Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong luật nhân quyền quốc tế, phần nội dung về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương chiếm vị trí rất quan trọng. Kể từ khi Liên Hợp Quốc thành lập (1945), nhiều văn kiện quốc tế về nhân quyềnđã được tổ chức này thông qua, trong đó có một số lượng ngày càng lớn văn kiện đề cập đến quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Đây là các nhóm, cộng đồng có vị thếvề chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiếnhọ cónguy cơ cao hơn trong việc bịbỏquên haybịvi phạm các quyền con người,bởivậy, họcầnđược chú ý bảovệ đặc biệtso với những nhóm, cộng đồng người khác. Nhóm này bao gồm:phụnữ, trẻ em, ngườikhuyết tật, ngườisống chungvớiHIV, người di tản hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người thiểu

số,ngườilaođộngditrú… Trong đó, ngườikhuyếttậtnói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng được coi là một trong các nhóm thiểu số lớn nhất trên thếgiới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất.

Quyềncủa ngườikhuyếttật được phápluật quốc tế ghi nhận, và ngày càng được quan tâm đặc biệt. Tháng 11 năm 1989, Công ước về Quyền trẻ emđược thông qua, đây là Công ước đầu tiên về quyền con người mà trong đó códẫn chiếu cụ thể đến người khuyết tật, và có một điều riêng biệt về quyền vànhu cầu của trẻ em khuyết tật (Điều 23). Sau đó, hàng loạt các hướng dẫn, các quy tắc, các khuyếnnghị về vấn đề nàyđược ban hành nhằm thúc đẩy và bảo vệ hơn nữa quyền của nhóm người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng, quan trọng nhất là Công ước về quyền của những người khuyếttậtđược Đạihội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 03/2007 đã đánh dấu mộtbước ngoặt trongcuộc đấutranh cho quyềncủanhững người khuyết tật trên thế giới.

ỞViệt Nam, ngườikhuyếttậtđược hưởngtấtcả các quyền công dân cơ bản, không có bất kỳ sự phân biệtđối xử nàodựa trên tình trạng khuyết tật của họ. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng quy định những đối xử ưu đãi với người khuyết tật, nhằm bù đắp những thiệt thòi của họ, cũng như để đảm bảo sựbìnhđẳngthực chấtvề các quyền và cơ hộivớimọicông dân. Đặc biệt, Luậtngườikhuyếttậtnăm 2010 vừa mớiđược thông qua, đã góp phần cải thiệnđờisốngngườikhuyết tật, làm thayđổinhận thức xã hộivề người khuyết tật, tạomôi trường pháp lý, môi trường xã hộithuậnlợiđể người khuyếttậthòa nhập cộngđồng,khuyến khích cáctổchức, cá nhân trong vàngoài nước tham gia trợ giúp người khuyết tật.

Nhưng trên thực tế, xuất phát từ việc bản thân người khuyếttật bị hạn chế trong việc truyền tải nhu cầu, mong muốn của mình tới cộng đồng, xã hội, cũng như những cơ quan hoạch định chính sách, pháp luật, nên các quy định Nhà nước đưa ra thường dựa trên cơsởsuy đoánvề mức độsuy giảm sức khỏe của họ. Những suy đoánđóđa phần chứa đựngyếutốchủquan nên nhiều khi không đáp ứng được nhu cầu, không phù hợp với khả năng và chưa thực sự tạođiều kiện cho người khuyết tật. Bên cạnh đó, họ là đối tượng phải chịu những khó khăn rất lớn về mặt vật chất và tinh thần, đồng thời, tình trạng khuyếttậtkhiếnhọđã và đang phải chịu những thiệt thòi trêntấtcảcác phương diện của đời sống xã hội mặc dù xét ở góc độ con người, tất cả sinh rađềucó những nhucầucơbảngiống nhauvề sựtựdo, bình đẳng, được tôn trọng phẩm giá, được cống hiến, được khẳng định giá trị cá nhân…

Đặc biệt, với những trẻ em khuyết tật, thì những khó khăn còn tăng lênđáng kể. Bởitrước hết, trẻ em nói chungvốnlàđốitượngcầnsựquan tâm, chăm sóc, được tạomọiđiềukiện thuậnlợichosựphát triểncả về thểchất lẫntinh thần. Tuy nhiên, với những trẻ em mang trong mình nhiều thiệt thòi từ khi sinh ra như: dị tậtbẩmsinh; vĩnh viễn không nghe được âm thanh của cuộc sống; khôngđược trò chuyện như các bạncùng trang lứa; hay không

cảmnhận thấy ánh sáng của cuộc đời… thì việc tiếp cận những gì tốt đẹp nhất dườngnhư quá xa vời. Phải sống trongsựkì thị, phân biệtđốixửcủa mọi người xung quanh, kết hợp với mặc cảm tự ti về bản thân mình, khiến nhiều trẻ em khuyết tật không dám đến các nơi công cộng vì sợ những ánh mắt để ý; không dámđếntrường vì sợ bạn bè trêu chọc… Bên cạnh đó, một thực tế chỉra rằng, đa số trẻ em khuyếttậtđềusống trong nghèo khó; và dễ bị bạo hành hoặc lạm dụng; bị đối xử vô trách nhiệm, ngược đãi hay bóc lột; trong khi đó, việc tiếp cậnvớisự bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp lại gặp nhiều trở ngại vìnhững lý do khách quan và chủ quan. Có thể thấy, trẻ em khuyếttậtthực sựphải trải qua nhiều khó khăn, phải đối mặt với nhiều rào cảnđể được hưởng trọnvẹnnhững quyềnvốncó của mình. Ràocảnnày khôngchỉnằmở bản thân của sự khuyết tật, mà còn là tổng hợp những trở ngạivề mặtxã hội, văn hóa, quan điểmvà cảvề vậtchất mà trẻ em khuyếttậtphảiđối mặttrong đời sống hàng ngày.

Chính vì những lý do trên, mà tác giả đã chọn chủ đề “Bảo đảm quyền củatrẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” làmđề tài luận vănthạc sỹcủa mình. Vớicách tiếpcậnthông qua lăng kính nhân quyền, luận văn mong muốn góp phần tích cực vào việc đề xuất những ý kiến, giải pháp trong hoạchđịnhvà thực thi chính sách pháp luậtvề quyền của trẻ em khuyếttậtở Việt Nam. Đồng thời qua đó, nâng cao hiểu biết, thái độ cảm thông đến nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu

– Nghiên cứu tổng quan về tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam.

– Đánh giá đượcthực trạngđảmbảoquyền của trẻ em khuyếttậtởnước ta hiện nay trong các khía cạnh xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật,

từ phía cộng đồng… Từ đó rút ra được các quyền mà trẻ em khuyếttật dễ bịxâm phạm và bị bỏ qua trên thực tế.

-Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa chính sáchvề bảođảmquyềncủa trẻem khuyết tật ở Việt nam hiện nay, hướng đến phù hợp với pháp luật quốc tế.

3.2. Nhiệm vụ

– Nghiên cứu, làm rõ vấn đề lý luận về quyền của trẻ em khuyết tật.

– Nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật.

– Đánh giá thực trạng việc thực thi pháp luậtvề bảo đảmquyềncủa trẻem khuyếttật ở ViệtNam: những thành tựu đạt được, hạn chế tồn tại, và rút ra được nguyên nhân của thành tựu, hạn chế đó.

– Từ đó, đưa ra khuyến nghị nhằmcảithiện tính bất cập của pháp luật và đề xuất các giải pháp nhằmbảođảmquyền của trẻ em khuyếttậtở Việt Nam hiện nay.

4. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung vào các vấn đề sau:

– Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật. – Đánh giá tính đúngđắn, mức độphùhợpgiữa các quyđịnhtrong

pháp luật Việt Namvớitình hình thực tế, đồngthời xem xét các yếutốtác động tới việc thực thi pháp luật về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật.

5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

– Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy

vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lenin; Các nguyêntắcnềntảngcủaluật nhân quyền quốctế;Các quanđiểmvềquyền của người khuyết tật nói chung và của trẻ em khuyết tật nói riêng trên thế giới.

– Luận vănsửdụng các phương pháp nghiêncứusau: phân tích, tổng

hợp, xã hội học, thống kê, so sánh, đánh giá… để làm sáng tỏ các vấn đề liên quan, đồng thời học hỏi kinh nghiệm thực tiễn của các nhà nghiêncứu về vấnđề quyền củatrẻ em khuyết tật.

6. Kết quả và ý nghĩa của luận văn

Kếtquả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơbảnmang tính lý luậnđượcnhìn nhậndướigócđộquyền con người về bảo đảmquyền của trẻ em khuyết tật; giúp ngườiđọc nhậnthức đầyđủvà toàn diện hơn quan điểm, chủtrương, chính sáchcủaĐảngvà Nhànước về quyền và đảm bảo quyền cho trẻ em khuyết tật.

Luận văn cũng nêu bậtđượccác quyền mà trẻ em khuyết tật Việt Nam dễ và đang bị bỏ qua hay bị xâm phạm; đồng thời tìm hiểu thực trạng của việcđảmbảoquyền của trẻ em khuyết tật, rút ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việcbảo đảmquyền của đối tượng này. Từ đó, là cơ sở cho việc nghiên cứu, bổsungđể hoàn chỉnh hơn các quyền, cách thức đảmbảo quyền cho trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.

Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay
Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

7. Điểm mới của luận văn

Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên, có tính hệthống thông qua lăng kính nhân quyềnvề vấn đề “Bảođảmquyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, và đã có những điểmmới nổi bậtnhư sau:

– Thông qua việc làm sáng tỏ những vấn đề chung có liên quan đến trẻem khuyết tật, luận văn đã đưa ra được khái niệm trẻ em khuyết tật, khái niệm quyền trẻ em khuyết tật và khái niệm đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật.

– Đánh giá có hệ thống và khái quát về thực trạng bảođảmquyền của trẻ em khuyếttậttrongmộtsố lĩnhvực cụthể, nêu rõ thành tựu, hạnchế và đưa ra được nguyên nhân có các thành tựu và hạn chế đó.

– Đề xuất các quan điểm, giải pháp cơ bản nhằmbảođảmcó hiệu quảcác quyềncủatrẻ em khuyếttậttrong các lĩnh vực: xây dựng, thực thi pháp luật, thái độ của cộng đồng và nhận thức của bản thân trẻ bị khuyết tật.

7

8. Kết cấu của luận văn

Ngoài phầnMở đầu, PhầnKếtluận và Danh mục tài liệu tham khảo, kếtcấuluận văn chia làm ba chương như sau:

Chương 1. Lý luận chung về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật. Chương 2. Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam. Chương 3. Phươnghướngvà giải phápbảođảmquyềncủatrẻem

khuyết tật ở Việt Nam.

8

Chƣơng 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN

CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT

1.1. Trẻ em khuyết tật 1.1.1. Khái niệm trẻ em

Từlâu, trẻ emvốnđược coi là mộttrong các nhóm xã hộidễbịtổn thươngvà được nhà nước, cá nhân, các tổchức xã hội quan tâmbảovệ. Dođó, việc xác địnhthếnàođược gọilà trẻ em chính là cơ sở đểthực hiện vàphát huy sự quan tâm đó.

Trong Côngước về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Rights of

the Child – CRC) – văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện nhất về trẻ em tính đến thờiđiểmnàyđã địnhnghĩa “Trẻ em có nghĩa làbấtkỳ ngườinàodưới 18 tuổi, trừ trườnghợppháp luật có thể được áp dụngvớitrẻ emđóquyđịnh tuổi thành niênsớmhơn”(Điều1). Và để làm rõ khái niệm trẻ em, ngay trong lời nói đầu của Công ước đã nêurõ “trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”. Theođó, trẻem là những người đảmbảođầyđủ các điều kiện sau: Một là, phải là người còn non nớt vềthể chất và trí tuệ; Hai là, cầnđược bảo vệ và chămsóc đặc biệt; Ba là người từ 0 đếndưới18 tuổi.

Domỗinướccó quan niệm không giống nhauvềtrẻem, nênđộtuổiđược xác định là trẻ em cũng khác nhau, và Công ước về quyền trẻ em đã quyđịnhvấnđềnày theohướngmở.Tứclà, tuổi 18đượccoi làmứctiêu chuẩn nhưng không phải cố định, bắt buộc, mà cho phép mỗi quốc gia tùy thuộc vàođiều kiện kinh tế xã hội của nước mình, có thể quy định độ tuổi trẻ em sớm hơn (dưới 18 tuổi). Tuy nhiên, việc quy định mang tính chất mềm dẻo này, có thể

9

làm số lượng trẻ em được bảo vệ theo Công ước giảm đi ở một số nước, nhưng lại có tác dụng tích cực trong việc tăng lên về số lượng các quốc gia chấp nhận tham gia côngước.Điềuđókéo theo việcbảovệ,chăm sóctrẻem theo quyđịnh của điều ước quốc tế này trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.

Liên quanđếnkhái niệm Trẻ em, Liênhợpquốc còn dùng khái niệm “ngườichưa thành niên”. Theo quy tắc Bắc Kinh (Những quy tắc tốithiểu, phổbiến của Liênhợpquốc về việc áp dụng pháp luậtđốivớingườichưa thành niên ngày 20/11/1985) nêu rõ “người chưa thành niênlà người dưới18 tuổi”. Họ là người chưa pháttriển đầyđủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệmsống của họ bị hạnchế, thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng kiềm chế kém, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động phiêu lưumạohiểm. Như vậy, việc sử dụng những khái niệm này có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý. Liên hợp quốc đặt các em trong đối tượngđiềuchỉnhcủapháp luật quốc tế và pháp luật quốc giavớimục đích bảovệ quyền trẻ em và ngườichưa thành niên khi phạm pháp. Kêugọicác nước thành viên tham gia CRC phải quan tâmđầyđủ đến cácbiện pháp; tích cực, huyđộngcác nguồn lực có thể để giúpđỡ trẻ em và ngườichưa thành niên nhằm giảmsựcan thiệp của pháp luật và xửlýngườichưa thành niên phạm pháp một cách công bằng, nhân đạo và hiệu quả.

Ở Việt Nam cũng không có một định nghĩa chung về trẻ em.

Theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻem là “công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Như vậy, độ tuổi được coi là trẻ em trong phápluật nướcta thấp hơn so với quy định trong Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Tuy nhiên, đâykhôngbịcoi là tráivớiCRC vìĐiều1 Công ước này cho phép các quốc gia thành viên quy định độ tuổi được coi làtrẻ em thấp hơn 18 tuổi.

Bên cạnh khái niệm trẻ em, cũng giống như pháp luật quốc tế, pháp luật

10

Việt nam còn có khái niệm “người chưa thành niên” (là những người dưới 18 tuổi theo quyđịnhtạiĐiều18Bộluật Dânsựnăm 2005);“laođộngchưa thành niên” (là những người lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi theo quy định tạiĐiều119Bộluật Laođộngnăm 1994,sửađổibổsung năm 2002, 2006, 2007), và “người chưa thành niên phạm tội” (là những người phạm tội khi còn dưới 18 tuổi, theo các quy định có liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngoài ra, liên quan đến trẻ em, theo Luật giáo dục năm 2005,sửađổibổsung năm 2009lạiquyđịnhngườiđangđượcnuôi dưỡng, đào tạo trong hệ thống giáodụcmầmnon“từba tháng đến sáu tuổi” được coi là trẻ em (Điều 21), còn người từ 6 tuổi đến 18 tuổi gọi là học sinh.

Mặc dù không cómộtđiềukhoản thống nhất quyđịnhrõ ràngvề độtuổi trẻ em, nhưngvề cơ bản, các quyđịnhxung quanh khái niệm nàyđều tương thíchvớiđiềukhoản ghi nhậntạiCôngước quốc tế vềquyền trẻ em 1989. Do đó, có thể đưa ra định nghĩa chung nhất về trẻ emở ViệtNam đó là: Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, vẫn còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dođó cần sự bảo vệ của cơ quan có thẩm quyền. Đây là cách định nghĩa phù hợp với tinh thần của hệ thống pháp luật trong nước, đồng thời không mâu thuẫn với quy định của pháp luật quốc tế. Việc xác định thống nhất khái niệmvề trẻ em có ý nghĩa khá quan trọng. Bởi nó sẽ là cơ sở để làm rõ các khái niệm cóliên quan đồng thờitạođiềukiện thực hiện có hiệu quả các biện phápbảovệ, chăm sóc và giáo dục nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.

1.1.2. Khái niệm trẻ em khuyếttật

Trên phạm vi quốc tế lẫn khu vực hiện nay, chưa có một khái niệmcụthểvề trẻ em khuyết tật. Việt Nam cũng khôngnằmngoài xuhướngđó. Vìvậy, để hiểu chính xác khái niệm trẻ em khuyết tật, trước hết, cần đi tìm hiểu khái niệm người khuyết tật.

Trong một thời kỳ dài, người khuyếttậtđược coi là đối tượng phúc lợi

11

xã hội, việc bảo vệ hỗ trợ họ chủ yếudựa trên tình thương và lòng nhân đạo chứ không được nhìn nhận dưới tư cách chủ thể có quyền như công dân bình thường. Những vănbảnpháp luật quốc tế liên quanđếnquyền conngườiđược cácnướcphê chuẩn từ những năm 1940 đến năm 1960 như: Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền 1948 (The Universal Declaration of Human Rights – UDHR), Côngước quốc tế về các quyền dânsựvà chínhtrị1966 (International

Convenant on Civil and Political Rights – ICCPR); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1996 (International Convenant on Economic,

Social and Cultural Rights–ICCSCR)… cũng không trực tiếpđề cậpđến người khuyết tật.

Đếnnhững năm 70, 80 của thế kỷ XX, dưới sự đấu tranh mạnh mẽ của ngườikhuyếttậtvà các hiệphộicủa họtrên thế giới, nhận thức về người khuyết tật là đối tượng của phúc lợi xã hội mớidầndần đượcthay thế thông qua việc coi trọng năng lực của nhóm đối tượng này và coi vấn đề khuyết tật là vấn đề bình thường trong xã hội. Sự chuyển biến về nhận thức đã dẫnđến thayđổi cảcách gọi tên của nhóm này. Thay cho việc dùng từ Những người tàntật(Disable persons) có hàm ý miệt thị và hạ thấp, hiện nay, nhóm xã hội nàyđược gọimộtcách tôn trọng là Nhữngngườikhuyếttật(Persons with Disabilities). Tuy nhiên, quá trình chuyểnđổinhận thức đódiễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài và không phảiđã hếtsự khác biệt.

Lịchsửphát triển của vấnđề này cho thấyđã có các quanđiểmkhác nhau về khái niệm người khuyết tật. Hiện có hai quan điểm chính: quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội. [25]

– Quan điểm khuyết tật cá nhân hay Quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế: Cho rằng khuyết tật là do chính bản thân con người đó, không liên quan quánhiều đến các yếu tố vềmôi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người khuyết tật. Quan niệm này nhìn nhận người khuyết tật như những người

12

có vấn đề về thể chất, cần được chữa trị bằng các phương pháp khoa học như:

thuốc điều trị hoặc công nghệ trị liệu. Lý giải rõ thêm cho quan điểm này, Tổchức ytếthếgiới (WHO)đãphân ra ba loạimứcđộsuy giảmđólà: Khiếm khuyết (impairment), Khuyết tật (disability), và Tàn tật (Handicap). Trong đó:

Khiếm khuyếtchỉtình trạngbịmấthoặc tình trạngbấtbình thườngcủamột hay cácbộphận cơthểhoặc chức năng tâm sinh lý. Khuyếttậtchỉsựgiảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn Tàn tật để chỉtình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ.

Như vậy, quanđiểmkhuyết tật cá nhân hay quanđiểmkhuyếttậtytếnhìn nhận vấn đề khuyếttậtlà hạn chế ở chính bản thân họ. Mô hình này chútrọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã hội. Khi bịkhuyết tật, chính bản thân những người này cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xung quanh họ cần phải thay đổi.

– Quanđiểmkhuyếttậttheo mô hình xã hội: cho rằng, nhiều ngườibị khiếm khuyết ở các cách khác nhau nhưng xã hội đã biến họ thành khuyết tật; conngườibịkhiếm khuyết nhưng xã hộibịkhuyết tật. Nói cách khác, môhình này coi xã hội làvấnđề cần giải quyết, và giải pháp là phải thay đổi toàn bộxã hội. Bên cạnh đó, nhấn mạnh việc xóa bỏ cácyếutốrào cản, tạo điều kiện chongườikhuyếttậtđược đốixửnhư nhữngngườibình thường khác, giúp họ nhận thức đầy đủ các nghĩa vụ của mình với tư cách là một công dân.Đâylà mô hình khá nổitrội trong những nghiêncứuvề khuyếttậttrênthếgiới vào những năm 1990, nóđược coi là mô hình có cơ sở lý thuyết và cóquy tắc riêng, là nền tảng những biến chuyển của vấn đề người khuyết tật.

Điểmkhác biệt chủ yếu giữa hai quan điểm này là:nếuở mô hình y tế, nguyên nhân gây nên khuyếttậtđược xác địnhlà do chínhbảnthân người khuyếttậtthì ở mô hình xã hội, khởi nguồn khuyếttậtlà ở xã hội. Hơn nữa,

13

bản chất của mô hình y tế là sự suy giảmvề mặtthể chất, cảm giác và trí tuệngười khuyết tật; còn mô hình xã hội, bản chất của khuyếttậtlà các ràocảnđã ngăncảnngườikhuyếttậttham gia vào các hoạtđộngđờisống. Nhìn chungmỗiquanđiểmđềucó nhữngđiểmmạnh và hạnchế nhấtđịnh:Quanđiểmkhuyết tật y tế có tác dụng tốt trong một số lĩnh vực cụ thể như y tế phục hồi chức năng và đảm bảo xã hội. Còn quan điểm khuyếttậttheo mô hình xãhộicho thấy nguyên nhân gốc rễcủa việcngườikhuyếttậtbịtách biệt khỏi cuộc sống chung, những bất lợi và vấn đề phân biệtđối xử.

Hiện nay trên thế giới, cũng không có khái niệmvề ngườikhuyếttậtđược áp dụng chung chotấtcả các nước.Tùy vàođiềukiện kinhtế xã hội, truyền thống văn hóa mà mỗiquốc gia cóđịnhnghĩa khác nhauvề vấnđề này. Như, Điều2 Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảovệ người khuyết tật năm 1990 quy định:

Ngườikhuyếttậtlàmộttrong nhữngngườibịbấtthường, mấtmátcủamộtcơ quan nhấtđịnhhoặc chức năng tâm lí hay sinh lí, hoặc trongcấutrúc giải phẫu và nhữngngườiđãmất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường.

Ngườikhuyếttậtlà những ngườicó thính giác, thịgiác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và/hoặc khuyết tật khác.

Còn Luậtvề ngườikhuyếttậtban hành năm 1995 của ẤnĐộđịnh nghĩa khuyếttậtbaogồmnhững tình trạngbịmù, nghe kém, lành bệnh phong;thịlực kém; suy giảm khả năngvậnđộng;chậm phát triển trí óc vàmắc bệnh về tâm thần.

Hay ở Đức, sách số chín của Bộ luật xã hội định nghĩa:

14

Ngườikhuyết tật là người có các chức năngvềthểlực, trílực hoặc tâm lí tiến triển không bình thường so với người có cùngđộ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhândẫnđếnviệchọbịhạnchếtham gia vào cuộc sống xã hội.

Đạoluậtvề ngườikhuyếttậtcủa Hoa Kỳ năm 1990 định nghĩa: “Người khuyếttậtlàngườicósự suy yếuvề thể chất hay tinh thần gây ảnhhưởngđángkểđếnmộthay nhiều hoạt động trong cuộcsống”. Cũng theođạoluật này, những vídụcụthểvề khuyếttậtbao gồm: Khiếm khuyếtvềvậnđộng, thịgiác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnhcảmxúc và những khiếm khuyếtcụthể vềhọc tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (Có triệu chứng hoặc không có triệu chứng).

Tháng 03/2007, Công ước về quyền của người khuyếttật(Convention on the Rights of Persons with Disabilities – CRPD) đã được Đạihộiđồng Liênhợpquốc thông qua. Đâylà điềuước quốc tế đầutiênvề quyền con ngườicủa Liênhợpquốc trong thế kỷXXI, đánhdấumộtbước ngoặt trong cuộc đấutranh cho quyền của những người khuyết tật trên thế giới. Theo đó, tạiĐiều1 Côngước, ngườikhuyếttậtbaogồm“Những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu vàtrọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Mặc dù vẫn còn những quanđiểmkhác nhauvề những thuộc tínhcấuthành khái niệm“ngườikhuyết tật”, tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một định nghĩa về“ngườikhuyết tật” được ghi nhận trong pháp luậtquốc tếvề quyền con người, nó là cơ sở trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm đối tượng này.

ỞViệt Nam hiện nayvẫncòn nhiều quan niệm khác nhauvềngười

15

khuyết tật hoặc người tàn tật. Đại đa số đều dùng từ khuyết tật và tàn tật để chỉcùng một khái niệm, và được dùng song song trên cả phương tiện truyền thôngđạichúng và vănbảnpháp quy.Điều1 Pháplệnh vềngườitàn tật năm 1998định nghĩa người tàn tật là: “Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơthểhoặc chức năng biểu hiệndướinhững dạngtậtkhác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động khiến cho lao động, học tập gặp nhiều khó khăn”

Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội cũng như quá trình hội nhập quốc tế, cụm từ “Người tàn tật” ngàycàng đượcsử dụng ít đi, thayvào đó là cụm từ “Ngườikhuyếttật” vớimục đích tạo sắc thái tình cảm tích cực, coi trọng hơn, đề cao khả năng phục hồi hơn. Trong cuộc hội thảo do Văn phòngĐiềuphối các hoạtđộnghỗtrợ ngườitàntậtViệt Nam (NCCD) và Tổ chức Cứu trợ và Phát triển (CRS) thực hiện thì có đến 17 trên tổng số19 ý kiến cho rằng nên thay cụm từ tàn tật bằng khuyết tật. [31]

Ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđã thông qua LuậtNgườikhuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011 thay thế Pháp

lệnh về người tàn tật 1998, chính thức sử dụng khái niệm“Ngườikhuyếttật” thay cho khái niệm“Ngườitàntật”hiện hành, phùhợpvớixuhướngnhìn nhận chung của thếgiới. Theo quyđịnhtạikhoản 1Điều2 Luật Người khuyếttật2010 thì người khuyếttậtđược hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới

dạng tật khiên cho lao đông, sinh hoat, học tập gặp khó khăn.” Khái niệm nàyđược đưa ra dựa vào mô hình xã hộivà về cơ bảnphùhợpvớikhái niệm người khuyết tật trong Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007.

Như vậy, dựa trên định nghĩa về người khuyếttậtvà định nghĩa về trẻem, theo tác giả, Trẻ em khuyếttậtđược hiểulà những trẻ từ 0 đến 18 tuổi cókhiếm khuyết về cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng của cơ thể làm hạn chế khả năng hoạt động, gây khó khăn trong sinh hoạt, học tập, xã hội.

16

Việc đưa ra khái niệm chung, thống nhất về trẻ em khuyết tật rất quan trọng nhưng không phải dễ dàng, bởi ngay trong hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế cũng không có quy định cụthể về vấnđề này, trong khi các tiêu chí xác định khuyết tật hay độ tuổi được coi là trẻ em vẫn chưa thực sựthống nhất. Vì vậy,cầnphải có cái nhìn tổngthểvềtrẻ em và người khuyết tật để hình thành khái niệm hợp lý nhất về trẻ em khuyết tật. Từ đó, là cơsở để phânloại, nghiên cứu, chăm sóc và bảo vệ nhóm đối tượng dễ bị

tổn thương này.

1.1.3. Ảnh hưởng của tình trạng khuyếttật đến hoạt động của trẻ

Trẻ em khuyếttật trước hếtlà con người nên họ mang những đặc điểm chung vềmặtkinh tế – xã hội, đặcđiểmtâm sinh lí như mọi người. Tuy nhiên, do khiếm khuyếtvề mặtthể chất nênhọcó nétđặc thù tươngđốisovớitrẻkhông khuyết tật, và cũngbởinhững khiếm khuyết đó, mà họgặpkhông ít khó khăn trong quá trình sinh hoạt và tham gia vào các hoạt động xã hội.

Trước hết, trẻ khuyếttậtsẽ gặpkhó khăn trong việc tựchăm sóc bản thân mình. Bởido khiếm khuyết của cơ thể nênhầuhếtcông việc sinh hoạt hàng ngày của trẻ phải dựa vào người thân trong gia đình. Đây là ảnh hưởng trực tiếp nhất mà tình trạng khuyết tật gây ra cho chính bản thân họ.

Thứ hai, tình trạng khuyếttậtgây khó khăn cho trẻ trong việc tiếp cận cơ sở vật chất kĩ thuật và tham gia đầyđủ hoạtđộng giáo dục, việc làm, bệnh

viện, công trình phúc lợixã hội… Bởicác thiết kế công cộng thường chỉ dành cho nhữngngườicó chức năngđược thực hiện bình thường, việc xây dựng làn đường, hoặc lối đi dành riêng cho người khuyết tật chưa phổ biến. Do vậy, trẻ em khuyếttậtkhó tiếpcậnvớicác dịchvụgiao thông, công cộng, giáo

dục, việc làm… dẫnđếnhọbịcôlậphoặc loạitrừkhỏi sinh hoạt của cộng

đồng. Từchỗkhó tiếpcậncác dịchvụcông cộng, tiếpcậngiáodục…trẻkhuyếttậtbịđẩyvào tình trạng có trìnhđộhọc vấnthấp hơn và cơ hội việc

17

làm thấp hơn. Khó khăn về vật chấtdẫnđếnthiệt thòi về tinh thần, tình trạng khuyếttậtnày làm tăng nguy cơ nghèo đói, và sự nghèođói lạilàm tình trạng khuyết tật trầm trọng hơn rất nhiều.

Thứ ba, khó khăn xuất phát từ tâm lý tự ti, mặc cảm, và thái độ kỳ thịcủa xã hội nói chung. Bởi quan niệmcủa xã hội về ngườikhuyết tật còn tiêu cực, dẫn đếnsự kì thị và phân biệtđối xử. Điềunày diễn ra dưới nhiều hình

thức, ở nhiều bối cảnh khác nhau như gia đình, cộng đồng, trường học… Đối vớicộng đồng, trẻ khuyếttậtđược nhìn nhận làđốitượng“đángthương”, không có cuộc sống “bình thường”, là “gánh nặng” của toàn xã hội. Trong khi những quy định ghi nhận ở nhiều đạo luật, nghị định lại chưa phổ biến, người dân không biết đến sự tồn tại của các quy định đó nên không hiểuđượctrách

nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với trẻ em khuyết tật là như thế nào… Từ đó, dẫn đến sự kì thị, phânbiệt đối xử. Điềunày ảnh hưởng không nhỏ đến trạng thái tâm lý của trẻ khuyết tật, khiến các em tự xây cho mình một ràocảnvới thế giới bên ngoài. Đây chính là khó khăn lớn nhất, ảnh hưởng mạnh mẽ nhấtđến mọi hoạt động của trẻ em khuyết tật.

Có thể thấy, tình trạng khuyết tật gây ra ảnh hưởng lớn đến không chỉbản thân trẻ khuyếttậtmà còn với cả gia đình có trẻ khuyết tật. Từ đó, hình thành nên những rào cản hữu hình và vô hình, cản trở trẻ khuyết tật tham gia vào các hoạtđộng xãhội, khó cóđiềukiện phát huy năng lực bảnthân, hòa nhập vào cộng đồng. Do vậy, cần có những biện pháp hữu hiệu nhằmhạnchếphần nào tác động tiêu cực mà tình trạng khuyết tật đã gây ra.

1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyếttật ở trẻ

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến khuyết tật ở trẻ em. Mặc dù chưa cóbằng chứng chính xác, nhưng có thể tổng hợp căn cứ vào tình hình khuyếttậtở trẻ em và chia ra làm các nguyên nhân sau:

Mộtlà, do di truyền gâydịtậtbẩmsinh. Nguyên nhân của tình trạng

18

này là bởikếthôn giữa nhữngngườicùng dòng máu. Vì thế, để ngăn ngừa, cầntăngcườngkiến thứcvềhôn nhân, giúpmọingườihiểu đúng và đầyđủvề vấnđề này.

Hai là, trong thời kỳ mang thai, người mẹ bị ốm; sử dụng các chất kích thích;bị nhiễm các chấtđộc hạitrong môi trường như: chì, thủy ngân, amiăng… Do đó, cầntăngcườnggiữgìn sức khỏe chomẹ và bé, đẩymạnh chương trình miễn dịchđối vớinhững căn bệnh có thể phòng ngừa như tiêm

vacxin cúm, sốt, quai bị…

Ba là, do thiếu dinh dưỡng, bệnhtậtđểlạidi chứng nhưtrẻcóthểbịmù do thiếu vitamin A, viêm não, sốtxuất huyết, sốtbạiliệt… Vì vậy, cần tăng cường chăm sóc trước khi sinh cho trẻ, đảmbảocung cấp đầyđủ và cóchất lượng các dịch vụ y tế trước, trong và sau khi sinh. Đồng thời, nâng cao nhận thức của cha mẹ đối vớivấnđề chế độ dinh dưỡng và chăm sóc y tế cơbản cho con em mình.

Bốn là, do tai nạn xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, trong sinh hoạt và tham gia lao động. Đâylà nguyên nhân chínhdẫnđếntình trạng khuyếttậtđối vớitrẻ em ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, cần thiết lập và thực thi có hiệu quả các chính sáchvềan toàn giao thông, về an toàn và

bảo hộ lao động…

Năm là, do ảnh hưởng của chiến tranh, tàn tích của các loại vũ khí cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng khuyếttật ở nhiềunước trên thế giới. Như ởViệt Nam, trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, nhất là khi Mỹrảithuốc diệt cỏ chứa chất độc đioxin đã ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, và gây ra tình trạng khuyếttậtở nhữngđứatrẻ được sinh ra từbốmẹtừngbịphơi nhiễm chất độc này. Vì vậy, cần phải thực hiện các biện phápcầnthiết để bảo vệ trẻ em khỏi những tác động có hại của chiến tranh và xung đột vũ trang đó.

Như vậy, córấtnhiều nguyên nhân gây ra khuyết tật ở trẻ emvớitính

19

chất và mức độrấtkhác nhau. Do vậy, cầnnhận biết và ngăn chặnsớmđểgiảmbớtphần nào số trẻ em bị khuyếttậtđang ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời việc xác định rõ nguyên nhân gây ra khuyếttật của trẻsẽ là cơ sở giúp phân loại trẻ em khuyết tật, từ đó có cách chăm sóc và giáo dục cho phù hợp với từng loại trẻ.

1.1.5. Phân loại trẻ em khuyết tật

Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể, riêng biệt về trẻ em khuyết tật, vìvậykhi phân loại, sẽ dựa vào dạngtậtvà mức độkhuyếttậtđượcghi nhận trong Luật Người khuyết tật năm 2010. Cụ thể:

– Căn cứ trên dạng tật thì trẻ em khuyết tật bao gồm:

Một là, khuyết tật vận động: Là những trẻ có cơ quanvậnđộng bị tổn thương, biểu hiện dễ nhận thấy là khó khăn trong việc nằm, ngồi, di chuyển,

cầm, nắm… Do đó, trẻ khuyếttậtvận động gặprấtnhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tậpvà laođộng.Vìvậytrẻkhuyếttậtvậnđộng cầnđược hỗtrợ về phương tiện đilạinhư xe lăn, gậychống; và đặc biệt làkhông gian cần thiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển.

Hai là, khuyếttậtnghe nói: Là những trẻ gặp khó khăn trong việc giao tiếp xã hội, dẫnđếnhạnchế trong sinh hoạt, làm việc, học tậpvà hòa nhập cộng đồng. Để tiếp nhận thông tin, trẻ cầncósựtrợ giúp của ngônngữkíhiệu, trợ giúp của công nghệ hiệnđại. Tuy nhiên, ngônngữkí hiệu cũng cónhiều hạn chế vì không thể phản ánh được đầyđủ tínhchất, mức độ và hoạtđộng của cuộc sống như tiếng nói hay chữ viết.

Ba là, Khuyết tật thị giác: là những tật về mắt khiến trẻ giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảmnhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sựvậttrongđiều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. Đốivớitrẻ khiếmthịcôngcụhỗtrợ di chuyển là chiếc gậy, các dụng cụ hỗ trợ thông minh, lối đi thuận tiện và

dễ nhận biết….

20

Bốn là, khuyếttậtthần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trínhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường.

Năm là, khuyếttậttrí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mấtkhả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích vềsự vật, hiện tượng, giải quyếtsự việc. Xét về mức độ, đâylà đối tượng khuyết tậtkhông có những đặc điểm cơ bản, chung như các dạng khuyết tật khác. Bởi khuyếttậttrítuệđược xác địnhkhi: Chức năng trí tuệ dướimức trung bình (chỉsốthông minhđạtgần70 hoặc thấp hơn 70 trênmộtlầnthực hiện trắc nghiệm cá nhân); Hoặc bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong sốnhững hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng, kĩ năng

học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn…

Sáu là, khuyếttậtkhác: là tình trạng giảm hoặc mấtnhững chức năng cơ thể khiến cho hoạtđộnglao động, sinh hoạt, học tậpgặpkhó khăn mà không thuộc các trường hợp khuyết tậtđược xác định ở trên.

– Căn cứ vào mức độ khuyết tật thì trẻ em khuyết tật bao gồm:

Thứnhất, trẻ khuyếttậtđặc biệt nặng: là những trẻ do khuyếttậtdẫnđến không thể tự thực hiện phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

Thứhai, trẻ khuyếttậtnặng là những trẻ do khuyếttậtdẫn đếnkhông thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

Thứ ba, trẻ khuyết tật nhẹ là những trẻ không thuộc trường hợp khuyết tậtđặc biệtnặng và khuyết tật nặng.

Như vậy, khuyết tật ở trẻ khá đa dạng. Tuy nhiên có thể nhận thấy điểm chung ở những trẻ khuyếttật vậnđộng, khuyết tật nghe, nói, khuyết tật nhìn là đều có bộ não phát triển bình thường. Nếu được quan tâm, tạo môi trường thuận lợi, rèn luyệntừ sớmvà thường xuyên thì họ vẫn có thể tiếp thu được

21

chương trình học tập, làm việc, tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội của cộng đồng. Do đó, việc phân loại rõ ràng, chính xác trẻ khuyếttậtlà cơ sở đểthực hiện các hoạt động phù hợp với từng dạng tật của trẻ, giúp trẻ phát triển năng lực bản thân, tự tin trong cuộc sống.

Mang trong mình khiếm khuyếtvềcơthểgiống nhưngườikhuyết tật nói chung, lại vừa là những công dân còn non nớt về mặt thể chất và tinh thần giống như biết bao trẻ em bình thường khác, trẻkhuyếttậtvớitư cách lànhóm bị tổn thương kép đã phải chịu rất nhiều thiệt thòi do tình trạng khuyết tậtđem lại. Những thiệt thòi đó ảnh hưởng trực tiếpđếnđời sống củabản thân trẻ và gia đình có trẻ khuyết tật, ảnh hưởng đến việc tham gia các hoạtđộng xã hội của trẻ. Do vậy, xác định được nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật, tính chất, mức độ khuyếttậtvà phân loạiđược trẻ emkhuyếttật sẽ cótác dụng trong việc ngăn ngừa, giảmbớtsố lượng trẻ khuyết tật đang ngày càng gia tăng, từ đó hạn chế tình trạng trẻ em bị thiệt thòi, đồng thời phân loại trẻkhuyếttậtcòn là cơ sở để áp dụng các chính sách, biện pháp phù hợp nhằm bảovệ, hỗtrợ, giúpđỡ trẻ khuyếttậtvượtqua khó khăn trong cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng.

1.2. Quyền củatrẻ em khuyết tật vàBảođảmquyền củatrẻem khuyết tật

1.2.1. Khái niệm Quyền của trẻ em khuyết tật

Trên phạm vi quốc gia cũng như quốctế,hầuhếtvẫnchưađưarađược một khái niệm thống nhất về Quyền của trẻ em khuyết tật, có chăng chỉ gợi mở theo hướng liệt kê các quyền của trẻ khuyết tật. Vì vậy, muốn làm sángtỏvấnđềnày,cầnđi tìm hiểu và phân tíchvềcácnộidung cóliên quan, cụ thể như sau:

Trước hết, cầnhiểu, thế nào là Quyền? TheoĐạiTừđiểnTiếng Việt, quyền là “cáimà luật pháp, xã hội, phongtụchay lẽphải cho phépđược

22

hưởng thụ, được vận dụng, được thực hành….,và nếu thiếu thì được phép yêu cầu để có đầy đủ, nếubị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại”.[29]. Như vậy, khái niệm Quyềnchủ yếuliên quan đến việc hành động, cụ thể là tự do hànhđộng. Theo đó, mộtngườiđược phép làm những việc trong khuônkhổnhấtđịnh mà không bị cưỡng ép, áp đặt, và không ai được vi phạm vào các quyềnđó. Việc làm rõ khái niệm quyền là cơ sở để xác định cácvấn đề cóliên quan dựa trên Quyền.

Thứ hai là khái niệm Quyền con người. Có nhiều cách định nghĩa khác nhauvề quyền con người dựa trên các hướngtiếpcậntừnhữnggóc độ nhấtđịnh. Trên phạm vi quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền conngườithì, Quyền conngườilà nhữngbảođảmpháp lýtoàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hànhđộng hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép vàtự do cơbảncủaconngười. [12].ỞViệt Nam, xét chung, quyền con người thườngđược hiểu là những nhu cầu,lợiíchtựnhiên,vốncó và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Dù nhìn ở góc độ và cấp độ nào thì Quyền con người cũngđược xác địnhlà nhữngđặc quyềntựnhiênđược pháp luật ghi nhậnđiều chỉnh và đảm bảo thực hiện.

Thứ ba là vấn đề Quyền trẻ em. Trẻ em là con người, là một thành viên của xã hội, là công dânđặc biệt của mộtquốc gia, vìvậyquyền trẻ em cóquan hệ chặt chẽ với quyền con người, là một bộ phận của quyền con người. Hay nói cách khác, trẻ em cũng là mộtchủthể của quyền, quyền trẻ em là quyền conngườicủa trẻ em, nhờ đótrẻđược hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảođảmsự sống, sự tham gia và phát triển toàn diện của mình. Tuy nhiên, trước đây, thuậtngữQuyền trẻ em chưa thực sựđược chú trọng. PhảiđếnđầuthếkỷthứXX, thuậtngữnàymớiđược đề cậpsau

23

mộtloạt biếncốquốc tế lớn, nhất là sau cuộc Chiến tranhthếgiớilầnthứI

(1914 – 1918). Sự kiện này khiến rất nhiều trẻ em ở Châu Âu bị rơi vào hoàn

cảnh đặc biệt khó khăn như mồ côi không nơi nương tựa, đói khát, bệnh tật… Tình cảnhđóđã thúcđẩyviệc thànhlậphaitổchức cứutrợtrẻemđầutiên trên thế giớiở Anh và ThụyĐiểnvào năm 1919. Đếnnăm 1924, HộiQuốc liên thông qua bản Tuyên ngôn Geneva về Quyền trẻ em. Đây là lần đầu tiên, vấnđề Quyền trẻ em chính thức được khẳngđịnhvà thừa nhận trong pháp luật quốc tế, đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức và hoạt động bảo vệ trẻ em trên thế giới. Năm 1948, LiênHợpquốc thông qua Tuyên ngôn thế giớivềquyền con người, trongđó khẳng định trẻem cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con người. Năm 1959, Liên Hợp quốc thông qua bản Tuyên ngôn (thứ hai) về quyềntrẻem, phát triển nội dung của Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924. Từ năm 1959 đến những năm 80 của thế kỷ XX, một loạt văn kiện quốc tế khác cũngđược thông qua, trực tiếp hoặc gián tiếpđề cậpđếncác quyền của trẻ em. Song, các văn kiện này hoặc không có tính ràng buộc về nghĩa vụpháp lý hoặc chưa tiếp cậntừ vị thế đặc biệtvà chú trọng đến những nhu cầuđặc thù của trẻ em nên tác động trên thực tế rấthạn chế. Đếnnăm 1989, Liên Hợpquốc thông qua Côngướcquốc tếvề quyền trẻ em, tínhđếnthờiđiểm này, đây là văn kiện quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về vấn đề Quyền trẻ em. Mặc dù vậy, đây không phải là văn kiện quốc tế duy nhất về lĩnh vực này, màcòn nhiều văn kiện khác, trongđótiêu biểu là hai Nghịđịnhthư không bắt buộc bổ sung CRC về sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và về

buôn bán trẻ em, bóc lột và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em…

Thứ tư là vấnđề Quyềncủa ngườikhuyết tật. Cũng giống như trẻ em, trongmộtthờikỳdài, nhữngngườikhuyếttậtbịcoi là đốitượngcủa lòng thương hại, việc bảo vệ hỗ trợ họchủ yếudựa trên tình thương, lòng nhân đạo chứ không bắt nguồn từ nhận thức coi họ cũng là những chủ thể của quyền và

24

trách nhiệm của cá nhân, nhà nước, tổchức xã hộilà phải tôn trọng họ. Chỉsau những cuộc vận động kiên trì và mạnh mẽ của nhiều cá nhân, tổ chức xãhội, nhận thức rằng người khuyết tật cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền conngườimớidầndầnchiếm ưu thế, và thuậtngữQuyền của người khuyết tậtmớiđược chú trọng theohướngquyền conngườicủa ngườikhuyết tật. Theo đó, người khuyếttậtđược hưởng cácquyền của con người mà không cóbấtcứsự phân biệt đối xử nào dựa trên tình trạng khuyết tật của họ nhằmđảm bảochođốitượng nàyđược phát huy năng lực của bản thân, hòa nhập cộngđồng. Trên phương diện pháp lý, cho đến trước năm 2007, không có điều ước quốc tế nào quy định riêng về vấn đề quyền của người khuyết tật. Ngay trong các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người được các nước phê chuẩntừnhững năm 1940đếnnăm 1960 như Tuyên ngôn nhân quyền 1948, Côngước củaLiênhợpquốc về quyền kinh tế, văn hóa, xã hộinăm 1966 hay Côngướccủa Liênhợpquốcvề quyền dân sự, chínhtrịnăm

1966… cũng không cóđiềukhoản riêng biệt nào ghi nhậncụthể quyền của nhómđốitượngnày. Tuy nhiên, đoạn1Điều2 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 đã khẳng định:

Mọingườiđềuđượchưởngtấtcảcác quyền vàtự do nêu trong bản Tuyên ngôn này mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác.

Mặc dù không đề cập một cách cụ thể, nhưng cụm từ “địa vị khác” đãgián tiếp ghi nhận người khuyết tật cũng là chủ thể của các quyền con người. Từ đầuthập kỷ 80 của thế kỷ XX, Liên hợp quốc đã thông qua khá nhiều văn kiện không ràng buộc pháp lý nhằm thúcđẩyvấnđề quyền của nhóm này, trong đó, tiêu biểu là: Chương trình hànhđộngthế giớivề ngườitàntật

25

(1982); Các nguyên tắc về bảovệ ngườibịbệnh tâm thần và về tăng cường chăm sóc sức khỏe tâm thần (1991); Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa

cơ hộichongườikhuyếttật(1993)… Đặc biệt, năm 1993, trong TuyênbốViên và chương trình Hành động (Đoạn 13), Hội nghị thế giới về quyền con ngườilầnthứII đã nêu rõ:“Tấtcảcác quyền con người vàtự do cơbảnlàmang tính phổ biến, bởi vậy tất cả mọi người, kể cả những người khuyết tật,đều là chủ thể bình đẳng của các quyền này”. Đâythực sự là khẳng định chắc chắn, là bước tiến rõ ràng về mặt nhận thức, coi trọng khả năng, năng lực chủthể quyền con người của người khuyết tật.

Như vậy, thông qua các khái niệm Quyền, Quyền con người, Quyền trẻ em và Quyền của ngườikhuyết tật, có thể rút ra được Quyền của trẻ em khuyếttậtlà: Quyền conngườicủa trẻ em khuyết tật, là mộtbộphận của quyền con người, có quan hệ chặt chẽ với quyền con người. Theo đó, trẻ em khuyếttậtđược hưởng đầyđủ các quyền tự nhiên vốn có, trẻ được thực hiện hoặc không thực hiện các hoạtđộngmộtcáchtựnguyện mà không aiđược phép cản trở, xâm phạm hay phân biệt đối xử chỉ vì lý do khuyết tật của trẻ.

Việc làm rõ các khái niệm nêu trên cóýnghĩa đặcbiệt quan trọng, làcơ sở để xácđịnh khái niệm Quyền của trẻ em khuyết tật. Bởi trẻ em khuyết

tậtlà những công dân đặc biệt của xã hội. Họ vừa mang đặc điểm non nớtvề mặt tâm sinh lý như biết bao trẻ em không khuyết tật khác, lại vừa mang trong mình khiếm khuyếtvề mặtthể chất và tinh thần như những người khuyết tật nói chung nên quyền của trẻ em khuyết tật vừa là một bộ phận của quyền con người, lại vừa là sự kết hợp giữa quyền của trẻ em và quyền của người khuyết

tật. Vì vậy, việc nhận thức chính xác về Quyền của trẻ em khuyếttậtchính làcơ sở để chăm sóc, giáodục và bảo đảmcó hiệu quả các quyền của nhóm đối tượng bị tổn thương kép này.

26

1.2.2. Khái niệm Bảo đảm quyền của trẻ em khuyếttật

Sovớingười khuyếttậtnói chung, trẻ em khuyếttậtlà đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơncả bởisự phânbiệt đối xửvà nguy cơ tổn thương gây ra từ nhiều yếu tố. Và, cũng giống như các trẻ em không khuyếttậtkhác, trẻ em khuyết tật cũng là chủ thể của các quyền và quá trình phát triển. Đó không chỉlà công dân non nớt về thể chất và trí tuệ như trẻ em bình thường, mà còn là công dân đặc biệt, mang trong mình những mặc cảm tự ti do khiếm khuyếtvềcơ thể,dễ bịtổnthương dosựnonyếuvề thểchất, tinh thần, kinh nghiệm

sống… Chúng luôn phảiđối mặtvớinguy cơ bị bỏ mặc, lạmdụng, bị đối xửbất công, bạo hành, đặc biệt là trẻ em gái khuyết tật. Chính vì vậy yêucầucần bảo đảmquyền cho trẻ em khuyết tật đang ngày càng nhận được sự quan tâmủng hộ từ phía nhà nước, tổ chức xã hội và người dân nhằm xóa đi rào cản vôhình, đưa các quyền lại gần hơn với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.

Tuy nhiên, vấnđề thế nào là Bảođảmquyền của trẻ em khuyết tật dườngnhưvẫncòn khá mơ hồvà chưa cóhướngdẫncụthể. TheoTừđiển Vdict“bảođảm” được hiểu là “làm cho chắc chắn thực hiệnđược,giữ gìn

được,hoặc cóđầyđủnhững gìcầnthiết…”. [30]. ĐạiTừđiểnTiếng Việt

cũng đưa ra định nghĩa tương tự trong đó, “bảođảm” là “1…, 2. Làm cho cóđược điềugì; 3. Cóđủ, trọnvẹncác điềuquy định; 4. Chắc chắn, đạttiêu chuẩn cần thiết”.[29]. Công ước về quyền trẻ em 1989 và Công ước về quyền của ngườikhuyếttật2007 cũng ghi nhận khá nhiềuđiềukhoản nhấn mạnhđến trách nhiệm của các quốc gia thành viên phải bảođảmcác quyềncủa trẻem khuyếttậttrong tất cả các lĩnh vực mà Công ước đã đề cập, song không cómộtđiềukhoảncụthể nàođịnhnghĩavềbảođảmquyềncủatrẻ em khuyết

tật. Trong pháp luật Việt Nam cũng vậy. Do đó, dựa trên định nghĩa ở ĐạiTừ điển tiếng Việt, dưới góc độ ngôn ngữ, có thể đưa ra cách hiểu chung nhất vềBảođảmquyền của trẻ em khuyết tật đó là: việc tạo mọi điều kiện thuậnlợi

27

để trẻ em khuyếttậtđược hưởngcác quyềnvốncó của mìnhmộtcách phùhợp, đầy đủ và trọn vẹn nhất.

Như vậy, việc xácđịnh rõràng khái niệmvề Bảođảmquyền của trẻ em khuyếttật là cơ sở để thúc đẩycông tác bảođảmquyền của nhómđối tượng này trên thực tế. Quá trình bảođảmđó phải dựa trên các nguyên tắc nhấtđịnh như: bình đẳng, không phân biệtđốixử;lợiíchtốtnhất dành cho trẻ, tôn

trọngýkiến, quanđiểmcủa trẻ… Những nguyên tắc này đóng vai trò lànguyên tắc nềntảng, chi phối toànbộquá trìnhbảođảmquyền của trẻ em khuyết tật, giúp cho các quyền đó được thực thi có hiệu quả nhất.

Tuy nhiên, không thể phủnhận rằng, trên thực tế, nhiều quyền của ngườikhuyếttậtnói chung và quyền của trẻ em khuyếttậtnói riêng vẫn không được đảmbảomộtcách trọnvẹnnhư: Trẻ em khuyếttậtkhôngđược tham gia vào quá trình ra quyếtđịnh, bị đối xử nặng nề;nhận thức của xã hội về vấn đề ngườikhuyếttậtcòn hạn chế;Điềukiện giao thông chưa tiếp cận; Giáodục, y tế chưa được đảmbảo; bản thân trẻ khuyếttậtchưa hòa nhậpvới

xã hộido mặc cảm,tựtivề khiếm khuyết cơ thể… Chính vì vậy, việc đảm bảoquyền cho trẻ em khuyếttậtđangđược đặtra và ngày càng trở nên cấp thiết, nó góp phần phát huy truyền thống nhân đạo, tinh thần dân tộc sâu sắc, sự sẻ chia giữa người với người. Không chỉ thế, còn tác động tích cực đến tâm lýcủanhómđốitượngthiệt thòi này, giúp cho các emvượtqua mặc cảm, vươn lên phát triển năng lực bản thân, hòa nhập vào cộng đồng. Xét trong xu thế hội nhập hiện nay, điều này có ý nghĩa lớn trong việc ổn định kinh tế, góp phần đưa pháp luật Việt Namlạigầnhơn với chuẩn mực chung của quốc tế.Đồng thời, với vị trí là một bộ phận của quyền con người, có quan hệ chặt chẽvới quyền con người, việc bảođảmquyền của trẻ em khuyết tật chính là cơ sởthiết thực đểđảm bảo các quyền con người.

28

Tiểu kết chƣơng 1

Chương 1đã trình bày khái quáthệ thống lý luậnvề bảođảmquyền của trẻ em khuyết tật. Đâylà tiềnđề để phân tích thực trạng trong quá trìnhđảmbảoquyền ở chương tiếp theo. Thông qua việc tìm hiểu các khái niệm cóliên quan trong phạm vi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, tác giả đãđưa rađược nhậnthức chung nhất về khái niệmtrẻem khuyếttậtvà bảo đảm quyền cho trẻ em khuyết tật. Việc xác định rõ các khái niệm này là cơ sở quan trọng để nghiên cứu hệ thống pháp luật, chính sách và đánh giá thực trạng vềbảođảmquyền của trẻ em khuyết tật. Đồngthời, những kiến thức chungvề phân loại trẻ em khuyếttậttheo mức độvà dạng tật, nêubậtnhững nguyên nhândẫnđến tình trạng khuyết tật của trẻ và những ảnh hưởng do tình trạng khuyếttậtđemlạicó tác dụng tíchcựctrong việc xây dựng, áp dụng các chính sách phùhợpnhằm ngăn ngừa, giảmbớtsốlượngtrẻ em khuyếttậtđang có xu hướng ngày càng gia tăng hiện nay.

29

Chƣơng 2

THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Có nhiều cách tiếp cận để phân tích thực trạng Bảo đảm quyền của trẻem khuyếttậtnhư: Tiếpcậndướigócđộchia việcbảođảm quyềncủatrẻem khuyết tật ởtừng lĩnhvựcnhư: Xây dựng pháp luật, Thực thi pháp

luật…;Hoặc tiếpcậndướigócđộchia việcbảođảmquyềncủatrẻem khuyết tật thành các tiểu mục tương ứng với từng loại quyền quan trọng của ngườikhuyết tật;cụthểnhư quyền khôngbịphân biệtđốixử,quyềnđược

chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được tái hòa nhập với cộng đồng… Mỗi cách tiếp cận đều cóưu điểm và hạn chế riêng để làm nổi bật nội dung cần hướng đến. Trong luận văn này, tác giả lựa chọn cách tiếp cận thứ nhất, tức là đánh giá thực trạngBảođảm quyềncủatrẻem khuyếttậtthông quamộtsốlĩnh vực cụthể. Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền, luận văn sẽ trình bày khái quát tình trạng trẻ em khuyết tật ởViệt Nam hiện nayđểcungcấpbức tranh cơbảnvềcuộc sốngcủatrẻkhuyếttậttừđólà cơsởxây dựng chính sách, biện pháp phùhợpđốivới nhóm xã hội dễ bị tổn thương này.

2.1. Tình trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Kể từ khi gia nhập Công ước quốc tế về quyềncủa ngườikhuyếttật, vịtrícủangườikhuyếttậtvàtrẻem khuyếttậttạiViệt Namđã có nhiều biến chuyển đáng kể, nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước.

Năm 2009, Tổng cục Thống kê đã tiến hành cuộc Tổng điều tra Dânsốvà Nhà ở, đây là cuộc Tổng điều tra dânsố đầu tiênthu thập các thông tin về tình trạng khuyết tật của người dân và trẻ em khuyết tật. Kết quả đã cho thấy,

tỷlệ ngườikhuyếttậtở độtuổitừ5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dânsốtươngđươngvới6,7 triệungườikhuyếttậtvớikhoảng 1,2 triệutrẻem khuyết tật,

30

chiếm khoảng 19,7% số người khuyếttậttrên phạm vi cả nước. Trong đó, sốtrẻ khuyết tật nặng chiếm tỷ lệ cao nhấtvới31%; ngoài ra có 27% trẻ khuyết tậttrí tuệ; 20% trẻ khuyếttậtvậnđộng; 19% trẻ khuyết tật ngôn ngữ; 12,43% trẻ khiếm thính; 12% trẻ khiếm thị; 12,6% đa tật; và 7% khuyết tật khác [26].

Nguyên nhân gây ra khuyếttậtở trẻ emtạiViệt Nam phầnlớnlà do hậu quả của chiến tranh để lại. Theo số liệu thống kê vào cuối năm 2011 của Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam thì cả nước ta hiện nay có khoảng 4,8 triệungườibị phơi nhiễm chất độc màu da cam, trong đó có khoảng 150.000 trẻ embịdịtậtbẩmsinh. [27]. Dựbáo trong những năm tới, sốlượngtrẻkhuyết tật vẫn có xu hướng gia tăng. Và nếu nguyên nhân dẫn đến khuyết tật do bẩm sinh, bệnh tật chiến tranh có chiều hướng giảm đi thì các nguyên nhân do tai nạn, do ô nhiễm môi trường lại có xu hướng tăng lên bởi quá trình phát triển của công nghiệp hoá và đôthịhoá đang diễn ra tươngđốimạnhmẽ ở Việt Nam, đặc biệt, sẽ xuất hiện phổ biến tình trạng trẻ em tự kỷ – một dạng khuyết tật mới trong thời đại hiện nay.

Hơn nữa, qua kết quả của một số cuộc điều tra mẫutrước đâycho thấy, phầnlớn trẻem khuyết tật ở Việt Namchủ yếusống phụ thuộc vào gia đình, hoặc được cưu mang trong các cơ sở bảo trợ xã hội. Trẻ hầu như chưa cókhảnăngtạora thu nhập, nếucó thì chiếmtỷlệ rấtít, và nguồn thu nhập thấp, khôngổnđịnh. Bên cạnhđó,kếthợpvớitrìnhđộvăn hóa chưa đượcđảm bảo, thêm vào là ràocảntừphía xã hộikhiến trẻ khuyếttậtgặpnhiều khó khăn khi có nhu cầu tham gia bình đẳng vào mọi hoạt động của đời sống cộngđồng. Điều này phản ánh một thực trạng đáng lo ngại về tình trạng trẻ khuyết

tậtvà cuộc sống của trẻ em khuyếttậtở nước ta hiện nay, do đó rấtcần sự hỗtrợ, quan tâm, chia sẻ từ phía các cá nhân, cơ quan, tổ chức và toàn xã hội.

2.2. Thực trạngBảođảmquyền củatrẻ em khuyết tật trong lĩnh vực xây dựng pháp luật

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *