Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

Trong quá trình đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế, những tác động tiêu cực đếnmôi trường bộc lộ rõ nét. Tình trạng các doanh nghiệp (DN) xả thải trực tiếp nước thải sản xuất chưa qua xửlý, hoặc nướcthải chứa độc tốra môi trường đang có chiều hướng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất, hành vi vi phạm, người bị thiệt hại lên đến hàng nghìn hộ dân. Điển hình như vụ Vedan năm 2008 và vụ Formorsa năm 2016. Điều này bắt nguồn từ việc các DN chưa tuân thủ nghiêm các qui định của pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT), hạn chế từ các qui định của pháp luật về BVMT, do đó công tác xử lý hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) về môi trường của các DN thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế. Các hành vi gây ô nhiễm môi trườngnước(ONMTN) khôngchỉgây ra thiệthạidoônhiễm, suy thoái môi trường như làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường là thiệt hại chung cho cộng đồng người sống phụ thuộc vào nguồn nước đã bị ô nhiễm; mà còn làm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Vì vậy, người bịthiệt hại đã yêu cầu các DN có hành vi gây ONMTN phải BTTH.

Để giải quyết BTTH trong các vụ việc này, trên thực tế, các bên thường thông qua chính quyền địaphương nhằm thỏa thuận đểcó mức bồi thường tượng trưng hoặc chuyển hóa thành một khoản tiền “hỗ trợ cải tạo môi trường”. Có thể thấy đây là phương pháp giải quyết mang tính tình thế bởi chưa thực sự dựa trên cơ sở khoa học, pháp lý vững chắc, đặc biệt là mục đích khôi phục môi trường như lúc banđầu chưa thực sự được đảm bảo. Thực trạng này có nguyên nhân xuất phát từ việc các qui định của pháp luật về BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn chưa đồng bộ và đầy đủ.

Nhận thức được tầmquan trọng của việc bảovệquyền được sống trong môi trường trong lành được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 quyền được bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ thể bị thiệt hại trong các vụ việc yêu cầu BTTH do các DN gây ONMTN, Hiến pháp năm 2013đã ghi nhận quyền được BTTH tại khoản 2 Điều 30:“Ngườibịthiệt hại có quyền đượcbồi thường vềvật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo qui định của pháp luật”, và tại khoản 3 Điều 63: “Tổ chức, cánhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại”. BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015, Luật BVMT năm 2020 cũng đã cụ thểhóa qui định trong Hiến pháp năm 2013 về trách nhiệm BTTH của DN khi có hành

vi gây ONMTN… Các Bộ luật, Luật này được hướng dẫn thi hành của Tòa án nhân dân tối cao, Nghị định của Chính phủ về cách xác định thiệt hại để tiến hành BTTH ngoài hợp đồng,xác định thiệt hại đốivới môi trường… Nhìn chung, các văn bản qui phạm pháp luật đã có những qui định về trách nhiệm của người có hành vi gây thiệt hại làm ô nhiễm môi trường; vềcăn cứphát sinh BTTH; vềhình thức trách nhiệm BTTH và về các trường hợp được miễn trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của các chủ thể vi phạm.

Trên nguyên tắc người gây thiệt hại phải bồi thường và việc bồi thường phải toàn bộ, kịp thời. Luật BVMT năm 2020 thay thế cho Luật BVMT năm 2014 đã cónhững qui định tiến bộ, đóng vai trò to lớn trong việc bảo vệ quyền được BTTH của người dân, đặc biệt là các hộnông dân chịu ảnh hưởng trực tiếp do hậu quảcủa ONMTN. Tuy nhiên, pháp luật về BTTH đối với hành vi gây ONMTNvẫn bộc lộnhững hạn chế, thiếu sót thểhiện qua cơ chếkhởi kiện của các hộnông dân cùng chịu bị ảnh hưởng do DN có hành vi gây ONMTN hay trong việc xác định thiệt hại

đối với ONMTN, về ý thức pháp luật của các bên trong quan hệ giải quyết BTTH… Chính sự hạn chế này dẫn đến thực tế rằng việc BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN chủyếu đượcthực hiện qua hình thức thỏa thuận hoặc khởi kiện dân sự. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự của DN đối với các tội về môi trường được quiđịnh trong BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có hiệu lực từ 1/1/2018). Nhưng qua thống kê của TAND tối cao thì từ năm 2008 đến năm 2018, không có vụxét xử hình sự nào về tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182 BLHS năm 1999).

Chính vì vậy, cần phải có những nghiên cứu lý luận cũng như đánh giá thực trạng vềtrách nhiệm BTTH của DN khi thực hiện hành vi gây ONMTN theo quiđịnh pháp luật Việt Nam hiện nay để nắm bắt được những yếu tố thuận lợi cũng như khó khăn, hạn chế, thiếu sót củaquiđịnh pháp luật đượcáp dụng trong thực tiễn giải quyết thời gian qua, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện kịp thời các quiđịnh của pháp luật, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của người dân chịu ảnh hưởngdo ONMTN. Từ những phân tích và đánh giá, yêu cầu trên, nghiên cứu sinh đãchọnđềtài “Trách nhiệm bồithường thiệthạiđốivớihành vi gâyônhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật kinh tế của mình.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích của luận án: Luận án làm rõ những vấn đềlý luận và pháp luật về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN, về thực tiễn thực hiện pháp luật trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN, từ đóđề xuất địnhhướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệuquảáp dụng pháp luậtvềtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN ở Việt Nam hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ của Luận án:

Để đạt được mục đíchnêu trên, Luận án đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ cơbản sau đây:

– Nghiên cứu làm rõ và hệ thống lý luận về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN và pháp luật vềtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN ở Việt Nam. Trong đó Luận án tập trung làm rõ: khái niệm, đặc điểmtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN; vềnội dung, các nguyên tắc của pháp luậtvềtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN, cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc xây dựng pháp luật vềtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN.

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra các thành tựu, hạn chế, thiếu sót, bất cập và nguyên nhân của tình trạngđó.

– Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của các DN ở Việt Nam hiện nay.

– Đề xuất địnhhướng, nêu giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảthi hành pháp luật về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DNở Việt Nam hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

3.1. Đối tượng nghiêncứucủa Luận án là lý luận, các văn bản qui phạm pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềtrách nhiệm BTTHđối vớihành vi gây ONTMN của DN.

3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

– Về nội dung và không gian nghiên cứu: Luận án tập trung phân tích, đánh giá các qui định của pháp luật hiện hành về BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN được qui định trong BLDS năm 2015 và Luật BVMT năm 2020 và các văn bản pháp lý liên quan đến đối tượng là DN. Về thực tiễn thực hiện pháp luật về BTTHđối với hành vi gây ONMTN của DN trong phạm vi cả nước.

– Về phạm vi chủ thể: Chủ thể BTTH đối với hành vi gây ONMTN là doanh nghiệp theo qui định của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

– Về thời gian: Luận án phân tích, đánh giá thực tiễn BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2022.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận là quan điểmcủa chủ

nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về môi trường nhằm xây dựng, giữ gìn và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo tồn các giá trị về môi trường sống của con người. Các vấn đềvềxửlý ônhiễm môi trường, hành vi gây ô nhiễm môi trường, trách nhiệm BTTHđối vớihành vi gâyônhiễm môi trườngđược phân tích trên cơ sở

phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin.

4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trên cơ sở phương pháp luận nói trên, Luậnán sẽsử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

– Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng ở hầu hết các phần của Luận án. Việc sử dụng phương pháp phân tích chủ yếu tại Chương 2 nhằm phân tích các khái niệm, đặc điểm, điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN. Tại Chương 3, phương pháp được sử dụng để phân tích quiđịnh của pháp luật về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTNcủaDN. Từ đó, tác giả đưa ra những lập luận để diễn giải nội dung, mục đích và ý nghĩa của các khái niệm, thuật ngữvà các quiđịnh của pháp luậtvềBTTH đối vớihành vi gây ONTMN của DN. Tại Chương 4, phương pháp được sử dụng để làm rõ các dề xuất giải pháp hoàn thiện các qui định của pháp luật về môi trường nước.

– Phương pháp diễn dịch, qui nạp: Tác giả sử dụng hai phương pháp qui nạp và diễn dịch trong việc đánh giá tình hình nghiên cứu về trách nhiệm BTTHđối với hành vi gây ONMTN của DN (Chương 1), tổng kết và trình bày những khái niệm, thuậtngữmấuchốt liên quantớitrách nhiệm BTTHđốivớihành vi gây ONMTNcủaDNtừnhững phân tíchtrướcđó(Chương 2), đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật (Chương 3).

– Phương pháp so sánh: Việc so sánh được thực hiện chủ yếu tại Chương 2. Cụthể, trên cơ sở phân tích qui định pháp luật các quốc gia về BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN, Luận án sửdụng phương pháp so sánh luật học đểthấysựtương đồng và khác biệt của pháp luật Việt Nam và pháp luật các quốc gia, từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam trong trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật vềBTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN tại Chương 2, Chương 4.

– Phương pháp thống kê: Các số liệu liên quan đến tình hình kinh tế – xã hội tại Việt Nam cũng như các số liệu được nêu trong các Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dântốicáo, của BộTài nguyên và Môi trườngvềviệc thực hiện luật BVMT năm 2014 và tình hình BVMT qua các năm, trong đó có các số liệu tản mản trên các trang cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, của UBND các tỉnh, các bài

viết đưa tin… được tác giả thống kê theo mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm rõ nội dung các qui định pháp luật hiện hành về BTTH đối với hành vi gây ONMTN,đặc biệt là về thực tiễn thi hành pháp luật về BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN được nêu tại Chương 3. Những số liệu được thống kê sẽ làm cơ sở quan trọngđểtác giả đánh giá thực trạng BTTH đối với hành vi gây ONMTN và thực trạng BVMT tạiViệt Nam,từđó chỉra hạn chế, nguyên nhâncủathực trạng vàđềxuất phương hướng hoàn thiện pháp luật tại Chương 4.

– Phương pháp tổng hợp: Những nhận định, kết luận, ý kiến đánh giá sau khi phân tích trong Luận án được sử dụng phương pháp tổng hợp, đặc biệt là kết luận của từng chương và kết luận chung của Luận án đểlàm rõ mục đích của từng nội dung nghiên cứu, đề xuất.

– Phương pháp dựbáo khoa học: Những bất cập trong quiđịnh pháp luật tại Chương 3 và định hướng trong việc hoàn thiện pháp luật tại Chương 4 được tácgiảđưa ra dựa trên thực trạng thực hiện pháp luật và chính sách của Đảng về BVMT.

5. Những điểm mới của Luận án

So với các công trình nghiên cứu trước đây, Luận án có những điểm mới sau:

Thứ nhất, bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN như: chủ thể BTTH, căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH, hình thức trách nhiệm BTTH, các trường hợp được miễn trách nhiệm BTTH, phương pháp xácđịnh thiệt hại đối với chủ thể là DN gây ra.

Thứ hai, Luận án cập nhật các qui định trong Hiến pháp năm 2013 và Luật BVMT năm 2020đểlàm rõ khái niệm pháp luậtvềtrách nhiệm BTTHđốivới hành vi gây ONTMN và nội dung pháp luật về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN do chủ thể là DN thực hiện.

Thứba,từthực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật BTTHđốivới hành vi gây ONMTNcủaDNởViệt Nam giaiđoạn2015-2022, Luận án xây dựng luận cứ và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN ở Việt Nam.

6. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận

Các kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần hệ thống và bổ sung, làm rõ lýluậnvềtrách nhiệm BTTH đốivớihành vi gây ONMTNcủaDN và lý luận vềpháp luật trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN.

6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của Luận án có giá trị tham khảo tại các cơ quan lập pháp, cơquan thi hành pháp luật trong quá trình nghiên cứu, xây dựng chính sách và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONTMN của DN trong thời gian tới; cũng nhưđốivới việc nghiên cứu, giảngdạytạicác trườngđàotạocó chuyên ngành về Luật BVMT. Luận án cũng có giá trị tham khảo đối với với các cơ quan thực tiễn, đặc biệt là các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN, đặc biệt trong vấn đề yêu cầu DN không chỉ BTTH đối với các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại mà còn BTTH để khắc phục ô nhiễm môi trường và đềcao vai tròcủaUBND trong việc thực hiện quyền yêucầuBTTHđối vớiDN gây ONMTN trong thời gian tới theo Luật BVMT năm 2020.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mởđầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, Luận án được kết cầu thành 4 chương, cụ thể là:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành

vi gâyônhiễm môi trườngnướccủadoanh nghiệp và pháp luật vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp.

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CỦA NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu về đề tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gâyô nhiễm môi trường nói chung và gây ONMTN nói riêng đã được thực hiện dưới nhiều góc độ và nhiều cấp độ nghiên cứu khác nhau. Các công trình nghiên cứu đãxây dựng thành công hệ thống lý thuyết, hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh làm cơsởlý luận của việc ban hành, thực hiện và hoàn thiện các quiđịnhpháp luậtđiều chỉnhvấnđềBTTHđốivớihành vi gâyônhiễm môi trường nói chung và gây ONMTN nói riêng. Các công trình nghiêncứuđãđềcậpđếnnhiều khía cạnh khác nhau về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN, cũng như phân tích, so sánh qui định pháp luật các quốc gia về trách nhiệm dân sự về BTTH về môi trường. Các công trìnhđócóthểđượcsắpxếpthành những nhóm sau: (i) các nghiêncứuvềcác vấnđềlý luận chungvềtrách nhiệm BTTHđốivới hành vi gây ONMTN, (ii) các nghiêncứuvềthực trạng pháp luậtvềBTTHđốivớihành vi gây ONMTN, (iii) các nghiêncứuvềthực tiễn thi hành các quiđịnhcủapháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về BTTH đối với hành vi gây ONMTN.

1.1.1. Các nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường nước

1.1.2. Các nghiên cứu lý luận vềpháp luật về bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trườngnước

1.1.3. Các nghiên cứuvềthực tiễn thi hành các quiđịnh của pháp luật vàgiải pháp hoàn thiện pháp luậtvềbồi thường thiệt hại đối vớihành vi gây ô nhiễm môi trường nước.

1.2.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Bên cạnh những kết quả nghiên cứu đã được kế thừa từ các công trình nghiên cứu, những vấn đề sau đây sẽ được tiếp tục được nghiên cứu trong Luận án, cũngđồngthời lànộidung và các công trình nghiêncứutrướcđóchưađềcập, chưa làm rõ, cụ thể:

Một là, làm rõ khái niệm môi trường nước và ô nhiễm môi trường nước. Hiện tại, hầu hết các công trình nghiên cứu, do phạm vi và đối tượng nghiên cứu khác với đềtài Luận án nên chủyếu đềcập khái niệm ô nhiễm môi trường nói chung mà chưa mổ xẻ đầy đủ khái niệm môi trường nước và ô nhiễm môi trường nước.

Hai là, phân tích toàn diện khái niệm, đặc điểm,nội dung của trách nhiệm BTTHđối vớihành vi gây ô nhiễm môi trường nướcdo chủthểlà DN thực hiện. Luận án làm rõ các căn cứphát sinh trách nhiệm BTTH đối vớihành vi gây ONMTN của DN theo qui đinh của Luật BVMT năm 2020, về cách tính thiệt hại vàtrường hợp miễn trách nhiệm BTTH gây ONMTN của DN được cập nhật theo quiđịnh pháp luật hiện hành.

Ba là, phân tích, cập nhật các quiđịnh pháp luật Việt Namvềtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của hệthống qui phạm pháp luậtvềtrách nhiệm BTTHđối với hành vi gây ONMTN của DN để thấy liệu có sự khác biệt so với hành vi gây ONMTN bởi cá nhân.

Bốnlà,đềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềtrách nhiệm BTTHđối với hành vi gây ONMTN của DN, bao gồm định hướng và giải pháp hoàn thiện vàbảođảmthực hiện pháp luậtvềtrách nhiệm BTTHđốivới hành vi gây ONMTN của DN.

37

1.3. Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 1.3.1. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Luận án được xây dựng dựa trên những cơ sở lý thuyết sau đây:

– Lý thuyết bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành

Xuất phát từ tư tưởng quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền tựnhiên của con người đã được pháp luật quốc tếvà Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận (Điều 43). Trong tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về Môi Trường và phát triển năm 1992 (Tuyên bố Rio de Janeiro 1992) đã qui định quyền được sống trong môi trường trong lành, hài hòa với thiên nhiên hay quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền con người. Mặc dù là quyền cơ bản thuộc nhóm thế hệmới nhưng quyền được sống trong môi trường trong lành có mối quan hệ mật thiết với các quyền sống, quyền về sức khỏe, quyền an sinh xã hội. Đảm bảo quyền sống trong môi trường trong lành chính là đảm bảo cho việc môi trường sống không bị ô nhiễm, hoặc khi bị ô nhiễm cần có các qui định của pháp luật, các thiết chế để yêu cầu chủthểthực hiện hành vi vi phạm phải BTTH. Không dừng lại đó, việc bảo đảmquyền được sống trong môi trường trong lành còn là trách nhiệm của các cơquan nhà nước trong đó chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong việc phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, đặc biệt là quyền yêu cầu BTTHđối vớihành vi gây ONMTN luôn mang lại thiệt hại cho môi trường chung mà Nhà nướclà đạidiện cho chủsởhữu là nhân dân có quyền quản lý tài nguyên nước đồng thời có trách nhiệm yêu cầu BTTH khi có hành vi gây ONMTN.

– Lý thuyết về sự phát triển bền vững. Vấn đề phát triển kinh tế với mục tiêu phát triển bền vững là nội dung được các tổ chức quốc tế, khu vực và các quốc gia quan tâm. Với nhận thức “Con người là trung tâm của những mối quan tâmvềsựphát triển lâu dài” được đưa ra trong Tuyên bố Rio de Janeiro 1992 và lời kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật trong báo cáo “Tương lại chung của chúng ta” của Ủy ban Quốc tế về Môi trường và phát triển của Liên hợp quốc với cách hiểu phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Với quan điểm này thì việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm tài

38

nguyên nước và bảo vệ môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển làphát triển bền vững. Một quốc gia có nền kinh tế phát triển bền vững cần dựa trên ba trụ cột là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Trongđóđểbảo vệ môi trường cần quan tâm đến vấn đề xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên nhiên liệu. Từ lý thuyết này sẽ tác động đến cách tiếp cận của pháp luật về BVMT tại các quốc gia, về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường để tạo công cụ răn đe, phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm về BVMT.

– Các học thuyết khoa học môi trườngđược Luận án sử dụng dưới góc độ tiếp cận dựa trên các nguyên tắc cơ bản như: nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP); nguyên tắc phòng ngừa; Học thuyết về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

+ Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) được đề cập lần đầu tiên vào năm 1972 bởi Tổchức Hợp tác và phát triển kinhtếOECD. Nội dung của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) đòi hỏi người gây ô nhiễm phải chi trả các chi phí phát sinh do vấn đề ô nhiễm môi trường mà họ gây ra. Nguyên

tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền buộc nhà sản xuất gây ô nhiễm phải chi trả cho các chi phí môi trường phát sinh do hành vi gây ô nhiễm của họ, từ đó những khoản chi phí này sẽ được phản ánh trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp và được bổsung vào giá thịtrường của các giao dịch kinh tếliên quan. Việc phải chi trảcác khoản chi phí cho vấn đề ô nhiễm môi trường sẽ tạo ra động lực kinh tế cho người gây ô nhiễm và điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm, từ đó làm giảm vấn đề ô nhiễm môi trường.

+ Nguyên tắc phòng ngừa là một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật về bảo vệmôi trường. Phòng ngừa được hiểu là việc chủđộng ngăn chặn nhằm loại bỏnhững nguyên nhân có thểgây ra những rủi ro gây nguy hại đối với môi trường trước khi những rủi ro đó xảyra. Nguyên tắc phòng ngừa lần đầu tiên được nhắc đến một cách gián tiếp tại Tuyên bố Stockholm về môi trường và con người và sau đó được ghi nhận một cách trực tiếp trong Chương 2 Hiến chương Liên Hiệp Quốc về môi trường tự nhiên 1982. Nguyên tắc phòng ngừa cũng xuất hiện trong Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển.

39

+ Học thuyết về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng yêu cầu một cá nhân, tổchức nếu thực hiện hành vi vi phạm gâytổnhại tớitính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác thì cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm phải BTTH. Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH bao gồm: (i) cóhành vi vi phạm pháp luật; (ii) có thiệt hại thực tế xảy ra; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại thực tế; (iv) có lỗi của chủ thể.

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Từ những cơ sở lý thuyết trên, tác giả đặt ra những câu hỏi nghiên cứu sau:

– Về khía cạnh lý luận:

+Thếnào là trách nhiệm BTTHđốivớihành vi gây ONMTN? Các quốc gia trên thế giới đã xây dựng và áp dụng hệ thống pháp luật về BTTH đối với ONMTNđã gợi mở các kinh nghiệm hữu ích gì cho Việt Nam?

Giảthuyết nghiên cứu: Hiện nay có nhiều quan điểmkhác nhau vềkhái niệm môi trường, khái niệm môi trường nước, hành vi vi phạm gây ONMTN vàtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN. Sự khác biệt và thiếu thống nhất này khiến những vấn đề lýluận cơ bản chưa được làm sáng tỏ. Các quốc gia phát triển trên thếgiới đã xây dựng và áp dụng hệthống các qui phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề bồi thường đối với ONMTN phù hợp với điều kiện kinh tế và năng lực quản lý của họ. Từ đó, có một số gợi mở cho Việt Nam.

– Về khía cạnh pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng các quiđịnhcủa pháp luật điều chỉnh BTTH đối với ONMTN do các doanh nghiệp tại Việt Nam:

+ Câuhỏinghiên cứu: Pháp luậtđiềuchỉnh BTTHđốivớihành vi gây ONMTN của các doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm những nội dung gì? Việc thi hành các qui định của pháp luật đã đạt được các kết quả như thế nào?

+ Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật về bảo vệ môi trường nước đã phát triển ởViệt Nam trong từng giai đoạn. Đến nay, Việt Nam đã có một khuôn khổ pháp lý cơbản và hoàn chỉnh để bảo vệ môi trường nước. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý đó còn chứa đựng những điểm mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập và hạn chế. Việc giải quyết yêu cầu BTTHđốivớihành vi gây ONMTNcủacác doanh nghiệptạiViệt Namđãđạt được một số kết quả tích cực nhưng vẫn còn nhiều vấn đề phải giải quyết.

40

– Về khía cạnh hoàn thiện pháp luật và đề xuất giải pháp:

+ Câu hỏi nghiên cứu: Giải pháp cụthểđểhoàn thiện quiđịnhpháp luật vềtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN là gì?

Giả thuyết nghiên cứu: Với những bất cập và hạn chế trong các qui định pháp luật hiện hành và trong kết quả áp dụng các qui định đó trên thực tiễn, đâu là cách tiếp cận, định hướng phù hợp đểhoàn thiện các quiđịnh pháp luậtvềbảo vệmôi trường nước và trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của các doanh nghiệp tại Việt Nam.

41

Kết luận Chương 1

Bảo vệ môi trường không chỉ là yêu cầu của các quốc gia đang phát triển màlà vấn đề toàn cầu. Vì vậy, chủ đề về BVMT và trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN là nội dung khoa học được nhiều nhà nghiên cứu trongnước và nước ngoài quan tâm. Do đề tài giới hạn nghiên cứu trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN tại Việt Nam nên chủ yếu các công trình nghiên cứu liên quanđến đề tài do các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm. Các đề tài do các học giả Việt Nam nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau vềBTTH hayvềBVMT vàBTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường đã đóng góp quý báu cho việc hoàn thiện lý luận vềtrách nhiệm BTTH đốivớihành vi gây ô nhiễm môi trường nói chung và trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN nói riêng, đồng thời là các tài liệu tham khảo có giá trị đối với việc nghiên cứu đề tài Luận án Tiến sĩ mà Nghiên cứu sinh đang triển khai. Nhưng vấn đề ONMTN lại nhận được nhiều sựquan tâm của các nhà học giảnước ngoài, minh chứng qua vụVedan hayvụFormosa. Các đề tài này có nhiều đóng góp góc nhìn của các nhà nghiên cứu về môi trường của nước ngoài về pháp luật Việt Nam, về thực trạng thực hiện pháp luật. Từđó gợi mở hướng đề xuất cho việc hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Đểgóp phần hoàn thiện lý luận vềtrách nhiệm BTTH đốivớihành vi gây ONMTN, việc lựa chọn đềtài “Trách nhiệm bồi thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, tác giảmong muốn sẽgóp phần hệthống lý luận và hoàn thiện pháp luật vềtrách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN của DN ở Việt Nam trong thời gian tới, cũng như nâng cao hiệu quảáp dụng trách nhiệm BTTH đốivớihành vi gây ONMTN cho các cơ quan có thẩm quyền, từ đó nâng cao ý thức pháp luật, ý thức BVMT không chỉ của người dân, mà của các DN và nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước về môi trường.

42

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC CỦA DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM

MÔI TRƯỜNG NƯỚC CỦA DOANH NGHIỆP

2.1. Lý luậnvề trách nhiệm bồi thường thiệt hạiđối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp

2.1.1. Lý luận về hành vi gây ô nhiễm môi trường nước

2.1.1.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường nướcvà hành vi gây ônhiễm môi trường nước

Nước không chỉđóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sựsống của loài người mà còn là một nguồn tài nguyên thiên nhiên đáp ứng các hoạt động kinh tế – xã hội. Dưới góc độpháp luật, nước được nghiên cứu dưới nhiều thuật ngữkhác nhau mà phổ biến nhất là ba thuật ngữ: môi trường nước, tài nguyên nước và nguồn nước. Môi trường nước được tiếp cận dưới thuật ngữ tài nguyên nước là lượng nước trên mộtvùngđãcho hoặc lưu vực, biểu diễn ởdạng nướccóthểkhai thác, bao gồm nước mặtvà nước dưới đất[13]. Nhưng có quan điểmnhìn nhận môi trường nước dưới thuật ngữ nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo cóthể khai thác sử dụng được, bao gồm sông, suối, kênh, rạch, biển, hồ, đầm, ao, các

tầng chứa nước dưới đất, mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác [59], [60]. Trong đềtài này, thuật ngữmôi trường nướcđược sửdụng thống nhất và xuyên suốt để chỉ cùng về các nội dung trên.

Mặc dù đưa ra những khái niệm khác nhau về môi trường nước, song các tác giảđều thống nhất rằng môi trường nước cóthểphân loại loại thành môi trường nước mặt và môi trường nước ngầm (dưới mặt đất) hoặc phân loại thành nhiều môi

trường nước cụ thể như biển, sông, suối, ao, hồ, … vừa có chức năng trong việc duy trì cuộc sống vừa là nguồn khai thác cho các mục đích kinh tếcủa con người. Từnhững quan điểm trên, tác giả đề xuất khái niệm môi trường nước là môi trường mà

43

các cá thể sống trong quá trình tồn tại, phát triển và tương tác qua lại đều chịu sựảnh hưởng và phụ thuộc vào nước.

Mặc dù việc khai thác môi trường nước tạo ra những thành tựu chođời sống kinh tế – xã hội, song cũng đồng thời gây ra những tác hại tiêu cực, ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước, trong đó phải kểđến ONMTN hay ô nhiễm nước. Ônhiễm là tình trạng môi trường bịhủyhoại bằng bụi bẩn và các chất thải độc hại

[44, tr.406]. Còn ô nhiễm môi trường là việc môi trường bịthayđổi tính chất dẫn đến vượt quá các tiêu chuẩn môi trườngđã được quiđịnh. Các tính chất môi trường bị thay đổi bao gồm tính chất lý học, tính chất hóa học, và tính chất sinh học. Môi trường bị coi là ô nhiễm khi sự thay đổi các tính chất vượt quá các chỉ tiêu, thông sốđược qui định trong tiêu chuẩn về môi trường [60, tr.179-180]. Ô nhiễm môi trường bao gồm nhiều dạng, trong đó có ONMTN.

Tại châu Âu, Hiến chương châu Âu về nước qui định rằng: “Ô nhiễm nước làsự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, chođộngvậtnuôi và các loài hoang dã”[128].Dướigóc độnghiên cứu, ONMTN được hiểu là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng tớihoạtđộngsống bình thườngcủacon người, sinh vật,đếnsảnxuất công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản [2, tr.144]. Những định nghĩa trên đã phần nào làm rõ được nội hàm của khái niệm ONMTN, tuy nhiên trong đề tài này, căn cứ vào quan điểm và quiđịnh của pháp luật Việt Nam, cóthểhiểu: ONMTN là hiện tượng biếnđổicác tính chất lý học, hóa học và thành phần sinh học của môi trường nước vượt quá các chỉtiêu, thông số, qui chuẩn kỹ thuật được Nhà nước qui định, gây tác động tiêu cực tới hoạt động bình thường con người và các loài sinh vật sống khác.

ONMTN xảy ra do các nguyên nhân khác nhau, có nguồn gốc từ tự nhiên vànhân tạo. Các chất gây ra ONMTN bao gồmcác chất vô cơ, chất hữu cơ, các hóa chất khác, ô nhiễm vi sinh vật, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm cơ học, ô nhiễm vật lý, ônhiễm phóng xạ. Hiện tượng ONMTN xảy ra khi môi trường nước xuất hiện một sốđặc điểm nhưnước bị tạo màu, gây mùi khó chịu, có độ đục gây ra bởi các chất rắn hòa tan, nhiệtđộcao hơn sovớinhiệtđộtrung bình củamôi trường nước thông

44

thường, chứa chất keo gây ảnhhưởngđến tính chất hóa học của môi trường nước, có độ cứng, độ dẫn điện, độ axit cao. ONMTN có nguồn gốc nhân tạo là việc con người tác động tiêu cực lên môi trường nướcvà tạo rasựô nhiễm.Đâychính làhành vi gây ONMTN. Dưới góc độ khoa học pháp lý, hành vi gây ONMTN là một dạng hành vi pháp lý. Hành vi pháp lý là hành vi thực hiện một sự kiện trong thực tếtheo ý chí của chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Ý chí của chủ thể thực hiện hành vi gây ONMTN sẽ quyết định đến hậu quả mà hành vi đã thực hiện. Mặc dù việc gây ONMTN có trường hợp không phải là hành vi của con người, nhưng Luận ántậptrungchủyếu vềhành vi gây ONMTNcủamộtchủthể xác định là DN nên hành vi gây ONMTNđãthểhiện rõ ý chí của chủ thể thực hiện. Hành vi pháp lý được chia làm hai dạng: hành vi pháp lý hợp pháp và hành vi pháp lý bất hợp pháp. Hành vi gây ONMTN là hành vi pháp lý bất hợp pháp. Từ cách hiểu trên, hành vi gây ONMTNđược diễn giải là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện làm thay đổi các tính chất lý học, hóa học và thành phần sinh học của môi trường nước không phù hợp với tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật được Nhà nước qui định.

2.1.1.2. Đặc điểm của hành vi gây ô nhiễm môi trường nước

Dưới góc độpháp luật, hành vi gây ONMTN là hành vi vi phạm pháp luật (hành vi pháp lý bất hợp pháp). Vì vậy, hành vi gây ONMTN có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, hành vi gây ONMTN là hành vi trái pháp luật, gây ra hậu quả cho môi trường nước nói riêng cũng như con người và các loài sinh vật sống khác. Bảo vệ môi trường, mà cụ thể là bảo vệ môi trường nước, là một trong những chức năng cơ bảnvà quan trọng nhất củanhà nước trong giaiđoạn hiện nay [59, tr.92]. Các Quốc gia trên thế giới đều thể hiện sự quan tâm và nhấn mạnh vai trò, chức năng, nhiệmvụcủa nhà nước trong hoạtđộng giữgìn và bảo vệmôi trường nước trong bối cảnh hiện tượng biến đổi khí hậu ngày càng gây ra những tác động xấu hết sức rõ rệt lên môi trường nước.Đểthực hiện chức năng bảo vệmôi trường nước, nhànước phải ban hành các qui phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường nước. Cụ thể, nhà nước ban hành các qui phạm mệnh lệnh với nội dung nghiêm cấm các hành vi

45

gây ONMTN. Nếu chủ thể nào có hành vi gây ONMTN, chủ thể đó bị coi là đã có hành vi trái pháp luậtvề bảo vệmôi trường nước. Hành vi gây ONMTN là hành vi trái pháp luật do vi phạm qui định của nhà nước và gây ra hậu quả tiêu cực tới môi trường nước, các loài sinh vật sống, và đặc biệt là con người. Do đó, chủ thể vi phạm sẽ chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi gây ONMTN. Trách nhiệm pháp lý có thểlà trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dânsự.

Thứ hai, hành vi gây ONMTN chứa đựng lỗi của chủ thể. Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của một chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của chủthể đó và hậu quả của hành vi đó [59, tr.421]. Liên quan đến hành vi gây ONMTN, lỗi của chủ thể là thái độ của chủ thể đó đối với hành vi gây ONMTN và những hậu quả, thiệt hại của hành vi gây ONMTN. Yếu tố lỗi luôn được đặt ra khi có hành vi trái pháp luật, trong trường hợp này là hành vi gây ONMTN. Nếu một chủ thể gây ONMTN mà có lỗithì chủthểđó phải chịu trách nhiệm pháp lý (trách nhiệm BTTH) đối với hành vi này. Nếu việc thực hiện hành vi mà không có lỗi thìchủ thểkhông phải chịu trách nhiệm BTTH. Trong khoa học pháp lý nói chung, yếu tố lỗi được phânloại thành lỗi cố ý và lỗi vô ý. Đối với hành vi gây ONMTN, không kể

lỗi của chủ thể là lỗi cố ý hay lỗi vô ý, chủ thể có hành vi gây ONMTN phải chịu trách nhiệm BTTH ngay cả khi không có lỗi.

Thứ ba, chủ thể thực hiện hành vi gây ONMTN có trách nhiệm BTTH cho các nạn nhân chịu ảnh hưởng. Trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN là một loại trách nhiệm dân sự, phát sinh khi một chủ thể thực hiện hành vi gây ONMTN, xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủthể khác. Nói cách khác, chủ thể chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi hành vi gây ONMTN có quyền khởi kiện đòi BTTH. Trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN làtrách nhiệm dân sự, không phải trách nhiệm hình sựhay trách nhiệm hành chính. Trách nhiệm hình sựphát sinh khi một chủthểthực hiện hành vi vi phạm gây ONMTN mà hành vi đó bị coi là tội phạm và được qui định trong văn bản pháp luật hình sự có liên quan. Trong khi đó, trách nhiệm hành chính phát sinh khi một chủthểthực hiện hành vi vi phạm gây ONMTN nhưng hành vi đó, mặc dù đã xâm phạm trật tự công và chức năng quản lý của Nhà nước, không bị coi là tội phạm và

46

chỉbịxửlý bởicác chếtài hành chính. Trách nhiệm hình sựvà trách nhiệm hành chính đều là trách nhiệm pháp lý của chủ thể đối với nhà nước khi thực hiện hành vi gây ONMTN. Song, trách nhiệm BTTH cho các nạn nhân chịu ảnhhưởng đối với hành vi gây ONMTN lại là trách nhiệm dân sự, là trách nhiệm của chủ thể thực hiện hành vi gây ONMTN đối với chủ thể chịu thiệt hại từ hành vi đó. Đâylà một đặc điểmquan trọng vềtrách nhiệm pháp lýđối với chủthểcó hành vi gây ONMTN, nhằm phân biệt trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN với các loại trách nhiệm pháp lý khác.

2.1.1.3. Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước.

Ô nhiễm môi trường nước xảy ra bởi nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân nhân tạo, trong đó chủ yếu là nguyên nhân nhân tạo, xuất phát từ hành vi của con người. Đáng chú ý, DN là đối tượng trực tiếp và thường xuyên thực hiện các hành vi gây ONMTN. Các nguyên nhân gây ONMTNbắtnguồntừhoạtđộngkinh doanh, sản xuất của DN, bao gồm:

– Chất thải trong sản xuất công nghiệp: hoạt động sản xuất công nghiệp trải dài trên nhiều lĩnh vực như may mặc, khai mỏ, khai thác khoáng sản. Các hoạt động sản xuất trong các khu công nghiệp đòi hỏi việc sử dụng nhiều loại hóa chất, trong đócó những loại hóa chất gây nguy hại cho môi trường. Nhiều doanh nghiệp, thay vìtuân thủ các tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật về xả thải công nghiệp, đã cố ý xả thải trực tiếp các hóa chất công nghiệp ra môi trường nước, gây nên tình trạng ONMTN nghiêm trọng. Tại Trung Quốc, nơi được mệnh danh là công xưởng của thế giới, sựxuất hiện của hàng nghìn doanh nghiệp nội địa và quốc tế đã khiến môi trường nước tại quốc gia này bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các con sông tại các tỉnh thành lớn như

tỉnh Vân Nam, thành phố Vũ Hán-tỉnh Hồ Bắc, tỉnh An Huy đều bị biến dạng màu của nước, sức khỏe của người dân sinh sống tại các khu vực này cũng chịu ảnh hưởng bởi sựô nhiễm của các dòng sông [30]. Tại Anh, tình trạng ONMTN do hành vi xả thải hóa chất trái phép cũng diễn ra thường xuyên và tạo ra hàng nghìn sựcốONMTNtạiquốc gia này, mặc cho nước Anh đã ban hành những quiđịnh pháp luật cụ thể về bảo vệ môi trường nước [88].

47

– Chất thải trong xây dựng nhằm đô thị hóa: hoạt động xây dựng tại các đô thị lớn trên thế giới có xu hướng gia tăng. Điều này kéo theo những hệ lụy đối với sự trong lành của môi trường nước. Bụi bẩn trong quá trình thi công xây dựng công trình và các loại khoáng sản, hóa chấtđượcsửdụng trong khi xây dựngsẽthấm vào lòngđất,gâyônhiễm mặt nước ngầm. Từ đó, ONMTN có thể lan rộng trên một diện tích rộng lớn.

– Chất thải rắn cũng như hệ thống xử lý nước thải tại các làng nghề: do đặc thù sản xuất, khu vực làng nghề chỉ quan tâm, chú trọng đầu tư vào phát triển sản xuất, nhiều nơi chưa quan tâm thỏa đáng tới vấn đề bảo vệ môi trường. Đặc biệt, do nguồnvốnđầutư cho thiếtbịcông nghệtạicác làng nghề còn thô sơ, ít áp dụng các dây chuyềnsảnxuất và thu gom,xửlý rác thải cũng như xây dựnghệthống xử lý nước thải hiện đại. Bên cạnh đó, việc sản xuất tại các làng nghề ngay trong lòng khu dân cư sinh sống, nên mặt bằng hạn chế dẫn tới các biện pháp xửlý nước thải của các DN tại các làng nghề cũng gặp khó khăn.

2.1.2. Khái niệm và đặc điểmvềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp.

2.1.2.1. Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gâyônhiễm môi trường nước của doanh nghiệp.

Khi thiệt hại xảyra do hành vi trái pháp luật, một bên có quyền yêu cầu đòi BTTH, bên còn lại có nghĩa vụ và trách nhiệm BTTH đối với hành vi trái pháp luật của mình. Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó khi một chủ thể vi phạm nghĩa vụ pháp lý của chủ thể đó và gây tổn hại cho chủ thể khác thìchủthểđó phải bồi thường những tổn thất mà chủthểđó gây ra [41, tr 14-15]. Trách nhiệm BTTH có thể phát sinh từ thỏa thuận giữa các bên hoặc được pháp luật qui định. Trách nhiệm BTTH phát sinhtừthỏa thuận giữa các bên là trách nhiệm BTTH trong hợp đồng. Trong khi đó, trách nhiệm BTTH được quiđịnh bởi pháp luật là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Nói cách khác, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật qui định đối với chủ thể cóhành vi trái pháp luật, xâm phạm tớiquyền và lợi ích hợp pháp của các chủthểkhác. Trách nhiệm BTTH đốivới hành vi gây ONMTN làmộtdạng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Theo đó, trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN

48

là một loại chế tài được áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về môi trường nước, gây ONMTN dẫn tới làm suy giảm chức năng và tính hữu ích của môi trường nước đồng thời gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

Có nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường như“là hình thức trách nhiệm dân sựnhằm buộc bên cóhành vi gây ô nhiễm môi trường, gây ra thiệt hại là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, thiệt hại vềtính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất do hành vi vi phạm của mình gây ra”[57, tr.12]. Cùng với cách hiểu trên có nghiên cứu cũng có chung cách tiếp cận trách nhiệm BTTH do làm ô nhiễm môi trường là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, theo đó “chủ thể (tổ chức, cá nhân hoặc chủ thểkhác) thực hiện hành vi vi phạm pháp luật môi trường làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, gây thiệthại vềtính mạng, sức khoẻ của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác thì phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi trường và bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra” [27].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của Doanh nghiệp theo Pháp Luật Việt Nam hiện nay

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *