Xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói riêng và trong hoạt động tư pháp nói chung. Bản án, quyết định của Toà án chỉ là những phán quyết trên giấy, nếu không được thực thi trên thực tế. Hoạtđộngthi hành án nói chung và THADS nói riêng có hiệuquảsẽgóp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần củngcốniềm tin của ngườidân đốivớibộmáy nhànước,tăngcường pháp chếxã hộichủnghĩa.Điều106 Hiến phápnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Toàán nhân dân có hiệu lực pháp luật phảiđược cơ quan, tổchức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổchức, cá nhânhữuquan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Vàngược lại, hoạt động THADS kém hiệu quả sẽ gây dư luận xấu, ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật, kỷ cương phép nước bị xem thường.
Xuất pháttừnhững yêu cầuđó, những năm qua công tác thi hành án nói chung đã có nhiều tiến bộ và đạt được kết quả nhất định, góp phần bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn kỷ cương pháp chế. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra đối với công tác thi hành án, nhất là trong điều kiệnhộinhập quốc tếvà khu vực thì công tác thi hành án còn nhiều bấtcập. Hàng năm,mộtsốlượng khá lớncác bản án, quyếtđịnhcủa Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nhất là các bảnánvềdânsựchưa được thi hành.Cụthể, Năm 2023, tổng số việc phải thi hành là 625.642 việc, trong đó, số việc có điềukiện thi hành là 434.512, đã thi hành xong là 234.426 việc1. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, đầu tiên có thể kể đến là sự phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp các quan hệ xã hội dẫn đến sự xuất hiện ngày càng nhiều các tranh chấp dân sự và thương mại khiến nhu cầu được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủthểtăng cao. Do đó, sốlượngvụviệc cầnphải giải quyết ngày càng
1 Cục Bổtrợ Tư pháp (2023), Báo cáo tổng kết công tác thi hành án dânsự,hành chính 6 thángđầunăm 2023.
nhiều, giá trị tiền, tài sản phải thi hành ngày càng lớn, tính chất ngày càng phức tạp, nghiêm trọng. Thêm vào đó, mô hình tổ chức, cơ chế quản lý thi hành án nói chung, THADS nói riêng đã và đang bộc lộ những vướng mắc, bất cập làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả công tác THADS. Để giải quyết những bất cập trên, Đảng và Nhà nước ta đã chủtrương tiến hành xãhộihoá (XHH) dịchvụcông trong lĩnh vực tư pháp và THADS, theo đó, sẽcó mộtbộphậntổchức và cá nhân ngoài Nhà nước vào quá trình THADS, góp phần giảmtảigánh nặng cho Cơ quan THADS và tinh giản bộ máy biên chế Nhà nước.
Chính vì lẽ đó, Nghị quyết số 49/ NQ- TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trịvềchiếnlượccảicách tư phápđếnnăm 2020đãxácđịnhnhiệmvụxãhộihoácông tác thi hành án: “Từng bước thực hiện việc xã hội hoá và quy định hình thức, thủtụcđểgiao chotổchức không phải là cơ quan Nhànướcthực hiệnmộtsốcông việc thi hành án”; “Nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên), trước mắt có thể tổ chức tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”.
Xã hội hoá thi hành án dân sự (XHHTHADS) là sự huy động các cá nhân, tổ chức tư nhân đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật vào quá trìnhtổchức THADS. XHHTHADS là sựchuyển giao nhiệmvụTHADS từ Nhà nước cho các chủ thể trong xã hội thực hiện, qua đó sẽ khắc phục sự quá tải của bộ máy nhà nước; giải phóng Nhà nước khỏi các công việc cụ thểđể tập trung thực hiện hoạt động quản lý. Đồng thời, tạo điều kiện để các chủ thểtrong xã hội có cơ hội thực hiện quyền tự định đoạt ngoài phạm vi quyền lực nhànước.Điều đó sẽ góp phần giảm tải công việc và giảm chi phí từ ngân sách nhànước.2 Đặc biệt, XHH là chủ trương được nhắc lại tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộcông chức, viên chức:“Tiếnhànhđồngbộvới các hoạtđộngcảicách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; nâng cao chất lượng khu vựcdịch vụcông và đẩy mạnh XHH sự nghiệp công.” Qua đó, việc XHH công tác THADS
2 Hằng năm, hiện nay Nhà nước duy trì bộmáy THADS với 1 cơ quan Tổng cục ởtrung ương, 63 cục THADS tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hơn 700 chi cục THADS ở cấp huyện với khoảng 9800 cán bộ, nhân viên hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
còn là mộttrong những hoạtđộngquan trọng góp phầnđắc lựcthực hiện tinh giảm biên chế, cải cách hành chính, tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay.
Điểmsáng của quá trình XHH này là mô hình thừa phátlại(TPL) được tái lập lạitừ năm 2009, sau khi đã trải qua 06 năm thí điểm, chính thức đi vào hoạtđộng trên phạm vi cảnướctừ ngày 01/01/2016 đã đạtđược một sốkếtquả đáng khíchlệnhư: Tạo cơ chế, mô hìnhđểngườidân cósựlựa chọnđược dịch vụ
pháp lý tốt và hiệu quả nhất trong việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan; chế định TPL đãgiúp tăng cường tính chủ động, tích cực của công dân trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân sự. Đồng thời, sự hiện diện của các Văn phòng TPL bên cạnh các cơquan THADS của Nhà nước đã tạo cơ hội để người dân có thêm sự lựa chọn phùhợp với năng lực, điều kiện của cá nhân khi yêu cầu THADS. Ngoài ra, dưới gócđộxã hội, hoạtđộngTPL bước đầuđã tạolậpmộtnghềmớitrongthịtrường cungcấpdịch vụpháp lý và là bước đầutiên XHHTHADS, tạothêm công ăn việc làm cho xã hội.
Từ những phân tích trên cho thấy, việc thiết lập lại chế định TPL là một giải pháp có tính đột phá trong cải cách tư pháp nhằm thực hiện chủ trương XHH một số hoạt động tư pháp nói chung và THADS nói riêng. XHHTHADS là một định hướng, chủtrươnglớncủa Đảngvà Nhà nước ta,mộtnhiệmvụtrọng tâm của tiến trình cải cách tư pháp, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước vào quá trình tổ chức THADS sẽ giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, cho các cơquan nhà nước, nhất là cơ quan THADS trong việc tổ chức thi hành án, từ đó góp phần khắc phục được tình trạng quan liêu trong công tác thi hành án; các bản án, quyết định của Toà án sẽ được thi hành nhanh chóng và hiệu quả hơn, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng được bảo vệ. Thêm vào đó, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân tư nhân vào quá trình THADS sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa các tổ chức thi hành án với nhau, do vậy sẽ nâng cao trách nhiệm cá nhân và sựtân tụy của nhân viên thi hành án trong việc thi hành án, còn đối với tổ chức thi hành án tư nhân thì càng phải nâng cao chuyênmôn đểcóthểtồntạicũng như cạnh tranh với tổ chức thi hành án khác.
Mặcdù hoạtđộng TPL đã đạt một sốkếtquả khả quan, tuy nhiên, do còn mới mẻ và với tính đặc thù mà trong quá trình tổ chức thực hiện đã gặp không ít khó khăn, vướng mắccảvề thể chế pháp luật lẫn sự phối hợp của các cơ quan, tổchức hữu quan trong quá trình tổ chức THADS, đó là: Quy định pháp luật điều chỉnhchếđịnhTPL còn chưa hoàn chỉnh,đồngbộvớicáchệthống pháp luật khác,mặcdùđãhoạtđộngtrên phạm vicảnước06 năm nhưngđếnnay văn bảnđiềuchỉnh cao nhấtvềchếđịnhTPLvẫnchỉdừnglạiởNghịđịnh,trong khi đó, các lĩnh vực hoạtđộngchính của TPL liên quan đếnquyền con người, quyền công dân đều được điều chỉnh bằng Luật (Luật thi hành án dân sự, Bộ luật tốtụng dân sự…). Chínhbấtcậpvềthểchếnàyảnhhưởngđếnhiệuquảhoạt động của TPL, chưa phù hợp với quy định của hiến pháp và tạo ra sự xung đột vềpháp luật; Địa vị pháp lý của TPL chưa được quy định đầy đủ và tương xứng với yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ được giao dẫn đến việc thực hiện các hoạt động của TPL rất khó khăn, nhất là trong việc thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp thi hành án dân sựtheo yêucầucủa đươngsự. (Cùng thực hiện một loại công việc như nhau nhưng hoạt động của Tòa án, Thi hành án dânsựđượcđiềuchỉnhbởiLuật và Bộluật, trong khiđó,hoạtđộngTPL chỉđược điều chỉnh bằng Nghị định); Trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động của TPL được điều chỉnh bởi Nghị định, trong khi đó, những hoạt động tố tụng và thi hành án có liên quanđếnhoạtđộngcủa TPL đềuđã đượcđiềuchỉnh bằng luật (tốngđạt, xác minh thi hành án, giá trịchứngcứtrongtốtụng, thi hành án dân
sự…).Sựchắp vá, thiếuđồngbộnàydẫnđếnnhững băn khoăn, lo ngạivềtính pháp lý trong hoạtđộngcủa TPL và gây khó khăn trong quá trình hoạt động; Nhận thức của người dân, xã hội và của các cơ quan, cán bộ, công chứcđối với chế định nàycòn hạn chế dẫn đếnsựthiếuhợptác trong quá trình TPL cầnphối hợp, hỗ trợ thi hành án.
Có rất nhiều nguyên nhândẫnđếntình trạng trên, nhưng nguyên nhân sâu nhất là sự bất cập về thể chế ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của TPL, khi một chủ thể được Nhà nước trao quyền có khả năng hạn chế một số quyền công dân của đương sự nhưng lại chưa được điều chỉnh bằng Luật. Cùng với sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật điều chỉnh đã dẫn đến những băn khoăn, lo ngại vềtính pháp lý trong hoạt động của TPL và khiến chủ thể này gặp khó khăn khôngít trong quá trình hoạt động. Những bất cập này đòi hỏi pháp luật cần phải nhanh chóng cósựđiềuchỉnh nhằmđảmbảosựđồngbộcủapháp luật, giải quyết những bất cập trên vàbảo đảm sự phát triển ổn địnhcủa mô hình.
Từ những phân tích trên, NCS nhận thấy XHHTHADS là một vấn đề mang tính cấp thiết cho nên đãlựa chọn đề tài: “Xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam” làmđề tàiNCS của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mụcđíchcủaviệc nghiêncứuđềtài là làm sáng tỏ nhữngvấn đề lýluậnvềXHHTHADS ở Việt Nam; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật XHHTHADS ở Việt Nam, xây dựng lộ trình phát triển mô hình THADS (Thừa phát lại) ở Việt Nam trong thời gian tới; từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về XHHTHADS, đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện thực thi pháp luật XHHTHADS một cách hiệu quả.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Đề tàihướng tới những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
– Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài để chỉ ra những vấn đề luận án có thể kế thừa và xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
– Phân tích khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở khoa học, nội dungđiều chỉnh của pháp luật và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến XHHTHADS ởViệt Nam.
– Phân tích,đốichiếuvớilý luậnđểđánh giá thực trạng các quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hành về XHHTHADS. Khảo sát thực tiễn thực hiện quy địnhcủa pháp luậtvềXHHTHADSởViệt Nam, từđóđánh giá những ưu vànhược điểm trong quá trình thực hiện pháp luật về XHHTHADS.
-Từnhữngvấnđềlý luận cũng như thực tiễn thực hiện pháp luậtvềXHHTHADS, Đề tài tìm kiếm những phương hướng, đề xuất những kiến nghị cụthể nhằm hoàn thiện pháp luật về XHHTHADS để bảo đảm tốt hơn các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, nâng cao hiệu quả XHHTHADS ở Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1.Đối tượngnghiên cứu củađề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về XHHTHADS như: khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở khoa học của XHHHTHADS; thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật XHHTHADS ở Việt Nam; phương hướng và giải pháp thực thi, hoàn thiện pháp luật XHHTHADS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung và không gian: XHHTHADS là một đề tài có nhiều nội dung khác nhau, được tiếp cận khá rộng. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, NCS nghiên cứu các vấn đề sau:
– XHHTHADS bao gồm XHH tổ chức THADS và XHH hoạt động THADS. Tuy nhiên, luận án tập trung luận giải XHH tổ chức và hoạt động liên quan trực tiếp đến THADS, còn xã hội hoá tổ chức và hoạt động hỗ trợ cho THADS (như bán đấu
giá tài sản, định giá tài sản, bảo quản và trông giữ tài sản thi hành án…) sẽ được nghiên cứu sâu hơn khi có điều kiện.
-VềhoạtđộngcủaTPL thì NCSchỉtậptrung vào phân tích ba hoạtđộng chính của TPL theo Nghị định 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của TPL, đó là: tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Đối với hoạt động “lập vi bằng”, mặc dùcũng là những công việc mà TPL đượclàm nhưngsẽkhôngđược nghiên cứu trong luận án này, bởi lẽ đối tượng nghiêncứu của đề tàilà XHH trong THADS. Trong khi đó, vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật3, chính vì lẽ đó, hoạt động lập vi bằng của TPL sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Về mặt thời gian:Đề tàitập trung nghiên cứu những nội dung của pháp luật vềxã hộihoá THADS vàchếđịnhThừa phátlạitừgiaiđoạnthíđiểm2009ởViệt Nam cho đến nay. Trong quá trình nghiên cứu, có một số công trình mặc dùtrước năm 2009 nhưng NCS vẫn sử dụng vì nhận thấy có nhiều nội dung đến nay
3 Khoản 3 Điều 36 Nghị định 08/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của TPL vẫn tương đối phù hợp.

5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đềtàiđược tiến hành trên cơ sởphương pháp luậnchủ
nghĩa Mác–Lênin và tư tưởngHồChí MinhvềNhà nước và Pháp luật, quanđiểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, tùy thuộc vào từng nội dung nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu và mà đềtàiđã sửdụng linh hoạt nhiều phương pháp như: Phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, diễn giải, để đạt được các mục tiêu nghiên cứu. Bên cạnh đó, đềtài cònsửdụngkếtquảthống kê của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Cơ quan THADS và một số cơ quan khác để làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu trong đề tài
Tổng quanvấnđềnghiêncứu:Đềtàisửdụng phương pháp thống kê đểphát hiệnmộtcáchđầyđủcác công trình nghiêncứucó liên quanđếnđềtài. Phương pháp phân tích và tổng hợp để đưa ra đánh giá về tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Từ đó, hệ thống hóa và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, nêu lên các định hướng nghiên cứu tiếp theo của NCS về từng vấn đề nghiên cứu của đề tài.
Chương 1:Đề tàisử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánhđểgiải quyết nhữngvấnđềlý luậncầnphải làm rõ như:
khái niệm, đặc điểm, ýnghĩa, cơ sởkhoa học và nộidung XHHTHADS. Đồng thời, đềtàisửdụng phương pháp lịch sửđểđánh giá nộidung pháp luậtvềXHHTHADS qua các giai đoạn phát triển của các quy định pháp luật vềXHHTHADS.
Chương 2: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tại chỗ: Nghiên cứu các công trình có liên quan đến XHHTHADS và TPL; rà soát đánh giá hệ thống văn bảnpháp luật hiện hành; thu thập, nghiên cứu các tài liệu trong ngoàinước vềcác vấnđềthuộc nộidung nghiêncứucủa Đềtài, sửdụngtốiđa các kếtquảnghiêncứuđiềutra khảo sát thực tếcủacác cơ quan có thẩm quyền trong thời gian thíđiểmchếđinh TPL từnăm 2009đếnnăm 2015 và giaiđoạncho phép
triển khai trên toàn quốc. Sử dụng các phương pháp này sẽ sẽ giúp NCS đánh giáđược thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện XHHTHADS.
Ngoài ra Đề tài còn sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp, suy luận logic để đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về XHHTHADS. Từ đó NCS có thể chỉ ra các ưu, nhược điểm của của pháp luật thực định.
Chương 3: Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê kết hợp lý luận và thực tiễn để đảm bảo tính thuyết phục trong các lập luận, suy luận trong việc đưa ra các định hướng, yêu cầu và kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật vềXHHTHADS ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
– Đề tài là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu vàcóhệthống cácvấnđềlý luận cơbảnvềXHHTHADS, baogồmkhái niệm,đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở khoa học và nội dung của việc XHHTHADS. Đề tài cũng có sự phân tích, tổng hợp lịch sử phát triển về XHHTHADS, đồng thời so sánh với pháp luật nước ngoài về lĩnh vực này.
– Đề tài phân tích, đánh giá tương đối toàn diện thực trạng pháp luật XHHTHADS ở Việt Nam hiện nay, từ đó phân tích những ưu và nhược điểm cũng như nguyên nhâncủanhữnghạnchếđótrong các quyđịnhcủapháp luậtvềXHHTHADS.
-Đềtài đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luậtvềXHHTHADS, nhận diện những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện XHHTHADS. Đánh giá hiệu quảcủa mô hình TPL đã kết thúc triển khai thí điểm và đi vào hoạt động thực tế trong thời gian qua. Phân tích những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân tồn tại của nó trong thực tiễn.
– Đề tài đã tập trung nghiên cứu các nội dung XHHTHADS bao gồm XHH về tổ chức THADS và XHH về hoạt động THADS; Việc nghiên cứu về tổ chức THADS, các mô hình đang được triển khai trong thực tế giúp nhận diện mô hình XHH thích hợp, qua đó có những phương hướngcảicách về cơcấutổchức và
xây dựng hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp.
-Đềxuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quyđịnhcủa pháp luậtvềXHHTHADS và nâng cao hiệuquảthực hiện pháp luật XHHTHADS. Các yêu cầu về XHH phải bảo đảm vai trò quản lý của Nhà nước và định hướng của Đảng, phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp.
7. Điểm mới của Luận án
Về tổng quát, luận án là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về XHHTHADS, và kết quảnghiên cứu sẽ là sự bổ sung quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn vào hoạt động xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay. Theo đó kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần cung cấp một cơ sở lý luận vững chắc về xã hội hoá thi hànhán dânsự,đưara cơsởkhoahọccó giátrịtham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật xã hội hoá thi hành án dân sự nói riêng và pháp luật thi hành án dân sự nói chung.
Về chi tiết, luận án có những điểm mới cụ thể nổi bật sau đây:
Thứ nhất, xây dựng một số vấn đề lý luận cơ bản, quan trọng về xã hội hoá thi hành án dân sự, bao gồm khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở khoa học vànội dung của việc xã hội hoá thi hành án dân sự. Việc làm sáng tỏ những vấn đề lýluận này là cơ sở để tiếp cận các quy định của pháp luật về xã hội hoá thi hành án dân sự, là định hướng cho việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xã hội hoá thi hànhán dân sự.
Thứ hai, luận án phân tích, đánh giá tương đối toàn diện thực trạng pháp luật xãhộihoá thi hành án dânsựởViệt Nam hiện nay,từđóphân tích những ưu vànhượcđiểmcũng như nguyên nhâncủanhữnghạnchế đótrong các quyđịnhcủa pháp luật về xã hội hoá thi hành án dân sự.
Thứ ba, luận án đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về xã hội hoá thi hànhán dân sự, nhận diện những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện xã hội hoá thi hành án dân sự. Đánh giá hiệu quả của mô hình Thừa phát lại đã kết thúc triển khai thí điểm và đi vào hoạt động thực tế trong thời gian qua. Phân tích những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân tồn tại của nó trong thực tiễn.
Thứ tư, luận án đã tập trung nghiên cứu các nội dung xã hội hoá thi hành án dân sự, bao gồm xã hội hoá về tổ chức thi hành án dân sự và xã hội hoá về hoạt động thi hành án dân sự; Việc nghiên cứu về tổ chức thi hành án dân sự, các môhình đang được triển khai trong thực tế giúp nhận diện mô hình xã hội hoá thích hợp, qua đó có những phương hướng cải cách về cơ cấu tổ chức và xây dựng hệthống pháp luật đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp.
Thứ năm, luận án đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về xã hội hoá thi hành án dân sự và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật xãhội hoá thi hành án dân sự. Đây là những kiến nghịmớidựa trên những căn cứ, lập luận khoa học, phù hợp với chủ trương, đường lối cải cách tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổchức, cá nhân trong xã hội.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được trình bày với kết cấu gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về XHHTHADS.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam hiện hành về XHHTHADS;
Chương 3: Phương hướng và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả XHHTHADSở Việt Nam.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOAHỌCĐÃCÔNG BỐLIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Để nghiên cứu về XHHTHADS trước hết cần nghiên cứu những vấn đề lýluận chungvề XHH, XHHTHADS, các mô hình XHHTHADS đangđược áp dụng trên thế giới và tại Việt Nam. Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoàinướcliên quan đến vấn đề XHHTHADS như:Đề tàikhoa học,đềtài, luận văn, giáo trình, sách tham khảo, bài viết tạp chí. Các công trìnhđược nghiên cứu trong khoảng thời gian gần đây là cơ sở quan trọng để phân tích, đánh giá và đưa ra định hướng nghiên cứu những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu củađề tài. Từ những nghiên cứu này, tác giả xác định hướng nghiên cứu cho đề tài, baogồmnhữngđiểmđề tàisẽ tiếp thutừ các công trình trước và tiếp tục phát triển, đồng thời chỉ ra những điểm mới mà chưa công trình nào nghiêncứu để tác giả phát triển cho đề tài của mình.
1.1. Các công trình nghiên cứu khoa học bằng tiếng Việt 1.1.1. Đề án, đề tài nghiên cứu khoa học
1.1.2. Luận án, luận văn, sách, giáo trình
1.1.3. Bài báo khoa học, tham luận hội thảo
1.2. Các công trình nghiên cứu khoa học bằng tiếng nước ngoài
2. ĐÁNH GIÁ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
2.1. Đánh giá các công trình nghiêncứukhoa học đãcôngbốsựliên quanđến nhữngvấn đề lý luận về xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam
2.1.1. Đối với khái niệm xã hội hoá thi hành án dân sự
Trong chuyênđề “Vấnđề XHH công tác THADS” của Công trình nghiên cứukhoa học cấpcơ sở:Hoàn thiện pháp luật THADS”4, của TrườngĐạihọc Luật Hà Nội thực hiện năm 2004, tác giả Trần Anh Tuấn cho rằng XHH thi hànhán cần phảiđượchiểu theo nghĩa rộng “bao gồm cả việc chuyển giao cho các tổchức, cơ quan thực hiện các công việcvề thi hành án và cơ chếkhuyến khích việc tự nguyện thi hành án của các bên đương sự”. Như vậy, tácgiả đã mở rộng hơn quanđiểmvề XHH, đólà ngoài việc“chuyểngiao công việc thi hànhán” còn phải có “cơ chế khuyến khích việc tự nguyện thi hành án”. Tác giả chưa chỉra trong khái niệm của mìnhvề phạm vi, thời điểmcông việc chuyển giao, chuyển giao hoàn toàn hay chỉ một phần và chuyển giao ngay hay cần có lộ trình.
Còn theo quanđiểmcủatác giả TạQuỳnh Anh trong luận văn thạc sĩ“XHHTHADSởViệt Nam hiện nay”5cho rằng: XHHTHADS là quá trình Nhànước thựchiện đổimới phương thứctổchức, hoạtđộngTHADS; theo đó, Nhànước từngbước chuyển giao hoạtđộngTHADS cho các cá nhân, tổchức hành
4Nguyễn Công Bình (chủ nhiệm), Hoàn thiện pháp luật THADS, Đề tài khoa học cấp Trường, năm 2004, Tr. 166
5 Tạ Quỳnh Anh (2015), XHHTHADS ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, năm 2015, Tr.7
nghề tự do thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác THADS, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, tác giả Tạ Quỳnh Anhđãbổsungvề phạm vi XHH theohướng“Nhà nước từngbướcchuyển giao”,điều đó cho thấy, theo tác giả, chỉ nên XHH một phần công việc trong THADS.
Từ các công trình nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy, khi nghiên cứu về khái niệm XHHTHADShầuhếtđềucho rằng XHHTHADS là “việcchuyển giao một phần hay toàn bộ các công việc về thi hành án cho các cá nhân, tổ chức khiđáp ứng đủ những điều kiện do pháp luật quy định”. Tác giả cũng đồng ý với những luậnđiểmtrên, tuy nhiên trong quá trình triển khaiđềtài, sẽphát triển khái niệm XHHTHADS dưới góc độ không những “chuyển giao” mà còn bao gồm “thành lập” các tổ chức, cá nhân tư nhân vào quá trình THADS.
2.1.2. Đối với đặc điểm của xã hội hoá thi hành án dân sự
Về đặcđiểmcủa XHHTHADS, qua việc nghiên cứu các bài viết của các tác giả trước đây, hầu như các tác giả không nghiên cứu về đặc điểm của XHHTHADS mà chỉ tập trung vào phân tích vai trò, ý nghĩa và mô hình XHHTHADS, thậm chí nếu có phântích đặc điểmthì cũng là đặcđiểmcủa việc phát triển mô hình TPL. Duy nhất có bài viết của các tác giả Lưu Bình Nhưỡng “XHH công tác THADS trongbốicảnh hiện nay”, ChuyênđềtrongĐềtài cấp Bộ “Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPL”6 do TS Dương Thị Thanh Mai làm chủ nhiệm năm 2018. Theo tác giả Lưu Bình Nhưỡng thì XHH thi hành án có 03 đặc điểm: Nhà nước chuyển giao nhiệm vụ thi hành án (hình sự, dân sự, hành chính) của mình cho tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện; Nhà nước vẫn nắm quyền quản lý các hoạt động thi hành án; thi hành ánđượcXHH có tính chất là mộtloại dịchvụcông. Tuy nhiên,đặcđiểm “Nhà nướcgiao nhiệm vụ thi hành án (hình sự, dânsự,hành chính) cho tổ chức, cá nhân” mà tác giả nêu trên vào thờiđiểmhiện nay là chưa phùhợpvới pháp luật hiện hành, bởi vì hiện nay thi hành án hình sự vẫn do Bộ công an quản lý.
6 Dương Thị Thanh Mai (2017), Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPLTPL, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp.
2.1.3. Đối với ý nghĩa của xã hội hoá thi hành án dân sự
Hầuhếtcác tácgiảđềuthống nhấtvềlợiích, vai trò tíchcựccủaviệc XHHTHADS. Thạc sĩ Đinh Duy Bằng trong bài viết “XHH công tác THADS, lợiích, mô hình và quản lý nhànước”,đăng trêntạpchí Dânchủvà Pháp luật,sốchuyênđềtháng 9/2011, năm 2011; tác giả Lê Xuân Hồng phân tích trong luận văn thạc sĩ luậthọc“XHHTHADS”, TrườngĐạihọcLuật Hà Nội, năm 2001, trang 17,18; tác giả Nguyễn Đức Chính trong chuyên đề “XHH hoạt động THADS- một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, số 5/2001, trang 123,124; tác giả Nguyễn Thanh Thủy trong luận án tiến sĩ“hoànthiện pháp luật THADSởViệt Nam hiện nay”,Họcviện ChínhtrịQuốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008, trang 166-167; tác giả Chu Thị Hoa trong luậnán tiến sĩ“Pháp luật THADS trong cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Viện Hàn lâm Khoahọcxã hội Việt Nam năm 2016, trang 132-133.Hầunhưtấtcảcác tác giả đều chỉ ra các lợi ích mà việc XHHTHADS mang lại, đó là: giảm tải khối lượng công việc của cơ quan THADS hiện nay, khắc phục được tình trạng tồn đọng án; giảm biên chế và chi phí tài chính cho bộ máy Nhà nước; chất lượng thi hành ánđược nâng cao, tạo ra sự cạnh tranh giữa cơ quan thi hành án với tổ chức thi hànhán XHH,tạothêmsựlựachọn chongườidân; phát huy tính dân chủ, tính nhân dân vào tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước; và cuối cùng, XHHTHADS là một yêu cầu khách quan.
Đồngthờimộtsốtác giảcũng nêu quanđiểmmuốn XHHTHADS thành công thì việc XHH cũng phải dựa trên một số nguyên tắc nhất định. Nguyễn Đức Chính, trong bài viết “XHH hoạtđộngTHADS-mộtsốvấnđềlý luận và thực tiễn”7,mặcdù tác giả phân tích các quyđịnhdựatrên Pháp lệnh THADS năm 1993 nhưng vẫn có giá trị tham khảo đến hôm nay, tác giả chỉ ra rằng để đảm bảo hoạtđộngTHADS đi đúnghướngcầnquán triệt nguyên tắc:Mộtlà, XHH hoạtđộngTHADS phảiđặtvấnđềhiệuquảlàm trọng, theo tácgiả, hiệuquảlà thi hành án đúng hạn, íttốnkém kinh phí, không phải huyđộngnhânlựcđểcưỡng chế, bảo đảm đoàn kết trong nhân dân, tạo được sự đồng tình của dư luận xã hội,
7Nguyễn Đức Chính, XHHTHADS – một sốvấn đề lý luận vàthực tiễn, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý- BộTư pháp, số5/2001. Tr.127-128.
giữvữngkỷcương pháp luật; hai là, XHHTHADS phải nhằmmụcđích tiện lợi cho dân, nâng cao trách nhiệmcủacơ quan thi hành án,tạosựcạnh tranh lành mạnh, không làm gia tăng quá đáng chi phí tài chính của các bên THADS; ba là, XHH hoạtđộngTHADS nhưng khôngđượctáchrờisựquản lýcủaNhà nước; bốn là, tiếp tục duy trì hệ thống cơ quan THADS hiện nay, vì theo tác giả, trước mắtchỉnên XHHmộtsốnộidungcủaTHADS, việc XHH toànbộhoạtđộng THADS chưa thể thực hiện được trong giai đoạn hiện nay như tác giả đã phân tích kỹ trong Chuyên đề, mặt khác, cũng theo tác giả, hệ thống cơ quan THADS hiện nay về cơ bản đang đặt trên một nền tảng đúng đắn, đang thực hiện tương đối tốt các công việc của mình; và cuối cùng, tác giả chỉ ra rằng, XHH hoạt động THADS phải được thực hiện như một quá trình từ từ chuyển giao, có phân định từng giaiđoạn cụ thể với các bước đi thích hợp, xác định rõ mục tiêu của từng giai đoạn.
Trong các nộidung của XHHTHADS thì TPL làmộtnộidung cơ bản, làmột bước tiến trong tiến trình cải cách tư pháp. Vì vậy, tác giả Chu Văn Khanh, trong bài viết“Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động TPL”8 đã chỉ ra một số nguyên tắc trong quản lý nhà nước đối với hoạtđộng của TPL như sau: Nguyên tắcbảo đảmsựquản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạtđộng của Văn phòng TPL; nguyên tắcbảo đảmsự độc lập và tự chịutrách nhiệm của TPL; nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
2.1.4. Đối với nội dung xã hội hoá thi hành án dân sự
Thứ nhất, về XHH tổ chức THADS: Theo tác giả Nguyễn Thanh Thủy9 có ba phương án vềmô hìnhtổchức thi hành án, mô hìnhthứnhất:BộTư pháp quản lý thống nhất công tác thi hành án (bao gồm THADS, hình sự, hành chính,
kinh tế, lao động, trọngtài…)kểcảtổchức và nghiệpvụtheo hướng:ởTrungương có Tổng cục thi hành án thuộc Bộ Tư pháp, ở các địa phương có Cơ quan thi hành án cấp tỉnh (hay Cục thi hành án), Cơ quan thi hành án cấp huyện (hay Chi cục thi hành án); mô hình thứ hai: Bộ Tư pháp thống nhất quản lý Nhà nước về công tác thi hành án trong phạm vi cả nước, trực tiếp quản lý và tổ chức việc
8 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động TPL”, Tạp chí Dân Chủ và Pháp luật, sốChuyên đề 11/2016, tr.14-19
9 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
THADS hiện nay đang làm và chỉ quản lý công tác thi hành án hình sự về mặt tổ
chức hoạtđộng…; mô hìnhthứba:tổchức thi hành án bán công theo hướng XHH, áp dụng cho giai đoạn sau năm 2015 hoặc 2020.
Hai tácgiảChuThịHoa10 và DươngThịThanh Mai11 cũngđưara quanđiểm hiện nay trên thế giới tồn tại 03 mô hình XHH: thi hành án công, do công chức Nhà nước thực hiện; hình thức bán công, vừa do công chức thực hiện, vừa do viên chức thừa hànhđảmnhiệm; thi hành án tư nhân, vớitổchức TPL vàcũng theo các tác giả, mỗi mô hình đều có ưu và nhược điểm nhất định cho nên việc XHHtổchức THADS phải thực hiện theolộtrình phùhợpvớithực tiễn cuộc sống và nên thí điểm trước khi triển khai trên diện rộng. Cũng theo các tác giả, Việt Nam trongđiềukiện hiện nayvẫnnên áp dụng mô hình THADS bán
công (hỗn hợp) theo hướng kết hợp cả thi hành án công và thi hành án tư – TPL. Với những luận điểm trên, NCS cũng đồng ý là trong giai đoạn hiện nay, chúng ta vẫn nên áp dụng mô hình THADS bán công, khi nào những điều kiện về kinh
tế và xã hội đã đạt được mức độ nhất định thì có thể chuyển hẳn sang thi hành án tư nhân.
Thứ hai,về phạm vi XHH:Đâylàvấnđề đượccác nhà nghiêncứuquan tâm cũng như tranh cãi nhiều nhất khi tiến hành chủ trương xã hội hóa, do vậy córấtnhiều tácgiả đưara quan điểm của mình về phạm vi XHH hoạt động THADS như sau: Theo tácgiảNguyễn Thanh Thủy12 đãđã đưara hai phương án XHH hoạtđộngTHADS: phương án thứ nhất là “XHH toàn bộ việc thi hành án theo yêucầucủa các tổchức và cá nhân. Cơ quan thi hành án Nhà nước chỉđảm nhiệm các việc thi hành ánchủđộng”,tuy nhiên, tác giả cũngđã chỉra rằng phương án này là không khả thi, vì đây là phương án XHHở một mứcđộ rấtcao, theo đó, tổ chức thi hành án XHH phảiđảmnhiệm toàn bộ quá trình thi hành án, bao gồm cả việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế, nghĩa là tổ chức thi hành án XHH“cầnphải có tư cách quyềnlựcNhà nước”, đâylà điềurấtkhó thực hiện
10 Chu Thị Hoa (2016), Pháp luật THADS trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2016.
11 Dương Thị Thanh Mai (2017), Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPLTPL, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
12 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
trong giai đoạn này, do các quy định của pháp luật hiện hành chưa cho phép các tổ chứcthi hành án XHH có được tư cách đó. Thêm vào đó, trở ngại không nhỏđể tiến hành phương án này đó là:ngườidân không coi THADS là một loại hình dịch vụ, mà cách nghĩ phổ biến đó là:“Hoạtđộng THADS là hoạtđộng tố tụng.
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân nên Nhà nước phảiđảmnhiệm, phải bao cấp hoạt động này” do đó, người dân không chịu bỏ chi phí dịch vụ đểđược thi hành án; đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng, yếu tố tâm lý lịch sử, truyền thống cũng là trở ngại đángkể khi tiến hành XHH, do“tâmlýngườidân tin tưởng tuyệt đối vào Nhà nước” cho nên “trong điều kiện như vậy việc giao một phần việc THADS hiện đang do cơ quan thi hành án của Nhà nước đảmnhiệm sang chomộttổchức khác không phảicủaNhà nước, đươngnhiên sẽ làm cho mọingườiđặtdấuhỏinghi ngờ tính khả thi, tính hiệu quả củaviệc làmấy”. Phương án thứ hai nên “chuyển giao cho các tổ chức thi hành án XHH đảm nhận việctống đạtcác loại quyết định thi hành án, các giấy tờ thi hành án khác và xác minh tàisảncủa người phải thi hành án”, theo tác giả phương án này có tính khả thi và hiệu quả hơn phương án 1, bởi vì “chúng khôngcầnthiếtsử dụng quyền
lựctư pháp nhưnglạilà sự giảmtảirấtlớncho cơ quan THADS hiện hành”.Đồngquanđiểmvới Nguyễn Thanh Thuỷ là luật sư Trương ThịHòa với bài tham luận “TPL trong tiến trình XHH côngvụ THADS” cũng khẳngđịnh:
“Trong lĩnh vực tư pháp, cũng có thể XHHmột sốhoạt động nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng phục vụ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của công dân, trongđócó hoạtđộngTHADS”. Còn theo ThS Lê Xuân Hồng“Mộtvài suy nghĩvềXHH thi hành án”13 đăng trên tạp chí Dân Chủ và Pháp luậtđã đưara quan điểm “XHHTHADScầnđồngbộvà cólộtrình phùhợp”,trong giaiđoạntrước mắt, việc XHH thi hành án có thể được thực hiện bằng các hình thức, biện pháp khác nhau như: nâng cao trách nhiệm của các bên đương sự (quy định trách nhiệm xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án khi làm đơn yêucầuthi hành án, quy định người được thi hành án phải nộp phí thi hành án với mứcphù hợp..), giao cho cá nhân, tổchức phi nhànướcthực hiện
13Lê Xuân Hồng “Một vài suy nghĩ về XHH thi hành án” đăng trêntạpchí Dân Chủ và Pháp luật, Năm 2008, Tr.20
mộtsốcông việcvề thi hành án như sau “(1) Tốngđạtcác quyết định, giấy tờtrong thi hành án theo ủy quyền của cơ quan thi hành án; (2) Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đươngsự để làm căn cứcho cơ quan thi hành án thi hành; (3) Thi hànhbảnán, quyếtđịnhtheo yêucầucủa đươngsự”. Về cơ bản, tác giả cũng đồng quan điểm với Nguyễn Thanh Thủy và luật sư Trương Thị Hòa là chỉ nên XHH một phần hoạt động THADS, và tác giả bổ sung thêm một hoạtđộng nên được giao cho tổ chức thi hành án XHH là được “thi hành bản án, quyếtđịnh theo yêu cầu của đương sự”. Không đồng ý với các quan điểm trên, tácgiảTrần Anh Tuấn trong “Vấn đề XHHTHADS”14 cho rằng nếu XHH chỉ thực hiệnđốivới các việc thi hành án “theo yêucầu của ngườiđược thi hànhán”,sẽ dẫnđếntình trạngtồntạihailựclượngthi hành án là tổchức TPL và cơ quan THADS của Nhà nước. Cũng theo tác giả, xétvề mặtthựctế sốlượng các công việc mà cơ quan thi hành án phải chủ động thi hành là không nhiều, do vậy, việc duy trì hệ thống các cơ quan thi hành án của Nhà nước như hiện naychỉ để thi hành các khoản thu về cho ngân sách nhà nước là không hiệu quả.
Như vậy, mặcdù cósự khác nhauvề quan điểm, nhưng các tác giả đều thống nhất rằng nên XHHTHADS, chỉ có điều XHH những công việc gì thì còn phải trao đổi thêm.
Đối với XHH hoạt động THADS: Các nhà nghiên cứu đều thống nhất việc XHH hoạtđộngTHADS là chuyển giaomộtphần các công việc đang do Nhà nước đảmnhận cho TPL thực hiện, các công việc nên được XHH bao gồm: Cấp,
tống đạt văn bản thi hành án; xác minh điều kiện thi hành án; trực tiếp tổ chức thi hành án.
Theo quan điểm của NCS, trước mắt chúng ta vẫn nên giữ mô hình THADS như hiện nay, tứclà, vừatồntạicơ quan THADS của Nhà nướcvà văn phòng TPL, Sau năm 2030, tổng kết 20 năm chế định TPL được tái lập lại, nếu như đội ngũ thi hành án tư nhân này đã thậtsựlớn mạnh, đượcngười dân hoàn toàn tin tưởng thì chúng ta sẽ tính đến việc chuyển giao THADS cho tư nhân đảm nhiệm.
14Trần Anh Tuấn (2007), Vấn đề XHHTHADS, Tạp chí Luật học, năm 2007, Tr. 63;
2.1.5. Đối với cơ sở khoa học của việc xã hội hoá thi hành án dân sự
Để XHHTHADS diễn ra thành công thì việc nghiêncứucơ sởkhoa học thông qua những cơ sở lý luận và cơsởthực tiễn là mộtnhiệmvụtrọng tâm trongđịnhhướngcơbảncủa việc XHH, tạo nềntảng lý luận chochủtrương XHHTHADS của Đảng và Nhà nước.
Bài viết“Vấn đề XHHTHADS” của Thạc sĩ Trần Anh Tuấn, trang 59-60; Lê Xuân Hồng“XHHTHADS”15, trang 15-18;Tạ Quỳnh Anh“XHHTHADSởViệt Nam hiện nay”16, trang 12-18; Lưu Bình Nhưỡng “XHH công tác THADS trong bối cảnh hiện nay”, Chuyên đề Đề tài cấp Bộ “Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPL”, do Dương Thị Thanh Mai là chủnhiệm năm 2017. Theo các tác giả, cơsởkhoa học của việc XHHTHADS dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, ngoài ra tác giả Lưu Bình Nhưỡng còn bổsung thêm việc XHH phải dựa trên cơ sở chính trị là các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảngvà Nhà nước;cơ sởlý luận là các văn bảnpháp luật hiện hành quyđịnhvềXHHTHADS; cơsởthực tiễn dựa trên báo cáokếtquảcông tác thí điểm chế định TPL tại thành phố Hồ Chí Minh “Kết quả thực hiện thí điểm chế định TPL qua hai giai đoạn17 tại 13 địa phương với 53 Văn phòng TPL được thành lập, có 134 TPL, 295 Thư ký nghiệp vụ hành nghề tại các Văn phòng”. Từđó, tác giả Nhưỡng đưa ra kết luận “việc XHH công tác THADS thông qua thực hiện chế định TPL là đúng đắn, có thể áp dụng trên phạm vi rộng nếu cóđủ điều kiện”. Từ quan điểm của các tác giả trên, trong quá trình triển khai, đề tàisẽ bổsung thêm một số luận điểm như: xuất phát từ sự phát triển của kinh tế – xã hội, coi XHH là một lĩnh vực để đầu tư kinh doanh; XHHTHADS là thực hiện quyền dân sự của các chủ thể; xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế và cải cách tư pháp.
15 Lê Xuân Hồng (2001), “XHHTHADS”, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr.15-18.
16 Tạ Quỳnh Anh (2015), “XHHTHADS ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr.11-17.
17 Việc tổ chức thực hiện thí điểm chế định TPL tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1: thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/7/2009 đến ngày 01/7/2012 theo Nghị quyết số 24/2008/QH11; Giai đoạn 2: thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh và 12 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ năm cuối năm 2012 đến hết 31/12/2015 theo Nghị quyết số36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội.
2.2. Đánh giá các công trình nghiên cứu đã công bố với vấn đề thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về xã hội hoá thi hành án dân sự
2.2.1. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về xã hội hoá tổ chức thi hành án dân sự
Tại Việt Nam trong xu hướng cải cách hành chính, cải cách tư pháp, Nghịquyết 49-NQ/TW củaBộChínhtrịngày 02/6/2005vềChiếnlược Cảicách tưphápđến năm2020 khẳng định rõ: “Từng bước thực hiện việc XHH và quy định những hình thức,thủtục đểgiao chotổchức không phải là cơ quan nhànước thực hiệnmộtsốcông việc thi hành án. NghiêncứuchếđịnhThừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở
tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”. Mặc dù chế định TPL đã tồn tại ởmiền Nam Việt Nam trước năm 1975, nhưng khi triển khai thíđiểmtheo Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật THADS thì vẫn có rất nhiều quanđiểm khác nhau về việc có nên XHHTHADS hay không, XHH đến đâu, phạm vi các công việc XHH… Chính vì vậy, từ khi chế định TPL còn đang được thí điểm và chođếnnay quagần06 năm thực hiện chính thức, đã córấtnhiều các công trình nghiêncứucủa các học giảkhác nhauvềmô hình XHHTHADS. TácgiảĐỗ Thu Thủy trong “Chuyên đề về: TPL, Về mô hình tổ chức và hoạt động của TPL” từ trang 136-149, năm 1996; Nguyễn Đức Chính, trong cuốn sách “Tổ chức TPL”,nhà xuấtbảnTư pháp, năm 2006; Vũ Hoài Nam, trong cuốn sách“Tổchức và hoạtđộngcủaTPLởViệt Nam hiện nay”,nhà xuấtbảnTư pháp, năm 2013; Lê Xuân Hồng, trong bài viết“Mô hìnhtổchức và hoạtđộngcủaTPL”, trang 34-43 và Nguyễn Văn Lạng, trong bài viết “Một số nội dung về TPL”,trang 90-98 cùng xuấtbảntrên tạpchí Dânchủ&Pháp luật, sốChuyênđềChếđịnh TPL, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2016. Bên cạnh đó, nội dung các luận văn thạc sĩ của các tácgiảLê Xuân Hồng18, Nguyễn Thanh Thư19, TạQuỳnh Anh20,
18 Lê Xuân Hồng (2001), XHH THADS, luận văn thạc sĩ luật học, năm 2001, Trường Đại học Luật Hà Nội
19 Nguyễn Thanh Thư (2014), TPL – một số vấnđề lý luậnvà thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, năm 2014, Trường Đại học Luật Hà Nội
20 Tạ Quỳnh Anh (2015), XHH THADS ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, năm 2015, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nguyễn Minh Thùy21 trong phần chương 2 của luận vănđều đề cập đến mô hình tổ chức TPL.
Đặc biệt là “Đề án khảo sát, đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thíđiểm chế định TPL tại một số tỉnh, thành phố” do Viện Khoa học pháp lý chủ trì
thực hiện trong hai năm 2014 – 2015; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do TS DươngThịThanh Maichủnhiệm năm 2017về“Xác địnhnhữngđịnhhướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPL”và Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Huỳnh Đức Thái Lâm Hoàng22 trong phần Chương 3 từ trang 62 đến 102đã nêu lên thực trạng của mô hình THADS hiện nay và xuhướngXHHtổchức THADS. Mặc dù mỗi nghiên cứu tiếp cận dưới các góc độ khác nhau nhưng có thể thấy hầu hết các học giả đều có sự thống nhất chung về mô hình tổ chức và hoạt động của TPL như sau:
(i)Vềtính chất nghề nghiệp, TPL mang tính chất nghề nghiệptựdo, hoạt động của TPL là “nửa nhà nước, nửa tư nhân”,“nửa công chức, nửa tư chức”, trước đây gọi là “công lại”23;
(ii) Về bổ nhiệm, TPL do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền;
(iii)Về tổchức, văn phòng TPL là tổchức hành nghề của TPL, được tổchức và hoạtđộngtheo loại hình doanh nghiệp, thực hiện các dịch vụcông, không vì mục đích lợi nhuận;
Trong nội dung XHH tổ chức THADS, có thể nói mô hình TPL là một trong các nội dung cơ bản nhất mà các công trình nghiên cứu khoa học tập trung phân tích. Khi phân tích mô hình này, các nhà nghiên cứu đều đưa ra những đánh giávề ưu, nhược điểmcũng như nguyên nhân và giải pháp khắc phục. Về ưu điểm, các công trình nêu trên đều chung quan điểm là sự tái lập mô hình TPL giúp giảm
tảikhốilượngcông việc cho Tòa án và Cơ quan THADS,đảmbảo tốthơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; còn về bất cập, các công trình nghiên
21 Nguyễn Minh Thùy (2011), TPL – một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩluật học, năm 2011, Trường Đại học Luật Hà Nội.
22 Huỳnh Đức Thái Lâm Hoàng (2019), Pháp luật về TPL ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, năm 2019, Học viện Khoa học Xã hội.
23 TS. Nguyễn Đức Chính – Tổ chức TPL, Nxb. Tư pháp, 2006, tr. 79
cứu chỉ ra những bấtcập về mặtnhận thứccủa ngườidân, bấtcập về mặtthể chế pháp luật, bất cập về tổ chức và nguồn nhân lực của các Văn phòng TPL24. Hiện nay, mô hình này mới được triển khai nhân rộng trên phạm vi toàn quốc, chính vìvậy trong thời gian nghiên cứu tới, NCS sẽ tập trung phân tích, đánh giá để làm rõmặttích cực,hạnchế của mô hình này và phươnghướnglựachọn mô hình XHH tổ chức THADS phù hợp.
2.2.2. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về xã hội hoá hoạt động thi hành án dân sự
Chế định TPL được táilập lạitừ Nghị quyếtsố24/2008/QH12 về thi hành các quyđịnhcủa Luật THADS năm 2008,để triển khai thực hiện chế địnhnày
trên thực tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ–CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TPL (sau đây gọi là Nghị
định số 61/2009/NĐ-CP) và Nghị định số 135/2013/NĐ–CP sửa đổi, bổ sung tên
gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ–CP (Nghị định số
135/2013/NĐ–CP). Về thực trạng XHH hoạt động THADS, hầu như các nghiên cứu đều đã tập trung phân tích thực trạng về các hoạtđộng mà tổ chứcTPL được thực hiện từ khi triển khai thíđiểmchođếnnay, baogồmcác hoạtđộngsau:
Hoạt động cấp, tống đạt văn bản THADS; hoạt động xác minh điều kiện THADS; hoạtđộngtrực tiếp tổchức THADS. Các nghiêncứukhoa học đều nhận định việc XHH hoạt động THADS là cần thiết, là phù hợp, góp phần giảm tảigánh nặng cho Cơ quan THADS, bảovệ các quyền và lợi íchhợppháp cho ngườidân25 . Bên cạnh những ưu điểm trên, các công trình nghiên cứu khoa học cũng đã chỉ ra những bất cập khi triển khai chế định này trên thựctế,trong đó nổi cộm lên có một số công trình nghiên cứu như sau:
Đề án khảo sát, đánh giá tác độngkinhtế- xãhộicủaviệc thíđiểmchếđịnh TPL tại một số tỉnh, thành phố” (sau đây viếttắtlà Đề án) và giao cho Viện Khoa học pháp lý chủ trì thực hiện trong hai năm 2014 – 2015. Kết quả sau hai năm khảo sát, Đề án đã chỉ ra rất nhiều những điểm tích cực cũng như những khó
24 Chu Thị Hoa (2016), Pháp luật THADS trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2016.
25 Viện Khoa học pháp lý (2015), Đề án khảo sát, đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thí điểm chế định TPLTPL tại một số tỉnh, thành phố, Bộ Tư pháp
khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chế định TPL (trang 64 đến trang 132).Đâycó thể nói là mộtcông trình phân tích đầy đủnhấtvề chế định TPL trong thời gian thí điểm, những số liệu điều tra, khảo sátđược từ Đề án có ýnghĩa vô cùng quan trọng, làm cơ sở cho việc ra quyếtđịnhthực hiện chế định TPL trong phạm vi cả nước, tạo nên bước chuyển lớn trong chủ trương XHHTHADS. Mặc dù vậy, công trình này vẫn chưa chỉ ra được trong tương lai có nên chuyển giao toànbộcông việc do Cơ quan THADS thực hiện hiện nay cho TPL hay không? và nếu có thì cơ sở pháp lý, điều kiện đó là gì. Cũng theoĐề án, mặcdù còn gặp nhiều khó khăn nhưng việc tái lập chế định TPL là một chủtrương đúngđắnvà cầnphải triển khai trên diện rộng, từ đó, Nghị quyết 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015về thực hiện chế địnhTPL được ban hành, TPL chính thức là một nghề, được triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước.
Công trình nghiên cứu khoa học Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng luật TPL của tác giả Dương Thị Thanh Mai năm 2017 (từ trang 44-58) và luận án tiến sĩ Pháp luật về TPL ở Việt Nam hiện nay, của tác giảHuỳnhĐức Thái Lâm Hoàng năm 2019(từtrang75-109) là các công trình nghiêncứucó tính chuyên sâuvềTPL sau khi Nghị quyết 107/2015/QH13 cóhiệu lực. Các công trình này đều tập trung phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về TPL sau khi chế định TPL được triển khai trên phạm vi cả nước, chỉ rõ những kết quả đạt được cũng như những vướng mắc trong quátrình triển khai thực hiện cả về pháp luật và thực tiễn. Công trình nghiên cứu của tác giả Dương Thị Thanh Mai, ngoài việc chỉ ra những vướng mắc khi triển khai chế định TPL giống như những công trình khác thì còn nêu lên được những điểm khác biệt giữa TPL của Việt Nam với TPL của một số nước trên thế giới (mang tính đặc thù), đó là: thứ nhất, tính chất không độc quyền trong việc cung cấp dịch vụcủa nghề TPL; hai là, hoạtđộngcủa TPL còn mang tính cạnh tranh cao, không cânsứcgiữa TPL với các chức danh, cơ quan nhà nước thực hiện cùng loại việc; ba là, thiếu sự phân định rõ ràng, hợp lý phạm vi thẩm quyền thi hànhán giữa cơ quan thi hành án nhà nước và TPL; thứ tư, tổ chức và hoạt động TPLở nước ta chưađược điều chỉnh bằng luật;thứnăm, chưa có hội/hiệphộinghề
nghiệp đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người hành nghề TPLđồngthờiđểquản lý, giám sát việc tuânthủquy tắc đạođức nghề nghiệp của TPL. Công trình nghiên cứu của Huỳnh Đức Thái Lâm Hoàng, tác giả phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về TPL dựa trênsự kế thừa kết quả khảo sátcủa Đề án26 và một số luận điểm từ công trình nghiên cứu của tácgiảDương ThịThanh Mai.Cảhai công trình này khi phân tích thực trạng pháp luật về XHHTHADS hầu như chỉ tập trung vào hoạt động của TPL với ba nhóm công việc XHH là: tốngđạtvăn bản, xác minhđiềukiện thi hành án vàtrực tiếptổchức thi hành án và bấtcậplớnnhất mà các công trình trênđềuđềcậpđếnđólà sựthiếu vắnghệthống pháp luật chuyên ngànhvềTPL trực tiếp điềuchỉnh nên dẫn đếnsựkhó khăn về cơ sở pháp lý trong quá trình triển khai thực hiệnchếđịnhTPL và đócũng là lý dodẫnđếnhoạtđộngcủa TPL chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.
Nghiêncứucông trìnhnướcngoài liên quan đếnthực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật THADS, tácgiảQing-Yun Jiang trong cuốn sách: “Court Delay and Law Enforcement in China – Civil process and economic perspective” được xuất bản Gabler edition Wissenschaft, năm 2005. Theo đó, tác giảphân tích nhữngbấtcậptronghệthống pháp luật THADS hiện hành tại Trung Quốc và đòi hỏi cần phải có sự chuyển hướng THADS theo mô hình XHH như sau: Một là, hệ thống tư pháp của Trung Quốc mà đặc biệt là tình trạng trì trệtrong xét xử và thi hành án của Tòa án Trung Quốc gây khó khăn, cản trở sự phát triểncủa nềnkinh tế, làm giảm lòng tincủangười dân vàosựtín nhiêm các cơquan tư pháp. Hai là, tình trạng án dân sự tồn đọng tại Tòa án các cấp chiếm tỉ lệcao gây thiệthạicho thu nhập của ngườidân, thậm chí ngườidân còn tìmđến các công ty đòi nợ thuê “có yếu tố bạo lực” để yêu cầu đòi tài sản cho mình. Từtrang 119đếntrang 125, tácgiảphân tích và đưara bảng thống kê sốliệuvềnguyên nhân án dânsựkhôngđược thi hành hoặc thi hành chậm trễ, trongđónguyên nhân nổi bật hàng đầu là chưa có sự tách bạch giữa cơ quan xét xử và cơ
26 Viện Khoa học pháp lý (2015), Đề án khảo sát, đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thí điểm chế định TPLTPL tại một số tỉnh, thành phố, Bộ Tư pháp.
quan thi hành án, tácgiảcònchỉra tỷlệthi hành án thành côngchỉchiếm 25- 30%. Ba là, theo tác giả, muốn giảmtỷlệtrìtrệcủa ngành tòa án và tạodựng niềm tin cho người dân vào cơ quan xét xử thì vấn đề quan trọng là phải sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, đề cao tính độc lập của tòa án trong xét xử, mà đặc biệt là Tòa án thi hành án phải được tách ra khỏi Tòa án xét xử. Từ đó, tácgiả có sựso sánh với pháp luật của các nước như Đức, Hoa Kỳ, Anh, Pháp là những nước có sự tách bạch giữa Tòa án với cơ quan thi hành án (các cơ quan THADS được thành lập độc lập với Tòa án). Từ những phân tích thực trạng trên, tácgiả đã đưa ra kiến nghị thay đổi hệ thống tư pháp Trung Quốc, chuyển giao việc thi hành án cho cơ quan thi hành án và từng bước tiến hành XHH thi hành án giống như một số nước Anh, Mỹ, Pháp đã và đang thực hiện.
Như vậy, về thực trạng XHHTHADS, hầunhư các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều nêu lên những khó khăn của Cơ quan THADS Nhà nước và những gợi mở về những bất cập từ quy định của pháp luật, đòi hỏi cần phải cósự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn thực hiện.
2.3. Đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề phương phướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xã hội hoá thi hành án dân sự
2.3.1. Đối với phương hướng xã hội hoá thi hành án dân sự
– Về mô hình tổ chức THADS
Trướckhi có thíđiểmchếđịnhTPL, các nghiêncứuđã đưara mộtsốphươnghướngđược đề xuấtđể XHHTHADS. Phương án thứ nhất là mô hình bán công, nghĩa là có haitổchức có chức THADS cùngtồntạiđólà: cơ quan THADS và văn phòng TPL “XHH bằng hình thức chuyển giao những việc thi hành theo đơn yêu cầu cho cá nhân, tổ chức nghề nghiệp thựchiện”27; quan điểm thứ hai thì cho rằng nên xây dựnghệ thống cơ quan thi hành án tư nhân“Nhànướckhông bao cấp toàn bộ kinh phí, cơ sở vật chất, cơ quan thi hành án tự trang trải các hoạt động của mình bằng cách thu phí và các khoản chi phí thi hành án”28 khi đáp ứng được những điều kiện nhất định, đồng thời theo nghiên cứu này thì
27 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
28 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
“cần phải XHHmộtcách toàn diện hoạtđộngTHADS mà trọng tâm là chuyển chức năng thi hành án của cơ quan thi hành án hiện nay cho cá nhân, tổ chức phi nhà nước đảmnhận với tính chất là loại hình dịch vụ pháp lý công”. Đồng ý với các phương ántổchức thi hành án trên, tuy nhiên dù là tổchức THADSđược thiết lập dưới dạng bán công hay tư nhân thì các công trình nghiên cứu đều đưa ra yêu cầu là phải xác định đúng phạm vi những nội dung hoạt động THADS cóthể và cần được XHH29.
Khi Nghị quyết của Quốc hộivề việc thực hiện thíđiểmchế địnhTPL (2009-2015) và chính thức trên phạm vicảnước từnăm 2016đến nay thì các nghiêncứutrong giaiđoạnnàyđềunêu lên phươnghướngtổchức mô hình THADS theohướnglà mô hình bán công, tứclà song songtồntạicơ quan THADS và văn phòng TPL nhưng cần phải phân chia phạm vi hoạt động rõ ràng và chúngsẽXHH toànbộhoạtđộngTHADS nhưng theolộtrình thíchhợp30.Đồng thời, dù được tổ chức theo mô hình nào thì cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước về tổ chức và hoạt động31.
– Về hoạt động THADS
Các công trình nghiên cứuđềuthống nhất nênmởrộng thẩm quyền của TPL trong hoạt động THADS, Đề án32 trang 191-197 đã đưa ra một số kiến nghịđiều chỉnh về phạm vi thẩm quyền của TPL, theo đó, đối với hoạt độngtống đạt văn bản: nên mở rộng phạm vi tống đạt đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ
quan khác (như cơ quan VKS, công an, cơ quan hành chính nhà nước…); đối với hoạt động xác minh điều kiện thi hành án: đề nghị mở rộng thẩm quyền thi hànhán của TPL theo địa giới hành chính (trang 198); đối với hoạt động thực hiện cưỡng chế thi hành án: đề nghị cân nhắc để đảm bảo quyền hạn và trách nhiệm của TPL trong việc cưỡng chế thi hành án, bao gồm cả cưỡng chế có huy động lực lượng để đảm bảo tính độc lập và hiệu quả, độ tin cậy của người dân đối với hiệu lực,
29 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
30 Dương Thị Thanh Mai (2017), Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPLTPL, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
31 Viện Khoa học pháp lý (2015), Đề án khảo sát, đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thí điểm chế định TPLTPL tại một số tỉnh, thành phố, Bộ Tư pháp.
32 Viện Khoa học pháp lý (2015), Đề án khảo sát, đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thí điểm chế định TPLTPL tại một số tỉnh, thành phố, Bộ Tư pháp.
hiệuquảthi hành án của TPL (trang 200). Các công trình nghiêncứukhoa học của các tácgiảNguyễn Thanh Thư,TạQuỳnh Anh, HuỳnhĐức Thái Lâm Hoàng, Dương Thanh Mai, Lưu Bình Nhưỡng cũng có cácnộidung kiến nghịtương tự về việc mở rộng phạm vi hoạt động của TPL cho tương xứng với mục tiêu tái lập lại thiết chế này.
2.3.2. Đối với giải pháp nâng cao hiệu quả xã hội hoá thi hành án dân sự
Khi nghiêncứuvềXHHTHADS, hầuhếtcác tác giả đềunhằm mục đích phân tích, nêu lên vai trò, lợiích của việc XHHTHADS, từđóđưara các kiến nghị hoàn thiện. Tuy nhiên, ở mỗi thời điểm khác nhau thì quan điểm của các tác giả về hoàn thiện pháp luật XHHTHADS cũng là khác nhau. Cụ thể, trước khi cóđạo luật THADS năm 2008, vấn đề XHHTHADS vẫn còn tươngđối mới mẻ và
tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc có nên tiến hành XHHTHADS trong thời điểm này hay không, và hầu hết các tác giả đều đồng ý quan điểm cho rằng nên XHHTHADS nhưng cần phải có lộ trình hợp lý, như bài viết của tác giả Trần Công Phàn“Vấn đề XHH hoạt động thi hành án quy định trong dự thảo Bộ luật thi hành án”33 đã chỉ ra rằng XHH công tác thi hành án mặc dù được nhiều nước trên thế giới tiến hành thực hiện và thu được kết quả tốt nhưng chưahề cótiền lệở Việt Nam, chính vì vậy, theo tác giả kiến nghị trong Bộ luật thi hành án chỉ nên dừng lại ởviệc quyđịnhmộtsốđiềuluậtvềvấnđềXHH công tác thi hành án mang tính nguyên tắc, định hướng. Còn cụ thể hóa việc XHH công tác thi hànhán như thế nào thì nên giao cho Chính phủ chỉ đạo, tổ chức thí điểm ở một số nơi. Cùngvớiquanđiểmtrên, Lê Xuân Hồng“Mộtvài suy nghĩvềXHH thi hànhán”34 cũng đưa ra kiến nghị việc XHH thi hành án cần được thực hiện một cáchđồng bộ và có lộ trình phù hợp, từng bước chuyển giao cho tổ chức phi nhà nước thực hiện, vềlâu dài, có thểgiao chotổchức xã hội – nghề nghiệptổchức THADS và thay thế cơ quan THADS. Luật THADSra đời năm 2008 và được sửa
33Trần Công Phàn (2006), Vấn đề XHH hoạt động thi hành án quy định trong dự thảo Bộ luật Thi hành án, tạp chí Kiểm sát, số 10 (5-2006), tr.21-23;
34Lê Xuân Hồng (2006), Một vài suy nghĩ về XHH thi hành án, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 6/2008;
đổi bổ sung năm 2014 cùng với các nghị định hướng dẫn thi hành35đã tạo cơ sởpháp lý cho TPL hoạt động trong thực tiễn, trên cơ sở tổng kết đánh giá kết quảhoạt động của các văn phòng TPL, các tác giả hiện nay lại đưa ra quan điểm là nên có Luật về TPL, hoặc Luật về XHHđể khắc phục những bất cập về thể chếtrong quá trình thí điểm chế định TPL 06 năm qua. tác giả Chu Thị Hoa “Pháp luật THADS trongcảicách tư phápởViệt Nam”36, trang 138đưara kiến nghịnên bổ sung một Chương TPL vào Luật THADS làm nền tảng cho sự hình thành và phát triển chính thức của mô hình TPL. Trong khi đó, tác giả Lê Văn Hòe “Sựcần thiết ban hành luật về XHH và những nội dung chủ yếu”37 đã kiến nghị nên ban hành Luật về XHH, vì theo tác giả, mặc dùchủtrương XHHđã được nhắc đến nhiều qua các kỳ Đại hội nhưng mới chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực dịch vụ và địa bàn áp dụng mà chưa trở thành chủ trương chung nên Nhà nước cũng chưa có một văn bản pháp luật chuyên biệt điều chỉnh vấn đề XHH; những văn bảnquyđịnhđốitượngXHHcụthểcủacácbộ,ngànhvừathiếu,vừakhông thống nhất và hiệu lực thấp.Từđó, tác giả kiếnnghị một sốnộidung chủ yếu của Luật XHHđólà: khái niệm XHH, lĩnhvựcvàđốitượngXHH, phương thức XHH và cuối cùng phảichỉrađượcnguyên tắc XHH.
Các kiến nghị của các học giả cũng chính lànhững hướng đềxuấtsẽphân tích và triển khai trong đề tài NCS của mình.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA NGHIÊNCỨUSINHĐỐIVỚIĐỀTÀI“XÃHỘIHOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM”
Qua việc nghiên cứu, đánh giá các công trình khoa học có liên quan đến đềtài, mặcdù cũngđã có mộtsốcông trình nghiên cứuvềXHHTHADS nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về cơ sở lýluận, nội dung cũng như thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện
35Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi hành án dân sự; Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của TPL thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh; hành Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 25/3/2013 phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định TPL”;
36 Chu Thị Hoa, pháp luật thi hành án dân sư trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, Đề tài tiến sĩ luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2016;
37Lê Văn Hòe (2015), Sự cần thiết ban hành Luật về XHH và những nội dung chủ yếu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 24 (304), 12/ 2015, tr24-28;
XHHTHADS, chính vì vậy, đề tài không bị trùng lặp. Trên cơ sở tiếp thu các nội dung phù hợp của các nghiên cứu trước đó, đề tài sẽ xây dựng hệ thống cơsở lýluận, nội dung những công việc XHH và phân tích thực tiễn mô hình TPL đangđược triển khai nhằm đưa ra cái nhìn có hệ thống về XHHTHADS, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềXHHTHADS, cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình XHHTHADS trong giai đoạn hiện nay.
3.1. Câu hỏi giả thuyết và định hướng của nghiên cứu sinh liên quan đến vấn đề lý luận về xã hội hoá thi hành án dân sự ở Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu 1: XHH là gì? XHHTHADS được hiểu như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 1: Hiện nay có những quan điểm, cách tiếp cận khác nhauvềkhái niệmcủaXHHTHADS.Sựkhác biệtđóxuất pháttừgóc độ nghiên cứu, sự thay đổi về điều kiện kinh tế – xã hội, quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi thời kỳ và đề tài cũng đã phân tích trong phần đánh giá các công trình liên quan.
Kết quả nghiên cứu 1:Đề tàibên cạnh việc tiếp tục kế thừa các quan điểm của các công trình nghiên cứutrước đó, như là “giáo trình Luật THADS” của Trường Đại học Luật Hà Nội;Chuyên đề “XHHTHADS – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”của tác giả Nguyễn Đức Chính và đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơsở “Hoàn thiện pháp luật THADS” với Chuyênđề “Vấnđề XHH công tác THADS” của tácgiả Trần Anh Tuấn; đặc biệt là các công trình mới được công bốtrong thời gian gầnđây của các tác giả ChuThịHoa, DươngThịThanh Mai, HuỳnhĐứcThái Lâm Hoàng. Tuy nhiên, các công trình này mới đưara khái niệmdưới góc độ là “hoạtđộng” THADS mà chưa phân tích dưới góc độ là “tổchức” THADS. Chính vì vậy, đề tàisẽ triển khai theo hướng, XHHTHADS làviệc Nhà nước thành lập và chuyển giao một số công việc cho cá nhân, tổ chức phi Nhà nước thực hiện.
Câu hỏi nghiên cứu 2:Đối với đặcđiểmcủa XHHTHADS đã được đề cậpđến như thế nào trong các công trình khoa học?
Giảthuyết nghiên cứu 2: Khi nghiên cứuvềvấnđềnày, các công trình khoa học trước đây chỉ đề cập đến ý nghĩa của XHHTHADS, hầu như không đềcập đến đặc điểmcủa XHHTHADS hoặc nếu như có đềcập đếnthì các tácgiả
chỉ triển khai một cách đơn giản, chung chung. Chính vì vậy, đề tàisẽ đưara một số đặc điểm của XHHTHADS để bổ sung phần còn thiếu sót trên.
Kết quả nghiên cứu 2: Đề tài đưa ra một số các đặc điểm của XHHTHADS bao gồm: là sựchuyển giaomộtphần công việc vốndo cơ quan THADS thực hiện cho tổ chức, cá nhân tư nhân; việc XHHTHADS vẫn phải bảo đảm vai trò lãnh đạo của Nhà nước; XHHTHADS tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổchức cùng có chức năng THADS như nhau; XHHTHADS phải dựa trên sự phát triển kinh tế – xã hội.
Câu hỏi nghiên cứu 3: Tại sao phải xây dựng pháp luật về XHHTHADS? Hoặc dựa vào những cơ sở khoa học nào để xây dựng pháp luậtvề XHHTHADS? Giả thuyết nghiên cứu 3: Hiện nay có một số nghiên cứu và công trình liên
quan đều chỉ ra rằng cần phải xây dựng pháp luật về XHH nói chung và pháp luật về XHHTHADS nói riêng (cụ thể là Luật TPL), và trong quá trình nghiên cứu, đềtài nhận thấy việc xây dựng pháp luậtvềXHH trong lĩnh vực THADS là việc làm hết sức cần thiết.
Kết quả nghiên cứu 3: Định hướng nghiên cứu của NCS trong phần nàysẽtriển khai phần cơ sở khoa học của XHHTHADS để giải quyết căn nguyên vấn đềvì sao phải XHHTHADS với những nội dung cơ bản sau: lý luận về nghĩa vụ dân sự, bảo đảm bản án, quyết định dân sự có hiệu lực trên thực tế; bảo đảm quyền con ngườitrong giaiđoạnthi hành án, quyềnlợiíchhợpphápcủacácchủthểtrong XHHTHADS; đáp ứng nhu cầu dịch vụ công trong THADS.
Câu hỏi nghiên cứu 4: XHHTHADS ở Việt Nam bao gồm những nội dung gì? Nội dung XHHTHADS được các công trình trước đó nghiên cứu ra sao? NCS sẽ kế thừa và sẽ tiếp tục nghiên cứu dưới góc độ nào?
Giảthuyết nghiên cứu 4: Chođếnthờiđiểmhiện nay, vẫncònrấtnhiều các quanđiểmkhác nhauvềnộidung XHHtổchức và XHH hoạtđộngTHADS, cũng như phạm vi của XHHTHADSvềmặtlý luận cũng như thực tiễn thi hành. Những quan điểm khác nhau đó đều do xuất phát từ điều kiện kinh tế- xã hội, vai tròquản lý của Nhà nước và các quy định của pháp luật về XHH.
Kết quả nghiên cứu 4: NCS sẽ tập trung phân tích nội dung XHH tổ chức
và XHH hoạt đông trong THADS, từ đó, làm rõ những công việc nào nên chuyển giao và tổ chức như thế nào thì có thể đảmnhận đượccông việc THADS. Phân tích mô hình tổ chức THADS, các chủ thể nào có thẩm quyền tổ chức THADS, phạm vi hoạtđộngra sao. Bởi vì, nếu không xácđịnhrõđược nộidung của XHHTHADSsẽ dẫn đếnkhông thể tìm ra được các mô hình phù hợp, dẫn đến việc triển khai thực hiện trong thực tiễn sẽ lúng túng, khó khăn, không đạtđược kết quả như mục đích ban đầu đặt ra.
Kết luận: Qua việc nghiên cứu các công trình đã công bố, NCS nhận thấy đã có một số công trình tiếp cận về XHHTHADS, tuy nhiên, các công trình đó dođiềukiện lịchsửnên nghiêncứulúc chưa có chủtrương XHH hoặc cóchủtrương thì cũng mới chỉ dừng lại ở thí điểm và thậm chí đã chính thức được hoạt độngtrên phạm vi cả nước nhưng nội dung THADS vẫn chủ yếu nghiên cứu vềhoạt động THADS chứ chưa có sự bao quát chung. Chính vì vậy, đến thời điểm hiện nay, đề tài mà NCS lựa chọn sẽ là công trình đầu tiên, có tính chuyên sâu, hệthống và toàn diện và sẽgiải quyếtđược nhữngvấnđềlý luận cơbảnvềXHHTHADS cả về mặt tổ chức cũng như hoạt động THADS ở Việt Nam.
3.2. Câu hỏi giả thuyết vàđịnhhướngnghiên cứu của nghiên cứusinh liên quan đếnvấn đềthực trạng pháp luậtvềxãhộihoá thi hành án dân sựởViệt Nam và thực tiễn thực hiện
Không phảiđếnbâygiờchúng ta mớiđềcậpđếnvấnđềXHH, mà chủtrương XHH đã được đề cập tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, theo đó: “Thí điểm việc XHH một số lĩnh vực, dịch vụ, y tế, giáo dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao…trước hết là ở các thành phố, các khu công nghiệp…”38. Tuy nhiên, XHHTHADS thì mới được thí điểm thông qua môhình TPL 06 năm qua và đạt được một số kết quả tương đối khả quan, bên cạnhđócũnggặpkhông ít nhữngbấtcập, vướngmắc. Mặc dùđã đi vào hoạtđộng chính thức từ 01/01/2016 nhưng văn bản cao nhất để điều chỉnh vẫn là Nghị định, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chủ trương XHH.
38 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.41
Câu hỏi nghiên cứu 5: Thực trạng XHHTHADS ở Việt Nam hiện nay bao gồmnhữngnộidung gì? được quy định như thế nào qua các giaiđoạnlịch sử? Các quy định của pháp luật và thực tiễn triển khai áp dụng ra sao?
Giả thuyết nghiên cứu 5: Tính đến thời điểm hiện nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về những vướng mắc, bất cập trong việc XHHTHADS, màcụ thể là chế định TPL đã được chính thức đi vào hoạt động trong 06 năm qua. Nhữngvướngmắcnàychủyếutừ các quyđịnhcủa pháp luậtvềXHHTHADS còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ và thiếu cụ thể dẫn đến thực tiễn triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn, bất cập.
Kết luận nghiên cứu 5: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về XHHTHADS, NCS sẽ làm rõ những vướng mắc, hạn chế cũng như nguyên nhân của tình trạng trên. NCS nghiên cứu hệ thống các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về XHHTHADS ở Việt Nam theo những hướng sau:
– Thực trạng pháp luật về XHH tổ chức THADS;
– Thực trạng pháp luật về XHH hoạt động THADS;
– Thực tiễn thực hiện pháp luật về XHH tổ chức THADS;
– Thực tiễn thực hiện pháp luật về XHH hoạt động THADS.
Kết luận: Tính đến thời điểm hiện nay, việc phân tích thực trạng pháp luật về XHHTHADS và thực tiễn thực hiện còn nhiều khó khăn, chưa đánh giá được mộtcách toàn diện, do pháp luậtvềXHH THADS chưa cósựphânđịnhrõvềphạm vi, chức năng, nhiệmvụgiữa tổchức thi hành án tư nhân và cơ quan THADS. Đồngthời, các vănbảnpháp luật vềTHADSvẫnquyđịnhtảnmạn, chưa cụ thể, rõ ràng, hệ thống văn bản chưa đầy đủ dẫn đến thiếu cơ sở pháp lýđể hoạt động, gây khó khăn cho việc triển khai trên thực tế.
3.3. Câu hỏi giả thuyết vàđịnhhướngnghiên cứu của nghiên cứusinh liên quan đến vấn đềhoàn thiện pháp luậtvềxãhộihoá thi hành án dân sựởViệt Nam
Câu hỏi nghiên cứu 6: Với những tồn tại và bất cập đã được phân tích vàđánh giá thìcầncó những yêucầuvà giải pháp gìđểgiải quyết những vướng
mắc vềXHHTHADSởViệt Namdướigóc độquyđịnhcủa pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật?
Giả thuyết nghiên cứu 6: Hiện nay XHHTHADS ở Việt Nam vẫn đang còn là vấn đề tương đối mới, chính vì vậy, trong quá trình thực hiện còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập chưa thể giải quyết được một cách triệt để. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng án dân sự tồn đọng vẫn còn qua các năm, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Kết quả nghiên cứu 6: Trên cơ sở phân tích các nghiên cứu của các công trình trước đó và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, cũng như những bất cập, tồn tạitrong quá trình thực hiện XHHTHADS. Đồngthời qua phân tích điềukiện kinh tế – xã hội của Việt Nam, kinh nghiệm và xu hướng phát triển của các nước trên thếgiới, NCS đưa ra mộtsốcác giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật XHHTHADS.
Trong phần chương 3, NCS triển khai như sau:
Về yêu cầu XHHTHADS:
– Về yêu cầu XHHTHADS, đề tài kế thừa quan điểm của các học giả trước đólà XHH nhưng không làm tách rời, giảm hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động THADS;
– XHH không được trái với bản chất của Nhà nước, của chế độ ta;
– XHH không được gây phiền hà cho dân và tạo cơ chế khuyến khích nhân dân tham gia vào hoạt động THADS;
– XHHTHADS phảiđápứngyêu cầuphát triển của nềnkinhtếthịtrường và xu hướng hội nhập kinh tế – quốc tế;
– XHHTHADS phảiđápứngyêucầucảicách tư pháp của Đảngvà Nhànước,xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Giải pháp nâng cao hiệu quả XHHTHADS – Đẩy mạnh việc thực hiện XHHTHADS;
– Hoàn thiện văn bản pháp luật về XHHTHADS;
– Xây dựng và hoàn thiện thể chế TPL, đồng thời sớm ban hành Luật TPL; – Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về TPL.
– Thành lập các tổ chức thi hành án tư nhân có thẩm quyền độc lập nhưng phải có điều kiện ràng buộc để đảm bảo thi hành án có hiệu quả.
– Giải pháp về tổ chức, hoạt động thi hành án;
– Về những công việc cần XHH trong thi hành án;
– Về cơ chế kiểm soát trong việc XHH thi hành án;
– Giải pháp về nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân về XHHTHADS. Về phương hướng nâng cao hiệu quả về XHHTHADS
NCS sẽtiếp tục nghiên cứu đềtài theohướngXHH toànbộhoạtđộng THADS, nhưng trước mắt vẫn theo mô hình như hiện nay, tồn tại song song hai mô hình thi hành án (TPL và Cơ quan thi hành án nhà nước), khi điều kiện kinh
tế – xã hội cho phép, trình độ dân trí nâng cao và chế định TPL khẳng định được vị thế của mình thì sẽ tiến tới XHH toàn diện THADS.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HOÁ
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶCĐIỂM VÀÝNGHĨA XÃHỘIHOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm xã hội hoá thi hành án dân sự
XHH là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong giai đoạn hiện nay
ởViệt Namgắnvớiquá trìnhcảicáchthủtục hành chính–tư pháp, đổimới phương thức quản lý Nhà nước và trực tiếp là đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụcông. Tuy nhiên, XHH là thuậtngữkhá đa nghĩa,đượcxem xétdướinhiều góc độ, thậm chí ở nhiều ngành khoa học khác nhau:
Dưới góc độ ngôn ngữ học, trong Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (1967) định nghĩa XHHlà “đem tư liệu sản xuất của cá nhân làm của chung xãhộinhư XHH các phương tiện giao thông vận tải. Gần đây hơn, Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phêchủbiên (2005)địnhnghĩa XHH là“làm chotrởthànhcủachung của xã hội”như XHH tư liệu sản xuất.
Ở góc độ quản lý Nhà nước, XHH lại được nhìn nhận gắn với việc xácđịnh vai trò của Nhà nước trong mỗi chế độ xã hội và cách thức Nhà nước thực hiện vai trò đó.39 Theo đó, XHH là việc giảm dần các biện pháp quản lý trực tiếp của Nhà nước, mang tính quyền uy, mệnh lệnh để tập trung vào các biện pháp quản
lý mang tính vĩ môsửdụng các côngcụchính sách, phápluật…Pháttriển các hình thức quản lýtựquản của xã hội, quản lý thông qua các tổchức xã hộitựquản, xu hướng này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người dân trong xã hội, thúc đẩy tính tự giác và có thể làm cho Nhà nước gần với xã hội hơn. Nhưvậy, dướigóc độquản lý Nhà nước,XHH là mộtbiện pháp quản lý Nhà nước, chuyển giaomộtbộphận quyền lực Nhànướccho xã hội. Biện pháp này giúp cho quá trình quản lý được khách quan hơn, đồng thời có thể giảm bớt gánh nặng
39 Trần Thị Quang Hồng (2000), “XHH các hoạt động bổ trợ tư pháp”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, năm 2000,Tr.4
đối với Nhà nước,tạo điều kiện cho Nhà nước củng cố các công cụ quản lý mang tính vĩ mô, phổ quát hơn. Tuy nhiên, việc chuyển giao này phải dựa trên các điều kiện xã hội cụ thể: các công cụ quản lý vĩ mô mạnh, khả năng quản lý cao trên cơ sởmột xã hội có trình độ phát triển với ý thức tự giác cao và các quyền dân chủ được thừa nhận.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc XHH, từ năm 1986 đến nay Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản làm định hướng và tạo cơ sở pháp lýcho việc thực hiện mạnh mẽ XHH dịch vụ công. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh cải cách hành chính, xâydựng bộmáy Nhà nước trong sạch, vững mạnh nêu ra định hướngchỉđạo:
“Kiện toànhợplý tổchức bộmáy Nhànước…tách cơ quan hành chính công quyềnvớitổchức sựnghiệp. Khuyến khích vàhỗtrợcác tổchức hoạtđộng không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân;” Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của ThủtướngChínhphủphêduyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010
đã xác định mục tiêu cụ thể của cải cách hành chính là : “…Chuyển một số công việc và dịch vụ không cần thiết do cơ quan Nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ đảm nhận”.
Chođếnnay, XHH không còn là khái niệm xa lạvà được nhắcđếnnhiều trong các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước với những nội dung cụthểnhư “XHH là vậnđộngvà tổchức sựtham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hộivàosựphát triển các sựnghiệpđó”;“XHH là xây dựng cộngđồng trách nhiệm của các tầnglớpnhân dânđốivớiviệc tạolậpvà cảithiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”; “XHH là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân
lực,vậtlực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân…”40. Các vănbảnquy phạm pháp luật sau này, khi nhắc đến XHHđềuhướngđếnkhuyến khích thực hiện chính sách XHH như chăm sóc
40 Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.
người có công, chăm sóc, giáo dục trẻ em, bảo trợ xã hội…41 Các lĩnh vực XHH dần được mở rộng thông qua cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Cùng với chủtrươngcảicách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của BộChính trị42, việc XHHdầnđược thực hiện trong các lĩnh vực khác mà lâu nayđềudo Nhà nước đảm nhiệm thực hiện như XHH công chứng43, giám định tư pháp44, trợgiúp pháp lý45, đấugiá tàisản46. Điềuđócho thấy Nhà nước đã dầndầntriển khai thực hiện chính sách XHH rộng rãi, giao cho các tổ chức, doanh nghiệp, cánhân cóđủđiềukiện thực hiện các dịchvụcôngđểtậptrung thực hiện quyền quản lý xã hội.
Như vậy, XHH thực chất là việc huy động, tạo điều kiện và tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân, của toàn xã hội cùng với Nhà nước chia sẻ
41 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005 củaỦy banthường vụ Quốc hội, đượcsửa đổi, bổ sung bởi: Pháp lệnh số 35/2007/PL-UBTVQH11 ngày 21 tháng 6 năm 2007 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2007, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có côngvớicách mạng, có hiệulựckểtừ ngày 01 tháng 9 năm 2012; Quyết địnhsố22/Q Đ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công về nhà ở; Luật Người cao tuổi ngày 23 tháng 11 năm 2009; Luật Người khuyết tật năm 2010; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Luật trẻ em năm 2016; Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ởngười
(HIV/AIDS) năm 2006…
42 Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
43 Luật công chứng năm 2006đã quyđịnhhai hình thức tổchức hành nghề công chứng là“Phòng công chứng” và “ Vănphòng công chứng” (Điều 23), theođó “Vănphòng công chứng do một công chứng viên thành lậpđượctổchức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lậpđượctổchức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng. Trưởng Văn phòng công chứng phải là công
chứng viên…Văn phòng công chứng cótrụ sở,con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủvề tài chính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác. (Điều 26)
44Điều14. Luật giám định tư pháp năm 2012 quy định về Văn phòng giám định tư pháp: “1. Văn phòng giámđịnh tư pháplà tổchức giám định tư pháp ngoài công lập, được thành lập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả. 2. Văn phòng giám định tư pháp do 01 giám định viên tư pháp thành lậpthì đượctổchức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng giám định tư pháp do 02 giám định viên tư pháp trở lên thành lậpthì đượctổchức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Người đại diệntheo pháp luật của Văn phòng giám định tư pháp là Trưởng văn phòng. Trưởng văn phòng giám định tư pháp phải là giám định viên tư pháp.”
45Điều6. Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định về Chính sách trợ giúp pháp lý:“1. Trợ giúp pháp lý làtrách nhiệm của Nhà nước. 2. Nhà nướcgiữvai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; khuyến khích, tạođiềukiện để Mặt trậnTổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháplý.”
46Điều23 Luậtđấugiá tài sản năm 2014 quy định về Doanh nghiệp đấu giá tài sản: “1. Doanh nghiệpđấugiátài sảnđượcthành lập, tổ chức và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh theo quyđịnh của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Tên của doanh nghiệpđấugiá tư nhân do chủ doanh nghiệp lựa chọn, tên của công ty đấu giá hợp danh do các thành viên thỏa thuận lựa chọn và theo quy định của Luật doanh nghiệp nhưng phải bao gồm cụm từ “doanh nghiệpđấugiá tư nhân” hoặc “công tyđấugiá hợp danh”.
trách nhiệm, đầutư, phát triển các hoạtđộngtrongmộtsốlĩnh vực cụthể. Nội hàm của XHH bao gồm:
– Việc cho phép tư nhân tham gia các công việc của Nhà nướcnhưngsựtham gia này luôn được đặt trong việc tăng cường trách nhiệm của Nhà nước đểbảo đảm lợi ích chung của cộng đồng nên không phải là tư nhân hóa;
– Sự huy động toàn diện về nhân lực, vật lực, tài chính, trí tuệ, sự phối hợp và chia sẻ của người dân chứ không đơn thuần chỉ là huy động tài chính;
– Nhà nước chuyển giao nhưng không buông lỏng quản lý các hoạt động đãđược XHH mà vẫn tiếp tục quan tâmđầu tư,phát triển một cách hiệu quả hơn vàduy trì quản lý bằng các công cụ pháp luật, chính sách vĩ mô.
Tóm lại, XHH là việc chuyển giaomộtphần các công việc từNhà nước sang xã hội hoặc thu hút sự tham gia của xã hội vào các quá trình quản lý nhằm phát huy tính tự chủ của xã hội và tăng cường hiệu quả quản lý. Hiện nay, chúng ta đã tiến hành XHH rất nhiều lĩnh vực đạt được kết quả tích cực,nhận được sựủng hộ của người dân cũng như xã hội như XHH hoạt động giáo dục, XHH hoạt động y tế. Đối với XHH giáo dục, y tế là một tư tưởng chiến lược lớn của Đảng ta đã được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành TrungươngĐảngkhóa VIII và Văn kiệnĐạihộiđạibiểu toàn quốclầnthứIX vàcụthểhóa trong Nghị quyếtsố90/CP về“phươnghướngvà chủtrương XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa” ngày 21 tháng 8 năm 1997 và Nghị quyết số05/2005/NQ-CP về “đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thểdục thể thao” đều nhấn mạnh: XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận độngvàtổchức sựtham gia rộng rãicủanhân dân, củatoàn xã hộivàosựnghiệp phát triển, các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ vềgiáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất, tinh thần của nhân dân; XHH là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượngcao hơn, là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xãhội của Ðảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình
thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này. Chính nhờ chủtrương XHH thành công mà đến nay chúng ta đã có hệ thống giáo dục thống nhất trong toàn quốc với đủ cấp bậc học, trình độ đào tạo cũng như phương thức đào
tạo. Đối với y tế, thông qua việc XHH công tác khám chữa bệnh càng giúp ngành y tế phát triển thêm nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh; tạo điều kiện chongườidân tiếpcậnvớidịchvụkỹthuật cao, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hơn nữa, việc XHH y tế còn thúc đẩy đội ngũ thầy thuốc đổi mới, nâng cao tay nghề.
Cònđốivới hoạtđộngtư pháp, XHH hoạtđộngcông chứng theo Nghịquyết Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02-6-2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020: “Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; cóbước đi phùhợpđểtừngbước XHH công việc này”. Đếnnay, 63/63 tỉnh, thànhphốtrực thuộc Trung ương đều có văn phòng công chứng theo chủ trương XHH, cảnước hiện có 2.782 công chứng viên đang hành nghề, qua đó, đảmbảotính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, tin cậy cho các hoạtđộngđầutư, kinh doanh thương mạivà góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
Tiếpnốinhững thành công của các hoạtđộngXHH trên, XHHTHADS cũng là mộtchủtrươngđược nhắc đếntrong các Nghị quyết của Đảngvà văn bản pháp luật của Nhà nước. THADS có một ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì bản án, quyết định của Toà án và quyết định của tổ chức khác chỉ thực sự có giá trịkhi được thi hành trên thực tế. THADS là công đoạn cuối cùng của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm cho bản án, quyết định dân sự của Toà án và quyết định của tổ chức khác được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan,tổchức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xãhội, tăngcườnghiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc bảo đảm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan,tổ
chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 106).
Tuy nhiên, muốn tiến hành XHH THADS thì trước hếtphải xácđịnhbản chất của hoạt động THADS: Là hoạt động tư pháp; hoạt động hành chính hay làhoạtđộnghành chính-tư pháp. Bởinếunhư chỉlà hoạtđộngtư pháp hay hoạt động hành chính đơn thuần thìvềlý luận là khôngthểXHH, khôngthểchia sẻ
quyền xétxửtrong tư pháp cũng như bản chất quyền lực – phục tùng của hành chính. Chính vì lẽ đó, yếu tố tư pháp trong hoạt động THADS không chỉ là hoạt động gắn với quyền tư pháp hay là quyền xét xử47, mà cần phải hiểu ở phạm vi rộng hơn, đó là hoạt động bảo vệ pháp luật. Hoạt động tư pháp không chỉ là các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà còn là các hoạt động luật sư, công chứng, giám định, đấu giá, thống kê tư pháp. Cách tiếp cận tư pháp phạm vi rộng nàyđược thểhiện trong các Nghị quyếtvềcảicách tư pháp và thông qua cách thức tổchức bộ máy Nhà nước cùng với các hoạtđộngthực thi quyền lực Nhà nước. Nghị quyết số 08-NQ/TW đã tiếp cận “tư pháp”và “công tác tư pháp” với phạm vi từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án (bao gồm THADS và hình sự). Ngoài những hoạtđộngtư pháp nói trên, Nghị quyết số 08-NQ/TW đề cập đếnhoạtđộngluật sư, công chứng, giámđịnh,thống kê tư phápvớitư cách làcác hoạtđộngbổtrợtư pháp. Trên cơ sởđó, Nghị quyếtsố49-NQ/TW đã xácđịnhnhiệmvụhoàn thiện các chếđịnhbổtrợtư pháp nhưmộthoạtđộngquan trọng trong công tác tư pháp và hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp như một hoạt động quan trọng trong cải cách tư pháp. Đồng thời, Nghị quyết 49-NQ/TW xác định hoạt động TPL là một trong những chế định thực hiện XHH.
Các Nghị quyết trên cho thấy, cầnphải hiểu bảnchất của THADS là hoạt động tư pháp theo nghĩa rộng, là hoạt động bảo vệ pháp luật, duy trì công lý, lẽphải, công bằng trong xã hội; bảnchất của thi hành án là giaiđoạntốtụng, làhoạt động tiếp tục sau giai đoạn xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử. Các quyđịnhcơ bảncủa thi hành ánđềuđược ghi trongBộluậttốtụng dânsự
47 Nguyễn Văn Quang (2010), Hoàn thiện pháp luật về XHH cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam,Đề tàikhoa học cấp Trường Đại học Luật Hà Nội LH-08-06-ĐHLHN, 2010, Tr.21.
(BLTTDS), việc thi hành các bản án đều được tiến hành dựa trên nguyên tắc cơbản của pháp luật tố tụng48. Đồng thời, hoạt động tư pháp trong THADS gắn liền với hoạt động xét xử, mang tính tài sản, độc lập và do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực hiện49.
Cùngvớiđó, yếutốhành chínhđược thểhiện thông qua bảnchất của THADS là dạng hoạt động chấp hành phán quyết của tòa án với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyếtđịnhcủa Tòa án phải thực hiện đúng nghĩa vụcủa mình. Tuy nhiên, tính chấp hành trong THADS là nhằm đảm bảo cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trong thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành – nét đặc trưng của hoạt động hành chính.
Từ những phân tích trên, NCS đồng ý với quan điểm cho rằng thi hành án làhiện tượng phức tạp, có tính đặc thù, không phải là hoạt động tư pháp hay hành
chính đơn thuần mà là một dạng hoạt động hành chính – tư pháp50, và hoạt động này có thể được XHH thông qua việc chuyển giao một số công việc không nhất thiết phải do các cơ quan Nhà nước thực hiện chotổchức, cá nhân được trao thẩm quyền. Bởi vì, THADS chủ yếu là thi hành các bản án, quyết định của Tòa
án, quyếtđịnhcủa tổchức khác mang tính chất tàisản“tư quyền”–đặc trưng của quan hệ dân sự, vì vậy quyền tự định đoạt của đương sự luôn được tôn trọng trong suốt quá trình thi hành án. Điềunàyđược thểhiện ởchỗ, ngườiđược thi hành án trong THADS luôngiữvai tròchủđộng, có quyền quyếtđịnhviệc cóđưara yêu cầu thi hành án hay không? Đưa ra vào thời điểm nào (trong thời hiệu quy định), có quyền thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức thi hành án, (thỏa thuận đó phù hợp với pháp luật, không tráiđạo đức xã hội). Đồng thời, quyền tự định đoạt của đương sự còn thể hiện ở việc các bên đương sự cóquyền lựa chọn tổ chức, cá nhân tư nhân đủ điều kiện do pháp luật quy định bảo
48 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Tr.11.
49Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật THADS Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, Tr.10
50 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ luật học, tr.22
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, THADS bản chất là bảo vệ“tư quyền”,cho nên đểbảovệcác quyềnđóhọphải huyđộngnỗlực cá nhân,
phải tự quyết và thậm chí phải chịu các phí tổn vật chất, thời gian … của mình, hoặc phải thuê mướn các nhà chuyên môn pháp lý tham gia tố tụng51.
Như vậy, mặc dù có những quan niệm, phạm vi tiếp cận khác nhau nhưng xuất pháttừbảnchất của THADS là bảovệquyền và các lợiích hợp pháp của các bên, đương sự được tự do bày tỏ ý chí, sự thỏa thuận hoặc sự định đoạt của mình, cho nên, Nhànước nên cho phép thànhlậpvà chuyển giao những công việc không nhất thiết phải phải sử dụng quyền lực Nhà nước cho các tổ chức, cánhân đápứngđủđiềukiện thực hiện. Mộtmặt, giảmbớtgánh nặng cho Nhànước,mặtkhác, tăng tốc độ và hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp tưpháp. Bên cạnhđó,XHH công tác THADS còn là yêucầubức thiết trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó quyền lực thuộc vềNhân dân; cósựphân công, phốihợpvà kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện các quyềnlậppháp, hành pháp, tư pháp; bảo đảm quyền làmchủcủa Nhân dân, tạođiềukiện chongườidân tham gia vào quản lý nhà nước;tăng cường hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, pháp luật52nhằm bảo vệ
tốt hơn các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong đó, hợptácvềlĩnhvựccảicách, tư pháp, pháp luật là nhữngnộidungđãđạtđược những kết quả nhất định nhưng vẫn cần tiếp tục duy trì thực hiện và nâng cao hiệu quả. Việc hợp tác quốc tế nhằm học tập, vận dụng kinh nghiệm về XHH công tác THADS là rất cần thiết.
Trên thế giới, XHHTHADS thông qua mô hình TPL đã là một nghề xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh ở các quốc gia Châu Âu – lục địa sau đó du nhập vào nhiều quốc gia,ởhầukhắp các khuvựctrênthếgiới. Hiện nay có 72nước làthành viên của Liên minh TPL quốc tế,riêngtạiEU, trongsố27nướcthành
51 Nguyễn Đức Chính (2006), Tổ chức TPLTPL, Nhà Xuất bản Tư pháp, Trang 37
52 Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 24-01-2003 của Ban Bí thư về công tác phi chính phủ nước ngoài và Chỉ thị số39-CT/TW, ngày 09-12-2009 của Ban Bí thư về hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.
viên, có 19 thành viên có văn phòng TPL53. Pháp là một trong những quốc gia cóhệthốngtổchức TPL lâu đời nhất, phát triển nhất và mang tính chuyên nghiệp nhất. Mô hình TPL Pháp đã được Việt Nam tham khảo và triển khai thực hiện thíđiểm, không những thế, các chuyên gia của TPL Phápđãgóp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng, đào tạo TPL ở Việt Nam từ khi thí điểm, cho đến khi thực hiện chính thức như hiện nay.
Liên quanđếnkhái niệm XHHTHADS, mộtsốtácgiảđã có những quan
điểmdựa trên những góc nhìn khác nhau, dướigóc độlàtổchức –hoạtđộng:
Tác giả Lê Xuân Hồng, XHHTHADS theo nghĩa rộng, là việc vận động, tổ chức và nâng cao trách nhiệm của các bên có quyền, nghĩa vụ, của cộng đồng và toàn xã hội trong việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án; còn hiểu theo nghĩa hẹp, XHH THADS là việc chuyển hoạtđộngnày từcơ quan thi hành án cho các cá nhân, tổ chức phi Nhà nước thực hiện.54. NCS cho rằng, XHH chính là mở rộngsựtham gia và huy động toàn xã hộitrong việc chia sẻ trách nhiệm cùng Nhà nước, do đó, XHHTHADS cần được hiểu theo nghĩa rộng là việc thành lập và chuyển một phần hay toàn bộ công việc tổ chức THADS từ cơ quan Nhànước sang cho các chủ thể ngoài nhà nước trong khuôn khổ pháp luật.
Một sốcác công trình nghiên cứu sau này cũng đồng ý với quan điểm của tác giả Lê Xuân Hồng, tác giả Tạ Quỳnh Anh trong luận văn thạc sĩ“XHHTHADSở Việt Nam hiện nay”55 đã đưara khái niệm: “XHHTHADS làquá trình Nhà nước thực hiện đổi mới phương thức tổ chức,hoạt độngTHADS; theo đó, Nhà nước từng bước chuyển giao hoạt động THADS cho các cá nhân, tổchức hành nghề tự do thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác THADS, đápứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”. Tác giả Nguyễn Đức Chính, trong Chuyên đề “XHHTHADS- một số vấn đề lý luận và thực tiễn”56, khái niệm XHHTHADS được hiểu là “chuyển một số công việc mà Nhà nước đang thực hiện cho tổ chức hoặc cá nhân đảm nhiệm”.
53 Dương Thị Thanh Mai (2017), Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPL, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp;
54 Lê Xuân Hồng, “XHH THADS”,Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, 2003, tr.11 55 Tạ Quỳnh Anh, XHHTHADS ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, năm 2015, Tr.7
56Nguyễn Đức Chính, XHHTHADS – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, số5/2001. Tr.107-108
Còn tác giả Nguyễn Thanh Thủy trong luận án tiến sĩ“Hoàn thiện pháp luật THADSở ViệtNam hiện nay”,năm 2008 thìlạicho rằng XHH thi hành án cần phảiđược nghiên cứu, xácđịnhmứcđộcan thiệp “baocấp” củaNhà nướcđối với hoạtđộngthi hành án, nêu rõ căn cứ, giới hạn, hình thứctổchức của việc XHHTHADS: lĩnh vực nào cần XHH và XHH như thế nào.
Trong Giáo trình Luật THADS Việt NamcủaTrườngĐạihọc Luật Hà Nội năm 2018 cũng đưa ra khái niệm về XHHTHADS “XHHTHADS thực chất là việc chuyển giao cho các cá nhân,tổchức tư nhân thực hiệnmộtsốcông việc về THADS”.
Theo phân tích của các tác giả trên thì khái niệm XHHTHADS bao gồm hai nội dung chính là: là việc Nhà nước chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức ngoài Nhà nước thực hiện hoạt động thi hành án và mức độ, phạm vi những công việc nên được chuyển giao. Theo đó, các tác giả đều thống nhất rằng XHH là “chuyển giao” các hoạt động THADS cho các nhân, tổchức tư nhân thực hiện, còn việc “chuyểngiao” như thếnào? Mức độ“chuyểngiao” ra sao?“chuyểngiao toàn bộ” hay chỉ “chuyển giao một phần” và lộ trình “chuyển giao” các công việc đó thì cần phải có lộ trình phù hợp. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà người dân vẫn còn quá quen thuộc với việc THADS là do Nhà nước tổ chức thực hiện, cùng với điềukiện kinh tế – xã hội, văn hóa pháp luật cũng như trình độ dân trí vẫn còn ởmứcđộ chưa cao thì về phạm vi XHH tạm thời chỉ nên dừng lạiở việc“chuyển giao một phần” công việc THADS cho tư nhân thực hiện. Thêm vào đó, về thời gian “chuyển giao”, chúng ta không nên vội vàng, cần phải có sự chuẩn bị về mọi mặtvề kinhtế – xãhộicũng như điều kiện dân trí. Bởi vì, dẫu biết rằng XHHTHADS là mộttrong những giải pháp quan trọng trong việc cảicáchtổchức và hoạtđộngcủa bộmáy Nhànước,qua đó,tăngcườngtrách nhiệm của các cá nhân, tổchức và huyđộngcác nguồn lực chosựphát triển của xã hội; đồng thời XHHTHADS không phải là sự chia sẻ quyền lực mà là chuyển giao một phần các công việc Nhà nước không nhất phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân trong xã hội, là một hướng đi tất yếu, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế, nhưng nếu như chúng ta XHH vội vàng hoặc bằng mọi cách để XHH thì có thể dẫn đến sụp đổ
mô hình XHH. Bên cạnh đó, XHHTHADS không chỉ dừng lại ở việc “từng bước chuyển giao một số công việc về thi hành án” mà còn là việc Nhà nước cho phép các cá nhân, tổ chức tư nhân tham gia vào quá trình XHHTHADS bằng hoạt động cấp phép thành lập các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân tham gia vào quá trình thi hành án hoặc bổ trợ tư pháp. Chính vì lẽ đó, theo NCS, đến năm 2030, Bộ Tưpháp tổngkếthoạtđộngcủaTPL sau 10 năm triển khai thực hiện Nghịđịnh 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của TPL để từ đó quyết định nên XHH toàn bộ hay một phần hoạt động THADS.
Còn dưới góc độ dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, theo tác giả Trần Thu Hường, Luận án tiến sĩ “hoàn thiện pháp luật về XHH dịch vụ công trong lĩnh vực tư phápởViệt Nam hiện nay” thì cho rằng XHH là quá trình huyđộngcáctổchức, cá nhân tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp đểcùng với Nhà nước nâng cao chất lượng và thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụcông trong lĩnhvựctư pháp, quađógóp phần vào việcbảođảmvà thực hiện quyền, lợi ích chính đáng của công dân, bảo vệ pháp luật, duy trì công bằng, công lý trong xã hội.
Còn theo tác giả Trần Hà Ngân57, XHH dịch vụ công là việc có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân không thực hiện chức năng quản lý nhà nước, không sửdụng thẩm quyền nhà nước mà quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân này với công dân là quan hệ dịch vụ tư, quan hệ dân sự theo phương thức thỏa thuận bằng hợpđồng dân sự. Theo đó, nhà nước chuyển giao việc cung ứng một số dịch vụ hành chính công cho các chủthể khác thực hiện và kiểm soát việc cungứngdịch vụhành chính công của các chủthể đó.Đồngthời tác giả cũngchỉra rằng:“Hiện nay ở nước ta, những lĩnh vựccủadịch vụ hành chính công đã được tiến hành xãhội hóa bao gồm: công chứng, thi hành án dân sự, giám định tư pháp”.
Bản chất của THADS là một dạng hoạt động mang tính hành chính – tư pháp của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực nhà nước trên lĩnh vực tư pháp bảo đảm thực hiện cácbảnán, quyếtđịnh củacơ quan tài phán. Như vậy, các chủ thể sử
57 Trần Hà Ngân (2011), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội hóa dịch vụ hành chính công ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr.6, 20, 27-28.
dụng quyền lực nhà nước để thi hành các bản án, quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự. Tuy nhiên, trong quá trình THADS những người phải THA và người được THA vẫn có thể tự thỏa thuận với nhau để tự THA phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội. Cơ quan THADS có trách nhiệm theo dõi, giám sát và ghi nhận việc tự thỏa thuận thi hành của cá bên đương sự.Đâychính là nhữngđiều kiện quan trọng cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự, theo đó, những hoạt động không nhất thiết phải sử dụng quyền lực Nhà nước có thể chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân tư nhân thực hiện.
Như vậy, xãhộihóa THADSdướigócđộdịchvụcôngđược hiểu là quátrình huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân và các tổchức thi hành án tư nhân vào hoạtđộngcungứngdịchvụ thi hành án dânsự (tống đạt các văn bản, giấy tờ; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành các bản án, quyết định trên cơ sở yêu cầu của đương sự;…) trên cơ sở phát huy tính sáng tạo, khả năng đóng góp của mỗi người nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Từ đócó thể rút ra đặcđiểmcủa xã hộihóa THADS dướigóc độ dịch vụcông như sau:
Thứ nhất, xã hội hóa THADS hướng tới hoạtđộng phục vụ nhằmthỏa mãn nhu cầu, lợi ích của công dân, là hoạt động không vụ lợi, không nhắm mục đích lợi nhuận.
THADS là hoạtđộngrấtphức tạp, có thể ảnhhưởngtrực tiếp đến lợi ích của các bên có liên quan, do vậy nếu các đương sự có sự hiểu biết đúng về pháp luật, nhận thức đúng về quyền và nghĩa vụ của họ trong thi hành án dân sự thì họsẽ tự nguyện thực hiện và việc thi hành án sẽ thuận lợi. Khi tiến hành xã hội hóa, các cá nhân, tổchức tham gia vào việc tuyên truyền, phổbiến pháp luật, giúp ngườidân nắm rõđược quyền lợi của mình trong việcthụhưởngdịch vụtrong thi hành án (như xác minh điều kiện thi hành án, yêu cầu định giá, kê biên tài sản, tổng đạtcác văn bản, giấy tờ..). Đồng thời, cơ quan thi hành án dân sự,từ chỗ là
cơ quan công quyền, độc quyền trong thi hành án thì giờ chuyển sang cơ chế phối hợpthực hiện, hướngtới phục vụ, đáp ứngnhững yêucầuhợppháp và hợplýcủa các tổ chức, cá nhân.
Thứ hai, việc xã hội hóa THADS phảiđảmbảo sự công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ giữa mọi chủ thể có yêu cầu
Sự công bằng trong việcthụhưởngdịch vụgiữa các chủthể có yêu cầu nghĩa là mọi công dân, không phân biệt giàu, nghèo, địa vị cao, thấp, gái, trai…đềucó quyền được phục vụnhư nhau khi có yêu cầuvề cung cấp dịchvụthi hành án, việctrả phí để được thụ hưởng dịch vụ dựatrên quy định của pháp luật theo nguyên tắc: không ai phải trả nhiều hơn aiđể hưởng cùng một dịch vụ được cung cấp như nhau.
Thứ ba, việc cungứngcác dịchvụtrong THADS là trách nhiệm của nhànước,được thực hiện trên cơ sở pháp luật.
Nhà nước chịu trách nhiệm ban hành các văn bản hướngdẫn việc tổchức thực hiện việc cung cấp các dịchvụtrong THADS, như xây dựng các mô hình cung ứng dịch vụ, các biểu phí dịch vụ được áp dụng chung, thống nhấtđối với các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân khi tổ chức thi hành án. Việc cung ứng dịch vụ cần phảiđảmbảo công bằng và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân, thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định liên quanđến xã hội hóa THADS.
Như vậy, XHHTHADS là quá trình xây dựng mô hình tổ chức THADS, huy động, tổchức sựtham gia rộng rãi, chủđộngcủanhân dân và các tổchức thi hành án tư nhân vào hoạtđộngcung ứng dịch vụthi hành án dânsự(tốngđạt các văn bản, giấy tờ; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành các bảnán, quyếtđịnhtrên cơsở yêucầucủa đươngsự…)góp phân nâng cao hiệuquảthi hành án, đápứngyêucầukinhtế thịtrường vàhộinhập quốc tế khi các tổchức, cá nhân này đápứngđược nhữngđiều kiện, tiêu chuẩn do pháp luật quyđịnh và chịu sự quản lý của Nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm của xã hội hoá thi hành án dân sự
Mô hình XHHTHADS ngoài nhữngđặctrưng của mộtloại hình dịchvụcông nói chung thì phải phản ánh nhữngđặc điểmriêngcủaquá trình chuyển giao nhiệmvụthi hành ángắnvớiviệc bảođảmthực hiện bằng quyền lực nhànước từcơ quan THADS nhà nước sang cho các chủthểkhác ngoài nhà nước. Đó là các đặc điểm:
Thứ nhất, XHHTHADS là việc thành lập các tổ chức THADS tư nhân và tổchức hỗtrợthi hành án tư nhânđểthực hiện những công việc vềTHADS màtrước đây vốn chỉ do các cơ quan của Nhà nước thực hiện.
Trên thế giới, tổ chức THADS tư nhân hay còn gọi là TPL là một nghề cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư pháp,bổtrợtư pháp có lịch sử phát triển lâu đời.Hiệnthếgiới có 72nước là thành viêncủaLiên minh TPL quốc tế. Riêng tại EU, trong số 27 nước thành viên, có 19 thành viên có văn phòng TPL. Trong đó, Pháp là mộttrong những quốc gia cóhệthốngtổchức TPL lâuđời nhất, phát triển nhất và mang tính chuyên nghiệp nhất, vàtạiPháp, TPL là một nghềđộc lậpdo BộtrưởngBộtư phápbổnhiệm. Họtựquản lý và điềuhành doanh nghiệp riêng của mình theo cách giám đốc điều hành công ty, thuê một sốlượng lớn nhân viên có trình độ, có văn phòng hiện đại, máy tính và các thiết bịgiao tiếp. TPL do Nhà nước bổ nhiệm, nhưng thực hiện công việc theo sự triệu dụng của người dân, thu phí từ hoạt động của mình, đồng thời đem lại một khoản thuế lớn cho Nhà nước, mà Nhà nước không phải tốn chi phí để duy trì hoạt động của TPL58. Cùng với sự phát triển của TPL ở Pháp, các nước châu Âu như Anh, xứ Wales, Bỉ, Hà Lan, Scotland, Hy Lạp, Luxembour, các TPL luôn có quy chếhành nghề độc lập.
Có thể thấy, ở các nước trên thế giới, hoạt động THADS là do một tổ chức tư nhân (TPL) đảm nhận, hoạt động tự do, độc lập Nhà nước không phải tốn chi phí để trả lương cho TPL và trang bị các phương tiên, thiết bị, xây dựng trụ sở,
văn phòng… duy trì hoạt động của TPL.
58 Tài liệu do Đoàn chuyên gia Thừa Phát lại Cộng hòa Pháp cung cấp tại Hội thảo về TPLTPL ngày 05 tháng 6 năm 2017 tại Học Viện Tư pháp
Tại Việt Nam, trước khi tiến hành XHHTHADS, với quan niệm Nhà nước cósức mạnh cưỡng chế thông qua việc nắm quyền xét xử, có lực lượng cảnh sát, trại giam nên có trách nhiệm, có quyền lực nắm toàn bộ công tác thi hành án, cũng vìcó sức mạnh, có nguồn lực nên việc tổ chức thi hành án do Nhà nước thực hiện sẽhiệuquảhơn. Việc thi hành án là lĩnhvựcthuộc“quyềnlực Nhànước”,dođókhông dễ bị chia sẻ với các chủ thể khác trong xã hội. Hoạt động THADS vừa làtrách nhiệm,vừalà quyền trongtổchức thực thi quyền lực Nhànước,phản ánh sức mạnh và biểu tượng của Nhà nước trước xã hội. Chính vì lẽ đó, khi chưa tiến hành XHH, trong quá trình tổ chức thi hành một vụ án cụ thể, Cơ quan THADS vàCHV là những chủ thể hoạt động và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước nên phải tự mình thực hiện toàn bộ các công việc (mặc dù trong số đó, có những công việc không nhất thiết CHV phải đích thân thực hiện, chẳnghạnnhư tốngđạtgiấy tờ,
hòa giải…), ngân sách Nhà nước chi trả cho toàn bộ các hoạt động đó. Nhưng từkhi có chủ trương XHH, với việc thành lập các tổ chức thi hành án tư nhân và trao một số hoạt động trước đây do Nhà nước trực tiếp thực hiện cho các tổ chức nàyđã góp phần không nhỏ trong việc làm giảm bớt gánh nặng của Nhà nước.
XHHTHADS với việc thành lập các tổ chức thi hành án tư nhân, đồng thời chuyển giao một phần nhiệm vụ THADS từ Nhà nước cho các chủ thể trong xã hội thực hiện, qua đó sẽ khắc phục sự quá tải của bộ máy Nhà nước; giải phóng Nhà nướckhỏi các công việc cụthểđểtậptrung thực hiện hoạtđộngquản lý.Đồng thời, tạo điều kiện để các chủ thể trong xã hội có cơ hội thực hiện quyền tựđịnhđoạtngoài phạm vi quyền lực Nhà nước, góp phần giảmtảicông việc vàgiảm chi phí từ ngân sách Nhà nước. Đặc biệt, XHHTHADS sự còn là một trong những hoạt động quan trọng góp phần đắc lực thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách hành chính, tổ chức bộ máy Nhà nước hiện nay.59
59 Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức: “Tiến hành đồng bộ với các hoạt động cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; nâng cao chất lượng khu vực dịch vụ công và đẩy mạnh XHH sự nghiệp công.”
Nghị quyết số 17-NQ/TW về Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước, của BCHTW khóa X (ngày 01/8/2007): “Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp.”; “Giảmđầumối, bỏcấptrung gian, hình thànhbộquản lí đa ngành, đa lĩnh vực. Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương.Đẩy mạnh vững chắc việc sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước và xã hội hoá một số loại hình dịch vụ công cộng.”;“Giảiquyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với nhân
Thứ hai, XHHTHADS là chuyển giao các công việc về THADS sang cho các cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện.
Quá trình XHHTHADS được thực hiện thông qua việc chuyển giao một sốcông việc về THADS trước đây chỉ do cơ quan Nhà nước thực hiện sang cho các cá nhân,tổchức tư nhân thực hiện,tứclà làm cho các hoạtđộngNhànướcngày càng mang tính xã hội, rộng rãi hơn, sâu sắc hơn. Sự tham gia của các tổ chức, cánhân vào quá trình thi hành án ngoài việc bảo vệ quyền lợi của người được thi hànhán,ngườiphải thi hành án còn giúp cho công lýđượcthực thi, giúpbảođảmnền pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Ở hầu hếtcác nước trên thế giới, TPL đều thực hiện chức năng bổ trợ cho hoạtđộngcủa tòa án (tư pháp) vàhỗtrợ ngườidân tiếp cận pháp luật, tư pháp, gọichung là chức năngbổtrợ tư pháp. TạiPháp, TPL là ngườiduynhất/độc quyền trong việc thi hànhbảnán, quyếtđịnhcủa Tòa án. Việc chuyểnbảnán, quyếtđịnhđã có hiệulựcpháp luật cho TPL để tổchức thi hành có giá trịnhưviệc giao quyền thi hành án mà không cần giấy ủy quyền riêng.
Liên bang Nga cũng đã công nhận và phát triển TPL như một nghề từ năm 1997 với việc ban hành Luật về TPL, theo đó TPL thực hiện 02 nhiệm vụ chính là tống đạtvăn bản của Tòa án, các cơ quan khác, các việc phục vụ phiên tòa xét xử và thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Một số nước,vùng lãnh thổ Châu Á cũng đã cho phép tồn tại và phát triển
TPL như mộtnghềđộc lập, chẳnghạnnhư Hồng Kông, Xing-ga-po…60. Nhưvậy, phạm vi các công việc thi hành án mà TPL ở các nướcđược thực hiệncó thểlà độc quyền hoặc chỉ thực hiện một số công việc là còn tùy thuộc vào mô hình tổchức thi hành án của nước đólà mô hình thi hành án tư nhân hay mô hình thi hành án bán công.
Còn tại Việt Nam, XHHTHADS đang được triển khai thực hiện thông qua các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân (gọi là TPL) với bốn nhóm công việc là:
dân, huy động sự tham gia có hiệu quả của nhân dân và xã hội vào hoạt động quản lí của các cơ quan hành chính Nhà nước”.
60 Dương Thị Thanh Mai (2017), Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPLTPL, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, trang 6.
tống đạt văn bản, giấy tờ thi hành án; xác minh điều kiện thi hành án; lập vi bằng; trực tiếp tổ chức thi hành án. Với những kết quả mà TPL đạt được trong thời gian qua, không ai có thể phủ nhận những thành tựu mà hoạt động XHH đã mang lại. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta buộc phải tiến hành XHH, tức là chuyển giao một số công việc THADS “ngay lập tức”và “bằng mọi giá”. Bởi lẽ, XHHsẽchỉcóthểphát huy những mặt tích cực của nó, đi đúng mục đích của nhà ban hành chính sáchnếunóđược chuẩnbịmộtcách toàn diện, đi những bước đi với nhịp độ phù hợp với điều kiện thực tế ở mỗi quốc gia. Ngược lại, nếu không cóbước chuẩnbịkỹlưỡng, không căn ke, tính toánbước đi phù hợp, XHH sẽ trở thành nguồn cơn của những bất ổn chính trị, những mâu thuẫn trong hệ thống chính sách, pháp luật của một quốc gia, tiềm ẩn nguy cơ về sự bất bìnhđẳng trong việc thụ hưởng các dịch vụ mà Nhà nước và tư nhân cùng thực hiện. Việc thành lâptổchức thi hành án tư nhânđểthực hiện những công việc trước đâythuộc “độc quyền” của Nhà nướckhôngthểnóng vội, cầnphải có lộtrình hợplý, đảmbảoviệc chuyển giao không gây ra những xáo trộn không đáng cócho những người thực hiện và người hưởng dịch vụ.
Từnhững phân tích trên,cầnphải xácđịnhrõ những công việc nào cóthểchuyển giao cho tổ chức tư nhân, những công việc nào thì không; đối với các công việc thuộc về tổ chức THADS đòi hỏi phải sử dụng quyền lực của Nhà nước mới
thực hiện được như việc ra quyết định thi hành án, cưỡng chế thi hành án …thì tạm thời chưa nên XHH61 và sẽ XHH khi các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân đãđủ khả năng để tự mình thực hiện. Bởi vì bản chất của việc sử dụng quyền lực Nhànước như ra quyết định THA hay cưỡng chế THA sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất, nhân thân của đương sự, nhất là người phải THA nên thường gặp phải sự chống đối quyết liệt của đối tượng bị cưỡng chế, đồng thời các quyết định, hành vicủachủthểtiến hànhcưỡngchếTHADSrấtdễbịkhiếu nại,tốcáotừcảhai phía người được THA và người phải THA. Đây là những công việc phức tạp, đòi hỏi phải thận trọng, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật, do đó tạm thời vẫn
nên giao cho Chấp hành viên của Cơ quan THADS – là cơ quan công quyền với
61 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật THADS Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.51.
đội ngũ công chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước thực hiện, còn đối với một số công việc mà việc thực hiện không nhất thiết phải sử dụng quyền lực Nhà nước mới thực hiện được như việc xác minh tài sản, tống đạt các văn bản, giấy tờ, bảo
quản, định giá và bán tài sản kê biên… thì có thể XHH. Những công việc này sẽgiao cho cáctổchức, cá nhân thi hành án tư nhân thực hiện vàđươngsự,người yêu cầu sẽ phải chi trả các chi phí cho việc thực hiện chúng.
Mặtkhác, các tổchức, cá nhân thi hành án tư nhân khiđược yêu cầu thi hành án, có quyền tổ chức, thực hiện công việc thi hành án trong phạm vi quyền hạncủa mình, đồngthời có quyền yêucầucác cơ quan, tổchứchữuquan phối hợp theo quy định của pháp luật. Còn đối với người được thi hành án, người phải thi hành án, có quyền lựa chọn tổ chức thi hành án cho mình: Cá nhân, tổ chức thi hành án tư nhân (TPL) hoặc Cơ quan THADS. Việc XHHTHADStạođiều kiện cho các chủ thể tham gia tích cực vào các hoạt động thi hành án, phát huyđược khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy được tính sáng tạo vàchủđộngtíchcựccủangườidân, góp phần làm cho quá trình thi hành ánđược nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng cho các chủ thể trong thi hành án, đồng thời giảm bớt gánh nặng cho các cơ quan thi hành án Nhà nước.
Thứ ba, XHHTHADS phải gắn liền với trách nhiệm quản lý của Nhà nước cũng như vị trí, vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể trong xã hội khi thực hiện các công việc mang tính chất XHH.
Tại Pháp, TPL là một chức danh do Nhà nước (trực tiếp là Bộ Tư pháp) bổnhiệm và quản lý về mặt trình độ chuyên môn. Để đạt được chức danh này, TPL phảiđạtcác điềukiệnvề đàotạo và thử việc phức tạp, tươngtự với Luật sư, Công chứng viên,… Cũng là vì chức danh nghề nghiệp nên cơ quan quản lý cóthể thuhồitư cách TPL của mộtngười nếungười đókhông cònđạttiêu chuẩn hoặc có hành vi vi phạm quyền của người yêu cầu tới mức không thể chấp nhận. TPL chịu trách nhiệm chuyên môn trước cơ quan bổ nhiệm là Bộ Tư pháp, chịu trách nhiệm dân sự với người bị thiệthạitrước Tòa án và chịu trách nhiệm hình sự trước Viện công tố, nếu có.
TạiHợpchủng quốc Hoa Kỳ62, để trở thànhmộtTPL (Court Bailiff) thìphảiđápứng tiêu chuẩn là công dân Hoa Kỳ, trên 21 tuổi (tùy từng bang) và đạt tiêu chuẩn về chuyên môn đào tạo và đạo đức phù hợp với nghề nghiệp
Bulgaria,từ năm 2005, Bulgaria bắtđầuchuyển sang mô hình TPL. Khi thực hiện chuyển đổi, Nhà nước ban hành Luật về tổ chức TPL, tạo điều kiện cho các chấp hành viên chuyển sang nghề TPL. Hiện nay, hệ thống cơ quan thi hànhán dânsự tạiBulgaria tồntạisong songgồmcơ quan thi hành án nhànước vàvăn phòng TPL lại tư nhân.
TạiViệt Nam, từ năm 2009, TPLđượctriển khai thíđiểmvà đượccông nhận chính thứctừ năm 2016đếnnay. TPL làngườicó đủcác tiêu chuẩn do pháp luật quy định, được Nhà nước(BộtrưởngBộTư pháp) bổ nhiệm để hành nghề. Các tiêu chuẩn của TPL gồm: tiêu chuẩn về chuyên môn (cử nhân luậttrởlên, có thời gian làm việc trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp..); tiêu chuẩn về đào tạo kỹ năng nghiệp vụ (qua đào tạo, bồi dưỡng và qua kỳ thi kiểm tra nghiệp vụ
TPL); điều kiện đã qua tập sự nghề tại Văn phòng TPL…Ngoài ra, TPL phải tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp.
Đồng thời, trong quá trình hoạt động, Nhà nước tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, phát huy vai trò của các đoàn thể,tổchức quần chúng trong việc giám sát hoạt động của các tổ chức thi hành án tư nhân. Nhà nước giữ vai trò chủđạo, quản lý thông qua các quy định của pháp luật và kiểm tra thực hiện, không can thiệp sâu vào các hoạtđộngTHADS mà chỉkiểm soát các hoạtđộngnày thông qua các công cụ chính sách, pháp luật có tính chất định hướng, đồng thời đềcaochếđộtrách nhiệm của những cá nhân, tổchức thực hiện hoạtđộng THADS. Mặc dù không can thiệp trực tiếp, nhưng với tư cách là chủ thể chịu trách nhiệm trước xã hội về hoạt động THADS nên Nhà nước sẽ có những quy định vềtiêu chuẩn, quyền, nghĩavụ,trách nhiệmđểđảmbảoviệc thi hành ánđượcthực hiện theo đúng mục tiêu đã đề ra.
Mỗi một quốc gia khác nhau với cách tổ chức bộ máy Nhà nước khác nhau thì
62Nguồn:http://study.com/articles/Court_Bailiff_Job_Duties_and_Requirements_for_Becoming_a_Court_Bail iff.html
việc quản lý Nhà nước liên quan đến hoạt động thi hành án cũng sẽ là khác nhau. Chẳng hạn, tạiCộng hòa Pháp hay Vương quốc Bỉ, TPL với tư cách là chủthểđộc quyền trong THADS, không chịu sự kiểm soátcủa bấtkì cơ quan Nhà nước nào về hoạt động thi hành án.63 Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam, tại Nhật Bản hay tạicộng hòa LBĐứclạiđặtra sự giám sát của cơ quan nhà nướctới chủthể thi hành án ngoài Nhà nước.Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệmvụkiểm sát hoạtđộngthi hành áncủaTPLtạiViệt Nam, thẩm quyền trong hoạtđộngkiểm sát
này giống với kiểm sát hoạt động của Chấp hành viên, Chấp hành viên trong Tòa thi hành án Nhật Bản phải thường xuyên báo cáo với Tòa án đã ban hành bản án về quá trình THADS của mình64. Việc XHHTHADS nhưngvẫnphải chịusựkiểm sát của Viện Kiểm sát nhằmbảođảmviệc XHH theo đúng quyđịnhcủa phápluật, bảo đảmquyền lợi ích hợp pháp của bên có quyền đang được thực thi trên thực tế. Bên cạnh đó, khi xây dựng các quy định về XHHTHADS phảibảođảmtôn trọng các quyền con người, quyền sở hữu hơp pháp của các chủ thể phải THADS cũng như các chủ thể có liên quan khác; sự tham gia giám sátcủachính quyền địa phương và Viện Kiểm sátđảmbảo các tổ chức khi tham gia hoạtđộng XHHTHADS phải dựa trên quy định của pháp luật, công khai, minh bạch, tránh
lạm quyền hay sai sót trong quá trình tổ chức THA.
Đồngthời,ởViệt Nam việc cho phép cáctổchức thi hành án tư nhânđược thực hiện các hoạtđộng thi hành án nào cũng phảiđượccân nhắc, tiến hành từng bước theo lộ trình để phù hợp với thực tiễn cuộc sống, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệuquảcông tác THADS. Bên cạnhđó,Nhànướctạođiềukiện môi trường thuận lợi về cơ chế, chính sách, thể chế để thúc đẩy sự phát triển của mô hình XHHTHADS, khuyến khích, hỗ trợ, kể cả hỗ trợ về tài chính cho các tổ chức xã hội cung cấp các loại hình dịch vụ THADS, đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn biến đổi của xã hội.
Tuy nhiên, tổchức, cá nhân khiđược Nhànướctrao cho quyền tham gia hoạtđộngthi hành án không chỉ phải tuânthủcác quy trình, tiêu chuẩn chuyên
63 https://e-justice.europa.eu/content_procedures_for_enforcing_a_judgment-52-fr-en.do?member=1 64 Điều 102, Luật Thi hành án dân sự Nhật Bản (số 79 năm 1979), sửa đổi năm 2004.
môn, nghiệp vụ chuyên ngành mà còn phải bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc, quy định tố tụng, thực hiện quyền tư pháp. XHHTHADS bắt nguồn từ chức năng phụcvụcủa Nhà nước, gắnvớitrách nhiệm của Nhànướcnên việc thực hiện XHH dù dochủthểnào thực hiện thìcầnphảibảođảmchấtlượngtheo những tiêu chuẩn nhất định với các quy trình, cách thức, nguyên tắc thực hiện.Bởivì, việc bảođảmchấtlượngcungứngcác dịch vụcông trong lĩnh vực THADS không chỉ phục vụ cho nhu cầu của người dân, thực hiện nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước mà còn góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin, tình cảm, nâng caoýthức pháp luật của ngườidân. XHHTHADS dù được tiến hành dưới hình thức nào thì Nhànướcvẫnlà ngườichịu trách nhiệmtrướcxã hộivềviệc thực hiện các nhiệm vụ, quyềnhạnđã được giao của các tổchức, cá nhân, bảođảm cung cấp dịch vụ công và chất lượng của các dịch vụ công thông qua cơ chế kiểm tra, đánh giá, giám sát việc thực hiện của các tổ chức, cá nhân.
1.1.3. Ý nghĩa của xã hội hoá thi hành án dân sự
Trongbốicảnhnước ta đang phát triểnnềnkinhtếthịtrườngđịnhhướng XHCN, hoạt động kinh tế, dân sự vô cùng đa dạng, phong phú, kéo theo các giao dịch dân sự, quanhệpháp lý cũng tăng theo và rấtphức tạp. Trong khi đó, hệthống pháp luật chưa hoàn thiện, gánh nặng hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp dồn lên Nhà nước. Chính vì lẽ đó, XHHTHADS với sự tham gia của các tổ chức thi hành án tư nhân vào quá trình thi hành án, với việc xây dựng một cơ chế để
tạo điều kiện cho người dân có thể bảo vệ mình trong các quan hệ pháp lý là vôcùng cần thiết.
Thứ nhất, XHHTHADStạocơ hộicho các cá nhân, tổchức tham gia tích cực vào hoạtđộngthi hành án, phát huy khả năng cũng như năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy tính sáng tạo và chủ động tích cực của người dân.
XHHTHADStạora cơ chếTHADS hợp lý, trong đó ngoài Nhà nước, các cá nhân, tổchức khácđềuđược đóng góp công, của cho việc THADS làm cho việc thi hành các bản án, quyết định dân sự được nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó, việc tham gia của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động THADS góp phần đảm bảo các giao dịch dân sự, kinh tế đúng pháp luật; bảo vệ quyền, lợi ích của
các bên khi tham gia các quan hệ này. Mặt khác, XHHTHADS còn tạo ra một sốnghề mới trong thị trường dịch vụ pháp lý, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Bên cạnh đó, việc thực hiệnchế địnhTPL, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản… cũng góp phần nâng cao ý thức của người dân trong các quan hệ kinh tế, xã hội, pháp lý; góp phần tạo môi trường pháp lý, xã hội lành mạnh, minh bạch.
Thứhai, XHHTHADS góp phần nâng caovịthế, vai tròcủacác cơ quan tưpháp, góp phần thúc đẩy và bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng tư pháp.
ĐốivớiTòa án, hiện naymộtsốviệc do cáctổchức thi hành án tư nhânđang đảm nhận thì trước đây trong quá trình tố tụng đang được giao cho các chức danh khác thực hiện. Chẳng hạn như việc phát hành các giấy triệu tập đương sự, ngườitham gia tốtụng khácđếnphiên toà, công bốthủtục phiên toà, giúp lập biên bản lấy lời khai của đương sự, của các nhân chứng… do thư ký Toà án đảm nhiệm.
Những việc trênđâyhiện vẫn do cả 2 tổ chức cùng đảm nhận đó là Cơ quan THADS của Nhà nướcvà các tổchức thi hành án tư nhân. Chính vìlẽđó, nếu những công việc này mà được giao chuyên trách cho tổ chức thi hành án tư nhân thực hiệnsẽđảmbảođược tính pháp lý của công việc (giao trực tiếp đúngđối tượng, đúng thời hạn, đúngthủtục do pháp luậttốtụng quy định), vừa xác lập được nềnếptrong việc thực hiện loại công việc nàybởicác hành vi nghiệpvụcủa tổchức thi hành án tư nhân đã được pháp luật quyđịnhmộtcách chặt chẽ, vừa giảmbớtđược công việc cho Tòa án và chính quyền cơ sở. Đồngthời góp phần hạn chế việc gặp gỡ giữa thẩm phán, cán bộ Tòa án với đương sự ở ngoài trụ sở Tòa án, ngoài giờ làm việc, từ đó góp phần giữ gìn hình ảnh, nâng cao vịthế của Tòa án65.
Đối với Cơ quan THADS, sự tham gia của các tổ chức thi hành án tư nhân vào việc thi hành ánmộtmặtgóp phần chia sẻcông việc cho CHV, Cơ quan THADS nhưng mặt khác sẽ tạo ra sự cạnh tranh trong hoạt động thi hành án. Nếu như trước đây, các công việc về tống đạt văn bản thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi hành án vốn dĩ chỉ thuộc về Cơ quan THADS thì
65 Nguyễn Thị Tuyền (2016), TPL – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20, Tr38.
nay đã có sự cạnh tranh từ các tổ chức thi hành án tư nhân khác. Bên cạnh đó, sựtham gia của các tổchức thẩmđịnhgiá, bánđấugiá tài sản;tổchức nhận giữ, bảo quản tài sản vào quá trình thi hành án buộc Cơ quan THADS phải thay đổi về tác phong, nâng cao trình độ, nâng cao ý thức trách nhiệm nếu không muốn bị“đào thải”.Do đó, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực thi hành án góp phầnhạnchếmộtsốtiêu cực trong hoạtđộng thi hành ánđồngthời cũng giúp nâng cao vị thế của Cơ quan THADS so với trước đây.
Thứ ba, XHHTHADS góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động THADS. XHHTHADSvớisựtham gia củatổchức, cá nhân ngoài Nhànướcvào
hoạt động thi hành án giúp giảm tải khối lượng công việc của Cơ quan THADSđang ngày càng tăng lên không ngừng, góp phần giải quyết tình trạngtồnđọng án. Trên thực tế, công việc phải tiến hành trong một vụ việc thi hành án thường đòihỏinhiều công đoạn, nhiều hoạtđộngtác nghiệp; thêm vàođó,sốviệc Cơquan THADSthụlý và giải quyết ngày càng tăngcảvềsốlượnglẫnmứcđộphức tạp dẫn đến tình trạng nhiều nơi Cơ quan THADS quá tải so với biên chế. Bởi vậy, việc chuyển giao một phần các công việc THADS cho các tổ chức khác trong xã hội góp phần giải quyết tình trạng quá tải công việc, án tồn đọng, nâng cao hiệu quả thi hành án và giảm sự cồng kềnh tổ chức THADS66.
Bên cạnh đó, trong hoạt động tổ chức THADS, sự tham gia của các tổ chức thi hành án tư nhân đã giúp người dân có thêm công cụ hỗ trợ tích cực để bảo đảm quyền,lợiíchhợpphápcủamình trong quá trình thi hành án, góp phần nâng cao hiệu quả công tác THADS. Trong thời gian chưa thể thay thế các Cơ quan THADS thì đây là hoạt động bổ trợ tích cực cho hoạt động của CHV, Cơ quan THADS.
Thêm vào đó, khối lượng công việc của Tòa án và Cơ quan THADS có xu hướng gia tăng hàng năm trong khi số lượng biên chế của của các cơ quan này lại không tăng thì áp lực công việc của Tòa án là rấtlớn67. Chính vì vậy, việc tham gia của các tổ chức thi hành án tư nhân vào quá trình tư pháp và THADS sẽ góp phần hỗtrợ tích cực cho các hoạtđộngtư pháp được nhanh hơn, hiệu quả hơn,
66 Chu Thị Hoa (2016), Pháp luật THADS trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, Tr33.
67 Chu Thị Hoa (2016), Pháp luật THADS trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, đề tài tiến sĩ, Hà Nội 2016, trang 105.
góp phần giảmtảicông việc của các cơ quan tư pháp, trước hết là của Tòa án vàcơ quan THADS.
Thứ tư, XHHTHADS góp phần bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, góp phần ổn định các quan hệ xã hội.
XHHTHADS với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước vào việc thi hành án sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức tư nhân với Nhànước,tạo cơ hội cho người dân sử dụng và lựa chọn những dịch vụ tốt nhất, khắc phục tình trạng độc quyền, cửa quyền của các cơ quan THADS.
Đồngthời, XHHTHADSvớisựtham gia của các tổchức, cá nhân ngoài Nhà nước vào công tác thi hành án tạo thêm sự lựa chọn về cung cấp dịch vụ cho người dân, buộc cơ quan Nhà nước phải nâng cao ý thức phục vụ nhân dân trong bối cảnh cạnh trạnhvớitính linh hoạt và năngđộngcủatổchức thi hành án tư nhân.Đồng thời mở rộng khả năng lựa chọn của người dân khi sử dụng các dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư pháp nhằm bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.2. CƠSỞKHOAHỌCCỦA VIỆC QUYĐỊNH VỀXÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.2.1. Việc xây dựng các quy định về xã hội hoá thi hành án dân sự dựa trên cơ sở lý luận về nghĩa vụ dân sự
Về phương diện lý luận, theo học giả Vũ Văn Mẫu “nghĩa vụ là một mối liênhệ pháp lý giữa hai người, nhờ đómộtngườilà tráichủ(haychủnợ)cóquyền đòi người kia phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung khoản cóthể trịgiá bằngtiền”. Cung khoản (une prestation) này có thể quan niệmdướiba hình thức: Một nghĩa vụ chuyển hữu, có mục đích bắt buộc người phụ trái phải chuyển dịch một quyền sở hữu hay một quyền đối với vật nào khác; cũng có thể là một nghĩa vụ tác động hay hành sự nghĩa là một nghĩa vụ phải làm; còn có thể là một nghĩa vụ bất tác động hay bất hành sự. Phát sinh ra nghĩa vụ có thể nói rằng cóhai nguồn gốc: các nghĩa vụ khế ước do ý muốn của các đương sự kếtlập dưới các hình thứckhế ướchay hợp ước và các nghĩa vụ ngoạikhế ướcđược phátsinh ra ngoài ý muốn của trái chủ cũng như người phụ trái như trong các trường hợp trách nhiệm dân sự68.
68 Vũ Văn Mẫu (1963) Việt Nam Dân luật lược khảo, Quyển II, Bộ Quốc gia giáo dục.
Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý, căn cứ vào pháp luật của quốc gia để xácđịnh và phán xử về quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Thông qua phán quyết của Tòa án các quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của chủ thể được luật pháp ghi nhậnđã trởnên có hiệu lực cưỡngchếvà bên có nghĩa vụcó trách nhiệm phải thực thi phán quyết của Tòa án. Bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là mộtnội dung quan trọng của hoạt động Nhà nước.Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền XHCN thì vai trò phápchếluônđược đềcao, pháp luậtđược đảm bảothực hiện. Phápchếđòihỏiphải chấp hành nghiêm chỉnh các phán quyết nhân danh công lý mà Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền đã tuyên. Thông qua việc thi hành những bản án, quyết định của Tòa án quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân được bảo vệ, công bằng xã hội được bảo đảm, công lýđượcthực thi trên thực tế, bảođảmtính nghiêm minhcủapháp luật và pháp chếXHCN, tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộmáy Nhà nước.Việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án kém hiệu quả sẽ làm vô hiệu hóa toàn bộ hoạt động của các cơ quan tố tụng ở giaiđoạn trước,gây mất ổn định chính trị, trật tựan toàn xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật. Dođó,đểbảođảmhiệu lực bảnán, quyếtđịnhcủa Tòa áncầnphải xây dựngmộthệthống quy phạm pháp luậtđểtổchức THADSđếncùng nếu đương sự không tự nguyện thi hành án. XHHTHADS với sự tham gia của các tổchức, cá nhân THA tư nhân (TPL) vào quá trình THA, mộtmặtcó tính chất làmột loại dịch vụ công được cung cấp theo yêu cầu để đáp ứng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức,mặtkháclạicó tínhbắtbuộc, có tínhcưỡngchế do Nhà nước bảo đảm. Chínhđặcđiểmnày làm cho dịch vụthi hành án do TPL cungcấpkháchẳnvớicác dịchvụpháp lý khác như tư vấnpháp luật, trợ giúp
pháp lý, hòa giải…Nếu bên phải thi hành án khôngtự nguyện thực hiện các nghĩa vụcủa mình theo bản án, quyếtđịnhcủa toà án đã có hiệulựcthì chấp hành viên/TPL có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Bảo đảm hiệu lực thi hành của bản án, quyếtđịnhdân sự
THADS là hoạt động phức tạp, việc thi hành án còn tácđộng trực tiếp đến quyền và lợiích của ngườiphải thi hành án, chính vìlẽđó, muốn thi hành ánđược tiến hành thuận lợi thì đòi hỏi người thi hành án phải nhận thức đúng đắn vềquyền, nghĩa vụ thi hành án, từ đó tích cực phối hợp trong quá trình thi hành án. Trong khi đó, THADS là việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được ghi nhận trongbảnán, quyếtđịnh;là hoạtđộngnhằmbảovệtư quyền69, hơn nữa, hoạt động THADS còn mang dấu hiệu của hoạt động hành chính – tư pháp, nên tính chất cá biệt hóa của nó rất cao. Vì vậy, việc Nhà nước không cần thiết phải tham dự vào một công việc mangtính “tư”70, mà giao cho một chủ thể ngoài Nhànước hỗtrợ, tổchức cho các bên thực hiện theobảnán là hợplý và hợplogic. Chính vìlẽ đó, XHHTHADS giúp giảmtảicông việc cho Tòa án, Cơ quan THADS, góp phần tôn vinh hoạt động tư pháp, đặc biệt là Tòa án đồng thời bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án phải thi hành trên thực tế. Tính đến thời điểm hiện nay, việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án về cơ bản vẫn làthuộc trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước mà cụ thể là các CQTHADS. Việc thi hành án do các cơ quan Nhà nước thực hiện bên cạnh những ưu điểm của nócũng tồn tại những hạn chế, dẫn tới quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án không được bảo đảm, việc thi hành án bị kéo dài ảnh hưởng đến quyền và lợiích hợppháp của ngườidân. Đểkhắc phục tình trạng trên, đồngthời khuyến khích việc tự thi hành ántừphía người phải thi hành án và ngườiđược thi hành án thì cần phải thiếtlập được mộtcơ chếphù hợp để đảmbảo hài hoàgiữa lợi ích của người được thi hành án và lợi ích của những người làm“dịch vụcông” trong thi hành án nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THADS. XHHTHADS là chuyển giao mộtsốnhiệm vụ, quyềnhạntrước đâythuộc vềtrách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thi hành các bản án, quyết định sang cho cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện như là một “dịch vụ công” trong thi hành án, qua đó, thúc đẩy quá trình THADS, giảm bớt gánh nặng cho cơ quan thi
69 Lê Xuân Hồng (2008), Một vài suy nghĩ về XHH thi hành án, Dân chủ&Pháp luật, Tr.18-21.
70 TrườngĐạihọc Luật Hà Nội (2020), XHHTHADS – pháp luật củamộtsốnước trênthếgiới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Đề tài tham gia xét giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học”, tr.24.
hành án, nâng cao hiệu quả trong THADS. XHHTHADS với việc xuất hiện các tổchức thi hành án tư nhân có chức năng thi hành án đã góp phần bảo đảm quyền vàlợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự, trong quan hệ với cơquan Nhà nước và trong các quá trình tố tụng, giúp giảm tải công việc cho cơ quan THADS và Tòa án, tạo điều kiện để hoạt động tư pháp đúng pháp luật, nhanh hơn,
hiệuquảhơn. Ngoài ra, XHHTHADS còn nhằm nâng cao trách nhiệm,tạođiều kiện cho người dân, xã hội tham gia vào hoạt động tư pháp, người dân có quyền lựa chọn tổ chức thi hành án cho mình, việc cạnh tranh sẽ làm tăng chất lượng dịch vụ, các cơ quan THADS của Nhà nước sẽ có động lực đổi mới phong cách, lề lối làm việc, khắc phục quan liêu, sách nhiễu, tiêu cực trong thi hành án.
1.2.3.Bảođảmquyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thểtrong thi hành án dân sự
Quyền con người bao giờ và ở đâu cũng luôn là sản phẩm của một trình độphát triển xã hội nhất định. Nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh trong lịch sử”71. Ngày nay, khoa học pháp lý phát triển đã cho chúng ta nhiều căn cứ để hiểu khái niệm quyền con người đầy đủ hơn trong sự vận động biện chứng của lịch sử. “Quyền con người là cái có trước và Nhà nước với công cụcủanó là pháp luậtchỉlàm nhiệm vụ ghi nhận và bảo vệ. Quyền bìnhđẳng tuyệt đối chứ không phải là sự ban phát hay có thể xin cho từ phía Nhà nước màchỉ là ghi nhận, đảm bảo thực hiện và bảo vệ khi nó bị xâm phạm”72. Do đó, cóthể nói không có pháp luật thì không có quyền. Quyền con người trước hết phải được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật của mỗi quốc gia nói riêng, pháp luật quốc tế nói chung. Để bảo đảm quyền con người và cả quyền công dân thì trách nhiệm trước hếtvà chủyếulà từNhà nước.Nhà nước cầnthực hiện các biện
pháp về thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp,… nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền con người trong thực tế73.
Điều 7, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người:“Mọi người đều bình
71 C. Mác, Ph Angghen -Toàntập(1995), tập 2, 173.
72 Đinh Thế Hưng (2011) “Quyền bình đẳng trước pháp luật những vấn đề lýluận, thực tiễn”, trong cuốn Những vấn đề lý luận thực tiễn của nhóm quyền dân sự và chính trị, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 159.
73 Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (2011), Giáo trình Lýluận và pháp luật về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không cóbấtkỳsựphân biệt nào”. Đểbảovệquyền conngườithì Nhà nước phải xây dựng được hệ thống pháp luật tạo ra sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cho tất cả công dân.
So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới có những sửa đổi, bổ sung và phát triển quan trọngvề quyền con người, quyền và nghĩa vụcơ bản của công dân. Theo đó, Hiến phápđã khẳngđịnh:“ỞnướcCộng hòa xãhộichủnghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dânvềchính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp vàpháp luật”(Điều 14) quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền conngườivề chính trị, dân sự, kinhtế,văn hóa, xã hộiđược thể hiện trong quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế vềquyền con người mà Việt Nam là thành viên. Đólà “Quyềncon người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộngđồng” (Điều 14). Đồngthời, Hiến pháp năm 2013 khẳngđịnhtrách nhiệm của Nhà nước là công nhận bằng hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo vệ vàbảo đảmquyền con người, quyền công dân bằng việctổ chứcthi hành pháp luật hiệu quả.
Trong đó, các quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Mọi công dân cóquyền có nơi ở hợp pháp, có quyền bất khả xâm phạmvề chỗ ở quyền sở hữu vềthu nhậphợppháp, của cảiđể dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sảnxuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác và quyền thừakế được pháp luậtbảohộ. Để thực hiện việcbảovệ các quyền của mình theo quyđịnhcủa Hiến pháp 2013, người dân cần thêm những cơ chế hữu hiệuđể có thể tạo lập các chứng cứ nhằm có thể bảo vệ các quyền và lợi ích của mình trướccác nguy cơ xâm hại. TPL với nghiệp vụ tống đạt các văn bản, giấy tờ, xác
minh và tổ chức THA là một cơ chế hữu hiệu giúp người dân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Việc quy định về XHHTHADS là để đảm bảo tối đa lợi ích của nhân dân. Các quy định về XHHTHADS, theo đó cho phép người có quyền đòi nợ (ngườiđược thi hành án) có thể buộc người có nghĩa vụ trả nợ (người phải thi hành án) thực hiện nghĩa vụ theo đúng quy địnhcủapháp luật. Những quy định này vừa bảo vệ quyền đòi nợ của người được thi hành án nhưng vẫn bảo đảm cho người sau khi bị cưỡng chế thi hành án đủ khả năng tiếp tục cuộc sống ở mức tối thiểu, có điều kiện để làmviệc để nuôi sống bản thân và gia đình. Bên cạnh việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án, XHHTHADS còn bảo đảm lợi ích của các tổ chức cá nhân thi hành án tư nhân. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các tổ chức này phát triển, bên cạnh những chính sách ưu đãi liên quan đến tài chính, Nhà nước còn tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các chủ thể cùng tham gia cung ứng dịch vụ. Đồngthời, Nhà nước còn cungcấpnhững phương tiệnhỗtrợcầnthiết cho hoạtđộngcung ứng dịch vụcủa các tổ chức thi hành án tư nhân trong phạm vi khả năng của mình.
1.2.4.Đápứngnhu cầucung ứngdịchvụcông trong hoạt độngthi hành án dân sự
Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ trực tiếp các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các tổ chức do Nhà nước trực tiếpđảmnhận hoặc chuyển giao cho khu vực tư nhân thực hiện nhằmđảmbảo trật tự và công bằng xã hội. Cung cấp dịch vụ công là một trong những nhiệm vụ cơbản của Nhà nước. Dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước và hiện nay xãhội hóa dịch vụ công đang trở thành một xu hướng phổ biến của các nhà nước trong một thế giới chuyển đổi nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Đốivới cungứngdịchvụcông trong hoạtđộngTHADS, phụthuộc vàođiều kiện kinhtế – xãhộicủatừng vùng miền, từng lĩnhvựccụthể, người dân không chỉ có thể chi trả nhiều hơn cho các dịch vụTHA mà họcó nhucầusửdụng mà còn có khả năng tham gia vào quá trình cungứngcác dịch vụđó. Do
vậy, đối với những nơi có điều kiện kinh tế – xã hội phát triển, nguồn lực phong phú thì Nhà nước có thể thúc đẩy thực hiện xã hội hóa trên cơsởphát huy vai tròtích cực,chủđộngcủa người dân trong việc tham gia cungứngdịchvụcông. Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bằng việc hỗ trợ tài chính cho hoạt động, có các chính sách ưu đãikhi các tổchức, cá nhân tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, tạimột sốlĩnh vực, địa bàn có điều kiện khó khăn, Nhà nước sẽ phải trực tiếp tổ chức bộ máy và nhân lực cung cấp các dịchvụcôngđểbảođảmcho người dânđược bìnhđẳngtrong tiếp cậnvàthụhưởngdịchvụcông. Đồngthời, việc cungứngdịchvụcông trong hoạtđộng THADS cònphụthuộc vào trìnhđộ, nhận thức pháp luật của ngườidân. Khi trình độ, nhận thức pháp luật của người dân được nâng lên, người dân không chỉcó ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn mà còn có nhu cầu sử dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và hỗtrợ ngườikhác trong thực hiện pháp luật. Đây chính là môi trường thuận lợi cho việc tham gia của các tổchức, cá nhân vào việc cung ứngdịchvụTHADS. Tuy nhiên, THADS là
những hoạt động phức tạp, thông qua hoạt động THADS, những phán quyết của Toà án nhân danh Nhà nước,thể hiện ýchí của Nhà nước đượctrở thành hiện thực, qua đó bảo đảm tính đúng đắn trong các phán quyết của Tòa án cũng nhưcủng cố, xây dựng niềm tin của người dân đối với pháp luật, công bằng, công lýtrong xã hội. Do đó, quá trình tổ chức huy động, thu hút các tổ chức, cá nhân ởkhu vực ngoài Nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công trong hoạt động THADSđược tổ chức chặt chẽ hơn. Các chủ thể phi Nhà nước này cần phải đáp ứng được nhữngđiềukiệncụthểtheo quyđịnhcủapháp luật, quá trình thực hiện những công việc được chuyển giao phải theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, phù hợp với mục đích quản lý của Nhà nước theo các hình thức, mức độ và ở phạm vi phù hợp.
Cungứngdịchvụcông trong hoạtđộngTHADSđề cao vai trò của Nhànướctrong việcbảođảmcho người dân có thể bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công, qua đó, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Việc chuyển giao một phần hoạt động THADS cho các tổ chức ngoài
khuvựcNhà nước sẽtạo ra môi trường cạnh tranh khôngchỉgiữa các tổchức cungứngdịchvụcôngvớinhau mà với Cơ quan THADS Nhà nướcvà tạo cơhội cho người thi hành án đượclựachọn, sử dụng những dịch vụ tốt nhất. Việc xã hộihóa cũngtạođiềukiện chomọingườitham gia tích cựcvào hoạtđộng này, phát huyđượckhả năng và nănglựctiềm tàng trong xã hội, khơi dậychủđộng, tích cực của người dân, nhờ đó, đa dạng hóa và tăng nguồn cung cấp các dịch vụcông cho xã hội. Trong hoạtđộngTHADS, các dịch vụcônggắnvới việcbảo vệ,bảo đảmthực hiện quyền và lợi ích chính đáng của người THA, bảo vệ pháp luật, công bằng và công lý trong xã hội. Khi thực hiện xã hội hóa, Nhànước chuyển giao một phần hoạt động THADS cho các tổ chức, cá nhân như việc xác minh điều kiện thi hành án, tống đạt giấy tờ, tổ chức thi hành bản án, quyết
định dân sự của Tòa án… Bảo đảmchất lượng cung ứng các dịch vụ công trong những trường hợp này không chỉ phục vụ cho nhu cầu của người dân mà còn góp phần quan trọng vào việccủng cốniềm tin, tình cảm, nâng cao ý thức pháp luật của ngườidân. Mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, giảm bớt gánh nặng công việc cho Nhà nước không phải là ưu tiên trong XHH hoạt động THADS. Điều quan trọng là phảitạora được lợi ích và trách nhiệmđược chia sẻ giữa Nhà nước,người cung cấp dịchvụcông và công dân. Do vậy, cungứngdịch vụcông trong hoạtđộngTHADS dùđược tiến hànhdưới hình thức nào thì Nhà nước vẫnphải làngườichịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm cung cấp dịch vụ công vàchất lượng của các dịch vụ công được cung cấp thông qua việc thiếtkế,vận hành hiệu quả cơ chế kiểm tra, đánh giá, giám sát việc cung cấp các dịch vụ công của các tổ chức, cá nhân.
1.3. BẢN CHẤT CỦA XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Bảnchất XHHTHADS là việc từngbướcchuyển giao hoạtđộngTHADSđang do Nhà nước độc quyền cho tổ chức, cá nhân tư nhân thực hiện, có nghĩa là từng bướcchuyểnđổimô hình thi hành ántừthi hành án Nhànướcsang thi hành án tưnhân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, đồng thời, nâng cao hiệu quả THADS, phát huy vai trò tổ chức thi hành án tư nhân trong đời sống xã hội.
Thứnhất, bản chấtcủaXHHTHADS là sự chuyển giao nhiệm vụ THADS và một số nhiệm vụ hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp từ Nhà nước cho các chủthể trong xã hội thực hiện, qua đó góp phần giảm bớt sự quá tải của bộ máy nhànước,trực tiếp là giảm tải công việc của các cơ quan toà án và cơ quan thi hànhán và giảm chi phítừngân sách nhà nước cho các cơ quan này, là hoạtđộng mang tính dịch vụ công (Service public).
Khẳng định bản chất XHHTHADS như trên, cho phép chúng ta thấy rõ:tổchức thi hành án tư nhân làmộttổchức hoạtđộngxãhội- nghề nghiệp, không mangđặctrưng quyềnlựcnhànước.Vềmô hìnhtổchức,tổchức thi hành án tưnhân cần được xác định là một tổ chức nghề nghiệp chứ không phải là cơ quan hành chính hay cơ quan hành chính – tư pháp. Việc huy động các cá nhân, tổ chức vào quá trình THADS không chỉ hỗ trợ đắclựccho công dân, các tổ chức khi tham gia các giao dịch dânsự,kinhtế,thươngmạimà cònhỗtrợ tích cực cho hoạtđộng quản lý nhà nước và hoạt động tư pháp nên thường được xếp vào nhóm bổtrợ tư pháp.
Các nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn lịch sử cho thấy, Nhà nước pháp quyền chỉ có thể tồn tại trong hiện thực trên nền tảng của một xã hội dân chủ, ởđó hình thành và phát triển mạnh mẽ hệ thống các mối liên hệ đa dạng theo chiều ngang của các cá nhân, các tổchức và cộng đồngtrên cơ sở tự nguyện, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật. Trong đó, quan hệ cơ bản là quan hệ hợpđồng được điềuchỉnh bằng pháp luật trên cơ sở nguyêntắccông dânđược làm tấtcả, trừ những gì luật cấm; các quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, tự do sở hữuvà tự dođịnhđoạtcủa công dânđược pháp luật thừa nhận và đảmbảo thực hiện. Trongbốicảnhnước ta đang phát triểnnềnkinhtếthịtrườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động kinh tế, dân sự vô cùng đa dạng, phong phú, kéo theo các giao dịch dân sự, quanhệpháp lý cũng tăng theo và rấtphức tạp. Trong khi đó, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, gánh nặng hoạt động tư pháp
và bổ trợ tư pháp dồn lên Nhà nước. Việc xây dựng một cơ chế để tạo điều kiện cho người dân có thể bảo vệ mình trong các quan hệ pháp lý là điều vô cùng cần thiết. Chính vì lẽ đó, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào quá trình THADS
sẽ giúp Nhà nước giảm dần các biện pháp quản lý trực tiếp mang tính quyền uy, mệnh lệnh để tập trung vào các biện pháp quản lý mang tính vĩ mô, thông qua sửdụng các công cụ: Pháp luật, chính sách, thuế, tài chính…; đồng thời phát triển các hình thức tự quản xã hội, kết hợp quản lý nhà nước với quản lý của các tổ chức xãhội, tổchức xãhội- nghề nghiệp, phát huy tính tích cực,chủđộng, năngđộng của xã hội, làm cho Nhà nước gần với xã hội hơn.
Thứhai, xétvề bản chất, khi THADSđược XHH, đâysẽ là hoạtđộngxãhội- nghề nghiệp không mangđặctrưng quyềnlựcnhà nước, mộthoạtđộng mang tính dịchvụcông. Vì thế, khả năng tham gia của xã hội làrấtlớn, cóthểchuyển giao hoàn toàn hoạt động THADS cho tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước thực hiện khi đáp ứng đủ điều kiện.
Tuy nhiên, THADS là một hoạtđộng phứctạp, chính vì vậy, XHHTHADS phải được tiến hành trên cơ sở xác định lộ trình phù hợp, có nội dung, mục tiêu cụ thể cho từng bước đi, đảm bảo ổn định, công bằng xã hội. Như đã phân tích tại Trang 54 Luận án, những công việc phải mang tính chấtcưỡngchế,sử dụng quyềnlựcNhà nước thìtạmthời vẫn giao cho cơ quan THADS đảmnhận;đối với những công việc mà cơ quan THADS chỉ ra quyết định khi đương sự có yêu cầuthì nên giao chotổchức THA tư nhân thực hiện (TPL) và chỉ chuyển giao hoàn toàn khi đáp ứng đượcđiều kiệnnhất định về hệ thống pháp luật; về cơ cấu tổchức và hoạtđộngcủaCơ quan THADS; ýthức pháp luật của ngườidân. Chính vìlẽ đó, việc xácđịnhlộtrình phùhợplà mộttrong các điều kiện quan
trọng đảmbảo có những bước đi phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, với năng lựcquản lý của Nhà nước,đảmbảo cho sự phát triển lâu dài, bền vững của hoạtđộng Thi hành án dân sự. Chỉ khi nào người dân chủ động sử dụng cácdịch vụcông, hình thành thói quen tuân thủ pháp luật cũng như thói quen sử dụng những phương tiện đúng đắn và hợp pháp để bảo vệ quyền lợi của mình; đội ngũ cán bộđược đào tạo, bồi dưỡng bàibản với một cơ chế quản lý hữu hiệu, phát triển một cách có trật tự thì khi đó mới có thể tính đến việc mở rộng việc chuyển giao hoàn toàn hoạt động THADS cho tổ chức tư nhân. Cho nên, đây là một quá trình lâu dài với những bước đi thích hợp, được tiến hành theo từng góc độ, cấp độ khác
nhau, theo đó, từng bước hình thành hệ thống tổ chức thi hành án tư nhân với các TPL hành nghề tự do song song tồn tại bên cạnh Cơ quan Thi hành án Nhà nước với các Chấp hành viên Nhà nước hiện có.
1.4. NỘI DUNG XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ1.4.1. Nội dung xã hội hoá tổ chức thi hành án dân sự
XHH tổ chức THADS là giải pháp cải cách tổ chức, hoạt động của bộ máy THADS Nhà nước, huyđộngnguồnlựcvà tăngcườngtrách nhiệm của xã hộiđối với các hoạtđộng của Nhà nướcmà nội dung trọng tâm là chuyển giao công việc của Nhà nước đang trực tiếp thực hiện cho các tổ chức xã hội, góp phần làm giảm và từng bước chuyển giao công việc không cần thiết phải do Nhà nước thực hiện với mục đích phát huy tiềm năng của cá nhân, tổ chức trong xã hội.
XHH tổ chức THADS bao gồm: XHH tổ chức trực tiếp THADS và XHH tổchức hỗ trợ THADS. Trong đó các tổ chức hỗ trợ THADS được hiểu là các tổ chức được thànhlậpnhằmhỗtrợcơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền tư pháp,bảovệluậtđồngthờihỗtrợcông dânvềmặtpháp lý nhằmbảovệcác quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Các tổ chức hỗ trợ THADS có thể hoặc không thuộc cơ cấu quyền lực Nhà nước, các tổ chức này khi được XHH sẽ góp phần hỗtrợcơ quan THADS trong việc thi hành cácbảnán, quyếtđịnhdânsựđược nhanh chóng, kịp thời, giúp cơ quan THADS thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Bên cạnh đó, XHH các tổ chức hỗ trợ THADS với việc huy động sự tham gia của nhân dân và các tổ chức xã hội vào quá trình thi hành án sẽ giúp nâng cao chất lượng, hiệuquả củacông tác THADS. Để đảm bảo cho các tổ chức hỗ trợ THADS hoạt động có hiệu quả, pháp luật cần phải có những quy định cụthểvềcơcấutổchức quản lý; cách thức hoạtđộng;tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệpvụ;điềukiệncấpphép thành lập; những công việc hay loại tàisảnnào
được phép chuyển giao… Những quy định này nhằm đảm bảo chất lượng của các dịch vụ mà các tổ chức hỗ trợ THADS cung cấp cũng như là căn cứ để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý trong quá trình hoạt động. Hiện nay, cáctổchức hỗ trợ THADS tham gia vào quá trình XHH bao gồm: Tổ chức bán đấu giátài sản, tổ chức thẩm định giá và tổ chức bảo quản, trông giữ tài sản thi hành án.
Tuy nhiên, trong phạm vi của luận án thì nội dung XHH tổ chức hỗ trợ THADS sẽđược nghiêncứusâu ởcác công trình sau. Luận ántậptrung luận giải nội dung của XHH tổ chức trực tiếp THADS.
Khi bàn về mô hình XHH tổ chức THADS, pháp luật của các quốc gia vẫn còntồntạinhững quan điểmkhác nhauvề vấnđề này, mỗimộtquanđiểmcónhững điểm hợp lý cũng như là hạn chế riêng và việc quốc gia lựa chọn theo đuổi mô hình như nào là phụthuộc vào nhiều yếu tốkinhtế – chínhtrị- xã hộicủa quốc gia đó. Đồng thời, căn cứ vào phạm vi chuyển giao hoạt động THADS trên thế giớitồn tạimô hình tổ chức THADS bán công và mô hình tổ chức THADS tư nhân.
Đốivới mô hìnhtổchức THADS bán công, đượcnhiềunước lựachọn vàáp dụng, trong đó cóthể kể tớimột sốquốc gia tạiĐông Âu, Trung Âu có nền kinhtế chuyểnđổisangnềnkinhtế thịtrường như: Bungaria, Hungary, Cộng hòa Séc, Ba Lan, Xlô-ven-ni-a, Estonia, Campuchia. Theo quan điểmcủa các nướcnày, mô hình THADS bán côngđược hiểu là tạimộtquốc gia sẽ tồntạiđồng thời hai nhóm chủ thể có quyền được thi hành án, trong đó một đại diện cho nhà nướcvà mộtmang tính chất tư nhân. Việc xuất hiện cáctổchức tư nhân tham gia vào quá trình THADS như tổ chức TPLtrướcmắtkhông nhằm thay thế cho các cơ quan THADS nhà nước, mà chỉ mang tính chấthỗ trợ,giảmtảiáp lực cho cơ quan công quyền, còn về lâu về dài mới tiến tới việc XHH một cách triệtđểkhi có đủđiềukiện.74 Cònđốivới mô hình THADS tư nhân (XHH toàn bộhoạt động THADS), đối với các nước theo mô hình này thì toàn bộ hoạt động thi hành ánđềudo TPLđảmnhận, mô hình này khôngchỉở châu Âu mà ở nhiều nước thuộc các châu lục trên thế giới,đã tồn tạicác TPL hành nghề tự do và độc
lập. Ở Châu Âu, trong số 28 nước được Hội đồng TPL châu Âu khảo sát, nhiều nước có Quy chế nghề TPL độc lập như: Anh, Xứ Galles (Wales), Pháp, Bỉ, Hy
Lạp, Luých-xăm-bua, Hà Lan… Đặc biệt, từ những năm 1990, từ khi Liên bang
74Alekand, Anneli, “The Estonian Universal Enforcement Procedure and the Bailiff as the Taker of Procedural Decisions.” Juridica International, 2008, tr.24
Tác giả Alekand nhận định rằng việc tồn tại song song hai thiết chế THADS là TPLTPL và Cơ quan thi hànhán không những không đối lập mà còn tạo ra cơ chế phối hợp rất nhuần nhuyễn, là hình mẫu cho việc liên kết
thực hiện các quan hệ công – tư để chia sẻ gánh nặng cho chính quyền.
Xô-viết tan rã, nhiềunước Trung và Đông Âuđã đi theo mô hình kinhtếthịtrường tự do. Các nước mới gia nhập Liên minh Châu Âu như: Ét-xtô-ni, Hung- ga-ri, Lét-tô-ni, Lít-tua-ni, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Xlô-va-ki, Xlô-vê-ni, Ru-ma- ni, Bun- ga- ri đã thừa nhận nghề TPL là nghề tự do, độc lập với quyền lực nhà nước.Liên bang Nga cũng đã công nhận và phát triển TPL như một nghề từ năm 1997 với việc ban hành Luật về TPL, theo đó TPL thực hiện 02 nhiệm vụ chính là tống đạt văn bản của Tòa án, các cơ quan khác, các việc phục vụ phiên tòa xét xử và thi hành bản án, quyết định của Tòa án.Một số nước,vùng lãnh thổ ChâuÁ cũng đã cho phép tồn tại và phát triển TPL như một nghề độc lập, chẳng hạn
như Hồng Kông, Xing-ga-po…75
Ở ViệtNam, chức danh TPL bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ Pháp thuộc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam DânchủCộng hòa rađời, hệthống cơ quan tư pháp mớiđược thiếtlậptrongcảnước,chếđịnhTPL tồntạitrước đóđượcduy trì và chịusựquản lýcủaBan Cônglạithuộc Phòng Giám đốc hộ vụ của Bộ Tư pháp. Ngày 19/7/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủCộng hòa ban hành Sắc lệnh 130/SL quyđịnhvềthểthức thi hành mệnh lệnh hoặc bản án của tòa án. Điều 3 của Sắc lệnh này quy định: Trong các thị xã, khu phố, Chủ tịch, Phó chủ tịch và Thư ký đều chịu trách nhiệm thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các Tòa án, ở những nơi nào đã có TPL riêng thì đương
sự có quyền nhờ TPL riêng thi hành mệnh lệnh. Về thẩm quyền, trách nhiệm của TPL trong thi hành án, Điều 1 của Sắc lệnh trên quy định: Các bản sao hoặc trích
lục bản án do các phòng lục sự phát cho các đương sự để thi hành các án, hoặc mệnh lệnh của các Tòa ánhộđềuphải cóthểthức thi hành, ấnđịnhnhư sau:
“Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa truyền cho các TPL theo yêu cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông chưởng lý và biện lý kiểm sát việc thi hành án, cai trị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu
cầu…Như vậy, Sắc lệnh 130/SL ngày 19/7/1946 chính là vănbảnpháp lýđầu tiên đánhdấusựrađờivềtổchức và hoạtđộngcủa TPL trongchếđộmới.Tại
75 Dương Thị Thanh Mai (2017), Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật TPLTPL, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, trang 14.
Miền Nam, mô hình TPL đã tồn tại trong suốt thời kỳ Pháp thuộc và dưới chế độchính quyền Sài Gòn đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 197576.
Đến thời điểmhiện nay mô hình THADS ở nước ta có 02 tổ chức cùng cóchức năng THADS song songtồntại, đólà: cơ quan THADScủaNhà nước vàVăn phòng TPL. Chính vì cùng tồn tại 02 tổ chức có chức năng, thẩm quyền giống nhau nên vấn đề đặt ra là phải có sự phân định cụ thể thẩm quyền của mỗi tổ chứcđó, một mặt tránh tình trạng chồng chéo, mặt khác tạo sự cạnh tranh cũng như vấnđề trách nhiệm trong thi hành nhiệm vụ của mỗi tổ chức.
Mô hình thứ nhất: Tổ chức thi hành án bán công
Đối với mô hình tổ chức THADS bán công, haichủ thể đều có thẩmquyền THADS là: cơ quan THADS của Nhà nước và tổchức, cá nhân thi hành án tưnhân (TPL). Trong đó, sự tham gia vào quá trình thi hành án của các tổ chức, cánhân thi hành án tư nhân không nhằm thay thế cho các cơ quan thi hành án Nhànước,mà chỉ mang tính chất hỗ trợ, giảm áp lực cho cơ quan công quyền và vềlâu về dài, khiđápứngđược nhữngđiềukiện nhất định, thì có thể tiến tới việc XHH một cách triệt để77.
Với mô hình tổ chức thi hành án này, Nhà nước bên cạnh việc không ngừng củng cố, kiện toàn hệ thống cơ quan THADS ngày càng vững mạnh, thì cần chia sẻ cho các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân một số công việc mà Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp thực hiện. Tuy nhiên việc chia sẻ như thế nào, phạm vi và thẩm quyền ra sao, thì cần phảicó hướng dẫn cụthể. Theo đó, đối với những loại việc do cơ quan THADSchủđộngthi hành, khôngphụthuộc vào ýchícủađươngsựnhư: Cácbảnán, quyếtđịnhvềtrảlạitàisảnhoặcbồithường thiệt hại tài sản của Nhà nước, phạt tiền, tịch thu và án phíthì không XHH, mà do cơ quan THADS trực tiếp tổ chức thực hiện. Đối với những công việc còn lại màcơ quan THADSchỉra quyếtđịnhkhiđươngsựcóđơnyêu cầu, thì nên XHH, giao cho các tổ chức phi Nhà nước tổ chức thực hiện.
76 Nguyễn Đức Chính- TPLTPL- Ông là ai?- Tạp chí DCPL số chuyên đề TPLTPL, 2014., tr.15
77 Alekand, Anneli, “The Estonian Universal Enforcement Procedure and the Bailiff as the Taker of Procedural Decisions.” Juridica International, 2008, tr.24:
Tác giả Alekand nhận định rằng việc tồn tại song song hai thiết chế THADS là TPL và Cơ quan thi hành án không những không đối lập, mà còn tạo ra cơ chế phối hợp rất nhuần nhuyễn, là hình mẫu cho việc liên kết
thực hiện các quan hệ công – tư để chia sẻ gánh nặng cho chính quyền.
Một số nước Trung Âu, Đông Âu như Bulgaria, Hungary, Cộng hòa Séc, Ba
Lan, Slovakia, Slovennia… đã XHH cơ quan THADS thànhhệthống các văn phòng TPL là nghề tự do, thực hiện các công việc tổ chức thi hành án, tống đạt,
lậpvi bằng và cho phép sửdụng vănbảnvi bằng của TPL nhưmộtloại chứng cứ. Tiểu biểu trong nhóm này là mô hình TPL Cộng Hòa Bulgaria. Trước đây, Bulgaria áp dụng mô hình thi hành án nhà nước, do Tòa án quản lý, từ năm 2005, Bulgaria bắt đầu chuyển sang mô hình TPL. Khi thực hiện chuyển đổi, Nhà nước ban hành Luậtvềtổchức TPL, tạođiềukiện cho các CHV chuyển sang nghềTPL. Hiện nay, hệ thống cơ quan THADS tại Bulgaria tồn tại song song gồm cơ quan thi hành án Nhà nước và văn phòng TPL tư nhân. Hầu hết, những TPL đang hành nghề là những người đã là CHV của thi hành án nhà nước. Hiện Bulgaria cókhoảng 160 văn phòng TPL. TPL được pháp luật quyđịnhquyền và nghĩavụbình đẳng và có chức năng, quyền hạn như CHV, nhưng là đơn vị hạch toán độc lập, tạo công ăn việc làm cho xã hội và đóng thuế cho Nhà nước.
Ưu điểmrấtlớn của mô hình tổ chức thi hành án bán công là hạnchế sựđộc quyền trong THADS. Sự tham gia của các tổ chức thi hành án tư nhân vào quátrình THADSsẽ góp phần nâng cao chấtlượngTHADS nhờ cósự cạnh tranh giữa các cơ quan, tổ chức thi hành án; làm thay đổi phong cách, lề lối làm việc, khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu nhân dân. Đồngthời, giúp giảmtảikhối lượng công việccủacơ quan THADS, góp phần giải quyết tình trạng tồn đọng án. Theo đó, những công việc chỉ mang tính chất thủ tục,đãđượcquy định một cách cụ thể, chặt chẽ trong luật, dù có là CHV hay tổ chức thi hành án tư nhân tiếp nhận thì kết quả giải quyết cũng sẽ là như nhau, vì vậy, đối với những công việc như thếnày thì nên giao chotổchức thi hành án tư nhân thực hiện sẽ giúp CHV không phải dành quá nhiều thời gian cho các vụ việcchỉmang tínhthủtục, làm giảm hiệu quả công việc mà công chứcđócó thể làmđược,lãng phí tài nguyên quốc gia. Thêm vào đó, tổ chức thi hành án tư nhân do hoạt động không phụ thuộc vào kinh phí cung cấp từ Nhà nước như các cơ quan THADS nên còn có thể trở thànhmộtnguồn thu thuế đángkể cho ngân sách quốc gia.Mặcdù có những ưu điểm như vậy, tuy nhiên, nếu không có kế hoạch
tổ chức bộ máy THADS một cách cụ thể, chặt chẽ, thì việc đan xen phạm vi công việc giữa cơ quan THADS và tổchức thi hành án tư nhânsẽ dễ dẫnđếntình trạng bộ máy THADS cồng kềnh, phạm vi công việc hoạt động bị chồng chéo vàthậm chí, còn có tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa CHV và tổ chức thi hành án tư nhân.
Mô hình tổ chức THADS tư nhân
Đây là mô hình được tổ chức chủ yếu theo quy chế TPL, TPL do Nhà nước bổ nhiệm, là người hành nghề theo quy chế tự do, Nhà nước không trả lương màhưởng thù lao do luật định. TPL hành nghề độc lập, không hưởng lương từ ngân sách nhà nhưngđược nhà nước bổ nhiệm, trao quyền để thực hiệnmộtsốcông việc. Trong quá trình thực hiện nhiệmvụ đặc biệtlà khi tổ chức thi hành án, TPL có quyền yêucầucác cơ quan công quyềnhỗtrợ, thực hiện các hoạtđộngmà pháp luật quy định thuộc nhiệm vụ, quyền hạn nghề nghiệp của TPL. Điển hình của các nước theo mô hình này là Cộng hòa Pháp, Canada, Bỉ, Hà Lan..78
Mộttrong các quốc gia tiêu biểu lựachọn hoạtđộngtheo mô hình nàyđóchính là Cộng hòa Pháp. Đây là nơi có nghề TPL tồn tại và phát triển lâu đời nhất trên thế giới từ khoảng năm 1705, khi chế định pháp luật về TPL chính thứcđược ban hành, một bản áncủaTòa án Pháp có hiệulựcpháp luật, thì sẽ có trong đónội dung như sau: “Do vậy, nước Cộng hòa Pháp ủy quyền và yêu cầu tất cả các TPL thi hànhbảnán này, yêucầucác Viện trưởng Viện côngtốbên cạnh các Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng và các Tòa án phúc thẩm, và tất cả các sĩ quan chỉ huy lực lượng công hỗ trợ thi hành bản án này nếu được yêu cầu theo đúng quy định của pháp luật”79. THADS ở Pháp do tổ chức TPL đảm nhiệm. Ở Pháp quan niệm việc thi hành án là công việc có tính chất tư, chỉ liên quanđếncácđương sự với nhau, Nhà nước không can thiệp trực tiếp tới những công việc này, dođó,việc thi hành ánđược thực hiện thông qua TPL, chính vìlẽ đóở Pháp, không có các công chức thi hành án chuyên nghiệp, mà hoạtđộngthi hành án hoàn toàn được giao cho các TPL, những vấn đề về nguyên tắc hoạt động chung
78 Chu Thị Hoa (2016), Pháp luật THADS trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, Đề tài tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Tr.51
79 Dương Thị Thanh Mai (2018), xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng luật TPL, Báo cáo phúc trình đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học pháp lý, Bộ tư Pháp, Tr.18.
và bổnhiệm TPL sẽ do Nhà nước ban hành trong các vănbảnpháp luật, còn
những vấn đề về tổ chứchoạt động, chi phí hoạtđộng,… sẽhoàn toàn do các tổchức TPL tự quyết định.
Có thể thấy, việc XHH toàn bộ THADS đồng nghĩa với việc không còn tồn tạicơ quan THADS, mà toàn bộ hoạt động THADS được chuyển giao cho TPL thực hiện. Theo đó, TPL không chỉ thi hành các bản án, quyết định dân sự, mà còn
làm một số công việc khác có tính chất bổ trợ cho hoạt động tư pháp, đặc biệt là hoạt động xét xử: Tống đạt giấy tờ, các văn bản, quyết định bao gồm giấy triệu tập ra tòa, các vănbảntrong quá trìnhtốtụng,bảnán, quyếtđịnhcủaTòa án; soạn thảo các văn bản tư chứng thư, tư vấn, tham gia tố tụng, lập vi bằng. Tuy nhiên, việc thi hành án cần có sự giám sát của Nhà nước, đó là sự giám sát trực tiếp của Thẩm phán thi hành án.
Ưuđiểmcủa mô hình tổ chức thi hành án tư nhân là vì mức độ XHH cao, ngân sách Nhà nước đỡ tốn kém, giúp giảmtảiáp lực lên các Cơ quan THADS; còn TPL do Nhà nước bổ nhiệm, nhưng thực hiện công việc theosựtriệu dụng của người dân, thu phí từ hoạt động của mình, đồng thời, đem lại một khoản thuế
lớn cho Nhà nước, mà Nhà nước không phải tốn chi phí để duy trì hoạt động của TPL80. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này, là để cóthể tổ chức được, thì ởnhững quốc gia đó, người dân phải có ý thức pháp luật cao và đội ngũ bổ trợ tưpháp có năng lực tốt, có hệ thống luật pháp hiệu quả,tứclà, muốn XHHTHADSđược triệtđể,thì cần phải đáp ứng được các điều kiện như: Nền kinh tế – xã hội phát triểnở một mứcđộ nhấtđịnh, môi trường pháp lý, văn hóa pháp lý, đặc biệt là ýthức tuânthủpháp luậtcủa ngườidân và cơ quan, tổchức phảirấtcao, hệthống pháp luật phải đồng bộ, đây là vấn đề mà không phải quốc gia nào cũng cóthể đáp ứng ngay được.
Từ những phân tích trên cho thấy, mỗimô hìnhtổchức THADS nêu trênđều có những ưu, khuyếtđiểmnhất định. Đối với mô hình tổ chức thi hành án tư nhân, ưuđiểmvượt trội là vìmứcđộ XHHrấtcao nên ngân sách Nhà nướcđỡ
80 Dương Thị Thanh Mai (2018), xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng luật TPL, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ,Bộ Tư pháp, tr.18.
tốn kém, giúp giảmtảiáplựclên các cơ quan THADS, nhưng để có thể thực hiệnđượcmô hình tổ chức này thì những quốc gia đó, người dân phải có tính ý thức pháp luật cao và độingũbổtrợ tư pháp có nănglựctốt, cóhệ thống luật pháp hiệu quả.Tức là, muốn XHHTHADS được triệtđể thì cần phảiđáp ứng được cácđiềukiện như:nềnkinh tế – xã hội phát triểnở một mức độ nhất định, môi trường pháp lý, văn hóa pháplý, đặcbiệt là ý thức tuân thủ pháp luậtcủangười dân vàcơ quan, tổ chức phải rất cao, hệ thống pháp luật phải đồng bộ.
Còn đối với mô hình tổ chức thi hành án bán công, sự tham gia của các tổchức thi hành án tư nhân vào quá trình THADS sẽ góp phần nâng cao chất lượng THADS nhờ có sự cạnh tranh giữa các cơ quan, tổ chức thi hành án; làm thay đổi phong cách, lề lốilàm việc, khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu nhân dân. Đồngthời, giúp giảmtảikhốilượngcông việc của cơ quan THADS, góp phần giải quyết tình trạng tồn đọng án. Theo đó, những công việc chỉmang tính chất thủ tục, đã được quy định một cách cụ thể, chặt chẽ trong luật, thì nên giao cho tổ chức thi hành án tư nhân thực hiện sẽ giúp CHV không phải dành quá nhiều thời gian cho các vụviệcchỉmang tínhthủtục, làm giảm hiệu quả công việc mà công chứcđócó thể làmđược,CHVchỉcầntập trung vào những công việcđòihỏisử dụng các biện pháp cưỡngchế, thuhồitàisảncủa Nhà nước. Không những vậy, tổ chức thi hành án tư nhân do hoạt động trên cơ sở“lấy thu bù chi”, không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước nên nếu phát triển tốt thì Nhà nước sẽ thu được một khoản thuế không hề nhỏ phục vụ cho lợi ích quốc gia. Để có thể phát huy tối đa hiệu quả mà mô hình thi hành án tư nhân này manglạithì Nhà nước cần phải ban hành cơ sở pháp lý đầy đủ, trong đó quy định mộtcách cụ thể về cách thứctổchức hoạt động, phạm vi hoạtđộngvà những biện pháp được áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệmvụ đượcgiao để tránh tình trạng chồng chéo về thẩm quyền và các thủ tục hành chính rườm rà gây cản trở cho hoạt động của mô hình này.
Đối với ViệtNam, truyền thống và tâm lý của người dân vẫn chưa quen với mô hình tổ chức thi hành án tư nhân, ngườidân đến thời điểmhiện nay phần lớn vẫntin vàobộmáy công quyền trong việcbảovệcác quyềnlợithiết thâncủa
mình, vẫn còn nặng nề tư tưởng phân biệt giữa Nhà nước và tư nhân, tâmlý “ỷnại” vào các cơ quan công quyền, bên cạnhđótâm lý của chính nhữngngườiđang làm trong các cơ quan THADS cũng không muốn có sự chuyển giao, chia sẻ “quyềnlực”thìviệc XHH toànbộlà mộtbài toán khó trong thời điểmhiện nay. Thêm vào đó, vấn đề khó khăn đặt ra hiện nay nếu như tiến hành XHH toàn bộ tổ chức THADS, đó là số lượng CHV, cán bộ đang làm trong các cơ quan thi hành án sẽ được giải quyết ra sao? đồng thời với điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay, trìnhđộdân tríđã phùhợpđể tiến hành XHH toànbộđược hay chưa vẫn còn phải cân nhắc thêm, khi mà điều kiện kinh tế – xã hội cũng như trình độ dân trí của nước ta vẫncòn chưa đồngđềuở các vùng, khu vực, thànhthịvà nông thôn. Với cơ chế “xin – cho” tồn tại trong một thời gian dài ở nước ta, cùng với việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa hiệu quả, không đến nơi đến chốn đãdẫn đến ngườidân không được tiếp cận một cách đầy đủ các quy định của pháp luật, cộng thêm tâm lý e ngại khi đến cơ quan công quyền, dẫn đến việc sử dụng dịch vụ công, dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho mình là một điều gì đó xa
lạ.Thêm vào đó, TPL là lĩnh vực mới nên một số quy định của pháp luật sau một thời gian triển khai thực hiện đã phát sinh một số tồn tại, hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, cần có sự tổng kết, đánh giá để làm cơsởcho việcsửa đổi, bổ sung, hoàn thiện; đội ngũ TPL vẫn còn mỏng về số lượng, hạn chế về kỹ năng, kinh nghiệm, dễ dẫnđếnsai sót trong quá trình hành nghề; trong khiđó,công chức làm công tác quản lý hoạtđộngTPL ở mộtsốđịa phương còn ít kinh nghiệm thực tiễn, định kỳ chuyển đổi vị trí công tác nên còn lúng túng khi triển khai thực hiện nhiệm vụ81.
Chính vì vậy, theo Nghiêncứusinhtạmthời trong giaiđoạnhiện nayđến hếtnăm 2030 chúng ta vẫn nên giữ mô hình THADS bán công như hiện nay, tức là vừacó sự tham gia của các tổchức thi hành án tư nhân (TPL) vào quá trình THADS bên cạnh cơ quan THADS của Nhà nước. Bởi vì từ nayđến năm2030 chúng ta cần tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về TPL sau 10 (mười) năm triển khai Nghịđịnh08/2020/NĐ-CP, sau đó, nếunhư hệ thống pháp luậtđược xây dựng
81 Báo cáo của Chính phủ về công tác Thi hành án dân sự năm 2022
đồngbộ,ýthức pháp luậtcủangườidân ngày càng cao lên,độingũ TPL ngày càng lớn mạnh, kinh tế- xã hội ngày càng phát triển thì chúng ta có thể chuyển đổi sang mô hình XHH một cách triệt để gắn với phát triển bền vững nghề TPL.
1.4.2. Nội dung xã hội hoá hoạt động thi hành án dân sự
XHHTHADS đang diễn ra trong giai đoạn hiện nay đã được khẳng định nhưlà một chủ trương, giải pháp cải cách tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước, tăngcườngtrách nhiệm và tham gia của đôngđảonhân dân mà trọng tâm là chuyển những công việc khôngcầnthiết phải do Nhànướctrực tiếp thực hiện cho xã hội. Đây là một hướng đi tất yếu trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường hội nhập quốc tế của đất nước ta hiện nay. Tuy nhiên, XHH như thế nào? XHH đến đâu? Và những công việc nào có thểchuyển giao chotổchức tư nhân? Những công việc nào vẫn nên do Nhà nước trực tiếp tổ chức thực hiện là một bài toán khó được đặt ra đối với các nhà làm luật. Bởivì, vớisựtham gia của cáctổchức, cá nhân tư nhân vào quátrình THADS, được Nhà nước trao cho thẩm quyền thi hành án và được sử dụng quyền lực Nhà nước để tổ chức thi hành án, những quyền mà trước đây chỉ thuộc về cơ quan THADS Nhà nước, nếu như không được pháp luật quy định một cách chi tiết, cụ thể về phạm vi, địa bàn hoạt động; thẩm quyền được chuyển giao,những công việcđược thực hiện, thì có thểdẫnđếnquá trình triển khai không đúng chủ trương, đường lối, dẫn đến vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của ngườidân. Trongđó đặcbiệt lưu ýđến vấn đề nhiệmvụ,quyền hạncủa tổchức thực hiện XHH, quyđịnhrõ ràngvềquyền yêucầucơ quan nhà nước cóthẩm quyền hỗ trợ và thực hiện một số công việc về cưỡng chế trong thi hành án, bảo đảm quyền lực nhà nước do Nhà nước thực hiện.
XHH hoạt động THADS bao gồm: XHH hoạtđộng trựctiếp liên quan đến THADS và XHH hoạt động hỗ trợ THADS.
HoạtđộnghỗtrợTHADS được hiểu là các hoạtđộngchuyên môn, nghềnghiệphỗtrợcác cơ quan Nhànướcthực hiện nhiệm vụ, quyềnhạntrong quátrình tổ chức THADS, đồng thời hỗ trợ các bên đương sự, người yêu cầu về mặt pháp lý trong việcbảovệcác quyền vàlợiíchhợppháp. Quá trìnhtổchức
THADS cóthểảnh hưởngđếnquyền vàlợiíchcủangườiphải thi hành án hoặc những người liên quan, sự tham gia của các tổ chức hỗ trợ thi hành án sẽ giúp cho vụ việc được giải quyết một cách khách quan, chính xác và hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại cho các bên.
XHH hoạt động hỗ trợ THADS bao gồm các quy định đảm bảo quyền của người dân, người yêu cầu, các bên đương sự trong hoạt động THADS qua đó tạo điềukiệnđểngườidân thực hiệntốthơn các quyền và lợiích của mình;đồng thời huy động, tổ chức sự tham gia của nhân dân và các tổ chức xã hội để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác thi hành án, góp phần thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp. Chính vì lẽ đó, pháp luật bên cạnh những biện pháp khuyến khích tham gia cungcấpdịchvụhỗtrợTHADS thì cũngcầnbảođảmcác điềukiện, tiêu chuẩn, quy trình chặtchẽcho việc cungcấpdịchvụnhưngmặtkhác phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ dàng tiếp cận cho cá nhân, tổ chức cókhảnăng và mong muốn tham gia; quy định chế độ trách nhiệm và các chế tài sẽ áp dụngđốivớinhững cá nhân, tổchức tham gia hỗtrợTHADS đểbảođảmviệc thực hiện có chất lượng, quyền và lợiích của các bên liên quanđược bảovệ. XHH hoạtđộnghỗtrợTHADS bao gồm: XHH hoạtđộngbánđấugiá tài sản, XHH hoạt động định giá tài sản, XHH hoạt động bảo quản tài sản trong THADS. Tuy nhiên, trong phạm vi của luận án thìnộidung XHH hoạtđộnghỗtrợTHADS sẽ được nghiên cứu sâu khi có điều kiện. Luận án tập trung luận giải nội dung XHH hoạt động trực tiếp liên quan đến THADS, cụ thể:
Thứ nhất, XHH hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản văn bản THADS
TạiPháp, TPL thực hiện tốngđạtbắtbuộc (khôngđược từchối) các văn bản, giấytờcủa Tòa án (jbudicial documents), bên cạnh đó, TPL cũng có thểthỏa thuận với khách hàng (cơ quan, tổ chức, cá nhân) để tống đạt các văn bản,
tài liệu khác (extra –judicial documents). TPL có thể sử dụng phương thức tốngđạtkếthợpvớiphương thức thông báo bằngđườngbưuđiệnnhưngvềnguyên tắc, phải sử dụng phương thức tống đạt trong đại đa số các trường hợp để thông
báo cho đương sự và thi hành bản án, quyết định của tòa án. Trong pháp luật một sốnước,việc thông qua TPL tốngđạtlà quyđịnhmang tính chấtbắtbuộc ảnh
hưởngtrực tiếpđếngiá trịpháp lý của hành vi82. Theo đó, pháp luật quy định, không ai có thể bị triệu tập ra Tòa án nếu chưa nhận được giấy triệu tập của Tòaán do TPL tống đạt.
Một số nước Trung Âu, Đông Âu như Bulgaria. Hungary, Cộng hòa Séc, Ba
Lan, Slovakia, Slovennia…đãXHH cơ quan THADS thànhhệthống các văn phòng TPL là nghề tự do, thực hiện các công việc tổ chức thi hành án, tống đạt, lập vi bằng và cho phép sử dụng văn bản vi bằng của TPL như một loại chứngcứ83.
Liên bang Nga cũng đã công nhận và phát triển TPL như một nghề từ năm 1997 với việc ban hành Luật về TPL, theo đó TPL thực hiện 02 nhiệm vụ chính là tống đạt văn bản của Tòa án, các cơ quan khác, các việc phục vụ phiên tòa xét xử và thi hành bản án, quyết định của Tòa án84.
Còn tại Hồng Kông, TPL cùng các trợ lý của họ thực hiện việc tống đạt giấy triệu tập và các văn bản pháp luật quan trọng khácđến cácbên đương sự theo chỉthịcủa Tòa án hoặc theo yêucầucủamộtbên tranh chấp. Cóthểtómtắtmột cách ngắn gọn, đội ngũ TPL chịu trách nhiệm tống đạt các giấy triệu tập hoặc các giấytờmang tính pháp lý và thực hiện việc thi hành quyếtđịnhvà bảnán của Tòa án85.
TạiViệt Nam, hoạtđộngcấpvà tốngđạtvăn bản, quyếtđịnhtốtụng, THADS theo pháp luật THADS và tốtụng dân sựthuộc thẩm quyền của Chấp hành viên Cơ quan THADS. Ngày 14/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 24/2008/QH12 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó, giao cho Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định TPL tại một sốđịa phương. Ngày 24/7/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, trong các nội dung công việc được chuyển giao cho TPL có nội dung “tống đạt các văn bản, giấy tờ của cơ quan THADS”. Do đó, theo pháp luật Việt Nam, hoạt động
82 Trong thủ tục tố tụng của Cộng hòa Pháp, bên khởi kiện phải thông qua TPLTPL gửi cho bên bị kiện giấy mời ra tòa (assignation), thông báo vụ việc đã được bên nguyên đơn khởi kiện ra tòa.
83 NguyễnĐức Chính, Nguyễn Tiến Pháp (2017), Phạm vi, thẩm quyền hoạt động của TPLTPL trong giaiđoạn thí điểm và định hướng hoàn thiện trong giai đoạn tiếp theo, Chuyên đề 3.1 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác giả Dương Thị Thanh Mai (2018), xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng luật TPL, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp.
84 Viện Khoa học pháp lý-Bộ Tư pháp (2015), Đề án khảo sát, đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thíđiểm chế định TPL tại một số tỉnh, thành phố, Phụ lục số 2
85 Viện Khoa học pháp lý-Bộ Tư pháp (2015), Đề án khảo sát, đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thíđiểm chế định TPL tại một số tỉnh, thành phố, Phụ lục số 2, Trang 68
cấp, tống đạt văn bản tố tụng và THADS do hai chủ thể có thẩm quyền tiến hành làcơ quan THADS và văn phòng TPL.
Cóthểthấy, trong tổ chức THADS, việc cấp, tốngđạt, thông báo thi hànhán có ý nghĩa rất quan trọng. Qua việc cấp, tống đạt, thông báo, người tiếp nhận biết được quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình để thực hiện. Vì vậy, để tổ chức THADS thì cơ quan THADS phải tiến hành cấp, tống đạt, thông báo văn bản thi hành án cho các đương sự, ngườicó quyền lợi, nghĩa vụliên quan đếnviệc thi hành án. Cóthểnói cấp, tốngđạt, thông báo thi hành án là việc ngườicó thẩm quyền thực hiện việc chuyển tải giấy tờ chứa đựng thông tin về thi hành án chođươngsựtheo trình tự, thủtục nhất định, nhằmbảođảmcho việc thi hành ánđúng pháp luật, bảo đảmquyền và lợiích hợp pháp của các đương sựtham gia vào việc thi hành án. Đồngthời, việc cấp, tốngđạt, thông báo thông tinvềthi hành án cho các đương sự biết và tham gia vào việc thi hành án sẽ kịp thời bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của họ, hạn chế được những khiếu nại, tố cáo không đúng pháp luật về thi hành án của đương sự; giảm thiểu hoạt động giải quyết khiếu nại, tốcáo về thi hành án của cơ quan thi hành án và cơ quan Nhà nước khác có thẩm quyền.
Thực hiệnchủtrương XHHTHADS, giảmbớtgánh nặng cho ngân sách Nhà nước, pháp luật quy định mở rộng hình thức cấp, tống đạt, thông báo cũng như phạm vi chủ thể có thẩm quyền thực hiện. Theo đó, ngoài CHV của cơ quan THADS thì tổ chức thi hành án tư nhân mà cụ thể hiện nay là TPL cũng có chức năng cấp, tốngđạt, thông báo các vănbảntốtụng và văn bản THADS. Việc XHH các thủ tục về cấp, tống đạt, thông báo với sự tham gia của các tổ chức thi hành án tư nhân có vai tròrấtlớntrong việc giảmbớtnhững công việc hành chính khôngcầnthiết nhưnglạitiêutốnquá nhiều thời gian của CHV.Cụthể, đối với Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án, việc giao nhận, tống đạt các văn bản giấy tờ bao gồm: Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, quyết định trong trường hợp xét xử vắng mặt đương sự của Tòaán. Còn đối với cơ quan THADS, cũng giống như Tòa án, về số lượngvăn bản cầncấp, thông báo, tốngđạtcủa cơ quan THADS thông thườngnếumộthồsơ đơngiản cần ban hành 03 loại quyết định, giấy báo;Hồsơ cưỡngchế phải ban
hành 15 loại quyết định, giấy báo, giấy mời, thông báo. Những công việc này, mặc dù được đánh giá là quan trọng, nhưng đây chỉ là công việc mang tính chất hành chính, trong khi đó, đốivớihình thức cấp, tốngđạt, thông báo, giao nhận vănbảnqua con đường giao nhận trực tiếp thì mất rất nhiều thời gian, công sức của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, CHV, đặc biệt đối với người tham gia tố tụng cóđịa chỉ tống đạt xa, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thực hiện các hoạt động giải quyết vụ án của Tòa án, cơ quan THADS. Do đó, với việc tham gia của cáctổchức thi hành án tư nhânsẽgiúp Tòa án, cơ quan THADS giảm bớt những công việc hành chính không cần thiết để tập trung thực hiện hoạt động xét xử, THADS.
Chính vì lẽ đó để giảm được những ách tắc, quá tải trong công việc hiện nay của cơ quan thi hành án thì nên giao hoạt động cấp, tống đạt, thông báo cho các tổ chức thi hành án tư nhân thực hiện (hiện nay là TPL). Hoạt động của TPL sẽgiúp giảm tải công việc, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xétxửvà THADS. ĐốivớiTòa án, hoạtđộngcủa TPL trong việc tốngđạtvănbảntốtụng của Tòa ánđã góp phần làm giảm khốilượngcông việc phải tốngđạtđểThẩm phán, Thư ký tập trung vào công việc giải quyết, xét xử các loại vụ án, từ
đó góp phần bảo đảm việc xét xử được nhanh chóng, góp phần làm tăngsố lượng vụ việc được Tòa án giải quyết đúng thời hạn luật định, những hạn chế của việc gửivănbảntốtụng qua đường bưuđiệncũng được cơ bản khắc phục. Còn đối với cơ quan THADS, việc tống đạt văn bản của TPL còn giúp bảo đảm quyền lợi của các bên trong quá trình tổ chức thi hành án, giảm khiếu nại, tố cáo trong THADS.
Hiện nay, hình thức cấp, tốngđạt, thông báo văn bản tốtụng và THADSđược thựchiện theo 3 cách: Trực tiếp, qua bưu điện hoặcngười thứ ba được ủy quyền; niêmyếtcông khai; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, do nhiềuchủthể khác nhau thực hiện theo những cách thức và biện pháp khác nhau. Trong các hình thức trên, thì hình thức thông báo trên các phương tiện thông tinđạichúngđã đặtra nhiềuýkiến trái chiều trong việc thực hiện. Cóýkiến cho rằng, thông báo thông qua phương tiện thông tin đại chúng đã tạo điều kiện cho XHH công tác thi hành án vì thông báo thi hành án trên hệ thống truyền
thanh khôngchỉtácđộngtrựctiếp đến người phải thi hành án mà còn tácđộngđến mọi cánhân, tổ chức trong xã hội nhằm huy động họ tham gia tích cực vào quá trình giải quyết việc thi hành án, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thi hành án giải quyếtdứtđiểmvụán86. Cũng cóýkiến cho rằng, việc thông báo trên các phương tiện thông tinđạichúngchỉđược thực hiện khi“phápluật cóquy định” hoặc khi “đương sự có yêu cầu”, bởi việc thông báo này có thể sẽ ảnh hưởng đến uy tín của họ.
Bên cạnh đó, mộtvấnđềcầnphảiđặtra là cảCHV và TPL đềucó chức năng cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và THADS, vậy thì việc phân định thẩm quyền đó sẽ phải được giải quyết ra sao để không rơi vào tình trạng chồng chéolẫnnhau. Nếunhư ởcác nước khác có TPL hành nghềtựdo, độc lậpthìhoạt động cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng và THADS là chức năngđộc quyền, là nguồn thu nhập chính của văn phòng TPL, nhưngởViệt Nam, những công việc nàylạihoàn toàndựatrênsựthỏa thuận thông qua hợpđồng giữa Tòa án, cơ quan THADS với văn phòng TPL. Đồngthời, các loại giấy tờ, văn bảnđượcgiao cho TPL tống đạt cũng chỉ trong phạm vi hạn chế 87, trong khiđó, CHV lại có thể thực hiện những hoạt động này thì lại không bị hạn chế. Chính vì lý do này có thể dẫn tới sự cạnh tranh không công bằng giữa CHV và TPL vànhư vậy ảnh hưởng rất nhiều đến tính ổn định về công việc, thu nhập và nhân lực của các văn phòng TPL, mặt khác, những tác động tích cực được mong đợi từ việc TPL tống đạt giấy tờ tố tụng sẽ hỗ trợ, giảm tải công việc cho các cơ quan Toà án, thi hành án sẽ không như ý muốn và mục đích thiết lập lại mô hình TPL sẽ khôngđạt được kỳ vọng như đã đặt ra.
Thứ hai, XHH hoạt động xác minh điều kiện THADS
Tại Bulgaria, trên cơ sở yêu cầu của khách hàng, TPL khi tổ chức thi hànhán có quyền xác minh tình trạng tàisảncủa ngườiphải thi hành án, đưara các
86 Tạ Quỳnh Anh (2015), “XHHTHADS ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
87 Nghị định 7821 hợp nhất – Điều 21. Thẩm quyền, phạm vi tốngđạt:1/ Văn phòng TPL được quyền thỏa thuận để tống đạt văn bảncủa Tòa án, Cơ quan THADS các cấp trênđịa bàntỉnh, thành phố trực thuộc Trungương nơi đặt Văn phòng TPL, bao gồm: Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bảnán, quyết định trong trường hợp xét xử vắng mặt đương sự của Tòa án; quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập của Cơ quan THADS. Trong trường hợp cần thiết, trên cơ sở đề nghị của Tòa án, Cơ quan THADS, Văn phòng TPL có thể thỏa thuận để tống đạt các loại văn bản, giấy tờ khác.
yêu cầu, thu thập các tài liệu, giấy tờ, đưa ra các thủ tục thi hành án cũng như trởthành người bảo quản tài sản đã được gắn thẻ88.
Ở Việt Nam, việc xác minh điều kiện thi hành án trước khi tiến hành XHH thuộc trách nhiệm của ngườiđược thi hành án và CHV. Cóthểthấy, xác minhđiềukiện thi hành án là mộttrong những hoạtđộngnghiệpvụrấtquan trọng trong quá trìnhtổchức thi hành án, được CHV thực hiệnđểthu thập, xácđịnh thông tin về tài sản, thu nhập, địa chỉ, các điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án và các thông tin khác có liên quan làm cơ sở cho việc tổ chức thi hành án.Ýnghĩa quan trọng của hoạtđộngxác minhđiềukiện thi hành ánthểhiện ở chỗ kết quả xác minh điều kiện thi hành án là căn cứ mang tính chất quyết địnhcho các tác nghiệp tiếp theo cũng như quyếtđịnh kết quảtổchức thi hànhán, là cơ sở để xem xét ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án, hoãn thi hànhán, đình chỉ thi hành án, hoặc ra các quyết định áp dụng biện pháp đảm bảo, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định.
Việc xác minh điều kiện thi hành án là mộthoạtđộngphức tạp, cần cósựphối hợp củanhiều cơ quan, tổchức có liên quan và theo quyđịnhthìngườiđượcthi hành án có trách nhiệm phải tự mình xác minh, nếu người được thi hànhán đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của ngườiphải thi hành án thì có thể yêucầuCHV hoặcủyquyền cho cá nhân, tổ chức khác tiến hành xác minh và phải chịu phí xác minh. Mặc dù, quyđịnhnày là phùhợpvới chủtrương XHHTHADS trongcảicách tư pháp,đồng thời cũng phù hợp với nguyên tắc “việc dân sự là việc đôi bên” với lý do, trong THADS, người được thi hành án đượchưởng lợi từ việcthi hành án nên cónghĩa vụ cung cấp cho cơ quan thi hành án các thông tin về điều kiện thi hành án của ngườiphải thi hành án. Tuy nhiên, thực tế thì người được thi hành ánrấtkhócó thể tự mình xác minh điều kiện thi hành áncủa ngườiphải thi hành án, nhất là xác minh tại các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức tín dụng.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Xã hội hóa Thi hành án dân sự ở Việt Nam

