Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam

Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đềtài luận án đượcthực hiện xuất phát từtính cấp thiết vềmặt lý luận vàthực tiễn:

Thứnhất, tính cấp thiết xuất phát từthực tiễn. Hoạt động xây dựng là một hoạt động phổ biến trong đời sống xã hội.Để thực hiện một dự án đầu tưxây dựng, chủđầutư phải tuân thủquy trình gồm nhiều côngđoạnkhác nhau. Trongđó,cócông đoạn tổ chức đấu thầu xây lắp để lựa chọn nhà thầu thực hiện công trình. Vềbản chất, tổchức đấuthầu xây lắp là việc lựa chọn nhà thầu thực hiện công trình xây dựng trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Trong những năm qua, quy định về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp còn thiếu đồng bộvà chưa hoàn thiện dẫn đến hậu quả: quyền cạnh tranh chính đáng của các nhà thầu không được bảo đảm; các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp diễn ra phổ biến; mặc dù tổ chức đấu thầu, nhưng không chọn được nhà thầu xứng đáng; hiện tượng tham nhũng, lãng phí vàthất thoátvốn đầu tưxây dựng phát sinh; chất lượng công trình không đáp ứng yêu cầu đặt ra. Để khắc phục những bất cập nói trên từ thực tiễn, cần phải có sự nghiên cứu thấu đáo nhữngvấn đề thực tiễn để từ đócó những giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp.

Trong bốicảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều hiệp định quốc tế cónội dung về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Những cam kết quốc tế này, cũng như những thông lệ quốc tế, kinh nghiệm của các nước khác trong đấu thầu xâylắpcần được nghiên cứu, tiếp thu đểhoàn thiện các quyđịnh pháp luật của Việt Nam về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp.

Thứhai, tính cấp thiếtvềmặt lý luận. Đểcóthểxây dựng, ban hành pháp luật và thực hiện pháp luật được tốt, những hoạt động này cần dựa trên một nền tảng lý luận vững chắc. Hoạt động đấu thầu mới được áp dụng ở nước ta, từ khi chuyển sang nền kinh tếthịtrường. Hệthống lý luận cơ bản vềbảo đảm cạnh tranh nói chung, bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp nói riêng ở Việt Nam còn đangđược xây dựng và hoàn thiện. Các nghiên cứu về bảo đảm cạnh tranh trong một lĩnh vực đặc biệt nhưđấu thầu xây lắp còn ít. Vì vậy, việc thực hiện đềtài “Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam” góp phần làm sáng tỏnhững vấn đề lý luận về bảo đảm cạnh tranh, làm cơ sở đế đánh giá thực trạng và

1

hoàn thiện pháp luật trong một lĩnh vực đặc thù là đấu thầu xây lắp là điều hết sức cần thiết.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các giải pháp khuyến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật nhằm bảođảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

– Làm rõ cơ sởlý luậnvềbảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp: khái quát chung về cạnh tranh và bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp; khái quát lýluận về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp bằng pháp luật;

– Phân tích thực trạng bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam: thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật để bảo đảm cạnh tranh trong đấuthầu xây lắp tạiViệt Nam; phân tích nguyên nhân của những hạn chế trong bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam;

– Đề xuất các giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảbảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của luận án làcác vấn đề lýluận và thực tiễn về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi vềnội dung: Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật cạnh tranh trong một lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực đấu thầu xây lắp, nghiên cứu bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, không nghiên cứu bảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ởViệt Nam theo các nguồn luật khác, không cứu pháp luật bảo đảm cạnh tranh trong các lĩnh vực khác.

Về phạm vi thời gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam trong khoảng thời gian 5 năm gần đây.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận

Luận ánsửdụng phương pháp luận của chủnghĩa duyvậtbiện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử. Luận án cũng sửdụng nền tảng lý luận của pháp luật cạnh tranh, lý luận về đấu thầu xây lắp để làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm cạnh tranh bằng pháp luật trong một lĩnh vực cụ thể là đấu thầu xây lắp.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các nhiệmvụ nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, gồm: phương pháp thống kê; phương pháp phân tích,

tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích logic; phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành.

Trong chương 1, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phân tích để hệ thống hóa các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài của luận án, trên cơ sở đó phân tích những vấn đề khoa học đã được các tác giả trước đây đề cập vànghiên cứu về cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp và bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp bằng pháp luật. Dựa trên kết quả phân tích này, tác giảsửdụng phương pháp phân tích logicđểđềxuất các vấnđềkhoa học sẽđược tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong luận án của mình.

Trong chương 2, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp các lý luận có liên quanđến đề tài luận án (lý luận về pháp luật cạnh tranh, lý luận về đấu thầu xây lắp) vàphương pháp phân tích để từ đó làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm cạnh tranh nói chung và bảo đảm cạnh tranh bằng pháp luật trong lĩnh vực đấu thầu xây lắp nói riêng.

Trong chương 3, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tíchđể làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây theo pháp luật Việt Nam;sửdụng phương pháp so sánh với khung lýthuyết bảo đảm cạnh trong đấu thầu xây lắp được phân tích ở chương 2 để đánh giáthực trạng pháp luật của Việt Nam; tác giảsửdụng phương pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành để phân tích các nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp bằng pháp luật ở nước ta hiện nay, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện ở chương 4 của luận án.

Trong chương 4, tác giả sử dụng phương pháp tổnghợp để tổnghợp các đánh giá vềthực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật ởchương 3, đồng thờisửdụng phương pháp phân tích logic, phương pháp đối chiếu so sánh với kinh nghiệm của quốc tế có liên quan để đề xuất các giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quản bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

– Làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp và bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật;

– Phân tích được thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm cạnh tranh trongđấu thầu xây lắp và thực tiễn thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ởViệt Nam hiện nay; phân tích được nguyên nhân của các hạn chế về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam;

– Luận án đềxuất mộtsốgiải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Với các nội dung và giải pháp đưa ra trong luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong biên soạn, chỉnh lý và hoàn thiện lý luận, các quy định pháp luật vềbảo đảm cạnh tranh trong đấuthầu xây lắp ởViệt Nam.Kếtquảnghiên cứucủa luận án có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho các cơ sở đào tạo ngành luật, thực thi pháp luật về cạnh tranh và pháp luật đấu thầu xây lắp ở Việt Nam hiện nay.

7. Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mởđầu, kết luận, danh mục ký hiệu viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được kết cấu thành:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp vàpháp luật bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp

Chương 3: Thực trạng bảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảbảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam

Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam
Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊNCỨULIÊN QUAN ĐẾN ĐỀTÀI LUẬN ÁN

1.1.1. Các nghiên cứu lý luận liên quan đến đề tài luận án

1.1.1.1. Các nghiên cứu lý luận có liên quan đến khái niệm, đặc điểm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp

1.1.1.2. Các nghiên cứu lý luận có liên quan đến khái niệm, đặc điểmbảo đảm cạnh tranh trong đấuthầu xây lắp; khái niệm, đặc điểmbảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật

1.1.1.3. Các nghiên cứu lý luận có liên quan đếnmục tiêu bảođảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật

1.1.1.4. Các nghiên cứu lý luận có liên quan đến bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp

1.1.1.5. Các nghiên cứu lý luận có liên quan đến chống hạn chế cạnh tranh trongđấu thầu xây lắp

1.1.1.6. Các nghiên cứu lý luận có liên quan đến chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp

12

1.1.2. Các nghiên cứu về thực tiễn liên quan đến đề tài luận án

1.1.2.1. Các nghiên cứu liên quan đến thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp

1.1.2.2. Các nghiên cứu thực tiễn thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp

1.1.3. Các nghiên cứu đã đề xuất giải pháp liên quan đến đề tài luận án

1.1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu và các vấn đề luận án sẽ kế thừa 1.1.4.1. Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận án

Về lý luận, các nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích được khái niệm,đặc điểm của cạnh tranh, nhưng chưa làm rõ được khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh trong một lĩnh vực đặc biệt là đấu thầu xây lắp. Các nghiên cứu chưa làm rõđược khái niệm, đặc điểm của bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, cũng nhưchưa làm rõ được khái niệm, đặc điểm, mục tiêu của bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật. Các nghiên cứu cũng đã phân tíchđược nội dung của bảo đảm môitrường cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, tháo gỡ các rào cản đối với nhà thầu tham gia vào các cuộc đấu thầu. Các nghiên cứu đã phân tích được nội dung của chống hạn chếcạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung. Có nghiên cứu phân tích các hành vi hạn chế cạnh tranh nhưng lại theo quyđịnh của Luật Cạnh tranh 2004, không làm rõ được các nội dung về chống hạn chếcạnh tranh ở góc độ lý luận chung. Chưa có nghiên cứu đề cập đến vấn đề lý luận vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp.

Vềphân tích thực trạng pháp luật, có nhiều nghiên cứuvềđấu thầu và đấu thầu xây lắp, nhưng mới chỉ đề cập các nội dung của đấu thầu nói chung, chưa phân tích và khai thác trên góc độ bảo đảmmôi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp. Các nghiên cứu trong và ngoàinước đã phân tích và đánh giá được thực trạng pháp luật về chống cạnh tranh nói chung theo Luật Cạnh tranh 2004.Đối với các quy định về chống hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh trong lĩnh vực cụ thể làđấu thầu xây lắp, mới có một số nghiên cứu đánh giá được thực trạng các quy định về hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu, nhưng trên cơ sở Luật Cạnh tranh 2004 (nayđã hết hiệu lực). Còn thiếu các nghiên cứu thực trạng pháp luậtvềhạn chếcạnh

17

tranh trong đấu thầu xây lắp theo Luật Cạnh tranh 2018, thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp.

Về thực tiễn thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, có nhiều nghiên cứu phản ánh thực tiễn bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp. Trong đó chỉ rõ các hành vi của bên tổ chức đấu thầu tạo rào cản đối với sự tham gia của nhà thầu vào đấu thầu, các hành vi không bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp. Các nghiên cứu cũng phản ánhđược thực tiễn chống hạn chế cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp ởViệt Nam. Các hành vi hạn chếcạnh tranh trongđấu thầu xây lắp nghiêm trọng nhất chính là các thỏa thuận hạn chếcạnh tranh. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra, phổ biến là các hành vi gian lận hồ sơ dự thầu, phá giá thầu, xâm phạm bí mật kinh doanh, gièm pha và gây rối hoạt động của các đối thủ cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Tuy vậy, các nghiên cứu chưa phân tích vàchỉ rõ được nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong việc bên tổ chức đấu thầu tạo ra các rào cản đối với các nhà thầu khi tham gia vào đấu thầu, cũng như không thực hiện tốt trách nhiệm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu. Các nghiên cứu cũng chưa phân tích làm rõ các nguyên nhân việc chống các hành vi hạn chếcạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xâylắpthời gian vừa qua không có hiệu quả tốt. Các nghiên cứu cũng chưa làm rõ được nguyên nhân dẫn đến việc không bảo đảm được cạnh tranh là do không bảo đảmđược môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp hay do việc chống hạn chế cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp chưa hiệu quả.

Về giải pháp kiến nghị, các nghiên cứu trong và ngoài nước cũngđãđề cập nhiều giải pháp nhằm sửa đổi pháp luật và nâng cao hiệu quảbảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Một số kiến nghị hoàn thiện luật đã được tiếp thu trong quátrình xây dựng Luật Cạnh tranh 2018. Tuy nhiên cònmộtsốvấn đềcần tiếp tục phải làm rõ Luật Cạnh tranh 2018 hoặc sửađổi các văn bản có liên quan đểbảo đảmtính thống nhất,đồng bộ, bảo đảm sựphù hợpvà cókhảnăng thực thi. Các nghiên cứu cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, đặc biệt là các khuyến nghị của các tổ chức có uy tín như OECD, WB, Tổ chức minh bạch Quốc tế (TI).

1.1.4.2. Các vấn đề luận án sẽ kế thừa

Vềlý luận, luận án sẽkếthừa các nghiên cứu trước đâyvềkhái niệm, đặc điểm của cạnhtranh. Luận án cũng kế thừa các nghiên cứu trước đây phân tíchvề

18

nội dung của bảo đảm môi trường cạnh tranh trongđấu thầu xây lắp, tháogỡcác rào cản đối với nhà thầu tham gia vào các cuộc đấu thầu. Các nghiên cứu đã phân tích nội dung của chống hạn chế cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung.

Về phân tích thực trạng pháp luật, luận án kế thừa các nghiên cứu trước đây vềphân tích và đánh giá thực trạng pháp luậtvềchống cạnh tranh nói chung theo Luật Cạnh tranh 2004.Kếthừa các nội dung nghiên cứu đánh giá thực trạng các quyđịnh vềhạn chếcạnh tranh trong đấuthầu, nhưng trên cơ sởLuật Cạnh tranh 2004.

Về thực tiễn thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, luận án có sử dụng một số số liệu thống kê của Cục quản lý đăng ký kinh doanh, Cục quản lýđấu thầu, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng. Kế thừa các nghiên cứu trước đâyphản ánh thực tiễn bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấuthầu xây lắp, thực tiễn chống hạn chế cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam.

Vềgiải pháp kiến nghị, luận án kếthừa mộtsốgiải pháp trong các nghiên cứu trước đây nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, đặc biệt là các khuyến nghị của các tổchức có uy tín như OECD, WB, Tổchức minh bạch Quốc tế (TI).

1.1.5. Những vấn đề mà luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu

Vềlý luận, luận án sẽtiếp tục làm rõ một sốvấn đềsau: (1) Khái niệm vàđặc điểm của cạnh tranh trong một lĩnh vực đặc biệt là đấu thầu xây lắp; (2) Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp; (3) Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu của bảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật; (4) Lý luận về chống hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp.

Về phân tích thực trạng pháp luật, luận án sẽ tiếp tục làm rõ: (1) Thực trạng các quy định về bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp;

(2) Thực trạng pháp luật vềhạnchếcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo Luật Cạnh tranh 2018, thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp.

Về thực tiễn thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, luận án sẽtiếp tục làm rõ: (1) Nguyên nhân dẫn đến các hạn chếtrong việc bên tổchức đấu thầu tạo ra các rào cảnđối với các nhà thầu khi tham gia vào đấu thầu, cũng như

19

không thực hiện tốt trách nhiệm bảo đảmmôi trường cạnh tranh lành mạnh trongđấu thầu; (2) Nguyên nhân việc chống các hành vi hạn chếcạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp thời gian vừa qua không có hiệu quảtốt; (3) Làm rõ nguyên nhân dẫn đến việc không bảo đảm được cạnh tranh là do không bảo đảm được môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp hay do việc chống hạn chế cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây

lắp chưa hiệu quả.

Về giải pháp kiến nghị, luận án tiếp tục kiến nghị một số vấn đề hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, bảo đảm sự phù hợp và có khảnăng thực thi của pháp luật vềbảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Kiến nghị áp dụng một số kinh nghiệm quốc tế để nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam.

1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu

Những vấn đề mà luận án nghiên cứu sẽ đi vào trả lời các câu hỏi sau đây:

– Cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp có đặc điểm gì? – Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là gì?

– Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật là gì?

– Nội dung của bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật là gì?

– Thực tiễn sửdụng pháp luật có bảo đảmđược cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam hiện nay không?

– Nguyên nhân nào dẫn đến không bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam? Trong các nguyên nhân đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chủ yếu?

– Để bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam, cần phải hoàn thiện pháp luật theo định hướng nào?

– Cần những giải pháp nào để hoàn thiện phápluật nhằm bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp?

– Cần những giải pháp nào đểnâng cao hiệu quảthực hiện bảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam?

1.2.2. Giả thuyết nghiên cứu

Các giả thuyết mà tác giả đưa ra nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu là:

– Cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là cạnh tranh giữa các nhà thầu trong đấu thầu xây lắp. Ngoài tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nói chung trên thị

20

trường xây lắp, cạnh tranh giữa các nhà thầu trong đấu thầu xây lắp còn gắn liền với phạm vi không gian, thời gian, đối tượng của từng cuộc đấu thầu xây lắp cụ thể.

– Bảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp chính là một chức năng của chính sách cạnh tranh trong lĩnh vực cụ thể là đấu thầu xây lắp. Nhànước sử dụng chính sách cạnh tranh để bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp.

– Bảo đảm cạnh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật là một chức năng của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực đấu thầu xây lắp. Nhà nước sử dụng pháp luật cạnh tranh để bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật.

-Nộidung của bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xâylắptheo pháp luật gồm: (1) xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp, giảm các rào cản gia nhập thị trường xây lắp nói chung và tham gia các cuộc đấu thầu xây

lắp nói riêng; (2) Chống lại các hành vihạnchếcạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp.

– Thực tiễn sử dụng pháp luật chưa bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam hiện nay.

– Nguyên nhân không bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là do chưa bảo đảm được môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp, cũng như hoạt động chống hạn chế cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh trongđấu thầu xây lắp chưa hiệu quả. Trong đó, mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng đến bảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xâylắptheothứtựgiảm dần là: không bảođảm được môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp; các hành vi thỏa thuận hạn chếcạnh tranh; các hành vi lợi dụng vịtrí thống lĩnh, vịtrí độc quyền; các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Không bảo đảm đượcmôi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp do nhiều yếu tố chi phối. Trong đó, sự chia sẻ lợi ích trong đấu thầu, sự chi phối lớn của chủ đầu tư với vai trò người mua sắm đối với quátrình chọn lựa nhà thầu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến không bảo đảm môi trường cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp và không bảo đảmđược cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam hiện nay.

– Để bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam, cần phải hoàn thiện pháp luật theođịnhhướngưu tiên hàng đầu cho xây dựng được môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp. Loại bỏ sự can thiệp, chi phối của chủ đầu tưđối với quá trình lựa chọn nhà thầu, xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch. Đồng thời cũng phải hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quảchống các hành vi hạn chếcạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh

21

trong đấu thầu xây lắp. Sửa đổi pháp luật phải tạo được sựthống nhất, đồng bộtrong hệ thống pháp luật, phù hợp với các thông lệ quốc tế và có tính khả thi.

– Một sốgiải pháp hoàn thiện pháp luật, như: quyđịnh các trường hợp bắt buộc đấu thầu điện tử;loại bỏhạn mức chỉđịnh thầu; khuyến khích áp dụng đấu thầu quốc tế rộng rãi; tăng cường loại trừ các trường hợp có xung đột lợi ích tham gia đấu thầu; cơ chế giải quyết kiến nghị trong đấu thầu độc lập để bảo vệ nhà thầu; sửa đổi cho phù hợp giữa luật cạnh tranh vớimột sốluật liên quan; ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết có liên quan.

– Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật, như: tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; tăng cường sửdụng công nghệđiện tửvào xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh và chống hạn chế cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý đấu thầu, bên tổchức đấu thầu với cơ quan cạnh tranh; tăng cường giám sát và trách nhiệm giải trình trong tổ chức đấu thầu.

1.2.3. Lý thuyết nghiên cứu

Các lý thuyết chủ yếu được luận án sử dụng để nghiên cứu và trả lời các câu hỏi đặt ra gồm có lý thuyết cạnh tranh và lý thuyết đấu thầu. Lý thuyết cạnh tranhđược sử dụng để giải quyết được khái niệm, đặc điểm của bảo đảm cạnh tranh, nội dung chống hạn chếcạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh. Lý thuyết vềđấu thầu xây lắp được sử dụng để làmrõ thêm đặc điểm của cạnh tranh trong một lĩnh vực cụ thể là đấu thầu xây lắp, làm rõ thêm đặc điểm của bảo đảm cạnh tranh trong lĩnh vực đấu thầu xây lắp, làm rõ trách nhiệm của bên tổ chức đấu thầu trong việc bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, làm rõ các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp.

Lý thuyết cạnh tranh và lý thuyết đấu thầu xây lắp cũng là cơ sở để rà soát các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, là cơ sở để nêu các kiến nghị hoàn thiện.

22

Kết luận chương 1

1. Vềlý luận, các nghiên cứu trong và ngoàinước đã phân tích được khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh, nhưng chưa làm rõ được kháiniệm và đặc điểm của cạnh tranh trong một lĩnh vực đặc biệt là đấu thầu xây lắp. Các nghiên cứu chưa làm rõ được khái niệm, đặc điểm của bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, cũng như chưa làm rõ được khái niệm, đặc điểm, mục tiêu của bảo đảm cạnh tranh trongđấu thầu xây lắp theo pháp luật. Các nghiên cứu cũng đã phân tích được nội dung của bảo đảm môi trường cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, tháo gỡ các rào cản đối với nhà thầu tham gia vào các cuộc đấu thầu. Các nghiên cứu đã phân tíchđược nội dung của chống hạn chếcạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung. Có nghiên cứu phân tích các hành vi hạn chế cạnh tranh nhưng lại theo quyđịnh của Luật Cạnh tranh 2004, không làm rõ được các nội dung về chống hạn chếcạnh tranh ở góc độ lý luận chung. Chưa có nghiên cứu đề cập đến vấn đề lý luận vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp.

2. Về phân tích thực trạng pháp luật, có nhiều nghiên cứu về đấu thầu và đấu thầu xây lắp, nhưng mới chỉ đề cập các nội dung của đấu thầu nói chung, chưa phân tích và khai thác trên góc độ bảo đảmmôi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp. Các nghiên cứu trong và ngoàinước đã phân tích và đánh giá được thực trạng pháp luật về chống cạnh tranh nói chung theo Luật Cạnh tranh 2004.Đối với các quy định về chống hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh trong lĩnh vực cụ thể làđấu thầu xây lắp, mới có một số nghiên cứu đánh giá được thực trạng các quy định về hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu, nhưng trên cơ sở Luật Cạnh tranh 2004 (nayđã hết hiệu lực). Còn thiếu các nghiên cứu thực trạng pháp luậtvềhạn chếcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo Luật Cạnh tranh 2018, thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp.

3. Vềthực tiễn thực hiện bảođảmcạnh tranh trongđấu thầu xây lắp, cónhiều nghiên cứu phản ánh thực tiễn bảo đảmmôi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp. Trong đó chỉ rõ các hành vi của bên tổ chức đấu thầu tạo rào cản đối với sự tham gia của nhà thầu vào đấu thầu, các hành vi không bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp. Các nghiên cứu cũng phản ánhđược thực tiễn chống hạn chếcạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam. Các hành vi hạn chế cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp nghiêm trọng nhất chính là các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra, phổ biến là các hành vi gian lận hồ sơ dự thầu,

23

phá giá thầu, xâm phạm bí mật kinh doanh, gièm pha và gây rối hoạt động của cácđối thủ cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Tuy vậy, các nghiên cứu chưa phân tích và chỉ rõ được nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong việc bên tổ chức đấu thầu tạo ra các rào cản đối với các nhà thầu khi tham gia vào đấu thầu, cũng như không thực hiện tốt trách nhiệm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu. Các nghiên cứu cũng chưa phân tích làm rõ các nguyên nhân việc chống các hành vi hạn chếcạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xâylắpthời gian vừa qua không có hiệu quả tốt. Các nghiên cứu cũng chưa làm rõ được nguyên nhân dẫn đến việc không bảo đảm được cạnh tranh là do không bảo đảmđược môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp hay do việc chống hạn chế cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp chưa hiệu quả.

4. Vềgiải pháp kiến nghị, các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã đềcập nhiều giải pháp nhằm sửa đổipháp luật và nâng cao hiệu quảbảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Một sốkiến nghị hoàn thiện luật đãđược tiếp thu trong quá trình xây dựng Luật Cạnh tranh 2018. Tuy nhiên còn một số vấn đề cần tiếp tục phải làm rõ Luật Cạnh tranh 2018 hoặc sửa đổi các văn bản có liên quan đểbảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, bảo đảm sự phù hợp và có khả năng thực thi. Các nghiên cứu cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, đặc biệt là các khuyến nghị của các tổ chức có uy tín như OECD, WB, Tổ chức minh bạch Quốc tế (TI).

5. Luận án sẽkếthừa các nghiên cứu trướcđâyđối với một sốvấn đềlýluận, như: khái niệm, đặc điểmcủa cạnh tranh. Luận án cũng kếthừa các nghiên cứu trước đây phân tích về nội dung của bảo đảm môi trường cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, tháo gỡ các rào cản đối với nhà thầu tham gia vào các cuộc đấu thầu. Các nghiên cứu đã phân tích nội dung của chống hạn chế cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung. Luận án sẽkếthừa các nghiên cứu của các tác giả trước đây về phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về chống cạnh tranh nói chung theo Luật Cạnh tranh 2004. Kế thừa các nội dung nghiên cứu đánh giá thực trạng các quyđịnh vềhạn chếcạnh tranh trong đấu thầu, nhưng trên cơ sởLuật Cạnh tranh 2004. Kếthừa các nghiên cứu trước đâyphản ánh thực tiễn bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu xây lắp, thực tiễn chống hạn chếcạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp ởViệt Nam, kế thừa một số giải pháp trong các nghiên cứu trước đây nhằm nâng cao hiệu

24

quả bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, đặc biệt là các khuyến nghị của các tổ chức có uy tín như OECD, WB, Tổ chức minh bạch Quốc tế (TI).

6. Các vấn đềluận án sẽtập trung làm rõ là: (1) Cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp có đặc điểm gì? Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là gì?Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật là gì? Nội dung của bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật là gì?; (2) Thực tiễn sử dụng pháp luật có bảo đảm được cạnhtranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam hiện nay không?;

(3) Nguyên nhân nào dẫn đến không bảo đảmđược cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam? Trong các nguyên nhân đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chủ

yếu?; (4) Để bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam, cần phải hoàn thiện pháp luật theo định hướng nào? Cần những giải pháp nào đểhoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảmđược cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp? Cần những giải pháp nàođể nângcao hiệu quả thực hiện bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp ở Việt Nam?

8. Các lý thuyết chủyếu được luận ánsử dụng để nghiên cứu và trả lời các câu hỏi đặt ra gồmcó lý thuyết cạnh tranh và lý thuyết đấu thầu. Lý thuyết cạnh tranh được sử dụng để giải quyết được khái niệm, đặc điểm của bảo đảm cạnh tranh, nội dung chống hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh. Lý thuyết về đấu thầu xây lắp được sử dụng để làm rõ thêm đặc điểm của cạnh tranh trong một lĩnh vực cụ thể là đấu thầu xây lắp, làm rõ thêm đặc điểm của bảo đảm cạnh tranh trong lĩnh vực đấu thầu xây lắp, làm rõ trách nhiệm của bên tổ chức đấu thầu trong việc bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, làm rõ các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp, cách xử lý riêng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu xây lắp. Lý thuyết cạnh tranh và lý thuyết đấu thầu xây lắp cũng là cơ sở để rà soát các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, là cơ sở để nêu các kiến nghị hoàn thiện.

25

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM CẠNHTRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP VÀ BẢO ĐẢM CẠNH TRANH

TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP THEO PHÁP LUẬT

2.1. NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN VỀBẢO ĐẢM CẠNH TRANH TRONGĐẤU THẦU XÂY LẮP

2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 2.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp

Cạnh tranh là một hiện tượngxuất hiện từlâu trên thếgiới và gắnliền với các nước có nền kinh tế thị trường. Ở các nước này, pháp luật thừa nhận quyền sởhữu tài sản, quyền tự do kinh doanh và quyền tự do ý chí. Trên cơ sở đó, nhiều chủthể thuộc các thành phần khác nhau được tham gia vào hoạt động của nền kinh tế và được cạnh tranh với nhau. Khái niệm cạnh tranh được tiếp cận trên nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nếu tiếp cận theo góc độ kinh tế, pháp lý, có một số khái niệm cạnh tranh điển hình như: Theo từ điển luật học tiếng Anh của (1968), “cạnh tranh được hiểu là hành vi ganh đua, thường phát sinh từnhu cầu kiếm lợi, là nỗ lực độc lập của hai hoặc nhiều bên bằng việc đề xuất các điều kiện thuận lợi nhất nhằm giành được lợi ích từbên thứba”[165, tr.355,356]; Theo từđiển tiếng Việt của Viện Ngônngữ học(2003), “cạnh tranh là cố gắng dành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những

lợi ích như nhau”[145, tr.112]; Theo từđiểnKinh doanh của Anh (1992), “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”[57, tr.19]; Theo Ely (1901), “cạnh tranh theo nghĩa rộng, có nghĩa là một cuộc đấu tranh của lợi ích xung đột”[156, tr.55-70]; Theo Giáo trình Luật Cạnh tranhcủaTrường Đạihọc Ngoại thương (2013), “Cạnh tranh được coi là hành vi của hai hoặc nhiều chủ thểtrong kinh doanh với mục đích giành cho mình những ưu thế cao nhất so với chủthể khác” [97, tr.8]. Như vậy, cạnh tranh có thể hiểu là hành vi ganh đua, nhằm cốgắng giành phần thắng về phía mình, giữa các chủ thể cùng mong muốn dành được lợi ích từ bên thứ ba.

Đấu thầu là một phương thức lựa chọn đối tác cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Từ đời sốngthực tiễn, những lý luận cơ bản về đấu thầu dưới góc độ kinh tế, pháp lý đã được hình thànhởcácnước có nềnkinh tếthịtrường.Từkhi nhà nước ta

26

chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường,đấu thầu đã từng bước được áp dụng và ghi nhận trong các văn bản pháp lý ở nước ta. Theotừđiển luật học tiếng Anh của trường Đại học Oxford (1991), “đấuthầu làmột phương thức mua sắm mà trong đó những người cung ứng được mời để đưa ra những đề nghị cạnh tranh cho việc mua sắm một lượng hàng hoá hay dịch vụ” [149, tr.40]. Theo UNCITRAL (2011) [197], “đấu thầu là tiến hành mua sắm hàng hoá, xây dựng và dịch vụ theo một cách nào đó” [175]. Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữhọc(2003), “đấu thầu là đọcông khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”[145, tr.302]. Theo Giáo trình Kỹthuật nghiệp vụngoại thương của Trường đại học Ngoại thương (1996) , “đấu thầu quốc tế là một phương thức giaodịch đặc biệttrong đó người mua (người gọi thầu) công bố trước các điều kiện mua hàng để người bán (người dự thầu) báo giá cả và các điều kiện trả tiền, sau đó người mua sẽ chọn mua của người báo giá rẻ nhất và điều kiện tín dụng phù hợp hơn cả với những điều kiện mà người mua đã nêu” [133, tr.17]. Khái niệmđấu thầu cũng đãđược ghi nhận trong các văn bản pháp luật của Việt Nam. Theo Khoản 1 Điều 1 Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghịđịnh số 43/CP ngày 16/7/1996,“đấuthầu là quá trình lựa chọn nhà thầuđápứng được cácyêu cầu của bên mời thầu trên cơsở cạnh tranh giữa các nhà thầu”.Theo Khoản 1Điều 3 Quychếđấu thầu ban hành kèm theo Nghịđịnhsố88/1999/NĐ-CP,“đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầuđápứngđược các yêu cầucủabên mời thầu”. Theo Khoản 2 Điều 4 Luật Đấu thầu 2005, “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhàthầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật này, trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệuquảkinh tế”. Theo Khoản 12 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013, “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư đểký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sửdụng đất trên cơsởbảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quảkinhtế“. Từcác nguồn từđiển, giáo trình, văn bản nêu trênđã cho thấy cónhiều cách định nghĩa khác nhau về đấu thầu. Tuy vậy, về cơ bản không có sự khác biệt lớn giữa các định nghĩa. Đấu thầu được hiểu là việc lựa chọn nhà thầu (hoặc nhà đầu tư) để giao kết hợp đồng, trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

27

Căn cứ vào đối tượng của đấu thầu, đấu thầu được phân chia thành các loại:

đấuthầu hàng hóa,đấu thầu xây lắp, đấuthầu dịch vụvà đấu thầu hỗn hợp. Đấu thầu xây lắp là quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện các công việc xây lắp. Theo luật mẫu về đấu thầu của UNCITRAL (1994), “xây lắp là tất cả các công trình liên quan đến xây dựng, tái thiết, dỡ bỏ, sửa chữa và đổi mới một tòa nhà, cấu trúc công trình cũng như là chuẩn bị chỗ, đào móng, lắp đặt công trình, xây dựng, lắp đặt các trang thiết bị vật chất, trang trí và hoàn thiện, cũng như các dịch vụ phụ đối với xây dựng như khoan, vẽ bản đồ, chụp ảnh vệ tinh, nghiên cứu địa chấn và các dịch vụtương tự được cung cấp qua hợp đồng đấu thầu, nếu như giá trị của các dịch vụ đókhông vượt quá giá trị của bản thân công trình” [174]. Theo quy định về đấu thầu của Liên minh châu Âu (2014), “xây lắp là sản phẩm của hoạt động xây dựng hoặc công trình xây dựng mà nóđápứngđầyđủcác chức năng kinh tế, kỹthuật nhất định”[147]. Khoản 45Điều 4 Luật Đấu thầu 2013, “xâylắplà những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt công trình, hạng mục công trình”.

Như vậy, theo quan điểm của tác giả, đấu thầu xây lắp được hiểu là quá trình

lựa chọn nhà thầu để thực hiện những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt công trình, hạng mục công trình trên cơ sởbảo đảmcạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

Xuất phát từkhái niệm chung vềcạnh tranh và đấu thầu xây lắp nêu trên, cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp được hiểu là sự ganh đua, cố gắng giành phần thắng vềphía mình, giữa các nhà thầu trong quá trình đấu thầu đểgiànhđược quyền thực hiện những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt công trình, hạng mụccông trình. Khái niệm nàyđượcsửdụng thống nhất trong toàn bộnội dung đề tài nghiên cứu của tác giả.

2.1.1.2. Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp

Xuất phát từkhái niệm cạnh tranh trongđấu thầu xây lắp, hoạt động cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp có những đặc trưng cơ bản sau:

– Thứ nhất, cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là cạnh tranh giữa các nhà thầu xây lắp.Nếunhư cạnh tranh nói chung là cạnh tranh giữa cácchủthểkinh doanh trong nền kinh tế, thì cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là cạnh tranh giữa các chủthể đặc biệt – đó là các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp. Cạnh tranh giữa các nhà thầu trong đấu thầu xây lắp chỉtồntại trong nền kinh tếthịtrường, chấp nhận nhiều hình thức sởhữu khác nhau và nhiều nhà thầu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, chấp nhận quyền tự do kinh doanh của các nhà thầu, quyền tự do

28

hợp đồngcủa các nhà thầu. Các nhà thầu thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo các quyđịnhcủa pháp luật, có đủnhững điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp, cùng tham gia vào thị trường cung ứng các dịch vụ xây lắp cho các chủthểcó nhu cầu vềxây lắp công trình. Khi có thông báo mời thầu, nhà thầu cóthểđộc lập hoặc liên danh dự thầu để cạnh tranh với các nhà thầu khác.

– Thứ hai, cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là sự ganh đua giữa các nhà thầu xây lắp nhằm giành phần thắng về phía mình. Trong nền kinh tế thì trường có nhiều nhà thầu xây lắp tham gia vào thị trường cung ứng, để giành phần thắng từ những người mua sắm công trình, các nhà thầu phải nỗ lực ganh đua thông qua các yếu tốcơ bản về chất lượng, giá cả và phương pháp thi công. Chủ đầu tư luôn muốn chọn được nhà thầu xây dựng công trình vừa đảm bảo đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật nhưhồsơ mời thầu đã nêu, vừa có giá cả hợp lý. Chính vì vậy, các nhà thầu tập trung cạnh tranh bằng việc minh chứng khảnăng vềnăng lực, kinh nghiệm chuyên môn bảo đảm đáp ứng được cáctiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng công trình. Ngoài yếu tố hàngđầu là chất lượng, các nhà thầu còn cạnh tranh vềgiá bỏthầu. Thông thường với chất lượng công trình tương đương, giá bỏ thầu thấp hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn. Bên cạnh đó, các nhà thầu còn cạnh tranh về phương pháp thi công, nhằm bảo đảm công trình được thực hiện đúng tiến độ thời gian, bảo đảm tiết kiệm chi phíphù hợp với mức giá thấp đã đề xuất. Tất cả các yếu tố cạnh tranh về chất lượng, giácả, phương pháp thi công của các nhà thầu được thể hiện thông qua hồ sơ dự thầu. Nếu hồ sơ mời thầu được coi như đề bài, thì hồ sơ dự thầu của các nhà thầu được coi như bài làm của các nhà thầu. Bên mời thầu sẽ đánh giá, chấm điểm các hồ sơdự thầu để xếp hạng các nhà thầu. Tiền mua hồ sơ dự thầu, công sức, chi phí chuẩn bị cho hồ sơ dự thầu, những cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ do dành công sức chuẩn bịthamdựđấu thầu và uy tín của nhà thầu sẽbịđánh mất nếu không không trúng thầu. Chính vì vậy, để có thể trúng thầu, các nhà thầu luôn cố gắng dành thời gian, công sức để chuẩn bị thật kỹ cho hồ sơ dự thầu của mình.

–Thứba, mục đích của sựganh đua giữa các nhà thầu (sựganh đua của những người cung ứng) nhằm giành được quyền giao kết và thực hiện hợp đồng xây

lắp công trình với chủđầu tư (người mua sắmcông trình), qua đó thu được lợi nhuận. Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý và sử dụng vốn đểđầu tưxây dựng công trình. Vì bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn, cácdự án đầu tưxây dựng có sửdụng vốn nhà nước hoặc vốnvay của cáctổchức quốc tế, thường bắt buộc chủ đầu tưphải lựa chọn nhà thầu thông qua tổ chức đấu thầu. Chủ đầu tư có

29

thể tự mình hoặc thông qua bên mời thầu tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà thầu xây dựng thắng thầu và trao việc thực hiện gói thầu xâylắpthông qua hợp đồng. Quađấu thầu xây lắp, mục đích của chủ đầu tư làtìm được đối tácgiao kết thực hiện gói thầu. Trong khi đó, mục đích của nhà thầu là giành được hợp đồng thi công công trình xây dựng, vừa giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động, vừa tínhđược các chi phí khấu hao cho thiết bị, công cụ xây dựng của mình, sau khi nghiệm thu phần việc thi công, sẽđược chủđầutư thanh toán,trừđi các chi phí đầu vào, nhà thầu có khả năng thu được lợi nhuận. Lợi nhuận là mục tiêu chính của cácchủthể kinh doanh nói chung và các nhà thầu xây lắp khi tham gia thị trường, là động lực để các nhà thầu ganh đua, cạnh tranh với nhau giành khách hàng, thị trường.

Thứ tư, cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là cạnh tranh trong một lĩnh vực thịtrườngđặc biệt. Tính chất đặc biệt của lĩnh vực thịtrường nàybắtnguồn từsản phẩm cung ứng là các công trình xây dựng. Nhu cầu xây dựng các công trình luôn phát sinh phổ biến ở bất kỳ xã hội nào, bất kỳ giai đoạn nào. Tuy vậy, sản phẩm nàyđòi hỏiphải do những cá nhân, tổchức có năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp ởmức độ nhất định mới có thể tạo thành. Vì vậy, các chủ thể tham gia vào thị trường cung ứng này phải đáp ứng được những điều kiện ngành nghề xây lắp theo quy định của pháp luật khi thành lập và hành nghề trên thịtrường. Do các công trình xây dựng thường được đầu tưvới nguồn vốn lớn, lợi nhuận tiềm năng nếu giành được việc thi công công trình lớn, dẫn đến tính chất và mức độ cạnh tranh giữa các nhàthầu trong lĩnh vực thị trường này hết sức quyết liệt. Các nhà thầu sẽ tìm mọi biện pháp có thể để giành được quyền giao kết và thực hiện hợp đồng xây lắp.

Thứnăm, cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp luôn gắn liền với vai trò quyết định củangười mua sắm công trình. Căncứvào ýchí của ngườimua sắm công trình, người tài trợ vốn mua sắm và các quy định pháp luật có liên quan, người mua sắm công trình có thể giới hạn phạm vi về không gian tổ chức đấu thầu, thời gian tổchức đấu thầu và các nhà thầu được tham gia đấu thầu và các nội dung của yêu cầu mua sắm. Chỉ các nhà thầu thuộc phạm vi đối tượng được nêu rõ trong hồ sơ mời thầu mới được quyền tham gia cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp làcạnh tranh giữa các nhà thầu đủđiều kiện và có nhu cầu tham gia cuộc thầu. Sựcạnh tranh giữa các nhà thầu cũng chỉ trong thời gian của cuộc đấu thầu. Nội dung cạnh tranh giữa các nhà thầu (vềchất lượng, giá cả, phương pháp thi công) cũng gắn liền với các nội dung yêu cầu mua sắm được thể hiện trong hồ sơ mời thầu.

30

2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh trong đấu thầu xâylắp

Cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp chịu ảnhhưởng của nhiều yếutốkhác nhau trong môi trường cạnh tranh:

Thứnhất, cạnh tranhbịảnh hưởng bởi chính hành vi củacác chủthểtrực tiếp tham gia vào đấu thầu xây lắp. Với vai trò là người mua sắm, chủ đầu tư và các chủ thể khác thuộc bên tổ chức đấu thầu có vai trò quyết định đối với sự cạnh tranh trong đấu thầu. Các hành vi của bên tổ chức đấu thầu tạo ra các ràocản đối với sựtham giacủanhà thầu vào đấu thầu, không bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh tranh giữa các nhà thầu trong đấu thầu. Bên cạnh đó, cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp còn bịảnh hưởng bởi chính các nhà thầu tham gia vàođấu thầu.Các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nhà thầu ảnhhưởngđến cạnh tranh giữa họ, ảnh hưởng đến kết quả lựa chọn nhà thầu.

Thứhai,yếutốpháp luật có ảnh hưởng lớn đến cạnh tranh trongđấu thầu xây lắp. Pháp luật là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động đấu thầu xây lắp. Tạo dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp là điều kiện cần đểthực hiện tốt việc bảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Trên cơ sở các quy định pháp luật, các nhà thầu biết đểthực hiện các quyền của mình trong quá trình tham gia vào đấu thầu xây lắp, nhưcác quyền tiếp cận thông tin và tham gia đấu thầu, quyền được đánh giá công bằng, quyền khiếu nại, kiến nghị, khởi kiện khi có hành vi xâm phạm quyền cạnh tranh chính đáng của mình. Cũng trên cơ sở các quy định pháp luật, bên tổ chức đấu thầu biết được nghĩa vụ của mình khi không được thực hiện những hành vi bị cấm gây hạn chếcạnh tranhđối với các nhà thầu, như: chọn hình thức đấuthầu không cócạnh tranh; cản trở, ngăn cản nhà thầu tham dự đấu thầu; đánh giá không công bằng các hồsơ dựthầu. Dựa trên cơ sởpháp luật, các cơ quan nhà nước mới thực hiện được chức năng quản lý nhà nước, chức năng giám sát, chức năng tư pháp về bảo đảm cạnh tranh. Nếu pháp luật còn chưa hoàn chỉnh, hoạt động đấu thầu xây lắp, sẽthiếu các công cụ hữu hiệu để điều chỉnh, dẫn đến không bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp.

Thứba, yếu tốchính trịcó ảnh hưởng khôngnhỏđến cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Những trường hợpdựán có liên quanđến bí mật quốc gia, an ninh, quốc phòng. Việc lựa chọn trong những trường hợp có yếu tố khách quan về chính trị này cần phải đáp ứng những yêu cầu nhất định về bảo mật của phía bên tổ chức

31

mua sắm công trình và người thực hiện công trình. Vì vậy, quy trình lựa chọn nhàthầu sẽ áp dụng theo những quy tắc đặc thù, có thể không bảo đảm cạnh tranh nhưcác dự án đầu tư xây dựng thông thường. Trong một số trường hợp, nếu tổ chức đấu thầu cạnh tranh thật sự rộng rãi, các nhà thầu trong nước hoặc nhà thầu địa phương không đủ sức cạnh tranh. Vì vậy, để bảo vệ lợi ích của các nhà thầu trong nước hoặc nhà thầu địa phương, cơ quan nhà nước có những quy định hoặc quyết định cá biệt đối với việc tổ chức đấu thầu, để không tổ chức đấu thầu cạnh tranh rộng rãi. Cácảnh hưởng chủ quan khác về chính trị, nhưsự chỉ đạo, yêu cầu hỗ trợ của các cán bộlãnh đạo, cơ quan nhà nước đối với những nhà thầu nhất địnhlàm cho bên tổchức đấu thầu phải tìm cách cho nhà thầu đó trúng thầu. Điều nàydẫnđến cạnh tranh lành mạnh thực chất không được bảo đảm. Chủ đầu tư là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổchức được giao thaymặtchủsởhữuvốn. Trườnghợpsửdụng vốn ngân sách nhà nước, chủ đầu tư luôn chịu sự tác động của các cán bộ, cơ quan nhà nước có liên quan đến cấp phát vốn đầu tư xây dựng công trình. Trong hệ thống chính trị, các cơ quan nhà nước,các tổchức chính trị, chính trị- xã hội có mối quan hệđa dạng, liên hệ, phối hợp chặt chẽvới nhau. Cơ chếcấp – phát, xin – cho trong hệthống bộmáy nhà nước, việc tùy tiện can thiệp vào công việc cấp dưới còn phổbiến. Cơ chế giới thiệu, luân chuyển, đánh giá cán bộ chịu ảnh hưởng lớn từ các cán bộ, cơ quan cấp trên. Vì vậy, ngoài các cánbộ vàcơ quan ảnh hưởng trực tiếp đến việc cấp phát vốn, quyết định cho đầu tư xây dựng công trình, còn có nhiều cán bộ, cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, chính trị – xã hội có khả năng gây ảnh hưởngđến chủđầu tưđểra quyết định có lợicho một nhà thầu nào đó. Trong những trường hợp này, rất khó để chủ đầu tư tổ chức đấu thầu có cạnh tranh lành mạnh.

Thứ tư, yếu tố kinh tế có khả năng chi phối, ảnh hưởng đến cạnh tranh trongđấu thầu xây lắp. Các chủ thể khi tham gia vào đấu thầu xây lắp đều có những vị trí, vai trò nhất định. Hành vi thực hiện của các chủ thể chịu sự chi phối bởi lợi ích cánhân. Vì lợi ích cá nhân của mình, các chủthểcó khảnăng thực hiện các hành vi không bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp.

Đối với các nhà thầu lớn, có kinh nghiệm vàkhảnăng cạnh tranh cao, nếu tham gia đấu thầu xây lắp có cạnh tranh hoàn hảo thì có khả năng trúng thầu, nhưng vì phải cạnh tranh với nhà thầu khác nên lợi nhuận thu được nếu trúng thầu không cao. Ngược lại, nếu tham gia đấu thầu không bảo đảmcạnh tranh, khảnăng trúng

rất cao do nhà thầu lớn có mối quan hệ rộng, chấp nhận chia sẻ lợi ích với tỷ lệ cao.Đồng thời, do không bảo đảm cạnh tranh, nên giá trúng thầu cao, giúp nhà thầu thu

32

được lợi nhuận cao hơn trường hợp có cạnh tranh hoàn hảo. Như vậy, nhà thầu lớn, có kinh nghiệm và khảnăng cạnh tranh cao vẫn có khuynh hướng mong muốn không bảo đảm cạnh tranh để có lợi. Đối với nhà thầu nhỏ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh yếu, nếu tham gia đấu thầu xây lắp có cạnh tranh hoàn hảo, tỷlệtrượt cao, không có được lợi nhuận mà còn mất chi phí chuẩn bị hồ sơ dự thầu và tham gia đấu thầu. Ngược lại, nếu tham gia đấu thầu không có bảo đảm cạnh tranh, nhàthầu với năng lực kém vẫn có khảnăng trúng thầu và thu được lợiích từviệc thi công gói thầu, nếu được chủ đầu tư tìm cách đánh giá thiên vị. Như vậy, đối với nhàthầu nhỏ, năng lựccạnh tranh kém, ngoài việc tham giađấu thầu một cách không bảo đảm cạnh tranh thì không còn cách nào khác để có được lợi ích. Tóm lại, cả nhàthầu lớn và nhà thầu nhỏ, khi tham gia đấu thầu xây lắp đều có khuynh hướng mong muốn không có cạnh tranh hoàn hảo. Từ góc độ áp dụng lý thuyết trò chơi vào trong hoạt động đấu thầu xây lắp cũng cho thấy kết quả tương tự. Khi có nhiều nhà thầu tham gia vào đấu thầu đều mong muốn trúng thầu, dựđoán nhà thầu khác cókhuynh hướng thực hiện các hành vi không bảo đảmcạnh tranh đểgiành cơ hội trúng thầu từ chủ đầu tư, dẫn đến kết quả là các nhà thầu đều tìmcách để cuộc đấu thầu không có cạnh tranh lành mạnh, hoàn hảo.

Chủđầu tư là tổchức sởhữu vốn hoặc được giao sởhữu vốn đầutư công trình xây dựng, có vị trí quan trọng trong quá trình lựa chọn nhà thầu trúng thầu vàký kết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu. Nếu thực hiện đấu thầu có cạnh tranh hoàn hảo, mặc dù tiết kiệm được ngân sách mua sắm công trình cho nhà nước, nhưng lại không có được lợi ích cá nhân nào khác. Ngược lại, nếu thực hiện đấu thầu không bảo đảmcạnh tranh, sẽđược chiasẻlợi ích từnhà thầu trúng thầu, khi tạonhững điều kiện thuận lợi nhất định không bảo đảm cạnh tranh để họ trúng thầu và có lợi nhuận từ việc xây lắp công trình. Trong đấu thầu không bảo đảm cạnh tranh, tỷ lệtiết kiệm ngân sách không cao, nhưng không là lãng phí tiền của chính chủ đầu tư. Vì vậy, chủ đầu tư công trình xây dựng khi lựa chọn nhà thầu, vì lợi ích cá nhân của mình, luôn mong muốn và thực hiện các hành vi không bảo đảm cạnh tranh.

Người có thẩm quyền là người quyết định phê duyệt dự ánđầu tưxây dựng, có vai trò kiểm tra, giám sát, theo dõi việc tổ chức đấu thầu và thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp tổchức đấu thầu không bảo đảmcạnh tranh, lợi ích có được từnhà thầu trúng thầu hoặc chủđầu tư mới có khảnăng chia sẻcho người có thẩm quyền để cóđược kết quả phêduyệt các quyết định của chủ đầu tư. Vì vậy, người có thẩm quyền thường có xu hướng chấp thuận theo ý chí của chủ đầu tư.

33

Đối với bên mời thầu do chủđầu tưđảmnhiệm hoặc quyết định thành lập, nếu tổchức đấu thầu không bảo đảmcạnh tranh, ngoài nhận đượccác chi phí tổchức đấu thầu theo quy định, còn có khả năng được chủ đầu tư lựa chọn trong các

lần tổ chức đấu thầu tiếp theo, thậm chí còn được chia sẻ một phần lợi ích. Ngược lại, nếu tổ chức đấu thầu không theo ý chí của chủ đầu tư, sẽ không có cơ hội được tham gia các lần tổ chức đấu thầu tiếp theo. Tương tự như vậy, các thành viên tham gia tổ chuyên gia, tổ thẩm định, tổ tư vấn giám sát cũng vì lợi ích của mình mà thực hiện các hành vi không bảo đảm cạnh tranh theo ý chí của bên mời thầu, người cóthẩm quyền, chủ đầu tư.

Thứ năm, cạnh tranh còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội khác, như ý thức pháp lý của những người tham gia đấu thầu, văn hóa kinh doanh của các nhà

thầu … Nếu những người tham gia vào hoạt động đấu thầu không được đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng nghiệp vụ và pháp lý về đấu thầu xây lắp và bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, sẽ dẫn đến không hiểu và thực hiện được đúng các yêu cầu về bảo đảm cạnh tranh. Nhà thầu không được đào tạo, bồi dưỡng các quy định của pháp luật cũng không biết cách tự bảo vệ hoặc yêu cầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi quyền cạnh tranh chính đáng của mình bị xâm phạm. Nếu ý thức pháp luật không tốt, những người tham gia vào hoạt động đấu thầu xây lắp, dù hiểu biết các quy định pháp luật về bảo đảm cạnh tranh vẫn có khả năng cố tình làm sai, dẫn đến cạnh tranh trong hoạt động tổ chức đấu thầu xâylắp vẫn không được bảo đảm.

Văn hóa kinh doanh cộng sinh giữa các doanh nghiệp hoặc giữa doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước cũng dẫn đến các khả năng thông đồng giữa các nhà thầu hoặc giữa nhà thầu với bên tổchức đấu thầu, làm ảnhhưởng đến cạnh tranh lành mạnh trong tổ chức đấu thầu xây lắp. Kinh doanh cùng ngành nghề, cùng hợp tác làm ăn, cùng tham gia hiệp hội, dẫn đến nhiều nhà thầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sẵn sàng hợp tác và chia sẻ lợi ích để cùng tồn tại, phát triển. Nhiều người có thẩm quyền đã được doanh nghiệp hậu thuẫn trong tranhcửđểcó vịtrítrong bộmáy nhà nước, hậu thuẫn trong triển khai các hoạt động quản lý, điều hành. Nhiều chủthểđược làmchủđầu tư do có sựhậuthuẫncủadoanh nghiệp. Trong bối cảnh nguồn ngân sách hạn hẹp mà nhu cầu đầu tư xây dựng công trình rất lớn, nhiều doanh nghiệp bỏ chi phí thực hiện vận độnghành lang, chạy dự án cho chủđầu tư. Khi đó, chủđầu tư, người có thẩm quyền phải tìmmọicách đểdoanh nghiệp đãbỏtiền chạydựán được trúng thầu. Nhiều trườnghợpngười có thẩm quyền, chủ đầu tư có doanh nghiệp sân sau, do có cổ phần, vốn góp hoặc được chia

34

sẻ lợi ích, cũng sẽ tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp sân sau của mình trúng thầu. Trong xã hội còn ảnh hưởng nhiều của văn hóa làng xã, mối quan hệ họ hàng, thân thuộc chằng chịt trong xã hội. Nếu không tách bạch quan hệ gia đình, họ hàng với công việc nhà nước, việc kinh doanh, thì dễ có những hành vi thông đồng giữa bên

tổ chức đấu thầu và nhà thầu. Khi đó, bên tổ chức đấu thầu sẽ cố gắng tìm mọi cáchđể cho nhà thầu có mối quan hệ gia đình, họ hàng của mình trúng thầu.

2.1.3. Sự cần thiết phải bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xâylắp

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO ĐẢM CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *