Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay

Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian qua, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả là yêu cầu cấp bách đối với đất nước ta, bởi tác động của yếu tố khách quan và chủ quan, nhất là việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tể thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế. Trên 30 năm thực hiện chính sách đổi mới, hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng và hoàn thiện một cách cơ bản. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế, nhiều lĩnh vực của hệ thống pháp luật Việt Nam đã tiệm cận với pháp luật của nhiều nước và pháp luật quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam tiến hành cải cách hệthống pháp luật của mình để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Việc triển khai thực Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chínhtrị vềChiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đạt được kết quả và mục tiêu “xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch”.

Tuy nhiên, khi hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng và hoàn thiện một cách cơ bản từ Trung ương đến địa phương, thì việc tổ chức thực hiện pháp luật lại còn nhiều khiếm khuyết, làm giảm hiệu lực thực tế của các văn bản pháp luật và hiện trở thành mối quan tâm sâu sắc của xã hội. Tình trạng vi phạm pháp luật, tình trạng né tránh pháp luật, lợi dụng pháp luật đang diễn ra phổ biến trong xã hội, lẫn cả trong cơ quan Nhà nước, thậm chí trong cả cơquan bảo vệ pháp luật. Việc thực hiện pháp luật không nghiêm đã khiến lòng tin của nhân dân đối với tính thượng tôn pháp luật, đối với hệ thống cơ quan Nhà nước, nhất là cơ quan thực thi quyền hành pháp suy giảm. Luật ban hành nhiều, song không được triển khai thi hành hoặc thi hành không đầy đủ, không nghiêm chỉnh đang là thực tiễn đáng lo ngại hiện nay. Điều này cũng phản ánh sự cắt khúc giữa xây dựng, hoàn thiện pháp luật với thi hành pháp luật. Việc tìm ra nguyên nhân đích thực và giải pháp khắc phục tình trạng này là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan Nhà nước có ảnh hưởngquan trọng, mang tính then chốt. Trong thực tế, có những trường hợp nếu khôngcó sựtham gia của cơ quan Nhà nước thì nhiều quy phạm pháp luật không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Hơn nữa các hành vi vi phạm pháp luật, né tránh thi hành pháp luật của cơ quan Nhà nước sẽ gây hậu quả nghiêm trọng hơn trong bình diện xã hội. Mặt khác, việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước nói riêng sẽ là “đòn bẩy”, tạo phản ứng dây chuyền, góp phần cải thiện chất lượng thi hành pháp luật trong cả hệ thống.

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự sống, sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia và nhân loại. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra có tác động mạnh mẽ tới đời sống kinh tế, xã hội của mọi quốc gia, trong đó có ảnh hưởng nhiều mặt tới môi trường. Vì vậy, bảo vệmôi trường trở thành vấn đề cấp bách trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có nội dung bảo vệ môi trường đô thị.

Việt Nam đang bước vào thời kỳ đô thị hóa mạnh nhất từ trước đến nay trên cả 2 phương diện (quy mô và tốc độ). Năm 2005 dân số đô thị nước ta khoảng 20 triệu người. Theo dự báo, đến năm 2020 dân số đô thị đạt khoảng 45 triệu. Như vậy dân số nước ta sẽ tăng 25 triệu trong 15 năm. Đểthực hiện được mục tiêu phát triển này, hàng loạt vấn đềđược đặt ra. Trong đó vấn đề bảo vệmôi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm phát triển bền vững hệ thống đô thị giữ vai trò rất quan trọng.

Môi trường đô thị hiện nay chịu sức ép nặng nề từ quá trình đô thị hóa và mở rộng địa giới hành chính đô thị, dân số đô thị tăng nhanh do hiện tượng di dân tự do mạnh, khó kiểm soát từ các vùng nông thôn về các đô thị. Đô thị hóa nhanh đã gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, gây mất cân bằng sinh thái. Môi trường đô thị còn chịu sứ ép từ quá trình tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khai thác tài nguyên, quy hoạch thiếu đồng bộ, ítquan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và môi trường đô thị nói riêng.

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm tới bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường đô thị nói riêng. Tuy nhiên, các vấn đềmôi trường như mất cân bằng sinh thái, biến đổi khí hậu, sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường tại các đô thị vẫn diễn ra, gây tác hại cho con người. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, như ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn thấp, chưa áp dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào bảo vệ môi trường, đặc biệt hệ thốngpháp luật về bảo vệ môi trường còn thiếu đồng bộ, việc thực hiện pháp luật về môi trường còn kém hiệu quả. Trong đó, nguyên nhân chính là do sự yếu kém, thiếu hiệu quả, thiếu cơ chế hữu hiệu, phù hợp, đồng bộ trong tổchức triển khai thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị.

Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị với chủ thể chính là chính quyền đô thị. Vấn đề chính quyền đô thị cũng là vấn đề rất mới xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động của chính quyền đô thị cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị.

Chính vì những lý do trên tôi chọn đềtài “Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay” đểnghiên cứu trong luận án này

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục tiêu của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, đánh giá thực trạng hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị và đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị tại Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị như khái niệm môi trường đô thị, pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, đặc điểm của tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị. Xác

4

định chủ thể thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị. Phân tích nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệmôi trường đô thị.

Hai là, phân tích thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thịở Việt Nam. Khái quát về đô thị, môi trường đô thị và pháp luật bảo vệmôi trường đô thị tại Việt Nam. Đánh giá thực trạng hoạt động hướng dẫn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, thực trạng bộ máy và các điều kiện đảm bảo công tác tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, thực trạng công tác theo dõi thi hành pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, xác định những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay.

Ba là,đềxuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổchức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu những vấn đềlý luận, thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam của các cơquan trong bộ máy hành pháp.

Phạm vi nghiên cứu:

Luận án chỉ nghiên cứu hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị của các cơ quan trong bộ máy hành pháp mà cụ thể là của Chính phủ, Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn ở các đô thị.

Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị tại các đô thị Việt Nam từ năm 2005 (từ năm ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005) đến nay.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền và phát triển đô thị bền vững.

Đểgiải quyết những nhiệm vụ cụ thể do đề tài đặt ra, luận án được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưphương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh luật học và đặc biệt là phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học.

Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh luật học được sử dụng chủ yếu đểnghiên cứu các vấn đềthuộc nội dung Chương 1 và Chương 2 của luận án. Qua việc thu thập các tài liệu, so sánh, tổng hợp các quan điểm, ý kiến khác nhau về tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, luận án bước đầu xây dựng lý thuyết về tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị nói riêng.

Phương pháp phân tích được sử dụng chủ yếu để làm rõcác vấn đềtrong Chương 3 của luận án đểphân tích, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị. Vấn đề pháp luật bảo vệ môi trường đô thịvà tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị là một vấn đềkhá mới xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, nên hầu như trong các sốliệu báo cáo thứ cấp vấn đềnày ít được đề cập đến, nếu có thì chỉ tản mát trong các báo cáo về bảo vệ môi trường nói chung và tổ chức thực hiện pháp luật nói chung. Vấn đề bảo vệ môi trường đô thị, chính quyền đô thị cũng là vấn đề mới nên công tác báo cáo, lưu trữ số liệu cũng đang bước đầu được quan tâm. Do vậy, đểkhắc phục hạn chế trong số liệu của các báo cáo thứcấp, luận án còn được nghiên cứu bằng phương pháp điều tra xã hội học trên cơ sở mẫu phiếu điều tra đối với toàn bộ hệ thống đô thị ở các tỉnh phía Bắc. Mẫu phiếu điều tra được tiếp cận trên hai loại đối tượng, một là từ phía cơquan và người có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, hai là từ phía người dân đô thị.

Mục đích điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị Việt Nam của các cơ quan hành pháp trong thời gian qua. Tạo lập hệ thống cơ sở dữ liệu làm căn cứ thực tiễn để đi sâu phân tích nguyên nhân

6

của các tồn tại; nghiên cứu đề xuất các kiến nghị và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị.

Nội dung điều tra gồm, thông tin chung về đối tượng được phỏng vấn (các đặc trưng về nhân khẩu học, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân gia đình, nghềnghiệp, nơi làm việc, chức danh…); nhận thức về pháp luật, công tác tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị; thực trạng công tác tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị; phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị.

Chương 4 của luận án được nghiên cứu bằng cách sử dụng phương pháp diễn giải, quy nạp để tìm ra các phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả tổchức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển đô thị bền vững.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu trước đây về tổ chức thực hiện pháp luật, đồng thời với quá trình nghiên cứu độc lập và nghiêm túc, luận án đã có những đóng góp mới như sau:

Thứ nhất,luận án bước đầu xây dựng được một số vấn đềlý luận về tổchức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị. Đó là các vấn đề về môi trường đô thị, pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị nói riêng; đặc điểm của tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị; trách nhiệm của các chủ thể trong tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, đặc biệt là vai trò của chính quyền đô thị; nội dung, hình thức của tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quảcông tác này.

Thứ hai, luận án cũng đã trình bày được một số kinh nghiệm quốc tế trong tổchức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị phù hợp với Việt Nam.

Thứ ba, luận án đánh giá tương đối toàn diện và có hệ thống thực trạng tổchức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động này.

 

Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay
Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay

Thứ tư, luận án đưa ra được phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị trên các phương diện từ nhận thức, hệ thống pháp luật, chủ thể thực hiện cho đến các nội dung, quy trình cụ thể.

6. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài Chương 2: Những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi

trường đô thị

Chương 3: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thịở Việt Nam hiện nay

Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam.

8

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.3. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.3.1. Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại đô thị ở Việt Nam hiện nay

Từ kết quả của các công trình nghiên cứu đã khảo sát trên đây, có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá có giá trị tham khảo cho đề tài luận án như sau:

Thứ nhất, tuy các công trình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan tới chủ đềtổ chức thực hiện pháp luật đã đề cập tới những mặt,khía cạnh, những yếu tố

riêng lẻ của tổ chức thực hiện pháp luật, nhưng chưa có công trình nào của Việt Nam nghiên cứu một cách tổng thể về tổ chức thực hiện pháp luật, đặc biệt là tổchức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị.

Các công trình nghiên cứu hiện nay chưa đề cập đến những yêu cầu cơbản đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, phát triển đô thị bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam. Trong khi đó, những yêu cầu này lại đòi hỏi sự thay đổi cơ bản trong xây dựngvà tổchức thực hiện pháp luật ở nước ta trong giai đoạn tới.Nghiên cứu và làm rõ những yêu cầu này cũng là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học pháp lý.

Bản thân nội hàm của các khái niệm như: “tổ chức thực hiện phápluật”,

“hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật”…chưa được làm rõvà hiểu một cách chính xác. Tình trạng ấy tất yếu dẫn đến việc nhìn nhận, đánh giá vai trò, chức năng của việc tổ chức thực hiện pháp luật nói chung sẽ không thống nhất cảtrong đời sống, trong giới học thuật và trong việc hoạch định chính sách, trong

34

quản lý xã hội. Đặc biệt là những khái niệm này gắn liền với các chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ trong việc bảo đảm về thi hành pháp luật trên phạm vi cả nước.

Kể từ Hiến pháp 2013 đã có những thay đổi khá cơ bản trong hệ thống pháp luật, trong bộ máy tổ chức Nhà nước, đặc biệt là có quy định về chính quyền địa phương là đô thị, cũng như trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước, chưa có một điều tra, nghiên cứu tổng thể nào về thực trạng thi hành pháp luật trên các lĩnh vực thiết yếu của đời sống xã hội, nơi tình trạng vi phạm pháp luật trở nên nhức nhối. Chính vì vây, việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân, giải pháp khắc phục thực trạng này đã trở nên hết sức cấp bách.

Thứ hai, các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị chưa thật sựphù hợp với đối tượng điều chỉnh. Những quy định trong Chương VI “Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư” trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 chưa hiểu đúng, đủ, toàn diện và lý giải căn bản khái niệm môi trường đô thị. Do đó, chúng ta làm luật có tính chất liệt kê, siêu hình, máy móc những vấn đềmôi trường của đô thị mà không thấy đây là một cơ thể sống rất phức tạp và nhạy cảm.

Trên thực tế, theo quan điểm sinh thái học, đô thị là một hệ sinh thái, nghĩa là có đầu vào (input) và đầu ra (output). Đầu vào và đầu ra của đô thị luôn luôn được cân bằng theo quan điểm cân bằng của hệ sinh thái. Tuy nhiên, sự cân bằng đó luôn trong quá trình phát triển, luôn trong trạng thái biến động, nên hệsinh thái đô thị được gọi là hệ sinh thái cân bằng động. Hơn thế nữa, hệ sinh thái đô thịđược coi là môi trường tự nhiên và hoàn cảnh văn hóa, xã hội mà con người xây dựng nên cho bản thân trong đô thị. Với cách nhìn như vậy, đô thị là biểu hiện cao nhất của tình hình phát triển kinh tế và xã hội của loài người, xét tiêu chí nào thì cũng là một thực thể vô cùng phức tạp. Từ đó, hệ sinh thái đô thịđược đặc trưng bằng hai loại cơ chế khống chế: tự nhiên và xã hội. Trong đó cơchế xã hội dần chiếm ưu thế. Các giới hạn của hình thái đô thị sẽ xác định rõ ràng phạm vi vận động của con người trong hệ sinh thái đô thị.

Khác với hệ sinh thái tự nhiên khác, ngoài các thành phần cơ bản là hữu sinh và vô sinh, hệ sinh thái đô thị còn có thành phần thứ ba đó là thành phần

35

công nghệ. Thành phần công nghệ có vai trò quyết định và chi phối dòng năng lượng qua hệ sinh thái.

Với cách tiếp cận về đối tượng điều chỉnh như vậy thì cũng cần nghiên cứu một cách có hệ thống về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị. Vì môi trường đô thị luôn trạng thái cân bằng động nên pháp luật cũng cần dự liệu chuyển động phù hợp với sự phát triển không ngừng của đô thị. Nghĩa là đặc thù pháp luật bảo vệ môi trường đô thị luôn trong trạng thái động sẽ ảnh hưởng đến phương pháp làm luật. Luật phải mở, tránh sử dụng các phương pháp liệt kê, quản lý đầu ra, không cứng nhắc. Các quy định cụ thể tiêu chí phải phụ thuộc vào input và out put hay nói khác đi là quy mô của đô thị. Vì ở mỗi một quy mô khác nhau thì có những tiêu chí khác nhau cho việc đảm bảo sự cân bằng. Phân quyền mạnh cho chính quyền đô thị để tăng sự tự chủ, phù hợp.

Pháp luật bảo vệ môi trường đô thị còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác đặc biệt là quy hoạch, xây dựng, quy hoạch tổng thể phát triển đất đai, quy mô dân số, vai trò của khoa học công nghệ… liên quan đến nhiều chủ thể, là một cơ

thể sống, các phương pháp tác động cần tổngthể…Nếu không nhận thức được mối quan hệ này thì tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị sẽkhông hiệu quả.

Thứ ba, một số công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật thì đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng đi sâu nghiên cứu vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật thì rất ít, tản mạn dưới dạng các bài viết nhỏ lẻ chưa có tính hệ thống và cách tiếp cận đang dừng lại ở việc “bàn về…”. Thực tiễn chứng minh so với công tác xây dựng pháp luật thì công tác tổ chức thực hiện pháp luật chưa được chú trọng một cách thỏa đáng. Như vậy trên cả hai phương diện, lý luận và thực tiễn thì tổ chức thực hiện pháp luật cần được đầu tư nghiên cứu thỏa đáng hơn trong bối cảnh chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về việc tổ chức thực hiện pháp luật ở đô thị. Tính đặc thù của đô thị đã được khoa học chứng minh, từ tính đặc thù này nó quy định đến việc tổ chức chính quyền ở đô thịcũng phải đặc thù. Các công trình nghiên cứu đã làm rõ và hiện thực hóa

36

trong Chương Chính quyền địa phương ở Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2013. Tuy nhiên, từ đặc thù của đô thị dẫn tới tính đặc thù của môi trường đô thị, đặc thù của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, đặc thù của chính quyền đô thị… Những đặc thù này sẽ quy định sự khác biệt trong khâu tổ chức thực hiện pháp luật ở đô thị. Do ở Việt Nam vấn đề đô thị, chính quyền đô thị đang là chủ đề mới nên những vấn đềcó tính chất chuyên sâu như tổ chức thực hiện pháp luật ở đô thị nói chung và pháp luật bảo vệ môi trường đô thị chưa được đề cập nghiên cứu thỏa đáng.

1.3.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phát huy kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu có khảo sát, nghiên cứu sinh thấy còn có những vấn đề sau đây cần tiếp tục nghiên cứu:

Thứ nhất, về mặt lý luận, luận án cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề cơbản sau đây:

– Nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường đô thị. Xây dựng mới khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường đô thị phù hợp với khái niệm môi trường đô thị. Làm rõ đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, làm rõ những đặc trưng riêng của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị với tư cách môi trường đô thị là một hệ sinh thái cân bằng động. Luận án cũng phải làm rõ đặc điểm về đối tượng điều chỉnh, tính chất, nội dung, hình thức của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị.

– Trên cơ sở kế thừa các công trình khoa học nghiên cứu về thực hiện pháp luật, đồng thời căn cứ vào những vấn đề thực tiễn, luận án xây dựng mới khái niệm trọng tâm là tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị. Luận án cần làm rõ mục đích, chủ thể, lĩnh vực, tính chất thực hiện pháp luật vềbảo vệ môi trường đô thị, làm rõ yêu cầu và các yếu tố đảm bảo thực hiện hoạt động này. Trên cơ sở đó luận án đi sâu khâu tổ chức thực hiện, nhấn mạnh vai trò của nhánh quyền hành pháp, với chủ thể đặc biệt là Nhà nước và các cơ quan Nhà nước với hai hình thức chính là thi hành và áp dụng pháp luật.

37

– Luận án cũng có nhiệm vụ nghiên cứu sâu hơn việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các đô thị ở Việt Nam. Đểgiải quyết vấn đềnày luận án tập trung tìm hiểu những đặc thù của đô thị, môi trường đô thị, sự cần thiết phải bảo vệ môi trường tại các đô thị. Trên cơ sở đó luận án sẽ đưa ra những vấn đềlý luận cơ bản trong việc tổ chức thực hiện như: khái niệm, đặc điểm, hình thức, quy trình tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các đô thị. Luận án cũng sẽ đưa ra những quan niệm về hiệu quả và hệ tiêu chí vềhiệu quả trong việc tổ chức thực hiện pháp luật.

Thứ hai, về mặt thực tiễn, Luận án tập trung làm rõ các vấn đề sau đây: Phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện và có hệ thống về thực trạng tổ

chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các đô thị ở Việt Nam, trên cơ sởđó đềxuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các đô thị ở Việt Nam.

1.3.3. Các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học Câu hỏi nghiên cứu

Từ những phân tích tổng quan hình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả xác định bốn câu hỏi nghiên cứu chính cần giải đáp, tương ứng với bốn chương của luận án:

Câu hỏi nghiên cứu 1: Những lý thuyết, quan điểm khoa học nào là nền tảng cho việc nghiên cứu, tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ môi trường đô thị nói riêng ở Việt Nam?

Câu hỏi nghiên cứu 2: Bản chất và những vấn đề cơ bản của tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ môi trường đô thị nói riêng ở Việt Nam?

Câu hỏi nghiên cứu số 3: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệmôi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay?

Câu hỏi nghiên cứu số 4: Vấn đềnâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam ttrong thời gian tới?

Giả thuyết khoa học

Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những câu hỏi nghiên cứu, tác giả đã xác định giải thuyết khoa học của luận

38

án là: Trong những năm vừa qua, so với hoạt động xây dựng pháp luật được quan tâm một cách đúng mức thì tổ chức thực hiện pháp luật lại còn nhiều khiếm khuyết. Luật ban hành nhiều, song không được triển khai hoặc thi hành không đầy đủ, không nghiêm chỉnh đang là thực tế đáng lo ngại hiện nay. Điều này cũng phản ánh sự cắt khúc giữa xây dựng, hoàn thiện pháp luật với tổ chức thực hiện pháp luật. Cho đến nay, nhiều vấn đề về khái niệm, lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật chưa được làm rõ nên còn nhiều cách nhận thức, tiếp cận khác nhau. Liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực này, Bộ Tư pháp được giao chức năng giúp Chính phủ quản lý Nhà nước về xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật. Đây là một chủ trương đúng đắn vì trong thời gian qua, dù việc theo dõi thi hành pháp luật trên các lĩnh vực đã được thực hiện bởi các bộ, ngành, cơ quan có liên quan nhưng chưa có một cơ quan nào được phân công theo dõi, nắm tình hình chung về thi hành pháp luật trên phạm vi cả nước. Việc thiếu cơ quan đầu mối này đã tạo ra sự chia cắt trong việc đánh giá về tình hình thi hành pháp luật trên từng lĩnh vực, do đó, Chính phủ không có được một thông tin tổng quan về tình hình thi hành pháp luật vốn rất cần thiết cho điều hành, quản lý vĩ mô. Do vậy, vấn đề đầu tiên và hết sức cấp bách là phải có một nghiên cứu tổng thể và toàn diện để thực hiện có hiệu quả chức năng này.

Vấn đềmôi trường đô thị, pháp luật bảo vệ môi trường đô thị cũng chưa được làm rõ; các quy định trong pháp luật Việt Nam về vấn đề này đã có nhưng vẫn còn nhiều bất cập, lạc hậu, lỗ hổng pháp lý và chưa mang tính dự báo. Việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị còn nhiều vướng mắc, tồn tại nên hiệu quả đối với việc bảo vệ môi trường đô thị, phát triển đô thị bền vững còn thấp. Hiện còn thiếu phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thịở Việt Nam một cách toàn diện, đầu đủvà hệ thống.

Kết luận chương 1

Trên cơ sở đánh giá các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, các công trình khoa học trước đây đã ít nhiều đã đề cập đến những nội dung

39

liên quan vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thịở Việt Nam và trên cơ sở đó làm nền tảng để kế thừa, tìm ra điểm mới của đề tài. Qua phân tích có thể thấy:

1. Pháp luật bảo vệ môi trường là vấn đềđã được cácnhà khoa học quan tâm từ rất lâu, những nghiên cứu đó góp phần hoàn thiện việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị với đặc thù của mỗi nước trong từng giai đoạn phát triển.

2. Ở Việt Nam, có rất ít công trình khoa học nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật và chưa hề có công trình khoa học nào nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường. Đặc biệt, qua phần tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam có thể khẳng định cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị. Với thực trạng tình hình nghiên cứu đó, nghiên cứu sinh đã chọn đềtài “Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam” làm đềtài nghiên cứu là không trùng lặp và có tính mới so với các công trình khoa học trước đây đã công bố.

3. Nhằm đểđạt mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu thì luận án dựa trên cơ sở lý thuyết các học thuyết của khoa học môi trường đểtriển khai nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu linh hoạt phù hợp với từng phần, từng chương của luận án.

4. Những nội dung đã tổng hợp tại Chương 1 là cơ sở để tác giả đi sâu vào việc phân tích quan niệm, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thịở Việt Nam trong Chương 2 của luận án.

40 Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

BẢO VỆ MÔITRƯỜNG ĐÔ THỊ

2.1. Khái niệm, vai trò của tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị

2.1.1. Khái quát chung về môi trường đô thị, bảo vệ môitrường đô thịvà pháp luật bảo vệ môi trường đô thị

Môi trường đô thị

Đểtìm hiểu khái niệm về môi trường đô thị trước hết ta bắt đầu từ khái niệm môi trường. Khái niệm này được tiếp cận dưới nhiều góc độkhác nhau, thông thường môi trường được cho là tất cả những gì có xung quanh con người, cung cấp cho con người điều kiện sống và phát triển. Dưới góc độ pháp luật, môi trường được Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 xác định bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Môi trường liên quan đến đời sống của con người có các chức năng cơ bản sau:

Môi trường là không gian sống của con người và thế giới các loài sinh vật. Môi trường là nơi chứa đựngcác nguồn tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất cũng như sự phát triển của con người, như rừng tự nhiên, các loài động thực vật, các loại quặng, dầu mỏ. Môi trường là nơi chứa đựngcác chất phế thải của quá trình sinh hoạt trong cuộc sống của con người và của quá trình sản xuất. Môi trường có khả năng bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài; là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất. Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.

Theo quan điểm chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới thì “đô thịđược hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổvới hoạt độngkinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ” [29]. Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị được định nghĩa là một không gian cư trú của cộng

41

đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp [108]. Dưới góc độ pháp lý, đô thị được hiểu là khu vực tập trung dân cưsinh sống có mật độcao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [89].

Từ những khái niệm về môi trường và đô thị nêu trên, chúng ta có thể hiểu môi trường đô thị là môi trường sống, nơi cư trú và diễn ra các hoạt động của dân cưđô thị. Môi trường đô thị là một trong những kết quả tác thành của con người trong quá trình tác động đến thiên nhiên. Do vậy, PGS,TS Lê Hồng Kế cho rằng, “Môi trường đô thị trước hết là môi trường thiên nhiên, mà trên đó con người tạo nên những hoạt động vật chất đểphục vụ sự sống của con người ở mức độ tập trung hơn, trình độ cao hơn và do đó tác động đến môi trường do chính con người tạo ra nhiều hơn, tác động mạnh hơn và với quy mô ngày càng lớn hơn” [61].

Môi trường đô thị bao gồm các yếu tố, thành phần tự nhiên và nhân tạo của môi trường đô thị phục vụ cho nhu cầu sống, làm việc, nghỉ ngơi của con người.

+ Thành phần tự nhiên của môi trường đô thị: địa hình, đất, nước, không khí, khí hậu, động thực vật, các hệ sinh thái, sông ngòi, ao hồ.

+ Các thành phần nhân tạo bao gồm các thành phần vật chất và phi vật chất.

Một là, thành phần vật chất, bao gồm: toàn bộ các công trình xây dựng theo chức năng đô thị phục vụ cho các nhu cầu sống, làm việc và nghỉ ngơi giải trí của con người và cáchoạt độngkhác của đô thị bao gồm: Nhà ở, hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện và các công trình dịch vụ phúc lợi khác. Các công trình thể thao, giải trí văn hóa, hạ tầng giao thông, hạ tầng môi trường đô thị đểđảm bảo cho nhu cầu nước sạch, năng lượng, xử lý nước thải, chất thải rắn, công viên, cây xanh và quảng trường, các công trình cho dịch vụ thương mại và các dịch vụ tư nhân, các công trình sản xuất, nhà máy, xí nghiệp. Trong đó cơ sở hạ

tầng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chất lượng môi trường, chăm sóc

42

sức khỏe con người. Chất lượng cơ sở hạ tầng phản ánh hiện trạng kinh tế – xã hội của một đô thị. Vì vậy, đây là một trong những vấn đề cơ bản để đánh giá chất lượng cuộc sống, sự phát triển kinh tế của đô thị.

Hai là, thành phần phi vật chất bao gồm: kinh tế – xã hội, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật (là sản phẩm lao động, sáng tạo của con người). Đô thị có bền vững hay không là phụ thuộc chủ yếu vào những yếu tố này. Ba thành phần (kinh tế xã hội, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật) có tính quyết định đến sựphát triển của đô thị.

Bảo vệ môi trường đô thị

Môi trường đô thị là tấm gương phản chiếu trung thực, khách quan trình độphát triển, trình độ văn minh hiện đại của mỗi đô thị. Do vậy, quy hoạch và quản lý môi trường hiệu quả sẽ góp phần giữ gìn và phát triển đô thị bền vững. Một trong những nhiệm vụ đó là phải bảo vệ môi trường đô thị. Bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường đô thị nói riêng được hiểu là hoạt động giữgìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.

Bảo vệ môi trường đô thị thường tập trung vào những hoạt động chính như: Quy hoạch sử dụng đất; hạ tầng cơ sở (Hệ thống giao thông đô thị; hệ thống

cấp thoát nước đô thị…); môi trường xây dựng; phủ xanh thành phố; kiểm soát ô nhiễm (đất, nước, không khí, tiếng ồn…); quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại; cải thiện nhà ổ chuột; sức khỏe môi trường; quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên…

Trong phát triển bền vững của đô thị việc bảo vệ môi trường đô thị phải bảo đảm các tiêu chí cơ bản sau

Một là, tiêu chí về áp lực đối với môi trường đô thị

Tiêu chí về áp lực đối với môi trường đô thị có thể bao gồm những nội dung chính sau:

Một, quy mô phát triển đô thị phải hợp lý. Những thành phố dân số khổng lồ và tỷ lệ đất trên đầu người quá thấp sẽ nảy sinh nhiều vấn đềmôi trường không thể giải quyết được. Hai, quy hoach đất sử dụng đô thị phù hợp với yêu

43

cầu bảo vệ môi trường, đặc biệt là quy hoạch phân khu công nghiệp, khu dịch

vụ, khu dân cư, trường học, bệnh viện… không gây ra các vấn đề gay cấn về môi trường. Ba, tiết kiệm sử dụng và khai thác tài nguyên thiên nhiên, đối với tài nguyên có thể tái sinh như tài nguyên nước thì phải khai thác, sử dụng dưới mức tự phục hồi của tài nguyên. Bốn, giảm thiểu nguồn thải các chất gây ô nhiễm môi trường phát sinh từ sản xuất (đặc biệt là sản xuất công nghiệp), giao thông vân tải và sinh hoạt đô thị. Đảm bảo tổng lượng thải phải dưới mức khả năng chịu đựng(tiếp nhận) của môi trường. Năm, bảo tồn đa dạng sinh học trong đô thị

(cây xanh, thực vật, động vật,trên cạn, dưới nước…) bảo vệ cảnh quan thiên

nhiên, di tích lịch sử, văn hóa…

Tiêu chí về áp lực phát triển đô thịđối với môi trường có thể thể hiện bằng các chỉ số cụ thể như sau:

Mộtdân số: tổng dân số, tỷ lệ tăngdân số, mật độdân số. Hai, diện tích đô thị, diện tích đô thị hóa hay tỷ lệ diện tích đô thị hóa hàng năm. Ba, tăng trưởng kinh tế: tổng thu nhập quốc nội của đô thị, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm. Bốn, cơ cấu thu nhập quốc dân: công nghiệp, tăng trưởng công nghiệp hàng năm, nông nghiệp, dịch vụ. Năm, tổng lượng xe máy, ô tô các loại, tỷ lệ tăng xe máy, tỷ lệ tăng ô tô mỗi năm. Sáu, tổng khối lượng nhu cầu cấp nước sử dụng: tổng lượng nước cấp, cấp nước sinh hoạt, cấp nước công nghiệp. Bảy, tổng lượng tiêu thụ năng lượng điện, than, xăng, dầu. Tám, tổng lượng khí thải công nghiệp, giao thông, đun nấu, cụ thể là tổng lượng bụi, SO2, NO2, CO2, HC, chì. Chín, tổng lượng nước thải sinh hoạt: tổng lượng thải, tổng BOD2 tổng N và P trong nước. Mười, tổng lượng nước thải công nghiệp: tổng lượng thải m3/năm, chất thải nguy hiểm, phân. Mười một, sựcố môi trường: địa điểm, nguyên nhân, mức thiệt hại.

Hai là, tiêu chí về đáp ứng đối với môi trường đô thị

Tiêu chí về đáp ứng trong phát triển môi trường đô thị có thể bao gồm những nội dung chính sau đây:

Một, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị (hệ thống giao thông, hệ thống cấp

nước, cấp điện, thông tin….) đạt trình độ hiện đại và đáp ứng hoàn toàn nhu cầu phát triển đô thị. Hai, tất cả các nguồn nước thải, khí thải, rác thải đều được xử

44

lý đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Ba, đô thịđã giải quyết cơ bản vấn đềnhà ở, chữa

bệnh, học tập vui chơi, giải trí… của nhân dân. Bốn, tổ chức, cơ chế quản lý, các văn bản pháp quy quản lý môi trường đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường đô thị. Năm, nhân dân có nếp sống thân thiện đối với môi trường và có ý thức bảo vệmôi trường. Sáu, ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường thích đáng.

Nội dung tiêu chí đáp ứng môi trường trên có thể thể hiện bằng các chỉ sốcụ thể:

Tỷ lệ dân được cấp nước máy; Mật độ km đường cống rãnh thoát nước/km2diện tích đất đô thị, mật độđường giao thông trên km2 diện tích đất đô thị, số bãi chôn rác và nhà máy xử lý rác, tỷ lệ số hộ gia đình có xí hợp vệ sinh, số giường bệnh trên nghìn dân, bình quân diện tích nhà ở trên đầu người,diện tích cây xanh đô thị: diện tích cây xanh đô thị trên đầu người (m2/người), tỷ lệdiện tích cây xanh trên diện tích đô thị (%).

Chỉ số về quản lý môi trường: Tổ chức bộ máy quản lý môi trường, sốlượng, tên các văn bản pháp quy đã ban hành; số cán bộ quản lý môi trường của đô thị, số lần thanh tra và monitoring môi trường/ năm, số vụ kiện và tranh chấp môi trường, số vụ xử phạt vi phạm môi trường.

Ngân sách nhà nước đầu tư cho bảo vệ môi trường (% tổng ngân sách nhà nước, % tổng sản phẩm xã hội)

Ba là, tiêu chí về trạng thái chất lượngmôi trường

Tiêu chí về trạng thái chất lượng môi trường đặc trưng bởi cácchỉ số của thành phần môi trường chính của đô thị: môi trường nước, môi trường không khí, môi trường đất, chất thải rắn, tiếng ồn. Tất cả các chỉ số của thành phần môi trường này đều đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam. Ngoài ra, tiêu chí về trạng thái môi trường còn thể hiện qua trạng thái sức khỏe của nhân dân.

Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị

Đểviệc bảo vệ môi trường đi vào nề nếp và đạt được các mục đích đề ra như nêu trên, hoạt động bảo vệ môi trường đô thị cần được ghi nhận và bảo đảm

45

thực hiện bằng nhiều công cụ, biện pháp, trong đó công cụ có hiệu quả nhất là pháp luật.

Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sựcố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; bảo vệ cảnhquan môi trường đô thị và bảo vệ đa dạng sinh học.

Pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị gồm nhiều nhóm quy phạm pháp luật khác nhau được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, do các cơ quan khác nhau ban hành. Pháp luật về bảo vệ môitrường đô thịthường quy định những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, những tổ chức cá nhân nào có trách nhiệm bảo vệ môi trường đô thị. Chủ thể trong quan hệ pháp luật vềbảo vệ môi trường đô thị là những cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động nhằm giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp, bảo vệ sức khỏe của con người. Như vậy, chủ thể trong quan hệ pháp luật bảo vệ môi trường đô thịgồm hai nhóm cơ bản sau đây:

Một là, các chủ thể có thẩm quyền trong công tác bảo vệ môi trường nhưBộ Tài nguyên và Môi trường, các Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường. Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan Cảnh sát môi trường, thanh tra môi trường và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác. Các chủ thể này có đặc điểm là đại diện cho quyền lực Nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường đô thị, được sử dụngquyền lực Nhà nước khi thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị.

Hai là, nhóm chủ thể không được sử dụng quyền lực Nhà nước khi thực hiện công tác bảo vệ môi trường đô thị, đó là các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân có liên quan. Ví dụ: Các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đô thị và giữgìn vệ sinh nơi công cộng; đổ, bỏ rác vào thùng chứa rác công cộng hoặc nơi quy định tập trung rác thải; tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường có trách nhiệm

46

kiểm tra, đôn đốc các hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệ sinh

môi trường đô thị…

Thứ hai, mục đích, ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường đô thị là giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp; bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị; ngăn ngừa và hạn chế những tác động xấu đến môi trường đô thị; khắc phục sựcố, suy thoái, ô nhiễm môi trường đô thị.

Thứ ba, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường, tổ chức thực hiện và thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị, trong đó gồm các quy định cơ bản sau:

– Các quy định về bảo vệ môi trường đô thị nhằm ngăn ngừa, hạn chếnhững tác động xấu đến môi trường đô thị. Đó là các quy định pháp luật về quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị.

– Các quy định pháp luật về yêu cầu chung về bảo vệ môi trường đối với đô thị, bảo vệ môi trường nơi công cộng, bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình tại đô thị. Ví dụ, pháp luật quy định quy hoạch bảo vệ môi trường đô thịbao gồm hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường như hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa; hệ

thống cây xanh, vùng nước… nhằm hạn chế, ngăn ngừa những tác động xấu đến môi trường đô thị như hiện tượng sự cố môi trường, suy thoái môi trường, hạn

chế các chất gây ô nhiễm môi trường tại các đô thị…

– Các quy định về yêu cầu đối với bảo vệ môi trường đô thị như yêu cầu về bảo vệ môi trường nơi công cộng, yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với các hộ gia đình, yêu cầu đối với tổ chức tự quản bảo vệ môi trường tại các đô thịnhằm giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp, khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đô thị như bỏ rác vào đúng nơi quy định, có hệ thống xử lý

nước thải, chất thải trước khi xả ra môi trường…

– Một số các quy định khác của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị+ Tổ chức tự quản bảo vệ môi trường đô thị.

+ Các quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường trong bảo vệ môi trường đô thị.

+ Xử lý vi phạp pháp luật trong lĩnh vực môi trường đô thị…

47

2.1.2. Khái niệm, đặc điểm của tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *