (i) Phó Tổng thống thường mang tính biểu tượng rất cao (vì bản chất là người thay thế cho người ĐĐNN chứ không phải là Phó cho người đứng đầu hành pháp như Phó Thủ tướng các nước khác); (ii) và dùVăn phòng Tổng thống là cơ quan giúp việc chung nhưng vẫn có một sốbộphận phục vụ Tổng thống thực hiện chức năng ĐĐNN và có sự độc lập nhất định (điển
hình là một số hội đồng về đặc xá, QP&AN, đối ngoại…)
Thứ ba, về vị trí, vai trò, Chủ tịch nước không chỉ ĐĐNN mà còn thay mặt cho quốc gia, cho đất nước (tính chính trị – pháp lý và tính đại diện dân tộc). Đây làđặc điểm chung và bao trùm của thiết chế ĐĐNN ở các quốc gia trên thế giới, giúp phân biệt với các thiết chế khác trong BMNN, trong hệ thống chính trị quốc gia. Ởtầm quốc gia, chỉ có Chủ tịch nước là cơ quan nhà nước duy nhất và cũng là thực thể chính trị, xã hội duy nhất trong phạm vi một quốc gia được trao quyền đại diện,
thay mặt cao nhất chođất nước, cho quốc gia trong mối quan hệquốc tếvới các quốc gia (Tính dân tộc). Ởphạm vi nhà nước, Chủtịch nước là thiết chếĐĐNN
(Tính chính trị – pháp lý). Về mặt hình thức, hai vị trí, vai trò của thiết chế này làkhác nhau nhưng lại luôn gắn kết, hoà quyện, hỗtrợcho nhau.Vềmặt pháp lý, không quốc gia nào trên thếgiới mà ngườiĐĐNN không đồng thời là người là NTQG. Điều này bị quyết định bởi mối quan hệ giữa nhà nước và quốc gia. Trong quan hệquốc tế, quốc gia (chứ không phải nhà nước) là chủthểđầu tiên, cơ bản, chủ yếu và có quyền năng đầy đủ nhất. Tuyên bố Montevideo về quyền và nghĩa vụcủa các quốc gia được thông qua tại Hội nghị quốc tếcác nướcchâu Mỹngày 27/12/1933 đã chỉ ra rằng, quốc gia với vai trò là một chủ thể/thực thể pháp lý quốc
tếkhi cómộtsốyếu tốcơ bản như: lãnh thổxác định, dân cư thường xuyên và chính quyền (nhà nước) có khả năng duy trì kiểm soát trên lãnh thổ đó và tiến hành quan hệ với các quốc gia khác. Tức là, quốc gia được hiểu là một nhà nước có chủquyền trên một lãnh thổ xác định và được các quốc gia khác công nhận. Ngược lại, một nhànướccó thểtồn tạitrên thực tế(Ví dụNhànước tựxưng IS) nhưng nếu thiếu cácyếu tốkhác thì không thể coi là quốc gia và theo đó thì không trở thành một chủ thể trong quan hệ quốc tế. Về điều này, C.Mác, Ph.Ănggen cũng đã chỉ ra “mỗi nhànước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhất định. Nhà nước xuất hiện đã lấy sự phân chia lãnh thổ làm điểm xuất phát và để cho công dân thực hiện những quyền và nghĩa vụ xã hội” [70, tr.261]. Như vậy, quốc gia là khái niệm rộng hơn, bao trùm hơn, bền vững hơn so với nhà nước; không chỉhàm ý vềmặt chủthểpháp lý trong quan hệquốc tếmà còn mang ý nghĩa dân tộc, lịch sử, văn
hoá … Nhà nước là phạm trù hẹp hơn, một bộ phận của hệ thống chính trị quốc gia – một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình để điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt
động của xã hội trong một quốc gia. Nhưng nhà nước lại là chủ thể nắm giữ và thực thichủquyền quốc gia trong quan hệquốc tế. Thông qua việc tổchức BMNN thì các chức năng, nhiệmvụcủa nhà nước đượcthực thi. Theo lô gíc này, người đại diện cao nhất cho mộtquốc gia trong quan hệquốc tếkhông thểkhác, chính làngười “ĐĐNN”; đồng thời, trong phạm vi một quốc gia thì người ĐĐNN cũng làđứng đầu quốc gia. Đặc điểm này của NTQG các nước và Chủ tịch nước ta được thểhiện qua một số khía cạnh như:
-Được hình thành rất sớm, thường là đầu tiên trong trong BMNNđểhình thành các chức danh khác trong BMNN và xác thực, bảo đảmtính chính danh, chính thức các hoạt động của quốc gia, của nhà nước.
– Luôn có người thay thế đương nhiên. Do là biểu tượng trường tồn của một quốc gia, một dân tộc; là “điểm tựa” tinh thần, “sợi dây” gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân tộc,từ đókhơi dậy lòng yêu nước, duy trì ổn định chính trị quốc gia; đồng thời, để bảo đảm tính hiện hữu và liên tục của quyền lực chính trị, QLNN nên vị trínày không thể khuyết trong thời gian dài. Bất cứ quốc gia nào cũng đều có quy định về trường hợp khuyết NTQG.
-Được hưởng quychếcao nhất trong miễn trừngoại giao. Ởmột sốnước còn hưởng đặc quyền miễn trừ tư pháp, ngoài trừ tội phản quốc.
– Là chức vụnhà nước cao nhất trong hệthống chức vụnhà nước. ỞViệt Nam hiện nay, hệ số lương của Chủ tịch nước là 13.00, trong khi đó, của Chủ tịch Quốc hội và TTg bằng nhau là 12.50 [131]. Ở Đức, dù quyền lực nằm trong tay Thủtướng, nhưng lương Tổng thống vẫn cao nhất, hiện nay là 217.000 Euro so với 208.000 Euro của Thủ tướng [65].
Thứ tư, về mô hình, Chủ tịch nước ta hiện nay thuộc mô hình biểu tượng; làđảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng không đồng thời là Tổng Bí thư.
Nghiên cứu cho thấy, tổ chức và hoạt động của thiết chế ĐĐNN ở các nước trên thế giới rất đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, nếu căn cứ theo mức độ tham gia và thực thi QLNN thì có hai mô hình cơ bản là mô hình NTQG thực quyền và môhình NTQG biểu tưởng (xem thêm Mục 2.5 và Phụ lục). Mô hình Chủ tịch nước ta có thể được xếp vào mô hình NTQG biểu tượng. Một trong những đặc điểm của môhình biểu tượng là NTQG là một thiết chế hiến định có sự độc lập nhất định với lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đặc điểmnày giúp ta phân biệt Chủ tịch nước ta với NTQG một số nước theo mô hình thực quyền như các nước theo mô hình cộng hoà
tổng thống (Mỹ, Hàn Quốc, Philippin…) hay các nước theo mô hình quân chủchuyên chế – ở đó, NTQG thường đứng đầu hành pháp.
Một đặc điểm nữa ở nước ta đó là Chủ tịch nước là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng không đồng thời là Tổng Bí thư. Ở một số nước đa đảng trên thế
giới, nếu đề cao tính biểu tượng dân tộc (vai trò đại diện quốc gia) hơn tính chính trị- pháp lý (vai trò ĐĐNN) thì NTQG không được là thành viên của tổ chức chính trịnào (Ví dụ ở Đức). Còn ở các nước đa đảng nhưng lại đề cao tính chính trị – pháp lýhơn tính dân tộc thì NTQG chính là đại diện chính thức của đảng phái thắng cử vàlà hình ảnh sống động chứng minh cho thắng lợi cao nhất của đảng phái trong quátrình giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, QLNN (Ví dụ ở Mỹ). Ở Việt Nam,Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xãhội nên dù pháp luật không quy định nhưng tất yếu Chủ tịch nước phải là Đảng viênĐảng Cộngsản Việt Nam. Đây cũng là đặc điểm chung ở những nước XHCN với vai trò lãnh đạo thuộcvềđảng Cộng sản. Tuy nhiên, so vớicác nước XHCN thìthực tếnhiều năm qua, Chủtịch nước ta lại không đồng thời là người đứng đầu
đảng (Tổng Bí thư). Trong khi đó, ở Trung Quốc, Lào, Cu Ba … thì người ĐĐNNđồng thời là người đứng đầu đảng. Mô hình nhất thểhoá người ĐĐNN với ngườiđứng đầu đảngcầm quyền là phổ biến và dường như là tất yếu ở cácnước đa đảng và theo mô hình NTQG thực quyền.
2.1.1.2. Khái niệm pháp luật về Chủ tịch nước
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỦ TỊCH NƯỚC
Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước

