Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở Việt Nam

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, trên địa bàn cả nước tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn cả nước và từng địa phương diễn ra phức tạp và có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số vụ, số người phạm tội lẫn tính chất,mức độphạm tội. Hành vi phạm tội không chỉ xảy ra ở các thành phố mà cònxảyra nhiều ở các địa phương vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Loại tội phạm này chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các vụ phạm tội xảy ra, làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần và cả tính mạng của những người bị hại, gây ra tâm lý bất an, lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trịan và an toàn xã hội ở các địa phương và để lại nhiều hệ lụy xấu cho gia đình và xã hội. Đặc biệt, do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng trực tiếp của nhiềuyếutốtiêucựcnhư game online, phimảnhbạolực, văn hoá phẩm không lành

mạnh…làm cho tình hình tội phạm cố ý gây thương tích có xu hướng diễn biến manh động, với những phương thức, thủ đoạn rất đa dạng và tinh vi, đối tượng phạm tội ở đủ mọi lứa tuổi và cóxu hướng ngày càng trẻ hoá. Người phạm tội ngày càng liều lĩnh, mà nguyên nhân trong nhiều trường hợp xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ nhặt, bột phát; người phạm tội sử dụng ngày càng nhiều hơn các loại hung khí, phương tiện nguy hiểm gây thiệt hại sức khoẻ cho nhiều người, đặc biệt có cả trường hợp con cái gây thương tích cho bố mẹ, cháu gây thương tích cho ông bà do

mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn chia thừa kế, đất đai…Với tính chất nguy hiểm và hậu quả mà tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác gây ra, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và chính quyền địa phương phải tăng cường hơn nữa công tác đấu tranh phòng, chống và từng bước ngăn chặn, giảm thiểu đến mức thấp nhất loại tội phạm này.

Là cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, VKSND là cơ quan được giao chức năng THQCT, kiểm sát hoạt động tưpháp,được Đảng, Nhànước và nhân dân giao cho trọng trách phối hợp với các cơ quan trực tiếp đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nói riêng; đồng thời, tham mưu với Đảng, Nhà nước đềra chủtrương, biện pháp đấu tranh và phòng, chống hiệu quảđối với loại tội phạm này, góp phần quan trọng vào việc thực hiện công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta. Trong thời gian vừa qua, toàn ngành Kiểm sát

1

đã có nhiều cốgắng vềmọi mặt nên đã góp phần to lớn trong việc bảo đảmtrật tựan toàn xã hội, tấn công mạnh mẽ và có hiệu quả vào các tội phạm nói chung, tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng và đã đạtđược những kết quảquan trọng, được Đảng, Nhànước và nhân dân ghi nhận. Thực tiễn hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơthẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác của VKSND các cấp thời gian qua cho thấy, đã có sự tiến bộ rõ rệt, góp phần đảm bảo cho hoạt động điều tra, xét xử của Cơ quan điều tra, TAND các cấp tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Đồng thời, thông qua hoạt động này, VKSND đã góp phần vào việc nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm nàyởcác địa phương trong cảnước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt độngTHQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ áncố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác vẫn còn bộc lộmột số hạn chế, vướngmắc như: Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về

tội phạm còn nhiều hạn chế nên dẫn tới tình trạng bỏ lọt tội phạm, không quản lý được tình hình tội phạm nàyđã xảyra; chất lượngcông tác kiểm sát điều tra chưa cao; tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố oan, sai vẫn còn xảy ra; còn nhiều vụ án bị Toà án trả lại hồ sơđể điều trabổ sung; việc áp dụng pháp luật vào từng trường hợp cụ thể còn chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa các VKS địa phương; hoạt động xét hỏi, tranh luận giữa các bên tại phiên toà còn chưa thực chất và còn thiếu tính chủđộng;việc xác định thiệt hại đểgiải quyết vấn đềbồi thường trong một sốtrường

hợp chưa chính xác… Những hạn chế nêu trên dẫn đến hậu quả nhiều vụ án có quá trình điều tra kéo dài, không đủ căn cứ để truy tố, hoặc bị cấp phúc thẩm cải sửa, huỷ án đểđiều tra lại, làm ảnh hưởng đến việc xử lý tội phạm và người phạm tội. Những hạn chế, tồn tại đó đã ảnh hưởng không nhỏđến chất lượng điều tra và hoạt động kiểm sát điều tra, KSXX các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn cả nước thời gian qua.

Với mục đích tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của VKSND trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, ngành Kiểm sát đã tổ chức nghiên cứu nhiều nội dung và vấn đề khác nhau, bằng nhiều đề tài khoa học ởcác cấp độkhác nhau. Kết quảnghiên cứu củacác đềtàiđãđược đưa vào vận dụng trong thực tiễn và đã mang lại những kết quảnhất định. Tuy nhiên, đối với hoạt

2

động của VKSND trong hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụán cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, cho tới nay vẫn chưa có một nghiên cứu toàn diện và có hệ thống được thực hiện, nên chưa tạo ra được cái nhìn tổng quan về cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng cũng nhưxác định đầy đủ và chính xác những nguyên nhân, điều kiện của các ưu, nhược điểm trong hoạt động; chưa đưa ra được các giải pháp hữu hiệu đểkhắc phục những vướng mắc, tồn tại, hạn chế của VKSND trong hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong thực tế.

Vì vậy, để giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khácởViệt Nam, tác giảđã lựa chọn vấn đề”Thực hành quyền công tốvà kiểm sátđiều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ là mang tính cấp thiết hiện nay.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sởnghiên cứu, đánh giá vềlý luận, quyđịnh của pháp luật và thực tiễn hoạt động giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong thời gian vừa qua, luận án đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam trong thời gian tới.

Để thực hiện mục đích đó, luận án có những nhiệm vụ sau:

– Khảo sát, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và ở nước ngoài đối vớihoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụán cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

– Phân tích làm rõ nhữngvấnđềlý luận như: Khái niệm,đốitượng, phạm vi,đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

– Phân tích những quy định của pháp luật về THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụán cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định của BLTTHS năm 2003 và những điểm mới của BLTTHS năm 2015.

3

– Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của VKSND trong THQCT và kiểm sátđiều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác theo quyđịnhcủaBLTTHS năm 2003.Đồngthời,chỉra kếtquảđạtđược, những hạn chế, vướngmắcvà nguyên nhân của thực trạng đó và đưa ra những giải pháp, kiến nghị để khắc phục những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong công tác này.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của luận án nàyđượcxác địnhlà: Những vấn đềlý luận, pháp luật và thực tiễn về hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụán cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của VKSND theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định và giới hạn, gồm:

Về nội dung: Đề tài Luận án chỉ giới hạn trong nghiên cứu lý luận, pháp luật vàthực tiễn hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụán cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của VKSND ởViệt Nam trong hai giai đoạn đó là: Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra (bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi CQĐT làm bản kết luận điều tra đềnghị truytốhoặc đình chỉvụán) và THQCT, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự (bắt đầu từ khi Tòa án vào sổ thụlý và kết thúc khi Tòa án sơ thẩm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật) theo quyđịnh của BLTTHS năm 2003.

Xác định đâylà một đềtài có phạm vi nghiên cứu rất rộng và có tính thực tiễn cao, nên luận án chỉnghiên cứu những quyđịnh cơ bản của pháp luậtvềhoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác làm cơ sở cho việc đánh giá thực tiễn.

Về không gian, thời gian nghiên cứu: Đề tài Luận án tập trung nghiên cứu ở Việt Nam, địa bàn khảo sát, phân tích trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung ở những tỉnh, thành phố trọng điểm. Các số liệu liên quan đến đề tài được tham khảo từ số liệu thống kê về hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 2007 đến 2016 của Cục thống kê tội phạm VKSND tối cao, thực tế hồ sơ vụ án lưu giữ tại VKSND các cấp.

4

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng duyvậtcủa chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật XHCN, các quanđiểm của Đảngvà Nhà nước ta về chiến lược cải cách tư pháp;vềđấu tranh phòng, chống tộiphạm nói chung và đấu tranh phòng, chống tội phạmcố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng.

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của khoa học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự và cách tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội.

4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án đượcthực hiện dựa trên tổng thể các phương pháp đặc thù của Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự như: Diễn giải, quy nạp, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát, điều tra xãhộihọc có tính điển hình, tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn, phỏng vấn, tọa đàm, trao đổi trực tiếp với Điều tra viên, KSV, Thẩm phán có năng lực, có kinh nghiệm trong đấu tranh phòng, chốngtộiphạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổnhạicho sức khỏe củangườikhác. Tùy thuộc vào yêu cầu giải quyết và đối tượng nghiên cứu của

từng chương,mụctrongđề tàiLuận án, tác giả lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phùhợp để đạt được mụcđích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, khisửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể này, tác giả luôn tuân thủ cách tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra.

5. Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu và tươngđốitoàn diệnvềhoạtđộng THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam, cụ thể là:

– Luận án đã luận giải và làm rõ hơn một sốvấn đềlý luận như khái niệm, đặc điểm, đối tượng, phạm vi, nội dung và ý nghĩa của hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

– Luận án khảo cứu, đánh giá tình hình hoạt động THQCT và kiểm sát điềutra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

5

kháctừnăm 2007 đến 2016, chỉ ra nhữngkếtquả đạt được, nhữnghạn chế,vướngmắc và nguyên nhân của nó.

– Luận án đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác. Bên cạnh đó, luận án còn đưa ra một số kiến nghịđể bổ sung, hoàn thiện các quy định trong Bộ luật hình sự, BLTTHS liên quanđến việc giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácđáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong thời gian tới.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án góp phần bổsung, hoàn thiện lý luận vềhoạt động của VKSND trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; góp phần hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Các nghiên cứu của luận án sẽ là nguồn tư liệu mang tính lýluận và thực tiễn sâu sắc có thể làm cơ sở cho việc nhận thức thống nhất pháp luật của các cơ quan tư pháp khi giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Luận án là tài liệuhữuích cho việc nghiên cứu, giảngdạyvàtậphuấn nghiệpvụchuyên sâu trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ của các cơ quan tư pháp, đặc biệt cho cán bộ, công chức làm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Nhữngvấnđề lý luận và pháp luật về thực hành quyền côngtố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam

6

Chương 3: Thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam

Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sátđiều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam

7

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài và ở Việt Nam 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan đến lýluận về lịch sử Nhà nước và pháp luật; vềhệthống pháp luật và mô hình tốtụng, cơ quan công tốmột sốnước trên thế giới; về công tác THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, đặc biệt là các công trình nghiên cứu ở trong nước, tác giả có một số nhận xét, đánh giá về các kết quảnghiên cứu như sau:

– Các công trình nghiên cứu ở nướcngoàiđã đề cập, phân tíchvềlịch sửNhànước và pháp luật; về hệ thống pháp luật và mô hình tố tụng; về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của VKS hoặc Cơ quan côngtố vàsựtácđộng củacông tác THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSđối với CQĐT và Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, trong đó có liên quan đến việc giải quyết các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Theo đó, các nước với hệ thống pháp luật vàmô hình tố tụng khác nhau thì việc quyđịnhvị trí, chức năng, nhiệmvụ của Cơ quan công tố ở mỗi nước hoặc nhóm nước có sự khác nhau, từ đó dẫn tới cách thức, trình tựcũng nhưmốiquan hệ giữa các cơ quan tố tụng trong việc tham gia vào giải quyếtvụán hình sựcũng có những đặc điểmtương đồng và khác biệt nhất định. Đâylà điểmxuất phát rất quan trọng, là cơ sở lý luận mang tính tiền đề để tác giả tiếp tục đi sâu vào

23

nghiên cứu, phân tíchcơ sởlý luận và thực tiễn của hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở Việt Nam.

Các công trình nghiên cứu trên thếgiới cũng cho tác giảcómộtcái nhìn toàn diện, đa chiều về hệ thống pháp luật, mô hình tố tụng; về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan công tố, CQĐT và Tòa án của cácnước trong việc giải quyết vụán hình sự. Mặc dù, ởmỗi nước với hệthống pháp luật và mô hình tốtụng khác nhau nhưng tổng quan các công trình nghiên cứu đã giúp cho tác giảcó cơ sởđểkhái quát vềcông tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam một cách đa chiều và có tính liên hệ, so sánh, đối chiếu.

– Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã phân tích và khái quát tình hình nghiên cứu về lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, mô hình nhà nước pháp quyền, mô hình tố tụng hình sự, trong đóđề cập cácchủ trương, định hướng cải cách tư pháp, hoàn thiện mô hình tố tụng hìnhsự ở nước tanói chung, hoàn thiện cơ chế pháp lý giữa Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án nói riêng. Đặc biệt, một số công trình nghiên cứu trong nước đã đề cập trực tiếp về mặt lý luận cũng như đánh giá thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cố ý gây thương tích ở Việt Nam; về hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm liên quan đến loại tội phạm này. Các nội dung hợp lý của các công trình nghiên cứu trênsẽ được tácgiả kế thừa, tiếp tục nghiên cứu phát triển trong luận án này.

– Kết quả nghiên cứu giúp cho tác giả nhận thức được tổng quan vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của VKSND; nhận thức được tổng quan về lý luận, pháp luật, về thực tiễn của hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chưa nghiên cứu một cách tổng thể, đồng bộ và chuyên sâu về hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, KSXX sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam, đặc biệt trên cả ba bình diện lý luận, thực tiễn và giải pháp vềhoạt động này trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và theo yêu cầu cải cách tưpháp đặt ra hiện nay.

1.3. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Luận án có nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau đây:

24

– Làm rõ hơn lý luận và pháp luật về THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xửsơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, như: Khái niệm, đối tượng, phạm vi, đặc điểm, căn cứ pháp lý và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm đối với các vụ án cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

– Nghiên cứu, đánh giá nhữngvướngmắc,bấtcậptrong quyđịnhpháp luật hiện hành có liên quan đến hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở Việt Nam.

– Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của VKSND trong THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong giai đoạn 10 năm (từ năm 2007 đến năm 2016). Qua đó, phân tích, đánh giá rút ra những kết quảđạtđược, đồng thời làm rõ những hạn chế, vướng mắc, khó khăn và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc, khó khăn đó.

– Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụán cốý gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khoẻ của ngườikhác ởViệt Nam trong thời gian tới.

Kết luận Chƣơng 1

Trong Chương một của Luận án, tác giả đã tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản sau đây:

1. Các công trình nghiên cứu củacác tác giảởnướcngoài đãcung cấp những thông tin về mô hình tố tụng, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của VKS hoặc Cơ quan công tốvà sự tác động giữa công tác THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp của Cơ quan công tốđối với các cơ quan tư pháp khác trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Theo đó, mỗi mô hình tố tụng khác nhau hoặc nhóm các nước có hệ thống pháp luật giống nhau đều có những điểm khác biệt, hoặc tương đồng. Cụ thể, nhóm các quốc gia theo truyền thống luật án lệ và nhóm các quốc gia theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa (Cơquan công tố được đặt trong hệ thống hành pháp thuộc chính phủ, hoặc được tổ chức bên cạnh hệ thống các cơ quan tư pháp) về chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan côngtố đều cóchức năng truy tố và buộc tội, nhưng vai trò và mức độ tác động, tương tác có sự khác

25

nhau. Còn nhóm các quốc gia mà cơ quan công tố không thuộc các cơ quan hành pháp mà có một vị trí riêng, do Cơ quan quyền lực Nhà nước là Quốc hội thành lập ra, chịu

trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội như Trung Quốc, Liên bang Nga,…thì bên cạnh chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát còn có chức năng kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.

2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước nghiên cứu về mô hình tốtụng hình sự; vềvai trò, chức năng, hoạtđộng của VKSND, của CQĐT và TAND; vềmối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp; về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và

các nhóm, loại tội phạm cụ thể. Mỗi công trình có phạm vi nghiên cứu riêng, ở các góc độ, mức độkhác nhau và được phân thành các nhómcụthể. Qua việc nghiên cứu các công trình ở nước ngoài và ở Việt Nam giúp cho tác giả nhận thức được tổng quan vị trí, vai trò, chức năng và nhiệmvụcủa VKSND; nhận thức được tổng quan vềlý luận, vềpháp luật và thực tiễn của hoạt động THQCT, kiểm sát điều tra, KSXX các vụ án hình sự. Đâychính là những kiến thức nền tảng làm cơsởđểnghiên cứu lý luận, pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụán cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ởnhững chương tiếp theo.

3. Đánh giá được tình hình nghiên cứu vềlý luận, vềthực tiễn và giải pháp của hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xửsơ thẩm các vụán cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Bên cạnh đó, còn nêu cụ thểnhững vấn đề đặt ra mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển.

26

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA, KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC

VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ

CỦA NGƢỜI KHÁC Ở VIỆT NAM

2.1. Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xửsơ thẩm các vụán cốý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác

2.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xửsơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

2.1.1.1. Khái quát vềcác vụán cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Thứnhất, khái niệmtộicốýgây thương tích hoặc gâytổnhạichosứckhỏe của người khác.

Về khái niệm cố ý gây thương tích cũng có những quan điểm khác nhau. Theo Từđiển Luật học: “Cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thươngtích”[8, tr.283]. Theo Thạc sĩ Đinh Văn Quế: Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cốý làm cho người khác bịthương hoặc tổn hại đến sức khỏe [86, tr.126].Đối với tộiphạmcốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ngoài những dấu hiệu pháp lý đặc trưng chung thì còn có dấu hiệu pháp lý riêng đó là:

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cố ý gây thương tích được biểu hiện tập trung nhất ở hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động trực tiếp lên cơ thể của người khác, làm tổn thương một bộ phận hay toàn bộ cơ thể, làm tổn hại, làm mất hẳn hay làm mất một chức năng của một cơ quan nào đó trên cơ thể con người như làm gãy tay, gãy chân, cụt tay, cụt chân, mù mắt…; Tính có lỗi thểhiện thái độtâm lý của một người đối với tội phạm mà người đógây ra. Việc xác định lỗi là rất cầnthiết bởi lỗi là đặc điểmquan trọng của tội phạm nói chung và tội phạm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng. Về mặt hình sự, lỗi của người phạm tội được xác định trên cơsở làm rõ người phạm tội có nhận thức về hành vi phạm tội hay không, có ý thức thế nào

27

đối với hậu quả của hành vi. Tính trái pháp luật của tội phạm cố ý gây thương tích nói cũng như các loại tội phạm khác theo quy định của pháp luật thì chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Tính phải chịu hình phạt: BLHS quy định tính chịu hình phạt là đặc điểm cơ bản của tội phạm, tính chịu hình phạt làthuộc tính bên ngoài của tội phạm nó thể hiệnđã cótội thì phải chịu hình phạt, không áp dụng hình phạtđốivớingườivôtộihoặcngườicó hành vi vi phạm pháp luật khác. Tuy nhiên, trong thực tiễn có nhiều trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt theo quy định của pháp luật [78, Đ.25], [79, Đ.29 và Đ.62].

Vềtộicốýgây thương tích hoặc gâytổnhại chosứckhỏecủangườikhácđược quyđịnhở Điều104 BLHS năm 1999 (Điều 134 BLHS năm 2015, đã đượcsửa đổi, bổsung năm 2017). Tội này bao gồm hành vi: “Gây thương tích cho người khác” là hành vi dùngsứcmạnhvậtchất tácđộnglên thânthểconngườilàm cho conngườicó những thương tích nhấtđịnh(đểlạidấu vết) và “Gâytổnhại cho sứckhỏe của người khác” là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể con người làm cho sức khỏe của nạn nhân yếu đi, không còn nguyên vẹn như trước mặc dù không để lại dấu vết trên thân thểhọ,hoặc làmmấtchức năng hoạtđộngcủamộtbộphận cơthểcủanạnnhân, làm giảm chức năng hoạt động của bộ phận đó [7, tr.12].

Từnhững phân tích trên, có thểđưa ra khái niệm tội cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác.

Thứ hai, dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Tội cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tội ghép gồm hai tội quy định trong cùng một điều luật: Tội cố ý gây thương tích cho người khác và tội gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Cầu, gây thương tích là gây ra, để lại các dấu vết trên thân thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, còn gây tổn hạicho sức khỏe của người khác là làm mất mát, hư hại một phần, không còn nguyên vẹn như trước nữa đối với sức khỏe con người [13].

28

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tuy là hai tội, song hành vi khách quan và hậu quả của nó rất giống nhau, có nhiều điểm tương đồng nhau. Do vậy, các nhà làm luật đã xếp trong cùng một điều luật. Để truy cứu trách nhiệm hình sựđối với một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì phải xác định được tội danh mà người đóđã phạm phải, được quyđịnh trong BLHS. Căncứđể xác định tội danh phải dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm pháp lý cơ bảnđặc trưng nhất của một tộicụ thể. Khoa học hình sự gọi những dấu hiệu đặc trưng đó là các yếu tố cấu thành tội phạm. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng đó là:

– Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Khách thể của tội phạm là quan hệ xãhội được phápluật hìnhsự bảo vệ và bị tội

phạm xâm hại [136]. Tội cốý gây thương tích xâm phạm quyền bất khảxâm phạmvềthân thể, quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người, của công dân. Ở nước ta, con người với tư cách là chủthểcủa xã hội, được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dựđược qui đinh rõ tại Điều 20, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam [75]. Khách thể của tội cố ý gây thương tích là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danhdựcủacon người. Trong bađiềuluậtvềtộicốý gây thương tích được quy định trong BLHS năm 1999 [78, Điều 104, 105, 106] (nay là Điều 134, 135, 136 BLHS năm 2015), đều có qui định “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gâytổnhạichosứckhoẻngườikhác…”. Như vậy, kháchthểtrực tiếp của tộinày làsứckhoẻcủacon người. Tuy nhiên,cầnphân biệt rõởđâykhông phải làsức khoẻ của con người nói chung mà là sức khoẻ của người khác, sức khỏe của con người cụ thể; những trường hợp tự gây thương tích hoặc tự làm tổn hại sức khoẻ cho bản thân mình thì không cấu thành tội danh này hoặc không phải là tội phạm hoặc cấu

thành các tội khác như tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 332 BLHS), .v.v…

– Mặt khách quancủatội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Người phạm tội phải có hành vi tác động đến thân thể của người khác làm cho người này bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe như: Đâm, chém, đấm đá, đốt cháy hay đầu

độc…[13, tr.126].

29

Hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của ngườikhác cũng giống như các loại tội phạm khác, đólàsựbiểu hiện ra bên ngoài, thể hiện tính nguy hiểm cho xãhội củahành vi do đối tượng gây

ra. Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácđó là những hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động trực tiếp đến cơ thểngười khác làm cho họbịthương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ. Việc dùng sức mạnh vật chất có thể là sức mạnh thể chất của các bộ phận cơ thể như tay, chân,đầu,mông(đểđấm, đá, húc, …), có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện (vũ khí chất nổ, vũ khíthô sơ, công cụgia dụng, gạch đá,…). Các trường hợp người phạm tội dùng hoá chất (thông thường là a xít) hoặc dùng động vật như cho trâu, bò húc, chó cắn, … đểgây thương tích cho người bị hại đều là hành vi khách quan cấu thành tội này. Ngoài ra, cá biệt có những trường hợp người phạm tội cưỡng bức người bị hại tự gây thương tích cho mình hoặc tácđộngqua người trung gian (ví dụ: xô vào một người, làm cho họ va vào người thứ ba ngã bị thương). Qua vật trung gian (ví dụ: đẩy cây cột ngã đập vào người ngồi ở gần đó), nếu chứng minh được động cơ, mục đích cố ý gây thương tích cho người khác cũng đều là hành vi khách quan cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Về hậu quả: Đểxác định hành vicố ýgây thương tích hoặc gâytổnhại cho sức khỏe của người khác có đủ yếu tố của mặt khách quan hay không, ngoài việc quyđịnh yếu

tốbắtbuộc về quan hệ nhân quả do hành vi cố ý gây thương tích gây rahậu quảmà nạn nhân phải gánh chịu thì BLHS còn quy định hậu quả tội phạm này là mức độ tổn hại thương tích của nạn nhân ở một tỉ lệ nhất định. Cụ thể, đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác thìtỉlệthương tích phảitừ11 trởlên.Nếutỉlệthương tíchdưới11 thì phải thuộcmộttrongmườitrườnghợpquyđịnhtừđiểmađếnđiểm k khoản 1 Điều 104 (Điều 134 BLHS 2015) thì mới phạm tội này.

Đối vớitội cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 105 (Điều 135 BLHS năm 2015) và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác dovượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 106 (Điều 136 BLHS năm 2015) thì thương tích hoặc tổn thương khác phải có tỷ lệ thương tật phải từ 31 trở lên mới cấu thành tội phạm.

30

Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác bao giờ cũng được thực hiện trong một thời gian,địa điểm,hoàn cảnh nhất định; bằng những phương tiện, công cụ, thủ đoạn nhất định. Những dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Việc xác định những dấu hiệu này trongmặtkhách quan củatộiphạm chỉ có ý nghĩa trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, là tình tiết để định khung vàgiúp cho người tiến hành tố tụng trong việc quyết định hình phạtđốivới người phạm tộiđược chính xác, khách quan, đúng pháp luật.

– Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Chủthểcủa tội cốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

khác là người có năng lực trách nhiệm hìnhsựvà đạtđộtuổi luật định. Do tầm quan trọng của khách thể tội phạm cố ý gây thương tích nên BLHS đã xác định hành vi xâm hại đến quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người là một trong những hành vi có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Vì vậy, chủ thể của tội phạm cố ý gây thương tíchđược quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn so với một số loại tội phạm khác. Cụ thể, đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chủ thể của tội phạm làngười từđủ 16 tuổi trở lên, riêng người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội qui định ở khoản 3, khoản 4 Điều 104 (khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 134 BLHS 2015).

Như vậy, ngoài việc là người cụthể,đã cốýthực hiện hành vi gây thương tích cho người khác, chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không phải là chủ thể đặc biệt. Nghĩa là, chỉ cần hội đủ 2 điều kiện: có năng

lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo pháp luật quy định.

– Mặt chủquan của tộicốý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Tộicố ý gây thương tích được thực hiện do lỗi cố ý trong cả hai trườnghợplà cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Nghĩa là, người phạm tội khi thực hiện hành vi, nhận thức rõ được hành vi của mình là nguy hiểm nhất định sẽ gây thương tích hoặc tổn thương cho sức khỏe của người khác; mong muốn, hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra, làm cho người bị hại bị thương tích hoặc bị tổn hại về sức khoẻ.

31

Về động cơ, mục đích trong mặt chủ quan của tội phạm, đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Nhìn chung, động cơ, mụcđích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, trên phương diện lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật, trong nhiều trường hợp việc chứng minhđộngcơ, mục đíchcủangười phạmtộicố ýgây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác lại có ý nghĩa quyết định trong việc định tội và định khung hình phạt. Nhất là trong các trường hợp như: Phân biệt giữa hành vi giết người và cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, giữa hành vi giết người chưa đạt với hành vi cố ý gây thương tích; xác định người phạm tội để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý

do công vụ của nạn nhân, …

Động cơ thực hiện tội phạm của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạichosứckhỏecủangườikhác, cóthểphân ra hai trườnghợptheo thờiđiểmphát sinh mâu thuẫn để nghiên cứu. Nếu người phạm tội vì những mâu thuẫn từ trước thì hầu hết các trường hợp này có động cơ trả thù nhằm giải toả những bức xúc của mình. Nếu người phạm tội vì những mâu thuẫn nhất thời, bột phát thì trong trường hợp này rất khó xác định động cơcụ thể, người phạm tội thực hiện hành vi gây án chỉ vì sự nóng giận bực tức bột phát, nhất thời. Tuy nhiên, cũng có không ít trường hợp chủ thể vì muốn thể hiện “bản lĩnh” với đồng bọn, với bạn gái,…mà thực hiện hành vi phạm tội.

Mục đích của người thực hiện tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ nhằm xâm hạitới sức khoẻ của nạn nhân, hoặc chỉ có ý định và mong muốn gây thương tích hoặc mang tổn thương khác. Nếu trường hợp bị thương tích hoặc tổn thương mà họ gây ra cho nạn nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân thì sự kiện này vượt ra ngoài dự định mong muốn của họ và lỗi của họ đối với cái chết của nạn nhân là lỗi vô ý.

Nghiên cứudấu hiệu pháp lý của tộicố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn; cónghiên cứu xem xétđầyđủ, khoa học các dấu hiệu pháp lý, nhất là mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm mới giúp cho hoạt động của KSV trong công tác THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vừa mang tính chất chung, vừa mang tính đặc thù, bảo

32

đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, tránh oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Vụ án cố ý gây thương tích là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu của tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cốý nhằm gây tổnhại cho sức khỏecủangười khác dướidạng thương tích hoặc tổn thương khác bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hình sự theo quy định của pháp luật.

2.1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC Ở VIỆT NAM

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *