Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Quyền con người là khái niệm rộng, bao gồmcác quyền của cá nhân, tập thể, của nhóm người, cộng đồng người trong xã hội. Trong đó, với những đặc trưng về giới tính, phụ nữlà một trong những nhóm người dễ bị tổn thương nhất, cần phải được quan tâm, bảo vệ mộtcách đặc biệt. Tuy nhiên, trên thực tế, phụnữthường không nhận đượcsựquan tâm, bảo vệ thích đáng của xã hội, thậm chí bị phân biệtđốixử, bịngược đãi… Chính vì vậy, để bảo vệ QPN, từ đầu thế kỉ XX đến nay, Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tếkhác đã xây dựng nhiều camkếtquốc tế nhằm bảo vệ QPN, trong đó, nổi bật nhất là Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữnăm 1979 (CEDAW). Mục đích của CEDAW là nhằm trao cho phụ nữ những quyền con người đã được pháp luật quốc tế thừa nhận nhưng họ không được hưởng trên thực tế bởi sựphân biệt đối xửvới phụ nữ. CEDAW giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới theo hướng: không chỉ đưa ra những quy phạm chung áp dụng cho cả nam và nữmà còn xây dựng những quy phạm riêng có tính chất ưu tiên, chỉ áp dụng cho phụ nữ, nhằm đạt đượcmục tiêu bình đẳng về quyền và cơ hội giữa nam và nữ. Đồng thời, CEDAW nêu rõ những lĩnh vực chính cầntập trung xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ: Giáo dục – đào tạo; quan hệ hôn nhân – gia đình; hoạt động chính trị – xãhội; hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội; giao dịch dân sự; tư cách cá nhân trước pháp luật; chăm sóc sức khỏe; quốc tịch..
Ở Việt Nam, từ xưa đến nay người phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, công cuộc dựng nước và giữ nước. Từ khi giành được độc lập năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định và đềcao QPN, coi đâylà bước tiến trong sựnghiệp giải phóng con người nói chung và giải phóng phụ nữ nói riêng. Trong suốt quá trình cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâmđến việc thực hiện các chính sách, pháp luật vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới. Ngay từ Hiến pháp năm 1946, tại Điều9đãkhẳngđịnh:“Đànbà ngang quyền đànông vềmọi phương diện”. Qua các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, QPN liên tục được tái khẳngđịnh vàđến Hiến pháp năm 2013 có nhữngsửa đổi,bổ sung và phát triển thể hiện tầm quan trọng của phụ nữ và chính sách bảo vệ QPN. Điều 26 Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh: “Công dân nam, nữbình đẳng vềmọimặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới”.
1
Để bảovệ QPN trong thực tế, cùng với hệthống các văn bản pháp luật, Nhànước ta cũng có các cơ chế để thúc đẩy sự phát triển, bảo đảm quyền lợi của phụ nữtrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Trong đó, hoạt động của Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ QPN với mục đích là xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm đến QPN. Bảo vệ QPN thông qua hoạt động của Tòa án (đặc biệt là hoạt động xét xử) là phương thức chủ yếu nhằm trừng trị kẻ phạm tội và giúp phụ nữ khôi phục quyền khi có vi phạm, đồng thời, tạo điều kiện cho phụ nữ thụ hưởng quyền và tự bảo vệ mình theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạtđộngTòa án bảo vệQPN còn bộc lộnhiều hạn chế. Trên phương diện lý luận, vẫn còn nhiều vấn đềkhiếm khuyết liên quan đến hệthống pháp luật cùng cơ chếđảmbảo thực hiện QPN trong lĩnh vực tư pháp. Những quyđịnh của pháp luật vẫn còn bộc lộmột sốhạn chếvềviệc tạora các điều kiện thuận lợi, nhanh chóng và chắc chắn để phụ nữ nhận được sự bảo vệ của Tòa án nhằm chống lại những hành vi vi phạm các quyền của họ. Pháp luật chưa có quy định chi tiết và cụ thể nhằm giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, sự không bị phân biệt đối xử đối với phụ nữ. Cơchế pháp lý về bảo vệ phụ nữ khi tham gia vào các hoạt động tưpháp chưa được làm sáng tỏ. Trên phương diện thực tiễn, hiệu quả thực thi QPN trong hoạt động xét xửcủa Tòa án chưa cao. Tuy khuôn khổpháp lý vềbảo đảm QPN đãtương đối hoàn chỉnh nhưng quá trình áp dụng và thực thi trong thực tiễn xét xử của Tòa án vẫn còn nhiều điểm vướng mắc, dẫn đến các chủ trương, chính sách bảo đảm QPN khi đi vào đời sống vẫn chưa đạt hiệu quả cao, đặc biệt là trong hoạt động xét xửbảo vệ quyền của phụ nữ ở nông thôn, phụ nữ là người dân tộc thiểu số. Mặt khác, tình hình nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề Tòa án bảo vệ QPN và vị trí, vai trò của Tòa án trong cơ chếbảo vệQPN ởViệt Nam vẫn còn hạn chế, bộc lộnhững khoảng trống trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
Bối cảnh nói trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện vềcơ chế bảo vệ QPN và về vị trí, vai trò của Tòa án trong cơ chế đó nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của Tòa án trong cơchế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay. Đây chính là lý do tác giả lựa chọn nghiên cứu đềtài“Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”.
2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu các khía cạnh lý luận về Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, trongđó tập trung làm rõ quan niệm về cơ chế bảo vệ QPN và Tòa án trong cơ chế bảo vệQPN, đặc điểm và vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, các phương thức hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN.
– Nghiên cứu làm sáng tỏcơ sởpháp lý và thực trạng hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay, trong đó điểm nhấn là thực trạng triển khai các phương thức hoạt động của Tòa án hướng tới mục tiêu bảo vệQPNởViệt Nam hiện nay.
– Nghiên cứu xây dựng phương hướng và đề xuất một số giải pháp đột phá,khảthi nhằm bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu
– Các quan điểm khoa học liên quan đến QPN, cơ chế bảo vệ QPN, vai trò vàphương thức hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN.
– Chính sách pháp luật và hệ thống các quy định pháp luật về QPN và về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam.
– Thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay.
– Các chuẩn mực pháp lý quốc tế và kinh nghiệm hoạt động của Tòa án trong cơchế bảo vệ QPN ở một số quốc gia trên thế giới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi nội dung: Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay làvấn đềlớn,được tiếp cận từnhiều góc độvới nhiều nội dung khác nhau. Trong quy mô củaluận án này, tác giảtập trung nghiên cứu Tòa án trong cơchếbảo vệQPN thông qua một số phương thức hoạt động chủ đạo của Tòa án, đặc biệt là hoạt động xét xử trong lĩnh vực hình sự và dân sự – đây là những lĩnh vực đặc thù, cơ bản, phổ biến mà QPN dễ bị xâm hại.
Trong giới hạn nội dung nói trên, cơ chế bảo vệ QPN được nhìn nhận từ góc độ của khoa học pháp lý – cơ chế pháp lý. Luận án đặc biệt chú trọng nghiên cứu các quyđịnh pháp luật hiện hành về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án và thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay.
– Phạm vi không gian: Luận án nghiêncứuvấnđề“Tòa án trong cơchếbảovệquyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” trên địa bàn lãnh thổ Việt Nam, nhằm làm rõ cơchế quốc gia ở Việt Nam về bảo vệ QPN. Trong quá trình nghiên cứu, pháp luật quốc tế vàkhu vực cũng như thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở một số quốc gia trên thế giới cũng được luận án đề cập ở các mức độ khác nhau.
– Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam trong giaiđoạnđổimớiđấtnước(từnăm 1986đếnnay), trọng tâm làtừkhi ban hành Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đến nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án 4.1. Phương pháp luận
Cơ sởphương pháp luận của luận án là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lên nin.
Luận án tiếp cận nghiên cứu dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư duy nhận thức củaĐảng Cộng sản Việt Namvề bản chất của nhà nước và pháp luật, về công lý, quyền con người và vai trò của Tòa án trong bảo vệ quyền con người nói chung, QPN nói riêng.
Để đảm bảo tính khách quan và khoa học của các kết luận nghiên cứu, luận án đồng thờivận dụng một số lý thuyết cơ bản và hiện đại được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới: lý thuyết vềphân công lao động quyền lực củaMontesquieu, lý
thuyết về tiếp cận dựa trên quyền, học thuyết Nhà nước pháp quyền…
4.2. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp phân tích:đượcsửdụngchủyếu từChương1 đếnChương 3 của luận án nhằm làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ rõ các khía cạnh lý luận và giải thích rõ thực trạng hoạt động thể hiện vai trò của Tòa án trong cơ chếbảo vệ QPN ở Việt Nam. Kết quả áp dụng phương pháp phân tích hướng tới cung cấp một cách nhìn chính xác, toàn diện, thuyết phục về các khía cạnh nghiên cứu nói trên.
– Phương pháp tổng hợp: được sửdụng chủyếu trong Chương 1, Chương 3, Chương 4 của luận án nhằm đưa ra các kết luận khoa học về tình hình nghiêncứu đề tài luận án, về toàn cảnh bức tranh đa chiều phản ánh vai trò của Tòa án trong cơchếbảo vệQPN ởViệt Nam,vềnhững quan điểm và giải pháp tổngthểnhằm nâng cao vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay.
– Phương pháp luật học so sánh: được sử dụng ở Chương 2, Chương 3 để xácđịnh những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam và một số quốc gia trên thếgiới liên quan đến QPN và cơ chế bảo vệ QPN thông qua hoạt động Tòa án, từ đó góp phần xây dựng luận cứ xác thực cho các giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong cơchế bảo vệ QPN ở Việt Nam.
– Phương pháp nghiên cứu trường hợp (phân tích vụviệc/ bản án): được sửdụng chủyếu ởChương 3 bằng việc lựa chọn một sốvụviệc điển hình trong hoạt động của Tòa án liên quan đến việc bảo vệ QPN bị xâm hại để phân tích, đánh giá, xácđịnhrõbảnchất vụ việc, phương thức giải quyết của Tòa án và hiệuquảtác độngđếnmụctiêubảovệQPN ởViệt Nam. Áp dụng phương pháp nghiêncứutrường hợp góp phần minh chứng và tăng tính thuyết phục của các nhận định, kết luận của luận án, đồng thời bổ trợ cho những lý lẽ, luận giải và kiến nghị của luận án.
– Phương pháp diễn giải, quy nạp:đượcsửdụngchủyếutrong Chương 2 vàChương 4 của luận án để khẳng định nhận thức của tác giả luận án về các khía cạnh lý luận cơ bản liên quan đến Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, xác định các phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay.
– Phương pháplịch sử: được sử dụng tại Chương 1, Chương 2, Chương 3 của luận án nhằm tìm hiểu, phân tích lịch sử nghiên cứu các nội dung liên quanđến chủ đềluận án, quá trình phát triển nhận thức lý luận và pháp luật vềvai trò, phương thức hoạt độngcủa Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, một số kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật ở Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới gắn với cơ chế bảo vệ QPN và Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
– Luận án là công trình đầu tiên tiến hành tổng hợptương đối đầyđủ, cập nhật hoạt động nghiên cứu khoa học về cơ chế bảo vệ QPN và Tòa án trong cơ chế bảo vệQPN ở Việt Nam, nhận diện rõ trạng thái hiện hành của vấn đề nghiên cứu (những nội dung khoa học đã đạt được sựthống nhất, những nội dung khoa học còn đang tranh luận, những nội dung khoa họcchưa đượcđềcập giải quyết), quađó góp phần xây dựng định hướng nghiên cứu củakhoa học pháp lý vềbảo đảm, bảo vệquyền con người nói chung, QPN nói riêng ở Việt Nam hiện nay.
– Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh lý luận và pháp lý liên quan đến Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN. Luận án đưa ra quan điểm độc lập vềkhái niệm, đặc điểm,vai trò của Tòa án trong cơ chếbảo vệQPN,chỉra các phương thức hoạt động của Tòa án trong cơ chếbảo vệQPN, luận chứng đầyđủvềnhu cầu và thực tiễn điều chỉnh pháp luật liên quan đến hoạt động của Tòa án trong cơchế bảo vệ QPN trên phạm vi quốc tế và ở Việt Nam.
– Luận án là công trình nghiên cứu công phu về thực trạng Tòa án trong cơ chếbảo vệQPN ởViệt Nam. Luận án xây dựngđược bức tranh nhiều chiều, đa màuvềhoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay. Đặc biệt, luận ánđã phát hiện và chỉ ramột cách đầy đủ nhữnghạn chế, bất cập của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ởViệt Nam hiện nay.
– Luận án là công trình nghiên cứunghiêm túc vềphương hướng và giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam. Đóng góp quan trọngvề mặt khoa học của luận án nằm ở hệ thống các giải pháp đồng bộ và khả thi, có giá trị ứng dụng cao đối với mục tiêu bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
– Về mặt lý luận, luận án đưa ra góc nhìn đa chiều, toàn diện về Tòa án trong cơchế bảo vệQPN; xây dựng khung lý thuyết cơ bản vềcơ chế bảo vệ QPN và cơ chếTòa án bảo vệ QPN; cung cấp những luận cứ khoa học cơ bản cho việc xây dựng chính sách pháp luật và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ QPN thông qua hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN.
– Về mặt thực tiễn, luận án là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà nghiên cứu, giảng dạytrong lĩnh vực khoa học Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Tố
tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hình sự… Các quan điểm khoa học và giải pháp do luận án xây dựng có thể được vận dụng trong quá trình hoạt động của các cơ quan hoạch định chính sách pháp luật, Tòa án các cấp trong hệ thống Tòa án Việt Nam cũng như các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm bảo đảm, bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay.

7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận về Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ
Chương 3: Thực trạng Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam Chương 4: Phương hướng và giải pháp bảo đảmTòa án trong cơ chếbảovệ
quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu đề tài luận án 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài luận án
1.2.1. Những kết quả đã có và được kế thừa trong luận án
Từ quá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề “Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trên đã đạt được sự thống nhất cao trong một số vấn đề sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã công nhận QPNlà một thuật ngữ để chỉcác QPN với tư cách là một con người và được xem xét thông qua lăng kính giới. Theođó, QPN được xem là tất cả các quyền con người mà nhân loại tiến bộ thừa nhận và có thêm những quyền mang đặc thù giới nữ. Và nhóm quyền của phụ nữ được Tòa án bảo vệ gồm 2 nhóm quyền: Đó là quyền con người nói chung và quyền của nhóm người dễbị tổn thương.
Thứhai, trong các cơ quan thực hiệnbảovệQPN thì Tòa án là cơ quan truyền thống thực hiện nhiệm vụ này, khi QPN bị vi phạm hoặc có nguy cơ bị vi phạm thì Nhànước thông qua hoạt động của Tòa án để bảo vệ cho nó được nguyên vẹn, khôi phục lại hiện trạng.Vớivịtrí là cơ quanđượctrao thực hiện quyền tư pháp, Tòa ángiữvai trò quan trọng trong việc bảo vệ QPN. Thậm chí có quan điểm cho rằng: Tòa án là nơi đầu tiên và trước nhất mà người dân trông cậy để gìn giữ quyền con người [54, tr.261].
Thứ ba, có rất nhiều cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau về cơ chế bảo vệ QPN bằng Tòa án, song nhìn chung, các tác giả đã đưa ra một số lĩnh vực cơ bản mà QPN hay bị xâm phạm đó là: Lĩnh vực dân sự; lĩnh vực hình sự; lĩnh vực hôn nhân và gia đình vàlĩnh vực lao động. Tòa án thông qua phương thức đặc trưng là xét xử nhằm bảo vệ QPN trong các lĩnh vực đó, ngoài ra Tòa án cũng thông qua phương thức phối với với các cơquan Nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ QPN.
27
Thứ tư, các công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế bảo vệ QPN bằng Tòa án ở Việt Nam trong những năm gần đây đã mang lại những thành
tựu khá lớn, bảo đảm sự công bằng cho người phụ nữ, các vụ việc giải quyết liên quan
đến phụ nữ đều khách quan, minh bạch và thời gian giải quyết nhanh, đúng hạn… Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong cơ chế bảo vệ QPN của Tòaán như: Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán còn yếu kém, hay Thẩm phán thiếu quan tâm, giải thích nên người phụ nữ không biết đưa ra yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình, chưa phân chia hợp lý, xem xét,xác định đầy đủ côngsức của
người phụ nữ trong việc phân chia tài sản chung…
Thứ năm, các giải pháp tăng cường vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPNở Việt Nam đều nhấn mạnh cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện pháp luật về QPN, bảo vệQPN; hoàn thiện quyđịnh pháp luật bảo đảmtính độc lập, vô tư và khách quan của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao đạo đức, trìnhđộchuyên môn nghiệp vụcủa Thẩm phán; tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, bảo đảm quyền tiếp cận công lý của phụ nữ.
1.2.2. Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Mặc dù các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án đãđạt được kết quả ấn tượng về số lượng và các kết luận khoa học nhưng do góc độ tiếp cận, mụcđích và phạm vi nghiên cứu của các công trình khác nhau nên chủ đề “Tòa ántrong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ởViệt Nam hiện nay” vẫn chưa được đề cập một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống. Mặt khác, dễ nhận thấy là một số các công trình nghiên cứu được triển khai trước khi ban hành BLTTDS 2015, BLTTHS 2015, BLDS
2015, BLHS 2015…, tuy vẫn chứa đựng nhiều tư liệu tham khảo có giá trị nhưng đã không còn bắt kịpvớisựthay đổi mang tính cải cách trong quy định của pháp luật. Vì vậy, bên cạnh giá trị cung cấp nguồn tư liệu quý giá, một số luận điểm khoa học xác đáng để cóthể kếthừa, tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án, tình hình nghiên cứu cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến chủ đề “Tòaán trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”chưa được giải mã đầy đủ.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận ánđãđược xác định,luận án sẽtập trung giải quyết trọn vẹn một số vấn đề sau:
Một là, phân tích, đưa ra quan điểmkhoa học vềTòa án trong cơ chếbảo vệQPN, trong đó tập trung xây dựng các khái niệm công cụ: QPN, cơ chế bảo vệ QPN, Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, đồng thời làm sáng tỏ đặc điểm, vai trò, phương thức
28
hoạt độngcủa Tòa án trong cơchếbảo vệQPN. Kếtquảgiải mã những vấn đềnêu trên phải dẫn đến xây dựng được tiền đề nhận thức cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, mô tả, phân tích, đánh giá đầyđủvềthực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chếbảo vệQPN ởViệt Nam. Trong đó, luận ánđặt trọng tâm vào việc chỉ ra những bất cập, hạn chế và xác định nguyên nhân của những bất cập, hạn chế của pháp luật và thực tiễn hoạt động ở những lĩnh vực mà QPN dễ bịxâm hại, thể hiện vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam.
Thứba, luận án xácđịnh phươnghướngvà đềxuất hệthống giải pháp nhằm bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPNởViệt Nam hiện nay. Một số giải pháp cóthể kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đó nhưng cần được luận chứng thuyết phục hơn. Một số giải pháp mang tính mới được đề xuất nhờ kết quả nghiên cứu độc lập của luận án về các khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề luận án. Các giải pháp cần được xây dựng sát thực tiễn, có tính toàn diện, có điểm đột phá nhằm tập trung giải quyết tương đối trọn vẹn nội dung đề cập trong chủ đề luận án.
1.3. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1.3.1. Giả thuyết nghiên cứu
Quyền của phụ nữ và bảo vệ QPN nói chung, Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN nói riêng là vấn đề được cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân chủ đặc biệt quan tâm, thể hiện thông qua hoạt động điều chỉnh pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể diễn ra một thực tế là QPNchưa được bảo vệmột cách hiệu quả trong những không gian và lĩnh vực nhất định.
Tình hình nói trênđã có thểdiễn ra ởViệt Nam trong thời gian qua do nhận thức lý luận chưa thật đầy đủ, do bất cập đáng kể trong điều chỉnh pháp luật, do nhiều khiếm khuyết, hạn chế trong thực tiễn thực hiện pháp luật hoặc do chưa có những giải pháp cần và đủ để giải quyết trọn vẹn, triệt để những vấn đề đặt ra. Luận án dựa trên giả thuyết đó để định hướng hoạt động nghiên cứu các nội dung liênquan đến chủ đềluận án.
1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu
– Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN cần được nhận thức như thế nào?
Câu hỏi này liên quan đến những nội dung cần làm rõ: Quyền của phụ nữ là gì? Cơ chếbảo vệQPN được hiểu thếnào và có những cơ chếnào? Quan niệm nhưthế
29
nào vềTòa án trong cơ chếbảovệQPN? Tòa án có vai trò gì trong cơchếbảo vệQPN? Tòa án thông qua phương thức nào để bảo vệ QPN?
– Thực tiễn điều chỉnh pháp luật và thực trạnghoạt độngcủa Tòa án trong cơchế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra như thế nào?
Câu hỏi này gắn với một số yêu cầu cần giải mã: Trạng thái của chính sách và pháp luật thực định ở Việt Nam về QPN và bảo vệ QPN như thế nào? Thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam có những ưu điểm, hạn chế gì? Nguyên nhân của ưu điểmvà hạn chếlà gì? Những vấn đềpháp lý nào đang đặt ra hiện nay?
– Cần những giải pháp nào nhằm bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Câu hỏi này liên quan đến những nội dung cần làm rõ: Nhu cầu bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Những phương hướng chủ yếu là gì? Cần thiết kế các nhóm giải pháp và xây dựng nội dung của từng nhóm giải pháp như thế nào?
30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài luận án “Tòa án trong cơchế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”, có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Nghiên cứu đề tài thể hiện tính cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng những đòi hỏi về cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và nhu cầu của quá trình hội nhập. Với tư cách làmộttrong những nội dung quan trọngcủaquyền con người, QPNđã,đang và sẽ ngày càng được coi trọng.
2. Hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất cách hiểu về khái niệm cũng nhưđặc trưng của Tòa án trong cơ chếbảo vệQPN. Tuy có nhiều cơchếbảovệQPN khác nhau nhưngvớivai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong nhànướcpháp quyền thì Tòa án là cơchếhữu hiệu nhất trong việc bảovệQPN. Cơ chếbảovệQPN bằng Tòa án chính là cách thức, phương thức mà Tòa án căncứvào quy địnhcủapháp luật thực hiện việcxửlý các hành vi xâm phạm đến QPN và giải quyết các tranh chấp liên quanđếnQPN trong các lĩnhvực củađờisống xã hội.
3. Mặc dù, các công trình nghiên cứu đã thống nhất với nhau vềmột sốvấn đềliên quan đếnTòa án trong cơ chếbảo vệQPN nhưng vẫn còn những vấn đềtranh luận, chưa thống nhất, có nhiều ý kiến khác biệt xung quanh ý tưởng đổimới hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay.
4. Trên cơsởnhững quanđiểmchưa thống nhất, còn tranh luận, tácgiảxácđịnh một số nội dung cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án, đồng thời nêu giả thuyết nghiên cứuvàđặtramộtsốcâuhỏinghiêncứucụthểnhằmđịnhhướngcho việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án.
5. Thông qua đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, phân tích cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của luận án, có thể khẳng định rằng, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về “Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” nhưcách tiếp cận của đề tài, việc nghiên cứu đề tài “Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” rất cóý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, các công trình nghiên cứu đã nói trên là tài liệu rất quý giá cho tác giả tham khảo, phục vụ nghiên cứu của mình.
31
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÒA ÁN TRONG CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ
2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ
2.1.1. Khái niệm Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ2.1.1.1. Quyền của phụ nữ
Phụ nữchiếm hơn một nửa dân số nhân loại, là nhóm đông nhất trong các nhóm xã hội dễbị tổn thương, vì vậyQPN đượchiểu nhưthếnào và được tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ ra sao luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm rất lớn của cộng đồng quốc tế vàcác quốc gia.
Những lý thuyết đầu tiên về QPN xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX cùng với sự thay
đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế, xã hội, chính trị… và những đòi hỏi về bình đẳng pháp lý, chínhtrịcủa phụ nữdiễn ra ởcấp độquốc gia tại nhiều nước phương Tây. Thuật ngữ“feminist” hoặc “les féministes”, có nghĩa là “chủ nghĩa nữquyền” được triết gia người Pháp Charles Fourier nêu ra vào năm 1837 [65, tr.92], đến năm 1872 thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp và Hà Lan [68, tr.31], tại Anh quốc vào thập niên 1890 [70. Tr.34] và ở Mỹvào năm 1910 [72,135]. Từđiển Oxford English Dictionary đưa từ”feminist” với nghĩa “ngườitheo nữquyền” lầnđầu vào năm 1852 và “feminism”vớinghĩa“chủnghĩa nữquyền” vào năm 1895. Theođó,điểm chung trong cáchhiểu về “nữquyền”, “chủ nghĩa nữquyền” có nghĩa là phong trào đấu tranh của nữgiới đòi bình đẳng giới tính, lý thuyết bình đẳng về chính trị, kinh tế và xã hội giữa nam và nữ giới, tư tưởng nam nữ bình đẳng, học thuyết ủng hộquyền bình đẳng giữa hai giới về mặt chính trị, xã hội và nhiều quyền lợi khác. Xuất hiện trong bối cảnh nói trên, ởmức độ tổng quát, Woman’s Rights – QPN hay quyền của phụ nữ- được thừa nhận chung là “quyền của phụ nữ được đối xử bình đẳng với nam giới trongmọilĩnh vực của xãhội”.Cách hiểu này có những biến thể khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận của lĩnh vực nghiên cứu. Năm 1981, nhà nghiên cứu Hosken Fran P nhậnđịnh: “Nữ quyền, tức quyền nữ giới hay quyền của phụ nữ, là các quyền lợibình đẳng giớiđượckhẳng định là dành cho phụ nữvà trẻ em gái trong nhiều xã hội trên thế giới. Tại một số nơi, những quyền này được định chế hóa hoặc hỗ trợ bởi luật pháp, phong tục và tập quán địa phương, trong khi tại một số nơi khác,
32
chúng bị phớt lờ hoặc hạn chế. Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộng hơn vềquyền con người thông qua các nhậnđịnhvềthành kiến truyền thống và lịchsử cố hữu chống lại việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khi thiên vịnam giới và trẻ em trai (trọng nam khinh nữ)” [73, tr.5]. Nhà hoạt động nữquyền Kamla Bhasin thì cho rằng: “Nữ quyền là sự nhận thức về sự thống trị gia trưởng, sự bóc lột và áp bức ở các cấp độ vật chất và tư tưởng đối với lao động, sự sinh sản và tình dục của phụ nữ trong gia đình, ở nơi làm việc và trong xã hội nói chung, là hành động có ýthức của phụ nữ và nam giới làm thay đổi tình trạng đó”[71]. Nữ quyền hiện nay bao gồm cả sựđấu tranh chống lại sự phục tùng của người phụ nữvớiđàn ông trong gia đình; chống lại sựbóc lột trong gia đình; chốnglạiđịavịthấp kémbịduy trìcủahọtrong nơi làm việc, xã hội, văn hóa và tôn giáo của đất nước họ; và chống lại gánh nặng kép trong việc sinh nở và chăm sóc gia đình của họ… Trải qua hàng trăm năm đấu tranh, gắn với các giai đoạn phát triển của phong trào nữ quyền trên toàn thế giới thì quyền của phụ nữ được ghi nhận và ngày càng được trân trọng ở tất cả các quốc gia.
Nhìn nhận từ góc độ pháp lý, các nhà khoa học và các chuyên gia pháp lý đều thống nhất rằng QPN không thể tách rời quyền con người, là một bộ phận cấu thành, gắn liền và không thể tách rời của các quyền con người phổ biến [54], phụ nữ với tưcách là con người đương nhiên có tất cả những quyền gắn với cá nhân con người cần được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Về nguyên tắc, quyền con người có bao nhiêu nội dung thì QPN cũng có tất cả bấy nhiêu nội dung, các QPN cũng có những đặc trưng của quyền con người và có tính phổbiến đối với phụnữ. Với tính chất là một phần không thểtách rời củaquyền con người, QPN cũng là những quyền do tạo hóa ban
tặng cho mỗi con người như quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng về quyền lợi, quyền mưu cầu hạnh phúc… nhưng để các quyền đó trở thành hiện thực phải được ghi nhận, thể chế hóa thành pháp luật để được xã hội thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Dođó, nếu hiểu theo nghĩa rộng, QPN là khái niệm dùng để chỉ quyền con người của phụnữ, đó lànhững quyền tất yếu, không bị tước bỏ bởi bất cứ ai, bất cứ chính thể nào. Làquyền con người cụthể, QPN cũng hàm chứa những đặc tính cơ bản của quyền con người. Tuy nhiên, người phụ nữ với những đặc điểm gắn liền với giới tính tự nhiên thìngoài quyền con người nói chung,họcòn có những quyềngắnvới thiên chức của mình như quyền làm mẹ, quyền được bảo vệvới tư cách là nhóm người dễbịtổn thương [17, tr.55]. Tiếp cận theo hướng này, QPN (nghĩa hẹp)được hiểu là những
33
quyền tất yếu gắn liền với đặc điểm, giới tính tựnhiên mà người phụnữphải được hưởng. Dưới góc độ pháp lý, QPN còn được hiểu là tập hợp những khả năng mà pháp luật của mỗi quốc gia công nhận cho người phụ nữ được hưởng, được làmvà được đòi hỏi. Như vậy, ởmức độ tổng quát nhất, QPN là tất cả những quyền mà theo lẽ công bằng, chính đáng và theo pháp luật, mọi phụ nữ đều được hưởng, được bảo đảm, được bảo vệ, thể hiện những giá trị bẩm sinh, vốn có của mọi phụ nữ với tư cách là một con người và với tư cách là một phụ nữ.
Từ cách hiểu nói trên, QPN có những đặc điểm sau: Thứ nhất, QPN mang tính phổ quát.
Tính phổquát của QPN thểhiện ở“đặc tínhngười” của con người -đặc tính chỉ có ở cộng đồng người, là đặc tính liên kết tất cả mọi người thành cộng đồng người và đặc tính này đòi hỏi phải có quyền con người cho mỗi người, cho mọi người, cho cộng đồng người, cộng đồng nhân loại.
Tính phổ quát của QPN phản ánh ở giá trị bình đẳng của các quyền. Mỗi phụ nữvà mọi người đều có quyền con người – những quyền mà mỗi người và mọi người có“đơn giản là với tư cách một con người”. QPN xuất phát, đáp ứng và thúc đẩy các nhu cầu khách quan của phụ nữ, của phát triển con người và của phát triển xã hội. Một nhu cầu cơ bản của phụnữ, vềlogic, sẽtạo ra một quyền. Quyền con người nói chung, QPN nói riêng luôn luôn đề cao phẩm giá cá nhân của con người, và vì vậy có thể áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, ở mọi thời điểm và trong mọi hoàn cảnh.
Tính phổ quát của QPN còn được thể hiện ở yêu cầu thể chế hóa các QPN thành các quyền pháp lý. Việc thể chế hóa QPN ở các phương diện và mức độ khác nhau lànhu cầu tất yếu và là con đường hiện thực hóa các QPN.
Thứ hai, QPN mang tính đặc thù.
Tính đặc thù của QPN gắn với đặc điểm đặc thù về mặt lịch sử cụ thể của quyền con người nói chung, QPN nói riêng. QPN, xét ở phương diện giá trị trừu tượng lẫn ởphương diện giá trịhiện thực, ởphương diện tựnhiên lẫn ởphương diện pháp lý là một trong những hiện tượng xã hộigắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người nói chung và của từng xã hội, khu vực, của từng quốc gia nói riêng. Chính vì vậy, QPN mang những đặc trưng, bản sắc riêng tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế- xã hội, truyền thống văn hoá, lịch sử ở từng khu vực, quốc gia, vùng lãnh thổ. Xét vềmặt không gian, tínhđặc thù về mặt lịchsử cụ thể của QPN còngắn với đặc thù ở mức độ quốc tế, ở mức độ khu vực và ở mức độ từngquốc gia – dân tộc.
34
Tính đặc thù của QPN còn được phản ánh trong đặc thù thể chế hóa các quyền tự nhiên thành các quyền pháp định trên cả bình diện quốc tế, khu vực, quốc gia liên quan đến số lượng các quyền cụ thể được ghi nhận trong các giai đoạn khác nhau cũng như mô hình thúc đẩy,bảo đảm, bảo vệcác quyền pháp định và trạng thái hiện thực của việc thực hiện, vi phạm và bảo vệ QPN. Trên thực tế, việc thừa nhận đặc tínhđặc thù của QPN cho phép các quốc gia có quyền đưa ra những quy định pháp luật cụ thể, không trái với các chuẩn mực quốc tếghi trong các điều ước quốc tếvềnhân quyền nhằm bảo đảm cho phụ nữ được hưởng thụ quyền đầy đủ và trọn vẹn hơn.
Thứ ba, QPN mang tính không thể phân chia.
Quyền con người có tính không chia cắt (indivisibility) có nghĩa rằng các quyền con ngườinói chung, QPN nói riêng cần được xem xét và đảmbảo như nhau, các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá không thể được xem nhẹ hay ưu tiên hơn các quyền chính trị và dân sự và ngược lại.
Đặc tính này cũng thể hiện ở chỗ các QPN nói riêng, các quyền con người nói chung không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cảcác cơ quan và quan chức nhà nước. Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước tự do theo pháp luật, thậm chí bị tước quyền sống nhưngkểcảnhưvậythì cơ quan nhànướccó thẩm quyền cũng khôngđược“tùy tiện” áp dụng các biện pháp cưỡng chế, tước bỏ quyền con người của họ.
Thứ tư, QPN gắn liền với đặc điểm giới. QPN thể hiện và phản ánh những đặc điểm giới tính của phụ nữ. Chính vì phụ nữ là đối tượng thường bị phân biệt đối xử vềgiới, dễ bị xâm phạm quyền nên QPN cần được chú trọng bảo vệ. Vì những đặc điểm giới tính nữ đó nên ngoài việc có một số quyền đặc thù thì một số khía cạnh trong các quyền cơ bản của con người cần được quan tâm đặc biệt, chẳng hạn như khía cạnh sức khỏe sinh sảntrong các quyền liên quan đến sức khỏe. Cũng do tính chấtđặc thù tương đối phổ biến nên nhiều nhà nghiên cứu đưa ra ý kiến cho rằng, phụ nữ tuy chiếm
tỷ lệ đa số trong nhân loại nhưng thuộc nhóm xã hội dễ bị tổn thương và QPN là quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, cần có cơ chế pháp lý đặc thùđể bảo đảm và bảo vệ. Trongmộtsốvăn kiện pháp lý và trong hoạt động thực tiễn vềquyền con người trên thế giới, QPN cũng được đề cập với cách hiểu là quyền của một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương (vulnerable groups) [24, tr.229].
Thứnăm, hiệu quảthực hiện QPN (tôn trọng, bảo đảm, bảo vệQPN) gắnvới tác động của nhiều yếu tố, trong đó đóng vai trò quan trọng là mô hình chính trị của
35
mỗi quốc gia, nhận thức của chính quyền và xã hội về vai trò của phụ nữ và về bìnhđẳng giới, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật,mức độ đầy đủ và hiệu quả của các thiết chế nhân quyền và các tổ chức hỗ trợ phụ nữ, mức độ tích cực của các hoạt động xã hội và trình độ văn hoá nhân quyền, mức độ hỗ trợ hiệu quả của các điều kiện
kinh tế- xã hội… Chính vì vậy, khi bàn đếnQPN, một sốnhà nghiên cứu cho rằng việc thực hiện QPN mang tính giai cấp, có sự khác biệt rất rõ giữa các quốc gia, khu vực, thậm chí trong một quốc gia ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
Trên bình diện quốc tế, khu vực và trong các chiến lược về phát triển con người ở mọi quốc gia, vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung, QPN nói riêng luôn được đặt ra như một yêu cầu tất yếu. Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển. Câu châm ngôn pháp lý “ở đâu có quyền, ở đó có cứu trợ” đã thể hiện rằng nếu quyền không đi kèm với sự bảo vệ khi bị vi phạm thì quyền đó cũng là vô nghĩa. Loài người không thể hưởng an ninh mà không có phát triển hay hưởng phát triển mà không có an ninh, và cũng không thể hưởng gì cả nếu không cósự tôn trọng, bảo vệ quyền con người.
2.1.1.2. Cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ
Để đưa ra khái niệm cơ chế bảo vệ QPN, cần làm rõ hai thuật ngữ pháp lý. Thứ nhất, thuật ngữ “Bảo vệ QPN”
Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” có nghĩa là “chống lại mọi sự xâm phạm để giữcho luôn luôn được nguyên vẹn…” [59, tr.37]. Theo đó, về mặt ngôn ngữ, nội dung của “bảo vệ” gồmhai hoạtđộng là chống lại các hành vi xâm phạm vàgiữgìn cho luônđược nguyên vẹn. Người bịvi phạm nhân quyền là người bịngười khác làm tổn thương về phẩm giá con người, bị làm cản trở sinh tồn của nhân cách, cho nên trước hết cần loại bỏ tổn hại rồi sau đó khôi phục quyền lợi, lợi ích và phẩm giá cho người bịhại. Vì thếbảo vệQPN trước hết là phải loại bỏhành vi xâm phạmđến quyền, bồi thường tổn hại, bù đắp lợi ích đã mất, khôi phục tính quan hệ giữa hai bên bằng việc xin lỗi của người gây hại đối với người bị hại. Hơn nữa, chế tài đối với người gây hại cũng là một loại chính sách bảo vệ. Ngoài ra, theo nghĩa rộng, những nỗlực nhằm phòng chống vi phạm quyền con người trong tương lai như giáo dục quyền con người, tuyên truyền phổ biến về quyền con người cũng thuộc phạm trù bảo vệ QPN.
Xem xétởgóc độpháp lý, bảo vệchỉđặt ra khi các quyền hợp pháp bịxâm phạm, được thực hiện bằng việc nhà nước, xã hội thông qua các quyđịnh của pháp luật đểngăn ngừa và xửlý những hành vi xâm phạmđến quyền và lợi ích hợp pháp
36
của chủ thểđược nhà nước bảo vệ trong xã hội.Quyền được yêu cầu bảo vệ cũng làmột loại quyền giống với các quyền khác ở chỗ quyền này được trao sẵn cho phụ nữ từkhi họ sinh ra, nhưng có điểm khác là quyền này chỉ có thể sử dụng với điều kiện là cóhành vi xâm phạm tới quyền. Như vậy, bảo vệQPN được hiểu là việc nhà nước, xã hội thông qua các quyđịnh của pháp luậtđểchống lại vàxửlý những hành vi xâm phạm đến QPN nhằm làm cho các QPN được hiện thực hoá.
Thuật ngữ “Bảo vệ QPN” có những điểm tương đồng và khác biệt với các thuật ngữ gần gũi như: “Bảo đảm QPN”, “Bảo hộ QPN”. Đây là những phạm trù có chung mục đích là làm cho phụ nữ được thụ hưởng đầy đủ các quyền cơ bản với tư cách làmột con người và với tư cách là một phụ nữ, tuy nhiên, giữa chúng có sự khác biệt vềnội dung, điều kiện và phương thức tiến hành.
Nếu như nội dung “bảo vệ QPN ” được hiểu gồm hai hoạt động là chống lại các hành vi xâm phạm QPN và giữ gìn cho luôn được nguyên vẹn, thì nội dung của “bảo đảmQPN” lạilà “làmcho chắc chắn thực hiện được, giữgìn được, hoặc có đầyđủnhững gì cần thiết” [32, tr.36] hoặc là“hứa chịu trách nhiệm về điều gì”, “cam đoan giữ được, làm được đầy đủ” [29, tr.40]. Bảo vệ chỉ đặt ra khi các quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm, còn bảo đảm là tạo ra các điều kiện cần thiết để chủ thể thực hiện được các quyền lợi hợp pháp ngay cả khi không có sự xâm phạm [60, tr.196]. Phân tích sâu hơn theo hướng bảo đảm và bảo vệ là hai khâu tiếp giáp, liền kề nhau trong hoạt động giữ gìn nguyên vẹn các quyền hợp pháp thì khi pháp luật bảo đảm quyền lợi bằng cách
tạora cácđiềukiện thuậnlợiđểchủthểcủaquyềnđượcthụhưởngquyền nhưng pháp luật không thể đảm bảo quyền sẽ không bị xâm phạm mà khi đó cần có biện pháp mạnh hơnđể giữ nguyên giá trị của quyền chính là bảo vệ quyền để nhằm mục đích ngăn chặn các hành vi xâm hại quyền. Theo nghĩa đó, bảo đảm QPN có nội hàm rộng hơn bảo vệ QPN, bảo đảm QPN bao gồm trong đó cả nội dung tôn trọng, bảo vệ và hỗ trợ hưởng thụ quyền.
Trong khi đó, theo nghĩa chung nhất, “bảo hộ” là sựche chở, không đểbịhưhỏng, tổn thất [30, tr.39]. Trong khoa học pháp lý, bảo hộ thường được hiểu là tất cảnhững hành vi mà nhà nước thực hiện nhằm công nhận và bảo vệ một quyền lợi nhất định [52, tr.243]. Điểm khác giữa “bảo vệ QPN” và “bảo hộ QPN” trước hết là về chủthể. Khác với tính đa dạng của chủ thể bảo vệ QPN, hành vi “ bảo hộ QPN” chỉ do nhà nước tiến hành.Yêu cầu bảo hộđược đặt ra khi các trình tựthủtục pháp lý thông thường không thểgiải quyết được hoặc trong các trường hợp vượt ngoài phạm vi tài
37
phán của Nhà nước. Cơ chế bảo hộ quan tâm đến tính hiệu quả trong quá trình bảo hộquyền, còn cơ chế bảo đảm và bảo vệ quan tâm trước hết đến khía cạnh công lý. Nhưvậy, “bảo hộ QPN” là khái niệm có tính bao trùm và giao thoa với hai khái niệm “bảo vệQPN” và “bảo đảm QPN”, thểhiện trách nhiệm của Nhà nước trong mối quan hệvới công dân của mình.
Thứ hai, thuật ngữ “cơ chế” và “cơ chế pháp lý”
Cơ chế là một thuật ngữ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy vào hoàn cảnh và lĩnh vực. Cơ chếcó thểhiểu là “máymóc, bộmáy, cơ cấu”. Chẳng hạn, cơ chếnhà nước (bộmáy nhà nước). Theo Đại từđiển tiếng Việt thì: “Cơ chếlà cách thức, sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện”[62, tr.463]. Theo GS.TS Triết học Phạm Ngọc Quang, “Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ một chuỗi những khâu liên kết với nhau theo một lôgic nhấtđịnhnhờvậy mục tiêuđượcthực hiện” [41, tr.38]. Thông thường cơ chế được hiểu là “cách thức theo đó một quá trìnhđược thực hiện” [32, tr.234]. Khái niệm này được sử dụng trong cả lĩnh vực tự nhiên và lĩnh vực xã hội. Cách hiểu như vậy về cơ bản đúng khi nhận thức về vấn đề cốt lõi của khái niệm cơ chế. Cơ chếkhông phải là khái niệm“tĩnh”, ngược lại nó là khái niệm “động” thể hiện sự vận hành tới mục đích nào đó. Đó là quá trình hướng đến điều gì nhất định, chứ không phải quá trình tự thân.
Trong khoa học pháp lý, khái niệm “cơ chế pháp lý” được sử dụng phổ biến. Cơ chếpháp lý luôn gắn liền với pháp luật và khả năng điều chỉnh của pháp luật. Cơ chếpháp lýtrướchếtphảiđượcpháp luật ghi nhận ởcáccấpđộkhác nhau trong các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau, khởi nguồn từ Hiến pháp – đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, chế định những vấn đề có tính nguyên tắc của cơ chế pháp lý trong một lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Xét trên phương diện nội dung, cơ chế pháp lý bao gồm hệ thống các quy định pháp luật ghi nhận các quy tắc ứng xử của các cá nhân và tổ chức liên quan đến một chuỗi các khâu của quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnhvựccụthể. Xét trên phương diệntổchức thực hiện, cơchếpháp lý baogồmhệthống các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế tham gia vào quátrình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực cụ thể. Xét trên phương diện thủ tục, cơ chếpháp lý là sự hợp thành của các phương pháp, trình tự, bước đi, hậu quả pháp lý do pháp luật ghi nhận để đảm bảo tính hợp pháp của quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực nhất định. Nhìn tổng thể, cơ chế pháp lý là tổng thể các thể chế, thiết chế, nguyên tắc
38
vận hành gắn kết với nhau, hợp thành hệ thống, do pháp luật quy định, tạo thành bảo đảm pháp lý đối với quá trình hiện thực hóa các mục tiêu nhất định.
Sự phát triển của lý luận pháp luật cũng cho thấy, liên quan đến cơ chế của pháp luật, có sự phân định giữa “cơ chế pháp lý”với “cơ chế điều chỉnh pháp luật” và “cơchế hoạt động xã hội của pháp luật”. Cơ chế điều chỉnh pháp luật là tổng thể các yếu tố pháp lý bảo đảm sự tác động của pháp luật đến các quan hệ của đời sống xã hội. Cơchế điều chỉnh pháp luật được hợp thành từ nhiều yếu tố thuần túy có tính chất pháp lýnhư quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt, quan hệ pháp luật, chủ thể, ý thức pháp luật,
pháp chế, trách nhiệm pháp lý…[51, tr.529]. Cơchếhoạt động xã hội của pháp luậtđược hiểu là tổng hợp hay hệ thống các yếu tố xã hội và các phương pháp tác động của pháp luật và xã hội để biến các quy định của pháp luật thành các hành vi hợp pháp của con người. Đâylà cơ chếchỉra được sựtác động của pháp luật trong thực tiễn sinhđộng của đời sống xã hội, bao gồm cả yếu tố pháp lý và yếu tố xã hội. Tuy nhiên, ở cảhai cơ chế nói trên đều không nhấn mạnh vai trò của chủ thể thực hiện cơ chế, trong khi đó thì đối với cơ chế pháp lý, vai trò của chủ thể được thể hiện rất rõ.
Từ những điều trình bầy ở trên, trong lĩnh vực luật học, cơ chế bảo vệ QPN được nhìn nhận chủ yếu là cơ chế pháp lý bảo vệ QPN. Theo đó, cơ chế bảo vệ QPN là tổng thể các thể chế, thiết chế, nguyên tắc vận hành gắn kết với nhau, hợp thành hệ thống, do pháp luật quy định, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể có trách nhiệm bảo vệ QPN với chủ thể mang quyền, nhằm chống lại sự vi phạm QPN và khôi phục trạng thái nguyên vẹn củaQPN,hướngtớimụctiêuđảmbảo chophụnữthụhưởngđầyđủcác QPN. Trong khái niệm nói trên, nhìn từ phương diện cấu trúc, cơ chế bảo vệ QPN có hai yếu tố cấu thành cơ bản: (i) Thể chế bảo vệ QPN và (ii) Thiết chế bảo vệ QPN.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, thể chếlà một phạm trù đa diện và rộng, thường được địnhnghĩa khái quát, nhiều khi mơhồ,vớinhững khuônkhổrộng,hẹpkhác nhau. Trongtừ điển, thể chế làkhái niệm dùng để chỉ các quy định hay luật lệ mà mọi người phải tuân theo [59, tr.932]. Trong giới nghiên cứu ở Việt Nam, quan niệm rộng xemthểchế bao gồm “các quyđịnh,quy tắc, pháp luật, điều lệ, chế tài xử lý vi phạm, bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, các yếu tố văn hóa, tâm lý, thói quen, trìnhđộtri thức” [21, tr.15]. Trong khi đó, quan niệm hẹp hơn cho rằng“nói đến thể chế là nóiđến các luật lệ, quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội, các tổ chức vận hành xã hội nói chung, nền kinh tế nói riêng” [21, tr.22]. Quan niệm ngắn gọn hơn cho rằng “thể chế là
39
con đường, là cách thức để đi tới mục tiêu” [21, tr.23]. Mặc dù có những khác biệt nhất định nhưng điểm tương đồng giữa các quan niệm đều xem thể chế là các quy định, quy
tắc. Trong ngôn ngữ chính trị – pháp lý, người ta cũng hiểu chung nhưvậy. Đâu đócósự giải thích khái niệm này theo cách khác, chẳng hạn có người còn cho đó là thiết chếnhưng đây là cách hiểu sai hoặc ít nhất không cần thiết vì làm rối, nhòe nội hàm khái niệm. Như vậy, thể chế bảo vệ QPN có thể được hiểu đơn giản là các quy định về bảo vệ QPN. Để bảo vệ QPN, cộng đồng quốc tế đã tạo lập ra các thể chế mang tính toàn cầu và khu vực như Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, cácđiều ước quốc tế vàkhu vực về quyền con người, bảo vệ quyền con người (đặc biệt là các điều ước quốc tế về quyền của phụ nữ, bảo vệ quyền của phụ nữ), các văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực, các chương trình bảo vệ và trợ giúp pháp lý, trợ
giúp nhân đạo, trợ giúp kinh tế…cho phụ nữ. Ở cấp độ quốc gia, thể chế bảo vệ QPN là hệ thống luật và các quy định khác do nhà nước tạo ra hay thừa nhận nhằm chống lại sự vi phạm QPN và khôi phục trạng thái nguyên vẹn của QPN. Với cách hiểu như trên, thể chế bảo vệ QPN của một quốc gia gồm các nội dung chủ yếu sau đây: (1) Xác định trong Hiến pháp và pháp luật những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ quyền con người nói chung, QPN nói riêng; (2) Xác định trong Hiến pháp và pháp luật về các quyền cơ bản của phụ nữ cần được bảo vệ; (3) Xác định trong Hiến pháp và pháp luật trách nhiệm của các chủthểtrong bảo vệQPN, cách thức, thủtục thực hiện trách nhiệm bảo vệQPN, mối quan hệ giữa chủ thể trách nhiệm và chủ thể mang quyền được bảo vệ; chếtài áp dụng khi vi phạm các quy định về trách nhiệm; (4) Xác định trong Hiến pháp vàpháp luật các yêu cầu về điều kiện đảm bảo hiệu quả bảo vệ QPN ; (5) Các chính sách,
chiến lược, chương trình… về phát triển phụ nữ, bảo vệ quyền của phụ nữ.
Trong một cuốn từ điển tiếng Việt, thiết chế là khái niệm được hiểu tương đương nhưthể chế[59, tr.942]. Cách hiểu như vậy của nhóm tác giả tỏ ra không sát với cách hiểu thực tế trong đời sống xã hội và trong khoa học. Chẳng hạn, người ta nói thiết chếnhà nước, thiết chế nhà thờ…cùng với các hình thái ý thức xã hội tạo thành khái niệm kiến trúc thượng tầng trong triết học. Hay, không ai nói pháp luật là sự thiết chế hoá đường lối chính sáchcủa Đảng.Thực ra, thiết chế là khái niệm chỉ một cơ cấu tổ chức nào đấy, một cơ quan, tổ chức được lập ra để thực thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định [61. tr.9]. Thiết chếcó thểđược thểchếhóa nhưng diễn đạt có sựtách biệt hai khái niệm thiết chế và thể chế, ví dụ, thể chế về cơ quan nhân quyền quốc gia hàm ý là
40
các quyđịnh vềtổchức và hoạt động của Cơ quan nhân quyền quốc gia – thiết chế. Trong cơ chế pháp lý, thiết chế với cách hiểu là một thành tố của cơ chế pháp lý luôn luôn được ghi nhận trong pháp luật (được thể chế hóa). Như vậy, thiết chế được hiểu là hệ thống tổ chức bộ máy bao gồm hệ thống các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội,được thiết lập trên cơsởquyđịnhcủa Hiến pháp, pháp luật đểthực hiện mộthoạt động nào đó của xã hội, nhằm đảm bảo gắn kết các hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng và cá nhân. Theo đó, thiết chế bảo vệ QPN được hiểu là các cơ quan, tổ chức được lập ra để thực thi những chức năng, nhiệm vụ bảo vệ QPN. Các thiết chế mang tính toàn cầu và khu vực như Cơ quan phụ nữ Liên Hợp Quốc, Ủy ban phụ trách việc loại bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ, các Ủy ban nhân quyền khu vực, các Tòa án nhân quyền khu vực và các tổ chức bảo vệ phụ nữ khu vực, các trung tâm
hay tổ chức chuyên trách có chức năng bảo vệ quyền của phụ nữ… Các thiết chế ở cấp độ quốc gia như cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp, cơ quan hành pháp và các tổ chức chuyên trách như tổ chức trợ giúp pháp lý, tổ chức phi chính phủ hay các ủy ban nhân quyền, ủy ban bảo vệ, văn phòng cơ quan thanh tra hay các thể chế tương tự khác màhoạt động của các cơ quan, tổchức này có thểtác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc bảo vệ QPN.
Trên thực tế, cơ chế bảo vệ QPN có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Căn cứ vào phạm vi và cấp độ, cơ chế bảo vệ QPN bao gồm: (i) Cơ chế quốc tế bảo vệ QPN. Về cơ bản, cơ chế quốc tế về bảo vệ QPNđược thể hiện ở bộ máy các cơ quan có nhiệm vụ giám sát và hỗ trợ việc thực hiện QPN và hệ thống các quy tắc, thủtục vềbảo vệQPN trên phạm vi thếgiới và trong tổchức Liên Hợp Quốc. Nội dung thểchếcủa cơ chếnày bao gồmhàng loạt các văn kiện quốctếvềquyền con người, trong đó tập trung nhất là Công ước CEDAW1. Về thiết chế, cơ chế này gồm một hệ thống các cơ quan được thành lập bởi Liên Hợp Quốc,từ Ủy ban về địa vị của phụnữđược thành lậpnăm 1946, có chức năng nghiên cứu, soạn thảo các văn kiện quốc tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ đến 05 cơ quan hoạt động nhằm bảo vệquyền của phụ nữ gồm: Ủy ban Liên Hợp Quốc về địa vị của phụ nữ (CSW) trực thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội (ECOSOC) là cơ quan hoạch định chính sách toàn cầu chủyếu dành riêng cho bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ; Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ(DAW) là một cơ quan của Ban Thư ký chuyên giải quyết các vấn đề hành chính liên
1 Các Văn kiện cụ thể được trình bầy tại mục 2.4.1. của luận án.
41
quan đến tình trạngcủa phụnữ trênthếgiới và các thành tựu của sự bình đẳng giới; Quỹ phát triển Phụ nữ Liên Hợp Quốc (UNIFEM); Viện nghiên cứu và đào tạo quốc tếvì sựtiến bộcủa phụnữvà Văn phòng cốvấn đặc biệt cho Tổng thư ký Liên hợp quốc về các vấn đề giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Từ tháng 7/2010, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đãthành lập cơ quan phụ nữ Liên Hợp Quốc (UN Women) là sự pha trộn của bốn tổchức trướcđâylà DAW, INSTRAW, OSAGI, Quỹphát triển Liên Hợp Quốc choPhụnữUNIFEM. Hoạt động củaUN Women với chức năng, nhiệm vụchính là nhằm xóa bỏphân biệt đối xửđối với phụnữvà trẻem gái, trao quyền cho phụnữvà đạt được bình đẳng giữa phụnữvà nam giới. Bên cạnh đó, còn có mạng lưới liên cơ quan về phụ nữ và bình đẳng giới trực thuộc, chịu trách nhiệm chủ yếu về
vấn đềphụnữ. Ngoài ra, tương ứng với các công ướclàhệthống Ủyban công ước được thiết lập để giám sát, thúc đẩy việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, QPN thông qua việc nhận, xem xét và ra khuyến nghị liên quan đến các báo cáo về việc thực hiện các công ước này của những quốc gia thành viên. Trong hệ thống Ủy ban công ước có liên quan đến bảo vệ QPN thì Ủy ban phụ trách việc loại bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ được thànhlập nhằm giám sát việc thực hiện Công ước về xóabỏmọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ là Ủy ban giữ vai trò đặc biệt quan trọng.Đây là một trong 10 Ủy ban của các Hiệp ước liên quan tới nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Ủy ban gồm 23 chuyên gia về các vấn đề phụ nữ thuộc nhiều nước thành viên khác nhau của Liên Hợp Quốc. Ủy ban họp mỗi năm 2 lần để xem xét các báo cáo vềviệc tuân thủ các quy định của Công ước mà các nước thành viên phải nộp mỗi 4 năm;
(ii) Cơ chế khu vực bảo vệ QPN. Đây là cơ chế bảo vệ QPN được thiết lập tại các khu vực địa lý nhất định để thực hiện các biện pháp bảo vệ QPN thông qua việc ban hành các văn bản, thành lập các cơ quan bảo vệ, thúc đẩy quyền của phụ nữ trong phạm vi nhất định. Thông qua hoạt động của mình, cơ chế này có nhiệm vụ giám sát và hỗ trợviệc thực hiện QPN và các quy tắc, thủtục vềthúc đẩy, bảo vệQPN ởphạm vi khu vực. Tuy nhiên, cơ sở chủ yếu để các tổ chức khu vực bảo vệ QPN là dựa trên các quyđịnh vềquyền con người nói chung, bao gồmcác quyđịnh của Hiến chương, Côngước Nhân quyền khu vực, Tòa án Nhân quyền khu vực, các tổ chức giám sát thực hiện
nhân quyền ởkhu vực…So với cơ chếtoàn cầu của Liên Hợp Quốc, do cơ chếkhu vực bảo vệ QPN gồm các quốc gia trong khu vực thường có nhiều điểm chung về kinh
tế, văn hóa, truyền thống lịch sửnên khi thiết lập, sửa đổi, bổsung và thực hiện các
42
quyền dễ đạt được đồng thuận hơn. Bên cạnh đó, do các khu vực có phạm vi hẹp hơn về địa lý nên cơ chế bảo vệ của khu vực tỏ ra dễ tiếp cận hơn với công chúng so với cơ chếtoàn cầu của Liên Hợp Quốc. Hiện nay, Châu Á là châu lục lớn duy nhất chưa thiết lập cơ chếchungvềbảo vệvà thúc đẩyquyền con người nói chung, QPN nói riêng, tuy nhiên một số tổ chức ở châu Á đã nỗ lực hoạt động nhằm khắc phục những thiếu hụt trên lĩnh vực nhân quyền.Đặc biệt, tất cả các nướcASEAN đã phê chuẩn vàlà các quốc gia thành viên của “Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xửchống lại phụ nữ”.Lần đầu tiên ASEAN đề cập đến QPN và quyền trẻ em là trong Kế hoạch hành động Hà Nội giai đoạn 1997-2004. Những nhà lãnh đạo ASEANđã tán thành Quy chế hoạt động của Ủy ban ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ các QPN và trẻ em tại Hội nghị cấp cao ASEAN lầnthứ15 ở Băng Cốc, Thái Lan (tháng 10/2009) và đãthông qua Cơ quan khu vực về phụ nữvà trẻ em trong Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ16 ở Hà Nội, Việt Nam (tháng 4/2010). Việc ra mắt Ủyban ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ QPN và trẻ em được xem như là một sựcam kết của các quốc gia thành viên trong việc theo đuổi thực hiện những nghĩa vụ theo Công ước về xóa bỏ tất cả những sựphân biệt đối xử chống lại phụ nữ và Công ước về quyền trẻem được số đông đảo các quốc gia phê chuẩn và là quốc gia thành viên. Hiện nay, trong khu vực ASEAN có ba cơ chế bảo vệ nhân quyền gồm: Ủy ban liên chính phủASEAN vềnhân quyền (AICHR); Ủyban thực hiện Tuyên bốASEAN vềbảo vệvàthúc đẩy các quyền của người lao động di trú (ACMW); và Ủy ban thúc đẩy và bảo vệQPN vàtrẻem ASEAN (ACWC); (iii) Cơchếquốc gia bảo vệQPN.Đâylà cơchếbảo vệ QPN được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan,tổ chức của nhà nước vềbảo vệ và thúc đẩy quyền của phụ nữ ở mỗi quốc gia nhằm thực hiện những nghĩa vụcủa nhànước được nêu trong các văn kiện quốc tếvềquyền con người, vềQPN màquốc gia đó tham gia cũng như trong chính các quy phạm pháp luật do quốc gia đó ban hành. Trên thực tế, ở nhiều quốc gia, cơ quan nhân quyền quốc gia được thành lập và được xem như là cơ quan trung tâm của cơ chế quốc gia bảo vệ QPN. Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ QPN cần được hiểu rộng hơn cơ quan nhân quyền quốc gia. QPNđược tôn trọng và bảo đảm, bảo vệ một cách thực chất bởi pháp luật và hệ thống gồm nhiều thiết chếbảo vệQPN của mỗi quốc gia. Trong phạm vi quốc gia,đểbảo vệQPN đòi hỏi thiết lập một cơ chế pháp lý mạnh mẽ bằng việc ghi nhận các quyền của phụ nữ trong các văn bản pháp luật cũng như những chế tài để xử lý, trừng trị các hành vi xâm phạm
43
quyền của người phụ nữ và xây dựng hệ thống các cơ quan, tổ chức bảo vệ phụ nữ khi họbịxâm phạm quyền. Các QPN trước hết là các quyền mà mọi công dân của quốc gia đều được hưởng và do vậy phụ nữ được hưởng với tưcách là công dân của quốc gia đó. Ngoài ra, ở các quốc gia, phụ nữ đều được thừa nhận có những quyền đặc thùtrong nhiều lĩnh vực như: các quyền về bình đẳng giới, các quyền trong hôn nhân – gia đình, các quyền trong lao động, bảo hiểm xã hội, các quyền liên quan đến sức khoẻsinh sản, các quyền liên quan đến ưu tiên bảo vệ trong luật hình sự, các quyền gắn với đặc thù giới trong việc bảo vệ tính mạng, thân thể, bí mật đời tư, nhân phẩm, danh dự.. Như vậy, toànbộcác quyđịnhcủapháp luậtvềQPNđượcnhànướcghi nhận, ban hành và hệ thống các cơ quan, tổ chức do nhà nước ở mỗi quốc gia tạo ra nhằm thực hiện các cách thức, biện phápđểchốnglạicác hành vi vi phạm QPN và khôi phục trạng thái nguyênvẹncủacác QPN,tạođiềukiện chophụnữđượchưởngthụthực chất các quyền của mình trongthực tế đãtạo thành cơ chế quốc gia bảo vệ QPN.
Căn cứ vào tính chất vận hành của cơ chế bảo vệ QPN, có thể chia thành hai loại: (i) Cơ chế bảo vệ QPN mang tính nhànước. Đâylà cơ chếđược nhà nước tổchức và điều hành thông qua hoạt động của hệ thống cơ quan, tổ chức nhà nước nhằm bảo vệquyền của phụnữ.Trên cơ sởQPNđược ghi nhận trong pháp luật quốc tế, pháp luật quốc giamà phụ nữ được phápluật bảo vệ dựa trên những nhóm quyền cơbản như quyền dân sự, quyền chính trị, quyền kinh tế, xã hội, văn hóa hay quyền trong các lĩnh vực hành chính, dân sự, tư pháp và những nhóm quyền khác. Theo đó, QPN được bảo vệchủyếubằng hoạtđộng củacác cơ quan nhà nước,cụthểlà bằng hoạt động thực hiện quyền lập pháp, hoạch định chính sách của Nghị viện – Quốc hội, bằng hoạt động xửlý, giải quyết vi phạm hành chính củahệthống cơ quan hành pháp và đặc biệt là bằng hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án – cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử. Ngoài ra, một thiết chế hữu hiệu được thiết lập ở nhiều quốc gia trên thếgiới,đó là Cơ quan nhân quyền quốc gia hiện ngày càng có vịthếđặc biệt trong bảovệQPN; (ii) Cơ chế bảo vệ QPN mang tính xã hội. Đây là cơ chếbảovệQPN thực hiện thông qua thể chế và thiết chế xã hội, trong đó, chủ yếu là thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội (bao gồm các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị – xã
hội, tổchức phi chính phủ, tổchức cộng đồng…). Trong trường hợp này, việcxửlý đối với hành vi vi phạm quyền của phụ nữ không mang tính cưỡng chế, bắt buộc mà làhoạt động mang tính xã hội,chủ yếu thể hiện thái độ phản đối của cộng đồng đối với
44
hành vi vi phạm. Bằng việc phản ánh ý nguyện của người dân vềbảo vệquyền của phụ nữ và thực hiện vai trò giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các thiết chếxã hội tạo ra dư luận, sức ép xã hội buộc nhà nước phải quan tâm và bảo vệ tốt hơn các QPN, đồng thời nâng cao nhận thức của xã hội và người dân, bản thân phụ nữ về bảo vệ QPN. Các tổ chức xã hội thông qua nhiều hình thức khác nhau như tập hợp ý kiến,
tổ chức hội thảo, trao đổi, tọa đàm, đối thoại… để tham gia xây dựng các văn bản pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về QPN, góp phần ngăn ngừa và chống lại các vi phạm QPN. Phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, truyền thống của mỗi nước mà cơ chế bảo vệ QPN mang tính xã hội có vai trò khác nhau, tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì cơ chế cơ chế bảo vệ QPN mang tính xã hội ngày càng giữ vai trò quan trọng.
Căn cứ vào lĩnh vực tác động và bảo vệ, cơ chế bảo vệ QPN bao gồm: (i) Cơ chếbảo vệQPN bằng các hình thức pháp lý hành chính. Đâylà cơchếsửdụng các quy định pháp luật hành chính và các thiết chế tương ứng để đưa ra các biện pháp xửlý hành chính đối với những hành vi vi phạm các quy định bảo vệ QPN. Ở Việt Nam, cơ chế này được quy định tập trung trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, các văn bản pháp quy chuyên ngành về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực liên quan đến QPN; (ii) Cơ chế bảo vệ QPN bằng các hình thức pháp lý dân sự. Đây là cơ chế gồm các quy định pháp luật (bao gồm cả pháp luật dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình) và các thiết chế tương ứng để áp dụng biện pháp xử lý dân sự đối với những hành vi vi phạm các quy định bảo vệ QPN nhằm xác lập, khôi phục lại quyền lợi cho họ. Ở Việt Nam, cơ chế này được quy định tập trung trong Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật laođộng,Luật Hôn nhân và gia đình; (iii) Cơ chế bảo vệ QPN bằng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Đây là cơ chế bảo vệ QPN thông qua việc xử lý các vi phạm QPN gắn với các quy định về tội phạm và hình phạt, thủ tục, trình tự xác định tội phạm và áp dụng hình phạt và gắn với vai trò của hệthống cơ quan tốtụng, đặc biệt là vai trò của Tòa án. Ở Việt Nam, cơ chế này được quy định chặt chẽ trong Bộluật Hình sự, Bộluật Tốtụng hình sự, Luật Tổchức Tòa án và Luật Tổchức Viện Kiểm sát nhân dân.
2.1.1.3. Nhận diện Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ
Trong cơchếbảo vệQPN, một vấnđềđặtra là: ai hay thiết chếnào có trách nhiệm chính trong việc bảo vệ QPN? Nhìn từ khía cạnh truyền thống, vị trí đó thuộc
45
về Tòa án với kỳ vọng ở chức năng của Tòa án là “vọng gác của nhân quyền”,“người trông coi hiến pháp”. Tòa án là nơi giải mã quyền được bảo vệ bởi một phương thức khắc phục hữu hiệu (right to an effective remedy), theo đó:“Mọi người đều cóquyềnđược cácTòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháphữu hiệu để chống
lạinhững hành vi vi phạm các quyền cơbảncủahọmàđãđượchiến pháp hay luật pháp quy định”[24. tr.246], “Tòa án là nơi đầu tiên và trước nhất mà người dân trông cậy để gìngiữ quyền conngười[69, tr. 261]. Mặc dù, cho đến nay cùng với sự ra đời của Liên Hợp Quốc với vai trò là người canh gác cho hòa bình thếgiới và bảo vệquyền con người thì tại các nước thành viên của tổ chức này, cơ chế bảo vệ quyền con người đã được hình thành dựa trên tiêu chuẩn của Liên Hợp Quốc hoặc của khu vực với sựđa dạng hoá các thiết chếbảo vệquyền con người nói chung, QPN nói riêng nhưng vị trí đặc biệt quan trọng trong bảo vệ QPN vẫn thuộc về Tòa án. Điều này gắn với tính chất của hoạt động bảo vệ QPN là hoạt động diễn ra khi có hành vi xâm phạm quyền và cần đến đến sự phán xử để khôi phục trạng thái nguyên vẹn của quyền.
Trong cơ chế bảo vệ QPN, hoạt động của Tòa án cũng là một cơ chế được thực hiện bởithiếtchếTòa án trên cơ sởcác thểchếliên quan. Xem xét Tòa án trong cơchế bảo vệ QPN chính là xem xét Tòa án với tư cách là một cơ chế độc lập trong mối quan hệ với các cơ chế khác của bộ máy nhà nước nằm trong cơ chế chung nhằm thực hiện việc bảo vệ QPN trong xã hội. Vì vậy, Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN cóthểhiểu đồng nghĩa với cơ chế Tòa án bảo vệ QPN (cơ chế bảo vệ QPN bằng Tòa án). Đó là việc Tòa án căn cứ vào quyđịnhcủa pháp luật thực hiện việc xử lý các hành vi xâm phạmđếnQPN và giải quyết các tranh chấp liên quanđếnQPN trong các lĩnh vực của đời sốngxã hội nhằm bảo vệ QPN, quađóthể hiện khả năng của Tòa ánđối với việc bảo vệ QPN cũng như vị thế, mối quan hệ của Tòa án với các yếu tố khác trong cơ chế bảo vệ QPN.
Cơ chế Tòa ánbảo vệQPNđược xem như một tiểu cơ chế thuộc cấu trúc nội hàm của cơ chếbảo vệQPN của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, trong cơ chếbảo vệQPN, Tòa án có mối quan hệ ràng buộc và phối hợp với các cơ chế khác cũng như với yếu tố khác thuộc cấu trúc của cơ chế bảo vệ QPN.
Nhưđã nói ởtrên, cơ chếbảo vệQPN là một phạm trù rộng, bao gồmnhiều tiểu cơ chế hợp thành. Trong phạm vi quốc gia, có cơ chế bảo vệ QPN mang tính nhànước, cơ chếbảo vệQPN mang tính xã hội, cơ chếbảo vệQPN bằng các hình thức
46
pháp lý hành chính, cơ chế bảo vệ QPN bằng các hình thức pháp lý dân sự, cơ chế bảo vệ QPN bằng pháp luật hìnhsự vàtố tụng hình sự. Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN nằm trong nội hàm của cơ chế bảo vệ QPN mang tính nhà nước và là cơ chế trung tâm, có tầm quan trọng đặc biệt trong bảo vệ QPN, giữ mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với các tiểu cơ chế khác. Tòa án cũng giữ vị trí trung tâm trong cơ chế bảo vệ QPN bằng các hình thức pháp lý dân sự và cơ chế bảo vệ QPN bằng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Trên phương diện này, Tòa án có vai trò độc lập đặc biệt với tư cách là thiết chế duy nhất nắm quyền tư pháp thông qua việc thực hiện chức năngxét xử để bảo vệcông lý, khôi phục các QPN đã bị xâm hại.
Tiếp cận từ góc độ cấu trúc, cơ chế bảo vệ QPN có hai yếu tố cơ bản hợp thành:1/ Thểchếvà 2/ Thiết chế. Vì vậy, nóiđếnmốiquanhệgiữa Tòa án và cácyếutốkhác trong cơ chế bảo vệ QPN là nói đến quan hệ giữa Tòa án với thể chế về bảo vệ QPN vàquanhệgiữa Tòa ánvớicác thiếtchếkhác tham giabảovệQPN. Liên quan đến mối quan hệ với Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, thể chế bảo vệ QPN bao gồm ít nhất hai bộ phận: (i) Hệ thống các quy định về quyền (ghi nhận các quyền, ghi nhận các điều kiện thực hiện và bảo vệ quyền, ghi nhận trách nhiệm của các chủ thể tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền); (ii) Hệ thống các quy định về trình tự, thủ tục bảo vệ quyền. Với cách hiểu này, thểchếđóng vai trò là yếu tốđịnh khung cho hoạtđộng bảo vệQPN của Toà án, là cơ sở pháp lý để Tòa án triển khai các hoạt động bảo vệ QPN, đảm bảo cho hoạt động Tòa án chính đáng và hợp pháp. Nhìn từ chiều ngược lại, hoạt động bảo vệ QPN bằng Tòa án góp phần hiện thực hóa thể chế đồng thời hoàn thiện thể chế vềbảo vệQPN. Trong cơ chếbảo vệQPN, ngoài Tòa án còn có nhiều thiết chếkhác tham gia vào hoạt động bảo vệ QPN, trong đó vai trò đặc biệt quan trọng thuộc về các thiết chế nhà nước – các cơ quan nhà nước thuộc nhánh quyền lập pháp và quyền hành pháp cùng với các thiết chế độc lập mang tính nhà nước khác. Tòa án vừa thực hiện sựphối hợp với các thiếtchếnày trong quá trình bảo vệQPN vừa chếngựnhững sai phạm khi các thiết chế đó có các quyết định hoặc hành vi vi phạm QPN trong các hoạt động liên quan đến bảo vệ QPN. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định Tòa án làcơ quan nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Điều đó không có nghĩa là các nhánh quyền lực khác như Quốc hội hay Chính phủ không liên quan đến việc thiết lập và bảo vệ công lý. Xây dựng Hiến pháp và Luật, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc thực hiện Hiến pháp và Luật trong lĩnh vực QPN thuộc về Quốc hội. Tổ chức thực
47
hiện pháp luật về QPN, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với các vi phạm QPN, tạo lập các điều kiện cần thiết để thi hành các phán quyết của Tòa án về QPN… thuộc về Chính phủ và hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, theo truyền thống pháp luật Việt Nam, công lý được hiểu là “sự công bằng, sựđúng đắn, lẽphải” và bảo vệ công lý là việc “Tòa án xác định điều đúng, điều sai trong một vụ việc nhằm thiết lập lạisựcông bằng”. Như vậy, Tòa án không phải là phương tiện duy nhất nhưng là phương tiện chủ yếu nhất trong việc giải quyết các tranh chấp, các vụ việc trong một xã hội hiện đại để bảo vệ quyền con người nói chung, QPN nói riêng. Mặc dù vậy, khởi kiện tại Tòa án chỉ là một trong số nhiều biện pháp giải quyết tranh chấp liên quan đến QPN, quyền lực của Tòa án có thể được thay thế bởi các cơ chế như hòa giải, trọng tài, tư vấn, thương thuyết…
2.1.2. Đặc điểm của Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

