VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Với 64 tỉnh, TPTTTW, chính quyền cấp tỉnh ngày càng khẳngđịnh rõ vịtrí và vai tròcủamình,đặcbiệt trongnềnkinh tếthịtrƣờngđịnh hƣớng XHCN. Cùng vớisựchuyển mình của đất nƣớc,các tỉnh, thành phốđãvàđang thể hiện đƣợc vị thế và tiềm năng, tận dụng tối đa nội lực để phát triển. Những cái tên nhƣ Bình Dƣơng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Biên Hoà, Đồng

Nai…đãkhẳng địnhmột sứctrẻvƣơn lên trong thờikỳđổimới. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những tỉnh, thành phố có khá nhiều lợi thế để phát triển

nhƣngdƣờngnhƣ lại có bƣớc tiến chậm hơn trong điều kiện mới. Phải chăng,điều đóđãbộclộrõ nét nhất,đầy đủnhất thực trạngvềmô hình củachính quyền cấp tỉnh nói riêng và chính quyền địaphƣơng nói chungởmột sốnơi kéo dài hàng chục nămcủathờikỳbao cấp đãchƣa theo kịp vớicơchếthị

trƣờng và hội nhập thế giới?

Cùng một mặt bằngvề chế độchính sách, cósự tƣơng đồng vềnguồn lực,lợithế,tạisaođịaphƣơng này làm tốt,địaphƣơng khác làm

chƣatốthoặc không tốt? Có tácgiảđãcho rằng, bàihọcrút ra phải chăngtừtínhtựchủ, năngđộng,sángtạocủa độingũ cánbộlãnhđạo chính quyền địa phƣơng? Ở những nơi làm không tốt, lãnh đạo còn mang nặng tƣtƣởngbao cấp,ỷlại, trôngchờvào ngân sách vàtrợgiúp của cấptrên,mộtsốnơi còn docụcbộđịaphƣơng, mất đoànkết[172, tr.5- 6]. Rõ ràng, trong thời kỳ đổi mới, sự năng động, sáng tạo, linh hoạt của độingũ cánbộlãnhđạonói chung và lãnh đạocấptỉnh nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ cán bộ lãnh đạo, khôngthểkhông chúýđến độingũ cánbộ,công chức địaphƣơng nói chung. Hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền địa phƣơng đến đâu, có đáp ứngđƣợcnhững yêucầucủanềnkinhtếthịtrƣờng địnhhƣớng XHCN hay không,mộtphầnlớnphụthuộc vào độingũ cánbộ,công chức này. Trong khi có những tỉnh, thành phốkhá mạnh dạntrong việc tạo lập môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn, thậm chí có những quy định “vƣợt rào” trong ƣu đãi đốivớicác nhàđầutƣ thì cũng có những tỉnh thiếusứchút đầutƣ. Bình Dƣơng luôn là tỉnh dẫn đầucảnƣớcvềmôi trƣờngđầutƣ và thựctếcũng cho thấy đây là tỉnh cótốc độphát triển mạnh trong khuvựcvà của cả

nƣớc.Vậychính quyền tỉnh Bình Dƣơngđãcó những chính sách, biện pháp gì nhằm thu hút đầu tƣ, xây dựng môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, rộng mở, trong khi một sốtỉnh, thànhphốkhác vẫn chƣa tìm rađƣợchƣớngđi thích hợp trong phát triển kinh tế, phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phƣơng?

Hơn nữa,sựđi lêncủamỗitỉnh, thànhphốcònphụthuộc vào khánhiều những yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau, vào chính quyền địaphƣơng vàcảchính quyền trung ƣơng.Mỗivùng miền,địaphƣơng đềunắm giữnhữngvịtrí then chốtvềkinhtế,chínhtrịxã hội, an ninh quốc phòng tạo nên sức mạnh của quốc gia. Do vậy, bên cạnh chính sách chung cho các tỉnh, thành phố thì trung ƣơng cũng có những chính sách, quy định cụ thể cho những tỉnh, thành phố nắm giữvị trí trọng yếu. Nhƣvậy, trongsựphát triển chungcủa địaphƣơng khôngchỉcómốiliênhệgiữa chính quyềncấptỉnhvớihệthống kinhtế- xãhộicủatỉnh, thành phốmàđócòn là quanhệgiữa trung ƣơngvớichính quyềncấptỉnh, giữa chính quyền các tỉnh, thànhphốvà chính quyềncấptỉnhvớichính quyềncấphuyện,cấpxã. Tuy nhiên, khi nóivềsựphát triểncủatỉnh, thành phố, ngƣời ta bàn đến nhiều hơn vai trò của chính quyền cấp tỉnh.

Cũngcầnphải khẳngđịnhrằng, trong côngcuộc đổimớihiện nay, dù là chính quyềncấptrung ƣơng hayđịaphƣơng, trongmốiquanhệgiữabộmáy chính quyềnvớihệthống kinhtế- xã hội, thì cũngchỉcóvai trò trên những giớihạnnhất định.Kinh tếthịtrƣờng phát triển theo những quy luật tất yếu khách quan nhƣ quy luật giá cả, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Vì vậy, trong cơchếthịtrƣờngđó,nếubiết vậndụng đúng những quy luật căn bản của thị trƣờng, đồng thời khắc phục nhữngđiểmyếu củanó, công cuộc đổimớisẽthành công. Nhànƣớcnói chung và chính quyềncấptỉnh nói riêngchỉđóng vai trò là ngƣời tạomôi trƣờng thuận lợi đểcácchủthểkinhtếtựdohoạt độngtheo khuônkhổpháp luật màkhông thể can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế, quản lý trực tiếp các đơnvịkinhtế. Điềunày cho thấysựkhác biệt, chuyển biến căn bản trong vai tròcủaNhànƣớcnói chung và chính quyềncấptỉnh nói riêng khi đất nƣớc chuyển từ nền kinh tế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN.

Kinh tế thị trƣờng luôn có tính hai mặt. Khả năng kích thích sự phát triểncủacơchếthịtrƣờng làmộtnguyên nhândẫn đếnsựgia tăng các vi phạm pháp luật. Lợi íchcủaNhànƣớc,quyền, lợi íchhợppháp của

các doanh nghiệp, ngƣời lao động, ngƣời tiêu dùng…có thể bị xâm phạm ở nhiềumức độkhác nhau, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Buôn bán hàng

nhập lậu, gianlậnthƣơngmại…diễnra ngàymộtphức tạp, quy mô vàtinh vi hơn. Thậm chí,mộtsốcánbộ,công chức đãcó những hành vi tiếp tay cho các đối tƣợng phạm pháp để trục lợi. Không ít doanh nghiệp đãthừa nhận có thƣơnglƣợngvớicánbộthuếđểgiảm thuế. Cùng với những vi phạm trong quản lýthịtrƣờng là nhữngbấtcậpdo chính nền kinhtếmanglạinhƣ khoảng cách giàu nghèo ngàymộttăng;tệnạnxãhội ngày một phức tạp; các giá trị văn hoá nhƣ lý tƣởng sống, phẩm chất, nhân cách của các tầng lớp nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên đang bịmai một; đạo đức,lốisốngcủamộtbộphận khôngnhỏcán bộ, đảng viên suy thoái…Đây chính là những thách thức của nền kinh tế thịtrƣờng địnhhƣớng XHCN. Giải quyết tốt nhữngvấn đề nàylà một trong những điều kiện cơ bản để CNXH trở thành hiện thực.

ChủtịchHồChí Minhđãtừng nói, CNXH là:”một xã hội không cóngười bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động vàcó quyền lao động” [73, tr.23]. Theo Ngƣời, đó còn là một xã hội công bằng, dân chủ, có quan hệ tốt đẹp giữa ngƣời và ngƣời, các chính sách xã hội đƣợc quan tâm thực hiện,đạo đức,lốisống xã hội phát triển lành mạnh. Vì vậy, khắc phục những khuyết tật củacơchếkinh tếthịtrƣờng cũng là nhằm xây dựng mộtxãhộivăn minh, lành mạnh, đây là trách nhiệmcủacác cấp, các ngành và của mọi tầng lớp nhân dân.

Để nền kinh tế nƣớc ta tiếp tục đạt tốc độtăng trƣởng cao trong khu vực và trênthếgiới,bảnthân kinh tếcác tỉnh, TPTTTW phải thựcsựphát triển, năng động. Sức mạnh nền kinh tế của 64 tỉnh, thành phố sẽ tạo nên sức mạnh kinhtếcủaquốc gia. Nhìn ởmột chừngmựcnhất định,chính quyền trung ƣơng khôngthểlàm thay chính quyền địaphƣơng trong việc phát triển địa

phƣơng.Mỗitỉnh, thànhphốđềucó nhữngthếmạnh riêng. Do đó,chính quyền tỉnh, thànhphốphải đƣara những chính sách phù hợp vớinhữngthếmạnhđó, đồngthời khắc phục đƣợc những khiếm khuyết do cơ chế kinhtế thị trƣờng mang lại trên cơ sở chủ trƣơng, chính sách của trung ƣơng và thực tiễn địa phƣơng.

Xây dựng nhànƣớcpháp quyền XHCNcủadân, do dân và vì dân vớimộtnềnhành chính hiện đại,trong sạch, vững mạnh làmộttrong những nhiệmvụcơbảntrong công cuộc đổimớihiện nayởViệt Nam. Chính quyềncấptỉnh phải làmột“mắtxích”quan trọng, hoạt độngcó hiệuquảtrongmộtbộmáy thống nhất. Xây dựng nhànƣớcpháp quyền vàhộinhập quốctếđãvà đangđặtra những yêucầumới, trongđómối liên hệ giữa các cấp chính quyền cũng cần có sự chuyển đổi phù hợp. Sựphâncấpquản lý cũngcầnmạnh hơnvớiviệc tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho chính quyền địa phƣơng, đặc biệt là chính quyền cấp tỉnh.Trong khiđó,hệthống pháp luậtvềnhiệm vụ,quyềnhạncủachính quyềncấptỉnh nhìn chung hiện nayvẫncònvƣớngmắc, những “chồng chéo”, “lấn sân” nhau trong quản lý cònxảyra.Mộtbộmáy nhànƣớc chỉ hoạt động có hiệu quả khi có một nền tảng pháp luật ổn định, hợp lý.

Từnhững vấn đềtrên cho thấy, việc nghiên cứu, tìm hiểu vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong điều kiện đất nƣớc chuyển mình theo nềnkinhtếthị trƣờng định hƣớng XHCN là nhiệmvụlớn đặt ra. Những bài học sau hai mƣơi năm đổimớitrong hoạt độngquản lýcủachính quyền cấp tỉnh cũng nhƣ những giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao vai tròcủacấp chính quyền này hiện nay cũng cầnphải đƣợcnghiêncứumột cách nghiêm túc vàtoàn diện.

Chính vì vậy, tácgiảđãchọn vấn đề“VAI TRÒCỦACHÍNH QUYỀN CẤPTỈNH TRONG NỀN KINHTẾTHỊTRƢỜNGĐỊNHHƢỚNGXHCNỞ VIỆT NAM HIỆN NAY”làm đề tài nghiên cứu luận án của mình.

VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2. Tình hình nghiên cứu

3. Phạm vi nghiên cứu

Bàn về chính quyền cấp tỉnh là một đề tài tƣơng đối rộng. Vì vậy, trong khuônkhổmột luận án, chúng tôisẽchỉtập trungchủyếuvào việc nghiên cứuvai tròcủachính quyền cấp tỉnh,cụthểlà vai tròcủaHĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môncủaUBND cấp tỉnh trong nền kinhtế thị trƣờngđịnhhƣớngXHCN ở Việt Nam hiện nay.

4 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án

Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận và quá trình hiện thực hoá vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớngXHCN hiện nayởnƣớcta vớinhững kết quảđạt đƣợcvà chƣa đạt đƣợctrƣớcyêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, luận án hƣớng tới mục tiêu

đƣa ra đƣợc các giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tồn tại và phát huy vai tròcủa chính quyền cấp tỉnh trongthời kỳ đổi mới.

Thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ của luận án là:

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về kinhtế thị trƣờngvà vai tròcủa chính quyền cấp tỉnh trong nền kinhtế thị trƣờngđịnh hƣớngXHCN, tìm hiểu những thay đổi trong vai trò của chính quyền cấp tỉnh từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tếthịtrƣờng định hƣớngXHCN; làm rõnhững khái niệmvềmặt lý luận có liên quanđếnluận án nhƣ khái niệm vai

trò, phân biệt vai trò với vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn…

– Đánh giá quá trình hiện thực hoá vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong thực tiễn nền kinhtếthịtrƣờngđịnhhƣớngXHCN,từđóchỉra những mặt còn tồn tại và những nguyên nhân chủ yếu;

– Trên cơsởđó,luận án nêu ra một sốgiải pháp nhằm phát huy vai tròcủa chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN hiện nay ở Việt Nam.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Luận án đƣợcthực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luậncủachủnghĩa Mác – Lênin,đólà phƣơng pháp duyvậtbiện chứng và duyvậtlịch sử.

18

Điềunày giúp cho tác giả luận án có cách tƣ duy biện chứng, lôgíc, khách quan.Đồngthời,đểthực hiện các nhiệmvụđặtra, luận án cósửdụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm phƣơng pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá, điều tra xãhộihọc, khảo sát thựctế.Tác giảsửdụng phƣơng pháp so sánh trong việc tìm hiểu những khác biệt, chuyển biến căn bản trong vai trò của chính quyền cấp tỉnh khi đất nƣớc chuyểntừnềnkinhtếbao cấp,kếhoạch hóatậptrung sangnềnkinhtếthịtrƣờngđịnhhƣớngXHCN; trong việc so sánhvớichính quyền các tỉnh, thànhphốcủacácnƣớc;so sánh giữa chính quyềncấptỉnh với

chính quyềncấphuyện vàcấpxã…Phƣơngpháp phân tích, tổng hợp,đánh giá cũng đƣợcsửdụng trong luận án nhằm làm sángtỏvềmặtlýluận và thực tiễn vai tròcủachính quyềncấptỉnh trongnềnkinhtếthịtrƣờng địnhhƣớngXHCN,từđóchỉrađƣợcnhữngkếtquảđạt đƣợcvàchƣa đạt đƣợccủachính quyềncấptỉnhtrƣớcyêucầucủakinhtếthị

trƣờng. Phƣơng pháp điềutra xãhộihọc, khảo sát thựctế,gắnlý luận vớithực tiễn cũng đƣợc áp dụng trong luận án nhằm tìm hiểu thực trạng thực hiện vai tròcủachính quyềncấptỉnh trongnềnkinhtếthịtrƣờng địnhhƣớngXHCN.Vớicác phƣơng pháp này,luận án đƣợcnghiên cứu dựa trên các số liệu thực tế khá phong phú và có độ tin cậy.

6. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của luận án

Luận ánsẽgóp thêm những luận cứkhoahọccũng nhƣ những kinh nghiệm thực tiễn nhằm phát huy vai tròcủachính quyền cấp tỉnh trong nền kinhtế thị trƣờngđịnhhƣớngXHCN. Cụ thể:

– Luận án tập trung làm rõvềmặt lý luận và thực tiễn vai trò của chính quyền cấp tỉnh gắn với kinhtế thị trƣờngđịnh hƣớng XHCN, trongđóchỉ rõnhững chuyển biến cănbảntrong vai tròcủachính quyền cấp tỉnh khiđất

19

nƣớc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tếthị trƣờngđịnhhƣớngXHCN.

– Từ những đánh giá về các kết quả đạt đƣợc và chƣa đạt đƣợc trong quá trình hiện thực hoá vai tròcủachính quyềncấptỉnhtrƣớccác yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, luận án đƣa ramột sốgiải pháp nhằm khắc phụctồntạivà phát huy vai tròcủachính quyền cấptỉnh trong thờikỳđổimới, góp phầngiữvữngđịnhhƣớngXHCN

nhƣ phân cấp quản lý phù hợp với điềukiện,khảnăngcủamỗicấp chính quyền, với thực tiễn của mỗi khu vực, mỗi vùng lãnh thổ, trong đócó vấn đềphân cấp mạnh hơn cho chính quyền cấp tỉnh, công việc nào chính quyền cấp tỉnh làm tốt hơn, thích hợp hơn thì nên giao cho cấp chính quyền đó; nângcao nănglựccạnh tranh cấp tỉnh, trongđóchú trọng việc tạo lập và bảo môi

trƣờng thuậnlợicho cácchủthểkinh tế,giải quyết tình trạng quy hoạch “treo”; đổi mới công tác tổ chức – nhân sự của chính quyền cấp tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trƣờng, trong đó đáng chú ý là việc thành

lập Uỷ ban phát triển vùng…

Vớinhững kết quảđạt đƣợc,luận án cóthểđƣợcsửdụng làm tài liệu tham khảo đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm luật, nhà quản lý và các nghiên cứu viên,họcviên tronghệthống các cơsởnghiêncứuvàđào tạo.

7. Kết cấu luận án

Kếtcấucủaluận án đƣợcchia làm các phần nhƣ sau: ngoài phầnmởđầu, kết luận, luận án đƣợc chia thành ba chƣơng:

Chương 1: NHỮNG THAYĐỔICƠBẢNTRONG VAI TRÒCỦACHÍNH

QUYỀNCẤPTỈNH KHIĐẤTNƢỚCCHUYỂN SANG NỀN KINHTẾTHỊTRƢỜNGĐỊNHHƢỚNGXHCN

20

Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒCỦACHÍNH QUYỀNCẤPTỈNH TRONG NỀN KINHTẾTHỊTRƢỜNGĐỊNHHƢỚNGXHCNỞ VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP KHẮC PHỤCTỒNTẠI VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINHTẾTHỊTRƢỜNGĐỊNHHƢỚNG XHCNỞ VIỆT

NAM HIỆN NAY

Chương 1

NHỮNG THAYĐỔICƠBẢNTRONG VAI TRÒCỦACHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH KHIĐẤTNƢỚCCHUYỂN SANG NỀN KINHTẾ

THỊTRƢỜNGĐỊNHHƢỚNGXHCN

1.1. Kinhtếthịtrƣờng và vai trò của Nhànƣớctrongnềnkinhtếthị

trƣờng định hƣớng XHCN

1.1.1. Kinh tế thị trường

Kinh tếthịtrƣờng là mô hình kinh tếmàởđócác quan hệkinh tếđều

đƣợcthực hiện trênthịtrƣờng, thông qua quá trình trao đổimua bán [16, tr. 233]. Quan hệhàng hoá tiềntệphát triển đếnmộttrình độnhất định sẽđạtđến kinh tế thị trƣờng. Kinh tế thị trƣờng là trình độ phát triển cao của kinhtếhàng hoá, trong đótoànbộcácyếutố“ đầuvào”và“ đầura”củasảnxuất đềuthông quathịtrƣờng.Thịtrƣờng là tổngthểcác quanhệthực hiện hàng hoá, là nơi diễn ra quá trình trao đổi, thoả thuận giữa ngƣời mua và ngƣời bán

21

nhằm đi tới thống nhất về giá cả và số lƣợng hàng hoá, dịch vụ đƣợc mua bán. Thịtrƣờng cũng cóthểđƣợchiểu là bất kỳkhung cảnh nào trongđódiễn ra việc mua và bán các loại hàng hoá và dịch vụ [128, tr 163]. Thị trƣờng ngày càng phát triển đa dạng theo xu hƣớng phát triển chung của nền sản xuất hàng hoá. Với sự tiến bộ của thƣơngmại điện tửvà công nghệ thông tin ngày nay thì không gian của thị trƣờng là vô tận.

Trong những điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau, sự phát triển của kinh tế hàng hoá chịu sự tác động của các quan hệ xã hội nhất định hình thành nên các chế độkinh tế – xã hội khác nhau. Do đó, kinh tế hàng hoá không phải làsản phẩm củamột chế độkinh tế – xã hội nào đó mà nó là sản phẩm của một quá trình phát triểncủalựclƣợngsảnxuất trong xãhộiloài ngƣời, nó xuất hiện và tồn tại trong nhiều phƣơng thức xã hội và đến trìnhđộcao hơn đólàkinh tế thị trƣờng.

Nền kinh tế thị trƣờng có những quy luật khách quan, nó đòi hỏi các chủthể khi tham gia vào nền kinh tế này phải tuân thủ những quy luật đó. Những đặc trƣng chung của kinhtế thị trƣờnglà:

– Các chủ thể kinh tế có tínhđộc lập,tự chủ cao; – Giá cả mặt hàng do thị trƣờng quyết định;

– Nền kinh tế vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trƣờng;

– Nền kinhtế thị trƣờngtrong xã hội hiện đại có sự điều tiết của nhà nƣớc.

ThếkỷXX đãchứng kiến cuộc đua tranh giữa hai mô hình kinh tế:môhình kếhoạch hoá tập trung và mô hình kinh tếthịtrƣờng. Tuy nhiên, vào những năm cuối thập niên 80,đầu thập niên 90 của thế kỷ XX thì câu trả lời cho cuộc đua tranh ấy đã rõ. Mô hình kế hoạch hoá tập trung đã bộc lộ những khiếm khuyết, trong đó đặc biệt là sự tụt hậu về tăng trƣởng kinhtế, từ đókéo theo những vấn đềvềphúclợixãhộicũng giảm. Nhiều nƣớctheo mô hình

22

kinh tế này đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng và cuối cùng là sự tan rã, xụp đổcủacảmột chếđộchính trị. Trong khiđó,mô hình kinhtếthịtrƣờngởnhiều nƣớc của Tây Âu, Bắc Mỹ, lan sang cả lục địa Châu Á đã gặt hái đƣợc nhiều thành công trong phát triển kinhtế.Ngay từ những năm 1960, các nền kinh tếcủacácnƣớcthuộc ĐôngÁvà Đông NamÁđãtăng trƣởng nhanh gấp hai lần so với các nƣớc còn lại trong khu vực và gấp khoảng ba lần so với các nƣớc thuộc tiểu khu vực Sahara (Châu Phi) [122].

Câu hỏi đặt ra là, kinhtế thị trƣờngcó những điểm khác biệt căn bản gìso với kinh tế kế hoạch hoá tập trung mà lại dẫn đến những kết quả khác nhau

nhƣ vậy?

Thứnhất,nếunhƣ trongnềnkinhtếkếhoạch hoá tập trung,thịtrƣờng không có vai trò phân phối các nguồnlựcsảnxuất vàchỉcó vai trò rất nhỏtrong việc phân phối cácsảnphẩm tiêu dùngvớitƣ cách là một côngcụbổsung cho kếhoạch thì trong nền kinh tếthịtrƣờng, các quy luật khách quan của kinhtếthịtrƣờngđƣợcxem là cơsởquan trọng trong phát triển. Tất nhiên, nhànƣớccũng có những tác động tích cựctớinền kinh tếnày nhằm đảm bảo địnhhƣớngphát triển.

Thứhai, trongnềnkinhtếkếhoạch hoá tập trung, nhànƣớctrực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế, các đơn vị kinhtế bằngcác kế hoạch, chỉ tiêu. Trong khi đó, ởnềnkinh tế thị trƣờng, nhà nƣớchạn chếviệc can thiệp trực tiếp vào hoạt độngsảnxuất củacác cơsởkinhtếđểchuyển sang thực hiện chức năng điều chỉnh thông qua các công cụ quản lý vĩ mô.

Thứ ba,nếunhƣ trong nềnkinhtế kếhoạch hoá tập trung, vai trò và cơchế hoạt động của một số thành phần kinh tế (nhƣ thành phần kinh tế tƣ nhân,

tƣbảnnhànƣớc,tƣbảncó vốn đầu tƣnƣớcngoài…) khôngđƣợcthừa nhận thì trong nền kinh tế thị trƣờng, mọi thành phần kinh tế đã đƣợc thừa nhận và

23

tạo điềukiện đểphát triển. Chính điềunày đãtạo một nguồn lực đáng kểnhằm kích thích mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng sẵn có trong xã hội.

Thứtư,nềnkinhtếthịtrƣờng làmộtnền kinh tếmởcửa,hộinhập vàtham gia vào phân công lao động khu vực và quốc tế.

Có thể thấy, kinh tế thị trƣờng mangđến nhữngthời cơ, vận hội lớn cho các quốc gia khilựachọn mô hình kinh tếnày. Kinh tếthịtrƣờng góp phần giải phóng mọinăng lựcsảnxuất, kinh doanh, kích thích sản xuất và tiêu dùng,từđóthúc đẩykinhtếtăng trƣởng nhanh; góp phần vào việcmởrộng thị trƣờng, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao vốn, khoa học công nghệ, kỹnăng quản lý đồng thời tạo ra nhiều cơhội đầu tƣmới, kể cả trong các quan hệ thƣơng mại quốc tế.

Tuy nhiên, kinh tếthịtrƣờng không chỉtạo ra những cơhộimà còn manglạinhiều thách thức đốivớicácnƣớc,nhất là nhữngnƣớc đang phát triển. Kinhtếthịtrƣờng làm tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội. Trong khi một bộ phận dân cƣ, với ƣu thế về vốn, công nghệ vàtrìnhđộquản lý kinh tế, đã giành đƣợc những khoản lợi nhuận lớn, thì một bộphận không nhỏ khác lại phải chịu rủi ro. Mặt khác, việc kích thích tối đa hoạt động củacácchủthểkinh tế,hƣớngđếnmụctiêu tối đa hoálợinhuận, tối thiểu hoá chi phí rất có thể sẽ dẫn tới những hiện tƣợng cạnh tranh không lành mạnh. Vấn đềônhiễm môi trƣờng,cạnkiệt nguồn tài nguyên cũng là một thách thức của cơ chế kinh tế thị trƣờng.

Tất cảnhững khuyết tật đóđềudo cơchếthịtrƣờng sinh ra, song bản thân cơchếthịtrƣờng lạikhôngtựkhắc phục đƣợc.Vì vậy,cầnphải cónhững tác động từ bên ngoài đến cơ chế thị trƣờng. Ở đây, chính là vai trò của nhà nƣớc.

24

Có hai hình thái kinhtế thị trƣờng chủyếu: kinh tế thị trƣờng TBCN vàkinh tế thị trƣờng XHCN. Nền tảng của kinh tế thị trƣờng TBCN là chế độ tƣhữuvềtƣ liệu sản xuất. Trong khi đó, kinhtế thịtrƣờng XHCN lại đƣợc tạo dựngtrên cơ sở chế độcông hữu về tƣ liệu sản xuất.

Đạihội đạibiểu toàn quốclầnthứVI (1986) của Đảngta đãđánh dấu quá trình đổi mới của đất nƣớc với sự thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu mà nay là kinh tế thị trƣờngđịnhhƣớngXHCN. Kinh tế thị trƣờngđịnh hƣớngXHCN là một kiểu tổ chức nền kinh tế trongthời kỳquáđộđi lên CNXH vậnhành theo các quy luật khách quan của nền kinh tếthị trƣờng, các quy luật của thời kỳ quá độ, đồng thời có sự quản lý nhà nƣớc, nhằm đạtmụctiêu dân giàu,nƣớcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Kinhtế thị trƣờngđịnhhƣớngXHCN có một số nội dung cơ bản:

– Mục đíchcủanềnkinhtếthịtrƣờngđịnhhƣớngXHCN là phát triển lực lƣợngsản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của CNXH, nâng cao đờisống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. Phát triển lựclƣợng sản xuấthiện đạigắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trên ba mặt: sở hữu, quản lý, phân phối.

– Có nhiều hình thứcsởhữu, nhiều thành phần kinhtếtrongđókinhtếnhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nƣớc cùng với kinh tế tập thể ngày càngtrởthànhnềntảng vững chắc.Chếđộsởhữucông cộng (công hữu)về

tƣ liệu sản xuất chủyếu sẽ từngbƣớc đƣợc xáclập và sẽ chiếm ƣu thế tuyệt đối khi CNXH xây dựng xong về cơ bản.

– Cósựquản lýcủaNhànƣớcXHCN bằng pháp luật, chiếnlƣợc,quy hoạch,kếhoạch, chính sách. Nhànƣớc áp dụng các hình thức kinhtếvà

25

phƣơng pháp quản lý kinhtế thị trƣờngđể kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực.

– Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồngthời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn nhân lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội khác.

– Tăng trƣởng kinhtếgắn liềnvới bảo đảm tiến bộvà công bằng xã hội ngay trong từng bƣớc phát triển.

– Tăng trƣởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá và giáo dục, xây dựng nềnvăn hoá tiên tiến,đậm đàbảnsắcdân tộc, nâng cao dân trí, giáo dụcvàđào tạo con ngƣời, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho đất nƣớc [105, tr. 183-184].

1.1.2. Vai trò của Nhànướctrong nềnkinhtếthịtrường địnhhướng XHCN

Vai trò (role) đƣợc hiểu là “chức năng, tác dụng, ảnh hưởng của một cơ

quan, cá nhân…trong sự vận động, phát triển chung” [41, tr. 901]. Theo Từđiển Bách khoa minh hoạ của Mỹ (The American Heritage Illustrated Encyclopedic Dictionary), vai trò“chỉcách xửsựđượctrông đợi đốivới những cá nhân hoặc những nhóm người trong xã hội mà được quyết định bởi vịtrí xã hội, giới tính hay những nhân tốkhác, đócũng cóthểlàchỉchức năng”[205, tr.14553]. Còn theo BộBách khoaThếgiớimớicủaWebster

(Webster’s New World Encyclopedia),“trong khoa họcxã hội, vai tròchỉnhững phần việc, những nhiệm vụ của một cá nhân nắm giữ trong xã hội,đảm bảo sự vận hành của hệ thống xã hội hoặc phần trách nhiệm đối với cá nhân khác”[208, tr.955]. Nhƣ vậy, vai trò cần đƣợchiểu là những phần việc cơbản, trọng trách chủ yếu mà một chủ thể nắm giữ, nó phản ánh đặc trƣng bản

26

chất của chủ thể, mang tính khái quát và bao trùm, nó thể hiện tầm quan trọng của chủ thể trong mối tƣơng quan so sánh với các chủ thể khác.

Vai trò, chức năng, nhiệmvụcómốiquanhệmật thiết vớinhau nhƣng giữa chúng cũng có những điểm khác biệt. Nhiệm vụ là những công việc phải làm, phải gánh vác [202, tr. 1251]. Để thể hiện vai trò của mình, một chủ thểcó thể phải thực hiện một hoặc rất nhiều nhiệm vụ khác nhau. Nhiệm vụ chính là sự cụ thểhoá, thực tiễn hoá vai trò của chủ thể. Quyềnhạnlà quyền theo

cƣơng vị, chức vụ cho phép [202, tr. 1384]. Chức năng là tác dụng hoặc đặc

trƣng củamột ngƣờinào đó,mộtcái gìđó[138, tr. 201]. Nhƣ vậy,nếunhƣnhiệm vụ là những công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định,mang tính cụthểthì chức năng cần đƣợcxem là một khái niệm rộng hơn, là nhiệm vụ tổng quát, thƣờng xuyên, thể hiện một hoặc một số đặc

trƣng căn bản của chủ thể. Vai trò nhấn mạnh đến trọng trách mà chủ thể nắm giữ, đến tầmquan trọng củachủthể, nó mang tính khái quát, bao trùm,thểhiện bản chất chủ thể, nó phân biệt giữa chủ thể nàyvới chủthể khác. Chức năng nhấn mạnh vềhành động còn vai trò chú trọng về ảnh hƣởng, tác dụng của chủ thể nhiều hơn. Vai trò đƣợc thực hiện qua một hoặc một số chức năng và các chức năng này lại đƣợc thể hiện bởi các nhiệm vụ cụ thể.

Vai trò có sự khác biệt với vị trí. Vị trí là “chỗ được xác định dành riêng cho người nào, vật nào đó” [193, tr. 1075]. Vị trí cũng thể hiện địa vị trongtổchức [193, tr. 1076]. Nhƣ vậy, nếu nhƣ vai trò chỉ những trọng trách mà chủthể nắm giữ, thể hiện tầm quan trọng, ảnhhƣởngcủa chủ thể trong mối tƣơng quan so sánhvớicácchủthểkhác thìvịtrílạithểhiệnchỗđứng,vịthếcủa chủ thể trong một hệ thống. Vị trí sẽ thể hiện vai trò của chủ thể và ngƣợc lại, vai trò sẽ củng cố vị trí của chủ thể.

Ngaytừkhi rađời,nhànƣớc đãcó vai trò nhất định đốivới đờisống kinh tế – xãhội củamột quốc gia. Vai tròcủanhànƣớc lànhững trọng trách

27

màhệthống các cơ quan nhànƣớcnắmgiữ, nóthểhiệntầmquan trọng,sựảnhhƣởng của các cơ quan này đến đối tƣợngquản lý.Lịch sử đã từngxuất hiện khá nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vai trò của nhà nƣớc. Năm 1690, John Lock – nhà triết học nổi tiếng – đã xuất bản cuốn sách “Hai chuyên luận vềchính quyền”(Two Treaties of Government). Cuốn sách này đãmở

đƣờngcho một chính thểđại nghị thay thếchính thểchuyên chế. Theo đó, chính quyền chuyên chế vô hạn cần phải đƣợc thay thế bằng một chính quyền can thiệp có giới hạn. Theo J.Lock, quyền công dânchỉlàmộtphần của quyền con ngƣời, vì bản tính con ngƣời có trƣớc bản tính công dân. Do đó, xãhội tự nhiên của con ngƣời cũng là có trƣớc, vô hạn, còn xã hội chính trị là xãhội có hạn. Nhànƣớclà do conngƣời tổ chức đểnhằm bảovệnhững quyền củacon ngƣời. Do vậy, có những quyền đƣợctrao cho nhànƣớcvà cũng cónhững quyền đƣợc nhân dân giữ lại [69, tr. 148-149]. Không chỉ có J.Lock màJ.J. Rouseau – một trong những nhà tƣtƣởngvĩđạinhất củaPháp – cũngđãđề cập đến vấn đề hạn chế quyền lực nhà nƣớc. Tác phẩm “ Khế ƣớc xã hội”

(The Social Contract) xuấtbảnnăm 1762đãđƣợcmởđầulà:“Con người được sinh ra một cách tự do, nhưng khắp nơi lại bị xiềng xích”[68, tr. 58]. Tựdo tự nhiên của con ngƣời bị hạn chế bởi các thế lực cá nhân, tự do công dân bị hạn chế chung bởi ý chí của nhà cầm quyền. Từ đó, ông đi tới tƣ tƣởng rất tiến bộvề chủ quyền của nhân dân, nó không thể là của một cá nhân nào đómà quyền lực đƣợc tiến hành bởi ý chí chung hay ý chí của đa số không phân chia. Đó là nguồn gốc của sự hạn chế quyền lực nhà nƣớc [68, tr. 58].

Trái vớinhững quanđiểmvềgiớihạnquyềnlựcnhànƣớcthì cũng xuất hiện những quanđiểmcho rằngsựcan thiệpcủanhànƣớclà tất yếu, là liều thuốcvạnnăng có thể chữatrịmọi căn bệnh của nền kinh tế

nhƣ sự mất cân đối ngân sách, đầu tƣ kém hiệu quả…

28

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã thấy rõ đƣợc sự tất yếu cần phải có sự điều chỉnh của nhà nƣớc. Nhà nƣớc là một yếu tố của kiến trúc

thƣợng tầng, yếu tố này luôn có sự tác động, ảnhhƣởngtrở lại đối với kinhtếvới tƣ cách làmộtyếu tốcủa cơsởhạtầng. Thậm chí,sựtác độngcủanhà

nƣớccóthểlà“cứucánh”cho kinh tếhoặcngƣợclại.Nếunhận thức đƣợc quy luật vận độngkhách quancủakinhtếthìsựđiềuchỉnhcủanhànƣớcsẽcó tác dụng thúc động nền kinh tế phát triển, ngƣợc lại, điều chỉnh thuần tuý, chủquan, nóngvội củanhànƣớc sẽ có thể lànhững trởlựclớn đốivới kinh tế, đi đến khủng hoảnglà điềukhó tránh khỏi. Thực tiễn của Liên Xô, Đông Âu trong giai đoạn cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX là một minh chứng.

Sựđiều tiết củanhànƣớclà tất yếu, tuy nhiên điềutiết ởmức độnào, giới hạn đến đâu thì trong từng giai đoạn khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, sựđiềutiết đócũng mang nhữngsắcthái khác nhau. Theo giáo sƣ Hoàng Văn Hảo,đếnnay,sựđiềutiết củanhànƣớc đƣợckhái quát theo hai vấn đềcơbản:

Một là, nhà nƣớc không rút lui khỏi sân khấu kinh tế mà bản thân kinhtếthịtrƣờngđƣợc đòi hỏi bổsung bằngsự“điều tiết củanhànƣớc”.Có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhƣ “điều tiết năngđộngcủa nhà nƣớc”, “điều tiết cógiới hạn”, “sự can thiệp của nhà nƣớc trên nguyên tắc kinhtế thị trƣờng”… đểthể hiện mức độtác động của nhà nƣớc vào đời sống kinh tế – xã hội.

Hai là, vai tròcủanhànƣớcngày càng tăng lên do tác độngcủanhững yếu tố mới. Trƣớc ngƣỡng cửa của thế kỷ XXI, sự cạnh tranh kinh tế quốc tếđã trở thành nhân tố nội tại quan trọng nhất của mỗi quốc gia [60, tr. 21]. Vìvậy, yêu cầu cần có sự điều tiết, quản lý của nhà nƣớc là một tất yếu. Sự vững mạnh, vƣơn lên trong kinhtế củamột quốc gia là một minh chứng cho năng lực, hiệu quả hoạt động của bản thân nhà nƣớc đó và ngƣợc lại.

29

Trong nền kinh tế thị trƣờng, sự điều tiết của nhà nƣớc vẫn đóng vai tròcơ bản, dù rằng nền kinhtế đócũng phải tuân theo những quy luật khách quan vốn có. Vấn đề đặt ra là phƣơng thức quản lý, điều tiết của nhà nƣớc nhƣ thếnào đểcóthểvậndụng đầy đủnhững quy luật khách quanấy.Theo giáo sƣ

Lƣơng Xuân Quỳ, vấn đề đặt ra không chỉ đơn thuần là sự lựa chọn giữa nhà

nƣớc hay thị trƣờng. Mối quan tâm hàng đầu ở đây là xác định sự phân công hợp lý giữa nhànƣớcvàthịtrƣờng nhằm khai thác triệt đểnhữnglợithế, đồng thời tránh hoặc giảm thiểu những thất bại của cả nhà nƣớc lẫn thị trƣờng [153, tr. 29]. Trong công trình nghiên cứu có nhan đề “ Toàn cầu hoá và nhànước:Những cơ hội mới cho APEC trong hợp tác kinh tế”,giáo sƣ Pitman Potter, Viện trƣởng Viện nghiên cứuChâu Á,ĐạihọcBritish Columbia, Canadađãthừa nhận rằng “Gần đây, vai trò của nhànướctrong việc điều hành các quan hệ kinh tế ngày càng bị thách thức mạnh mẽ hơn”, nhƣng ông vẫn khẳng định nhà nƣớc tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong toàn cầu hoá, tựdo hoá và thƣơng mại hoá. Theo ông “Nhànướcvẫn làmộtcông cụhữu hiệu trong việc điều hoà sự đa dạng các lợi ích gồm những vấn đề từ quychếthịtrường và tài chính đến sựan toàn củaviệc làm, chất lượng môi trường, mạng lưới an sinh xã hội và đảm bảo rằng việc giải quyết những vấn đề đósẽtăng cường sự thịnh vượng”[209, tr.1-4].

Giáo sƣ Đoàn Trọng Truyến thì cho rằng, nền kinh tế hàng hoá và cơ chếthị trƣờng không làm giảm nhẹ sự quản lý của nhà nƣớc, vô luận là nhà nƣớc

tƣ bản hay nhà nƣớc XHCN. Hơn nữa, chúng ta xây dựng cơ cấu kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và áp dụng cơ chế thị trƣờng theo địnhhƣớng XHCN, mở rộng quan hệ quốc tế thì càng đòi hỏi sự quản lý của nhà nƣớc trong giai đoạn quá độlên CNXH. Vấn đề là phƣơng thức quản lý của nhà nƣớc nhƣ thếnào đểcóthểvận dụng đầy đủcác quy luật và yêu cầukhách quan củabản thân nềnkinh tếthịtrƣờng, nhƣng lạiphải bảo đảm định hƣớngXHCN,

30

không đểcho nềnkinh tếvận độngmộtcáchtựphát đi theo con đƣờng TBCN.Nềnkinhtếvận độngtheo cơchếthịtrƣờngcầnthựcsựdânchủ

nhƣng cũng có trậttựtronghệthống chínhtrịvàchếđộkinh tếđƣợcHiến pháp và pháp luật quyđịnh[175, tr. 62- 63].

Theo chúng tôi, nhànƣớcvẫnluôn đóng vai trò quan trọng. Tất nhiên, vai tròđóđƣợcthểhiện khác nhau trongnềnkinhtếkếhoạch hóa tập trung và nền kinhtế thị trƣờngđịnhhƣớngXHCN. .

Sau khi đất nƣớc thống nhất (4/1975), Việt Nam bƣớc sang một giaiđoạn phát triển mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi quan trọng thìcông cuộc xây dựng CNXH sau chiến tranh cũng gặp không ít khó khăn. Cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm đãđểlạinhữnghậuquảnặngnềtrên cácmặtkinhtế,văn hoá, xã hội.Nềnkinhtếtrong tình trạngsảnxuất nhỏ,yếukém,lạchậu.Bộmáy quản lý cồng kềnh, kém hiệu quả, trình độcánbộthấp. Trong những năm đầucảnƣớcthống nhất, chúng tađãquá nhấn mạnhđếnthuận lợi, khônglƣờnghếtnhững khó khăn, vì vậy đãphạm sai lầm chủquan, nóngvộitrongcảitạovà xây dựng CNXH.Điều 33 Hiến pháp 1980 đã khẳng định: “Nhà nước lãnh đạo nền kinh tếquốc dân theokếhoạch thống nhất”[132, tr87]. NhànƣớcthiếtlậpvàcủngcốchếđộsởhữuXHCNvềtƣ liệusảnxuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộcsởhữutoàn dân và thành phần kinhtếhợptác xã thuộcsởhữutậpthểcủanhân dân laođộng[132, tr.85]. Trong thờikỳnày, vai trò của Nhà nƣớc đƣợc thể hiện ở một số nét cơ bản sau:

– Nhànƣớc đóngvai trò làchủthểsởhữuduynhất đốivớihầuhết các tƣ liệusảnxuấtchủyếunhƣđất đai, sônghồ,hầm mỏ,tài nguyên

thiên nhiên…Nhà nƣớc cũng đóng vai trò là chủ thể sở hữu duynhất đối vớicác xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, ngƣ nghiệp, thƣơng nghiệp

31

quốc doanh, các công trình phụcvụlợi ích công cộng,hệthốngđƣờng

sắt,đƣờngbộ, đƣờnghàng không,đƣờngbiển…cùngcác tàisảnkhác mà pháp luật quy định là của Nhà nƣớc.

– Nhànƣớc đóngvai trò làchủthểlậpkếhoạch,đồngthời quản lýtrực tiếp các hoạt độngkinhtếtừkhâu cungứngvậttƣ, nguyên liệu,điềuhành quá trìnhsảnxuất đếnkhâu phân phốisảnphẩm. Nhànƣớc cũnggiữđộcquyềnvềngoại thƣơng và các quanhệkinhtếkhác với

nƣớc ngoài.

– Nhà nƣớc lãnh đạo hoạt động kinh tế bằng chỉ tiêu, kế hoạch pháp lệnh và các mệnh lệnh hành chính. Nhànƣớcbảovệtrậttựkinhtếbằng biện pháp kỷ luật hành chính.

– Nhànƣớc đóng vai trò làchủthểquản lý trên cácmặtvăn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuậtvớimục tiêu “xây dựng con người mới có ýthức làmchủtậpthể, yêu laođộng,quý trọngcủacông, có văn hóa, cókiến thức khoa học,kỹthuật, cósứckhỏe, yêunướcXHCN và có tinh thần quốc tế vô sản”[132, tr88].

Việc kéo dài quá lâu cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp đãđƣa đấtnƣớcrơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.Mọihoạt động kinh tế của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tếquốc doanh và kinhtếhợptác xãđềutheo cácchỉtiêu,kếhoạchđƣợc giao. Ngoài ra, các thành phần kinhtếkhác đều khôngđƣợcthừa nhận. Vớitinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, Đạihội Đảng lầnthứ VI

(1986)đãđánhdấuquá trìnhđổimớicủa đấtnƣớcbằng việc chuyểntừnềnkinhtế kế hoạch hóa tậptrung sangnềnkinhtế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng XHCN.

32

Trong bối cảnh đổi mới với nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN hiện nay, vai trò của Nhà nƣớc đƣợc thể hiện trên hai nội dung cơbản:

Một là, Nhà nƣớc đóng vai trò là ngƣời tạo lập và bảo đảm môi trƣờng thuận lợi cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh. Cụ thể:

– Bằng hệ thống chính sách và pháp luật, Nhà nƣớc quy định quyền vànghĩa vụ chủ thể, tạo khung pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh. Trong cơchếthịtrƣờng, hoạt độngkinhtếdiễn ra hết sứcphức tạp và đa dạng. Sự tồntại củanhiều chủ thể kinh tế cùng các quanhệkinh tế, quanhệ

lợi ích khác nhau trong một môi trƣờng cạnh tranh do các quy luật kinhtếkhách quan chi phối đòi hỏinềnkinh tếphải có tính tổchức cao và có tính định hƣớng. Với tƣ cách là chủ thể hoạch định chính sách và tạo khung pháp lý, Nhà nƣớc góp phần quan trọng vào việc tạo lập, bảo đảm môi trƣờng kinh doanh. Bằng hệ thống chính sách và pháp luật, Nhà nƣớc có những điều chỉnh nhất định đến kinh tế – xã hội của quốc gia, dù rằng mức độ điều chỉnh này cókhác nhau trong các giaiđoạnkhác nhau. Bằnghệthống này, Nhànƣớctác động trực tiếp vào nền kinh tếthịtrƣờng định hƣớng XHCN, vào phƣơng

hƣớngđầu tƣ và phát triển kinh tế, coi thị trƣờnglà đối tƣợngđể kế hoạch hoácấp vĩ mô. Vấn đềđặt ra làkếhoạch hoá không đƣợc đingƣợclại các quy luật khách quan của thị trƣờng mà tạo ra môi trƣờng thông thoángđể các chủthể kinhtế cạnhtranh và phát triển.

– Nhànƣớcbảo đảmmôi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, có trật tự,kỷ

cƣơng trong phát triển kinhtế. Nhà nƣớc chỉ đạo,triển khai thực hiện các biện pháp chống gianlậnthƣơngmạivà các hành vi tiêucựckhác trong kinh tế. Rõ ràng, kinhtế thị trƣờngbên cạnh những ƣu điểm thì cũng mang lại không ít những hạn chế. Do vậy, việc bảo vệ các quan hệ xã hội đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận, bảo vệ quyền lợi quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá

33

nhân công dântrƣớccác tác độngcủacơchếthịtrƣờng là nhiệmvụcóýnghĩa quan trọng.

– Nhànƣớcbảo đảmcơsởhạtầng cho phát triển kinh tế. Theo nghĩa rộng, cơ sở hạ tầng là nền tảng kinh tế bao gồm toàn bộ các quanhệ sản xuấtcủaxãhộiphùhợpvớitrìnhđộphát triểncủalựclƣợngsảnxuất [202, tr.466]. Theo nghĩa hẹp, cơ sở hạ tầng là khái niệm chỉ kết cấu nền tảngcủakinhtế- xãhộinhƣđƣờng,điện,công trìnhcấpthoátnƣớc,

công trình thủy lợị…[61, tr. 75-76]. Ở đây, khái niệm cơ sở hạ tầng đƣợc nghiêncứutheo nghĩa hẹp, nó baogồmcác vấn đềnhƣ giao thông; quy hoạchđôthị, nông thôn; quy hoạch mạnglƣớiphát triển các ngành, nghề;

mạng lƣớicác cơsởkhám chữa bệnh, giáo dục…Tất cảcácyếutốnày đều nhằm tạo nền tảng cho phát triển kinh tế. Hơn nữa, Nhà nƣớc còn đóng vai tròlàngƣờimở đƣờngvà bảo trợ cho nền kinhtế đất nƣớc hộinhập vào kinhtếkhu vực và thế giới. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nhiệmvụnàycủaNhànƣớccóýnghĩa đặcbiệt quan trọng. Nhànƣớc góp phầnmởrộng cánhcửathu hút đầutƣnƣớcngoài thông qua các hoạt độngngoại giao kinh tế quốc tế.

Hai là, Nhànƣớcgiải quyết hài hòamốiquanhệgiữa tăng trƣởng kinhtếvà tiếnbộ,công bằng xã hội, phát triểnsựnghiệp văn hóa, y tế, giáo dục. Tiến bộ xã hội nói lên trình độ của một xã hội đạt tới, không những trong lĩnh vực sản xuất vật chất dựa trên một nền khoa học kỹ thuật nhất định, mà còn trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, tinh thần. Tiến bộ xã hội thể hiện sự kếthợp tƣơng đối thích ứng của các mối quan hệgiữa con ngƣời với con

ngƣời, giữa con ngƣờivới xã hội, giữa con ngƣời vớithiên nhiên thông qua tác độngthƣờng xuyên điều chỉnh củachủthểquản lýsựphát triển xã hội theo hƣớngphục vụ cuộc sống ngày càng tốt đẹp của con ngƣời [164, tr. 35- 36]. Công bằng xã hội là một giá trị định hƣớng để con ngƣời thỏa mãn những

34

nhucầu cơ bản về đời sốngvật chất và tinh thần trong mối quan hệ phân phối sản phẩm xã hội tƣơng đối hợp lý giữa các cá nhân và nhóm xã hội, phù hợp với khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định [164. tr. 40].

TrongnềnkinhtếthịtrƣờngđịnhhƣớngXHCN,sựnhạy cảm của các nhóm xãhộicó tác độngmạnhmẽtớitính lâubềncủatăng trƣởng và phát triển dài hạn. Vì thế, vấn đềphân phốicủacảixãhộimộtcách hợplý giữa các nhóm xãhộicóảnhhƣởngtrực tiếp đến“địnhhƣớng XHCN”củanềnkinhtếnƣớcta. Nhữngmụctiêu xãhộimà Nhànƣớc đặt ra không chỉ dựa trên cơ chế thị trƣờng, đây là điểm khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trƣờng TBCN với kinh tế thị trƣờng XHCN.

Rõ ràng, vai tròcủaNhànƣớctrongnềnkinhtếkếhọach hóa tập trung vànềnkinhtếthịtrƣờngđịnhhƣớngXHCN cósựkhác nhau dựa trên cơsởnhững khác biệt cănbảntrong nhận thức luậnvềconđƣờng quá độlên CNXH. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với quan niệm sơcứng, máy móc cho rằng, chúng ta phải tiến nhanh, tiến mạnh lên CNXH,“xây dựngmộtxãhộicó kinhtếcông – nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoahọckỹthuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, cóđời sống văn minh và hạnh phúc”[132, tr. 81] nhƣnglạidựatrên cơsởkinh

tếnghèo nàn,lạchậu, chịu ảnhhƣởngnặngnềcủachiến tranh vàchỉthừa nhậnvềmặtluật pháp hai thành phần kinhtếcơ bản: kinhtếquốc doanh và kinhtếhợptác xã. Nhànƣớc đóng vai tròvừalàchủthểsởhữu,vừalàchủthểchỉđạo,tổchức điềuhànhnềnsảnxuất xãhộivàphân phối lƣu thông hàng hóa.

Trongnềnkinhtếthịtrƣờng địnhhƣớngXHCN,vớiquanđiểm thừa nhận nền kinh tế thị trƣờng, giải phóngmọinăng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, Nhà nƣớc đóng vai trò là

35

“bàđỡ’chonềnkinhtếthịtrƣờng, xây dựng vàtạolậpmôi trƣờng kinh

tếthuậnlợicho các hoạt độngsảnxuất – kinh doanh đáp ứngyêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng.

Nhànƣớc đóng vai trò quan trọng, tuy nhiên, vai tròđócũng cónhững giớihạnnhất định.Các quy luật cănbảncủakinhtếthịtrƣờng cầnphải đƣợc tôn trọng và thừa nhận. Nhà nƣớc khôngthể và cũng không cóđủđiềukiện,khảnăngđểnắmgiữ, điềuhànhmọihoạt động kinhtếcủacácchủthểkinhtế.Bằnghệthống chính sách và pháp luật, vớitƣ cách là những côngcụquản lý vĩ mô, Nhànƣớctạolậpvà bảo đảm môi trƣờng thuận lợi cho các chủ thể kinh tế hoạt động, tất nhiên cósự kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp. Vai tròcủaNhànƣớcvà vai tròcủathịtrƣờng không loạitrừnhau màbổsung cho nhau.

Nhà nƣớc sử dụng các công cụ khác nhau để tác động vào đời sống kinh tế – xã hội của quốc gia:

Thứnhất, thông quahệthống pháp luật.Hệthống pháp luật là tổngthểcác quy phạm pháp luật đƣợc quyđịnhmột cách khách quan bởi các điều kiện kinh tếxã hội,đƣợcphân chia thành cácbộphậncấuthành khác nhau, phùhợp với đặc điểm, tính chất của các quanhệxãhộimà nó điều chỉnh, nhƣng các bộ phận khác nhau ấy cómốiquanhệqua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau. Pháp luật là côngcụhữuhiệunhất để Nhànƣớc thựchiện vai trò định

hƣớng,điềutiết củamình đốivớikinhtế- xãhộiquốc gia. Một hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ và phù hợp là điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quảquản lý của Nhà nƣớc.

Thứ hai, Nhà nƣớc sử dụng các chính sách vĩ mô, trongđócó các chính sách tài chính- tiềntệđểđiềutiết,địnhhƣớnghoạt động.Chính sách vĩ môcủaNhànƣớccótầmquan trọngđặcbiệt, nó cóthểthúc đẩyhoặc kìm hãm

36

nềnkinhtế.Những chính sách tác độngnày đãđƣợcsửdụng có hiệuquảtrong nền kinh tế TBCN tại nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Mỹ, Đức, Nhật Bản và trong một số nền kinh tế công nghiệp mới ở Châu Á.

Thứ ba, thông qua nhữnghoạt độngquản lý cụ thể của các cơ quan nhà

nƣớc,vớiviệc đảm bảo ổn định về chính trị – xã hội cũng sẽ tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho kinh tế thị trƣờng phát triển. Cơ chế thị trƣờng có thểđemlạinhững hiệuquảkinh tếcao, songtựnó không đemlạinhững giátrịtiếnbộmà xãhộivƣơn tới. Vì vậy, Nhànƣớc đóng vai trò quan trọng trong việccảithiện đờisống văn hoá tinh thần cho nhân dân, nâng cao chất lƣợng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực.

1.2. Vị trí pháp lý của chính quyền cấp tỉnh trong hệ thống chính quyền Việt Nam

Tổ chức quyền lực ở các nhà nƣớc trong lịch sử có khác nhau nhƣng dùlà nhànƣớcchủnô, nhànƣớcphong kiến, nhànƣớctƣsảnhay nhànƣớc XHCN đi chăngnữathì bất kỳnhànƣớcnào cũng đềuphải có haihệthống chính quyền: chính quyền trung ƣơng và chính quyền địaphƣơng.Điềunày xuất phát từ một số lý do căn bản:

Một là, từ việc phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính.Đâylà thuộc tính cơ bản củamọinhà nƣớc, không phụ thuộc vào hình thức,

chếđộ,bản chất… củanhànƣớc.Trong suốt chiều dài tồn tạivà phát triển củanhànƣớctừkhi rađời đếnnay, việc phân chia lãnh thổquốc gia thành các đơn vị hành chính luôn là đặc trƣng căn bản của mọi nhà nƣớc. Mục đích của việc phân chia này nhằm đảm bảo sự quản lý thống nhất, toàn diện, cụ thểvà trực tiếp. Các đơn vị hành chính đƣợc phân chia dựa trên các căn cứ khác nhau. Đó có thể là các yếu tố nhƣ phong tục tập quán, tính chất cơ cấu dân cƣ,

tính chất địa lýtựnhiên, diện tích, dân số…Có hai dạngđơnvịhành chính – lãnh thổ: đơn vị hành chính hình thành theo lịch sử đƣợc nhà nƣớc thừa nhận

37

và các đơnvịhành chính do nhànƣớcthiết lập. Các đơnvịhành chính theo lịch sửthƣờng là cấp cơ sở, ởđótồntạinhững phongtụctập quán lâu đời,

gồm nhiều thế hệ, dòng tộc cùng sinh sống. Các đơn vị hành chính này mang tính tự trị khá cao.

Ở các quốc gia khác nhau, sự phân chia các đơn vịhành chính lãnh thổcũng cósựkhác nhau. Chẳng hạn,ởInđônêxia, một quốc giađãtừngbịHàLan, Nhật Bảnchiếm đóng và giànhđộclập năm 1945,hệthốngtổchứcbộmáy chính quyền địa phƣơng gồm 4 cấp: tỉnh; huyện; xã, phƣờng; làng, khu phố. Tỉnh là cấp chính quyền địa phƣơng lớn nhất. Hiện nay, cả nƣớc Inđônêxia có 27 tỉnh khác nhauvềdiện tích và dânsố.Tỉnh có một Tỉnh

trƣởng do Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm trên cơ sở đề cử của Hội đồng tƣ vấn nhân dân tỉnh. Hội đồng là cơ quan dân cử và cùng làm việc với Tỉnh trƣởng trong việc xây dựngdựán luật và ngân sách. Trong khi đó,tại Philippin, các đơn vị hành chính đƣợc phân chia thành 3 cấp gồm: tỉnh, thành phố lớn; thành phố, thị xã; xã, phƣờng. Mỗi cấp chính quyền địa phƣơngđều có Hội đồngdân cử với nhiệm kỳ 3 năm. Mỗi đại biểu Hội đồngcó thể đƣợc tái cử nhƣng không quá 3 nhiệm kỳ. Trong các cấp chính quyền đều có những

ngƣời đứngđầu nhƣ Tỉnh trƣởng, thị trƣởng…làm công việc điều hành [176].

Hai là, tại các đơnvịhành chính đƣợcphân chia tấtyếuphải thiết lập các cơ quan nhà nƣớc nhằm đảm bảo sự quản lý đƣợc thốngnhất. Đây là yêu cầubắtbuộc đốivới mọi nhànƣớc.Các cơ quan nhànƣớc ởđịaphƣơng cónhiệm vụ triển khai thực hiện pháp luật trên địa bàn địa phƣơng, đồngthời sửdụng pháp luật nhƣ một công cụ hữu hiệu nhằm quản lý mọi mặt của đời sống dân cƣ. Chính quyền địaphƣơng là một cầunối quan trọng, là conđƣờng ngắn nhất để đƣa các quyết định của cấp trung ƣơng đến với cơ sở. Không cóchính quyền địa phƣơng, việc phân chiađơnvịhành chính lãnh thổ cũngtrởthành vô nghĩa. Nói nhƣ vậy để thấy rằng, vấn đề tổ chức bộ máy chính quyền

38

địaphƣơng các cấp cũng là một đặc trƣng cănbản củamọi nhà nƣớc. Chính quyền địa phƣơng không phải và cũng không thể là bộ máy nhà nƣớc thunhỏở địa phƣơng mà nó chỉ là một bộ phận trong hệ thống tổng thể, nó là các mắt xích quan trọng trong mộtchuỗi cácmắtxích. Vì vậy, hoạt động củachính quyền địaphƣơng tất nhiên phải tuân theo sựkiểm soát,chỉđạo củachính quyền trung ƣơng.Điều này cũng nhằm đểđảmbảotính thống nhất, thông suốt trong bộ máy nhà nƣớc nói chung.

Ba là,bảnthân chính quyền trung ƣơng khôngthểtậptrung mọi nhiệm vụcủanhànƣớc ởtrung ƣơng màcầnthiết phải cósựchuyển giao, phâncấpmộtsốnhiệm vụ,quyềnhạncụthểcho chính quyền địa phƣơng. Trênthếgiới hiện nay,tổchức quyềnlựcnhànƣớcgiữa trung

ƣơng vàđịaphƣơng đƣợcthực hiện theomộtsốnguyêntắccănbảntuỳthuộc vàomỗiquốc gia nhƣ nguyêntắctậpquyền,tảnquyền và phân quyền. Nguyêntắctậpquyền làsựtậptrung quyềnlựcvào các cơ quan nhà nƣớc ở trung ƣơng, các cơ quan ở địa phƣơng có nhiệm vụ tiếp nhận và thực thi mệnh lệnhtừcấptrên. Quyền quyết địnhtấtnhiên thuộcvềchính quyền trung ƣơng. Nguyêntắcphân quyền làsựphân giao một

phần quyền hạn, nhiệmvụ…cho cáccấpchính quyền địaphƣơng thực hiện. Chính quyền địaphƣơng là pháp nhân công quyền đƣợctựquyết định các vấn đề của địa phƣơng trên cơ sở pháp luật [40, tr. 31]. Nguyên tắctảnquyền là việc thiếtlậpmộtsốcơ quancủatrung ƣơng trên địa bàn địa phƣơng nhằm giải quyết các công việc ở địa phƣơng.

Nhƣ vậy, có thể khẳngđịnhrằng, bộ máy chính quyền địa phƣơng là một phần không thể thiếu trongbộmáy nhà nƣớc nói chung, dù trong bất kỳ thời gian, hoàn cảnh nào vớinhững thăng trầm, biến độngcủalịchsử.Nhànƣớc vẫntiếp tụctồntạivà phát triểnvớisựcó mặt củachính quyền địaphƣơng. Hiệuquảhoạt động củachính quyền địaphƣơngđến đâu sẽchứngtỏchất

39

lƣợng, hiệuquảhoạt độngcủabộmáy nhànƣớc đến đó.Hiệuquảlàsựso sánh,đốichiếu các kết quảđạt đƣợcvớitoànbộcác nguồn lực đãsửdụng, nhằm đánh giá kết quảđạt đƣợcvới chi phí thấp nhất. Nhân dân nhìn vào phong cách, lề lối làm việc của chính quyền địa phƣơng để đánh giá hiệu quảlàm việc nói chung của bộ máy nhànƣớc.Một điều cũng dễ nhận thấy rằng, sự phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, chính trị, an toàn xã hội của địa phƣơng

nhƣ thế nào cũng sẽ cho thấy năng lực và hiệu quả làm việc của chính quyền địa phƣơng nhƣ thế.

Ở Việt Nam, vị trí của chính quyền cấp tỉnh trong bộ máy nhà nƣớc nói chung và hệ thống chính quyền địa phƣơng nói riêng có những điểm khác biệt khi đất nƣớc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinhtế thị

trƣờngđịnhhƣớngXHCN.

1.2.1. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chính quyền cấp tỉnh thụ động thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch mà chính quyền trung ương giao

Sau thắnglợicủacuộc kháng chiến chốngMỹcứunƣớc,cảnƣớc cùng đi lên xây dựng CNXH. Quốchộikhóa VI,kỳhọpthứVII ngày 18/12/1980đãthảo luận và thông qua Hiến phápmới- Hiến pháp năm 1980. Theođiều113 Hiến pháp 1980,nƣớctađƣợcchia thành các tỉnh, TPTTTW và các đơn vị hành chính tƣơng đƣơng. Tỉnh chia thành huyện, thànhphốthuộc tỉnh vàthịxã. TPTTTW chia thành quận, huyện vàthịxã. Huyện chia thành xã, thị trấn. Thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành

phƣờng, xã. Quận chia thành phƣờng.

Nhƣ vậy, theo Hiến pháp 1980, tỉnh, TPTTTW và các đơn vị hành chính

tƣơng đƣơng (đặc khu) là các đơnvịhành chính lãnhthổlớn nhất cấu thành quốc gia. Tại các đơnvịhành chính này đều thành lập HĐND và UBND.Điều 114 Hiến pháp 1980 quyđịnh“HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ởđịa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trướcnhân

40

dân địa phương và chính quyền cấp trên”[132, tr.120].Điều121 Hiến pháp 1980 cũng quyđịnh “UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan

hành chính nhànước ởđịa phương…UBND tỉnh, TPTTTW và cấp tương đương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và trước Hội đồng Bộ trưởng “[132, tr.123]. Có thể nói, chính quyền tỉnh, TPTTTW vàcác đơnvịhành chính tƣơng đƣơng là cấp đầu tiên trong hệthống chính quyền địaphƣơng theo Hiến pháp 1980.Đâylà cấp chính quyền có trách nhiệmcụthểhóa và triển khai thực hiện cáckếhoạch,chỉtiêu mà chính quyền trung ƣơng giao cho địa phƣơng, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm

trƣớc trung ƣơng trong phạm vi nhiệm vụ, thẩm quyền đƣợc giao.

Điều33 Hiến pháp 1980 đãquyđịnh“Nhànướclãnh đạo nền kinh tế

quốc dân theo kế hoạch thống nhất…” [132, tr.87]. Là một cấp hành chính địa

phƣơng, chính quyền cấp tỉnh có nhiệm vụ chấp hành và triển khai thực hiện cácchỉtiêu,kếhoạch mà trung ƣơng giao cho địaphƣơng.Điềunày đãhạn chếphần lớntính năngđộng,sángtạocủacác cấp chính quyền địaphƣơng nói chung và chính quyền cấp tỉnh nói riêng. Việc hoàn thành đúng hoặc vƣợt mức chỉ tiêu, kế hoạch đặt ra là một cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động của cấp chính quyền đó.Kết quảcủatình trạng này làcảmột “guồngmáy”rơi vào sự trì trệ, bảo thủ, quan liêu.

Trong khi đó, với chủ trƣơng xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế,kếhoạch và đơn vịhành chính cókhảnăng giải quyết đến mứccao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất,tổ chức đời sốngvật chất, văn hoá của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chungcủa cả nƣớc, đồngthời cũng để giảm bớt cấp trung gian,giảm bớt đầumốitrực thuộc trung ƣơng, quan điểmhợp tỉnh ở thời kỳnày đã đƣợc triển khai thực hiện với phƣơng án tổng thể. Nghị quyết số 245 – NQ/TW ngày 20-9-1975 củaBộChính trịđãquyđịnh vềviệcbỏkhu, nhập

41

tỉnh.Từchủtrƣơng đó,52 tỉnh đãđƣợchợpnhất thành 21 tỉnh, 8 tỉnh giữnguyên và 4 TPTTTW,đƣatổng sốcác đơnvịhành chính trực thuộc trung

ƣơng là 33 đơn vị [108, tr. 19-20]. Chủ trƣơng hợp tỉnhđã đƣợc chuẩn bị khácông phu, có kế hoạch và đƣợc tổ chức thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, việc hợptỉnh lại không dựatrên điều kiện thựctếcủamột đất nƣớcvừara khỏi chiến tranh với sự lạc hậu về kinh tế, yếu kém về cơ sở hạ tầng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ, công chức với số đônglà bộđộiphục viên hoặc trƣởng thànhtừcánbộđoànthểmà ít có năng lực, trình độquản lý, nhất là quản lý kinh tế. Trong khi đó, Nghị quyết 245 -NQ/TW lại

đƣaramụctiêu xây dựng các tỉnh thành các đơnvịkinh tế,kếhoạch, hành chính mạnh,đủsứcgiải quyết ởmức”cao nhất” những yêucầuvềkinh tế,

văn hoá, xãhội…Điều này dƣờng nhƣ quá sức đối vớibộmáy chính quyền cấp tỉnh khi phải quản lý một lựclƣợngdânsốđông, trên một địabàn rộng, vớibộnbềcông việc nhƣng khôngđủcác nguồnlựctài chính và trìnhđộquản lý. Hệ quả của tình trạng này là chính quyền cấp tỉnh vốn đã quan liêu lại càng quan liêu hơn, hiệu quả quản lý vốn đã thấp lại càng thấp hơn. Cùng với đólàsựtrìtrệcủa cơchếkếhoạch hoá tập trung, bao cấp càngvềsau càng nghiêm trọng hơn. Sự khủng hoảng về kinhtế đã dẫn đến sự mất ổn định trong đờisống chính trị, nhất là trong bộmáy chính quyền cấp tỉnh. Hiện

tƣợngmất đoàn kết, mâu thuẫn nội bộ kéo dài, kéo bè kéo cánh giữa các tỉnh cũ với nhau trở nên phổ biến. Những khó khăn, bế tắc trongtổ chức bộmáy cấp tỉnh nói riêng và tronghoạt độngcủa các cấp chính quyền địa phƣơng nói chungthời kỳnày chủyếulà do cơ chế bao cấp mang lại, nhƣng có phần do sựnôn nóng, duy ýchí muốn nhanh chóng cóđƣợcnhững đơnvịkinh tếcông- nông nghiệp hiện đại để nhanh chóng tiến thẳng lên CNXH.

Ngày 30/6/1983, Quốchộikhóa VIIđãthông qua Luật tổchức HĐND và UBND.Đểđáp ứngnhững yêucầuxây dựng các tỉnh thành các đơnvị

42

kinh tế,kếhoạch mạnh,bộmáy chính quyền cấp tỉnh cũng có nhữngđiều chỉnh nhất định.Sốlƣợngủyviên UBND cấp tỉnhđãtăng lên so vớitrƣớc, bao gồmtừ11 đến17 thành viên. Thƣờng trực UBND cũngđƣợcthành lập,đồng thời đề cao trách nhiệm của Chủ tịch UBND. Tuy nhiên, HĐND không có cơ quan thƣờng trực nên hoạt độngrời rạc, lúng túng,bịđộng,chỉmang tính hình thức. Hoạt động củaUBNDcấptỉnh và các cơ quan chuyên môn cũng không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém nhất định, một phần do những ảnhhƣởngcủa tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài.

1.2.2. Trong thời kỳđổi mới, chính quyền cấp tỉnh là một cấp chính quyền có quyềntựchủ,tựchịu trách nhiệm trên cơsởchính sách, pháp luật của trung ương và điều kiện cụ thể của địa phương

Ngay sau khi hợp tỉnh vàđiềuchỉnh địagiới hành chính,sựbất hợp lýtrong công tác quản lý của chính quyền địa phƣơngđã dần bộc lộ, đặc biệt đối với những tỉnh có địa bàn rộng, địa hình đồi núi. Thực trạngđóđã dấy lên xu

hƣớngtách tỉnh và kết quảlà việc tách tỉnh ồạttừcuối những năm 80,đầu những năm 90 củathếkỷXX. Cho đếnnăm 1996, phầnlớncác tỉnhđƣợc chia tách trở lại các đơn vị gần nhƣ trƣớc năm 1976. Có thể nói, việc tách tỉnh vào thời gian này đƣợc tiến hành khi công cuộc đổi mới đãbắt đầu khởi sắc và phát huy hiệu quả, cơ chế kinhtế thị trƣờngđang trên đà phát triển. Thực tếnày đãgóp phần quan trọng vào sựchuyển biến trong vai tròcủachính quyền cấp tỉnh nói riêng và chính quyền địa phƣơng nói chung sau khi đƣợc chia tách vàđiềuchỉnhđơnvịhành chính. Sau tách tỉnh, nhiều tỉnh, thành phố đã thể hiện rõ những thế mạnh vƣợt trội trong việc nắm bắt những thời cơvà thuậnlợitrong thời kỳđổimới đểphát triển, trong đóphải nói đếnBình

Dƣơng, Đã Nẵng, Cần Thơ…

Nhƣ vậy, nếu nhƣ trong thời kỳ bao cấp, kế hoạch hóa, mỗi huyện đƣợc xem là một “pháo đài”, mỗi tỉnh là một trung tâm kinh tế, kế hoạch, một đơn

43

vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất nhữngyêu cầu về đẩy mạnh sản xuất,tổ chức đời sốngvật chất, văn hoá của nhân dân và bảo vệ trịan thì trongthời kỳ đổi mới, tỉnhđƣợc xem là một đơn vị hành chính lãnhthổcó quyền tựchủ,tựchịu trách nhiệm trên cơsởchính sách, pháp luật của trung ƣơng và điều kiện cụ thể của địa phƣơng.

Theo Hiến pháp 1992 sửa đổi,bộmáy nhànƣớcta bao gồmbốncấp hành chính:

– Chính quyền cấp trung ƣơng

– Chính quyền tỉnh, TPTTTW (cấp tỉnh);

– Chính quyền quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện); – Chính quyền xã, phƣờng, thị trấn (cấp xã).

Điều1 Hiến pháp 1992 sửa đổicũng khẳngđịnh:“NướcCộng hoàXHCN Việt Nam là một nước độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo,vùng biển và vùng trời’[150]. Quyền lực nhànƣớclà thống nhất, cósựphân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà

nƣớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp.

Nhƣ vậy,bộmáy chính quyền ởViệt Nam làmộtthểthống nhất. Chính quyềncấptỉnh chịu trách nhiệm trƣớctrung ƣơng trong phạm vi nhiệm vụ, thẩm quyền đƣợc giao. Ngày 30/6/2004, Chính phủ đã ra Nghịquyếtsố08/2004/NQ – CPvềviệc tiếp tục đẩymạnh phâncấpquản lýgiữa Chínhphủvà chính quyền tỉnh, TPTTTW. Phâncấpquản lý là một phƣơng pháp quản lý trongđóchức năng, nhiệmvụ,quyềnhạncủacác tổ chức trong hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp đƣợc phân chia, phân côngmộtcáchcụthểthông quahệthống vănbảnquyphạm pháp luật theo nguyêntắctrao cho cơ quancấpdƣớinhiều quyền quyết địnhcác vấn đềcó liên quan và tăngcƣờngsựgiám sát hoạt độngcủa các cơ quanđóthông qua hệthống trách nhiệm báo cáo [156, tr.70].

44

Theo Nghị quyết số 08/2004/NQ – CP , Chính phủ quản lý thốngnhất vềthể chế, chiến lƣợc, chính sách, đồng thời phát huy tính năng động, sáng tạo, tựchủ, tựchịu trách nhiệm của chính quyềncấptỉnh trên cơ sởchính sách, pháp luật trung ƣơng vàđiềukiệncủamỗi địaphƣơng.Sựphân cấp đƣợcthểhiện trênmộtsốlĩnhvựcnhƣ phâncấpquản lý quy hoạch,kếhoạch vàđầutƣ phát triển; quản lý ngân sách nhànƣớc;quản lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nƣớc; quản lý doanh nghiệp nhà nƣớc; quản lý các hoạt độngsựnghiệp, dịchvụcông; quản lývềtổchứcbộmáy và cánbộcông chức. Những quyđịnhvềphâncấpquản lý giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh đã cho thấy sự mạnh dạn và tin tƣởng của Trung ƣơngđốivớicấpchính quyền đứngđầutronghệthống chính quyền địa phƣơng này. Thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh đƣợcnâng lên cũng làđòihỏikhách quancủacông cuộc đổimới,điều mà ở rất nhiều nƣớc đã thực hiện từ lâu.

Trong hệthống chính quyền địaphƣơng, chính quyền cấp tỉnh là cấp hành chính đầu tiên trong ba cấp hành chính. Chính quyền cấp tỉnh có nhiệm vụxây dựng, quyết định quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội địaphƣơng làm cơsởcho hoạt động củachính quyền cấp huyện vàchính quyền cấp xã. Quy hoạch là “kế hoạch tổng thể trong thời gian dài”[202, tr.1380], kế hoạch là “ điều vạch ra với các mục tiêu và cách thức để đạt được trong thời gian nhất định”[202, tr.878]. Có thể nói, quy hoạch là

sựphânbổvà sắp xếp các hoạt độngsảnxuất, dịchvụ, đờisống… trên một địa bànlãnh thổ cho một thời kỳ trung hạn, dài hạn để cụ thểhoá chiếnlƣợc phát triển kinh tếxãhộitrên lãnh thổđóvà là cơsởđểlập kếhoạch phát triển. Nếu nhƣ kế hoạch đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định với mục tiêucụthểthì quy hoạchđƣợcdựkiến thực hiện trong thời gian dài, mang tính tổng thể, bao quát.Kếhoạch chính là nhằm triển khai thực hiện quy

45

hoạch. Chính sách là những sáchlƣợc,biện pháp nhằm đạt đƣợcmục đích nhất định, trên cơ sở đƣờng lối chung và tình hình cụ thể mà chủ thể đề ra.

Những quy hoạch,kếhoạch, chính sách phát triển kinh tế- xã hội địa

phƣơng phải trên cơ sở chiến lƣợc phát triển kinh tế – xãhội của cảnƣớcvàđiềukiện đặcthù của địaphƣơng. Chiếnlƣợcphát triển kinh tế- xãhộicủa đất nƣớc là định hƣớngcơ bản về mục tiêu, nội dung, bƣớc đi và phƣơng thức phát triển kinhtế- xãhộicủacảnƣớctrong một thờikỳtƣơngđốidài (10

năm, 20 năm, 30 năm…) [128, tr.108].

Quy hoạch,kếhoạch, chính sách mà chính quyềncấptỉnh quyết định ảnhhƣởngtrực tiếp đếnsựphát triển nói chungcủatỉnh. Trong khiđó,cấp trung ƣơngchỉcóthểban hành nhữngchủtrƣơng, chính sách, biện pháp ở

tầmvĩ mô mà khó có thể điều tiết ở tầm vi mô đốivới từng tỉnh, thành phố. Do đó, những quy hoạch, kế hoạch, chính sách này sẽ góp phần phát huy, tận dụng đƣợcnhữngthếmạnh, tiềm năng sẵn có, đồng thời hạn chế, khắc phục những yếu kém, tồn tại của địa phƣơng.

Trong khi thực hiện nhiệmvụ,quyền hạn theo quy địnhcủapháp luật, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp xã không những phải thực hiện đúng những quyđịnh củacác cơ quan nhànƣớc ởtrung ƣơng mà còn phải triển khai thực hiện đầy đủcác quy hoạch,kếhoạch, chính sách…mà chính quyền cấp tỉnh đề ra. Đây là một yêu cầu bắt buộc của hoạt động quản lý, thểhiện quanhệhành chính mệnh lệnh -điều hành. Chính quyền cấp huyện vàcấp xã khôngđƣợcban hành những quyđịnhtráivớicác vănbảnpháp luật của cơ quan nhà nƣớc cấp trên, trongđócó văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền cấp tỉnh. Mặt khác, chính quyềncấphuyện và chính quyền cấp xãsẽphải chịu trách nhiệmtrƣớcchính quyền cấp tỉnh vềnhững sai phạm trong khi thực hiện nhiệmvụhoặcvềnhững vấn đềnảysinh trên địabàn quản lý.

46

Với 64 tỉnh, TPTTTW trên phạm vi cảnƣớc,chính quyềncấptỉnh ngày càng khẳng định vịtrí quan trọng củamình trongbộmáy chính quyền địa

phƣơng nói riêngvà bộmáy nhànƣớcnói chung. Sự đi lên về kinhtế, sự ổn địnhvềchínhtrị- xã hội củamột tỉnh, thành phốlàđiềuchứng tỏrõ nhất nănglực hoạt độngcủa bộ máy chính quyền tỉnh, thànhphố đó.

Rõ ràng, trong bốicảnh đổimới cùng với xu thếhội nhập và toàn cầu hoá quốc tế, cấp tỉnh ngày càng tỏ rõ là cấp giữ vị trí chiến lƣợc, thể hiện tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa trên nhiều phƣơng diện về kinh tế, văn hoá, xã

hội, an ninh – quốc phòng,hợptác quốctế…Đầutƣ phát triển các tỉnh, TPTTTW cũng là sự đầu tƣ chung cho cả nƣớc và là sự đầu tƣ mang tính lâu dài. Vì vậy, chính quyền trung ƣơng cần có những quyết sách mang tính chiến

lƣợc trong sự phát triển các tỉnh, TPTTTW.

Chính quyềncấptỉnhgồmHĐNDcấptỉnh và UBNDcấptỉnh. Toàán nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp ởđịaphƣơng thƣờng

đƣợc gọi là các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phƣơng. Đây là những cơquanđƣợcthành lập ởđịaphƣơngđểthực hiện chức năngbảovệpháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân công dân tại địa phƣơng [113, tr. 14].

Điều 119 Hiến pháp 1992 sửa đổi đãquyđịnh:“HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủcủa nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trướcnhân dân địaphương và cơ quan nhànướccấp trên”[150]. Nhƣ vậy, HĐND cấp tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ýchí và quyền làmchủcủanhân dân trong tỉnh, chịu trách nhiệmtrƣớcnhân dân trong tỉnh và trƣớc cấp trên. Đây là nơi quyết định quy hoạch, kế hoạch, chủ trƣơng, biện pháp nhằm triển khai thực hiện các văn bản pháp luật của cơquan nhà nƣớc cấp trên và phát triển địa phƣơng.

47

Cũng theo điều 123 Hiến pháp 1992 sửa đổiquy định: “UBND do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND “[150]. Nhƣ vậy, UBND cấp tỉnh là cơ quan chấp hành củaHĐND cấp tỉnh, cơ quan hành chính nhà

nƣớc trong tỉnh. UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra và quản lý trên mọi lĩnh vực tại địa phƣơng.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *