Thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
ĐảngCộng sản Việt Nam lãnhđạo cách mạng Việt Nam là một tất yếulịch sử và tất yếu khách quan. Từ khi giànhđƣợc thắnglợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 lập nên Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng Cộng sản Việt Nam đãtrởthànhĐảngcầmquyền. Hơn 80 năm qua,Đảnglãnhđạo nhân dân ta tiến hành kháng chiến, xây dựngđấtnƣớc; Đảngluôn làlựclƣợngchínhtrịduy nhất lãnhđạo cách mạng, lãnhđạo Nhà nƣớc; là nhântố bảo đảmthắnglợicủacách mạng nƣớc ta. Cho đến nay sự lãnhđạo của Đảngvới toàn bộ xã hội đãđƣợc quy địnhbởi Hiến pháp nhƣng các quyđịnhcụ thể của pháp luật về nội dung lãnhđạo,
phƣơng thức lãnh đạo chƣa đƣợc thể hiện rõ.
Trải qua những thờikỳcách mạng khác nhau,Đảngta đãsửdụng những
phƣơng thức khác nhauđểlãnh đạo nhân dân và Nhànƣớctừviệc giành chính quyền, lãnhđạo kháng chiếnđếnlãnhđạoNhànƣớcđiềuhànhnềnkinhtế và an sinh xã hội. Do đó,sựđổimớivềphƣơng thức lãnhđạo củaĐảnglàsựchuyển biến tất yếu của lịch sử hình thành, vận động và phát triển của Đảng.
Hiện nayvớicác yêucầucủacông cuộcđổimới,đặcbiệt là các nhiệmvụ xây dựngnềnkinhtế thịtrƣờngđịnhhƣớngxãhộichủnghĩa,đẩymạnh các quátrình dânchủhoáđất nƣớcvàhộinhập kinhtế quốctế,xây dựng nhànƣớcpháp quyền XHCN,vấnđềphânđịnhsựlãnhđạo củaĐảngcầmquyền vàsựquản lý điềuhành củaNhànƣớclà rất cầnthiết.Sựphânđịnhnàyvừaphải đảmbảo sựlãnhđạo của ĐảngCộng sản Việt Nam nhƣng không làm thay, bao biện Nhà nƣớc, vừa phải phát huy vai trò của Nhà nƣớc trong quản lýmọi mặt của đời sốngxã hội. Tăngcƣờngsựlãnhđạo củaĐảngđốivớiNhànƣớclà nhằmgiữvững bảnchất giai cấp công nhâncủaNhànƣớc,bảo đảmtất cảquyềnlựcnhànƣớcthuộc vềnhân dân, đƣa sự nghiệp đổi mới đi đúng địnhhƣớngxã hội chủ nghĩa; làm cho dân giàu nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tháng 12 năm 1986,Đạihộiđạibiểu toàn quốclầnthứVIcủaĐảngCộng sản Việt Nam đãđềra chủ trƣơng đổi mới toàn diện. Đến nay có thể nói công cuộc
1
đổi mới đãdiễn ra sâu rộng trong toàn bộ đời sống, kinh tế xã hội của nƣớc ta. Phát xuất từquy luật quanhệsảnxuất phải phù hợp vớitính chất và trìnhđộ củalực
lƣợngsảnxuất, kiến trúc thƣợng tầng phải phù hợp với kết cấuhạ tầng, ởnƣớc ta hiện nay các biến đổi về kinh tế, lực lƣợng sản xuất, kết cấu hạ tầng diễn ra nhanh chóng, trong khi đó các biến đổi về chính trị chƣa diễn ra tƣơng xứng.
Trong quá trình đó,nhiều vấn đềmới đang vàsẽđặt ra. Trong đó việc cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc, nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảngvà đảngviên là một yêu cầu khách quan. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền ởnƣớcta hiện nay cũng phải đổimới phƣơng thức và nội dung lãnh đạo đối với Nhà nƣớc.
Trong quá trình đổi mới, nền kinhtế bắt đầu vận hànhtheo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc thì yêu cầuvềxây dựng nhà nƣớc pháp quyền làmột
tất yếuđểphù hợpvớitiến bộ chung của thế giới trong quá trình hộinhập. Trƣớc năm 1986, Quốchộichỉxây dựng và ban hànhđƣợcvài chục luật và pháp lệnh,đến naytrƣớcđòihỏi củacông cuộcđổimới, Quốc hội đã xây dựng, ban hành hành vàsửađổi hàng trămđạoluật và pháp lệnh. Tuy nhiên Quốchộicũng đang đứngtrƣớcnhững đòihỏimớivềnâng cao chất lƣợnglập pháp, hiệulựcvà hiệu quả của giám sát tối cao toànbộ hoạt độngcủa Nhà nƣớc, quyết định nhữngvấn đềtrọngđạicủaquốc gia.Trƣớcđòi hỏiđó,sựlãnhđạo củaĐảngđốivớiQuốc hội phải có sự đổi mới theo hƣớng khoahọchơn, phân định rành mạch hơn.
Nhận thứccủaĐảng ta vềvịtrí, vai trò củaQuốchộiđãcó những chuyển biến tích cực.Trƣớcđây, có quanđiểmcoi Quốchộihoạt độngnhƣ đoàn thể, có lúc coi Quốc hội nhƣ cơ quan hợp thức hóa sự lãnhđạo của Đảngthì ngày nay nhận thức này đãcó sựđổimới. Nhận thứcvềvị trí, vai trò của Đảngđốivới đất nƣớc cũng có những chuyển biến sâu sắc từmộtđảngđấu tranh giành chính quyền,mộtđảnglãnhđạo nhân dân làm cách mạng, giải phóng và thống nhất đất nƣớc,sang Đảngduy nhất cầmquyền xây dựng và phát triểnđất nƣớc.Chuyểnđổitƣ duytừthiên vềquyềncủaĐảng đối vớihệthống chính trị, sang quyền phải điđôivới trách nhiệm và nghĩa vụcủa Đảngđối với dân tộc, ngƣời dân và hệ thống chính trị.
Do vậy, việcthểchếhóasựlãnh đạo củaĐảng nói chung vàthểchếhóasựlãnh đạo của Đảng đối với Quốchội là hết sức cần thiết, phù hợp với phát triển về nhận thức của Đảng.
Đểđổimới sự lãnhđạo của Đảngđối với Quốchội và phát huyđầy đủ vịtrí, vai trò củaQuốc hội, việc nghiêncứuthểchếhóasựlãnhđạo củaĐảngđốivới Quốc hội và nội dung, phƣơng thức lãnhđạo của Đảngđối với Quốchội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực.Bởivì,thểchếhóasựlãnhđạo củaĐảngđốivới Quốc hội và đổi mới phƣơng thức lãnhđạo đúng đắn và phùhợp sẽcó vai trò quyếtđịnhtrong việc:
– Nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội;
-Đảmbảo và tăngcƣờngsựlãnhđạo củaĐảngvớiQuốchộinói riêng vàNhà nƣớc nói chung.
Vấn đềthể chếhoásựlãnhđạo của Đảng và đổi mới phƣơng thức lãnhđạo của Đảngđối với Quốchội ít có công trình nghiên cứu liên quan. Đến nay, chƣa cócông trình nào đi sâu nghiên cứu về thể chế hoá sự lãnhđạo của Đảngđối với Quốc hộivà phƣơng thức lãnhđạo củaĐảngvớiQuốc hội. Vì vậy, Nghiêncứusinhđã
lựa chọn vấn đề“Thểchếhoá sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốchộitrong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ởnướcta hiện nay”làm đềtài nghiên cứu viết Luận án Tiến sĩ luật học.
2. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu a.Mụctiêu nghiên cứu
Mục tiêu của Luận án là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thểchế hoá sự lãnhđạo của Đảngđối với Quốc hội,nội dung của sự lãnh đạo, phƣơng thức lãnh đạo của Đảngđối với Quốchội trong điều kiện cụ thể xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN ởnƣớcta hiện nay.Từđó đánh giá thực trạng vàđềxuất
phƣơng hƣớng, giải pháp để thể chế hoá sự lãnhđạo của Đảngđối với Quốchội vàđổi mới phƣơng thức lãnhđạo của Đảngđối với Quốchội.
b. Nhiệmvụnghiên cứu
Đểđạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu nói trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án bao gồm:
– Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thể chế hoásự lãnh đạo của Đảng đối với Quốchội;
– Nghiêncứucơsởlý luận và thực tiễnvềnộidung, phƣơng thức lãnhđạo của Đảngđối với Quốchội;
– Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về thể chế hoásự lãnh đạo của Đảngđối với Quốc hội và phƣơngthức lãnh đạo của Đảng đối với Quốchội, Luận án đềxuất
phƣơnghƣớngvà giải pháp nhằm thể chế hóa sự lãnhđạo và đổi mới phƣơngthức lãnhđạo củaĐảngđốivới Quốc hội trongđiềukiện xây dựng nhànƣớcpháp quyền ở nƣớc ta hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
Vềthời gian, Luận án giới hạnnghiên cứu sựlãnh đạocủaĐảng và hoạt
động củaQuốc hội từnăm 1986đếnnay –thờikỳ đổi mới vàtậptrung vào hoạtđộnglập pháp là chính.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp lý luận của Chủ nghĩa Mác, Lê nin, tƣtƣởngHồ Chí Minh vàđƣờnglối củaĐCS Việt Namvềnhànƣớcvàpháp luật; đồng thời Luận ánđƣợc thựchiện bằng phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác, Lê nin.
Vềcác phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể:
– Phân tích tổng hợp;
– Phân tích, diễn giải và quy nạp; – Khảo sát thực tế;
– So sánh đối chiếu.
5. Những đóng gópmớivềkhoa học của Luận án
– Luận án đã hình thành khái niệm, phạm trù, nội dung, nguyên tắcvề thể chếhóasựlãnh đạo củaĐảngvà phƣơng thức lãnhđạo củaĐảngđối vớiQuốc hội trongđiều kiệnxây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở nƣớc ta hiện nay. Đây lànhữngvấn đềlý luận có ý nghĩa chỉđạo về sự lãnhđạo của Đảngvà hoạt động của Quốc hội.
– Dựa trên cơ sở lý luận về thể chế hóa sự lãnhđạo của Đảngvà phƣơng thức lãnhđạo củaĐảngđốivớiQuốc hội, Luận án đánh giá thực trạngcủavấnđềnày vàđƣara kiến nghị có ýnghĩa thực tiễn nhằm tiếp tụchoàn thiệnthểchếhóasựlãnh đạo củaĐảngđốivớiQuốchộivàđổimớiphƣơng thức lãnh đạo củaĐảng đối với Quốchội.
– Đềxuất đƣợc hệ quan điểm và giải pháp cơ bản để tiến hành thể chế hóasựlãnhđạo của Đảngvà phƣơng thức lãnhđạo của Đảngđối với Quốchội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Kết quảnghiên cứucủaLuận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vềviệcthểchếhóasựlãnhđạo củaĐảngvàđổi mớiphƣơng thức lãnhđạo củaĐảngđốivớiQuốc hội. Trên cơsởđó,góp phần nâng cao chất lƣợnghoạt động của Quốc hội, tăngcƣờngvai trò và hiệu quả lãnhđạo của Đảngđối với Quốchội.
Luận án có thểlàm tài liệu tham khảo cho các cơ quanĐảngvà Quốc hội trongviệc đổimới sự lãnhđạo của Đảngđốivới Quốchộivà phát huy vai trò của Quốchộitrong hoạt độnglập pháp.Đồng thời Luận án có thểdùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,họctập khoahọcpháp lý và khoahọcchính trị ở các trƣờngđại họcchuyên ngành Luật và hệ thống TrƣờngĐảng.
7. Bố cục của Luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,Luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Trong những nămgầnđây, liên quanđếnđềtàicủaLuận án có một số nghị quyết của Đảng, công trình khoa học, sách tham khảo, bài báo đã côngbố.Nghiên cứu sinh sẽ nêu tóm tắt lạimột số nghị quyết, công trình, sách tham khảo, bài báo có liên quan đến đề tài.
a) Nhóm các quanđiểmchỉ đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam có tính định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
b)Một số đềtài khoa học
c) Một số công trình chuyên khảo
d) Một số bài báo khoa học
18
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc
1.3. Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Trong các công trình và bài báo khoahọcnêu trên, nghiên cứu sinhsẽ kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu về phƣơng thức lãnhđạo của Đảngnói chung và đối với Nhà nƣớc nói riêng; các nghiên cứu về sự ra đời và hoạt độngcủa Đảng

Cộng sản Việt Nam, các nguyên tắcvề tổ chức và hoạt độngcủa Đảng ta; cơ sở lý luận và thực tiễnvềsựlãnh đạo duy nhất củaĐảngCộng sảnởViệt Nam; nhà
nƣớc pháp quyền nói chung và nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam, các đặc
trƣngcủaNNPQ XHCN Việt Nam; hoạt động củamộtsố đảngcầmquyền, quốc hội và nghị viện một số nƣớc trên thế giới và việc thể chế sự lãnh đạo của Đảng nói chung. Do vậy, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu:
Một là, làm rõ sự lãnhđạo của Đảngđối với Nhà nƣớc nói chung và Quốc hội nói riêng trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luậnvềthể chếhóasựlãnhđạo của Đảng đốivớiQuốchộivà phƣơng thức lãnh đạo củaĐảng đốivớiQuốc hội trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở nƣớc ta hiện nay.
Ba là,đềxuất những quanđiểmvà giải pháp nhằmthểchếhóasựlãnh đạo củaĐảngđối vớiQuốchộivàđổimớiphƣơng thức lãnhđạo củaĐảng đối với Quốchộitrong điềukiện xây dựng nhànƣớcpháp quyền XHCNởnƣớcta hiện nay.
22
Trong Chƣơng 1đãnghiên cứu26 tài liệu chia làm 2 thểloại là các tài liệu trong nƣớc và tài liệu nƣớc ngoài; chia làm bốn nhóm vấn đề, nhóm các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam có tính định hướng cho việc nghiên cứu đềtài, nhóm cácđềtài khoa học, nhóm các công trình chuyên khảo và nhóm các bài báo khoa học.
Các công trình khoahọctrong nƣớcđãnghiên cứuvềphƣơng thức lãnh đạo của Đảngnói chung là chủ yếu, chƣa nghiên cứu sâu về phƣơng thức lãnhđạo củaĐảngđối với Quốchội nói riêng; việc thể chế hóa sự lãnhđạo của Đảngcũng chƣa
đƣợcnghiên cứu thấu đáo mà chủ yếu nghiên cứuvềthực tiễn lãnh đạo củaĐảng trong thời gian qua và yêu cầu, thách thức đang đặt ra hiện nay cũng nhƣ trong thời gian tới.
Các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc, tác giả chủ yếu tham khảo các tài liệu liên quan đến đảng phái chính trị của nƣớc ngoài;hoạt độngvà cách thức lãnhđạo củađảngcầmquyền đối vớinhànƣớcnói chung và nghị viện nói riêng. Dù mỗi
nƣớc có chế độ chính trị khác nhau nhƣng sự lãnhđạo của đảngphái luôn thể hiện rõ nét qua các hoạt động của Nghị viện.
23
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỂCHẾHOÁ SỰ LÃNH ĐẠOCỦA ĐẢNG VÀ
PHƢƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐIVỚIQUỐC HỘITRONGĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƢỚCPHÁP QUYỀN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
2.1. Thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối vớiQuốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền ở nƣớc ta hiện nay
2.1.1. Khái niệmthể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối vớiQuốc hội
Vềhọcthuật, khái niệmthể chếcó nội hàm rất phong phú và đa dạng. Trong mỗi lĩnh vực thể chế có thể đƣợc hiểu theo các nghĩa khác nhau. Thể chế bao gồm những ràng buộc phi chính thức (phongtụctập quán, văn hóa, truyền thống,đạo
lý…),những quy tắcchính thức (hiến pháp, luật, các quy chế, quy định,nguyên
tắc…)và hiệulựcthực thi chúng. Một sốnghiêncứukhác coi thểchếkhông chỉ bao gồmnhững quyđịnh,luật lệ,mà còn bao gồmcảnhữngtổ chức nữa. Ngân hàng Thế giới (2002) định nghĩa thể chế là “những quyđịnhvà tổ chức, bao gồm cảchính thứclẫnkhông chính thức,điềuphối hoạt động củaconngƣời”[70, tr38]. Với khái niệm này, thể chế khôngchỉbao hàm “luật chơi” mà còncả “ngƣời chơi”. Cùng với khái niệm này là mô tả thể chế nhƣ: tài sản xã hội (niềm tin, tôn giáo, quy chuẩn); luật lệ (bao gồm các quy định, truyền thống, nguyên tắc, pháp luật, và hiến pháp) và cáctổ chức (các cơ quancủachính phủ, các công ty, cáctổ chức, tòa
án…).
Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt thông dụng” năm 2008 của Trung tâm từđiển học,thểchếđƣợchiểu là“những quyđịnh,luật lệ của một chếđộ xã hội, buộc mọi ngườiphải tuân theo”[115, tr1602]. Có thểthấy quan niệmvềthểchếnhƣvậy là tƣơng đối hẹp so với các cách hiểu về thể chế ở trên.
Khi xem xét nội hàm khái niệm về thể chế, cũng cần phải lƣu ý thêm một sốđiểm sau:
– Hai loại hình thểchếđƣợcbàn nhiều hiện nay làthểchếnhànƣớcvàthểchế phi nhà nƣớc. Cùng với các quyđịnhpháp lý, bộ máy và công cụ thực thicủa
24
các cơ quan lập pháp, hành pháp và tƣ pháp, thể chế nhà nƣớc có tác động sâu rộng đến biến đổi kinh tế xã hội. Tuy vậy, thể chế phi nhà nƣớc rất nhiều, rất đa dạng vàảnhhƣởnglớn đến xã hội.
– Các luật lệ,quytắccó thểđƣợcthực hiệnbởicác bên liên quan hoặc bên thứba.
Theo GS,TS. Phạm Hồng Thái,thểchếnói chung là mộthệthống các văn bản quy phạm pháp luật (đƣợc quy định trong Hiến pháp, trong các đạo luật, trong các nghị quyết và các vănbảnđiềulệ,quychếcó chứađựngcác quy phạm…) do các cơ quan nhà nƣớc, cáctổ chức chính trị, chínhtrị- xãhộicó thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội buộc mọi ngƣời, tổ chức phải tuân theo. GS. Đoàn Trọng Truyến quan niệm Thể chế của nền hành chính nhànƣớc là một hệthốnggồmluật, các văn bản pháp quydƣớiluật tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơquan hành chính nhà nƣớc. GS,TS. Nguyễn Đăng Dung khi viết về cải cách tƣ pháp quan niệm thể chế tƣ pháp bao gồm các quyđịnhvà bộ máy các cơ quan tƣ pháp.
Thể chế hóa có thể đƣợc hiểu là việc cấu trúc tổ chức và cơ chế vận hành của một hệ thống xã hội điều chỉnh hành vi của 2 hay nhiều chủ thể khác nhau phù hợp với những điều kiện vật chất cụ thể hay hiểu một cách đơn giản hơn đó là việc quy định hóa một cáchcụthểrõ ràng các quanhệtrong xãhộitrong cácđiềukiệncụ thể. Trong Luận án này thể chế hoá đƣợc tác giả hiểu ở nghĩa hẹp là quá trình biến những điều chƣa có quy định thành có quy định; cụ thể là pháp lý hóa sự lãnh đạo của Đảnghay chính thức hóa bằng các văn bản quyđịnh.
Trong hoạt động thực tiễn hơn 80 năm qua của Đảng, sự lãnhđạo của Đảng gồm 3 thànhtố:
– Nộidung lãnhđạo của Đảng(trả lời câu hỏi Đảng lãnh đạo cái gì?);
– Phƣơng thức lãnh đạo của Đảng (trả lời câu hỏi Đảng lãnh đạo bằng cách
nào?);
– Các điều kiện, cơ chế đảm bảo việc lãnhđạo của Đảng.
Tuy nhiên, giới hạntrong Luận án nàyngƣờiviết chỉxem xét trong khuôn khổ sự lãnhđạo của Đảnggồm nội dung và phƣơng thức lãnh đạo là chính.
25
Sựlãnh đạo củaĐảngđối với Quốc hội đƣợcthực hiện quaĐảngđoàn Quốc hội.Đảngđoàn Quốchộilãnhđạo Quốchộiđẩymạnh các hoạt độnglập pháp, thông qua việc xây dựng các đạo luật để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội; làmtốthơn các hoạt độnggiám sát ởcáckỳhọp Quốchộivà tăng cƣờng giám sát của Uỷ ban ThƣờngvụQuốchộivà các cơ quan của Quốchội, đồngthời lãnhđạo đểcácđạibiểu Quốchộigƣơngmẫutuyên truyền, giải thích, chấp hành pháp luật, tích cực tham gia chống quan liêu, tham nhũng.
Vìvậytrong phạm vi Luận án này có thể hiểu thể chế hóa sự lãnh đạo củaĐảng đối vớiQuốc hội bao gồm:
Một là, luật hoá sự lãnh đạo của Đảng. Đƣa các nội dung, phƣơng thức lãnh đạo củaĐảngđốivớiQuốc hội, quanđiểm,đƣờnglối, cƣơng lĩnh củaĐảngvào Hiến pháp, luật, các văn bản pháp quy của Nhà nƣớc.
Hai là, quyđịnhnội dung và phƣơng thức lãnhđạo của Đảngđốivới Quốc hội trongĐiềulệ Đảng, quychếhoạt động của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ.
Ba là, quyđịnh cụ thểnộidung và phƣơng thức lãnhđạo của Đảngđối với Quốc hội trong các quychếlàm việccủaQuốc hội, Uỷ ban Thƣờng vụQuốc hội, cácUỷbancủaQuốc hội, Văn phòng Quốc hội, các cơ quan giúp việc cho Quốc hội .
Với 3 nội dung nêu trên thể chế hoá sự lãnhđạo của Đảng đối với Quốchội có thể địnhnghĩa nhƣ sau:
Thểchếhóa sựlãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là việc xây dựng các quyđịnh cụ thể dưới dạng văn bản QPPL hoặc các nội quy, quychếhoạt động củaĐảng và Quốchội về sự lãnh đạo của Đảng đối vớiQuốc hội.
Thểchếhóasựlãnhđạo củaĐảngđốivớiQuốchộilà các quyđịnhchính thức dùcủaĐảnghay Nhànƣớcđềuđƣợcđảmbảo cácđiềukiện thi hành trong thực tế vì Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, Nhà nƣớc ta là của nhân dân, dƣới sự lãnhđạo của Đảng.
26
Thểchếhóasựlãnhđạo củaĐảngđốivớiQuốchộilà việcđƣara các quy tắcứngxửchung cho sựlãnhđạo củaĐảngđốivớicác hoạt động củaQuốc hội không trái Hiến pháp và pháp luật.Đồngthời tôn trọng và phát huy vai trò,vịtrí, sự độclập tƣơng đối, sự sáng tạo của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội.
2.1.2. Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam và những vấnđềđặt ra về sự lãnh đạocủa Đảng đối vớiQuốchội
Tƣ tƣởng nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân không hoàn toàn mới trong lịch sử.ỞViệt Nam tƣtƣởngnàyđƣợcthểhiệnởchỗ nó đƣợckhẳngđịnhnhƣ một thành quảcủacuộcđấutranh giải phóngcủadân tộc, chống lạiách thống trị của phongkiến, đếquốc. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và Chính quyền mớiđãthểhiện tính nhân dân vì là thành quả trực tiếp của Cách mạng tháng Tám do Đảng Cộngsản lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,ĐảngCộngsảnViệt Namđãđƣơng nhiên trở thànhĐảngcầm quyền. Trong hơn 80 năm lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành kháng chiếnvừaxây dựngđất nƣớc, Đảngta luôn làlựclƣợngchínhtrịduy nhất lãnh đạo cách mạng, lãnhđạo Nhànƣớc và lànhân tố bảo đảmmọithắng lợi của cách mạng. Sự lãnh đạo toàndiện của Đảngđối vớihoạt độngnhànƣớcvà xãhội mang tính tất yếu.Trƣớccác yêu cầu củacông cuộcđổimới, xây dựng nhà
nƣớc pháp quyền XHCN và hội nhập quốctế,đãđặt ra rất nhiều vấn đềđòi hỏi cảĐảngvà Quốc hội phải có nhữngđổi mới.
ĐạihộiĐảnglầnthứVII và“Cƣơnglĩnh xây dựngđất nƣớctrong thờikỳ quáđộ lênchủnghĩa xãhội” đãđƣara quanđiểmvềsựtồntạicủaba quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp và sự phân công, phối hợp giữa ba quyền lực đó của Nhà
nƣớc. Hội nghị Trung ƣơnglần thứtám (khóa VII), quan điểm về sự tồn tại của ba quyềnđãđƣợcnêu rõ quyềnlựcnhànƣớclà thống nhất, có sựphân công và phối hợp chặt chẽgiữa các cơ quan nhànƣớctrong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp.
27
Vịtrí, vai tròcủaQuốchộibiểu hiện chính thông qua năng lựclàm luật, giám sát tối cao đối vớihoạt độngcủaNhànƣớc,quyếtđịnh những vấn đềquan trọng của quốc gia. Nhƣng trong thực tế đôi khi Quốc hội là cơ quan thông qua luật
chƣa thực sự là cơ quan làm ra luật. Một trong những tƣ duy chuyển đổi mạnh mẽlà Quốc hội và đại biểu Quốc hội không chỉ “tham luận” trong nghị trƣờng mà thực sự phải “tranhluận”trong nghị trƣờng. Điều này hết sứcquan trọng vì nƣớc ta cómột đảnglãnhđạo, một số vấn đềĐảngcho ý kiến chỉ đạo nhƣngĐảngđoàn Quốc hội, Quốc hội phải tranh luận thấu đáo. Sự lãnh đạo này cho dù là sáng suốt nhƣng nếu Quốc hội và đại biểu Quốc hội không dũng cảm, có trí tuệ và phƣơng pháp thì dễphát biểu theo hƣớng “tham luận” không phản biện và tranh cãi đến tận cùng các vấnđề.Phầnnữacácđạibiểu Quốchộichủyếulà làm kiêm nhiệm thìvềcơ bản phải lo phần việc chínhđã,làm sao cho việc kiêm nhiệm (khôngchỉlà việc phụ) không ảnhhƣởngđếnviệc chính. Do đó nhất thiết phải tăngcƣờngtỷlệđạibiểu chuyên trách. Theo chúng tôi đề nghị ngay từ nhiệm kỳ tới (khoá 2016-2021) nên có ít nhất 50% đại biểu chuyên trách và hoạt động theo hƣớng chuyên nghiệp. Cácđạibiểu Quốchộichủđộngvà tíchcựchơnvềtranh luận, giám sát, khuyến nghị,
đƣa ra sáng kiến pháp luật.
Chính phủlà cơ quan hành chính cao nhất, là cơ quan chấp hànhcủaQuốc hội. Thực tiễn hoạt độngở nƣớc ta và của một số nƣớc thƣờngChínhphủhay lấn át Quốc hội. Các dự luật thƣờng phát xuất từ Chính phủ nên có thể Thủ tƣớng Chính phủmang hình bóng Thủ trƣởngcủaQuốc hội. Do vậy,cầnxácđịnh rõ tính độc
lập tƣơng đốicủaChínhphủvà nhấn mạnh các nghĩavụ,trách nhiệmcủaChính phủ đốivới Quốc hội thông qua việcuỷ quyềncủaQuốc hội, quyền chất vấncủa Quốc hộivớiChính phủ, việc báo cáo củaChínhphủvớiQuốc hội,Ủyban
ThƣờngvụQuốc hội. Do vậy Quốc hội cần có cơ chế mạnhmẽhơn đểkiểm soát,đánh giá các việcđãuỷquyền nhƣ đánh giá chất lƣợngcông việc, đánh giá chất
lƣợngvà thái độ báo cáo, trả lời chất vấn của Chính phủ, thậm chí nghiên cứu thêm sự bỏ phiếu bất tín nhiệm hoặc tín nhiệm Chính phủ.
Bên cạnhđó,Chínhphủlà cơ quan điều hànhcần có sựnăngđộngvà trách nhiệm, do đó nên chăng giảm sự tác động ngang vào quá trình điều hành của Chính
28
phủ. Xây dựng một chính phủ tƣơng đối ổn định, các bộ quản lý đa ngành giảm các cơ quan trực thuộc chính phủchỉquản lýhẹp, đềcao nguyên tắc“hànhchính công” trong thực thi côngvụvà phục vụ nhân dân.
Thông thƣờng nói đến tƣ pháp ngƣời ta nghĩđếnviệc xét xử (toà án) nhƣng ởnƣớcta vấnđềquyền tƣ pháp lạiđƣợcthực hiện rộng hơn. TínhtừHiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và đến Hiến pháp năm 1992, nƣớc ta có hệ thống toà án nhân dân thực hiện quyền xét xử và hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân đƣợc quy định nhƣ một thiết chế quyền lực trong hệ thống quyền lực nhà nƣớc. Hệ thống các cơ quan tƣ pháp ởnƣớcta gồm: Toà án, các cơ quanđiềutra, Viện Kiểm sát, các cơ quan, tổ chức bổ trợ tƣ pháp nhƣ tổ chức giám định tƣ pháp, tổ chức luật sƣ, cơ quan công chứng nhànƣớc,lý lịch tƣ pháp.Đảngtađãđƣarachủtrƣơngđổi mới cải cách hệ thống tƣ pháp từ khóa VII và đếnĐạihội Đảngtoàn quốclần thứIX,Đảngtađãban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020, trongđó xác địnhnhiều nội dung quan trọng về cải cách tƣ pháp.
Bên cạnh những thànhtựuxây dựng pháp luật và củngcố pháp chế, còn nhiều thách thức đang đặt ra. Báo cáo Chínhtrị tại Đại hội IX của Đảngđãnêu rõ: “Tình trạng tham nhũng, suy thoáivề tưtưởng chính trị,đạo đức, lốisống ở một bộphận không nhỏ cán bộ,đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máycủa hệthống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ
lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta. Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổbiến” [24, tr76].
Nhân dân ta đãsuy tônĐảnglà ngƣời lãnhđạo củamình bởivì nhân dân thấy rõ rằng chỉcó ĐảngCộng sản Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay mới có khảnăng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, xây dựng đất nƣớc. Do vậy, Đảng gắn bó máu thịt với nhân dân.
Trong điềukiệnĐảngcầmquyền, phải làm cho Đảngkhông rơi vào tình trạng lộng quyền,lạmquyền,lấnát Nhànƣớc,hoặc bao biện làm thay Nhà nƣớc, mà phải phát huy đƣợcvai trò quản lý, hiệu lực, hiệu qủacủabộ máy nhànƣớc.
29
Đảngta đãxác định: “Tăng cường vai trò lãnh đạo và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việcđềra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn,định hướngcho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Ban Chấp hành Trung ương, tập thể cấp uỷ, Ban cán sự đảng,đảngđoàn thảo luận dân chủ, biểu quyết và ra Nghị quyết theođa số những vấn đềquan trọng về đường lối, chủ trương, chính sách, về tổ chức cán bộ. Tăng cường chếđộlãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cánhân.”[24, tr144].
Hiện nay có duy nhất một Đảngcầmquyền, do vậynên xây dựng cơchếphản biện xãhộivà giám sát xãhội đốivớihoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, thông qua đó tăngcƣờngvai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng, duy trì địa vị lâu dài và vữngchắc của Đảngthông qua xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THỂ CHẾ HÓA SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỔI MỚI QUỐC HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

