Thế chấp quyền tài sản theo quy định của Pháp Luật Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế chấp tàisảnlà mộtbiện phápbảođảmđặc biệt quan trọng, xuất hiện từ thời La Mã đƣợc ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia trênthếgiới. Trong xã hộiViệt Nam hiện nay, nhucầuvayvốncủa cá nhân, pháp nhân để phát triển sản xuất kinh doanh là rất lớn. Biện pháp thế chấp tài sản ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, một mặt nó giúp cho nhữngngƣờiđi vay có thể tiếpcậnđƣợcnguồnvốnvaytừnhữngngƣờicónhu cầu cho vay (các tổ chức tín dụng, cá nhân, pháp nhân có vốn không sửdụng). Mặt khác, việc nhận thế chấp tàisảnsẽ giúp cho bên cho vayhạn chế
đƣợc rủi robằng cách chủ động thực hiện những biện pháp tác động trực tiếpđếntàisảnthếchấp khiđếnhạnthực hiện nghĩavụtrảnợ mà bên đi vay không trả hoặc trả không đầy đủ. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này, các hợpđồng thếchấp tàisảnđể vayvốnđƣợcxác lập ngày càngnhiều về sốlƣợng và giá trị, kéo theo đó là những tranh chấp phát sinh có liên quan cũng ngày mộttăng lên. Nổicộmhơncả là nhữnghợpđồngthế chấp quyền tàisảnđểđảm bảo thực hiệnnghĩa vụ.
Hiện nay, còntồntạinhiều quanđiểmkhác nhauvề vấnđề lý luận cũng nhƣ thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sản. Những mâu thuẫn xoay quanh các vấn đề lý luận và pháp lý nhƣ: quan niệm về thế chấp quyền tàisản; đặc điểm của quyềntài sản thế chấp; phạm vi các quyền tàisản
đƣợc sử dụng làmtài sản thế chấp; hiệu lực của biện pháp thế chấp quyền tài
sản; xử lý tài sản thế chấp là quyềntài sản… Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật Việt Namvề thế chấpquyền tàisảnđể đảmbảothực hiện nghĩa vụnằmgiải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau gồm: BLDS năm 2015; Luât Nhà ở 2014; LuậtĐấtđai năm 2013; Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổinăm 2009; Luật Doanh nghiệp năm 2020; Nghịđịnhsố21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 Quyđịnhthi hành BLDS về bảođảmthực hiện nghĩa vụ; Nghịđịnhsố99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022về Đăng ký Biện phápbảo
đảm; Nghị định của số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Thông tƣ liên tịch của Bộ tƣ pháp, Bộ tài nguyên và môi trƣờng, Ngân hàng nhà nƣớc số 16/2014/TTLT-BTP- BTNMT-NHNN ngày 6/6/2014 hƣớng dẫn một số vấn đề về xử lí tài sảnbảođảm;Thông tƣ liên tịchsố09/2016/TTLT-BTP-BTNMT của BộTƣ pháp – BộTài nguyên môi trƣờnghƣớng dẫnviệc đăng ký thế chấp quyềnsửdụng
đất, tài sản gắn liềnvớiđấtngày 23/6/2016… đã dẫn đến hậu quả là các quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề nhƣng đƣợc xây dựng thiếu tínhđồngbộ, tính khoa học và tính thống nhất, gây ra nhiềubấtcập, vƣớngmắc trong quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, việc nghiên cứu để làm rõ các vấnđề lý luận và pháp lý về thế chấp quyền tài sản nhằmđảmbảocho việc hiểu và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật vào thực tiễn là yêucầurất cấp thiết. Vì vậy, việc NCS lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Thế chấp quyền tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam” sẽ cógiá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
*Đốitƣợngnghiên cứu: luận ántậptrung nghiêncứucác vấnđề lýluận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sảnđể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
* Phạm vi nghiên cứu:
Thứ nhất, trên cơ sở những quy định của pháp luật về thế chấp tài sản nói chung và thế chấp quyềntài sản để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ nói riêng, luận ántậptrung nghiêncứuvà làm rõ nhữngvấnđề lý luậnvề thế chấp quyềntài sản để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ. Liên quan đến phạm vi nội hàm khái niệm quyền tài sản, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các quyền tàisản đã
đƣợc pháp luật Việt Nam ghi nhận. Những loại tài sản mới phát sinh trong xãhộichƣa chịusựđiềuchỉnh của pháp luật nhƣ tàisảnkỹthuậtsố,tiền mã
hoá… không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án.
Thứ hai, luận ántậptrung làm rõ, phân tích các quyđịnhcủaBLDS năm 2015, Luât Nhà ở 2014; Luật Đất đai năm 2013; Luật Sở hữu trí tuệ sửađổi năm2009; Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quanvề thế chấp quyền tài sản. Bên cạnh đó, luận án có nghiên cứupháp luật của mộtsốquốc gia khác trên thế giới trên cơ sở so sánh với các quy định tƣơng ứng của pháp luật Việt Nam.
Thứ ba, cùngvớiviệc nghiêncứucác quyđịnhcủa pháp luật hiện hành, luận án đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyềntài sản để bảođảmthực hiện nghĩa vụ trên thực tế để làm nổi bật thực trạng quy định của pháp luật về vấn đề này.
Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luậtvề thế chấp quyền tài sản, luận ánsẽđƣara những ý kiến đánh giá và những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của phápluật về vấn đề này.
4. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sản. Trên cơ sở đó, luận án đƣa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về thế chấp quyền tài sản. Với những mục đích nhƣ vậy, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất, làm rõbảnchất của thế chấp quyền tài sản, xây dựngđƣợc khái niệmvà chỉ ra đƣợc những đặc điểmpháp lý của thế chấp quyền tài sản. Xây dựng đƣợc khái niệm quyền tài sản, hệ thống hoá đƣợc các căncứphân loại quyền tài sản và chỉ ra ý nghĩa của việc phân loại quyền tài sản.
Thứ hai, làm rõ các vấn đề quan trọng liên quan đến thế chấp quyền tài sảnnhƣ: chủ thể của thế chấp quyền tài sản, các quyềntài sản đƣợc sử dụng làm tàisảnthế chấp, các trƣờng hợp xử lý quyền tài sản thế chấp và thực tiễnáp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sản. Đồng thời, nghiên cứu quy định pháp luật của mộtsốquốc gia trên thế giới theohƣớngso sánhvớicác quyđịnhtƣơngứngcủapháp luật Việt Nam hiện hành nhằmchỉra nhữngđiểm
tƣơng đồng và khác biệt, làm cơ sở cho việc đƣa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Thứ ba,chỉra các ƣuđiểm,hạnchế trong các quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hành và đƣa ra những kiếnnghị cụthể nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Phƣơng pháp luận: việc nghiêncứuluận ándựatrên cơsởcủa
phƣơng pháp luận Duyvậtbiện chứng và DuyvậtlịchsửcủaChủnghĩa
Mác – Lênin. Đâyđƣợccoi là kim chỉnam cho việc địnhhƣớngcác phƣơng pháp nghiên cứu NCS sử dụng trong quá trình nghiên cứu các vấnđề lý luận trong luận án.
* Phƣơng pháp nghiêncứucụthể: trên cơ sở phƣơng pháp luận Duy
vậtbiện chứng và Duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình nghiên cứu luận án, NCS sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể sau:
– Phƣơng pháp phân tích và bình luận để làm rõ những vấnđề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp quyền tài sản.
– Phƣơng pháp so sánh nhằmchỉra nhữngđiểmtƣơngđồngvà khác biệt giữa quy định của pháp luật Việt Namvớipháp luật của một số quốc gia trên thế giới về thế chấp quyền tài sản.
– Phƣơng pháp tổnghợpnhằm khái quát hoá thực trạng pháp luật vàthực tiễn áp dụng pháp luậtvềthế chấp quyền tài sản, từ đó đƣa ra các kiến nghị phù hợp.
6. Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài
Kếtquảnghiêncứu đề tài“Thế chấp quyền tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam” mang lại những điểm mới sau:
Thứ nhất, luận ánđãxây dựngđƣợc khái niệm quyền tài sản, đƣa ra các tiêu chí phân loại quyền tài sản và chỉ ra đƣợc ý nghĩa của việc phân loại các quyền tài sản.
Thứ hai, thông qua việc nghiêncứucác quan niệmvề thế chấp, bản chất của thế chấp, luận án đã xây dựng đƣợc khái niệm thế chấp quyền tài sản và chỉ ra đƣợc những đặc điểm pháp lý của thế chấp quyền tài sản.
Thứ ba, luận án phân tích đƣợc các quy định của pháp luật hiện hành vềđốitƣợngcủa biện pháp thế chấp quyền tài sản; các điều kiện của quyền tài sản thế chấp nói chung và các điều kiện riêng, đặc thù của từng loại quyền tài sảnthế chấp nhƣ: quyền tài sản phát sinh từ GDDS, quyền tàisảnđối với đối
tƣợng của quyền SHTT, quyền tàisảndo Luậtquy định…
Thứ tư, trên cơ sở phân tích quyđịnhcủa pháp luật hiện hànhvề các
trƣờng hợp xử lý quyền tàisảnthế chấp, đặc thù của hoạt động xử lý tài sản thếchấp là quyền tài sản; căncứxửlý quyền tàisảnthế chấp; phƣơng thức
xửlý quyền tàisảnthế chấp… luận ánđã chỉra nhữngbấtcậpđangtồntại trong các quy định này.
Thứ năm, luận án phân tíchđƣợc thực tiễn thực hiện pháp luậtvề thế chấp quyền tài sản tại Việt Nam hiện nay trong các hoạt động, gồm: xác định quyền tài sản là đối tƣợng thế chấp, xác lập thế chấp quyền tài sản, xử lý tài sảnthế chấp là các quyền tài sản.
Thứ sáu, thông qua việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hànhvề thế chấp quyền tàisảnvà thực tiễn thực hiện pháp luậtvề thế chấp quyền tàisảntạiViệt Nam, luận ánđã đƣa ra mộtsốkiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền tài sản.

7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 03 Chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thế chấp quyền tài sản
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền tài sản Chương 3: Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về thế chấp quyền tàisản
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI1
1. Các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố liên quan đến đề tài luận án 1.1. Một số công trình khoa học trong nƣớc
1.1.1. Sách tham khảo, chuyên khảo
1.1.2. Đề tài khoa học
1.1.3. Luận án, luận văn
1.2. Các công trình nƣớc ngoài
1.2.1. Sách chuyên khảo, tham khảo
1.2.2. Luận án, luận văn
2. Đánh giá kết quả nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án
2.1. Về lý luận
2.2. Về đối tượng của biện pháp thế chấp
2.3. Về điều kiện của tài sản thế chấp
2.4. Về đăng ký thế chấp quyền tài sản
2.5. Về xử lý tài sản thế chấp
2.6. Về xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản thế chấp
3.2. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 3.2.1. Về lý luận
Thứ nhất, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiệnhệ thống lýluận về thế chấp quyền tài sản.
Thứ hai, luận án sẽ xây dựng khái niệm quyền tài sản, thế chấp quyền tàisản để bảođảm thực hiện nghĩa vụ; làm sáng tỏ các đặc điểm của quyền tài sảnnói chung, phân loại các quyền tài sản theo quy định pháp luật Việt Nam
từ đó chỉ ra các đặc điểm pháp lý của quyền tài sản là đối tƣợng của biện pháp thế chấp.
Thứ ba, luận ánsẽ trình bàymộtcách sơ lƣợc quyđịnhcủa pháp luật Việt Namvề thế chấp quyền tài sản. Thông qua việc nghiêncứulịchsửcác quy định của pháp luậtvề thế chấpquyền tài sản, tác giả có cái nhìn toàn diện về vấn đề nàyqua các thời kỳ, từ đó dự đoán đƣợc xu hƣớng trong tƣơng lai,điềunàysẽgiúp cho NCS kiến nghị các giải pháp hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền tài sản ở Chƣơng 3 của luận án.
3.2.2. Về thực trạng quy định của pháp luật
Thứ nhất, luận ánsẽnghiên cứu, chỉra thực trạng quyđịnhpháp luật về chủ thể biệnpháp thế chấp quyền tài sản.
Thứ hai, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành nhằm xác định rõ phạm vi các quyền tài sản là đối tƣợng của biện pháp thế chấp.
Thứ ba, liên quan đến hình thức của biện pháp thế chấp quyền tài sản, luận án sẽ làm rõ hai vấn đề: Một là, có nên quy định hình thức bắt buộc đối vớibiện pháp thế chấp quyền tàisảnhay không? Hai là, hình thức của thếchấp quyền tài sản ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến hiệu lực của biện pháp này?
Thứ tư, thông qua việc phân tích quyđịnhcủa pháp luật hiện hành vềđăng ký thế chấp quyền tài sản. Trên cơ sở so sánh với pháp luậtcủa một sốquốc gia trên thế giới, luận ánsẽchỉra nhữngbấtcậpcòntồntạiliên quanđến: phạmvi các giao dịch nàobắtbuộc phải đăng ký; vƣớng mắc trong thủ
tục đăng ký; ý nghĩa của việc đăng ký; tổ chức hệ thống cơ quan đăng ký… từđó làm cơ sở xây dựng các giải pháp hoàn thiện về đăng ký giao dịch bảođảmở Việt Nam.
Thứ năm, liên quanđếnvấnđề xửlý tàisảnthế chấp, pháp luật Việt Nam hiện hànhmớichỉtậptrung xây dựng các quyđịnhmang tính chất khung cho việc xử lý tàisản bảo đảmgồm: các trƣờng hợp xử lý tàisản bảođảm; phƣơng thức xử lý tài sản bảo đảm. Các quy định này không thể để giải quyết những bất cập nảy sinh trong thực tiễn nhƣ: xác định vai trò của Tòa án trongxửlý tàisảnbảođảm?các quyền ƣu tiên trên tàisảnbảođảm?quyền của ngƣờithứba ngay tình khi xác lậpcác GDDS liên quanđếntàisảnbảođảm?… đây là những vấn đề NCS kỳ vọng sẽ làm rõ trong luận án.
3.2.3. Về kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trên cơ sở phân tích quyđịnhcủa pháp luật, luận ánsẽ đánh giá quyđịnhcủa pháp luật hiện hành về thế chấp quyền tài sản. Từđótìm ra nhữngđiểmtích cực và hạnchế trong quyđịnhcủa pháp luật, làm cơ sở đƣa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
4. Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu 4.1. Một số lý thuyết nghiên cứu
Các lý thuyết đƣợc áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài luận án gồm:
– Lý thuyết về quyền sở hữu; – Lý thuyết về vật quyền;
– Lý thuyết về trái quyền;
– Lý thuyết về giữ tài sản thế chấp;
4.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Để giải quyếtcác vấn đề thuộc nội dung của đề tài nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, kết quả nghiên cứu đƣợc xây dựng vàđặt ra nhƣ sau:
Thứ nhất, khía cạnh lý luận
Câuhỏinghiên cứu: quyền tàisảnlà gì? Có bao nhiêu loại quyền tài sản? Phạm vi quyền tàisảnthế chấp baogồmnhững gì? Quyền tàisảnthếchấp có đặc điểmnhƣ thế nào? Thế chấp là gì? Thế chấp quyền tài sản là gì? Đặc điểm pháp lý của thế chấp quyền tài sản là gì?
Giả thuyết nghiên cứu: trên cơ sở lý luậnvề quyền tài sản, thế chấp quyền tài sản để giải quyết những vấn đề lý luận đã đặt ra. Hiện nay, lý luận về quyền tài sản, thếchấp tàisảnđãđƣợc nghiêncứutuy nhiên chƣađƣợc nghiên cứu một cách hệ thống, còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu sâu sắc hơn nhƣ khái niệm quyền tài sản, đặc điểmcủa quyền tàisảnthế chấp, thếchấp quyền tài sản.
Kếtquả nghiên cứu: kết quả nghiên cứu về lý luận sẽ đƣa ra cách hiểu thống nhất về quyền tàisản, đặc điểmpháp lý của quyền tài sản thế chấp, thế chấp quyền tài sản và đặc điểm pháp lý của thế chấp quyền tài sản.
Thứ hai, khía cạnh pháp luật thực định
Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng pháp luật về thế chấp quyền tàisản ởViệt Nam nhƣ thế nào? Các quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể thếchấp quyền tài sản, đốitƣợngcủa thế chấp quyền tài sản, thờiđiểmcó hiệu lực của thế chấp quyền tài sản, đăng ký thế chấp quyền tài sản và xử lý quyền tàisảnthế chấpcụthể nhƣ thế nào? Nhữnghạnchết, bấtcậpcủa pháp luật trong các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến các vấn đề này?
Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luậtvề thếchấp quyền tàisảnlà cơ sởpháp lý điều chỉnh hoạt động thế chấp quyền tài sản. Tuy nhiên, các quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động này còn chƣa đầyđủ,
chƣa đồng bộ, nằmrảirác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau
nhƣ: BLDS năm 2015, LuậtĐấtđai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật
Doanh nghiệp năm 2020… Một số vấn đề pháp lý về thế chấp quyền tàisản
chƣa có hoặc có nhƣng không phù hợp với thực tiễn.
Kếtquả nghiên cứu: Luận ánsẽđánh giá đúngđắn,toàn diện thực trạng pháp luậtvề thế chấp quyền tàiở Việt Nam hiện nay. Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật luận án chỉ ra đƣợc những ƣu điểm, hạn chế, bất cập cần hoàn thiện.
Thứ ba, các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Câu hỏi nghiên cứu: Định hƣớng hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về thế chấp quyền tài sản nhƣ thế nào? Những giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật Việt Namvề thế chấp quyền tài sản là gì?
Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nayđã có nhữngđịnhhƣớng, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyềnsử dụng đất, thế chấpquyền
đòi nợ, thế chấp quyền tàisảnhình thành từ hợp đồng mua bán nhà ở… Tuy nhiên do mục đích và phạm vi tiếpcậnvấnđề khác nhau nên những giải pháp, kiến nghị cần đƣợc bổ sung để hoàn thiện, bảo đảm cho pháp luật về thếchấp quyền tài sản có tính khả thi, đồng bộ và thống nhất.
Kếtquả nghiên cứu: Luận án đƣa ra đƣợc địnhhƣớngvà những kiến nghịcụthể hoàn thiện quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hànhvềthếchấp quyền tài sản, đảm bảo có tính khả thi, đồng bộ và thống nhất.
Trênđâylà nội dung tóm tắt tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài. Nội dung chi tiếtđƣợcNCS trình bàycụthểtrongbảnPHỤLỤC01 đính kèm Luận án này.
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN 1.1. Nhận diện quyền tài sản
1.1.1. Khái niệm quyền tài sản
Quyền tàisảnlàmộtbộphậncấuthành trongnộihàm của khái niệm tàisảntheo quyđịnhcủapháp luật Việt Nam hiện hành, có vai tròđặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội hiện nay. Vìlẽ đó, để xâydựng đƣợc khái niệm quyền tài sản nhất thiết phải đi từ việc nghiên cứu khái niệm tài sản.
Pháp luật của Cộng hoà Pháp không đƣa ra một định nghĩa cụ thể về tài sảnmà tiếp cận thuật ngữ này gián tiếp thông qua việc phân loại tài sản thànhđộngsảnvà bấtđộngsản. Theo đó, tàisảnđƣợc chia thànhđộngsảnvà bấtđộng sản2.Vớicách tiếp cận này, nội hàm của khái niệm“tàisản” trong pháp luật của Cộng hoà Pháp xoay quanh hai khái niệmlà “động sản” và “bấtđộng sản”. Nội hàm khái niệm“bấtđộng sản” trong pháp luật của Cộng hoà Pháp không đơn thuần chỉ có những vật hữu hình, bất động, không thể dịch chuyển về mặtcơ học nhƣ:đấtđai, nhà cửa, công trình xây dựng trênđất,mà bao gồmcả các quyền tài sản (các tàisảntồn tạidƣớidạng vô hình) do gắn liền với đối tƣợng là bấtđộng sản nhƣ quyền khởi kiệnđòi lạimột bấtđộng sản3. Thậm chí súc vật(độngvật) mà ngƣờichủđấtđã giao chongƣờithuê đất canh tác đƣợc coi là bấtđộng sảnkhi chúng đƣợc gắn liền vớiruộng đấttheo thoả thuận4. Rõ ràng, mặc dù không đề cập trực tiếp đến các “quyềntài sản”
nhƣng thông qua các quyđịnhtrong BLDS, khái niệm“tàisản” trong pháp luật của Cộng hoà Pháp bao hàmcả các “quyền tài sản”, mang bản chất của bấtđộng sản.
Khác với cách tiếp cận trên, những nhà lập pháp Hoa Kỳ nhìn nhận tài sản
dƣới góc độ là tập hợp các quyền của chủ thể, theo đó “Tài sản như một tập hợp
2 Điều 516 BLDS Cộng Hoà Pháp. 3 Điều 526 BLDS Cộng Hoà Pháp. 4 Điều 522 BLDS Cộng Hoà Pháp.
các quyền trongmốiliên quanvớivật”5. Những quyền quan trọng nhất hay nhữnglợiíchlớnnhấtđốivớitàisảnmàmộtngƣờicóthểcóđƣợc,gồm: (1) Quyền loạitrừ(The right to exclude) – quyền ngăn không chongƣờikhácsửdụng hay chiếm hữu. Vídụ:A cómộtmảnhđấtthì Asẽcó quyền ngăn chặn
ngƣời hàng xóm hay ngƣời lạ xâm phạm mảnh đất của mình; (2) Quyền chuyển nhượng (The right to transfer), ngƣời nắm giữ quyền này có thể chuyển nhƣợng cho ngƣời khác bằng cách bán, tặng cho hay thông qua di chúc, tuy nhiên pháp luật quyđịnhsựhạn chếkhác nhauđốivớiquyền này. Vídụanh A làchủsởhữu mảnh đất ở ví dụ trên không thể chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất vì mụcđích trốnnợ,hay khôngđồngýbán vìsắctộc, màu da, giới tínhcủangƣời
mua… (3) Quyền chiếm hữu và sử dụng (The right to possess and use) – đây cóthể coi là quyền cơ bản đối với ngƣời nắm giữ “quyền tài sản” nhƣng nhƣ đã nóiở trên vì quyền tài sản là không tuyệt đối nên đều có những ngoại lệ. Ví dụ A cóthể cho B thuê mảnh đất trong thời hạn là 01 năm, điều đó có nghĩa là A đã tạm thời từ bỏ quyền chiếm hữu và sử dụng mảnh đất nhƣng A vẫn là ngƣời nắm giữquyền tài sản đối với mảnh đất đó.
Thông qua việc nghiên cứu trên, có thể nhận thấy khái niệm về tài sản trong pháp luật của các quốc gia có nhiềuđiểmkhác biệt. Nguyên nhândẫnđến những khác biệt này là do sự ảnh hƣởng của các học thuyết pháp lý khác nhau lên tƣtƣởngcủa các nhà lậppháp.Nếunhƣ Pháp luật của Cộng hoàPháp dựa vào trƣờng phái“Luậttự nhiên”để lý giải cho cáchđịnhnghĩa cũng nhƣ phân loại tài sản, thì pháp luật của Hoa Kỳ lại dựa theo trƣờng phái “Thực chứng pháp lý” (legal positivism) để xây dựng khái niệm tài sản.
BLDS năm 2005 của Việt Nam trƣớc đây đã xây dựng khái niệm tài sản bằng cách liệt kê những dạng tồn tại của tài sản nhằm xác định phạm vi cho khái niệm, theo đó “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”6. Đến BLDS năm 2015, quy định về tài sản có chút ít thay đổi về
5 Understanding property law by John G. Sprankling.P4 6 Xem Điều 163 BLDS năm 2005.
mặtkỹthuật, theođó,“Tàisảnlà vật, tiền, giấytờcó giá và quyền tài sản”7.Dƣớigócđộkhoahọcpháp lý,đâykhông phải làmộtđịnhnghĩa hoàn chỉnhvềtài sản, những nhàlậppháp đangcốgắngliệt kêtấtcảcác dạng tồn tại của tài sản trong đời sống xã hội. Việc liệt kê các dạng tồn tại củatàisảnnày cóthểdẫnđếntình trạngbỏsótmộtsốtàisảnđang hiện hữutrong thực tiễn cuộc sống,đồngthời khôngchỉrõđƣợccácđặctính pháp lý cơ bản để nhận diện tài sản. Khi nghiên cứu các quy định về tài sản tại Chƣơng VII, BLDS năm 2015 (từ Điều 105 đến Điều 115). Có thể nhận thấy hai vấn đề: Thứ nhất, mặc dù Điều 105 có nhắc đến tiền và giấy tờ cógiávớitính chất làmộtloại tàisảnluậtđịnhtuy nhiêncảChƣơng VII không có quyđịnhgiải nghĩa hai loại tàisảnnày.Thứhai, việc nhà lập pháp quyđịnh“quyền tài sản” duy nhấtởmột điều luật (Điều 115) và chỉ
đƣa ra một tiêu chí nhận diện quyền tài sản –“phải trị giá được bằng tiền”
chƣa làm rõ đƣợc nội hàm của khái niệm quyền tài sản.
Quyền tài sản là loại tàisảnvô hình đặc biệt, đƣợc quy định trong các BLDS của Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay các nhà lập pháp vẫn chƣa thể xây dựngđƣợc khái niệm hoàn chỉnhvề quyền tài sản. BLDS năm 2005đãđịnh nghĩa: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong GDDS, kể cảquyền SHTT”. Theo quanđiểmcủanhững nhà lập pháp BLDS năm 2005, quyền tài sản phải thỏa mãn haiđặc điểm cơ bản:Thứnhất, các quyền tài sản phải có giá trị kinh tế (trị giá đƣợc bằng tiền); Thứ hai, quyền tàisảncóthểđƣợc chuyển giao trong GDDS. Đốichiếuvớicác quyđịnh khác ngay trong BLDS năm 2005, có thể suy đoán một số quyền đemlại
lợiích kinhtế cho conngƣờinhƣng khôngđƣợc chuyển giao trong các GDDS nhƣ quyền yêu cầu cấp dƣỡng, quyền yêucầubồi thƣờng thiệt hại do bị xâm phạmđếnsức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm sẽ không đƣợc coi làquyền tài sản vì không thể chuyển giao thông qua các GDDS.
7 Xem Khoản 1 Điều 105 BLDS năm 2015.
Khắc phục nhữnghạnchế củaBLDS năm 2005, những nhàlậppháp BLDS năm 2015 nhìn nhận:“Quyềntài sản là quyền trị giá được bằng tiền, baogồmquyền tàisảnđốivớiđốitượngSHTT, quyềnsử dụngđấtvà các quyền tài sản khác”8. Theo đó, quyền tài sản chỉ còn mang một đặc điểm“cóthể trịgiáđượcbằngtiền”. Những nhà lậppháp BLDS năm 2015 cho rằng bản chất của quyền tàisảnchỉ cần nhìn nhận ở góc độ giá trị kinh tế của nó, việc có thể chuyển giao hay không thể chuyển giao thông qua các GDDS chỉnhằm mục đích xác địnhnhững quyền tàisảnnào là đốitƣợngcủa GDDS. Cùngvớiviệcđƣara địnhnghĩa quyền tài sản, những nhàlậppháp BLDS năm 2015 còn cố gắng liệt kê những quyền tài sản hiện có gồm quyền SHTT,
quyền sử dụng đất… đã dẫn đến hai hệ quả: (i) Thiếu những đặc điểm pháp lýđể nhậndiện quyền tài sản; (ii) Việc liệt kê các quyền tài sản tại một điều luật dẫn đến sự thiếu sót nhiều quyền tài sản đang đƣợc pháp luật ghi nhận trong các luật chuyên ngành khác.
Tiếpcậnhọc thuyết“Vậtquyền” giốngmộtsốquốc gia theo truyền thống pháp luật Civil Law, lần đầu tiên BLDS năm 2015 của Việt Nam đã ghi nhận các quyền khácđối với tàisản, theo đó: “Quyền khác đối với tài sản làquyềncủachủthể trực tiếpnắmgiữ, chi phối tàisảnthuộc sởhữucủachủthểkhác. Các quyền khác đốivớitàisảnbao gồm: quyềnđốivớibấtđộng sảnliền kề; quyềnhưởngdụng; quyềnbề mặt”9. Dấuhiệudễnhận biếtđểphân biệt giữa quyềnsở hữuvớiquyền khác đốivớitàisảnlà tƣ cách của
ngƣời đang trực tiếp nắm giữ, khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợitức từtài sản.Nếumộtngƣờikhông phải làchủsởhữutàisảnmà có quyền nắm giữ, khai thác công dụng, hƣởnghoa lợi,lợitức đốivớitàisảncủangƣời khác thì đƣợc xác định là ngƣời có quyền khác đối với tàisản(loại trừ những
ngƣời có quyền sử dụng tài sảncủa ngƣờikhác thông qua hợp đồng thuê, hợpđồng mƣợn).
8 Xem Điều 115 BLDS năm 2015. 9 Xem Điều 159 BLDS năm 2015.
Các quyền khác đối với tài sản trong BLDS năm 2015 là một khái niệm mớiđƣợc sửdụngđể phân biệtvớikhái niệm quyềnsở hữuvà khái niệm quyền tài sản. Hiện nay, có ý kiến cho rằng, khái niệm quyền khác đối với tài sảnkhông phải làmộtbộphậncấuthànhcủakhái niệm quyền tàisảntheo quy định BLDS. Lý giải cho cách tiếp cận này, các học giả cho rằng, cách tiếp cậnkhái niệm tàisảntrong BLDS của Việt Nam xây dựng theohƣớng“tài sảnlàđốitượngcủaquyềnsởhữu”.Quyềnsởhữuđƣợc BLDS quyđịnh bằng cách liệt kê các quyềnnăng cụ thể của chủ sở hữu đƣợc thực hiệntrên tài sản của mình. Các quyền khác đối với tàisản, ở góc độ nào đó đƣợc hiểu là “sự phân rã”của quyền sở hữu (chủ sở hữu đã chuyển giao một số quyền năng của mình cho chủ thể hƣởng quyền khác đối với tài sản10 nhƣng vẫngiữlạiquyềnđịnh đoạttàisảncủa mình). Vì vậy, các quyền khác đối với tài sản có nội hàmhẹphơn khái niệm quyền sở hữu và không thể đồng nhất với khái niệm quyền tài sản.
Đốilậpvớiýkiến trên trên, mộtsốhọc giả khác lạicho rằng, quyền khác đốivớitàisảnlà mộtbộphận trongnộihàm của khái niệm quyền tài sản. Tác giả cũng có cùng quanđiểmnày. Nhƣ đã phân tích ở trên, tài sản vàquyền sở hữu là hai khái niệm không thể tách rời khi xây dựng pháp luậtvềtài sản của mỗi quốc gia. Một chủ thể khi xác lập quyềnsở hữu đối với tài sản khôngchỉquan tâmđếngiá trịkinhtế của tàisảnmìnhsẽ sở hữumà còn quan tâmđếncả các quyền năng mình đƣợc xác lập, thực hiện trên tài sản đó. Dễ dàng nhận thấy, các quyền khác đối với tàisảnkhi đƣợc xác lập đều mang lại những lợi ích kinh tế cụ thể cho chủ thể hƣởng quyền, đồng thời các quyền này cũng có thể chuyển giao chochủthểkhác thông qua GDDS hoặc theo quy định của luật11, tức là chúng mang đầyđủ những đặc điểmcủa quyền tài sảntheo quy định của BLDS.
10 Tùy từng trƣờng hợp mà chủ sở hữu có thể chuyển giao cho ngƣời khác quyền chiếm giữ, quyền khai thác công dụng hoặc hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
11 Xem Điều 258, Điều 268 BLDS năm 2015.
Hiện nay, trong giới luật học Việt Nam còn có nhiều quanđiểmkhác nhauvề quyền tài sản. Có quanđiểmcho rằng:“Quyềntàisảntrong luật thực định Việt Nam được hiểu là quan hệ pháp luật khác với quan hệ sở hữu mà trên cơsởquanhệ khác đó, mộtlợiíchđịnhgiáđượcbằng tiền hình thành và thuộc về một chủ thể của quan hệ đó”12. Quan điểm này thể hiện góc nhìn của tác giả về quyền tài sản, theo đó, quyền tài sản đƣợc nhìn nhậndƣới góc độlà một quan hệ pháp luật. Trong quan hệ này, chủthểquyềnsẽ nhận
đƣợc một lợi ích vật chất nhất định, lợi ích vậtchất đócó thể định giá đƣợc bằng tiền. Quanđiểmnày đi ngƣợc lạivớicác quanđiểmtruyền thốngvề
quyền tàisảnkhi luôn coi quyền tàisản–mộtbộphậncấuthành trong nội hàm khái niệm quyền sở hữu là phảiđối tƣợng của quyền sở hữu.
Bên cạnh đó, có quanđiểmkhác lạicho rằng:“Quyềntàisảncóthểđược hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các quyền và lợi ích của chủ thể trong việc chi phối, kiểm soát tài sản gồm chủ sở hữu và người có quyền khác với
tài sản”13.Vớigóc nhìn tách biệt giữa tài sản– đối tƣợng của quyềnsở hữu với các quyền năng của chủ thể đƣợc thực hiện trên tài sản, tác giả nhìn nhận quyền tàisảnmangbảnchất là những quyền năngcủachủthể quyền trong việc chi phối, kiểm soát tài sản, các quyền năng lại đemlạilợiích thực tế cho chủ thể quyền. Hạn chế của quan điểm này là phạm vi nội hàm của quyền tài sảnrấthẹp, thiếu vắng những quyền tài sản phát sinh từ các hợp đồng, bởi lẽtrong quan hệ hợp đồng, quyềncủa một chủ thể chỉ đạtđƣợc thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Nhƣ đã phân tích ở trên, dƣới góc độ pháp luật tài sản, quyền và vật
đƣợcđặtđốilậpvớinhau, khôngthểphân ra hai loại tàisảnkhác nhau. Nếutiếpcậnkhái niệm tàisảndƣớigócđộlà vật, tàisảnđƣợcphân loại theo tiêu chí vật lý. Các vật có thể nhận biết đƣợc bằng giác quan tiếp xúc
12 Nguyễn Ngọc Điện (2005), Cần xây dựng khái niệm quyền tài sản trong Luật Dân sự, Tạp chíNghiên cứu lập pháp số 03 năm 2005.
13 Nguyễn Văn Cừ – Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2015, Nxb Công An Nhân dân.
đƣợc gọi là vật hữu hình; ngƣợc lại, các vật không thể nhận biết đƣợc bằng giác quan tiếp xúcđƣợcgọilàvậtvô hình. Pháp luậtcủaCộng hoà Pháp chịuảnhhƣởngbởihọcthuyết“Luậttựnhiên”14 đãtiếpcậnvà xây dựng khái niệm tài sản theo góc độ này. Nếu tiếp cận khái niệm tài sản dƣới gócđộ quyền, tài sản cũng đƣợc phân loại thành các nhóm: (i) Các quyền đƣợc thực hiện trực tiếp trên một vật hữu hình mà không cần sự hỗ trợ củamột
ngƣời nào khác gọi là quyền đối vật, ví dụ nhƣ quyền sở hữu, quyền hƣởng dụng tài sản… (ii) Các quyền đƣợc thực hiện thông qua hành vi của ngƣời khác, gọi là quyền đối nhân. Ví dụ: quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán từ hợp đồng mua bán, hợp đồng cung cấp dịch vụ… (iii) Các quyền không
đƣợcthực hiện trực tiếp trênmộtvật, cũng không thông qua hành vi của một ngƣời nào mà tồn tại theo quy định của luật. Ví dụ: các quyền đối với các đối tƣợng của quyền SHTT15. Pháp luật của Hoa kỳ chịu ảnh hƣởng bởi học thuyết “Thực chứng pháp lý”16 (legal positivism) tiếp cận và xây dựng khái niệm tài sản theo góc độ này.
Khác biệt với pháp luật của các quốc gia khác, pháp luật Việt Nam hiện hành không coi quyền và vật nhƣ là những cách tiếp cận khác nhau về tài sản, mà coi đây là các loại tài sản khác nhau. Trong các BLDS của Việt Nam, khái niệm quyền tàisản đƣợc xâydựng nhƣ một khái niệm đối lập với khái niệm vậttrong cách phân loại tàisản17. Những nhà lậppháp cho rằng, vậtvớitƣcách là một tài sản phảiđƣợc biểuhiện dƣớidạng hữu hình. Đối lập với các vậthữu hình, quyền tàisản là những “vậtvô hình”. Bởi vậy, muốn xây dựng
14 Luật tự nhiên hay luật của tự nhiên (tiếng Latinh lex naturalis) là hệ thốngluật đƣợc xácđịnhbởi tự nhiên, do đó có tính phổ quát. Đây là quyluật tồn tại độc lập với luật lệ đƣợc đặt ra bởi một trật tự chính trị, xã hội hay một quốc gia. Đây là một thuật ngữ vừa đƣợc sử dụng trong triết học vừa sửdụng trong luật học. Lý thuyếtvềluật của tựnhiên đƣợc Aristotle đềcập lần đầu tiên. Ông cho rằng trong tự nhiên đã có sẵn những quy luật, luật lệ và công lý, và con ngƣời tốt nhất là phải soạn thảo những quy luật tuân theo luân lý của tự nhiên.
15 Các quyền này còn đƣợc gọi tên là quyền vô hình hay quyền vô hình tuyệt đối.
16 Thuyết pháp luật thực chứng là học thuyết về pháp luật hình thành trên cơ sở tƣ tƣởng triết học chủnghĩa thực chứng hay còn gọilàchủnghĩa thực nghiệm mà ngƣờisáng lập là Ô. Côngtơ
(Auguste Comte; 1798 – 1857).
17 Xem Điều 163 BLDS năm 2005, Điều 105 BLDS năm 2015.
đƣợc kháiniệm quyền tài sản phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành cầnphải xác định rõ vị trí, vai trò của khái niệm quyền tài sản trong hệ thống các căn cứ phân loại tài sản. Khái niệm quyền tàisản phải đảmbảo đƣợc hai yếutố: (i) Quyền tài sản là khái niệm để chỉ một trong các dạng tồn tại của tài sảnbên cạnh khái niệm vật; (ii)Nộihàm khái niệm quyền tàisảnphải bao hàmhếtđƣợc các tài sản tồn tại dƣớidạng vô hình, góp phần bổ khuyết cho khái niệm vật.
Việc hoàn thiện khái niệm quyền tài sản là một việc làm quan trọng vàcầnthiết, góp phần hoàn thiện chế định tài sản trong BLDS Việt Nam. Từ đólàm cơ sở để xác địnhphạm vi các quyền tàisảncó thể trở thànhđốitƣợng của các GDDS. Tuy nhiên, việc quy định nhƣ thế nào, sao cho chính xác thìkhônghề đơngiản. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích khái niệm tài sản, các cách tiếp cận về tài sản trong pháp luật của một số quốc gia khác trên thế giới, cũng nhƣ quyđịnhvề tàisảntrong BLDS của Việt Nam, tác giả nhận thấy việc xây dựng khái niệm quyền tàisảnphải đitừtƣtƣởngchủđạokhi xây dựng khái niệm tàisảncủa BLDS. BLDS của Việt Nam nên tiếpcậnkhái niệm tài sản dƣới góc độ vật, theo đó tàisảnđƣợc chia làm 02 (hai) loại: vật hữuhình và vậtvô hình. Khái niệmvậtvô hình trên thực tế đã đƣợc BLDS Việt Nam nhìn nhậnvớitêngọiquyền tài sản. Trên cơ sở đó, có thể đƣa ra khái niệm về quyền tài sản nhƣ sau:
“Quyền tài sản là những tài sản vô hình đem lại lợi ích vật chất cho chủ thể hưởng quyền”.
1.1.2. Phân loại quyền tài sản
1.1.2.1. Quyền tài sản có tính chất đối vật và quyền tài sản có tính chất đối nhân
Căncứvào cách thức thực hiện quyền của chủthể, các quyền tài sản theo quyđịnhcủa pháp luật hiện hành cóthểđƣợc chia làm 02 (hai) nhóm, các quyền đối vật và các quyền đối nhân. Trong quan niệmcủa ngƣờiLa-tinh, khối tài sản có của một ngƣời đƣợc tạo thành từ hai loại quyền: Quyềnđối vật
– tức là các quyền đƣợc thực hiện trên các vật cụ thể và xác định; quyềnđối
nhân – bao gồm các quyền tƣơng ứng với các nghĩa vụ tài sản mà ngƣời khác phải thực hiện vìlợiích của ngƣờicó quyền18. Hiểumộtcách khái quát, quyềnđối vậtlà quyền của chủ thể đƣợc thực hiện các hành vi trực tiếp trên những vật cụ thể mà không cần sự cho phép hay hợp tác của các chủ thể khác. Các quyền tài sản thể hiện dƣới dạng quyền đối vật trong BLDS năm 2015 cóthể kể đếngồm: quyền sở hữu, quyền hƣởng dụng, quyền bề mặt, quyềnđối
với bất động sản liềnkề;quyền của bên cầm cố đối với tàisản cầm cố…
Xét về tính chất, các quyền đối vật mang những mức độ khác nhau (đầyđủvà khôngđầyđủ). Quyềnđốivậtđầyđủtoàn diện nhấtđƣợc ghi nhận trong BLDS năm 2015 chính là quyềnsởhữu. Nộidung quyềnsở hữubao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyềnđịnh đoạt tài sảncủa chủ sởhữutheo quyđịnhcủa luật19. Quyềnsở hữucho phépngƣờicó quyền khai thác trọnvẹncác giá trịvậtchất, kinhtế của tài sản. Chínhchủsở hữulà
ngƣờicó quyềntốihậuđịnhđoạttàisản(thông qua việc bán, tặng cho, để
thừa kế…). Việc khai thác công dụng, hƣởnghoa lợi, lợitức từtàisảncủa chủ sở hữu luôn đƣợc đặttrong một giớihạndo luật định nhằm phục vụ cho lợiích chung của xã hội, của nhà nƣớc. Ví dụ, BLDS đã đặt ra các “quyềnsửdụng hạn chế” đối vớibấtđộng sản liền kề, gồm: quyền cấp, thoát nƣớc qua
bấtđộngsảnliền kề; quyền tƣới, tiêu nƣớc trong canh tác; quyềnvềlốiđi… Quyền sở hữu của chủ sở hữu cũng bị hạn chế định đoạt trong một số trƣờng hợpnhất định. Ví dụ, khi định đoạt tàisảnthuộc sở hữuchung, tài sản là di tích lịchsửvăn hóa phải dành quyền ƣu tiên mua cho các đồngchủsở hữu chung còn lại hoặc cho Nhà nƣớc.
Bên cạnh những quyềnđốivậtđầyđủcòn có những quyềnđốivật khôngđầyđủ. Điểnhình cho những quyềnđốivậtkhôngđầyđủđƣợc quyđịnhtrong BLDS năm 2015 là quyềnhƣởngdụng (Điều 257), quyềnbề mặt (Điều 267), quyền đối với bất động sản liền kề (Điều 245), quyền của bên bảo
18Nguyễn Ngọc Điện, Một số vấn đề lý luận về quyền tài sản và hƣớng hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/08/24/3683/
19 Xem Điều 158 BLDS năm 2015.
đảmđối với tài sản bảođảm(quyềncủa ngƣờicầmcốđối vớitàisảncầmcố, quyềncủa ngƣời nhận thế chấp đối vớitài sản thế chấp). Bản chất của những quyền này là sự phân rã của quyền sở hữu. Ởgóc độ nào đó, chủsở hữuđãchuyển giao cho các chủ thể khác một số quyền năng đối với tài sản của mình (chuyển giao quyền chiếm hữu, quyền khai thác công dụng, hƣởnghoa lợi
haylợitức từtàisảntrongmộtthời hạn nhất định…) thông qua mộtGDDS hoặc theo quyđịnhcủa pháp luật. Tuy nhiên, trongmọitrƣờnghợpchủsởhữu luôn giữ lại cho mình quyền định đoạt tàisản20.
Đốilậpvớicác quyềnđốivậtlà các quyềnđốinhân. Quyềnđốinhân
đƣợc thiết lập trong mối quan hệ giữa hai ngƣời, hai chủ thể của quan hệ pháp luật. Có thể hiểu, quyềnđốinhân cho phépmộtngƣờiyêucầumộtngƣời khác đáp ứng đòi hỏi của mình nhằm thoả mãn một nhu cầu gắn liền với một lợiíchvậtchất. Mốiquanhệ giữa haingƣờinày còngọilà quanhệ nghĩa vụ21. Bản chất quyền đối nhân là quyền của chủ thể (chủ thể quyền) đƣợc yêu cầumột chủ thể khác (chủ thể có nghĩa vụ) phải thực hiện một hành vi nhấtđịnh, nói cách khác, quyền của chủthể quyền trong quanhệnghĩavụchỉ
đƣợc thỏa mãnthông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ. Tiêu biểu cho các quyền tài sản dƣới dạng quyền đối nhân theo quy định của BLDS năm 2015 gồm: quyềnđòinợ, quyền yêucầucấpdƣỡng, quyền yêu cầubồi thƣờng thiệthạido tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín
bị xâm phạm…
Việc phân loại quyền tài sản thành hai nhóm, quyền tài sản có tính chấtđối vậtvà quyền tàisảncó tính chất đối nhân có ý nghĩa nhất định trong việc xây dựng phƣơng thức xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản. Đối với những quyền tài sản mang bản chất của quyền đối vật, pháp luật cần có các quy định cho phép bên nhận thế chấp đƣợc quyền thu giữ tài sản hữu hình mà quyền tài
20 Trong trƣờng hợp chủ sở hữu đã mang tài sản thuộc sở hữu của mình điđể đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ thông qua các giao dịch nhƣ cầm cố, thế chấp… quyền địnhđoạt của chủ sở hữu sẽ bị hạn chế vì ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm.
21 Nguyễn Ngọc Điện, Một số vấn đề lý luận về quyền tài sản và hƣớng hoàn thiện, tạp chí Nghiên cứu, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/08/24/3683/
sảncủa bên thế chấpđƣợc thiếtlậptrên tàisảnhữuhìnhđấy, trong trƣờng hợp bên thế chấp vi phạm nghĩa vụ là điều kiện xử lý tàisản bảo đảm. Đối với những quyền tài sản mang bản chất của quyền đối nhân, pháp luậtcầncó quyđịnh cụ thể về nghĩa vụ của ngƣờithứ ba (ngƣời có nghĩa vụ tài sản với bên thế chấp) trƣớc bên nhận thế chấp trong trƣờnghợpbên nhận thế chấpđãthông báo về việc xác lập thế chấp.
1.1.2.2. Quyền tài sản có thể chuyển giao và quyền tài sản không thể chuyển giao
Dƣới góc độ khoa học pháp lý, một quyền tài sản nào đó có thể bị pháp luật hạn chế chuyển giao quyền sở hữu từ chủ thể này sang chủ thể khác bởi bản chất của quyền tài sản (các quyền tài sản này gắn liền với yếu tố nhân thân của chủ thể mang quyền hoặc chủ thể có nghĩa vụ, ví dụ quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng, sức khoẻ, uy tín bị xâm phạm; quyền yêu
cầu cấp dƣỡng…) hoặc trong những trƣờng hợp pháp luật quy định nhằm bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của một chủ thể khác không phải là chủ sở hữu (trƣờng hợp quyền tài sản đang là đối tƣợng của một BPBĐ)22.
Khi nhìn nhận quyền tàisảnvớitƣ cách là đốitƣợngcủa GDDS, với vai trò là luật chung của hệ thống luật tƣ, BLDS năm 2015 phải quy định rõhoặc đƣa ra một nguyên tắc xác định các quyền tài sản nào có thể là đối tƣợng của GDDS (đƣợc phép chuyển giao), các quyền tàisảnnào không thể trở thành đối tƣợng của GDDS (không đƣợc phép chuyển giao). Khi nghiên cứu các quyđịnhhiện có trong BLDS năm 2015, tác giả nhận thấy BLDS năm 2015 không liệt kê những quyền tài sản nàođƣợc phépchuyển giao và những quyền tài sản nào không đƣợc phép chuyển giao. Có haivấnđề cầnđƣợc rõ:
Thứnhất, liệutấtcảcác quyền tàisảnđềucóthểtrởthànhđốitƣợngcủa GDDS? Thứ hai, phải chăng chỉ có những quyền tài sảncụ thể đƣợc quy định trong BLDS năm 2015 hoặc trong các vănbảnhƣớngdẫnthi hành BLDS năm 2015 mới có thể là đối tƣợng của các GDDS?
22 Bản chất của các quyền tài sản này là các quyền tài sản không gắn liền với nhân thân, chủ thểquyền có thể tự do chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác. Tuy nhiên khichủ sở hữu sử dụng nó làm tài sản bảo đảm, pháp luậtđã hạn chếquyền địnhđoạtcủa chủsởhữu, nhàm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho bên nhận bảo đảm.
Trƣớc đây, BLDS năm 2005 có liệt kê các quyền tài sản đƣợc phépsửdụng làm tàisản bảo đảmbao gồm: “Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảođảmbaogồmquyền tàisảnphát sinhtừ quyền tác giả, quyềnsởhữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyềnđượcnhận sốtiềnbảohiểmđốivớivậtbảođảm, quyền tàisảnđốivớiphầnvốngóp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên và các quyền tàisảnkhác thuộc sởhữucủabênbảođảmđềuđược dùngđểbảođảmthực hiện nghĩavụdân sự”23. Kế thừa khoản 3 Điều 379 BLDS 2005, khoản 3 Điều 377 BLDS năm 2015 quyđịnh:“Trườnghợpnghĩavụlà nghĩavụcấpdưỡng, bồithường thiệthạido xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín vàcác nghĩavụkhác gắnliềnvớinhân thân không thể chuyển chongườikhác được thì khôngđượcthaythếbằng nghĩavụkhác”. Hiểu rộng ra, quyđịnh này chỉ hạn chế một số quyền tài sản không đƣợc thay thế, chuyển giao trong các quanhệ nghĩa vụnhƣ quyền yêucầucấpdƣỡng, quyền yêucầubồi
thƣờng thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, uy tín và các quyền tài sản gắn liền với nhân thân khác. Theo nguyên tắc tự do ý chí, cácchủ thể đƣợc làmnhững gì luật không cấm, điềunàyđồngnghĩavớiviệc BLDS năm 2015 cho phép một số quyền tàisảnkhác đƣợcchuyển giao (làmđối tƣợng của cácGDDS), ví dụ, quyền tàisảnphát sinhtừquyền tác giả, quyềnsở hữucông nghiệp, quyềnđốivớigiống cây trồng, quyềnđòinợ, quyềnđƣợc nhậnsốtiềnbảo
hiểm đối với vậtbảođảm…
Việc phân loại quyền tàisảnthành hai nhóm: quyền tàisảncóthểchuyển giao và quyền tàisảnkhông thể chuyển giao thông qua GDDS cóýnghĩa nhất định trong việc xác định đối tƣợng của biện pháp thế chấp quyền tài sản. Vấn đề quan tâm hàng đầu của các bên khi xác lập biện pháp thế chấp quyền tàisảnlà khi cósựvi phạm nghĩa vụ, bên nhận thế chấp có quyền “bán” quyềntài sản thế chấp cho ngƣời khác để thu hồi nợ hay không. Vì lẽ
23 Xem Điều 322 BLDS năm 2005.
đó, đốitƣợngcủa biện pháp thế chấp quyền tàisảnphải là những quyền tài sảncó thể chuyển giao chongƣờikhác thông qua các GDDS. Hạnchế lớn nhất của BLDS năm 2015 là chƣa có điều luật nào mang tính nguyên tắc hoặc quy định dƣới dạng liệt kê cụ thể nhằm xác định rõ các quyền tài sản cóthểchuyển giao hoặc không thể chuyển giao thông qua các GDDS, từ đó làm cơ sở pháp lý để các chủ thể chủ động lựa chọn đối tƣợng của biện pháp thế chấp nói riêng cũng nhƣ đối tƣợng của các GDDS nói chung.
1.1.2.3. Quyền tài sản phát sinh từ giao dịch dân sự, quyền tài sản phát sinh từ hoạt động lao động sáng tạo của con người và quyền tài sản phát sinh trên cơ sở quy định của luật
Dựa trên căncứxác lập quyền, mộtcách tổng quát, các quyền tài sản có thể đƣợc phân làm ba nhóm: (i) Các quyền tàisảnphát sinhtừGDDS. Nhóm quyền tài sản này có thể đƣợc phát sinh từ các hợp các đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phƣơng, mang đặc điểm của quyền đối nhân, bao gồm: quyềnđòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay tài sản, quyền yêucầuthanh toán phát sinh
từhợpđồngmua bán tài sản, quyền tàisảnphát sinhtừhợpđồngbảohiểm
nhân thọ, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp…; (ii) Các quyền tài sản phát sinh từ hoạt động lao động sáng tạo của con ngƣời (quyền tàisảnđốivớicác đốitƣợngcủa quyền SHTT), nhóm quyền nàyđƣợc ghi nhận trong Luật SHTT, bao gồm: quyền tài sản trong phạm vi của quyền tác giả vàcác quyền liên quan; quyền tài sản đối với đối tƣợng sở hữu công nghiệp và quyền tài sản đối với giống cây trồng; (iii) Các quyền tài sản phát sinh trên cơsở quy định của luật, nhóm quyền tàisảndạng này mang đặc điểm của quyềnđốivật, bao gồm: quyềnsửdụngđất, quyềnbề mặt, quyềnhƣởngdụng và
quyền địa dịch…
* Nhóm quyền tài sản phát sinh từ GDDS
Hiện nay, các quyền tàisảnphát sinhtừGDDS có thể trở thànhđối
tƣợng của biện pháp thế chấp và đƣợc đăng ký BPBĐ theo yêucầutại Trung
tâm đăng ký giao dịch, tàisảncủa Cục đăng ký quốc gia giaodịch bảo đảm thuộc BộTƣ pháp, bao gồm: (i) Quyền tàisảnphát sinhtừhợpđồngthuêđóng tàu biển; quyền bồi thƣờng thiệthạiphát sinh từ hợp đồng mua bán tàu bay, tàu biển; quyềnthụ hƣởng bảohiểm theo hợpđồng bảo hiểm đối vớitàu bay, tàu biển; (ii) Các quyền tàisảnlà quyềnđòinợ, quyền yêucầuthanh toán, quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại, quyền thụ hƣởng bảo hiểm phát sinh từhợp đồngmua bán nhà ở, hợp đồng góp vốn xây dựng nhàở,hợpđồnghợp tác đầu tƣ, hợp tác kinh doanh nhà ở, hợp đồng cho thuê, hợp đồng cho thuêmua nhà ở (bao gồm cả nhà ở xã hội) giữa tổ chức với cá nhân hoặc giữa tổchức, cá nhânvớidoanh nghiệp kinh doanhbấtđộngsảntrongdựán xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở; các quyền tài sản là quyềnđòi nợ,quyền yêu cầu thanh toán, quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại, quyềnthụ
hƣởng bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng mua bán, hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợptác đầutƣ, hợptác kinh doanh, hợpđồngcho thuê, hợpđồngcho thuêmua công trình xây dựng giữa tổ chức với cá nhân hoặc giữa tổ chức, cá nhân vớidoanh nghiệp kinh doanhbấtđộngsảntrongdựán xây dựng công trình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản24; (iii) Phần vốn góp trong doanh nghiệp.
Các quyền tài sản phát sinh từ GDDS ngày càng trở thành loại tài sản bảo đảmđƣợc ƣa chuộng đối với các TCTD bên cạnh những tàisản bảođảm hữu hình truyền thống. Về cơ bản, thế chấp quyền tài sản phát sinh từ GDDS
đƣợc hình thành dựa vào 2 yếu tố: (i) Trên cơ sở một GDDS hợp pháp25, có
hiệu lực pháp luật – GDDS số1 (có thể là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp
đồngthuê tàisảndài hạn, hợpđồngthuê mua tài sản;hợpđồngdịchvụ…), bên có quyền trong quan hệ mang các lợi ích phát sinh từ giao dịch đó làm tài
sảnthế chấp để vay tiền của một chủ thể khác (bên nhận thế chấp) – GDDS số
24 Xem khoản 7 Điều 6 Thông tƣ 08/2018/TT-BTP ngày 20/06/2018.
25 Các quyền tài sản hình thành từ GDDS đƣợc sử dụng làm tài sản bảo đảm phổ biến là các quyền tài sản hình thành từhợp đồng, rấthiếm khi quyền tài sản hình thành từhành vi pháp lýđơn
phƣơng đƣợc sử dụng làm tài sản bảo đảm.
2; (ii) Cả bên đi vay (bên thế chấp) và cho vay (bên nhận thế chấp) đềuđồngý về việc nếu đến hạn trả nợ,bên đi vay không trả đƣợc thì bên cho vay (bên nhận thế chấp) có quyền yêucầubên có nghĩa vụ trong GDDS số 1 phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình.
Để nhậnmộtquyền tàisảnphát sinhtừGDDS làm tàisảnbảođảm, việc đầutiên bên nhậnbảođảmcầnlàm là xác địnhtỷlệ cho vay phù hợp thông qua những biện phápkỹthuật nhằm xác địnhgiá trịcủa tàisảnbảođảm. Sau khi đã xác định đƣợc tỷ lệ hợp lý giữa giá trị tài sản bảođảmvà hạn mức cho vay, bên nhậnbảođảmphải thiết lập một hệ thống quản trị rủi ro để bảo đảmrằng tài sản đó sẽ không bị thayđổi. Để hạn chế những vấn đề không thểlƣờng trƣớc và để trang trải các khoản phí thu hồivốn(nếu bên cho vay buộc phải xử lý tàisảnđảmbảođể thu nợ), bên cho vay thƣờng chỉ cho vay
tối đa khoảng 70% giá trị tài sản bảođảm26.
Cũng nhƣ những hình thức cấp tín dụng thƣơng mại có bảo đảm khác,để xáclậpmộtgiao dịchbảođảmbằng quyền tàisảnphát sinhtừGDDS, thông thƣờng các ngân hàng thƣơngmạiyêucầubên thế chấp phải xác lập nhiều giao dịch cùng lúc, bao gồm: (1) Hợp đồng tín dụng, nội dung của hợpđồng này bao gồmmột số điềukhoản: Mô tả tài sảnbảo đảm, tỷ lệ ứng vốn của bên cho vay, hạn mức tín dụng tối đa, các điều chỉnh về lãi suất, mức phícác bên liên quan đến tài sản bảo đảm, các cam kết của bên vay; (2) Hợpđồng thế chấp, thông qua hợp đồng này bên thế chấp camkếtdùng tài sản đƣợc xác định trong hợp đồng làm tàisảnbảođảm. Bên cho vay có thể yêucầulậphợpđồng bảo đảmriêng cho từng tàisản bảo đảmhoặc một hợp đồng chung cho mọi tàisản bảo đảm. Hợpđồng bảođảmđƣợc coi là một phần không thể tách rờicủa hợpđồng tín dụng. Xétvề hiệulực pháp lý, mối quanhệ về hiệulực giữa hợp đồng tín dụng và hợpđồng bảođảmđƣợc xác định là mối quan hệ giữa hợpđồngchính và hợpđồngphụ; (3) Đăng ký BPBĐ:Để hoàn thiện
26 Giới hạn của mức vaytối đa đƣợc xáclập trên giá trị tài sản bảo đảm có thể khác nhauở các tổchức tín dụng. Có tổ chức tín dụng giới hạn mức cho vay tối đa là 60% giá trị tài sản bảo đảm, vấn đề này phụ thuộc vào hệ số an toàn của tài sản bảo đảm do Ngân hàng đánh giá.
quyền ƣu tiên của bên cho vay (xác lập hiệu lực đối kháng với ngƣời thứ ba)đối với tài sản bảođảm, bên cho vay phải đăng ký giao dịch bảođảmtạicơquan nhà nƣớc có thẩm quyền27. Ở Hoa Kỳ, để hoàn thiện quyền ƣu tiên của bên cho vayđốivớitàisảnbảođảm, bên cho vay phải đăng kýtờ khai cấp vốn cóbảođảmtheo quy định tại Bộ luật Thƣơng mại Thống nhất (UCC) với cơ quan đăng ký có thẩm quyền (thƣờng là văn phòng đăng ký Tiểu bang) tại bang nơi bên vay đƣợc thành lập28; (4) Nghị quyết vay vốn, đây là nghị quyết
đƣợc thông qua bởi cơ quan cao nhất của bên vay uỷ quyền cho một cá nhân cụthể đƣợc thaymặtcho bên vay ký hợp đồng (trong trƣờng hợp bên vay là pháp nhân)29.
* Nhóm quyền tài sản đối với các đối tượng của quyền SHTT
Quyền tàisảnđốivớicác đốitƣợngcủaquyền SHTT là mộtyếutốquan trọng thể hiệnlợithế cạnh tranh trong thƣơng mại. Nó là côngcụhữu hiệu cho phép chủ sở hữu tạo nên và duy trìmột lợithế cạnh tranh, dựa trên việc sửdụng và ngăncảnchủthể khác sửdụng các đốitƣợngcủa quyền SHTT. Các chủthể nắmgiữquyềnsẽ có khả năng phát triểnsảnxuất, kinh doanh, từ đó giành đƣợc niềm tin của ngƣời tiêu dùng, mở rộng thị trƣờng vànâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Cùngvớisựphát triển của kinh tế – xã hội, các đối tƣợng của quyền SHTT dần trở thành đối tƣợng phổbiếncủanhiều GDDS, trongđócó biện pháp thế chấpđể vayvốntạicác TCTD. Tuy nhiên, cầnphải lƣuýrằng không phảitấtcả các đốitƣợngcủa quyền SHTT đƣợc pháp luật ghi nhận đều có thể trở thành đối tƣợng của biện pháp thế chấp. Để có thể sửdụng làm tàisảnbảođảm, các đốitƣợngcủa quyền SHTT phải có khả năng“thươngmạihoá”.Hiểumộtcách đơngiản,
thƣơng mại hoá đối tƣợng của quyền SHTT là viẹc tạo ra lợi nhuạn từ chính
27Một số trƣờnghợp Ngân hàng thƣơng mại còn yêu ký thêmhợp đồngbảo lãnh, hoặc lập văn bản thỏa thuận về thứ tự ƣu tiên thanh toán trong trƣờng hợp nhiều ngƣời có quyền đối với tài sản bảo đảm.
28 Gregory F. UDELL, Asset Based Finance: Proven Disciplines for Prudent Lending (Tài trợ vốn
dựa trên giá trị tài sản bảo đảm), Sách dịch, NXB Lao động – Xã hội, tr160.
29 Tuỳ thuộc vào loại hình pháp nhân, cơ quan cao nhất của pháp nhân có thể là Hội đồng quản trị
công ty, Thành viên điều hành của công ty hợp danh; Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn…
viẹc khai thác giá trịcủa quyềnsở hữuvà quyềnsửdụng cácđốituợng của quyền SHTT đang đuợc bảo họ.
Các quyền SHTT có thể thƣơng mại hoá30 bao gồm: (i) Quyền tác giả -đối với quyềntác giả, chỉ có quyền nhân thân gắn với quyền tài sản và quyền tàisảncủa chủsở hữuquyền tác giảiđốivớicác tác phẩm sauđƣợc phép
thƣơng mại hoá: tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm khoa học (trừ việc thƣơng mại hoá nội dung của các bản viết của các nghiên cứu cơ bản và nghiêncứuứngdụng trong lĩnh vực khoa họcxã hộivà nhân văn); (ii)
Quyền liên quan – việc thƣơng mại hoá quyền liên quan chính là việc thƣơng mạihoá quyền tàisảncủa các chủsở hữucủa cuộc biểu diễn, tổchức phát sóng, nhà sản xuấtbảnghi âm, ghi hình, tín hiệu vệ tinh mang chƣơng trình
đƣợc mã hoá; (iii) Quyền sở hữu công nghiệp – quyền tài sản của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kếbốtrí, quyềnsởhữunhãn hiệu, bímậtkinh doanh, quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thƣơng mại (chỉ đuợc khai thác quyềnsở hữutên thuongmạiđócùngvớicosở kinh doanh, hoạtđọng kinh doanh duới tên thuong mại); (iv) Quyền với giống cây trồng.
Các đốitƣợngcủa quyền SHTT cóthểđƣợc thƣơngmạihoá dƣới nhiều hình thức:Chủsở hữutựkhai thác quyền của mình; chuyển nhƣợng quyền cho chủ thể khác31; chuyển quyềnsử dụng đối tƣợng của quyềnSHTT chochủthể khác32; nhƣợng quyền thƣơngmại33 hoặc gópvốnvào doanh
nghiệp để kinh doanh…
30 Để có thể thƣơng mại hoá,các đối tƣợngcủa quyền SHTT phải thoả mãn các điều kiện sau: Một là, các đối tƣợng của quyền SHTT phải đƣợc bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam; Hai là,đối tƣợngcủa quyền SHTT đang còn hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam; Ba là, đối tƣợng của quyền SHTT không phải là đối tƣợng đang bị tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng.
31 Chuyển nhuợng quyền sởhữuđuợc áp dụngvớiquyền tác giả và quyền liên quan và quyền SHCNđốivớisáng chế, nhãn hiẹu, KDCN, thiếtkế bốtrí, BMKD. Quyền SHCNđốivớitên thuongmạichỉđuợc chuyển nhuợng cùngvớiviẹc chuyển nhuợng toàn bọcosởkinh doanh và hoạtđọngkinh doanh duới tên thuongmạiđó.Viẹc chuyển nhuợng quyền sởhữucũngđuợc áp dụng với quyền đối với giống cây trồng.
32 Viẹc nhạn chuyển quyền sử dụng (license) cácđốituợngcủaquyền SHTTtừ chủ sở hữu hoạc từ những chủ thể đuợc chủ sởhữu cho phép license cũng là mọthình thức thuongmạihóa quyền SHTTrấtphổ biến trên thế giới hiẹn nay. Tuy nhiên, theo quy định của Luạt SHTTcó mọt số đối tuợngcủaquyền SHCN lại không đuợc chuyển quyền sử dụnghoạc bịhạn chế chuyển quyền sử
* Nhóm quyền tài sản phát sinh trên cơ sở quy định của luật
Thứ nhất, quyềnsử dụngđất:Điều53 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, Đấtđai là tàisảncông thuộc sở hữutoàn dân do Nhà nƣớc đạidiệnchủsởhữuvà thống nhất quản lý. Nhà nƣớc, tuy không phải là chủsở hữuđấtđai
nhƣngđƣợc thực hiện các quyền năng của chủsở hữu. Nhà nƣớc thực hiện quyềnđịnhđoạtđấtđai thông qua các phƣơng thức nhƣ giaođất, cho thuêđất, công nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức. Vớitƣ cách là chủsở hữuquyềnsửdụngđất, ngƣờisửdụngđấtđƣợc LuậtĐấtđai năm 2013 ghi nhận các quyền năng: quyền chuyểnđổi, chuyển
nhƣợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyềnsửdụng đất34.
Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Namdẫnđến hệ quả trong
trƣờnghợpngƣờisửdụngđấtmang quyềnsửdụngđấtthuộc sở hữucủa mình đi thế chấpđể đảmbảothực hiện nghĩa vụ, đối tƣợng của biện phápthếchấp quyềnsử dụng đấtkhông phảilà đấtđai (vật hữu hình) mà là quyềnsửdụng đất, cụ thể là các quyền năng đƣợc thực hiện trên đất (mang tính chất vôhình). Khi thế chấp quyềnsửdụngđất, các bênchủthể khôngchỉphải tuân thủ quy định về thế chấp tàisản đƣợcquy định trong BLDS năm 2015 mà còn phải tuân thủ các quy định của Luật Đất đai năm 2013. Nói cách khác, để một giao dịch thế chấp quyềnsử dụng đấtlà hợp pháp, cần tuân thủ các điều kiện:
điều kiệnchủthể (bên thế chấp phải là chủ sở hữuhợp pháp quyềnsử dụngđất; điều kiện về ý chí tự nguyện (các bên không bị ép buộc, lừa dối, đe dọa khi giao kết);điềukiệnđốitƣợng(quyềnsửdụngđấtphải có giấy chứng
dụng, đó là: Quyền sử dụngchỉdẫn địa lý và tên thuongmạikhông đuợc phép chuyển giao; Quyền sửdụng nhãn hiẹu tạp thể không đuợc chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của nhãn hiẹu tạp thể đó; Quyền sử dụng nọi dung của các tác phẩm khoa học là bản viết của các kết quả nghiên cứu co bản và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã họi và nhân van không thể license đuợc.
33 Nhƣợng quyền thƣơng mại cũng là mọt trong những hình thức để thuongmạihóa cácđốituợng củaquyền SHTTmà cụ thểở đâylà mọt số đối tuợngcủaquyền SHCN: nhãn hiẹu, tên thuong mại và BMKD.
34 Xem khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.
nhận quyềnsở hữu; không có tranh chấp; khôngbịkê biênđểbảođảmthi hành án; và trong thờihạnsửdụngđất)35;điềukiệnbắtbuộcvề hình thức (hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản, có công chứng và đƣợc đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền).
Ngày nay, quyền sử dụng đất là một loại tài sản bảo đảm đƣợc các TCTD rất ƣa chuộng bởi nhiều ƣu điểm của nó nhƣ: (i) Tính thanh khoản cao, rất dễ xửlý trong những trƣờng hợp phải bán tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ;(ii)Dễdàngđịnhgiáđểxácđịnhmứccấptín dụng cho khách hàng; (iii) Trongthếchấp quyềnsửdụngđất,ngƣờisửdụngđấtvẫncó quyềnsửdụng, khai thác tài sản thế chấp, điều này giúp cho họ có khả năng tài chính để thanh toán khoảnnợcho TCTDtốthơn.NgƣợclạiTCTD cũngđƣợclợido không phải bỏ chi phí để quản lý tài sản thế chấp.
Thứ hai, các quyền khác đối với tài sản. Khái niệm quyền khác đối với tàisảntrong BLDS năm 2015 cónộihàm bao gồm: quyềnđốivớibấtđộng sảnliềnkề36, quyềnhƣởngdụng37, quyềnbề mặt38, là mộtkhái niệmmới
đƣợc sửdụngđểphân biệtvớikhái niệm quyềnsở hữuvà khái niệm quyền tài sản. Nhƣ đã phân tích ở trên, theo quan điểm của tác giả, các quyền khácđốivớitàisảnlà mộtbộphậncấuthànhcủakhái niệm quyền tàisản39, nói cách khác khái niệm quyền tàisảncó phạm vinộihàm rộng hơn khái niệm quyền khác đối với tài sản. Tuy nhiên, do đặcđiểmriêng của từng loại quyền khác đối với tài sản, chỉ có quyền hƣởng dụng và quyềnbề mặtđáp ứng đƣợcđầyđủ các yêucầucủa một tàisảnthế chấp, tức là có thể trở thành đối tƣợng của biện pháp thế chấp. Riêng quyền đối với bất động sản liền kề, xuất phát từ
tƣ duy lậppháp đƣợcluậtghi nhận để đảm bảosự ổn định và trật tự của các
35 Xem Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. 36 Xem Điều 245 BLDS năm 2015.
37 Xem Điều 257 BLDS năm 2015. 38 Xem Điều 267 BLDS năm 2015.
39 Các quyền khác đối với tài sản mangđầy đủ nhữngtính chất của một quyền tài sản: tính kinh tế(trị giá đƣợc thành tiền) và tính có thể chuyển giao thông qua các giao dịch dân sự.
quanhệhàng xóm láng giềng40, nó luôntồntạitrên các bấtđộngsản(bấtđộngsảnhƣởngquyền và bấtđộngsảnchịuhƣởngquyền) mà khôngphụthuộc vàochủ sở hữu bấtđộng sản. Vì vậy quyềnđối vớibất động sản liền kềkhông thể chuyển giao thông qua các GDDS, tức là không thể trở thànhđối
tƣợng của biện pháp thế chấp.
1.1.2.4. Quyền tàisảnmangbảnchấtbấtđộngsảnvà quyền tàisảnmang bản chất động sản
Căncứvàođốitƣợngtác độngcủa quyền tài sản, các quyền tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành có thể đƣợc chia làm 02 (hai) nhóm: (i) Các quyền tàisảnmangbảnchất của bấtđộng sảnvà (ii) Các quyền tài sản mang bản chất của động sản.
(i) Quyền tàisảnmangbảnchất của bấtđộngsảnlà quyền tàisảncóđối tƣợng tác động đƣợc thực hiện trên một bất động sản hữu hình. Các quyền tài sản mang bản chất của bất động sản bao gồm: quyền sử dụng đất, quyền bềmặt, quyền hƣởng dụng đối với quyền sử dụng đất, quyền hƣởng dụng đối với quyềnsử dụng đấtvà tàisản gắnliền với đất, các quyềnsử dụng hạn chế bấtđộng sản liền kề.
(ii) Quyền tài sản mang bản chất của động sản là những quyền tài sản cóđối tƣợng tác động không phải là một bất động sản hữu hình. Các quyền tài sản dạng nàyđƣợcquyđịnhtrong nhiều vănbảnquy phạm pháp luật khác nhau, gồm: quyềnđốitàisảnđốivớicácđốitƣợngcủaquyền SHTT, quyềnđòinợ, quyền yêu cầu thanh toán từ hợp đồng, quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại ngoài
hợp đồng, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp…
Việc phân loại quyền tài sản thành hai nhóm quyền tài sản mang bản chất của bất động sản và quyền tài sản mang bản chất của động sản có nhiều ý nghĩa:
Mộtlà, làm cơsởxây dựng quyđịnhbắtbuộcvềhình thứcđốivớinhững
40 Hiện nay, phạm vi của quyền này ngày càng đƣợc mở rộng, nó khôngchỉ “bó hẹp”nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa những ngƣời hàng xóm, mà còn đƣợc sử dụng để giải quyết các tranh chấp giữa các chủ sở hữu bất động sản nghỉ dƣỡng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh đối với nhau.
GDDS có đối tƣợng là các quyền tài sản. Đối với những GDDS có đối tƣợng làquyền tài sản mang bản chất bất động sản, pháp luật cần quy định hình thức của giao dịch phải bằng văn bản, có công chứng hoặc chứng thực41. Những GDDS có đối tƣợng là các quyền tài sản mang bản chất là động sản không bắt buộc quyđịnhvềhình thức. Hai là, xây dựnghệthống cơ quan quản lý và đăng ký các GDDS liên quan đến các quyền tài sản. Những GDDS có đối tƣợng là các quyền tàisảnmangbảnchấtbấtđộngsản,hệthống cơ quan quản lý và đăng ký các giao dịch liên quan nên đặt tại Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyềnsửdụngđấtcấpTỉnh nơi cóđất.Những GDDS cóđốitƣợnglà các quyền tài sản mang bản chất động sản, cơ quan quản lý và đăng ký các giao dịch liên quan đặt tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục đăng ký quốc gia Giao dịch bảo đảm, Bộ Tƣ pháp.
1.2. Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản thế chấp
Vớivai trò là một bộ phận cấu thành của khái niệm tàisảntrong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền tài sản mang đầyđủ những đặc điểmcủa tài sảnnói chung. Bên cạnh đó, đểtrở thànhđốitƣợngcủa biện phápthếchấp, quyền tài sản phảithoả mãn đầy đủ những đặc điểmriêng, cụ thể.
1.2.1. Quyền tài sản thế chấp luôn tồn tại dưới dạng vô hình
Khác vớicác tàisảntồntạidƣớidạngvậtthể hữuhình conngƣờicó
thể nhận biết đƣợc qua các giác quan nhƣ: ô tô, điện thoại, nhà ở… Các quyền tàisảnluôntồntạidƣớidạng vô hình, conngƣờikhông thể nhận biếtđƣợc thông qua các giác quan mà chỉbiếtđến sựtồn tạicủa chúng thông qua các thông tin liên quanđếntàisản(tuỳ từng loại quyền tàisảnkhác nhau, các thông tin này cóthể đƣợc đăng ký hoặckhông đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền).
Dƣớigóc độkhoa học pháp lý, căncứvào phạm vi có hiệu lực của quyền tài sản, quyền tàisản(các tài sản vô hình) có thể đƣợc phân chia thành
41 Những GDDS có đối tƣợng là bất động sản thƣờng có giá trị kinh tế lớn,ảnh hƣởngđến quyền và lợi ích của nhiều chủ thể. Để hạn chế những tranh chấp phát sinh trên thực tế, cần quy định hình thức bắt buộc khi xác lập các giao dịch này.
hai loại: các quyền tài sản tuyệt đối và các quyền tài sản tƣơng đối. Quyền tài sảntuyệt đối là quyền tàisảncó hiệu lực với tấtcả mọi ngƣờicòn lại trong xã hội. Chủ thể nắm giữ quyền tàisảntuyệt đối có thể thực hiện quyền của mình thông qua việc khai thác giá trịcủa quyền tàisảnmà khôngphụthuộc vào chủ thể mang nghĩa vụ. Các quyền tàisảntuyệt đối có thể kể đến nhƣ: quyền tác giả và quyền liên quan, quyềnsở hữu công nghiệp (nhãn hiệu, sáng chế,
giải pháp hữu ích, tên thƣơng mại, chỉ dẫn địa lý…).
Quyền tàisảntƣơngđốilà quyền tàisảnchỉcó hiệulựcràng buộcđốivớimộtchủthểcó nghĩavụ.Nói cách khác,chủthểcó quyền tài sản tƣơng đối chỉ có thể thỏa mãn quyền của mình thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của một chủ thể khác (chủ thể mang nghĩa vụ luôn đƣợc xác định cụthể). Các quyền tàisảntƣơngđốigồm: quyềnđòinợ,quyền yêu cầu thanh toán phát sinhtừhợpđồng,quyềnđốivớiphầnvốngóp doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền thuê, mua tàisản
phát sinh từ hợp đồng42…
Việc phân biệt này giúp cho các chủ thể xác định đƣợc các yếutố cần thiết khi xác lập biện pháp thế chấp có đối tƣợng là các quyền tài sản. Do tính chất vô hình của quyền tàisản(khôngtồntạidƣớicác dạngvậtthểcụthể) nên khi lựa chọn loại tài sản này làm tàisảnthế chấp, bên nhận thế chấp cần phải xác minh các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của bên thế chấp. Thông
thƣờng đó là các loại giấy tờ nhƣ: hợp đồng vay có hiệu lực chứng minh cho quyềnđòi nợ, hợpđồng mua bán mà bên bán đã giao hàng trƣớc chứng minh cho quyền yêucầuthanh toán; giấy chứng nhận đăng ký, văn bằng bảo hộ đối vớinhãn hiệu, sáng chế, hợpđồngbảohiểmhợppháp khi nhận thế chấp
quyền tàisảnphát sinhtừhợpđồngbảohiểm… Đặc biệt, khi giaokếthợpđồng cần phân biệt giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản với tài sản, ví dụ:
vận đơnvà hàng hóa vận chuyển, cổ phiếu và phần vốn góp trong công ty cổ
42 Xem Án lệ số 31/2020/AL của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao ngày 05/02/2020 đã xác định quyền thuê nhà, mua nhà thuộc sởhữu của Nhà nƣớc là quyền tài sản và đƣợcchuyển giao cho những ngƣời thừa kế của ngƣời đó.
phần… vận đơn chỉ là giấytờ chứng minh quyền đƣợc nhận hàng hóa từ bên vận chuyển, cổ phiếu chứng minh cho quyền đối với phần vốn góp trong công tycổphần; tàisảnthế chấp trong các trƣờnghợpnày là hàng hoá ghi trong vận đơn và quyềnđối vớiphần vốn góp trong công ty cổ phần mà không phải là các loại giấy tờ vận đơn hay cổ phiếu.
1.2.2. Quyền tài sản thế chấp không phải là quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân
Xuất phát từ bản chất của biện pháp thế chấp nhằmđảmbảothực hiện cho nghĩa vụcủa bên thế chấpđốivớibên nhận thế chấp, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ, nếukhông thể thoả thuậnđƣợc về cách thức giải quyết,
BLDS cho phép bên nhận thế chấp đƣợc xử lý tài sản thế chấp– “bán” tài sản thếchấpđể khấutrừcho nghĩavụbịvi phạm. Để cóthể“bán” cho các chủthể khác thì quyền tài sảnlà đối tƣợng của hợpđồng thế chấpphải thoả mãn các điều kiện sau: Một là, quyền tài sản thế chấp không phải là quyền tài sản luật cấm chuyển dịch quyền sở hữu. Với những quyền tài sản luật cấm chuyển dịch quyền sở hữu thì không thể trở thành đối tƣợng của biện pháp thế chấp. Ví dụ, quyềnđốivớiphầnvốngóp vào doanh nghiệp giớihạnkhôngđƣợc chuyển nhƣợng theođiềulệ công ty hoặc do Luật Doanh nghiệp quyđịnh (trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty đƣợc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổđông sánglậpcó quyềntựdo chuyển nhƣợngcổphần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ đƣợc chuyển nhƣợng cổ phần phổthông của mình cho ngƣời không phảilà cổđông sáng lập nếu đƣợc sự chấp thuận của Đạihội đồng cổ đông). Hai là, quyền tài sản thế chấp không phải lànhững quyền tàisảngắnliềnvớiyếutốnhân thân. Nhằmbảovệ quyền, lợiíchhợppháp của mộtchủthể nàođótrong những trƣờnghợpxác định, hệthống pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận, các quyền tài sản gắnvớiyếutố nhân thân nhƣ: quyền yêucầucấpdƣỡng, quyền yêucầubồi
thƣờng thiệthạido tính mạng, sức khỏe bịxâmphạm… không thể chuyển giao thông qua các GDDS.
Yếutố“không gắn liền với nhân thân”đảm bảocho việc quyền tài sản thế chấp có thể dịch chuyển quyền sở hữu từ bên thế chấp sang bên nhậnthếchấp hoặc cho ngƣời thứ ba để khấu trừ cho giá trị nghĩa vụ mà quyền tài sảnđó bảo đảmtrong trƣờng hợp có sự vi phạm nghĩa vụ đƣợc bảo đảm. Khi giao kếthợpđồngthế chấp, giá trịquyền tàisảnthế chấp; khả năng thực hiện nghĩa vụcủa bênthếchấp và việc xửlý tàisảnthế chấp khi cósựvi phạm nghĩa vụlà nhữngvấnđềquan trọng bên nhậnthếchấphƣớngtới. Trong
trƣờng hợp có hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên thế chấp, quyềnlợicủa bên nhận thế chấpchỉ đƣợc bảođảmthực sự khi đem bán quyền tài sản thế chấpđể khấu trừ nghĩa vụ.
Mộtvấnđềquan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho biện pháp thế chấp quyền tài sản của Việt Nam hiện nay là cần đặt ra các “giới giạn” đối với các quyền tài sản đƣợc sử dụng để thế chấp. Một mặt, nó giúp cho các chủthểlựachọnđƣợcquyền tàisảnthíchhợplàmđốitƣợngtrong cáchợpđồng thế chấp. Mặt khác, việc đặt ra các “giới hạn” đối với các quyền tài sản là đối
tƣợng của hợp đồng thế chấp sẽ tạo ra hành lang pháp lý ổn định, lành mạnh, thúcđẩyquá trình hình thành kênh huyđộngvốnquan trọng giữa doanh nghiệp với các ngân hàng thƣơng mại, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ đó gián tiếp đóng góp cho việc phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia.
Tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, một số quốc gia theohệ thống pháp luật Civil Law(điểnhình nhƣ Cộng Hoà Pháp43, Nhật Bản44) quyđịnhđốitƣợngcủa thế chấp phải là bấtđộngsản. Vớiquyđịnh này, các quyền tàisảnnhƣ: quyềnbề mặt, quyềnhƣởngdụng tàisảncóđối
tƣợng thực hiện trên bất động sản đƣợc coi là bất động sản và đƣơng nhiên cóthể đem đi thế chấpđảmbảothực hiện nghĩa vụ, nhƣng quyềnhƣởngdụngđộng sản thì không đƣợc đemđi thế chấp vì đƣợcxác định là động sản. Bên
43 Xem Điều 2398 BLDS Pháp.
44 Xem Điều 369 BLDS Nhật Bản.
cạnh đó, mộtsốquốc gia theohệ thống pháp luật Common Law nhƣ Anh, Hoa Kỳ lại cho phépsử dụng động sảnđể thế chấp thông qua việc phát triển và hoàn thiệnhệthống đăng ký thế chấpđộngsảnquahệthống internet45. Khác biệt với các quốc gia nói trên, BLDS năm 2015 của Việt Nam quy định theo hƣớng mở, cho phépchủ sở hữu đƣợc sử dụng cả động sản và bất động sản để thế chấp đảmbảo thực hiện nghĩa vụ, điều này đồng nghĩa với việc các chủ thể đƣợc phép sử dụng quyền tàisản để thế chấp, bấtkể quyền tàisản đó
đƣợc xác định là động sản hay bất động sản.
1.2.3. Quyền tài sản thế chấp phải có thể trị giá được thành tiền
Việc xác định giá trị của quyền tài sản thế chấp là một cơ sở quan trọngđể bên nhận thế chấp quyếtđịnhmức cho vay (thông thƣờng mức cho vay nhỏ hơn giá trị thực của quyền tài sản bảo đảm). Mức cho vay đƣợc tính toán dựa trên giá trị của quyền tài sản thế chấp với tính ổn định của thị trƣờng. Cónhiều phƣơng pháp định giá đƣợc các ngân hàng thƣơng mại đƣa vào quy chếđịnh giá tàisảnbảo đảm, ví dụ: phƣơng pháp so sánh trực tiếp46; phƣơng pháp
thặng dƣ47… Tuy nhiên, do các ngân hàng thƣơngmạisửdụng các phƣơng pháp định giá khác nhau nên rất khó để so sánh, xác định chính xác giá trị của quyền tài sản thế chấp. Tỷlệ cho vay trên quyền tàisảnthế chấp cũng khác nhau ở các ngân hàng thƣơng mại, giao động trong khoảng tối đa từ 70% đến 85% giá trị thị trƣờng của quyền tài sản thế chấp.
Hiện nay, các tàisản tồn tại dƣớidạng vật thể nhƣ: ôtô, xe máy, nhà ở,
điện thoại… con ngƣời có dễ dàng sử dụng các phƣơng thức định giá để xác
45 Vũ Thị Hồng Yến, “Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quyđịnhcủa pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành”, luận án tiến sĩ luật học, trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2013.
46 Phƣơng pháp so sánh trực tiếp là phƣơng pháp sử dụng các chứng từ giao dịch thị trƣờng của các BÐS có đặc điểm tƣơng tự với BÐS cần thẩm định để xác định giá thị trƣờng của BÐS này. Khi tiến hành thẩm định giá theo phƣơng pháp so sánh trực tiếp phải tìm kiếm các thông tin BÐS – ít nhất 02 BÐS-đã đƣợcgiao dịch trên thịtrƣờng có thờiđiểmgần vớithờiđiểmthẩmđịnh giá(trong vòng 3 tháng), để tiến hành phân tích, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa chúng với
BÐS cần thẩm định giá,để từ đócó điều chỉnh giá thích hợp nhằm xácđịnhgiá trị thị trƣờng của BÐS cần thẩm định giá.
47 Phƣơng pháp thặng dƣ là phƣơng pháp thẩm định giá mà giá trị thị trƣờng của tài sản cần thẩm định đƣợc xácđịnh căn cứ vào giá trị vốn hiện có bằng cách lấy giá trị ƣớc tính của sự phát triển giả định của tài sản (tổng doanh thu) trừ đi tất cả các chi phí phát sinh để tạo ra sự phát triển đó.
địnhgiá trịchính xác củachúngtạimộtthời điểm. Tuy nhiênđốivớicác quyền tài sản, việc định giá chính xác chúng là điều không hề đơn giản. Con
ngƣời có thể định giá đƣợc giá trị của quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng cho
vay, một khoản tiền đƣợc thu trong tƣơng lai phát sinh từ hợpđồng dịchvụ…
nhƣng khó có thể xác định đƣợc chính xác giá trị các quyền tài sản đối với đối
tƣợng của SHTT, quyền bồi thƣờng thiệt hại phát sinh từ hợp đồng mua bán tàu bay, tàu biển… Các quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hànhmớichỉquyđịnhviệc địnhgiá đốivớimộtsốquyền tài sản, điểnhình là quyềnsửdụng đất (việc thẩm định giá phải tuân thủ quy định tại Nghị định số44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ và Thông tƣ số 36/2014/TT- BTNMT ngày 30/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng), tuy nhiên quyđịnh này cũng bộ lộ nhiều bất cập khi áp dụng trên thực tế.
1.2.4. Con người có thể quản lý, kiểm soát được quyền tài sản thế chấp
Bên cạnh việc định giá quyền tài sản thế chấp, khả năng có thể quản lý, kiểm soát quyền tài sản thế chấp là vấn đề quan trọng mà bên nhận thế chấp quan tâm khi xáclậpbiện pháp thế chấp quyền tài sản. Trong môi trƣờng kinh tế hội nhập, phát triển và cạnh tranh hiện nay, vấnđề làmăn thua lỗ, phá sản là tấtyếu. Môi trƣờng pháp lý của nềnkinhtế Việt Nam chƣa đồngbộ,
thƣờng xuyên cósựthay các chính sách trong LuậtĐấtđai, Luật Doanh nghiệp, BLDS… làm gia tăng những rủi ro cho các hợp đồng vay tài sản. Việc cho vay có tài sảnbảo đảmvà có sự quản lý tốt đối với tài sản bảo đảm là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lƣợng các khoản cho vay, hạnchếtổnthất của bên cho vay trong trƣờnghợpcác hợpđồngvay quá hạnkhách hàng không trả đƣợcnợ, buộc phảixửlý tàisảnbảođảmđể thuhồinợ. Rõràng, trong trƣờnghợpnhậnthếchấp quyền tàisảnđể đảmbảothực hiện nghĩa vụ, giá trị thị trƣờng của quyền tài sản tại thờiđiểmbên nhậnbảođảm xử lý tài sản bảo đảmsẽ cótính chất quyết định đến nguồn thu hồi nợ của bên nhậnbảo đảm.
Tuy nhiên, do tính chất đa dạng của quyền tài sản, cách thức quản lý, kiểm soát những quyền tàisảnkhác nhaulạicó nhữngđiểmriêng biệt. Đối
vớitàisảnbảođảmlà quyềnsửdụngđất,bên nhậnbảo đảmcó thể quản lýthông qua việcgiữgiấy chứng nhận quyềnsửdụngđấtbảngốc của bênthếchấp, tiến hành ký hợpđồng thế chấpcó công chứng và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyềnsửdụngđất. Đốivớitrƣờnghợpnhận thế chấp quyền đòi nợ, do việc thực hiện nghĩa vụ luôn phụ thuộc vào hành vi của bên thứ ba (con nợ), do vậy bên nhận thế chấp cần kiểm tra tính pháp lý của hợpđồngvay giữa bên thế chấpvớibênthứba, xác địnhđƣợc phạm vi và cách thức thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên thứ ba. Khi nhận thế chấp các quyền tàisản đối vớiđối tƣợng của quyềnSHTT, bên nhận thế chấpcầnchú ý cácđối tƣợng mà quyền sở hữu công nghiệpchỉ đƣợc xác lậpthông qua đăng ký
nhƣ: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu. Với tên thƣơng mại và bímậtkinh doanh thì doanh nghiệp phải xem xét hiện trạng pháp lý của các đối
tƣợng đó có thỏa mãn các tiêu chuẩn bảo hộ theo Luật SHTT không? Khi cácđốitƣợngsở hữucông nghiệp của doanh nghiệpđã đƣợc bảohộ(đƣợc cấp bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hay cóđƣợc tên thƣơng mại, bí mật kinh doanh đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ) thì cần quan tâmđếnviệc khai thác, sử dụng có hiệu quả các đối tƣợng đó nhằm bù đắp những chi phínghiên cứu, đăng ký và kiếmlờido cơ chế độc quyền mang lại. Nếu chỉ đăng ký mà khôngsửdụng hoặc sửdụng không có hiệu quả thì việc đăng ký cácđốitƣợngsởhữucông nghiệptrởnên vô nghĩa, lãng phí và tốnkém không cầnthiết.
1.3. Các quan niệm và bản chất của thế chấp tài sản 1.3.1. Các quan niệm về thế chấp
Thế chấp là một từ có nguồn gốc HánViệt. Từ điểnHán Việt nhà xuất bảnKhoa học xãhộiHà Nộinăm 2000 giải nghĩa “Thếlàbỏđi, thay cho“, còn “Chấp là cầm, giữ, bắt“. Hiểu một cách đơn giản, thế chấp là việc bên đi vay dùng một tàisảncủa mình với mục đíchđảmbảocho việctrả nợ đối với bên cho vay, thay cho việc cầm, giữ tàisảnđó. Từ điểnTiếng Việt nhà xuất bảnTừđiểnbách khoa Hà Nộinăm 2007 giải nghĩa: “Thế chấp [tài sản] làdùng làmvậtbảođảm, thay thế chosốtiền vaynếukhông cókhảnăngtrả
đúngkỳhạn“. Thông qua cách giải nghĩa này, có thể hiểu, thế chấp là một biện pháp mà bên đi vay và bên cho vaysử dụng để bảo đảmcho việc trả nợcủa bên vay; giá trị của tài sảnbảo đảmnày có khả năng thay thế cho nghĩa vụ trả số tiền vay và lãi phát sinh trong hợp đồng vay tài sản.
Dƣớigóc độ khoa học pháp lý, thế chấp tài sản là một BPBĐ thực hiện nghĩa vụ có nguồn gốc từ biện phápcầmcốtài sản, xuất hiện từ thời La Mã48. Thực tế đã chứng minh, quá trình hình thành và phát triển của các quy định về thế chấp tài sản trong luật La Mã đã ảnh hƣởng và chi phối mạnh mẽ đếnsựra đời và phát triển các quy định về thế chấp tài sản trong pháp luật của một sốquốc gia theohệthống pháp luật Civil Law. Cụthể, Điều2393 BLDS Cộng hoà Pháp quyđịnh:“Thế chấp làmộtvậtquyềnđốivớibấtđộngsản
được dùngđể bảođảmthực hiện nghĩavụ…”. Có thể nhận thấy, biện pháp thế chấp trong pháp luật của Pháp mang 02 (hai) đặcđiểm:Một là, thế chấp làmột quyền tài sản nằm trong phạm vi thực hiện quyềnsở hữu của chủ sở hữu tài sản. Quyềnthếchấpởđâyđƣợchiểu là quyền của chủsở hữutài sản, thông qua mộtGDDS, chủsở hữutàisảnsửdụng nóđể đảmbảocho việc thực hiện nghĩa vụđốivớibên nhậnbảođảm49. Hai là,đốitƣợngcủa biện pháp thế chấp chỉ có thể là bấtđộng sản50. Đâylà điểmkhác biệt so với pháp luật Việt Nam, pháp luật Việt Nam khônghạnchế phạm vi của tàisảnthếchấp, các chủthểcóthểsửdụngcả độngsảnhoặc bấtđộngsảnlàm tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ51.
Tƣơng đồng với pháp luật của Cộng hoà Pháp, Điều 369 BLDS Nhật Bảnquyđịnh:“Ngườinhậnthếchấp có quyền ưu tiên sovớicácchủnợ
48 Pháp luật La Mã khởi phát vào khoảng năm 450 TCN với “Luật mƣời hai bảng”, tuy nhiên mãiđến năm 534 sau công nguyên, các quyđịnhcủa pháp luật La Mãmớiđƣợc hoàngđếJustinian pháp điển hoá và ban hành thành Bộ dân luật “Corpus Juris Civilis”. Đây là một bộ luật hoàn chỉnhđầu tiên có ý nghĩa vô cùng to lớn và ảnh hƣởng sâu sắc đến pháp luật của nhiều quốc gia trên thếgiới sau này.
49 Pháp luật Việt Nam hiện hành coi thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, biện pháp này đƣợc hình trên cơ sở một giao dịch dân sự thiết lập giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp.
50 Khái niệmbấtđộngsản trong pháp luậtcủaPháp có nộihàm rộng hơn so vớipháp luật Việt Nam, bao gồm cả bất động sản do dụng ích và bất động sản do có đối tƣợng thực hiện trên bất động sản hữu hình, ví dụ nhƣ quyền hƣởng dụng.
51 Xem Điều 317 BLDS năm 2015.
khác trong việc đáp ứng yêu cầu của mình từ bất động sản mà bên nợ hoặc người thứ ba đưa ra như là một BPBĐ trái vụ và không chuyển giao quyền chiếmhữunó”.Cùngvớiviệc ghi nhận quyền ƣu tiêncủabên nhậnthếchấp so với các chủ nợ khác (các chủ nợ không có bảo đảm) lên trên tài sản thế chấp, pháp luật Nhật Bản quy định một cách minh thị đối tƣợng của thếchấp tàisảnchỉcóthểlàbấtđộngsản.Đồngthờichỉrõ khi xáclậpthếchấp tài sản, không có sự chuyển giao tài sản thế chấp từ bên thế chấp sang cho bên nhận thế chấp.
Có thể nhận thấy, do ảnh hƣởng bởi các học thuyết pháp lý của luật La Mã, pháp luật của mộtsốquốc gia theohệ thống pháp luật Civil Law (tiêu biểu là Cộng hoà Pháp, NhậtBản) đềunhìn nhận biện pháp thế chấp tài sản có haiđặcđiểmcơ bản: Thứ nhất,đốitƣợngcủa thế chấp phải là bấtđộng sản; Thứ hai, không cósựchuyển giao quyền chiếmhữutàisảnthế chấptừbên thế chấp sang bên nhận thế chấp. Đâylà dấuhiệu cơ bảnđể phân biệt biện pháp thế chấp với biện pháp cầm cố52.
Khác với pháp luật của mộtsố quốc gia theohệ thống pháp luật Civil Law, mộtsốquốc gia theohệ thống pháp luật Common Law nhìn nhậnthếchấp tài sản là BPBĐ thực hiện nghĩa vụ đƣợc phát triển theo hai học thuyết cơ bản: Thuyết quyền sở hữu và Thuyết giữ tài sản thế chấp53. Ở những quốc gia theo thuyết quyền sở hữu, ngƣờinhận thế chấp có quyềnsở hữuđối với tàisảnthế chấp trong suốt thời gian thế chấp nhƣng chỉ có tính chất tạm thời. Nếungƣời đi vay trả đƣợc nợ cho bên nhận thế chấpthì sẽ đƣợc nhận lạitài sảnthế chấp. Trƣờng hợp ngƣời đi vay không thực hiện nghĩa vụ của mình thì
ngƣời nhận thế chấp có quyền sở hữu tuyệtđối:“Thế chấp là sự chuyển giao quyềnsởhữu tàisảntheo cách thứcbảođảmvớimộtngụý rằng quyềnsởhữusẽ được chuyển giaolạicho connợnếuđãthực hiện xong nghĩavụ thanh toáncủamình”54. Ƣuđiểmcủa thuyết quyềnsở hữulà tiết kiệm thời gian và chi phí cho bên nhận thế chấp nhờ việc bỏ qua một vài thủ tục tƣ pháp để tịch biên tài sản.
Ở các quốc gia xây dựng theo thuyết giữ tàisảnthế chấp, điểnhình làAustralia và mộtsốbang của Mỹnhƣ Floria, New York, pháp luậtđềughi nhận chủ nợ (bên nhận thế chấp) không đƣợc quyềnsở hữu đối với tàisản thếchấp, thay vào đó là quyền đƣợc tiến hành tịch biên để thực hiện việc bán tài sảnthế chấp trong trƣờnghợpbên thế chấp không hoàn thành nghĩa vụ.
Ngƣờithế chấpvẫncó quyềnsở hữuđốivớitàisảnthế chấpkể cả trong
trƣờnghợpkhông có các điềukhoản tronghợpđồngthếchấp.ỞthànhphốNew York và bang Florida của Mỹ, các lý luậnvề thế chấp tàisảnchi phối quyền và nghĩavụcủa các bênđềudựa trên học thuyếtnềntảngvề quyền chiếmgiữvậtthếchấp. Đâylà xuhƣớngphát triển chiếm ƣu thế hiện nay trong pháp luật của các nƣớc theo hệ thống luật Common Law55.
Qua những phân tích trên, có thể thấy cả hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới là Civil Law và Common Lawđều cónhững quan niệmđồng nhấtvềthế chấp tài sản, thể hiện ở những điểm: (i) Đối tƣợng của thế chấp là tài sản thuộc sở hữu của bên thế chấp (một số quốc gia theo hệ thống Civil Lawchỉcho phépsử dụng bất động sảnlàm tàisảnthế chấp, bên cạnh đó một số quốc gia theohệ thống Common Law thì cho phépsửdụngcả độngsảnvà bấtđộng sản làm tài sản thế chấp); (ii) Trong biện pháp thế chấp tài sản, không cósựchuyển giao tàisảntừbên thế chấp sang cho bên nhận thế chấp; (iii) Xu hƣớng phát triển của pháp luật về thế chấp tài sản sẽ chuyển từ hình thức thếchấp có chuyển giao quyềnsở hữutàisảnthế chấp sang hình thức thếchấp không có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản thế chấp.
1.3.2. Bản chất của thế chấp tài sản
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Thế chấp quyền tài sản theo quy định của Pháp Luật Việt Nam

