MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm đổi mới, thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân vấn đề bảo đảm quyền con người và quyền công dân nhất là trong hoạt động tư pháp luôn được chúý quan tâm và đặc biệt coi trọng. Nhưng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, có chiều hướnggia tăng. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tiến hành tố
tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp nên đã góp phần quan trọng trong đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật giữ vững an ninh – chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp còn chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó, còn bộc lộ nhiều yếu kém, nên có lúc, có nơi còn bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân. Những điều đó đã tạo nên dư luận xã hội không tốt, làm giảm lòng tin vào nền công lý xã hội chủ nghĩa.
Chính vì những lý do nêu trên, Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ởViệt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nhấn mạnh: Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm cho sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng đểphán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp. Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị có hiệu lực từ ngày 02/01/2002 được xem như sự mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta. Nghị quyết này đề cập nhiều nội dung khác nhau của công tác tư pháp từhoạt động điều tra, truy tố xét xử cho đến việc đào tạo cán bộ Tư pháp, quy chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, tăng cường yếu tố tranh tụng trong quá trình xét xử vụ án hình sự được coi là điểm nhấn của cải cách tư pháp và là vấn đềtrọng tâm của Nghị quyết (nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên
toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, NBC và những người tham gia tố tụng khác, v.v). Tiếp theo là Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Nângcao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tưpháp; từng bước xã hội hoá một số hoạt động tư pháp, “Nghiên cứu việc chuyển VKS thành viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”, “Hoàn thiện cơ chế bảo đảm đểluật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõchế độtrách nhiệm đối với luật sư”. Những tư tưởng quan điểm trên một mặt xác định tranh tụng là một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp, mặt khác đây cũng được coi là định hướng và yêu cầu thúc đẩy việc nghiên cứu vấn đề bảo đảm tranh tụng trong hoạt động của Toà án. Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhằm xác định sự thật vụ án, bảo đảm xét xửđúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.
Mặc dù nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đã được ghi nhận và từng bước được quy định trong Hiến pháp, luật pháp và đưa vào thực hiện, nhưng quyền lợi của người phạm tội, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác vẫn còn những dấu hiệu bị vi phạm. Vị trí, vai trò và chức năng của họchưa được đánh giá một cách đúng đắn dẫn đến không được bảo đảm đầy đủcác quyền và lợi ích hợp pháp theo Hiến định và Luật định. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, tuy nhiên đáng chú ý hơn là việc các chủ thể tham gia tố tụng chưa nhận thức đầy đủvà chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam. Đây cũng chính là lý do quan trọng nhất để tác giả lựa chọn đềtài “Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơthẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”cho luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Nội dung của đề tài luận án không trùng lặp với bất cứ một công trình nào khác đã công bố.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2.1. Mục đích của luận án
Luận án nhằm làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, làm rõ những yêu cầu cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xử án sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Đểđạt được mục đích của luận án, tác giả kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan và tiếp tục làm rõ một số vấn đềsau:
– Phân tích khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; khái niệm công cụ để đi đến nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụán hình sự. Từ khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, tác giả tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng bao gồm: nội dung, yêu cầu, vai trò và ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Bên cạnh đó, luận án cũng làm rõ hơn yêu cầu cải cách tư pháp và điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và những kinh nghiệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng ở một số nước trên thế giới có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.
– Luận án tập trung nghiên cứu, đánh giá khái quát pháp luật Việt Nam vềviệc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ởViệt Nam, từ đó rút ra những ưu điểm, hạn chế bất cập và nguyên nhân của thực trạng đó để từ đó đềxuất những quan điểm và giải pháp phù hợp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đềlý luận về cải cách tư pháp, hoạt độngxét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tưpháp ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Đềtài tập trung nghiên cứu về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.
– Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong phạm vi toàn quốc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Thời gian nghiên cứu giai đoạn từ 2003-2013 (từ khi ban hành BLTTHS năm 2003 đến nay).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận của luận án này là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng lịch sử) và tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về nhà nước, pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, pháp luật TTHS, pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới và Việt Nam, thể hiện trong quá trìnhchỉ đạo đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tưpháp nói riêng theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Mặt khác, đềtài tham khảo kinh nghiệm của một số nước trong thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trongxét xử vụ án hình sự đểáp dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, phương pháp so sánh, tổng hợp đểluận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu ở trên.
– Phương pháp hệ thống được sử dụngtrong chương 1 đểphân loại và nghiên cứu nội dung các tài liệu, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.
– Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án. Nội dung của ba chương có mối liên hệ xuyên suốt. Trong chương 2, tác giả trình bày một cách khái quát, đầy đủ cơ sở lý luận về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS và những yêu cầu bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong điều kiện cải cách tư pháp. Những lý giải về mặt lý luận của chương 2 chính là cơsở đánh giá thực trạng thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xửsơ thẩm vụ án hình sự ở chương 3 và từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở chương 4.
– Phương pháp lịch sử thống kê, so sánh được sử dụng trong đánh giá thực trạng thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam. Tác giả đưa ra những nhận xét về tình hình việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS dựa trên những nghiên cứu, phân tích điều kiện cụ thểcủa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, thực hiện cải cách tư pháp.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong cả chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án. Ở chương 2, tác giả phân tích khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án; các yêu cầu, điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng. Tiếp theo, chương 3 phân tích nguyên nhân của thực trạng thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS và chương 4 phân tích những quan điểm và giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Trong khi nghiên cứu về các mô hình tố tụng trên thế giới, tác giả chú trọng sử dụng phương pháp phân tích và so sánh nhằm tìm ra những kinh nghiệm về thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cho Việt Nam.
– Trong phần nghiên cứu thực trạng thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng ở Việt Nam, tác giả còn sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm thu thập, tổng hợp các số liệu đểchứng mình cho các luận giải của mình.
5. Những điểm mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Kết quả nghiên cứu của đề tài “Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ởViệt Nam” được thể hiện:
– Xác lập được khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự với những đặc điểm, nội dung, vai trò, ý nghĩa, điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Chỉ ra những bất cập, nguyên nhân của những bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng về bảo đảm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụán hình sự ở Việt Nam.
– Nghiên cứu quá trình hình thành, lý do của sự phát triển, trên cơ sở ưu điểm của tố tụng tranh tụng, kinh nghiệm từ một số nước trong hệ tố tụng thẩm vấn khi vận dụng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng; phân tích thực tế điều kiện Việt Nam, đưa ra quan điểm và đề xuất việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cũng như các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc này trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đề cập tới vấn đềtranh tụng mà gần đây nhất là luận án tiến sĩ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thu Hiền. Tuy nhiên, trong khoa học lại thiếu vắng những công trình nghiên cứu khoa học lớn (cấp Bộ, cấp Nhà nước) đề cập trực diện về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và khả năng vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh nước ta. Mặt khác, các công trình viết đã công bố lại chưa có điều kiện đề cập một cách toàn diện và tổngthể những vấn đềlý luận và thực tiễn vềbảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử. Chính vì những lý do nêu trên mà tác giả đã nghiên cứu rất công phu và cố gắng trong 03 năm mới có thểhoàn thành. Luận án là một công trình nghiên cứu khoa học lần đầu tiên ở Việt Nam trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam. Luận án góp phần bổ sung lý luận về cải cách tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử; bổ sung hoàn thiện lý luận về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND.
Trong quá trình hoàn thiện luận án này tác giả đã dày công nghiên cứu khoa học, các tài liệu của Hội thảo liên quan đến luận án; những bài viết của các tác giả đăng trên các Tạp chí, các Sách, Tạp chí Toà án nhân dân, Tạp chí VKS nhân dân, Đặc san nghề Luật; Nghị quyết 08/NQ-TW; Thông tư BộCông an; Sách Chính trị quốc gia; Đềtài khoa học cấp Bộ; Thông tin khoa học xét xử; Tạp chí Dân chủ Pháp luật; Bình luận BLTTHS, các Báo cáo tổng kết hàng năm của Toà án nhân dân tối cao; của Toà án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở một số địa phương. Ngoài ra tác giả còn khai thác một cách công phu những thông tin trên mạng internet có liên quan đến Luận án; trực tiếp trong xét xử của các TP các cấp.
Bản thân tác giả là thẩm phán TAND cấp huyện, đã tham gia xét xử sơthẩm nhiều vụ án hình sự. Từ các công trình khoa học và trải nghiệm của bản thân, những kiến nghị mà tác giả đưa ra vừa có ý nghĩa như một đề xuất mang tính khoa học, góp phần bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay, góp phần vào việc thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà xét xử mà Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị coi là điểm nhấn của cải cách tư pháp. Công trình có thể làm tài liệu giảng dạy trong các trường đào tạo luật, đào tạo nghiệp vụ ngành công an; VKS; TA; nghề luật sư. Ngành tòa án; VKS; cơ quan điều tra có thể áp dụng trong các trường đào tạo nghiệp vụ xét xử như Học viện tư pháp, trường đào tạo cán bộngành tòa án của TAND tối cao, để nâng cao chất lượng xét xử.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phân mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 04 chương, 11 tiết
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG ĐỀTÀI LUẬN ÁN
Qua nghiên cứu các công trình khoa học về nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cho thấy các công trình đều chưa đánh giá được thực trạng công tác bảo vệ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụán hình sự, cũng như phân tích được những ưu điểm, nhược điểm và tìm ra nguyên nhân của những mặt hạn chế. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xửsơ thẩm vụ án hình sự là một nhu cầu tất yếu khách quan và cấp bách xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ của công cuộc cải cách Tư pháp mà Nghịquyết số 49/NQ-TW đã đềra: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụnhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động Tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và có hiệu lực cao … Nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, NBC và Những người tham gia tố tụng khác, v.v. Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của KSV, NBC, Bị cáo, Nhân chứng, Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định, v.v.).
Các công trình, bài viết liên quan của các tác giả khác đã có đề cập tới một số khía cạnh khách nhau của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS, tuy nhiên hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vấn đềnày. Đểđạt được mục tiêu của luận án là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam dưới góc độ của chuyên ngành lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật, luận án kế thừa có chọn lọc các kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học đã nêu và tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ một số vấn đềsau đây:
Về lý luận, luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc bảo đảm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, bao gồm:
– Khái niệm, đặc điểm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Nội dung, yêu cầu, vai trò và ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Bên cạnh đó, điều chỉnh và bổ sung những nội dung về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS trong điều kiện đất nước thời kỳ đổi mới mà các công trình khoa học khác chưa đề cập đến.
– Cải cách tư pháp và yêu cầu, điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Những kinh nghiệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo đối với Việt Nam.
Về thực tiễn, luận án:
– Phân tích đánh giá: pháp luật Việt Nam về việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, luận án đề xuất những quan điểm và giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơthẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ những kết quả nghiên cứu chương 1 cho thấy đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong nước và ngoài nước liên quan đến nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Những công trình này liên quan đến các nhóm vấn đề cơ bản sau:
– Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi. Các công trình ở nhóm này đề cập đến một số vấn đềlý luận về đặc điểm, cách thức tổ chức mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn ở một số nước trên thế giới, trên cơ sở đó chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm, những hệ lụy, nguyên nhân của những bất cập đó để từ đó đưa ra ý tưởng cải cách tổ chức và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
– Nhóm các công trình thể hiện những quan điểm khác nhau về“tranh tụng”, “tranh luận” tại phiên tòa. Đồng thời các công trình đã thể hiện sự thừa nhận của các tácgiảở các mức độkhác nhau về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Các công trình này cho thấy sự khác nhau về quan điểm của các tác giả trong việc ghi nhận và thể chế hóa việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS trong Hiến pháp và Luật pháp của Việt Nam.
– Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, vai trò của các chủ thể tham gia tố tụngvà phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS ở Việt Nam. Qua nghiên cứu cho thấy, các công trình này chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ tổ chức thực hiện nội dung pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu thực hiện pháp luật bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
– Nhóm các công trình của các tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu về nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng có giá trịtham khảo cho việc nghiên cứu tìm ra phướng hướng, giải pháp cho Việt Nam hiện nay.
Tóm lại, các công trình khoa học được đề cập trong chương 1 của luận án, ở những mức độkhác nhau đều liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vấn đề bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơthẩm vụ án hình sự dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Mặc dù vậy, các công trình khoa học đó là những tài liệu tham khảo có giá trị đối với việc nghiên cứu, giải quyết mục đích và nhiệm vụ của luận án.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1.1. Khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2.1.1.1. Khái niệm nguyên tắc tranh tụng
Theo từ điển tiếng Việt “nguyên tắc”là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”. Giáo trình Luật TTHS, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 cũng xác định nguyên tắc là “tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơbản của một hoạt độngnào đó”[16, tr.45]. Trong khoa học pháp lý, theo nghĩa chung nhất thì nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cơbản có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt và có ý nghĩa bao trùm, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật [28, tr.245]. Nguyên tắc TTHS là những phương châm, định hướng chi phối và giải quyết toàn bộ các giai đoạn TTHS hoặc một số giai đoạn TTHS và mang tính chất định hướng cho mọi hoạt động và hành vi tố tụng [99, tr.375].
Tranh tụng trong TTHS tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật. Dù là trong mô hình TTHS nào, cũng luôn tồn tại các chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng tài phán. Sự tồn tại khách quan của chức năng buộc tội làm xuất hiện chức năng gỡ tội và nhu cầu đối chất, tranh tụng giữa hai nhóm chủ thể có quyền và lợi ích đối lập nhau nhằm bảo vệ lý lẽ của mình, phủ định, phản báclý lẽ của chủ thể đối lập. Nhà làm luật dù có ghi nhận hay không ghi nhận theo ý muốn chủ quan của mình thì tranh tụng vẫn tồn tại là một thuộc tính khách quan của TTHS. Đây cũng chính là một trong những phương châm có tính định hướng của hoạt động TTHS, bởi tranh tụng được coi là một trong những phươngtiện đểtìm ra sự thật khách quan của vụ án, tái hiện sự thật vụ án thông qua tranh tụng. Do tranh tụng tồn tại khách quan và là một trong những tư tưởng chủ đạo, định hướng, chi phối đến quá trình giải quyết vụ án hình sự nên hệ quảtất yếu là nó tồn tại với tính ổn định cao.
Nếu chỉ coi tranh tụng là một phương pháp nhằm thực hiện mục đích xác định sự thật khách quan trong vụ án hình sự mà không phải là một nguyên tắc của TTHS là một thiếu sót. Việc khẳng định tranh tụng là một nguyên tắc của TTHS có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ các quyền của con người trong lĩnh vực TTHS. Điều 10, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc ngày 10/12/1948 ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũngnhư về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ”, cho thấy nguyên tắc tranh tụng đã được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu.
Theo các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ thì nguyên tắc tranh tụng được coi là cơ sở của TTHS; theo quan điểm của nước Ba Lan thì nó là nguyên tắc tổ chức và là nguyên tắc cơ bản của TTHS [50, tr.46]. Tranh tụng, mặc dù được thừa nhận ở nhiều góc độkhác nhau, nhưng tựu chung lại được xem là phươngtiện đểđạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra của TTHS là nhằm giải quyết vụ án hình sự khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật. Tranh tụng không những thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo của TTHS mà còn là cơ sở để xác định địa vị tố tụng và chức năng của cácchủ thểtrong TTHS. Sự định hướng của nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể, được tiến hành dưới hình thức tranh luận, phản bác công khai các quan điểm giữa bên buộc tội và bên bào chữa.
Như vậy, nguyên tắc tranh tụng trong TTHS là định hướng cho tất cả các chủ thể THTT và tham gia tố tụng trong mọi hoạt động và hành vi tố tụng theo luật định được tranh tụng trên cơ sở bình đẳng bằng lý lẽ dựa trên những chứng cứ, quy định pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa, là cơ sở để TA giữ vai trò trung tâm, độc lập với chức năng tài phán ra phán quyết áp dụng pháp luật có hiệu lực thi hành, kết thúc quá trình giải quyết vụ án hình sự cụ thể.
2.1.1.2. Nội dung của nguyên tắc tranh tụng
Về khái niệm tranh tụng, sau khi phân tích quá trình tố tụng, căn cứ vào nội dung, tính chất tranh tụng và hình thức tiến hành của các loại tranh tụng, tác giả nhận địnhtranh tụng trong TTHS là cuộc tranh luận giữa hai bên có lập trường tương phản nhau gắn liền với hoạt động xét xử. Tranh tụng trong TTHS diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng, tuy nhiên chỉ có thể được tiến hành đầy đủ tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Tham gia quá trình tranh tụng là tất cả các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và các chủ thể khác dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa, sự giám sát của HĐXX một cách công khai. HĐXX có vai trò đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, làm trọng tài phân xửvà đưa ra quyết định cuối cùng về vụ án. Tranh tụnglà cơ sở đểxác định địa vị tố tụng, chức năng, vai trò của các chủ thể trong TTHS.
Từ khái niệm về nguyên tắc tranh tụng tác giả đã trình bày, có thể thấy nội dung của nguyên tắc tranh tụng trong TTHS gồm hai nội dung: phân định rõ chức năng buộc tội, gỡ tội và tài phán, trong đó chức năng tài phán không thể bao gồm cả việc buộc tội hay bào chữa; bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong địa vị tố tụng cũng như trong việc sử dụng các phương tiện mà pháp luật cho phép đểthực hiện chức năng của mình trong TTHS. Cụ thể:
– Phân định rõ các chức năng buộc tội, gỡ tội và tài phán: Chức năng buộc tội, gỡ tội và tài phán trong TTHS tương ứng thuộc về bên buộc tội, bào chữa và TA. Chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội tự bản thân nó đã mang tính đối lập nhau. Chức năng tài phán của TA thì không thể bao gồm cả việc buộc tội hay bào chữa. Nội dung này chính là sự khẳng định vị trí, vai trò của TA là người trọng tài, xác địnhchứng cứ, sự thật của vụ án đểphán xét qua tranh luận của bên buộc tội và bên gỡ tội.
– Bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong tranh tụng. Việc quy định chínhxác, đầy đủquyền và nghĩa vụ tố tụng của từng chủthể của các bên, các điều kiện bảo đảm cho chúng được thực hiện là một trong những cơ chế để bảo đảm cho nguyên tắc tranh tụng được thực hiện.
Trong giai đoạn điều tra, đã có những yếu tố tranh tụng cùng với sự tham gia của bên buộc tội và bên bào chữa. Tuy nhiên, những nội dung và đặc điểm của tranh tụng chỉ được thể hiện đầy đủkhi xuất hiện chức năng tài phán của phía trọng tài trong phiên tòa xét xử. Về hình thức, tranh tụng là tại phiên tòa là thủ tục đểcác bên buộc tội và bên bào chữa thể hiện địa vị tố tụng ngang bằng trước tòa. Về nội dung, tranh tụng là quá trình chứng minh hoặc phủ nhận tính hợp pháp của từng chứng cứ được đưa ra xem xét cũng như nội dung quyết định buộc tội. Các hoạt động của các chủ thể ở phiên tòa đều nhằm kiểm tra tính xác thực và hợp pháp của từng nội dung trong cáo trạng truy tố.
2.1.1.3. Khái niệm phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Hiện nay trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Theo từ điển Luật học: “Xét xử là hành động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tínhchất, mức độpháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc. “Xét” có thể do một Hội đồng thực hiện hoặc có thể do một cá nhân thực hiện, nhưng không phải mở phiên tòa”.
Giáo trình Luật TTHS định nghĩa: “Xét xử sơ thẩm là giai đoạn của TTHS trong đó TA có thẩm quyền tiến hành xem xét giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật”. Định nghĩa này chưa làm rõ bản chất của xét xử sơ thẩm và chưa phân biệt giữa xét xử sơ thẩm với xét xử phúc thẩm. Xét xử sơ thẩm là hoạt động tố tụng thực hiện chức năng xét xử của TA dưới hình thức phiên tòa xem xét và giải quyết vụ án hình sự có nghĩa là TA trên cơ sở các chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa đưa ra phán quyết về bị cáo có tội hay không có tội. Đây là mấu chốt phân biệt xét xử sơthẩm với xét xử phúc thẩm. Phiên tòa sơ thẩm chỉ có thể tiến hành khi có quyết địnhtruy tố của VKS và có đủđiều kiện đểtiến hành phiên tòa. Đối tượng của phiên tòa sơ thẩm là cáo trạng của VKS, cáo buộc nhân danh nhà nước đối với bị cáo về việc đã thực hiện hành vi phạm tội. TA sơ thẩm có trách nhiệm xem xét những nội dung cáo buộc này của bên buộc tội có căn cứvà hợp pháp hay không và thực hiện quyết định của mình trong bản án. Còn phiên tòa phúc thẩm chỉ có thể tiến hành trên cơ sở kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Đối tượng xem xét của phiên tòa phúc thẩm không phải là cáo trạng mà chính là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị về tính hợp pháp và tính có căn cứ của nó.
Theo cách hiểu thông thường, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cấp xét xử đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án, nó phán quyết hành vi phạm tội của người đã thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết những vấn đềkhác của vụ án.
Trong TTHS, giai đoạn xét xử được coi là trọng tâm, và trong các cấp xét xử thì cấp sơ thẩm được xem là có vai trò quan trọng nhất bởi đây là giai đoạn mà toàn bộ vụ án và mọi vấn đề liên quan đến vụ án được xem xét lần đầu và quyết định. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tốtụng, trong đó TA có thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xét xử bằng phiên tòa nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội để từ đó đưa ra phán quyết bằng bản án, quyết định[16, tr.310]. Xét xử sơ thẩm là giai đoạn bắt buộc đối với quá trình giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào.
Như vậy, xét xử sơ thẩm là việc TA xét xử lần đầu đối với toàn bộ vụ án, quyết định bị cáo có tội hay không có tội và áp dụng hình phạt, mức bồi thương thiệt hại (nếu có). BLTTHS Việt Nam quy địnhhoạt độngxét xử vụán hình sự gồm: xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm. Điều 20 BLTTHS quy định: “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử”.
2.1.1.4. Khái niệm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Hiện nay trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về tranh tụng. Theo từ điển Tiếng Việt thì tranh tụng được định nghĩa là “sự kiện cáo nhau” giữa hai bên: bên nguyên đơn và bên bị đơn có lập trường tương phản yêu cầu Toà án phân xử.
Xét về lịch sử ra đời, tranh tụng trong Tiếng Anh là “Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu. Tranh tụng xét về bản chất chính là cuộc đấu tranh giữa hai bên trong TTHS (bên buộc tội và bên bào chữa) mà việc đương đầu diễn ra tại Toà án nơi diễn ra phiên toà để thuyết phục quan toà ra phán quyết có lợi cho mình.
Xét về ngữ, tranh tụng là một từ Hán Việt được ghép thành từ “tranh luận” và “tố tụng”. Do đó, suy diễn theo nghĩa Hán Việt, tranh tụng được xem là tranh luận trong tố tụng.
Theo cách hiểu thông thường, tranh tụng là việc từng bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại, bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau song tranh tụng được xem là một loại hoạt động trong quá trình TTHS. Tranh tụng không chỉ đòi hỏi Toà án phát huy vai trò phán xét của mình để đưa ra sự thật khách quan của vụ án mà còn đòi hỏi mỗi người tham gia hoạt động tố tụng phải phát huy vai trò của mình. Cụ thể Toà án giữ vai trò trung gian, trọng tài cho cuộc tranh tụng giữa Luật sư và Công tố viên. Trong đó Luật sư giữ vai trò là NBC và bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, Công tố viên và cơ quan Điều tra với vai trò là bên buộc tội để bảo vệ công lý. Hay nói khác khác, tranh tụng trong phiên toà chính là một trong các hoạt động tố tụng được tiến hành bởi các bên tham gia tố tụng nhằm mục đích đưa ra các luận điểm,ý kiến của mình để bảo vệquan điểm hoặc bác bỏ luận điểm và những lời buộc tội của phía bên kia dưới sự điều khiển của Toà án. Trong hoạt động tranh tụng tại các phiên toà hình sự, Công tố viên hoạt động nhân danh Nhà nước để buộc tội cho bị cáo; còn Luật sư lại hiện diện với vai trò là NBC, gỡ tội cho thân chủ của họ. Xét vềmặt chủ thể, có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ pháp luật ởđây là mối quan hệ giữa cơ quan, cá nhân hoạt động nhân danh Nhà nước với cá nhân hoạt động mang tính xã hội – nghề nghiệp. Tranh tụng vì thế có đặc thù bất bình đẳng về vị trí pháp lý của chủ thể nên đòi hỏi phải có sự bình đẳng trong cách thức, quy trình và thủ tục tranh tụng, bảo đảm quyền lực tố tụng được bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng.
Trên thế giới hiện nay, tố tụng được phân chia là hai mô hình chính. Đó là tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn (hay còn gọi là tố tụng xét hỏi).Việc phân loại này phụ thuộc nhiều vào tổ chức tư pháp nước đó theo hệ thống pháp luật gì theo hệ thống án lệ hay hệ thống luật Châu Âu lục địa. Thực tiễn cho thấy rằng ở những nước Châu Âu thì mô hình tố tụng xét hỏi được sửdụng phổ biến. Còn ở các nước theo trường phái luật án lệ như Anh, Mỹ, Úc, mô hình này tuy có khác nhau về thủ tục, trình tự và các biện pháp, cách thức đểtham gia tố tụng thực hiện các hoạt độngnghiệp vụ của mình, song đều giống nhau ở mục đích cơ bản là tìm ra sự thật khách quan của vụ án thông qua hoạt động tố tụng, bảo vệ pháp luật, công lý và bảo đảm quyền conngười, quyền công dân; phát huy vai trò của các chủ thể tham gia quá trình tố tụng khác đểkhắc phục các hiện tượng oan sai trong TTHS.
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Tranh tụng trong phiên toà xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là quá trình các bên tham gia tố tụng đưa ra quan điểm, chứng cứ của mình và tranh luận để làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở những chứng cứ không thể bác bỏ để HĐXX phán quyết.
2.1.1.5. Khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo từ điển tiếng Việt, “bảo đảm”là tạo điều kiện cần thiết đểthực hiện được những nguyên tắc; bảo đảm theo nghĩa chung nhất là “làm cho chắc chắn thực hiện được những gì cần thiết, là trách nhiệm của mọi chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn”.
Trong suốt quá trình tranh tụng, bên buộc tội và bên bào chữa có thể liên tục trao đổi những lập luận, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, cũng có khi một bên im lặng lắng nghe đối phương trình bày rồi mới tìm ra những bất hợp lý của họ làm cơ sở cho những lập luận của mình. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng nhằm bảo vệ quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tham gia tố tụng không thể thực hiện được khi chỉ có một bên nào đó hoặc chỉ có cơ quan chức năng phát hiện có tội phạm; bảo đảm cho các bên có thể chủđộngdùng các phương tiện pháp luật cho phép đểthu thập và xuất trình chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình; chủ động xác định các vấn đề cần tìm hiểu, cần phải làm rõ để thuyết phục TA. Tranh tụng tạo điều kiện và cơ hội ngang nhau cho các bên trình bày quan điểm, lý lẽ và phần tranh luận của mình tại phiên tòa.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng mở ra cơ hội cho các bên tham gia tốtụng. Bên buộc tội, bên bào chữa đều có quyền chủ động xác địnhcác vấn đềcần chứng minh, trên cơ sở đó có thể tự tiến hành điều tra, thu thập chứng cứcần thiết, triệu tập nhân chứng để phản bác lại quan điểm của phía đối phương và khẳng định lý lẽ của mình trước tòa. Mọi chứng cứ, lý lẽ được thu thập, xuất trình tại phiên tòa theo đúng trình tự pháp lý được TA chấp nhận sẽ là căn cứ cho phán quyết cuối cùng mà không phân biệt là do bên nào đưa ra. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tạo điều kiện cho bên buộc tội mà chủ yếu là CQĐT và Viện công tố không chỉ thu thập chứng cứ buộc tội mà còn có nghĩa
vụ thu thập chứng cứ có tính chất gỡ tội hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcho người bị tình nghi; bảo đảm việc thu thập chứng cứ phản bác sự buộc tội, chứng minh vô tội, giảm nhẹ tội hoặc trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án hình sự của người bị tình nghi do bên bào chữa thực hiện. Trong trường hợp người bị hại tự mình thu thập chứng cứ chứng minh kẻ tình nghi đã xâm phạm quyền lợi của mình được pháp luật hình sựbảo vệ thì có thể yêu cầu sự trợ giúp từ các cơ quan quyền lực công. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tạo điều kiện cho các chủ thể vận dụng hết khả năng của mình trước TA đểkhẳng địnhviệc phải chịu trách nhiệm hình sự vì đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ cũng như việc phủ nhận các cáo buộc, chứng minh vô tội hoặc những tình tiết giảm nhẹ tội, trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội.
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là tạo các điều kiện cần và đủnhằm bảo đảm hiện thực hóa nguyên tắc tranh tụng một cách nghiêm túc, triệt để tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; tạo điều kiện cho các bên tham gia tố tụng đưa ra quan điểm, chứng cứ và tranh luận để làm sáng tỏ sựthật của vụ án trên cơ sở những chứng cứ không thể bác bỏ, nhằm mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có hành vi phạm tội, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, bảo vệ pháp chế, pháp luật, giám sát hoạt động tư pháp, bảo vệ công lý, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.
2.1.2. Đặc điểm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Quá trình phát triển của mô hình TTHS nước ta chịu ảnh hưởng lớn từmô hình TTHS Pháp và Xô Viết (hai mô hình TTHS vốn bắt nguồn từ truyền thống luật châu Âu lục địa) và đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn. Hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp của Pháp đã hiện diện ở nước ta trong gần 100 năm, bên cạnh hệ thống pháp luật và hệ thống tưpháp phongkiến bản xứ, đã ảnh hưởngsâu sắc tới truyền thống, tư duy pháp lý ở nước ta. Các BLTTHS được ban hành và áp dụng trong thời kỳ Pháp thuộc là sự sao chép cơ bản BLTTHS của Pháp thời đó.
Sau năm 1945, hệ thống cơ quan tư pháp ở nước ta được hình thành, chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ mô hình của Pháp. Từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980, mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp và hệ thống luật nước ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mô hình Xô Viết. Trong lĩnh vực TTHS, sự ảnh hưởng này được thể hiện đậm nét trong BLTTHS đầu tiên của nước ta ban hành năm 1988 và tiếp tục ảnh hưởng trong BLTTHS năm 2003. Vì thế, có thể khẳng định mô hình TTHS ở nước ta về cơ bản là mô hình TTHS thẩm vấn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của nó, đã tiếp thu một số hạt nhân của mô hình TTHS tranh tụng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội cụ thể của Việt Nam. Để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự cần chú ý các đặc điểm sau đây:
Một là, tất cả các cơ quan và những người tham gia tố tụng đều có quyền và nghĩa vụ xác định sự thật vụ án.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự đòi hỏi người bào chữa và cả bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án.
Hai là, kết hợp phương pháp điều tra, thẩm vấn với phương pháp tranh tụng: Thể chế hóa quan điểm của Đảng về tăng cường tranh tụng tại phiên tòa, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung một chương riêng về tranh luận tại phiên tòa: phương pháp tố tụng áp dụng trong giai đoạn này là phương pháp tranh tụng. Việc tranh tụng, đối đáp chỉ diễn ra giữa KSV và NBC cùng những người tham gia tố tụng khác. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến.
Ba là, về vị trí, vai trò của các chủ thể trong TTHS: Khác với mô hình TTHS tranh tụng, phân chia các chủ thể tố tụng dựa vào tiêu chí là các chức năng cơ bản của TTHS: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử, trên cơ sở đó hình thành các bên trong quan hệ tố tụng: bên buộc tội, bên bào chữa và TA trung lập.
Khác với mô hình TTHS tranh tụng, người bị hại trong TTHS nước ta không có quyền khởi tố vụ án hình sự; không có quyền lựa chọn cách thức
giải quyết vụ án, dừng kiện, hay chấp nhận việc mặc cả thú tội như trong mô hình TTHS tranh tụng do quan niệm vụ án hình sự xảy ra bị xem là đã xâm hại tới trật tự công cộng, lợi ích chung của toàn xã hội và trách nhiệm giải quyết vụ án hình sự phải thuộc về Nhà nước. Người bị hại chỉ có quyền trình báo với các cơ quan có thẩm quyền về vụ việc xảy ra, cung cấp thông tin cho các CQTHTT và tham gia tố tụng với vai trò gần như người làm chứng.
Bốn là, về việc thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS: Dù áp dụng mô hình TTHS nào thì trong TTHS luôn tồn tại 3 chức năng cơ bản, đó là buộc tội, bào chữa và xét xử. Vai trò, thẩm quyền của các chủ thể được phân định theo các chức năng tố tụng là điều kiện quan trọng bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của TTHS.
Có thể thấy, tính tranh tụng trong hoạt động TTHS ở nước ta còn rất hạn chế, chức năng bào chữa dường như bị lấn át bởi chức năng buộc tội.
Năm là, hồ sơ vụ án chỉ là căn cứ để buộc tội của bên buộc tội: trong TTHS Việt Nam luôn tồn tại hồ sơ vụ án hình sự. Như vậy, hồ sơ vụ án – kết quả hoạt động của CQĐT và Cơ quan công tố trong mô hình tranh tụng – chỉlà căn cứ đểbuộc tội của bên buộc tội. TA còn phải căn cứ vào hồ sơ và lý lẽtranh luận của bên gỡ tội đểphán xét có tội phạm hay không và hình phạt được áp dụng.
2.2. NỘI DUNG, VAI TRÒ, Ý NGHĨA BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.2.1. Nội dung bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2.2.1.1. Bảo đảm về mặt pháp lý
– Bảo đảm về pháp lý từ Hiến pháp
Do tranh tụng tồn tại từ khi xuất hiện chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội cho đến khi mâu thuẫn được giải quyết. Nội dung của tranh tụng đa dạng, có thể là về bản chất, nội dung của vụ việc, cũng có thể là các vấn đề vềtrình tự, thủ tục, quy định của tố tụng được biểu hiện tập trung nhất trong giai đoạn xét xử. Hình thức tranh tụng biểu hiện thông qua việc bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra ý kiến, yêu cầu hoặc khiếu nại để TA xem xét các quyết định, hành vi, thủ tục tố tụng, trên cơ sở đó đưa ra quyết địnhcuối cùng.
Chính vì vậy, tại khoản 5, Điều 103 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã quy đinh: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.
– Bảo đảm về pháp lý từ pháp luật TTHS
Pháp luật TTHS quy định rõ những nguyên tắc cơ bản của quá trình tố tụng; vai trò, vị trí, chức năng của các CQTHTT và những người tham gia tố tụng tạo cơ sở pháp lý cho bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS, cụ thể là:
– Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5 BLTTHS ) và không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9). Theo đó, mọi công dân không phân biệt giới tính, dân tộc, tuổi tác đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trước pháp luật và nhận được sự đối xử như nhau khi chưa có sự phán quyết của TA.
– Các Điều 10, 11, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 và Điều 40 của BLTTHS quy địnhcác CQTHTT bao gồm CQĐT, VKS, TAND có trách nhiệm xác minh sự thật của vụ án và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của những người THTT. Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa chứng minh là mình vô tội.
– Các Điều 12, 13, 14 quy địnhtrách nhiệm của CQTHTT và người THTT. Điều 19 quy định rõ: Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bịhại, nguyên đơn dân dự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụán; tạo điều kiện cho việc làm rõ bản chất của vụ việc, những vấn đề cần giải quyết trong vụ án như: có hành vi phạm tội hay không? Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội? Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? Do cố ý hay vô ý? Có năng lực trách nhiệm hình sự hay không? Mục đích, động cơ phạm tội? Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; tính chất và mức độthiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
– BLTTHS còn nhằm mục đích đảm bảo tính hợp pháp và đúng đắn của các quyết định tố tụng, các thủ tục tố tụng, các hành vi tố tụng và các hành vi
khác liên quan đến thủ tục tố tụng như: tranh tụng liên quan đến ý kiến xin thay đổi một thành viên của HĐXX, tranh tụng liên quan đến xin triệu tập thêm người làm chứng. Tạo điều kiện cho tất cả các chủ thể có thể tham gia tranh tụng một cách công bằng, đặc biệt là tạo môi trường tranh tụng có tính chất bình đẳng cho bên buộc tội và bên bào chữa.
2.2.1.2. Bảo đảm về cơ chế xét xử
Khoản 1 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan của TA: “…Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật đểquyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các sự kiện dân sự…”. Nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã được ghi nhận quan các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa trong BLTTHS năm 2003. Phán quyết của HĐXX liên quan đến số phận và vận mệnh của con người, do đó mà yêu cầu độc lập trong xét xử là một trong những yêu cầu tiên quyết trong tố tụng nói chung và TTHS nói riêng.
Trong TTHS, chức năng tài phán thuộc về TA, trong đó không bao gồm việc buộc tội hay bào chữa. TA được khẳng định giữ vị trí, vai trò của người trọng tài trung lập. TA là cơ quan có thẩm quyền nhân danh Nhà nước thực hiện hoạt động xét xử, lắng nghe các luận điểm của các bên và xem xét tính hợp pháp, các giá trị chứng minh của các chứng cứ được đưa ra nhằm xác định sự thật vụ án. TA trên cơ sở các tình tiết của vụ án được tái hiện qua các chứng cứ, xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối chiếu với quy định của pháp luật để đưa ra quyết định kết tội và áp dụng hình phạt đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc tuyên bố vô tội, miễn trách nhiệm hình sựhoặc hình phạt đối với người bị buộc tội. Với chức năng tài phán, TA là người duy trì trật tự tại phiên tòa, giám sát và điều khiển quá trình tranh tụng giữa các bên, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật TTHS của tất cả các chủ thể tham gia phiên tòa. TA trong vai trò của người trọng tài có nhiệm vụ bảo đảm sự bình đẳng được pháp luật quy định giữa bên buộc tội và bên bào chữa, tạo điều kiện phát huy tính tích cực, chủ động của các chủ thể tham gia tranh tụng nhằm làm sáng tỏ các chứng cứ, tình tiết, hành vi để xác định sự thật khách
quan của vụ án. Nhiệm vụ của TA là đánh giá các chứng cứ và ra phán quyết cuối cùng khẳng định hoặc phủ nhận sự buộc tội, áp dụng hình phạt và cách thức thi hành hình phạt. TA là người trọng tài, do đó, cần phải thể hiện sựthuần khiết không thiên vị, là cơ chế bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong quá trình xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa, bảo đảm xác định được sự thật khách quan bởi người trọng tài với chức năng chuyên nghiệp là phán xét nhằm thực hiện công bằng xã hội. Việc bảo đảm cơ chế xét xử của TA có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiên bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; hạn chếvà loại bỏ sự yếu thế của một bên nào đó cùng với sự lấn lướt của số đông làm cho phiên tòa chỉ còn mang tính hình thức, các chứng cứ được xem xét một cách phiến diện và ảnh hưởng đến phán quyết của TA.
Mặc dù TA phải trung lập và không thiên vị, nhưng ở mức độ cần thiết, TA cần phải thể hiện sự tích cực chủ động khi tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa nhằm định hướngcho quá trình tranh tụng không đi lạc trọng tâm, tập trung làm sáng tỏ các chứng cứ, tình tiết để xác định sự thật khách quan về vụ án. Sự tích cực của TA không được làm ảnh hưởng tới tính tích cực, chủ động của bất kỳ chủ thể nào tham gia tố tụng; không ủng hộ hay làm thay chức năng của bên buộc tội hay bên bào chữa trong quá trình tranh tụng.
Bảo đảm cơ chế xét xử là bảo đảm hữu hiệu cho TA THTT độc lập với các yếu tố bên ngoài, bao gồm: các cơ quan, tổ chức, cá nhân và những yêu cầu của người tham gia tố tụng. TA đưa ra phán quyết của mình một cách độc lập căn cứvào các quy định của pháp luật và các chứng cứ đã được xem xét tại tòa. Sự độc lập còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa các cấp TA với nhau. TA cấp trên không được can thiệp vào hoạt động xét xử của TA cấp dưới và ngược lại. Bảo đảm cơ chế xét xử nhằm loại trừ tất cả các trường hợp gây tác động ảnh hưởng tới quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án hình sự.
2.2.1.3. Bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong tranh tụng
Trong TTHS, các chủ thể thuộc các bên khi tham gia tố tụng có trách nhiệm pháp lý và hành vi tương đương nhau. Sự bình đẳng giữa các bên chỉcó được khi bất kỳ chứng cứ hợp pháp nào được chứng minh là phù hợp với sựthật khách quan được TA chấp nhận và dùng làm căn cứ ra phán quyết của vụ
án mà không phụ thuộc vào việc chứng cứ đó do ai cung cấp. Bảo đảm sự bình đẳnggiữa các bên cần được thực hiện ngay từ hình thức để tạo tâm lý rằng sựcông bằng đang được thực thi, và thực tế việc thực hiện các thủ tục tố tụng là cơ sở đểxác định địa vị tố tụng bình đẳng của bên buộc tội và bên bào chữa. Bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong tranh tụng cũng chính là bảo vệ quyền của bị cáo. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, để thực hiện quyền tự bào chữa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và chống lại sự buộc tội, người bị buộc tội không chỉ là một chủ thể mà còn là một bên tham gia tranh tụng và họ có quyền được bình đẳngtrong tố tụng so với bên buộc tội. Địa vị ngang bằng giữa các bên được quy định chặt chẽ trong các quy phạm pháp luật TTHS; các bên được tham gia vào quá trình giải quyết vụ án ngay khi họ muốn và có được những phương tiện mà pháp luật cho phép như sựbảo đảm về khả năng trong việc thực hiện quyền của mình. Các quyền được thực hiện việc gỡ tội của bên bào chữa phát sinh và được thực hiện ngay khi bên buộc tội được thực hiện một quyền nào đó nhằm buộc tội và được TA gồm Bồi thẩm đoàn và TP tuyệt đối tuân thủ. Những chứng cứ, quan điểm, lý lẽ cũng như những đềxuất của các bên đều được trình bày công khai trước Tòa và khôngcó bất kỳlợi thế nào. Bên bào chữa có địa vị pháp lý ngang bằng với bên buộc tội, ngang bằng nhau về quyền năng tố tụng trước vị trọng tài không thiên vị. Người bị buộc tội cũng được pháp luật giành cho những khả năng được xác định trong các quy định cụ thể bao gồm các phương tiện và các điều kiện bảo đảm khác để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình trong TTHS. Người bị cáo có quyền ngang bằng với người buộc tội trước TA trong việc đưa ra các quan điểm của mình về vụ án và quyền này cần được bảo đảm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Bên bào chữa cũng như bên buộc tội cần thiết phải được cung cấp đầy đủnhững phương tiện để thực hiện chức năng của mình. Bởi có sự bảo đảm đó mới có được sự bảo đảm duy trì công lý, bảo đảm các quyền cơ bản của từng chủ thể trong quá trình tham gia TTHS. Việc quy địnhchính xác và đầy đủquyền và nghĩa vụ tốtụng của từng chủ thể của các bên cùng các điều kiện bảo đảm cho chúng được thực hiện là một trong những cơ chế bảo đảm nguyên tắc tranh tụng được tồn tại và thực hiện. Bảo đảm mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia tố tụng với cùng một tư cách. Điều này có nghĩa là sự bảo đảm cho tất cả
những người tham gia tố tụng đều có quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án hình sự và đều phải gánh vác những nghĩa vụ như nhau, không có sự phân biệt vai trò, vị trí, địa vị pháp lý.
2.2.1.4. Bảo đảm quyền bào chữa của bên gỡ tội
Trong TTHS, QBC là toàn bộ các hành vi tố tụng của người bị buộc tội nhằm đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật tố tụng. Bào chữa ở đây được xem là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của bị cáo. Bị cáo có thể sử dụng quyền này bằng cách tự bào chữa cho mình hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, cũng có thể vừa tự bào chữa vừa nhờ người khác bào chữa cho mình. QBC của bị cáo cần được bảo đảm và tạo điều kiện đểđược thực hiện thông qua những quy định về quyền năng cụ thể chongười bịbuộc tội trong Luật TTHS: bị cáo có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, đưa ra chứng cứ, yêu cầu, đềnghị, được giao nhận các văn bản tố tụng, tranh luận và có quyền kháng cáo; những quy định về Luật sư tạo điều kiện cho bị cáo có khả năng thực hiện quyền nhờ người khác bào chữa cho mình. Việc xây dựng và tuân thủ theo trình tự chặt chẽ những quy địnhmang tính pháp lý có ý nghĩa to lớn trong việc tạo ra các cách thức thực hiện và bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng không chỉ là những quy định một chiều về quyền được thực hiện việc bào chữa mà còn là sự bảo đảm quyền đó được thực hiện bằng chính nghĩa vụ của các CQTHTT trong việc tạo điều kiện về mặt thủ tục pháp lý cho bên bào chữa thực hiện quyền của mình. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng chính là tạo môi trường cho quyền bào chữa của bị cáo tồn tại và cũng chính là phươngtiện đểquyền bào chữa được thực hiện một cách có hiệu quả.
Nguyên tắc bảo đảm QBC của bên gỡ tội được thừa nhận trong Công ước quốc tế về cácquyền dân sự và chính trị năm 1966. Khoản 3 Điều 14 của Công ước quy địnhrõ: “3. Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủvà hoàn toàn bình đẳng nhưng bảo đảm tối thiểu sau đây: …b) Có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi đểchuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn; … d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp
pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sựtrợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủđiều kiện trả…”. Ở Việt Nam, tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, truy tố, xét xửcó quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”, khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. CQĐT, VKS, TA có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật (Các Điều 48, 49, 50, 56, 57, 58 của BLTTHS năm 2003). Các quy định này thểhiện sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS trong đó có các bị can, bị cáo. QBC của bên gỡ tội luôn gắn liền với nhiệm vụ của bên buộc tội bảo đảm cho bên gỡ tội thực hiện QBC đó. Trong một số trường hợp, CQTHTT còn phải bảo đảm bị can, bị cáo có NBC. Bảo đảm QBC của bên gỡ tội là một nội dung không thể thiếu trong bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS mà cụ thể là trong phiên tòa xét xử sơthẩm vụ án hình sự.
2.2.1.5. Bảo đảm hoạt động của tất cả những người tham gia tố tụng Tranh tụng tồn tại trong tất cả các giai đoạn: điều tra, truy tố, xét xử nên
các chủ thể tham gia tranh tụng cũng đa dạng và tương ứng với các chức năng của TTHS (buộc tội, gỡ tội, trọng tài), bao gồm các nhóm sau:
– Chủ thể thực hiện chức năng trọng tài là TA, bao gồm TP, Hội thẩm hoặc Bồi thẩm.
– Các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, bao gồm Thủ trưởng CQĐT, ĐTV, Viện công tố hay VKS, Công tố viên hay KSV, người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện của người bị hại.
– Các chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội, bao gồm người bị tình nghi, bịcan, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên, NBC, bị đơn dân sự và người đại diện của bị đơn dân sự.
– Các chủ thể tham gia tố tụng khác để trợ giúp các bên và TA xác định sự thật khách quan của vụ án: người làm chứng, người giám định, nhà chuyên môn, người phiên dịch và người chứng kiến.
Mọi hoạt động của các chủ thể tham gia tố tụng đều nhằm xác định sự thật khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Chính vì vậy, cần thiết phải tạo điều kiện đầy đủ về pháp lý như sự phân định rõràng thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể và những thủ tục tố tụng bình đẳng cũng nhưnhững bảo đảm về cơ sở vật chất để họ thực hiện các hoạt động theo đúng chức năng của mình theo quy định của pháp luật TTHS. Tạo điều kiện cho tất cả các chủ thể tham gia tố tụng đưa ra các luận điểm,chứng cứ, lý lẽ đểchứng mình cho quan điểm của mình một cách công bằng trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng, đặc biệt là giai đoạn xét xử tại TA. Bên cạnh đó, cần bảo đảm đểcác chủ thể tham gia TTHS nhận thức rõ tính khách quan, tính chi phối của tranh tụng trong TTHS bởi đó chính là phương pháp tối ưu để tìm ra công lý.
2.2.1.6. Bảo đảm về các hoạt động hỗ trợ tư pháp
Trong xu thế phát triển chung của xã hội, nhu cầu hỗ trợ pháp lý của người dân nói chung và nhu cầu được hỗ trợ pháp lý trong TTHS nói riêng của người dân ngày càng tăng lên. Để thực hiện nội dung bảo đảm các hoạt động hỗ trợ tư pháp, trước hết, cần tạo điều kiện cho việc tăng cường mạng lưới trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo và nhóm đối tượngchính sách; mở rộng phạm vibào chữa đểđảm bảo cácphiên tòa có sựtham gia của NBC ngày càng nhiều; mở rộng phạm vi các đối tượng được trợgiúp pháp lý miễn phí như các đối tượng bị xâm hại tình dục, bị bạo lực gia đình và các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội.
Mặt khác, để bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm người yếu thế trong xã hội, Nhà nước cũng nên có những chính sách cụ thể và khả thi hơn trong việc xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí cho họ. Cần quy định rõ trách nhiệm của các Luật sư, văn phòng luật sư trong việc tham gia trợgiúp pháp lý cho người nghèo và nhóm đối tượng chính sách; tạo môi trường và cung cấp phương tiện làm việc hiệu quả ngày càng cao cho đội ngũ cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý; đầu tư nghiên cứu cho phép các tổ chức chính trị xã hội thành lập các trung tâm trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, đối tượng chính sách. Hiện tại ở nước ta có 25% hộ nghèo được hưởng chế độ.
Ngoài ra, tăng cường phát triển đội ngũ giám định tư pháp đi kèm với đầu tư phát triển những phương tiện kỹ thuật cao đáp ứng kịp thời và thường
xuyên các hoạt động tố tụng như: giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật
hình sự… Tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực hỗ trợ tư pháp theo hướng chuyên trách, chuyên nghiệp hóa cũng như quy định rõ về trình tự, thời hạn, thủ tục trưng cầu và thực hiện giám định, xác định cơ chế giải quyết xung đột kết luận giám định. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề luật sư, trợ giúp pháp lý cho người dân đồng thời tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm mang lại sự công bằng và cơhội trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ pháp lý của người nghèo và đối tượngchính sách.
2.2.2. Vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2.2.2.1. Vai trò của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Vai trò của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS được xem xét thông qua ba quy tắc cơ bản định hình cho mọi thủ tục trong hệ thống tranh tụng. Đó là:
Quy tắc thứ nhất là quy tắc thủ tục (Rule of procedure): Trong giai đoạn trước và sau khi xét xử. Trong TTHS, quy tắc về thủ tục bao gồm một loạt các quy địnhgiúp các bên chuẩn bị chứng cứ trước khi bước vào xét xử các chứng cứ và là một thủ tục tư pháp hành chính để Tòa án xem xét các chứng cứđã đủcho việc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm chính thức hay chưa nhằm mục đích tránh những thủ tục điều tra có thể diễn ra không cần thiết tại Tòa. Quy tắc về thủ tục được xác định càng chặt chẽ bao nhiêu thì độchính xác càng được nâng lên, tính tùy tiện của các cơ quan công quyền càng được khắc phục. Công lý và lẽ phải càng có cơ sở được khẳng định trong quyết định xét xử của TP.
Quy tắc thứ hai là quy tắc về chứng cứ (Rule of evidence): quy tắc vềchứng cứ bảo đảm sự thống nhất của các yếu tố trong hệ thống tranh tụng. Mục đích của nó là nhằm ngăn chặn việc sử dụng những chứng cứ không đáng tin cậy có thể làm cho Tòa án đưa ra phán quyết trên cơ sở những thông tin sai lệch. Đồng thời, nó cũng nghiêm cấm sử dụng chứng cứ có thể gây ra những định kiến không công bằng cho một trong các bên tham gia tố tụng.
Với những quy định trong quy tắc về chứng cứ, nguyên tắc tranh tụng bảo đảm sự trung lập và thụ động của Tòa án trong quá trình xét xử. Hơn nữa quy tắc về chứng cứ cũng tạo điều kiện ràng buộc Luật sư (kể cả của các bên và Luật sư của cơ quan công tố) để họ biết được những chứng cứ nào có thểđược chấp nhận tại Tòa trong khi xét xử. Nó cũng là cơ sở để xác định thẩm quyền của TP chủ tọa điều hành phiên tòa theo các diễn biến của nó theo đúng thủ tục. Khác với hệ tố tụng thẩm vấn, TP chủ tọa phiên tòa không có quyền lựa chọn chứng cứ mà họ thấy thích hợp nhất mà phải tuân thủ các quy tắc vềchứng cứ đã được xác địnhtrước.
Quy tắc thứ ba là quy tắc điều chỉnh về đạo đức ứng xử của Luật sư(Rule of ethics), TP, Bồi thẩm đoàn và những người có quyền và nghĩa vụliên quan.
Do tính chất cạnh tranh, đối đầu khốc liệt của hệ tranh tụng dẫn tới tình trạng cần phải thắng trong cuộc đối đầu tại phiên tòa (kể cả bằng bất cứ giá nào), vì vậy hệ thống tranh tụng còn đặt ra một loạt các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp để kiểm soát đội ngũ Luật sư của các bên và đội ngũ TP, ĐTV. Đạo đức của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là một trong những yêu cầu khi áp dụng nguyên tắc tranh tụng. Bởi lẽ những thủ đoạn hay hành vi che giấu, làm sai lệch thông tin có thể làm cho Tòa án có định kiến đều bị pháp luật ngăn cấm và loại trừ. Hơn nữa, quy tắc về đạo đức hànhnghềLuật sư, TP, ĐTV, v.v. còn đòi hỏi Luật sư phải trung thành với quyền lợi của thân chủ như chính quyền lợi của mình, TP xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, v.v.
Như vậy, với vai trò của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng thông qua 3 quy tắc này có thể thấy rằng, trong TTHS, nguyên tắc tranh tụng bảo đảm việc không trao cho ai quyền độc tôn trong xét xử, không một bên tham gia nào có thể chiếm ưu thế hơn bên kia, kể cả TP chủ tọa. Áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS cho phép khẳng định rằng: trong TTHS, quyền lực được phân chia và giới hạn một cách rõ ràng giữa TP, Công tố viên và Luật sư bào chữa. Trong đó, Công tố viên là người đại diện cho Nhà nước buộc tội người bị tình nghi trước Tòa án; Luật sư bào chữa là người biện hộ cho người bị tình nghi phạm tội trước lời buộc tội của Công tố viên. Với các lập luận của mình,
họ có quyền phản bác lại các chứng cứ buộc tội do Công tố viên đưa ra. Đây là yếu tố rất quan trọng bảo đảm cho người bị tình nghi có đủ các điều kiện pháp lý bảo vệ mình trong quá trình tranh tụng. Ngược lại, các chứng cứ do bên bào chữa đưa ra cũng có thể bị bên công tố phản bác lại trên cơ sở lập luận của họ. Đây chính là thủ tục kiểm tra chéo về chứng cứ trong TTHS nhưđã nêu trên. Tuy nhiên để xác định kết quả của quá trình kiểm tra chéo chứng cứvà quá trình cân bằng quyền hạn, vị trí (giữa Công tố viên và Luật sư bào chữa không ai có lợi thế hơn ai về thẩm quyền trong quá trình xét xử hình sự) cho thấy sự bình đẳngvà độc lập mang tính tuyệt đối. Tính khách quan và công minh được khẳng định trong thực tiễn tố tụng. Đây là một đặc điểm cơ bản xác định được vai trò của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng tranh tụng, nơi mà hầu hết quyền lực tập trung vào TP trong giai đoạn xét xử. Nguyên tắc tranh tụng coi việc xem xét một con người bị tình nghi phạm tội bị phán xét như thế nào quan trọng hơn là việc xác định họ đã làm gì trên thực tế, xem xét tội trạng của họthiên về khía cạnh pháp lý hơn. Nếu được áp dụng trong mô hình tố tụng thẩm vấn thì nguyên tắc tranh tụng không bị mất đi ý nghĩa, vai trò của nó mà càng phát huy tính công bằng, công lý và công khai trong toàn bộ quá trình TTHS.
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong mô hình tố tụng thẩm vấn, phiên tòa được xác định là giai đoạn điều tra công khai tại Tòa và ở đó TP không những là người điều khiển phiên tòa mà còn là người thẩm vấn chính có nhiệm vụ thẩm tra lại tất cả các chứng cứ do các bên thu thập được trong giai đoạn điều tra trước đó. Điều này đi ngược lại với tinhthần chứng cứ được đánh giá công khai, khách quan tại Tòa án. Nếu giữ nguyên các cách thức nhưvậy, gánh nặng xét xử sẽ đè nặng vào TP, vai trò của TP lấn át vai trò của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Sự thật khách quan của vụ án chưa chắc đã được xác định cụ thể và làm sáng tỏ. Toàn bộ quy trình TTHS có thể sẽ bị đưa ra xem xét lại nếu trên thực tiễn, ý chí chủquan của TP được đề cao. Tính khách quan không được bảo đảm. Do đó, đòi hỏi vai trò của nguyên tắc tranh tụng trong TTHS phải được áp dụng ở cả hai mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng.
Như vậy, có thể khẳng định: vai trò của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS được xác định ở các khía cạnh như sau:
Một là: vai trò bảo đảm hoạt động TTHS là hoạt động bảo đảm quyền con người, quyền công dân một cách tối đa.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng chính là bảo đảm cho người tham gia tố
tụngthực hiện đầy đủquyền tố tụng của mình; đồng thời thực hiện việc tranh tụng cũng có nghĩa là các cơ quan tiến hành tố tụng, các bên tham gia tranh tụng phải thực hiện nghĩa vụ tố tụng của mình để bảo đảm cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền tố tụng tương ứng.
Bảo đảm guyên tắc tranh tụng trong TTHS chỉ là bảo đảm cho người tham gia tố tụng có các điều kiện pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến vụ án. Với nguyên tắc tranh tụng, những người tham gia không bị hạn chế về thời gian trình bày ý kiến của mình về vụ án, đề nghị Tòa án ra các quyết định cụ thể liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu không đồng ý với các ý kiến tranh luận của các bên tham gia tố tụng, HĐXX mới có điều kiện cân nhắc, xem xét đểra đúng đắn, khách quan và đúng pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.
Hai là: Vai trò bảo đảm cho hoạt độngxét xử của Tòa án công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội.
Thực tiễn cho thấy, tại các phiên tòa do xuất phát từ các lợi ích khác nhau, do tư cách tố tụng khác nhau cho nên các kết quả đánh giá chứng cứ, nhận thức về pháp luật cũng như các đề nghị cụ thể giải quyết vụ án về thực chất là khác nhau.
Trên cơ sở các chứng cứ thu thập được, bằng việc phân tích, đánh giá các chứng cứ và đặc biệt thông qua hoạt động tranh tụng, HĐXX xem xét quyết định vụ án một cách khách quan, toàn diện. Nguyên tắc tranh tụng không chỉđòi hỏi các bên tham gia tranh tụng có địa vị pháp lý như nhau, nguyên tắc tranh tụng còn bảo đảm cho các bên khả năngthực sự đểthực hiện các quyền tố tụng mà pháp luật quy định một cách hiệu quả, không hình thức.
Ba là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng chính là bảo đảm sự bình đẳng và tính hiệu quả trong hoạt động tranh tụng.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng bảo đảm cho nguyên đơn và bên bị đơn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ tố tụng, giúp có những khả năng ngang nhau trong việc chứng minh, tranh luận về nội dung cũng như pháp luật áp dụng, v.v, để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụngthực hiện một cách hiệu quả nhất chức năng, nhiệm vụ tố tụng của mình. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng các chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử của Tòa án, giữa bên khởi kiện và bên bị kiện. Tòa án đóng vai trò là trọng tài điều khiển việc tranh luận giữa các bên và ra phán quyết theo chức năng độc lập của mình.
Tóm lại, xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng có vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Hoạt động tranh tụng thực chất là hình thức tố tụng mà trong đó các bên tham gia tố tụng thực hiện việc chứng minh có tính căn cứ và hợp pháp của cáo trạng trong vụ án hình sự. Các hoạt động của các chủ thể tham gia tố tụng là hoạt động xem xét, đánh giá chứng minh xoay quanh đơn kiện của các bên. Hay nói cách khác, nguyên tắc tranh tụng cho phép các bên tham gia tố tụng có quyền chứng minh. Trên cơ sở đó, Toà án ra phán quyết công khai tại phiên toà.
Với các vai trò của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS nên trên, cho dù theo mô hình tố tụng tranh tụng hay tố tụng thẩm vấn thì tính công bằng, công khai minh bạch trong hoạt động tố tụng nhằm bảo đảm tối đa quyền con người đòi hỏi xã hội phải có sự thay đổi về nhận thức và ý thức pháp luật đểnguyên tắc này được ghi nhận tại BLTTHS, trở thành bảo đảm pháp lý vững chắc, tăng cường hoạt động cải cách tư pháp đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay.
2.2.2.2. Ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
a. Ý nghĩa chính trị của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, được Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khẳng định nâng cao chất lượng tranh tụng trong phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động cải cách tư pháp, được ghi nhận tại các Điều 217 và Điều 218 của BLTTHS, chứng tỏ quyền dân chủ của công dân và cơchế tự do dân chủ ngày càng phát triển và mở rộng ở nước ta, đặc biệt trong
thời kỳ đổi mới, các quyền công dân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Đặc biệt tại Khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2013 khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.
Thứ hai, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Vấn đềnhân quyền luôn là điểm nóng của hầu hết các quốc gia trên thếgiới. Đặc biệt các thế lực phản động và hiếu chiến luôn lấy vấn đề nhân quyền đểkích động nhân dân, chống phá cách mạng. Hiện nay, đất nước ta đang trên đà phát triển mạnh với công cuộc đổi mới toàn diện, chúng ta đã đạt được những thành quả to lớn, đặc biệt là phát huy toàn diện quyền tự do dân chủcủa công dân, bảo đảm các quyền của con người. BLTTHS, Nghị quyết số08/NQ-TW, Nghị quyết số 49/NQ-TW và các văn bản pháp luật liên quan ghi nhận quyền tranh tụng của bị cáo trước các CQTHTT và cơ chế bảo đảm thực hiện là nhiệm vụ của chính các cơ quan đó chứng tỏ bản chất dân chủ của nhà nước ta. Điều đó đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận Đó cũng là biểu hiện mục tiêu phát triển vì con người, lấy con người làm trọng tâm và động lực cho sự phát triển của đất nước.
Thứ ba, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bảo đảm nguyên tắc của hoạt động tư pháp Nhà nước pháp quyền XHCN.
Trong nhà nước pháp quyền XHCN, con người luôn được Đảng và Nhà nước đặt vào vị trí trung tâm của chính sách kinh tế – xã hội. Bảo đảm thực hiện tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là nội dung quan trọng của chính sách vì con người của Đảng và Nhà nước ta.
b. Ý nghĩa xã hội của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bảo đảm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, nó thể hiện chính sách nhân văn của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và trong quá trình giải quyết vụán hình sự nói riêng. Ý nghĩa xã hội của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được biểu hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, nó biểu hiện tính nhân văn XHCN: Tính nhân văn được thểhiện trong những trường hợp theo quy định của pháp luật, nếu bị cáo hoặc NĐDHP của họ không mời NBC thì CQĐT, VKS hoặc TA yêu cầu đoàn luật sư cử NBC cho họ. Đó là các trường hợp bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS; bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hay tinh thần.
Thứ hai, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là biểu hiện của việc thực hiện dân chủ trong BLTTHS.
Theo qui định tại Điều 12 BLTTHS, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Khi bào chữa, bị cáo có quyền bình đẳng với các chủ thể khác, đặc biệt là bình đẳng với KSV, người thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo trong việc đưa ra chứng cứ và đưa ra yêu cầu tranh luận tại phiên tòa. Sự tranh luận, cọ xát giữa các ý kiến khác nhau, ý kiến buộc tội của KSV và ý kiến gỡ tội của bị cáo tại phiên tòa là cần thiết giúp HĐXX xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Bởi lẽ, trong thực tế các CQTHTT thường chú trọng nhiều đến việc tìm chứng cứkhẳng định bị cáo phạm tội hơn là chú trọng tìm chứng cứ gỡ tội cho bị cáo. Do vậy, thực hiện nguyên tắc này tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội để đưa ra những chứng cứ minh oan hoặc giảm nhẹ tội cho mình.
Thứ ba, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của bị cáo góp phần tích cực vào việc bảo vệ pháp chế XHCN; giúp TA ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh được việc chỉ thiên về buộc tội và xem xét một chiều, nâng cao uy tín của CQTHTT, củng cố lòng tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp hình sự của Nhà nước ta.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên xét xử sơ thẩm vụ án hình sựlà thể hiện sự tôn trọng việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao hơn nữa trách nhiệm của CQTHTT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nó không chỉ góp phần vào việc xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội mà góp phần vào việc hạn chế những vi phạm pháp luật của các CQTHTT; tránh được tình trạng oan, sai đáng tiếc có thể xảy ra làm tổn hại uy tín của CQTHTT và giảm lòng tin của nhân dân đối với sự công minh của pháp luật.
Thứ tư, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụán hình sự góp phần vào việc giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật của bịcáo; những người tiến hành và tham gia tố tụng nói riêng cũng như quần chúng nhân dân nói chung.
Điều này có nghĩa là, muốn bảo vệ mình, bị cáo cần phải biết mình được pháp luật trao cho những quyền năng tố tụng gì. Việc này thực chất là một trong những hình thức nâng cao kiến thức pháp luật cho bị cáo. Mặt khác, nó có tác dụng giáo dục những NTHTT thường xuyên phải nâng cao trình độchuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu của việc thực hiện nguyên tắc này một cách có hiệu quả.
c. Ý nghĩa pháp lý của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa chính trị, xã hội mà nó còn mang ý nghĩa pháp lý. Điều này được thể hiện ở những vấn đề sau:
Thứ nhất, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là thực hiện nguyên tắc cơ bản của BLTTHS, Nghị quyết số 08 và số 49, Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2013.
Đó là bảo đảm cần thiết để bị cáo khi tham gia tố tụng có thể chống lại việc buộc tội đối với mình một cách chủ động. Do là người bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội, nên bị cáo tham gia tố tụng một cách thụ động. Vì vậy, thực hiện tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự giúp họ đưa ra lý lẽ, chứng cứ bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ tội cho mình. Tuy nhiên, BLTTHS quy định bị cáo có quyền nhưng không buộc phải đưa ra chứng cứđểchứng minh là mình vô tội. Theo tinh thần quy định tại Điều 11 BLTTHS thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về các CQTHTT. Pháp luật TTHS cũng cấm, không được dùng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội. Lời nhận tội của bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu nó phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Việc chủ động chống lại sự buộc tội cònthểhiện ở chỗ bị cáo; NBC có quyền khiếu nại các quyết định của CQĐT, VKS, TA; khiếu nại đối với hoạt động của ĐTV, KSV. Khiếu nại phải được giải quyết trong thời hạn luật định.
Thứ hai, bảo đảm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm trong quá trình tố tụng này sẽ không được lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự một cách có hiệu quả sẽ tránh được đến mức tối đa tình trạng bị oan, sai trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bởi lẽ, chân lý khách quan chỉđược sáng tỏ khi có sự tranh luận giữa các quan điểm khác nhau. Thực hiện tranh tụng luôn luôn là quan điểm phản biện lại sự buộc tội. Trên cơ sở tranh luận của bên buộc tội và bên bào chữa, Tòa án với tư cách là cơ quan tài phán mới có đủđiều kiện đểxác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việc xử lý vụ án nếu chỉ trên cơsở chứng cứ một chiều, lập luận buộc tội một chiều thì dễ dẫn đến giải quyết vụ án thiếu khách quan, thậm chí oan sai.
Thứ ba, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là thức hiện chức năng cơ bản của BLTTHS.
Hoạt động TTHS được thực hiện đầy đủ, chính xác trên cơ sở vận hành ba chức năng: buộc tội, bào chữa và xét xử. Thiếu hoặc thực hiện không đầy đủba chức năng trên dễ dẫn đến tình trạng xét xử phiến diện, không đầy đủ, vi phạm nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự khẳng định sự song song tồn tại hai chức năng cơ bản không thể thiếu được của BLTTHS bên cạnh chức năng xét xử, đó là chức năng buộc tội và chức năng bào chữa. Hai chức năng này không chỉ tồn tại song song mà nó còn đối lập và chếước nhau tạo ra một cơ chế tranh tụng có hiệu quả nhất trong hoạt động tố tụng nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụán hình sự là bảo đảm cho việc thực hiện chức năng bào chữa trong TTHS. Đó là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Điều mà Nghịquyết số 08, 49 của Bộ Chính trị, Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2013) đòi hỏi cần được thực hiện trong hoạt động tư pháp hình sự, đặc biệt là trong hoạt động xét xử hiện nay.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sựlà điều kiện cần thiết để bảo đảm pháp chế trong tố tụng. Nó đòi hỏi các CQTHTT phải thực hiện đúng chức năng của mình trong khuôn khổ của pháp luật, không thiên vị hay coi nhẹ chức năng buộc tội hay gỡ tội; tôn trọng việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS như nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của bị cáo, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án… bảo đảm cho việc giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật.
2.3. CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ YÊU CẦU, ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.3.1. Cải cách tư pháp và yêu cầu bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2.3.1.1. Quan điểm, chủ trương cải cách tư pháp của Đảng
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, điều này đã được Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) khẳng định rõ tại Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần đáp ứngnhững yêu cầu chung của một nhà nước pháp quyền như: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật; nội dung của pháp luật phải mang tính nhân văn sâu sắc, pháp luật phải vì con người, vì sự tiến bộ của xã hội, phản ánh và phù hợp với các quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và con người. Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vị trí ngự trịtrong tất cả các hoạt động của Nhà nước; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người được xem là giá trị cao quý nhất; tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện của nước ta hiện nay nhằm bảo đảm và phát triển quyền con người, quyền công dân và mục tiêu vì một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ”. Phương thức bảo đảm quyền con người của Nhà nước pháp quyền là công nhận quyền con người, xác lập
quyền công dân bằng hoạt động lập pháp; tổ chức thực thi quyền con người, quyền công dân bằng hoạt độnghành pháp và bảo vệ các quyền đó bằnghoạt động tư pháp. Cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN phải bảo đảm giữ vững và phát huy bản chất dân chủ, vì còn người và bảo vệ quyền con người của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
Trong bối cảnh đó, việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cũng phải lấy trọng tâm là phục vụ lợi ích của nhân dân, phục vụ cho mục tiêu tôn trọng và bảo vệngày càng tốt hơn các quyền của con người, quyền công dân trong TTHS. Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân cần được tôn trọng và bảo vệ bằng luật pháp. Trong BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận nhiều nguyên tắc nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS: bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11); bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tốtụng hoặc người tham gia tố tụng (Điều 14); bảo đảm quyền bình đẳng trước TA (Điều 19). Công dân có quyền tranh tụng, có quyền được bào chữa, quyền được đưa ra chứng cứ, lập luận, phản bác lại hành vi kết tội của bên buộc tội.
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả cao nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và lợi ích của con người. Trong yêu cầu cải cách tư pháp đối với hoạt động TTHS, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng được xem là một trong những yêu cầu cải cách có tính đột phá. Việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cần bám sát các quan điểm, chủtrương cải cách tư pháp trong các Nghị quyết của Đảng.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 nêu rõ: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bịđơn… đểđưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục
trong thời hạn do luật định. Các cơ quan Tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện đểluật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồsơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa”.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2011, định hướng đến năm 2020 nhấn mạnh: “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá đểnâng cao chất lượng hoạt động tư pháp”.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 cũng chỉ rõ: “Đổi mới việc tổchức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”, “Hoàn thiện cơ chế bảo đảm đểluật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác địnhrõ chế độtrách nhiệm đối với luật sư”.
2.3.1.2. Yêu cầu bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xửsơ thẩm vụ án hình sự
Bảo đảm tranh tụng là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động TTHS. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sựphải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
Một là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi các quy định pháp luật phải xác định rõ ràng địa vị pháp lý của các bên tham gia tố tụng. Cần phải có đầy đủcác văn bản pháp luật quy địnhrõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong quá trình tố tụng.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi sự phân địnhrõ ràng các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử giữa bên buộc tội, bên bào chữa và Toà án. Mỗi chủ thể này khi tham gia vào quá trình tranh tụng chỉ có một chức năng duy nhất và được pháp luật quy định. Theo pháp luật hiện hành, chức năng buộc tội (thực hành quyền công tố) thuộc về Viện Kiểm sát, chức năng xét xử
thuộc về Toà án, chức năng bào chữa thuộc về bên bào chữa. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi phải nhận thức đúng vai trò, chức năng của các chủ thể khi tham gia tố tụng.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS nhấn mạnh đến chức năng của Toà án trong việc bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng nhằm đạt được mục đích của tranh tụng trong TTHS là xác định sự thật khách quan về vụán, nếu Toà án thực hiện các nhiệm vụ thuộc chức năng bào chữa hay tranh tụng sẽ phá vỡ sự bình đẳng cần thiết giữa bên buộc tội và bên bào chữa. Như vậy, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi sự phân định rõ ràng các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử của các bên và Toà án. Để thực hiện đúng chức năng này, Toà án phải có thái độ khách quan, vô tư và công minh. Hội đồng xét xử không bị ràng buộc bởi cácyêu cầu, đềnghị của các bên hoặc bất kỳ ai, không được địnhkiến vì bất kỳ lý do nào trong quá trình giải quyết vụ án.
Hai là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi hoàn thiện các quy định về thủ tục TTHS bảo đảm cho các bên tham gia tranh tụng quyền bình đẳng, các bên có quyền xét hỏi, tranh luận một cách khách quan, công bằng và bình đẳng.
Đểviệc tranh tụng được thực hiện và thực hiện có hiệu quả, cần phải có các điều kiện khác nhau, một trong các điều kiện quan trọng là bên buộc tội và bên bào chữa thực sự bình đẳng với nhau và Toà án phải độc lập, khách quan bảo đảm cho hai bên có các điều kiện như nhau để thực hiện chức năng của mình. Trong TTHS điều đó có nghĩa sự thật chỉ được tìm thấy qua tranh luận tự do và công bằng. Tranh tụng đòi hỏi pháp luật TTHS phải bảo đảm cho các bên đầy đủcác phươngtiện cần thiết đểcó thể thực hiện được chức năng của mình. Phương tiện của các bên phải tương xứng với nhau và phải phù hợp với chức năng của chúng. Sẽ bất bình đẳng khi pháp luật dành cho một bên quá nhiều phương tiện còn bên kia lại quá ít. Không nên quan niệm rằng vì bên buộc tội (công tố) là đại diện cho Nhà nước còn Bên bào chữa chỉđại diện cho quyền lợi của đương sự nên không thể bình đẳng được. Quan điểm này cần phải được xem xét lại. Tư tưởng này không chỉ thể hiện ở tại phiên toà mà còn phải được bảo đảm từ trước khi mở phiên toà, ở đó các bên phải được bảo đảm các điều kiện thuận lợi trong việc chuẩn bị các điều kiện cho cuộc tranh tụng tại phiên toà. Chúng tôi cho rằng nếu bên buộc tội và bên
bào chữa không thực sự bình đẳng và Toà án không độc lập trong quá trình xét xử thì sẽ không có tranh tụng hoặc tranh tụng nửa vời. Bên cạnh sự bình đẳng giữa bên buộc tội, bên bào chữa và sự độc lập của Toà án về phương diện pháp lý, yêu cầu và hiệu quả của tranh tụng còn đòi hỏi sự bình đẳng và độc lập trên phương diện thực tiễn. Những biểu hiện vi phạm các quy định pháp luật tố tụng vốn đã có và sẽ có trong thực tiễn tranh tụngphải được khắc phục bằng những hình thức như: công tác tổ chức, đào tạo, tuyển chọn Thẩm phán và những chủ thể tham gia tranh tụng, nâng cao nhận thức, nhất là lương tâm, trách nhiệm, trình độ chuyên môn, kiến thức văn hoá pháp lý cho họ.
Ba là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng đặt ra yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan bổ trợ tư pháp với chức năng phù hợp với nguyên tắc tranh tụng. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi xác định rõ mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đặc biệt mối quan hệ giữa Viện Kiểm sát và cơ quạn Điều tra.
Bốn là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đặt ra nhiệm vụ phải tiếp tục nâng cao trình độ, nhận thức của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, bảo đảm cho họ có đủ năng lực chuyên môn thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà.
Năm là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi phải có những bảo đảm vật chất cho quá trình tranh tụng, trước hết là chúý đến việc cải thiện chế độchính sách cho những người tiến hành tố tụng, các chế độ đãi ngộ khác đối với Thẩm phán và công chức Toà án phải cụ thể, rõ ràng và có khả năng thực thi. Cần có chếđộ, đầu tư tài chính hợp lý cho những người làm chứng trong phiên toà.
2.3.2. Các điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc quan trọng trong tố tụng nói chung và TTHS nói riêng. Để việc tranh tụng được thực hiện có hiệu quả, cần có những điều kiện bảo đảm sau đây:
2.3.2.1. Bảo đảm về mặt pháp lý
Thứ nhất, đa số ý kiến cho rằng điều kiện đầu tiên là phải có các quy định pháp luật thể hiện một cách đầy đủ, nhất quán, rõ ràng trong phân định
thẩm quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng: các CQĐT, KSV, TP, Luật sư phù hợp với vị trí, vai trò theo yêu cầu tranh tụng. Cần có quy định đầy đủ, hợp lý về địa vị tố tụng của cácbên tham gia tố tụng để họ có đủđiều kiện, khả năng thực hiện các nội dung tranh tụng theo chức năng, nhiệm vụ hoặc lợi ích của mình: chủ động thu thập, kiểm tra chứng cứ, được đưa ra các yêu cầu, xét hỏi người làm chứng và đưa ra quan điểm phản bác đối phương.
Thứ hai, các quy định thủ tục tố tụng bình đẳng, đặc biệt là tại phiên tòa; tạo điều kiện đểcác bên tham gia tố tụng được xét hỏi, tranh luận một cách khách quan, công bằng và bình đẳng; mở rộng phạm vi các vụ án có sự tham gia bắt buộc của luật sư. Bảo đảm sự bình đẳng tại mọi giai đoạn tố tụng nhằm hướng tới mục tiêu đạt hiệu quả tranh tụng thực sự. Thủ tục tố tụng cần quy định trong trường hợp chứng cứ chưa rõ ràng hoặc những chứng cứ, lập luận, sự xuất hiện của nhân chứng mới cần được xác định phải tạm hoãn phiên tòa trong khoảng thời gian thích hợp để các bên chứng minh hoặc bác bỏ chứng cứ của nhau.
Thứ ba, quy định về quyền khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của các bên có hiệu lực như nhau.
2.3.2.2. Bảo đảm về mặt tổ chức
Phân định rõ ràng chức năng của CQĐT, KSV (công tố) và TA, tạo điều kiện phát triển các tổ chức bổ trợ với chức năng hợp lý phù hợp với cơ chế tranh tụng. Cần có sự quan tâm thỏa đáng đối với việc tăng cường các tổ chức luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, mở rộng phạm vi bào chữa để bảo đảm các phiên tòa có sự tham gia của NBC ngày càng nhiều; nâng cao văn hóa pháp lý trong tố tụng. Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ, nhận thức của các bên tham gia tố tụng, bảo đảm cho họ có đủ năng lực về chuyên môn, về phong cách, vềkhả năng diễn đạt đểthực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa. Cần đặc biệt chú trọng quan tâm việc nâng cao nhận thức, năng lực, sự độc lập và chếđộtrách nhiệm cá nhân của các chức danh tư pháp, cùng với đào tạo kỹ năng nghiệp vụtheo yêu cầu tranh tụng, đặc biệt là theo hướng đào tạo nguồn đểcó thể luân chuyển giữa các chức danh KSV, TP, Luật sư nhằm tạo hiệu quả tranh tụng dù họ ở vị trí buộc tội, gỡ tội hay trọng tài để ra phán quyết.
2.3.2.3. Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí cho quá trình tranh tụng Phòng xử án phải có cấu trúc phù hợp với mô hình tranh tụng với đầy đủ
các thiết bị âm thanh, ánh sáng, hệ thống thông tin liên lạc. Cách bố trí, sắp xếp vị trí của các bên tại phiên tòa cũng là một yếu tố không thể thiếu trong việc bảo đảm không khí tố tụng bình đẳng, khách quan; tạo điều kiện cho các bên dễ dàng tiếp xúc trong quá trình tố tụng; cùng với hệ thống âm thanh, hình ảnh sao cho thuận tiện cho việc theo dõi phiên tòa. Ngoài ra, cần có kinh phí, phương tiện thuận lợi cho việc triệu tập nhân chứng, tổ chức giám định lại, trích xuất bị cáo nhiều lần …v.v.
2.3.2.4. Trình độ, năng lực, phẩm chất và trách nhiệm của TP và những người tiến hành tố tụng
Hiện tại, hệ thống TA ở nước ta được tổ chức theo quy định của Luật tổchức TAND năm 2002, theo đơn vị hành chính, bao gồm: TANDTC; TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; TAND quận, huyện, thị xã, thành phốtrực thuộc tỉnh. Số biên chế của các TAND và TA quân sự đã được thực hiện tương đối đầy đủ, bảo đảm đúng cơ cấu chức danh, tiêu chuẩn ngạch công chức. Về trình độ của đội ngũ TP, tính đến nay 100% TP TAND các cấp có trình độ cử nhân luật trở lên. Theo thống kê, trên 80% TP TA địa phương đã được bổ nhiệm làm TP nhiệm kỳ thứ hai, thứ ba. Đội ngũ TP đều trải qua quá trình công tác ở vị trí Thư ký TA, chuyên viên pháp lý, thẩm tra viên, được đào tạo chính quy về kiến thức pháp luật và nghiệp vụ xét xử nên vì vậy họ cónăng lực bảo đảm giải quyết, xét xử các vụ án được giao theo thẩm quyền.
Đội ngũ Công tố viên và ĐTV có năng lực. Khi vai trò của NBC mà cụthể là Luật sư được đưa lên vị trí đối tụng với Công tố viên và khi Luật sư có khả năng và cơ hội tác động tới kết quả của phiên toà xét xử cũng lớn nhưcông tố viên thì một cách tự nhiên, Công tố viên sẽ cảm thấy áp lực của nhu cầu tự nâng cao trình độ. Nếu như trình độ của công tố viên nói chung không bằng Luật sư thì chân lý sẽ rất dễ bẻ cong. Bởi lúc đó “cán cân đối tụng” sẽ bị
lệch theo hướng có lợi cho Luật sư, tạo kẽ hở cho việc bỏ lọt tội phạm.
2.3.2.5. Trình độ, năng lực, phẩm chất và trách nhiệm của luật sư và những người tham gia tố tụng khác
Vai trò của Luật sư trong TTHS chưa coi trọng đúng mức cả từ góc độcác cơ quan tư pháp, nhận thức của Nhân dân, cũng như của bị can, bị cáo và
gia đình họ. Đội ngũ Luật sư ở nước ta vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế vềtrình độ nghiệp vụ, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng nên chưa nhận thức đúng vềvai trò, vị trí của mình trong tranh tụng, chưa bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của công dân. Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng, thì tỷ lệ sốvụ án xét xử có Luật sư bào chữa tham gia phiên toà chiếm tỷ lệ không nhiều (khoảng 20% số vụ án được đưa ra xét xử và chủ yếu là Luật sư chỉ định), trường hợp bị can, bị cáo hoặc gia đình mời Luật sư chiếm tỷ lệ không đáng kể. Chất lượng bào chữa của các Luật sư chỉ định còn hạn chế, việc nghiên cứu hồsơ còn chiếu lệ, không tích cực tham gia xét hỏi, việc tranh luận, đối đáp chưa có sức thuyết phục. Trong khi đó các dịch vụ pháp lý miễn phí cho bị can, bị cáo ởnước ta mới được triển khai chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Đội ngũ Luật sư đủ về số lượng và trình độlà điều kiện hết sức quan trọng bởi vì trong mô hình tố tụng tranh tụng, Luật sư có vai trò rất lớn, một mặt tham gia vào việc thu thập chứng cứ, góp phần tìm sự thật khách quan của vụ án, một mặt giúp bảo đảm các quyền cơ bản của bị can, bị cáo trong suốt quá trình tốtụng vụ án. Bên cạnh năng lực cần thiết, Luật sư còn phải có tư cách đạo đức tốt và tư cách đạo đức đó phải được bảo đảm duy trì bởi một chế định về đạo đức nghề nghiệp Luật sư hợp lý và có tính khả thi cao. Đây cũng chính là yếu tố hết sức quan trọng bởi lẽ trong mô hình tố tụng tranh tụng, sự tác động của Luật sư
tới kết quả của vụ án là rất lớn. Nếu Luật sư không có tư cách đạo đức tốt hoặc không bị ràng buộc bởi một quy tắc đạo đức nghề nghiệp đủ mạnh thì sẽ có trường hợp chính Luật sư lại là người góp phần bẻ cong công lý. Ngoài ra, sốlượng các vụ án hình sự ngày một gia tăng, nếu không đủ số lượng luật sư thì không thể nào tham gia đầy đủ xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.
2.4. BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
2.4.1. Mô hình xét xử theo nguyên tắc tranh tụng ở một số nước trên thế giới
2.4.1.1. Mô hình tố tụng hình sự Hoa Kỳ
Trên thế giới hiện nay có hai xu hướng ngược nhau trong quan niệm vềvai trò của Toà án.
Theo Luật TTHS của Hoa Kỳ, quá trình TTHS chỉ bắt đầu từ giai đoạn xét xử đã được tiến hành dưới hình thức tranh tụng giữa bên buộc tội do công tốđại diện vào bào chữa (do Luật sư đại diện) trước Toà án (bao gồm: Bồi Thẩm đoàn 12 người và 01 TP chủ toạ) làm trọng tài phân xử, v.v.
Thực tiễn hoạt động các TA Hoa Kỳ cho thấy hệ thống tranh tụng là sựtìm kiếm chân lý trong việc bảo vệ quyền cá nhân của người bị buộc tội. Hệthống tranh tụng ở Hoa Kỳ đòi hỏi người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi chứng minh được là họ có tội. Do đó, vai trò của Chính phủ là đảm bảo công lý chứ không đơn thuần tìm mọi cách kết tội bị can, bị cáo; Luật sư của Chính phủ cần phải công bằng đối với những người đứng ra buộc tội và những người bị buộc tội. Khi bị bắt giữ, người bị tình nghi nhất định phải được thông báo về các quyền hiến định một cách chính xác, trong đó bịcan nhất định phải được thông báo trước khi thẩm vấn rằng bị can có quyền im lặng, bất kỳ những gì bị can nói có thể được sử dụng để chống lại bị can tại tòa án; bị can có quyền đòi hỏi sự có mặt của Luật sư và nếu bị can không có khả năng thuê Luật sư thì một Luật sư có thểđược chỉđịnhgiúp bị can trước khi thẩm vấn. Theo luật TTHS Liên bang Mỹ, Luật sư của bị cáo được tham gia vụ án ngay từ khi một nghi phạm bị bắt giữ, thẩm vấn nhân chứng, điều tra tại hiện trường vụ án và xem xét các chứng cứ phạm tội. Theo nguyên tắc số 16, trong điều tra Chính phủ phải giao cho bị cáo bản sao hồ sơ vụ án hình sự của bị cáo. Để đảm bảo việc xét xử được khẩn trương và công bằng, TA có thể tự mình hoặc dựa vào đơn của một bên để tổ chức một hoặc nhiều phiên họp. Ở mỗi phiên họp, TA phải có một bản ghi nhớ về các vấn đềđồng ý tại phiên họp. Nếu lời khai của bị cáo hoặc luật sư của bị cáo tại phiên họp không được thể hiện bằng văn bản và được người khai kí tên, TA không được sử dụng lời khai đó đểlàm cơ sở giải quyết vụ án. Bên buộc tội không có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho bị can trong toàn bộ quá trình điều tra nhưng luật sư của Chính phủ phải thông báo cho bị cáo biết về việc bị cáo được yêu cầu đưa ra các chứng cứ gỡ tội cũng như danh sách các nhân chứng mà Chính phủ sẽ sử dụng đểbuộc tội bị cáo. Luật sư của Chính phủ phải cung cấp cho bị cáo những chứng cứ chứng minh bị cáo vô tội. Luật sư có quyền được biết những chứng cứ mà Chính phủ dự địnhdùng đểbuộc tội bị cáo tại tòa và tìm
kiếm chứng cứ bác lại những chứng cứ của bên buộc tội. Trong thời hạn cho phép, bị cáo phải gửi thông báo bằng văn bản cho Luật sư của Chínhphủ vềchứng cứ ngoại phạm và các nhân chứng cho chứng cứ ngoại phạm của mình (nếu có). Nếu một trong các bên không tuân thủ nguyên tắc về thống báo nhân chứng, TA có thể loại trừ lời khai của bất kỳ nhân chứng chưa được công bốnào có liên quan đến sự ngoại phạm của bị cáo. Trong trường hợp bị cáo được quyền xét xử bằng Bồi thẩm đoàn, việc xét xử sẽ do Bồi thẩm đoàn tiến hành trừ khi bị cáo có đơn khước từ Bồi thẩm đoàn bằng văn bản. Thông thường Bồi thẩm đoàn gồm 12 thành viên, nhưng TA có thể quyết định một Bồi thẩm đoàn chỉ gồm 11 thành viên. Trong trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích chung, TA phải ra lệnh triệu tập Bồi thẩm đoàn mở rộng gồm từ 16 đến 23 thành viên. Trong đó pháp luật TTHS Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định mỗi bên có thể phản đối đến 20 lần đối với Bồi thẩm viên trong trường hợp Chính phủ đềnghị hìnhphạt tử hình để bảo đảm mỗi Bồi thẩm viên có đủđiều kiện ra phán xét một cách khách quan.
Việc truy tố phải được tiến hành tại phiên tòa công khai (trừ những trường hợp đã thực hiện trước đó). Sau khi phiên tòa chínhthức được bắt đầu, Luật sư của Chính phủ sẽ đưa ra bằng chứng và nhân chứng đểlàm rõ việc kết tội của mình. TA có thể tạm dừng tố tụng đểcác bên có thêm thời gian kiểm tra lời khai và chuẩn bị đưa ra sử dụng. Luật sư bào chữa có thể phản đối việc sử dụng những vật chứng và nếu được chấp nhận thì những vật chứng đó sẽ bị loại ra khỏi diện được xem xét. Ngược lại, nếu Luật sư bào chữa không bác bỏ hoặc phản đối của Luật sư bào chữa không được chấp nhận thì vật chứng của Luật sư Chính phủ sẽ được xác định chủng loại và chính thức đưa vào hồ sơ vụ án. Luật sư bào chữa có quyền chất vấn các nhân chứng từ phía buộc tội và đưa ra sự bác bỏ của mình bằng lý lẽ của mình. Bên buộc tội cũng có thể chất vấn nhân chứng phía bào chữa đưa ra và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ để bác bỏ của mình. Sự khác biệt giữa việc đưa ra những lý lẽ, chứng cứ giữa bên bào chữa và bên buộc tội là: Luật sư bào chữa không bị pháp luật yêu cầu đưa ra bất kỳ bằng chứng mới hay bổ sung vật chứng và nhân chứng nào. Việc bào chữa có thể thực hiện theo cách chất vấn độtin cậy hay tính hợp pháp của chứng cứ mà bên buộc tội đưa ra. Quá trình
xét xử vụ án hình sự đòi hỏi phải đáp ứng các nguyên tắc sau: Luật sư Chính phủ phải chứng minh tội phạm và loại trừ mọi nghi ngờ về việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo; Nguyên tắc thẩm vấn nhân chứng trước tòa, các bên đều có quyền yêu cầu nhân chứng và người giám định tham dự phiên tòa khai và đối chất với họ [62, tr.13]. Trình tự tranh luận tại phiên tòa được diễn ra như sau: Luật sư Chính phủ tranh luận-Bên bào chữa tranh luận và Luật sư Chính phủ tranh luận lại. Tại phiên tòa, TP vừa phải trung lập vừa phải bảo vệ các quyền của bị cáo. TP đóng vai trò trung gia trong khi hai bên buộc tội và gỡ tội thực hiện thủ tục tranh tụng: theo dõi phiên tòa; xem xét các đơn đề nghị của các bên liên quan đến các dạng chứng cứvà các câu hỏi được đặt ra cho nhân chứng; duy trì trật tự tại phiên tòa. Theo truyền thống các phiên tòa ở Hoa Kỳ, Bồi thẩm đoàn không được phép đặt câu hỏi cho các nhân chứng hay TP và không được ghi chép gì vềvụ án. Các bên đều có quyền yêu cầu bằng văn bản những nội dung cụ thểvề pháp luật đểTA hướng dẫn cho Bồi thẩm đoàn và đều có quyền phản đối những nội dụng trong hướng dẫn hoặc phản đối việc hướng dẫn không theo yêu cầu của mình. Bản án của Bồi thẩm đoàn sẽ tuyên về phần tội danh đối với bị cáo và nếu Bồi thẩm đoàn không đưa ra được phán quyết thốngnhất, họ được yêu cầu nỗ lực hơn đểđưa ra được phán quyết. Nếu họkhôngthểđưa ra được quyết định, TP có thể giải tán Bồi thẩm đoàn và triệu tập phiên tòa xét xử mới [44, tr.135]. Nếu Bồi thẩm đoàn phán quyết bị cáo có tội thì bắt đầu gia đoạn kết án và phán quyết. TA phải có báo cáo trước khi quyết định hình phạt bao gồm các nội dung: tiền án, tiền sự, khung hình phạt, loại hình phạt, căn cứ áp dụng hình phạt, hồ sơ phạm tội… Bị cáo và Luật sư bào chữa có quyền đọc báo cáo và có thể phản đối báo cáo. Trước khi quyết định hình phạt, TA phải gặp gỡ riêng bị cáo để bị cáo trình bày tình tiết giảm nhẹ; cho luật sư của bị cáo, nạn nhân cũng như Luật sư của Chính phủ cơ hội được phát biểu, Sau khi kết án, TA phải cho bị cáo biết họ có quyền kháng cáo. Nguyên tắc xét xử lại trên cơ sở đơn yêu cầu có chứng cứ mới trong thời hạn 03 năm sau khi có bản án hoặc kết luận có tội. Nếu đang trong thời gian chờ kháng cáo, TA không thể chấp nhận đơn yêu cầu xét xử lại cho đến khi TA cấp phúc thẩm trả lại vụ án.
2.4.1.2. Mô hình tố tụng hình sự ở Cộng hòa Pháp
Từ thể kỷ XIII, Cộng hòa Pháp bắt đầu sử dụng mô hình thẩm tra nhằm giải quyết các vụ án nghiêm trọng ngày càng xảy ra nhiều hơn trong đất nước như sự nổi dậy của nông dân và nạn cướp bóc của thủy tặc. Theo thủ tục này, TP không phải đợi nguyên đơn khởi xướng buộc tội vẫn có thể tiến hành điều tra bằng cách dùng hình thức tra tấn đề lấy cung và xét xử bị cáo [94, tr.07]. Tuy nhiên, Chính phủ Pháp đã nhận thấy điểm yếu của hệ tố tụng này, đó là không chú trọng quyền con người và nguyên tắc suy đoán vô tội. Do đó, việc tiếp thu một số nội dung của mô hình tố tụng tranh tụng ở Pháp được diễn ra từ cuối thế kỷ XVIII, thể hiện thông qua chế định Bồi thẩm đoàn. Chế định Bồi thẩm đoàn ở Pháp trải qua 3 thời kỳ khác nhau. Thời kỳ đầu tiên, vào khoảng năm 1808, sau cách mạng Bồi thẩm đoàn chỉ có quyền phát biểu ý kiến về sự việc và tính chất tội phạm, việc xét xử về mặt pháp luật và định mức hình phạt do các TP chuyên nghiệp đảm nhận. Sự phân biệt trách nhiệm giữa Bồi thẩm đoàn và TP như vậy đã dẫn đến những hệ quả tiêu cực như bịcáo dù phạm tội vẫn được xử trắngán. Đểchấm dứt tình trạng đó, năm 1932, với sự sửa đổi của pháp luật thì Bồi thẩm đoàn được phát biểu ý kiến về tình tiết vụ việc và cùng các TP chuyên nghiệp quyết định mức hình phạt. Sau đó, năm 1941, để bảo đảm sự bình đẳng giữa vai trò của Bồi thẩm đoàn và vai trò của TP chuyên nghiệp, nguyên tắc xét xử tập thể tuyệt đối được áp dụng. TP chuyên nghiệp và Bồi thẩm đoàn cùng tham gia xét xử sự việc, các vấn đềpháp luật cũng như mức hình phạt [55, tr.34].
Các thành viên trong Bồi thẩm đoàn có thành phần, địa vị, khả năng tài chính, trình độ, nhận thức nghề nghiệp, tôn giáo, giới tính, sắc tộc có thểkhông giống nhau, được công khai rút thăm và là đại diện cho toàn thể nhân dân Pháp. Trước khi mở phiên tòa, các Bồi thẩm hoàn toàn không được biết bất kỳ thông tin gì về vụ án ngoại trừ thời gian, địa điểm mà họ phải có mặt đểtham gia với tư cách là thành viên Bồi thẩm đoàn. Bồi thẩm đoàn không được tiếp xúc với bất cứ ai có liên quan tới vụ án hay liên quan tới việc giải quyết vụ án, cũng không được đọc hay nghiên cứu hồ sơ vụ án. Bồi thẩm đoàn hoàn toàn vô tư và nằm ngoài các hoạt động tố tụng cho đến khi Đoàn Bồi thẩm xét xử được thành lập công khai tại phiên tòa.
Theo quy định, Bồi thẩm có thể ghi chép lại những điểm quan trọng trong lời khai của người làm chứng hoặc trong lời bào chữa của bị cáo; có thể hỏi bị cáo và người làm chứng hoặc xem xét tang vật tại phiên tòa nếu được chủ tọa phiên tòa cho phép. Tuy nhiên, vai trò của Bồi thẩm đoàn trong phiên tòa vẫn còn tương đối thụđộng và trung lập với nghĩa vụ không được thể hiện ý kiến của mình. Bồi thẩm đoàn cùng TP nghị án, biểu quyết bằng phiếu kín về sự kiện chính và các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ hình phạt theo quy định của pháp luật. Các câu trả lời của Bồi thẩm viên dù là “có” hay “không” đều không thể bị bác bỏ.
Trong quá trình xem xét các vấn đề, Bồi thẩm đoàn không chịu sự tác động của TP. TP cũng không được phép hướng dẫn bất kỳ điều gì trong những vấn đềmà Bồi thẩm đoàn phải xem xét. Nếu kết quả bỏ phiếu khẳng định tội trạng của bị cáo thì Chủ tọa phiên tòa đọc cho các Bồi thẩm nghe một số quy định của BLHS Pháp. Sau đó, Bồi thẩm cùng TP tiếp tục nghị án vềviệc áp dụng hình phạt chính, hình phạt phụ hoặc hình phạt bổ sung đối với bịcáo. Tuy không có sự chia sẻ quyền lực giữa Bồi thẩm đoàn và TP nhưng cơcấu 09 Bồi thẩm trong HĐXX bảo đảm ưu thế của Đoàn Bồi thẩm so với các TP chuyên nghiệp, đồng nghĩa với việc các TP chuyên nghiệp không thể áp đặt quyết định của mình chi Bồi thẩm đoàn.
Chế định Bồi thẩm đoàn thể hiện sự hy vọng ở công lý của người dân Pháp. Sự tham gia rộng rãi của nhân dân có thể khiến cho mọi người có cái nhìn thông dụng hơn đối với TA và khiến cho các phán quyết trở nên công bằng hơn.
Năm 2000, Pháp tiếp tục đưa một số nội dung của tố tụng tranh tụng vào hệ thống pháp luật với đạo luật “Luật về suy đoán vô tội và tăng quyền của nạn nhân”. Có thể nói: giai đoạn điều tra sơ bộ của cảnh sát và giai đoạn điều tra của Tòa là hai giai đoạn thuộc loại hình tố tụng chủ yếu là thẩm cứu; giai đoạn xét xử thì chủ yếu mang tính chất tranh tụng, công khai [55, tr.19].
Trong giai đoạn điều tra, chủ thể tiến hành điều tra sơ bộ là cơ quan cảnh sát và cơ quan quân cảnh; chủ thể tiến hành điều tra của tòa là dự thẩm. Các chủ thể này tiến hành điều tra nhằm tìm kiếm người phạm tội và xác nhận những dấu hiệu phạm tội. Viện công tố với tư cách là người đại diện cho xã hội, không phải là một bên tham gia tố tụng như các bên đương sự [55, tr.27] có quyền giám sát, chỉ đạo toàn bộ hoạt động điều tra. Luật sư ở Pháp không
có quyền điều tra, thay vào đó, Dự thẩm là người chịu trách nhiệm tiến hành điều tra theo hướng gỡ tội. Trong giai đoạn này, tính chất tranh tụng được thểhiện ở chỗ mọi án hình sự đều phải có Luật sư.
Luật sư được tham gia vào mọi giai đoạn tố tụng, ngay sau khi thân chủbị xem xét. Biên bản ghi lời khai của bị can nếu không có sự có mặt của Luật sư xem như không có giá trị. Luật sư được quyền xem xét, sao chép hồ sơ, gặp gỡ, trao đổi với thân chủ và yêu cầu dự thẩm tiến hành giám định, tái giám định, mời nhân chứng, yêu cầu TP điều tra thực hiện một số hoạt động điều tra cần thiết.
Trong giai đoạn xét xử, sau khi phiên tòa được khai mạc, Chủ tọa phiên tòa đỏi hòi căn cước của bị cáo nhằm bảo đảm xác định đúngngười được xét xử tại phiên tòa; sau đó mới đề cập tới hồ sơ vụ án. Ở mức độ nào đó, Chủ tọa phiên tòa phải tiến hành thẩm tra lại vụ việc bằng cách đặt các câu hỏi cho bịcáo, lấy lời khai của các nhân chứng và có thể cho đối chất. Luật sư bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa (Điều 317). Các Thẩm phán thành viên HĐXX và Bồi thẩm đoàn có thể hỏi bị cáo và người làm chứng sau khi được Chủ tọa cho phép (Điều 311). Sau khi kết thúc thẩm vấn tại phiên tòa, nguyên đơn dân sự hay Luật sư của nguyên đơn dân sự được phép trình bày. Sau đó, Công tốviên nêu rõ lập luận, lý do truy tố bị cáo và nhân danh xã hội đềnghị mức hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo và Luật sư của bị cáo có QBC, tranh luận chống lại cáo trạng truy tố và thời gian biện hộ của Luật sư là không hạn chế. Nguyên đơn dân sự và Công tố viên được quyền đáp lại nhưng bị cáo hay Luật sư của bị cáo luôn được nói lời sau cùng (Điều 316-BLTTHS Cộng hòa Pháp). Một viên lục sự sẽ ghi lại toàn bộ diễn biến phiên tòa.
Mặc dù ở Pháp không có sự phân chia quyền lực giữa Bồi thẩm đoàn và Thẩm phán như trong hệ tranh tụng. Bằng danh dự và lương tâm, Chủ toạ phiên toà có toàn quyền trong việc áp dụng mọi biện pháp cần thiết để xác định sự thật (Điều 310), nhưng không được biểu lộ ý kiến của mình về tội trạng của bị cáo, không được tóm tắt lý do buộc tội hay bào chữa. Thẩm phán chuyên nghiệp và Bồi thẩm cùng tham gia xét xử, cùng quyết định các vấn đề về pháp luật cũng như mức hình phạt. Bất kỳ quyết định nào không có lợi cho bị cáo được tiến hành với số phiếu đa số ít nhất là tám phiếu (cấp sơ thẩm) và 10 phiếu (ở cấp
phúc thẩm) – (Điều 359). Bản án mà toà sẽ tuyên dựa hoàn toàn vào kết quảtranh tụng tại phiên toà. Những người được xử trắng án một cách hợp pháp (trừtrường hợp Viện Công tố đã bảo lưu quyền truy tố) sẽ không thể bị bắt hoặc bịtruy tố về sự việc tương tự thậm chí dưới một tội danh khác (Điều 368).
2.4.1.3. Mô hình tố tụng hình sự ở Liên bang Nga
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

