Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay

Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Dưới chế độxã hội chủ nghĩa, con người và vấn đề bảo đảm quyền con người là trung tâmcủamọi hoạt động xã hội. Quan điểm xuyên suốt thể hiện trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là luôn coi con người vừa làmục tiêu, vừa là động lực của sựphát triển đất nước, trong đó trẻ em, người chưa thành niên (NCTN)được ví nhưmăng non, là nguồn hạnh phúc của gia đình, tương lai của dân tộc, chủ nhân kếtục sựnghiệp phát triểnđấtnước. Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)

đã nhấn mạnh:“…Chú trọng cải thiện điềukiện sống, lao động và học tập của

thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảovệ trẻ em…”[39, tr.79-80]. Đối với NCTN nói chung,trẻem nói riêng, quanđiểm củaNhà nước ta là bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nhằm giúp họ phát triển về thể chất lẫn tinh thần một cách tốtnhất. Điều 37 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013) xác định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”. Điều 5 Luật Bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em năm 2004 cũng quy định rõ: “Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân”. Trên bình diện chính sách hình sự(CSHS)củaĐảng và Nhànước ta thì Hiến pháp vàpháp luật luôn coi trẻem, NCTN là đối tượng cần bảovệ, chăm sóc và quan tâm đặc biệt đối với cả hai trường hợp, khihọ làchủ thể của tộiphạm cũng như khihọlà đối tượng tác động của tội phạm.

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm do NCTN thực hiện ở nước ta có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Theo thống kê của Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, từ năm 2006 đến năm 2015 cảnước xảy ra 95.474 vụ phạm pháp hìnhsựvề trật tựxã hội do NCTN thực hiện, với

tổng số 147.590 đối tượng. Số vụ, số đối tượng là NCTN phạm tội hàng năm có xu hướng tăng lên; thành phần đối tượng, lĩnh vực phạm tội ngày càng đa dạng hơn; tính chất hành vi phạm tội, phương thức thủ đoạn và hậuquả gây ra ngày càng nghiêm trọng, nguy hiểm hơn. Các tội phạm giết người, cướp tài sản, trộm cắp tài sản, gây rối trật tựcông cộng và tội phạmvềma túy do NCTN gây ra đang ngày

1

càng phổ biến. Hành vi phạm tội của NCTN không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ mà đã có sựtính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tổ chức. Đứng trước thực trạng đó, gia đình, nhàtrường và xã hội đã có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ nêu trên. Tuy nhiên, để đưa rađược một giải pháp đồng bộ, hiệu quả cho vấn đề này, trước hết phải xác định một cách khoa học, khách quan và đúng đắn về nguyên nhân cũng như đặc điểm tâm lý lứa tuổi của NCTN nói chung và NCTN phạm tội nói riêng.

Xuất phát từđặc điểm đặc trưng về tâm lý, giới tính, lứa tuổi củaNCTN phạm tội đó là những người chưa thật sựtrưởng thành, họ đang ở độ tuổi bẻ gãy sừng trâu, có những hạn chế nhấtđịnh vềthể chất và tâm lý, suy nghĩ của NCTN thường thiếu chín chắn, mang tính bộc phát, ngẫu hứng cho nên CSHSđối với những đối tượng này cũng có nhiều điểmkhác biệt so với đối tượng là người đãthành niên phạm tội. Điều 40 Công ước Liên hợp quốcvề Quyền trẻ em có ghi:

“Các quốc gia thừa nhận quyền của mọi trẻ em bị cho là tố cáo hay bị công nhận là

đã vi phạm luật hình sự được đối xử phù hợp với việc cổ vũ ý thức của trẻ em… Cách đối xử cũng phải tính đến lứa tuổi của trẻ em và đến điều mong muốn làm sao thúc đẩy sự tái hòa nhập vào việc đảm đương một vai trò xây dựng trong xã hội trẻ

em…”[34]. Nhận thức này đã được nhà làm luật thể chế hóa trong các quy định của pháp luật hìnhsựvàtố tụng hình sựViệt Nam,từquyđịnhvề độtuổi chịu trách nhiệm hình sự, nguyêntắc xửlý đối vớiNCTN phạm tội, các loại hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với NCTN phạm tội, vấn đề quyết định hình phạt và các biện pháp tha miễn đối với NCTN phạm tội đến các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội. Đâychính là cơ sở pháp lý cho việc tiến hành các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sựđốivới NCTN phạm tội, đảmbảo phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xửlý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Có thể khẳng định, đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng không phải là nhiệm vụcủa riêng ai mà là trách nhiệm của mỗi công dân, từng gia đình, các cơ quan nhànướcvà của toànthểxã hội. Cuộc đấu tranh này chỉ có thể thu được kết quả tốt khi có sự tham gia đôngđảo của các giai tầng trong xã hộivớimộthệthống các biện pháp đa dạng, đặc biệt,

2

phải có một hệ thống các quan điểm, đường lối, chủ trương, định hướng chỉ đạo phùhợp và kịp thời nhằmđảmbảo từng bước đi thích hợp, vừa mang tính sách lược, vừa thể hiện tính chiến lược trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Hệ thống các quan điểm, đường lối, chủtrương, định hướng chỉđạo trong đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện được gọi là CSHS. CSHS do đó trở thành hạt nhân củacuộc đấutranh này, góp phần phốihợphoạtđộngcủacác cơ quan nhànước, tổ chức xã hội và công dân vào mục đích khắc phục, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi xã hội.

CSHS đối với NCTN phạm tội bảo đảm sự thống nhất giữa ý chí của giai cấp cầm quyền với pháp luật của Nhà nước, giữa pháp luật với việc áp dụng pháp luật đó trongđấutranh phòng, chốngtộiphạm. Việc hiểu không đúng, hoạchđịnhkhông đúng hoặc thực hiện không đúng CSHSđốivới NCTN phạmtộisẽlàm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Khẳng định này đã được chứng minh trong thực tiễn, nhận thức không đúng CSHSđốivới NCTN phạm tội cókhảnăngdẫnđếnnhữnghạnchế, thiếu sót, sailầmtrong công tác xây dựng pháp luật, trong thực tiễn áp dụng và thi hành pháp luật. Không nắm vững CSHS đối với NCTN phạm tội sẽ làm cho việc thực hiện chủ trương, đường lối trở nên gò bó, cứng nhắc hoặc tùy tiện, thái quá, không đạt được hiệu quả như mong muốn [104].

Xuất phát từthực tiễn cho thấy, những năm qua việc nắmbắt và thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội còn tồn tại nhiều bất cập. Pháp luật hình sự quy định vềtội phạm và hình phạt đối với NCTN phạm tội còn nhiều bất cập, việc tổchức thực thi pháp luật hình sựtrong đấu tranh phòng, chống tội phạm còn nhiều hạn chế, trong khi đó, công tác tổng kết thực tiễn lại rất ít được quan tâm. Vì thế, những vấn đềlý luận và thực tiễn vềCSHSđối với NCTN phạm tội cũng như việc triển khai thực hiện CSHSđối với NCTN phạm tội còn tản mạn, thiếu thống nhất. Để góp phần hệ thống hóa, kiến giải, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn triển khai thực hiện CSHSđối vớiNCTN phạm tội. Trên cơ sở đó, đưara mộtsốgiải pháp hoàn thiện CSHSđốivớiNCTN phạm tộiở Việt Nam, tácgiảchọn nghiên cứu đề tài: “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay”.

3

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

– Mục đích của luận án: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đềxuất một sốgiải pháp cụ thể cho việc hoạch định và triển khai thực hiện CSHSđối với NCTN phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

– Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích nêu trên, luận án đặt ra và phải giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

+ Kiến giải làm rõ nộihàm khái niệm CSHSđối với NCTN phạm tội; xácđịnh vị trí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, các nguyên tắc và ý nghĩa của CSHSđối với NCTN phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hay nói cách khác là xác định mối liên hệ giữa CSHS đối với NCTN phạm tội và hiệuquảthực tế của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện;

+ Phân tích làm rõ yêu cầu và các yếu tố bảo đảmxây dựng và thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội; nội dung, các nhân tố tác độngvà các biện pháp thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội;

+ Phân tích sự thể hiện của CSHS đối với NCTN phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam thông qua các khía cạnh: mục tiêu, quan điểm, đường lối xử lý, nguyên tắc xử lý, quy định về tội phạm, quy định về hình phạt đối với NCTN phạm tội;

+ Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hoạch định, thực hiện (điều tra, truy tố, xét xử, địnhtội danh, quyết định hình phạt), phân tích và đánh giá CSHSđối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay.

3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận án

-Đối tượng nghiên cứu của luận án: Những vấn đề lý luận về CSHS đối với NCTN phạm tội, CSHS hiện hành đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam và việc triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay.

– Phạm vi nghiên cứu của luận án:

+ Phạm vi nội dung: Dưới góc độ khoa học pháp lý, quan niệm như thế nào là CSHS đã được nhiều tác giả quan tâm, đề cập trong sách, báo pháp lý. Trong đó, các tác giả đãđưa ra nhiều quan điểmkhác nhau về khái niệm và nội dung của CSHS. Sự khác nhau giữa các quan điểm này thể hiện chủ yếu ở quan niệm CSHS theo nghĩa rất rộng, rộng hay hẹp. Tuy nhiên, giữa các quan điểm đó lại không có sựkhác nhau về nội dung và những bộ phận của CSHS. Với nhận thức đó, chúng tôi

4

cho rằng, nội dung và các bộ phận của CSHS đối với NCTNphạm tội được thể hiệnở chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sựvà chính sách phòng ngừa tội phạm. Trong phạm vi nội dung nghiên cứu luận án, chúng tôi tập trung làm rõ CSHSđốivới NCTN phạm tội theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm chính sách pháp luật hình sự mà cụ thể là chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với NCTN phạm tội. Tất nhiên, việc giới hạn nội dung nghiên cứu này chỉ mang tính tương đối bởi lẽ theo phương pháp nghiên cứu khoa học tiếp cận vấn đề đa ngành, liên ngành, các vấn đề được bàn luận, phân tích, kiến giải luôn đan xen và hòa quyện với nhau trên hệ thống nền

tảng tri thức chung.

+ Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam. Tiến hành phân tích điển hình tại địa bàn Thành phốHồ Chí Minh.

+ Phạm vi thời gian: Các số liệu thống kê sửdụng trong luận án được tiến hành thu thập từ năm 2006 đến năm 2015.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu luận án

– Phương pháp luận:Luận án đượcnghiên cứu dựa trên cơsởphương pháp luận biện chứng duyvậtcủaChủnghĩa Mác – Lênin, tưtưởngHồChí Minh, quanđiểm, đườnglối của Đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường lối đổi mới đất nước, tinh thần cải cách tư pháp, chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật,hoạt động đấutranh phòng, chống tội phạm. Trong quá trình nghiên cứu, luận ánđã sử dụngphương pháp nghiên cứu của chuyên ngành Luật hìnhsự,Luậttốtụng hìnhsự,Tộiphạm học, Tâm lý học, Xãhộihọc, Khoa học điều tra hình sự với các phương pháp nghiên cứu cụthểđể làmsáng tỏ bản chất của vấn đề CSHS đối với NCTN phạm tội.

Đặcbiệt, trong quá trình nghiên cứu, luận ánsửdụnghệthống tri thức và phương pháp tiếpcậncủaKhoahọcChính sách công vào việc giải quyết các nội dung của vấn đề CSHS đối với NCTN phạm tội. Bởi lẽ, pháp luật chính là một hình thức biểu hiện của Chính sách công. Trong nhiều đạo luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, Chính sách công chính là linh hồn của văn bản. Nghiên cứu mối quan hệ giữa Chính sách công và pháp luật không đơn thuần là câu chuyện lý luận

5

nhận thức mang tính hàn lâm. Nhận thức rõ mối quan hệ giữa Chính sách công và pháp luật có thể là chìakhóa đểcải thiện công tác xây dựng pháp luật. Thật khó cóđược các quy phạm pháp luật tốt nếu như ý tưởng chính sách ẩn chứa trong các văn bản quy phạm ấykhông bảođảm tínhhợplý, hợppháp và khả thi. Pháp luật tốt luôn đi kèm với chính sách có chất lượng. Đầu tư cho công tác hoạch định, phân tích chính sách trong quá trình xây dựng pháp luật chính là một trong những chìa khóa quan trọng để nâng cao chất lượng củatừng văn bản quy phạm pháp luật vàqua đó là nâng cao chất lượng của toàn bộ hệ thống pháp luật.

Với quan điểm hệ thống, CSHS đối với NCTN phạm tội là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của chính sách pháp luật, CSHS và cũng nhằm thực hiện nhiệmvụchung của chính sách pháp luật, CSHS, nhưng CSHSđối vớiNCTN phạm tội lại có nội dung, nhiệm vụ, mục đích riêng của mình. Vì vậy, nghiên cứu lấynội dung, mụctiêu, nhiệmvụ của chính sách pháp luật, CSHS làm xuất phátđiểm để tiếp cận bản chất vấn đề nghiên cứu và từđó tìm ra các liên hệ bản chất cần triển khai nghiên cứu trong luận án.

– Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu luận án chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

+ Phương pháp phân tích tài liệu, sửdụngđểhệ thống hóa nhữngvấn đề lýluận về CSHS đối với NCTN phạm tội; về quy trình chính sách từ việc hoạch định,

tổ chức thực hiện đến việc phân tích, đánh giá chính sách; đánh giá thực tiễn điều tra, truy tố, xétxửđối người NCTN phạm tội qua hệ thống 200bảnán hình sựđược thu thậptạiTòa án nhân dân ThànhphốHồChí Minh, Báo cáo tổng kếtcủa Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Cục Cảnh sát điều tra tội phạmvềtrật tựxã hội (Bộ Công an), Báo cáo chuyênđề, Báo cáo tổng kết hàng năm của Tổng cục Cảnh sát, của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phốHồ Chí Minh, của Tổng cục thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Bộ Công an).

+ Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu thống kê,sử dụng để điều tra, khảo sát thực tế và thống kê tình hình NCTN phạm tội ở Việt Nam trong thời gian qua nhằm làm căn cứ cho việc xây dựng và hoàn thiện CSHS đối với NCTN phạm tội.

+ Phương pháp tổng kết thực tiễn, sửdụng để nghiên cứu tổng kết đánh giánhững kết quả, tài liệu thu thập đượctừthực tiễn áp dụng các quyđịnh củapháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam.

6

+ Phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu lý luận và thực tiễn về CSHSđốivớiNCTN phạm tội thông qua các quy định cụ thể của pháp luật hình sự của nước ngoài, đối chiếu so sánh với các quy định của Việt Nam, để tìm được phương án, đề xuất hợp lý cho Việt Nam.

+ Phương pháp chuyên gia, sử dụng để tham khảo ý kiến của các cán bộ thực tiễn, các chuyên gia nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến CSHSđối với NCTN phạm tội. Việc nghiên cứu này có thể được tiến hành thông qua cácấn phẩm, chuyên khảo, đề tài khoa học, sách báo pháp lý đã được xuất bản, nghiệm thu có đề cập đến nội dung nghiên cứu của luận án.

+ Phương pháp điều tra điển hình, sử dụng để thu thập thông tin một số vụán điển hình và kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện trong thời gian qua của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

5. Những đóng góp mới của luận án

Có thể khẳng định, luận án là một trong những công trình nghiên cứu chuyên khảo dưới góc độ Luật hình sựvà tố tụng hình sự, có sựtiếp thu tri thức của các công trình khoa họcđã được công bố trướcđâyvềvấn đề CSHSđối vớiNCTN phạm tội, đi sâu phân tích, luận giảimộtcách có hệ thống và khoa học về những khía cạnh khác nhau có liên quan đến lý luận và thực tiễn CSHSđối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay. Vì thếnhững đóng góp mới của luận án được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, kiến giải làm rõ nội hàm khái niệm CSHS đối với NCTN phạm tội; xác định vị trí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, các nguyên tắc và ý nghĩa của CSHS đối với NCTN phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hay nói cách khác là xác định mối liên hệ giữa CSHS đối với NCTN phạm tội và hiệu quả thực tế của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm;

Thứhai, phân tích làm rõ yêu cầu và các yếutố đảmbảo xây dựng và thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội; nội dung, các nhântố tác động và các biện pháp thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội;

Thứba, phân tíchsựthể hiện của CSHS đối với NCTN phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam thông qua các khía cạnh như: mục tiêu, quanđiểm, đường lối xửlý, nguyên tắc xử lý, quy định về tội phạm, quy định về hình phạt đối với NCTN phạm tội;

7

Thứ tư, đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hoạch định, thực hiện (điều tra, truy tố, xét xử, định tội danh, quyết định hình phạt), phân tích và đánh giá CSHSđối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay, phát hiện những vấn đề đặt ra và từ đóđề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc hoạch định và triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong công tácđấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng. Về mặt lý luận, luận án cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho hoạt động lập pháp, hành pháp và đặc biệt trong lĩnh vựchoạt động tư pháp hình sự, áp dụng CSHSđối với NCTN phạmtộiđểđấu tranh có hiệu quả với tội phạm hìnhsựdo NCTN thực hiện ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Về mặt thực tiễn, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộnghiên cứu về xây dựng pháp luật, cán bộ hoạt động thực tiễn, tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật. Đồng thời, đây còn là tàiliệu bổích cho việc nghiên cứu giảng dạy môn học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự, Tội phạm học, Khoa học Điều tra hình sự trong các học viện, trường đại học đào tạo về Luật.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương:

Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chính sách hình sựđối với người chưa thành niên phạm tội

Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Chƣơng 3: Chính sách hình sựhiện hành đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam

Chƣơng 4: Triển khai thực hiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay

Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay
Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

CHÍNH SÁCH HÌNH SỰĐỐI VỚI

NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

26

1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Sau khi nghiên cứu nội dung các công trình trong nước và ngoài nước có liên quan đến nội dung của luận án, tác giả cho rằng: trong các công trình đã công bố, có đề cập đến một sốvấn đề liên quan đếnnội dung của luận án; nhưng những nội dung này không phải là những đối tượng mà luận án dựđịnh nghiên cứu. Căn cứvào mục đích nghiên cứu, qua khảo sát về tình hình nghiên cứu tác giả thấy những vấn đề sau đây cần phải đặt ra để thực hiện trong luận án:

Thứ nhất, những vấn đề lý luận về CSHS đối với NCTN phạm tội

Để đi sâu nghiên cứu CSHS đối với NCTN phạm tội phải dựa trên hệ thống lý luận cơ bản về CSHS. Các thành tựu lý thuyết về CSHS là hết sức đa dạng, phong phú. Trong lý luận tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm, nội dung, mục đích, đặc điểmcủa CSHS. Điều đó, một mặt tạothuận lợi cho người nghiên cứu trong tiếp cận vấn đề nghiên cứu, nhưng mặt khác cũng khó khăn khi xửlý những nội dung lý thuyết theo yêu cầu nghiên cứu. Trong bốicảnh đó, đểthực hiện và trình bày luận án, tác giả mạnh dạndiễn đạt lại và đưa ra quan niệmvềchính sách, chính sách pháp luật, CSHS, CSHSđối với NCTN phạm tội. Để cóquan niệm về CSHS đối với NCTN phạm tội, cần xuất phát từ tính chất mối quan hệbiện chứng giữa cái chung và cái riêng, cái toàn thể và cái bộ phận. Theo đó, CSHSđối vớiNCTN phạm tội có những đặc điểm chung của chính sách xã hội, chính sách pháp luật, CSHS nói chung, đồng thời sẽ có những nét đặc thù. Trên cơ sở lý luận chung về CSHSđối với NCTN phạmtộigóp phần nghiên cứu về sựthể hiện của chính sách ấytrong pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam.

Xác định vịtrí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, yêu cầu, các nguyêntắcvà ý nghĩa của CSHS đối với NCTN phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hay nói cách khác là xác định mối liên hệ giữa CSHSđối với NCTN phạm tội và hiệu quả thực tế của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.Đồng thời, phân tích làm rõ nội dung, các yếu tố bảo đảmvà biện pháp thực hiện CSHSđối với NCTN phạm tội; các nhân tố tác động cũng như các giải pháp liên quan đến CSHS đối với NCTN phạm tội gồm xây dựng (hoạch định) chính sách, tổchức thực hiện chính sách, phân tích chính sách, đánh giá chính sách.

27

Thứ hai, CSHS hiện hành đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam

Trên cơ sở giải quyết những nhiệmvụ đặt ravề mặt lý luận, việc khảo sát thực trạng CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay là một yêu cầu chủyếu cần phải được tiến hành một cách khoa học. Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu này, phải giải quyết hai vấn đề cơ bản: một là phải xácđịnhnội dung cần khảo sát; hai là phải xác định các phương pháp, kỹthuật nghiên cứu sửdụng để thu thập thông tin cần thiết. Trước hết về nội dung cần khảo sát, cần tập trung làm rõ thực trạng chính sách về tộiphạm và chính sách về hình phạt đối với NCTN phạm tội thông qua quyđịnh của BLHS, CSHS thể hiện trong các Văn kiện chính trị, Nghịquyết cũng như cơ chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Về phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu được sử dụng để đo lường, thu thập thông tin cần thiết nhằm làm rõ thực trạng NCTN phạm tội. Để giải quyết vấn đề này, trên cơ sở phương pháp luận chung, chúng tôi phối hợp mộtsốphương pháp nghiêncứucủa các khoa học như:

Tội phạm học, Tâm lý học, Xã hội học, dựa trên các phương pháp phân tích định tính và phân tích định lượng (sử dụng một số kiến thức toán học với sự trợ giúpcủamột số phần mềmthống kê trong xử lý tư liệu,sốliệu) để đánh giá, kết luận.

Thứ ba, triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay CSHS nói chung và CSHS đối với NCTN phạm tội nói riêng không thể tách

rời nhiệm vụ, mục tiêu của chính sách pháp luật và do đó CSHS phải được hoạchđịnh theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của xã hội. Mặc dù vậy, CSHS đối với NCTN phạm tội chỉ có ý nghĩa khi được triển khai thực hiện một cách kịp thời và hiệu quả nhất, cụ thể cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách hình sựđối với người chưa thành niên phạm tội và những hoạt động đặc trưng khác như định tội danh và quyết định hình phạt đốivớiNCTN phạm tội. Trong chương 4, Luậnán sẽtậptrung phân tích làm sáng tỏ những vấn đề nêu ra trên đây.

Thứ tư, đềxuất một số giải pháp hoàn thiện CSHS đối với NCTN phạm tội ởViệt Nam hiện nay

Hoàn thiện CSHSđối với NCTN phạm tội ởViệt Nam hiện nay là đòi hỏi cấp thiết xuất phát từ thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng nhưnhững yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Mặc dù vậy, việc hoàn thiện CSHS

28

đối với NCTN phạm tội cần và chỉ có thể triển khai có hiệu quả trong thực tế khi tuân theo những quan điểmđịnh hướng nhất định phù hợp với bối cảnh hiện nay, như: phải nhằm mục đích bảo vệ, củng cố và phát huy nền dân chủ xã hội chủnghĩa; phải huyđộng được sức mạnh của cảhệ thống chính trị và của toàn xã hội vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; phải từng bước hình thành hệthống các quanhệpháp luật, môi trường pháp lý mới; phải dựa trên các tư tưởng pháp lý tiếnbộ đã được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại, những luận chứng khoa học của tư pháp hình sựViệt Nam, các giá trị pháp luật truyền thống của dân tộc Việt Nam; phải được tiến hành bằng cơ chế dân chủ, công khai, đảm bảo tính khách quan và đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách của hoạt động tư pháp hình sự. Trên đây chỉ là những phương hướng cơ bản, trong phần này luận ánsẽ tập trung phân tích làm sáng tỏ nội dung những phương hướng khác và các giải pháp cụthểcho việc hoàn thiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay.

Kết luận chƣơng 1

CSHS đối với NCTN phạm tội là vấn đề có ý nghĩa chính trị xã hội, pháp lý và ýnghĩa lý luận, thực tiễn rất quan trọng thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau. CSHS đối với NCTN phạm tội bảo đảm sự thống nhất giữa ý chí của giai cấp cầm quyền với pháp luật của Nhà nước, giữa pháp luật với việc áp dụng pháp luật đó trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Với ý nghĩa như vậy, trong chương 1 của luận án chúng tôi đã tập trung nghiên cứu, phân tích, kiến giải, làm sáng tỏ những kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu sót cũng như những khoảng trống về mặt khoa học thể hiện trong các công trình nghiên cứu liên quanđếnCSHSđốivớiNCTN phạmtộiởtrong và ngoàinước.Thông qua việc nghiên cứu này chúng tôi cho rằng, vấn đề NCTN phạm tội và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử NCTN phạm tội là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi lẽ Nhà nước nào cũng đặt vấn đề chiến lược phát triển con người lên hàng đầu, nhất là đối với NCTN (đối tượng cần được ưu tiên quan tâm, chăm sóc và giáo dục đặc biệt). Chính vì vậy, những công trình khoa họcđềcập đến lĩnh vực tư pháp hình sự đốivớiNCTN là khá phong phú. Tuy nhiên, các công trình này hầu như chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá các quy định cụ thể trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm mà chưa nêu ra được

29

những vấn đề thuộc về lý luận ở tầm chiến lược hay nói cách khác là chưa làm rõ những vấn đề có liên quan đến CSHS đối với NCTN phạm tội như khái niệm, nội dung, các bộphận hợp thành cũng như mục đích, ý nghĩa và quy trình chính sách. Ngoài ra, vì mụcđích và phương pháp tiếp cận khác nhau cho nên chưa giải quyết được những vấn đề cốt lõi liên quan đến CSHS đối với NCTN phạm tội như: cơ sở cho việc hoạch định chính sách, biện pháp thực hiện chính sách, các nhântốtácđộngvàảnhhưởngđếnviệctổchức thực hiện quy trình chính sách, thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội. Mặc dù vậy, các công trình khoa học nêu trên đã chứa đựng những hàm ý cho việc hoàn thiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay cần tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu và ứng dụng thực tiễn. Với ý nghĩa đó, tác giả nêu lên 04 vấn đềđặtrađểluận án tiếptụcnghiêncứuđólà: Nhữngvấnđềlý luậnvềCSHSđốivới NCTN phạm tội; CSHS hiện hành đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam; Thực trạng triển khai thực hiện CSHSđốivớiNCTN phạmtộiởViệt Nam hiện nay; Giải pháp hoàn thiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay.

30

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ

ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

2.1. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và các nguyên tắccủa chính sách hình sự đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội

2.1.1. Khái niệm chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội – Nhận thức về chính sách

“Chính sách” là thuật ngữđược sửdụng phổbiến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên nó là một thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng [45, tr.17]. Theo nhiều chuyên gia ở Việt Nam, chính sách được hiểu một cách chung nhất là “chủ trương và các biện pháp của một Đảng phái, một Chính phủ trong các lĩnh vực của đời sống chính trị – xã hội” [61, tr.40]. Chính sách ở tầm khái quát nhất chính là công cụ để Đảng chính trị và chính quyền thể hiện thái độ của mình trong việc giải quyết các vấn đề của đất nước, của thực tiễn đời sống cộng đồng. Chính sách, vì thế, là một trong những công cụ giao tiếp/tương tác quan trọng giữa Nhà nước vàĐảng cầmquyền vớixã hội. Hoạchđịnh chính sách và thực thi chính sách là mộttrong những phương thức tồn tại cơ bản của Nhà nước và Đảng cầm quyền, thông qua đó, những “áp lực/đòi hỏi/vấn đề” của xã hội được bộc lộ, ghi nhận, đáp ứng và giải quyết.

V.I. Lênin quan niệm: “Chính sách là sự tham gia vào các công việc của Nhà nước, là đường hướng của Nhà nước, là sự xác định các hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước”[4, tr.340]. Chính sách, do vậygóp phần xácđịnh con đường hoạt động cụ thể, cách thức tiến hành, biện pháp bảođảmcũng nhưnhững mục tiêu cơ bản cần đạt được của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức chính trị xã hội và của chính mỗi cá nhân trong xã hội đó. Như vậy, bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường

lối, nhiệmvụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…. Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữvững mục tiêu, phươnghướng được xác địnhtrong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.

31

Chính sách là lĩnh vực hoạt động mà ở đó các nguyên tắc cơ bản của quản lýđược thực hiện trong quá trình tácđộnglẫnnhau của quyền lực và củadân cư. Chính sách là vấn đề rất quan trọng, bởi lẽ giai cấp thống trị xã hội, Nhà nước và các chế định xã hội khác luôn đưa ra và thực hiện các chính sách nhất định để duy trì sự thống trị, quản lý của mình đối với toàn bộ xã hội. Trong xã hội dân chủ chính sách không phải là công việc bên trong của bộ máy nhà nước, mà chính sách luôn chịu tác động của các cơ chế xã hội khác nhau. Chính sách thể hiện với tư cách làquá trình quản lý, quá trình phân phối mang tính quyền lực các giá trị bên trong xãhội, quá trình thông qua các quyết định có ý nghĩa đối với xã hội [141, tr.180-201].

Có thể khẳng định, cho dù có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách, nhưng chúng ta có thể khái quát những đặc điểm đặc trưng của chính sách bao gồm:

Thứnhất, chính sách bắt nguồn từ các quyết định do Nhà nước ban hành vàbao hàm các quyết định của Nhà nước;

Thứhai, chính sách bao gồm tậphợpcác quyết định diễn ra qua một giaiđoạn dài và kéo dài vượt ra ngoài quá trình hoạch định chính sách ban đầu;

Thứba, chính sáchhướng tớigiải quyết vấn đề công và việc giải quyết vấnđề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội;

Thứtư, chính sách hướng đến việc thayđổi hành vi của đối tượngvà thúcđẩy xã hội phát triển theo định hướng;

Thứnăm, một chính sách đầy đủ thường bao gồm 3 thành tố chính: mục tiêu của chính sách (nêu rõ vấn đềcần giải quyết và mức độ giải quyết vấn đề); Các công cụ chính sách sẽđược sửdụng; Các hành độngcụ thểcủa nhà nước/chính quyền cần thực hiện (với nguồn lực về tổ chức bộ máy, con người, nguồn kinh phíkèm theo) để giải quyết vấn đề;

Thứ sáu, các chính sách luôn thay đổi theo thời gian, vì những quyết định sau có thể có những điều chỉnh tăng dần so với các quyết định trướcđó, hoặc do cónhững thay đổi trongđịnh hướngchính sách ban đầu. Đồng thời, kinh nghiệm thực thi chính sách có thể được phản hồi vào quá trình ra quyết định. Điều này không cónghĩa là chính sách luôn thay đổi, mà do quá trình chính sách năng động chứ không cố định và định nghĩa về chính sách cũng thay đổi theo thời gian;

32

Thứbảy, chính sách được xem là đầu ra của quá trình quản lý nhà nước, làsản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, thậm chí của cả xã hội.

Như vậy, chính sách, theo bản chất củamình, là hoạtđộngcó tính hướngđích sửdụng các phương tiện (công cụ) tương ứng để đạt các mục tiêu nhất định.

Các mục tiêu và các phương tiện –những yếu tố quan trọng nhất của hoạt động chính sách là những thuộc tính của nó. Chính sách là khoa học đưa các tư tưởng, ýđịnh đúng đắnvào hoạt động bằng các phương tiện có khả năng và hơn thế nữa,đúng đắn nhất.

– Nhận thức về chính sách pháp luật

Việc điều hành quản lý xã hội của Nhà nước được thực hiện ở tầmvĩ môtrước hết bằng chính sách, tức là việc xác định các hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước trong đời sống xã hội nói chung cũng như trong các lĩnh vực cụ thể của xã hội đó nói riêng. Trong lĩnh vực pháp luật, chính sách pháp luật được hiểu là việc xác định đường hướng, các hình thức, nhiệm vụ và nội dung hoạtđộng của Nhànướctrong việcsửdụng pháp luật đểđiềuchỉnh các quan hệ xã hội nhằm thúc đẩytiến trình phát triển của xã hội. Chính sách pháp luật cùng với các chính sách khác được hoạch định cho từng giai đoạn phát triểncủa đất nước nhằm tạo lập cơ sở đúng đắncho việc sử dụng có hiệu quả các khả năng điều chỉnh của pháp luật, xácđịnhđúng đắncơ cấu tổchức và hoạt động củacác cơ quan pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật của xã hội cũng như mỗi cá nhân. Chính sách pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với các chính sách khác như chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách văn hóa, chính sách giáo dục và trở thành bộ phận hữu cơtrong hệ thống các đường lối, chính sách chung của Nhà nước. Nhưng, chính sách pháp luật khác với các chính sách khác ở chỗ: chính sách pháp luật gắn liềnvới sự hiện diện của pháp luật, chính sách pháp luật có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, chính sách pháp luật xâm nhập vào các lĩnh vực của đời sống xã hội chỉ ở mức độ có sự điều chỉnh của pháp luật.

Trong xã hội dân chủ, pháp luật là biện pháp, công cụ của quản lý và của việc đưa chính sách vào cuộc sống. Từ cách nhìn nhận như vậy cũng dễ nhìn thấy rằng chính sách pháp luật là sự quản lý về mặt tư tưởng, tự mình đã bị hạn chế trong

đạo luật. Chỉ có thể đứng ở tầm cao của chính sách pháp luật mới có thể nói được

33

về tính hợp pháp của quyền lực nhà nước. Ở một mức độ nào đóchính sách pháp luật làm dịu sựkhác biệt rất lớn giữa chính sách chính trị và đạo đức, buộc chính sách phải tuân thủ một phần nào đó của đạo đức đã được thể hiện trong pháp luật. Chính sách pháp luật có bản chất hai mặt. Một mặt nó thể hiện ởchỗ đó là chính sách đã được dựa vào pháp luật, và mặt khácđó làpháp luật được sửdụng với tưcách là phương tiện, công cụ của quyền lực và của quản lý trong lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội[132].

Tính tất yếu của sựxuất hiện chính sách pháp luật, trước hết,gắnliền với tính cấp thiết của việc thường xuyên hoàn thiện pháp luật, của việc điều chỉnh pháp luật, với nhu cầu thayđổi có tính hướng đích của hệ thống pháp luật và xác định định hướng phát triển pháp luật của xã hội. Cuối cùng, chính đời sống pháp luật đặt ra yêu cầu, đòi hỏi chính sách pháp luật có nhiệmvụ phục vụ đời sống xã hội. Chính sách pháp luật, do đó ảnh hưởng đến sự phát triển pháp luật, hệ thống pháp luật vàđờisống pháp luật. Trong điều kiện đời sống pháp luật ngày càng trở nên phức tạp hơn và quá trình hiện đại hóa đang được tiến hành ở Việt Nam, chính sách pháp luật đóng vai trò đặc biệt, bởi vì, đó là chính sách được chuyên môn hóa trong lĩnh vực pháp luật, là hoạt động cảicách các cơ chế pháp lý. Cùng vớicác loại chính sách khác của Nhà nước, chính sách pháp luật, khi tổ chức chính hiện thực pháp luật, tối ưu hóa các công cụ pháp lý, có nội dung riêng, ý nghĩa độc lập của mình. Chính sách pháp luật được gọi là pháp luật, bởi vì, nó gắn liền với hoạt động pháp lý và không gian xã hội tương ứng, với các phương tiện và cơ chế pháp lý, vớiđời sống pháp luật nói chung.

Chính sách pháp luật là một loại bảo đảm của chính sách, bởi vì nó hướngđến việc điều chỉnhchính lĩnh vực pháp luật, và đến lượt mình, nó làm cho các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, dân tộc và các quan hệ khác có tính chất văn minh và tính trật tự. Chính sách pháp luật thiếu cơ sở khoa học, không tốt, thiếu cơsở pháp lý và có chỗ hổng về pháp luật, có mâu thuẫn trong các văn bản quy phạm, không có các mục tiêucụ thể sẽ dẫn đến những hạn chế, không có kết quả trong thực hiện chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, dân tộc và các chính sách khác. Nhưvậy, nếu trong lĩnh vực pháp luật mà không có trật tự, thì không thể có trật tự trong bất kỳ lĩnh vực nàocủa đờisống xã hội. Và ngược lại, chính sách pháp luật rõ ràng

34

sẽ tác động tích cực đến sựphát triển tổng thể các quan hệ xã hội, tạo điều kiện đểcác quan hệ đó phát triển theo chiều hướng hợp pháp, không có tính chất phi cơ cấu. Sựxuất hiện chính sách pháp luật là sựphản ứng của Nhànước đối với việc gia tăng đángkể các dòng thông tin pháp luật, loại thông tin mà không phải bao giờ cũng có được sựphối hợp, hài hòa bên trong. Sự tăng lên rõ rệt vai trò của pháp luật trong hoạt động sống của xã hội, sựthayđổi về chất trong mức độ tội phạm hóa trong xã hội chúng ta đòi hỏi phải cósựphản ứng có cơ sở khoa học và tổng thể đối với các quá trình đó. Tính thời sự của chính sách pháp luật, tất nhiên, có thể gắn liền với các hiện tượng tiêu cực, chuyển đổi nhất định trong đời sống xã hội. Tuy nhiên,

nếu chỉ đặt vấn đề nhưvậy– nghĩa là không đánh giá đúng rằng, chính sách pháp luật cũng như mọi loại chính sách khác, cần phải được thực hiện thường xuyên, nếu như chúng ta nói về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về bảo đảm các quyền và tựdo của con người và của công dân.

Chính sách pháp luật là công cụ quản lý các quá trình phát triển pháp luật của từng quốc gia, nâng cao mức độ điều chỉnh và tổ chức của sựtồntại pháp luật. Nólà một hệ thống các ưu tiên trong hoạt động pháp lý, trong lĩnh vực pháp luật, được

dựa vào các quy phạm được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế,được thể hiện phần lớn trong các văn bản pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật của một quốc giacụthể. Không chỉ tính định hướng nhất định của các văn bản quy phạm pháp luật màcòn hệ tư tưởng pháp luật đều là kết quả của chính sách pháp luật.

Chính sách pháp luật hướng đếnxã hội và các cơ quan tương ứngcủa Nhà

nước, đếnviệc giải quyết nhữngvấnđề cấp bách – bảo vệ cácquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, sự phát triển tiến bộ pháp luật của đất nước và sự điều chỉnh pháp luật trong đất nước. Chính sách pháp luật là cần thiết cho sựhình thành hệthống pháp luật có đầy đủ giá trị và hiệu quả. Chính sách pháp luật, trước hết là hoạtđộng có hệ thống làm tối ưu hóa nguồn lực pháp lý, đó là sự lựa chọn các giải pháp và các hoạt động, các giải pháp và các hoạt động cần phải đáp ứng các vấn đề trongđời sống pháp lý của xã hội.

Chính sách pháp luật tất yếu bao hàmcả yếu tố thuộc lĩnh vực hình thành pháp luật, lĩnh vực thay đổi và tác động đến pháp luật, lĩnh vực thực hiện pháp luật. Với việc cân nhắc rằng chính sách pháp luật bao gồm hoạt động ghi nhận pháp luật

35

thực định và hoạtđộnghoàn thiện pháp luật thực định, hoạt động liên quan đến các lĩnh vực của pháp luật tự nhiên và pháp luật tập quán, cũng như hoạt động liên quanđến thực hiện pháp luật, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý, cho nên khi định nghĩa chính sách pháp luật cần phải lưu ý rằng cơ sở của chính sách pháp luật là những hoạt động đa dạng của Nhà nước trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và đượchướngđến khẩu hiệu: “Tất cả cho pháp luật và tất cả vì pháp luật”. Do đó, chính sách pháp luật thể hiện là phương thức nhất định của việc tổ chức đời sống pháp luật, là phương tiện điều chỉnh đời sống pháp luật. Đến lượt mình, đời sống pháp luật của xã hội là khách thểcủa chính sách pháp luật [141].

– Nhận thức về CSHS

Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ quan trọngđượcĐảng và Nhànướctađặcbiệt quan tâm.Đểđấu tranh phòng ngừa và chốngtộiphạm có hiệu quả, Nhà nướccầnđịnhra một CSHS đúng đắn,phù hợp. CSHS là một chính sách có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội hay làm chậmbướctiến của xã hội là do tính đúng đắn của chính sách này đối với từng giai đoạn phát triểncủađất nước.

Thực tiễn chỉ ra rằng, mọi hoạt động của con người trong xã hội phải tuân theo những chuẩn mực, quy tắc nhất định, con người được tự do lựa chọn và thực hiện những xửsựcủa mình trên cơ sở tuân thủ các quy chuẩn của xã hội hiện thời.Điều nàyđồng nghĩa với việc tựdo phải trong khuôn khổ nhất định, tựdo khôngđược hiểutheo cách mà con người có thể làm bấtcứđiềugì mình mong muốn vàkhông gặp phải bất cứsựcản trở nào, vì như vậy, sẽ có rất nhiều người nhân danh tựdo để thỏa mãn những mong muốn, tham vọng cá nhân của mình, đi ngược lại hoàn toàn với quyền lợi chính đáng của Nhà nước, của tổ chức xã hội và mỗi công dân. Trong giai đoạn đẩymạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, việc coi trọng công tác xây dựng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến mọi người dân nhằm hình thành tư duy pháp lý, ý thức và tinh thần thượng tôn pháp luật có tầm quan trọng, vai trò đặc biệt. Một mặt, từng bước hoàn thiện thểchế pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ nảy sinh trong đời sống xã hội. Mặt khác,

36

góp phần định hướng, điều chỉnh hành vicủacác cá nhân trong xã hội. Pháp luật do vậy đóng vai trò là công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội. Phải từng bước cụ thể hóa những chủ trương, tư tưởng, đường lối của Đảng cầm quyền, của Nhà nước về tất cảcác lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội thành những quy định thống nhất trong các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng một trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa ổn định, bền vững.

Có thể khẳng định, đểđánh giá khách quan và chính xác về một hệ thống pháp luật nói chung, từng quy phạm pháp luật nói riêng cần phải dựa vào rất nhiều tiêu chí khác nhau như: tính đồng bộ, tính thống nhất, tính khả thi, tính công khai, tính minh bạch,đảmbảotrình độ kỹ thuật xây dựng văn bản. Tuy nhiên, để xây dựngđược nhữngvăn bản pháp luật hội đủ các tiêu chuẩn nêu trên, đòi hỏi tư duy pháp lý vàsựamtườngđờisống xãhộicủanhà làm luật phảiđạttrìnhđộcao.Đồngthời, phải phản ánhđượcnhững tư tưởng,địnhhướng,đườnglốitrong các văn bản, văn kiện, chỉthị, chính sách của Đảngvà các chính sách khác nhau của Nhà nước,bởi theo C. Mác: “Nhà lập pháp phải coi mình như là khoa học tự nhiên, ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát sinh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên nguyên tắc biểu hiện những quy luật nội tại của những mối quan hệ tinh thần, thành những đạo luật thành văn có ýthức”[1, tr.218]. Việc triển khai các vấn đề này thông qua yêu cầu xây dựng và thực hiện pháp luật là vấnđềmàĐảng và Nhànước tađặcbiệt quan tâm. Dođó,việc làm sángtỏkhái niệm CSHStrướckhi làm sángtỏnhữngvấnđề quan trọng khác trong pháp luật hình sự Việt Nam là yêucầucó tính bắt buộc, bởi vì, như V.I. Lênin viết:“Người nàotiếpcậnnhữngvấn đềriêng mà trước đó không giải quyết nhữngvấn đềchung thì trongmỗibước đi sẽ không tránh khỏi những vấn đề chungđómột cách vô thức” [2, tr.138].

Từtrước đến nay trong khoa học pháp lý khi bàn về khái niệm CSHS tồn tại nhiều quan điểmkhác nhau. Tuy vậy, dù tiếp cận dưới những gócđộ, khía cạnh khác nhau, với quan niệm về phạm vi rộng, hẹp khác nhau song các quan điểm đều thừa nhận CSHS là một phần của chính sách xã hội nói chung thể hiện quan điểm,định hướng, tư tưởng của Đảng cầm quyền và Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng thời kỳ phát triểncủaxãhội. Đồngthời khẳng định, CSHS làmột bộphận của chính sách pháp luật bao gồm những quan điểm, phương hướng có

37

tính chấtchỉđạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong việc sửdụng pháp luật hình sự vào lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sựnhằm đảm bảoxửlý đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, khôngđể lọt tộiphạm và không làm oanngườivô tội, giáo dục công dân ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩađáp ứng yêu cầuxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảmNhànước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

– Nhận thức về CSHS đối với NCTN phạm tội

CSHS đối với NCTN phạm tội là CSHS nói chung gắn liền với mộtbộ phậnđối tượng đặc thù (NCTN phạm tội). Tính đặc thù của đối tượng NCTN nói chung và NCTN phạm tội nói riêng thể hiện trên nhiều bình diện khác nhaucả về mặt luật pháp, thiết chế lẫn thực tiễn đời sống pháp luật.

Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 nêu rõ: “Trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”[34]. Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em đề cao quyền lợi tốt nhất của trẻ em trong mọi hoàn cảnh và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải làm như vậy. Công ước kêu gọi phải có sự bảovệ đặc biệt cho trẻ embịtước đoạtmôi trường gia đình và bảo vệ trẻ em khỏi bị chamẹ hoặc bấtkỳ ai lạm dụng, sao nhãng; xác định trẻ em có quyềnđược học hành và có mức sống đầy đủ, có quyền được vui chơi giải trí và được bảo vệ khỏi bị bóc lột vềkinh tế, tình dục và các loại bóc lột khác. Côngước còn đề cập đến nhu cầu bảo vệ chống lại sự đối xử phân biệt trong việc áp dụng pháp luật với NCTN; đến việcbảovệvà thực hiện các quyềncủatrẻem làm trái pháp luật hay nóitớicác quyềncủatrẻembịtướcquyền tự do, quyềncủatrẻ em bị quy là phạm tội.

Đối với trẻ em, NCTN, quan điểmxuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là luôn chú trọng tạo điều kiện thuận lợi nhất để các em có thể phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, thực sự xứng đáng là chủ nhân của đất nước, tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Về khía cạnh tâm lý, NCTN ở độ tuổi bẻ gãy sừng trâu, tâm sinh lý chưa ổn định, nhân cách chưa hoàn thiện, nhận thức về các vấn đề xã hội còn hạn chế, thậm chí sai lệch. NCTN thường có tính cách nông nổi, hiếu thắng, liều lĩnh trước tác động của ngoại cảnh có

38

đặc tính tò mò, hiếu kỳ, có thiên hướng bắt chước cả những sai trái của người lớn; dễ bị kích thích, khó tựkiềm chế bản thân khi có các yếu tố của ngoại cảnh tácđộng, dễ dẫn đến manh động và có các hành vi bạo lực để đối phó, chống trả sự tácđộng; thích được đặtmình vào các nhân vật điển hình trong các phim, truyện; thíchđược đề cao, muốn được mọingười khen; muốn chứng minh sự dũng cảm của mìnhđối vớingười khác. Đặc biệt, NCTN phạm tội thường hoạt động theo băng nhóm cósựchỉ đạocủa đối tượng cầmđầu, hay giao tiếp, tìm đến những đối tượngcó các

hành vi vi phạm pháp luật với tính cách ngang tàng, ương bướng, lầm lì, côn đồ… kết bạn theo kiểu “cùng hội, cùng thuyền” hay “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.

NCTN phạm tội là nhóm chủthể đặc biệt so với nhóm chủ thể là người đãthành niên. Từyêu cầu của nguyêntắcnhân đạovà nguyêntắcphân hóa trách nhiệm hình sự, việcxửlý NCTN phạm tội vừa phải tuân thủ quy định về xử lý tội phạm nói chung, vừa phải tuân thủ các quy định được xây dựng phù hợp với đặc thùcủa NCTN phạm tội. Những quyđịnhphù hợp với đặcthù của NCTN phạm tội chính là cơ sở để việc xửlý NCTN phạm tội vừa đảmbảo tính nghiêm khắc của việc xửlý về hình sự, vừa phát huy hiệu quảgiáo dục đốivới nhóm chủ thể này. Chính vì vậy, chính sách xửlý NCTN phạm tội luôn là vấn đề được ghi nhận vàthực hiện trong pháp luật hình sự nước ta. Ở các giai đoạn khác nhau, nội dung các quy định cụ thể có thể khác nhau nhưng nhìn chung chúng đều được xây dựng trên cơ sở cân nhắc các yếu tố gắn với đặc thù của NCTN phạm tội [66].

CSHS đối với NCTN phạm tội có một số dấu hiệu đặc trưng chung của chính sách pháp luật gồmdấu hiệu ý chí của Đảng, Nhà nước và mệnh lệnh quyền lực, tính chất liên kết và chính thức, tính hệ thống, tính nền tảng, tính quan niệm tổng thể, tính hiện thức, tính chất công, tính năng động và tính ổn định, tính kế hoạch, sựphụ thuộc vào các nhân tố của môi trường bên ngoài và bên trong và các dấu hiệu khác. Đồng thời, CSHS đối với NCTN phạm tội là hoạt độnghướng đến việcnâng cao chất lượng của đời sống pháp luật của xã hội, hoàn thiện pháp luật hình sự, hướng đến sựthayđổi tiến bộ của hệ thống pháp luật hình sự, đến sựphát triển pháp luật hình sựtương ứng của xã hội, đến việc nâng cao văn hóa pháp luật của công dân. CSHS đối với NCTN phạm tội là hoạt động thể hiện quan hệ của các chủthể đối với những vấn đề quan trọng nhất của phát triển đời sống pháp luật của xã

39

hội, của sự thay đổi và đổi mới các phần có ý nghĩa nhất của nó. CSHS đối với NCTN phạm tội là hoạt động được thực hiện với sự trợ giúp của cả các phương tiện pháp lý(công cụ và kỹ thuật) và của hệ thống các phương tiện riêng, nó gắn liền với việc hoạchđịnh và thực hiện các tư tưởng pháp luật mang tính chiến lược và sách lược.

Từnhững phân tích, kiến giải nêu trên, tác giả cho rằng, CSHS đối với NCTN phạm tội là hệ thống các quan điểm, phương hướng có tính chỉ đạo, chiến lược củaĐảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội, trong việc sử dụng hệ thống pháp luật hình sựđóvào thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chốngtộiphạm do NCTN thực hiện, nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật các loại tội phạm do NCTN thực hiện. Đồng thời, CSHSđốivới NCTN phạm tội là nền tảng cho việc bảo đảmvà bảo vệcác quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN phạm tội, giáo dục, giúpđỡNCTN phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

2.1.2. Đặcđiểmcủa chính sách hình sự đối với ngườichưa thành niên phạm tội

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *