Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc ngày càng sâu rộng như hiện nay, cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo cho việc duy trì tính năng động và hiệu quảcủa nền kinh tế. Pháp luật và chính sách về cạnh tranh là một trong các bộ phận quan trọng của nền tảng pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường. Việc chuyển đổi sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận sựcạnh tranh khốc liệt trên thương trường. Trong đó có không ít những hành vihạn chếcạnh tranh nhằm tối đa hóa lợi nhuận độc quyền, thậm chí là loại bỏ những đối thủcạnh tranh khác. Vì vậy chúng ta cần có sự can thiệp của nhà nước trong việc điều tiết cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật về xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh nói riêng chính là công cụ quan trọng nhất trong hệ thống chính sáchđiều tiết cạnh tranh của Nhà nước. Điều này cũng đòi hỏi cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh một trách nhiệm hết sức nặng nề, đó là phát hiện điều tra xử lý triệt để các hành vi vi phạm, đảm bảo cho nền kinh tếmột môi trường cạnh tranh lành mạnh công bằng, bình đẳng.
Tuy nhiên thực trạng pháp luật và thực tiễn xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh vẫn còn nhiêu bất cập. Luật Cạnh tranh ra đời năm 2004 nhưng dường nhưchưa thực sự phát huy hết hiệu quả trong đời sống. Không ít các hành vi hạn chế cạnh tranh diễn ra trên thị trường nhưng chỉ có một số ít vụ việc được cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra và có biện pháp xử lý. Công tác giải quyết các vụ việc hạn chế cạnh tranh của cơ quan cạnh tranh Việt Nam còn rất nhiều bất cập thể hiện qua số lượng vụ việc hạn chế cạnh tranh được tiến hành điều tra và xử lý. Theo báo cáo kết quả10 năm thực thi Luật cạnh tranh của Việt Nam1 sau hơn mười năm có hiệu lực, cơquan cạnh tranh Việt Nam mới chính thức đưa ra kết luận xử lý đối với (04)bốn vụviệc hạn chế cạnh tranh. Trong đó có đến hai vụ việc, sau khi chuyển lên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh thì đình chỉ giải quyết vụ việc. Chỉ có hai vụ việc đưa rađược chế tài xử lýđó là vụ việc lạm dụng vịtrí độc quyền trên thị trường dịch vụcung cấp xăng dầu hàng không của Công ty xăng dầu hàng không Việt Nam Vinapco và vụ việc thỏa thuận ấn định giá dịch vụ bảo hiểm vật chất xe ô tô của mười chín
(19) DN bảo hiểm Việt Nam. Thêm vàođócác kết luận xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh trên thực tế cũng mới chỉ dừng lại ở việc “cảnh cáo”, số tiền phạt chưa mang tính răn đe, chưa xử lý theo đúng quy định pháp luật cạnh tranh. Cụ thể, trong vụ việc
lạm dụng vịtríđộcquyền củadoanh nghiệp kinh doanh xăng dầu hàng không Vinapco, và vụ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của 19 doanh nghiệp bảo hiểm, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh chỉ tuyên phạt ở mức 0,025% tổng doanh thu trong năm tài chính đối với mỗi hành vi vi phạm2. Trong khi đó mức xử phạt theo quyđịnh của pháp luật cạnh tranh tại thời điểm xử phạt lên đến 05% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm3. Quy trình tố tụng, kéo dài, cũng làmột trong những hạn chế khiến việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hạn chế cạnh tranh gặp nhiều khó khăn.
Do đang trong quá trình thay đổi và hoàn thiện, nên pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh còn nhiều hạn chế, bất cập khiến cơ quan cạnh tranh trong quá trình áp dụng luật gặp nhiều lúng túng, vướng mắc. Mặc dù vậy, trong những nỗ lực gần đây để nhằm tăng cường khả năng thực thi luật cạnh tranh, cơ quan nhà nước cóthẩm quyền đã và đang từng bước xây dựng và hoàn thiện hơn nữa quy định pháp luật liên quan đến xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Việc ban hành Luật Cạnh tranh 2018 đánh dấu một trong những chuyển biến lớn đối với pháp luật cạnh tranh Việt Nam. Tuy nhiên, mặc dù Luật Cạnh tranh năm 2018 đã có hiệu lực từ ngày 01/07/2019, nhưng các văn bản hướng dẫn thi hành luật như Nghị định số35/2020/NĐ-CPhướngdẫn chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh sửa đổi, Nghịđịnh số 75/2019/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh chỉmới được ban hành và có hiệu lực pháp luật, trong khi đó Dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban cạnh tranh quốc gia vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và lấy ý kiến góp ý. Những văn bản pháp luật này chủ yếu được ban hành nhằm thay đổi các quyđịnhvề xử lý vụ việc cạnh tranh sau một thời gian dài thực thi đã bộc lộ rất nhiều hạn chế. Các điểm mới tiêu biểu có thể kể đến trong các văn bản này, đó là những quy định về mô hình cơ quan cạnh tranh, cách thức tính tiền phạt, mức tiền phạt đối với các hành vi vi phạm. Ngoài ra còn có các quy định pháp luật nhằm thay đổi cơ chế làm việc, cách thức phối hợp của các cơ quan cạnh tranh trong xửlý hành vi hạn chếcạnh tranh. Bên cạnh đó Bộluật hình sự2015 sửa đổi năm 2017, chính thức có hiệu lực từngày 01/01/2018 cũng lần đầu tiên ghi nhận tội phạm về cạnh tranh. Những điểm mới trong
các quy định pháp luật này được kỳ vọng sẽ tạo ra bước tiến mới trong công tác thực thi pháp luật cạnh tranh nói chung và xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nói riêng.
Với những lý do trên, tác giả cho rằng việc triển khai đề tài:“Pháp luật về xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam” ở bậc Tiến sỹ sẽ trở thành một công trình nghiên cứu có giá trị về mặt khoa học pháp lý và giá trị thực tiễn, góp phần thúc đẩy công tác thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh, từ đó đưa ra các giải pháp có giá trị tham khảo nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ởViệt Nam.
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định bao gồm:
– Làm rõ các vấn đề lý luận về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh;
– Phân tích những vấn đề pháp lý liên quan đến xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh; – Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
ở Việt Nam;
– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượngnghiên cứu của luận án là những nội dung pháp luật liên quan đến xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh, thực tiễn ban hành và thực thi pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam, kinh nghiệm thế giới trong việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh và xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh.
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Về nội dung, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu tập trung vào những vấn đềpháp lý liên quan đến xử lý các hành vi vi phạm về hạn chế cạnh tranh như nguyên tắc áp dụng, các hình thức xử lý bao gồm cơ quan có thẩm quyền xử lý, trình tự thủ
tục xử lý và chế tài xử lý. Tuy nhiên đối với hình thức xử lý hình sự và kiện đòi bồi thường thiệt hại dân sự, tác giả luận án chỉ tập trung phân tích về căn cứ xử lý, cơ quan có thẩm quyền xử lý và chế tài xử lý mà không phân tích về trình tự thủ tục xửlý. Do trình tự thủ tục xử lý bằng biện pháp hình sự và bồi thường thiệt hại trong dân sự được áp dụng chung như đối với vụ án hình sự hoặc vụ việc dân sự theo quy định
của pháp luật tố tụng hình sự hay tố tụng dân sự. Còn đối với hình thức xử lý hành chính, do tính chất đặc biệt của tố tụng cạnh tranh, khác với tố tụng hành chính thông thường và được quy định chi tiết ngay trong luật cạnh tranh, do đó tác giả phân tích chi tiết về các nội dung có liên quan đến hình thức xử lý này.
Trong nội dung pháp luật thực định về hành vi hạn chế cạnh tranh, luận án chỉđưa ra các hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền. Pháp luật về kiểm soát và xử lý tập trung kinh tế không được phân tích trong quy định pháp luật thực định vì Luật Cạnh tranh 2018 đã tách riêng hành vi này ra khỏi nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh.
Về mặt không gian, Luận án nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam từ khi Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 có hiệu lực đến nay. Bên cạnh đó, Luận án cũng mở rộng phạm vi nghiên cứu pháp luật cạnh tranh của một số nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Hoa Kỳ, Úc và một số quốc gia trong cùng khu vực Châu Á như Nhật
Bản, Hàn Quốc…
Về mặt thời gian, luận án nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lýhành vi hạn chế cạnh tranh từ khi Luật Cạnh tranh năm 2004 có hiệu lực,đến Luật Cạnh tranh năm 2018 được ban hành, có hiệu lực, các văn bản hướng dẫn thi hành và dự thảo các văn bản hướng dẫn thi hành trong thời điểm hiện nay nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp mang tính khả thi trong tương lai.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận ánđã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, phương pháp phân tích, bình luận,diễn giải … được sử dụng chủyếu trong toàn bộ luận án, khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về hành vi hạn chế cạnh tranh và xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, khi phân tích, bình luận, diễn
giải các quy định pháp luật thực định về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh…
Thứ hai, phương pháp so sánh – đối chiếu, đặc biệt là phương pháp luật học so sánh được sử dụng để so sánh quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng của pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh tại một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Việc so sánh, đối chiếu sẽ giúp cho luận án chỉ ra các nội dung hợp lý trong các học thuyết pháp lý, các quan điểm của các luật gia, các quy định pháp luật thực định cũng như thực tiễn áp dụng của các quốc gia trên thế giới để từ đó có những đóng góp cụthể trong các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
tại Việt Nam.
Thứ ba, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, v.v… được sử dụng trong một số nội dung của luận án khi tìm hiểu thực trạng mô hình cơ quan cạnh tranh các quốc gia trên thế giới, khi bình luận, diễn giải các quy định pháp luật Việt Nam và nước ngoài trong
xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh…
Ngoài những phương pháp chủ yếu nêu trên, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung bao gồm: (i) Phương pháp nghiên cứu liên ngành, được luận án sử dụng trong quá trình nghiên cứu kết hợp các học thuyết kinh tế và pháp lý nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hành vi hạn chế cạnh tranh và pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, (ii) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin; (iii) Hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tưtưởngHồChí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp
quyền xã hội chủ nghĩa; …
5. Những đóng góp mới của Luận án
Về mặt lý luận, luận án đã có những đóng góp cơ bản sau:
Thứnhất, trên cơ sởtham khảo và kếthừa giá trịcủa kết quảcác công trình nghiên cứu khoa học đã đạt được của các nhà nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài, luận án phát triển hệ thống lý luận của pháp luật về xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh với những nội dung mới như: khái niệm về pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, nguyên tắc áp dụng trong xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, các hình
thức xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh…
Thứ hai, thông qua quá trình nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu các vấn đề lý luận về hành vi hạn chế cạnh tranh, pháp luật xử lý hành vi hạn hế cạnh tranh, Luận án đã chỉ ra được hậu quả của hành vi hạn chế cạnh tranh dẫn đến nhu cầu cần xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh bằng các hình thức xử lý khác nhau bao gồm xử lý hành chính, xử lý hình sự và xử lý bằng biện pháp kiện đòi bồi thường thiệt hại dân sự. Trong đó hình thức xử lý hình sự và kiện đòi bồi thường thiệt hại dân sự đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm là những nội dung lần đầu tiênđược phân tích một cách chuyên sâu và tổng thể ở nghiên cứu mang tầm luận án.
Thứ ba, luận án phân tích được những điểm mới về xử lý các hành vi hạn chếcạnh tranh trong các văn bản quy định pháp luật hiện hành như Luật Cạnh tranh 2018
và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác như Bộ luật hình sự 2015,… Có thể khẳng định luận án là công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu đầu tiên về các quyđịnh pháp luật mới được ban hành. Thông qua việc so sánh các quyđịnh củaLuật Cạnh tranh 2004 và Luật cạnh tranh hiện hành năm 2018, tác giả luận ánđãcho người đọc thấy được quá trình hình thành, phát triển và những chuyển biến tích cực trong pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nói riêng.

Về mặt thực tiễn, luận án đã có những đóng góp cơ bản sau:
Thứ nhất, luận án đánh giá một cách khách quan các quy định pháp luật hiện hành về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Trên cơ sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn
tồn tại, và nguyên nhân của những hạn chế trong xử lý hành vi hạn chế cạnh tranhởViệt Nam, đồng thời khẳng định tính tất yếu của việc hoàn thiện pháp luật về xử lýhành vi hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh đồng thời gắn với thực tiễn điều kiện kinh tế xã hội của Viêt Nam, luận án nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp phùhợp và khả thi không chỉ trên phương diện hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài của luận án được kết cấu thành các phần gồm:
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hành vi hạn chế cạnh tranh và pháp luật vềxử lý hành vi hạn chế cạnh tranh.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Những kết quả nghiên cứu về pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
1.1. Những kết quả nghiên cứu về mặt lý luận liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
1.2. Những kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh
2. Một số đánh giá, nhận xét tổng thể về tình hình nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài luận án
Thứ nhất, về phương pháp nghiên cứu của cácđề tài cóliên quan đến luận án: hầu hết các tác giả đều sử dụng một số phương pháp nghiêncứu về vấn đề xử lý hànhvi hạn chế cạnh tranh theo hướng tiếp cận các phương pháp như phương pháp luận khoa
học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; phương pháp thu thập, phân tích sốliệu,xửlý thông tin, chắt lọc thông tin (từthông tin xã hội đến thông tin các bài báo, bài viết, các quan điểm của Đảng, các văn bản quy phạm pháp
luật…); phương pháp tổng hợp, phân tích, bình luận, thống kê cũngđược áp dụng với tần suất khá nhiều để đưa ra những đánh giá về quan điểm, cách tiếp cận, nhìn nhận vấn đề cần nghiên cứu làm rõ của từng tác giả đã thực hiện các công trình nghiên cứu, đề tài, bài báo, bài viết. Đây được coi là ba phương pháp chính được nhiều tác giả sửdụng nhất khi nghiên cứu các vấn đề về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, về nội dung nghiên cứu: mặc dù tiếp cận theo các cách thức khác nhau với những nội dung khác nhau nhưng những công trình, bài viết của các tác giả đều thể hiện sắc xảo quan điểm của mình về vấn đề cần nghiên cứu, bình luận. Nhiều bài viết, công trình đã đưa ra được những kiến nghị, đề xuất phù hợp cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật trên thực tế. Tuy nhiên, xét ở góc độ tiếp cận toàn diện vấn đề lý luận và thực tiễn của xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh thì nhiều công trình, bài viết chưa giải quyết triệt để được điều này. Ở góc độ lý luận, nhiều công trình, bài viết mới chỉ dừng lại ởviệc đưa ra những phân tích riêng lẻ về cơ quan cạnh tranh, trình tự thủ tục xử lý hay chế tài xử lý mà chưa đưa ra được cái nhìn khái quát về “xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh” đặt trong mối tương quan so sánh vớinhững nội dung khác của “kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh”.
Thứ ba, bên cạnh việc giải quyết được một số vấn đề lý luận về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh thì các công trình khoa học đã công bố vẫn chưa đi sâu vào phân tích bản chất của hành vi hạn chế cạnh tranh hay cơ sở lý luận của việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Một số công trình cũng đã đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng tới việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, nhưng lại không mang tính khái quát và triệt để.
Những vấn đề lý luận này là tiền đề quan trọng, trả lời cho câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu mà luận án hướng tới.
Thứ tư, mặc dù đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu luật thực định vềcơ quan cạnh tranh Việt Nam trong quá trình xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, thậm chí có những đánh giá hết sức sâu sắc và có ý nghĩa tham khảo trên thực tiễn. Tuy nhiên hầu hết những công trình này lại thiếu đi cái nhìn bao quát về cơ quan tham gia xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Theo đó, hiếm có công trình nào phân tích về các cơ quan quản lý chuyên ngành hay cơ quan tòa án trong vai trò cơ quan tham gia xửlý vụ việc hạn chế cạnh tranh. Tương tự như vậy, khi nghiên cứu quy định pháp luật về chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, các tác giả mới chỉ tập trung làm rõ các chế tàiđược quy địnhtrong luật cạnh tranh mà“quên”mất các chế tài được quy định trong các văn bản pháp luật khác. Chính sự thiếu hụt trong nghiên cứu này, khiến việc hoạch định chính sáchtrởnên không toàn diện, dẫn tới những quyđịnh pháp luật được ban hành chồng lấn nhau và không có khả năng thực thi trên thực tế.
Thứ năm, trên thực tế, có không ít các báo cáo phân tích, thống kê về các kết quảđạt được và những bất cập còn tồn tại trong xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam. Tuy nhiên nguyên nhân thực sự của những tồn tại trong xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh ở Việt Nam lại chưa được nghiên cứu một cách trực quan và toàn diện. Có
rất nhiều lý do nhạy cảm khiến các công trình, hoặc chính bản thân các học giả không muốn đi sâu phân tích, bình luận. Tuy nhiên nếu không làm nổi bật những nguyên nhân, tồn tại này, các quy định về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh Việt Nam sẽ vẫn không thể được thực thi, ngay cả khi đã được sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu của sựphát triển kinh tế.
Thứ sáu, hiện nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đưa ra các kiến nghị, giải pháp một cách tổng thể nhằm sửa đổi các quy định pháp luật liên quanđến xử lýhành vi hạn chế cạnh tranh và nâng cao hiệu quả thực hiện trên thực tế. Hầu hết, các nội dung này vẫn nằm rải rác, chưa được tổng hợp lại trong một chỉnh thể thống nhất. Do vậy, nếu được sắp xếp thống nhất, bao quát và toàn diện thì các nội dung này sẽ có ý nghĩa hơn trong việc giải quyết các vấn đề lý luận, thực tiễn, pháp lý của vấn đề xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam.
Nhìn chung, có khá nhiều các công trình như đã kể trên nghiên cứu về vấn đề xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh ở các góc độ, khía cạnh khác nhau. Những công trình, bài viết nêu trên có mối liên hệ mật thiết, đặc biệt đến đề tài luận án và có ý nghĩađặc biệt quan trọng, làm cơ sở để luận án tham khảo và phát triển những kiến nghịmới, đầy đủ, toàn diện và xác đáng hơn. Các công trình nghiên cứu hiện tại là cơ sở
để tác giả đánh giá, tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh nội dung, vấn đề của luận án. Đặc biệt, những nội dung bỏ ngỏ sẽ là những gợi mở quan trọng để tác giả định hướng cho những vấn đề nghiên cứu tiếp theo mà tác giả sẽ thực hiện để giải quyết các mục tiêu đặt ra đối với luận án. Tác giả nhận thấy rằng, hầu hết các công trình, luận án, đề tài khoa học, sách chuyên khảo, sách tham khảo, các bài viết khác nhau đều là những tài liệu tham khảo hữu ích, có giá trị khoa học cho luận án trong quá trình thực hiện và hoàn thành.
3. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Thông qua đánh giá về hiện trạng nghiêncứu đối với các vấn đề pháp luật vềxử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam có thể thấy, những nghiên cứu về nội dung này rất đa dạng, phong phú. Tác giả luận án có thể kế thừa rất nhiều những nội dung như đã phân tích trong trong mục tổng quan tình hình nghiên cứu. Tuy nhiên vềquy mô nghiên cứu, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ nghiên cứu sinh hay các đề tài cấp bộ, cấp Nhà nước về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Vềhướng tiếp cận, hầu hết các công trình nghiên cứu mới cóhướngtiếp cận ở một sốkhía cạnh pháp luật liên quanđến xử lýhành vi hạn chế cạnh tranh mà chưa có những nghiên cứu mang tính tổng thể. Những vấn đề về chế tài xử lý hình sự, dân sự và mối quan hệ giữa các chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh chưa được đặt ra trong các công trình nghiên cứu trước đây. Do đó, hướng nghiên cứu chung của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, phân tích, đánh giámột cách tổng thể thực trạng pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, từ đó đưa ra các giải pháp có giá trị tham khảo nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam. Trên cơ sở tình hình nghiên cứu và định hướng như trên, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một cách có hệ thống các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, tiếp tục tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Trong đó, tác giả luận án tiếp tục xây dựng và làm rõ khái niệm “pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh” cũng như những nội dung của pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Ngoài những vấn đề cơ bản như cơ quan cóthầm quyền xử lý, trình tự thủ tụ xử lý, và chế tài xử lý, những nội dung cần tiếp tục làm sáng tỏ đó là nguyên tắc xử lỷ hành vi hạn chế cạnh tranh, các căn cứ xử lý hành
vi hạn chế cạnh tranh…
Thứ hai, nghiên cứu và phân tích những vấn đề pháp lý liên quan đến xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Ngoài việc phân tích hiện trạng các quy địnhcủa pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Tác giả luận án tiếp tục phân tích, bình luận và chỉ ra những thiếu sót trong các quy định pháp luật hiện hành. Phân tích bức tranh tổng thể các quy định pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt
Nam và mối liên hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình áp dụng các quyđịnh về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh.
Thứ ba, tổng hợp, phân tích và đánh giá thực tiễn xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam. Trong đó, nội dung mà luận án cần tiếp tục đi sâu phân tích đó làđánh giá những hạn chế trong thực tiễn xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh từ Luật Cạnh tranh 2004 đến nay. Đồng thời nhận xét các quy định của Luật Cạnh tranh 2018 vàcác văn bản hướng dẫn thi hành đã khắc phục được hay chưa, cũng như đưa ra các dự báo về áp dụng quy định của Luật Cạnh tranh 2018 trong thời gian tới.
Thứ tư, từ những vấn đề nghiên cứu và giải quyết, luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận của luận án 4.1. Cơ sở lý thuyết
Thứ nhất, quan điểm về cạnh tranh của trường phái cổ điển và sự phát triển của lý thuyết về cạnh tranh tự do.
Chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển ở Châu Âu thực sự phát triển vào cuối thế kỷXVIII trong sự nỗ lực của Adam Smith và các học giả tiêu biểu khác đã được tổng hợp thành học thuyết kinh tế khá hoàn chỉnh, trong đó quan điểm về cạnh tranh cũngđược pháttriển rõ nét. Quan điểm chung của Adam Smith là nhấn mạnh tự do cạnh tranh và đòi hỏi nhà nước giảm bớt sự can thiệp vào nền kinh tế, cũng như những ngăn chặn khuynh hướng dẫn đến sự hình thành vị trí độc quyền và tình trạng độc quyền trong kinh doanh. Lý luận về kinh tế học của Adam Smith cũng nghiên cứu cơchế vận hành của kinh tế thị trường, cạnh tranh trong kinh doanh dẫn đến sự hài hòa về lợi ích trong xã hội. Adam Smith cũng đồng thời mở ra một thời kỳ mới chochủnghĩa tự do kinh tế, phê phán chủ nghĩa trọng thương và sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, chỉ rõ chức năng kinh tế của nhà nước. Mặc dù phê phán sự can thiệp vào nền kinh tế, nhưng ông vẫn cho rằng nhà nước có thực hiện những chức năng quan trọng như ngăn chặn độc quyền, nhằm đảm bảo trật tự cạnh tranh…
Linh hồn tư tưởng kinh tế của Adam Smith là sự tự do kinh tế và theo đó là tựdo cạnh tranh. Với đặc trưng cơ bản là tự do cạnh tranh, từ đó làm tăng trưởng kinh
tế và tạo nên sự giàu có cũng như sức mạnh mang tính chính trị của quốc gia. Adam Smith nhấn mạnh đến tác dụng tích cực của tự do cạnh tranh và thừa nhận cạnh tranh
luôn có hai mặt của nó. Với quan điểm độc quyền là kẻ thù của tự do thương mại, của việc mở rộng thị trường và là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhanh, ông kết luận vềnhững hậu quả của độc quyền đó là: dẫn tới giá cao hơn đối với người tiêu dùng, khi số lượng doanh nghiệp càng ít và quy mô càng lớn thì họ dễ hợp lực với nhau để tăng giá; trong khi cạnh tranh buộc các nhà quản lý phải sắp xếp công việc hiệu quả và tìm ra cách cải tiến quản lý thì độc quyền triệt tiêu những tác động này; doanh nghiệp độc quyền có khả năngtạo áp lực đối với nhà nước để ủng hộ vị trí độc quyền của họ hơn
là các doanh nghiệp cạnh tranh,…11.
Liên quan đến vấn đề thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Adam Smith đã có luận điểm nổi tiếng: “Những người cùng nghề thương mại hiếm khi gặp gỡ nhau, cho dùlà để vui vẻ và giải trí, nhưng đối thoại luôn kết thúc trong sự thông đồng im lặng chống lại công chúng, hoặc với âm mưu nàođó để tănggiá”12. Nhìn chung, trong hệthống lý luận kinh tếhọc của mình, Adam Smith luôn nhấn mạnhđến tựdo cạnh tranh và cho rằng tự do cạnh tranh sẽ là động lực để nâng cao mức sống và sự phồn thịnh của người dân.
Bên cạnh Adam Smith, John S. Mill đã bổ sung lý thuyết của Adam Smith bằng cách nhìn nhận tính hai mặt (tích cực và tiêu cực) của cạnh tranh. Theo đó, cạnh tranh không phải là sự kích thích tốt nhất như mong muốn, nhưng trong thời đại của ông thì sự kích thích của cạnh tranh là cần thiết. Trong quan điểm của mình kinh tế và cạnh tranh, ông luôn nhấn mạnh đến chủ nghĩa tự do. Tác phẩm “Bàn về tự do”13 năm 1859 của John S. Mill là công trình nghiên cứu thể hiện sự tiếp tục về tư tưởng thị trường tựdo. Dưới giác độ cạnh tranh, John S. Mill nhấn mạnh tự do kinh doanh và cần phải bảo vệ tự do kinh doanh vì tự do trao đổi, mua bán có thể làm cho hàng hóavừa tốt vừa rẻ.
Một trong những nhà kinh tế học nổi bật khác của trường phái cổ điển liên quan đến cạnh tranh là John B. Clark. Đi xa hơn trong lĩnh vực cạnh tranh so với các nhàkinh tế học cổ điển khác, John B. Clark bắt đầu quan tâm đến những tác động tiêu cực của độc quyền của doanh nghiệp. Thông qua sức mạnh độc quyền, doanh nghiệp sẽhạn chế sản lượng đầu ra, tạo ra sự khan hiếm trên thị trường và làm cơ sở để tăng giá,
11 Pressman, Steven, 50 nhà Kinh tế tiêu biểu, NXB Lao động, Hà Nội 2003, (trích dẫn Pressman 2003), tr.61 12 Smith, An Inquiry into the Nature And Causes of the Wealth of Nations 1776, p 55.
13 Nguyên gốc tiếng Anh: On Liberty (1859, Penguin: Harmondsworth, Columbia Universitiy, New York) là một trong những tác phẩm triết học nổi tiếng nhất của John Stuart Mill.
bởi vậy, cung ít hàng hóa hơn cho người tiêu dùng và hàng hóa cũng đắt đỏ hơn. Bởi vậy, các hành vi bất kỳ nào cản trở cạnh tranh đều không tốt và đáng bị phản đối.
Quan điểm cạnh tranh tự do từ thời Adam Smith trong bối cảnh có sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng tự do cá nhân đã phát triển dẫn đến lý thuyết về cạnh tranh tựdo. Quan điểm về một “hệ thống kinh tế tự do” của từ thời Adam Smith là một trong những yếu tố nguồn gốc dẫn đến sự ra đời của lý thuyết cạnh tranh tự do, theo đó các chủ thể tiềm năng đều có quyền tự do gia nhập thị trường (bao gồm cả phía cung lẫn phía cầu), đều có quyền thực hiện mọi hành vi cạnh tranh, có quyền học theo hay bắt chước những gì đang diễn ra trên thị trường cũng như quyền tự do lựa chọn nhà cung cấp của người tiêu dùng.
Trường phái kinh tế học Áo cũng thống nhất với nhau về cạnh tranh tự do, nhưng mỗi người cũng có quan điểm riêng trong nghiên cứu của mình. Trong khi đó, theo Erich Hoppmann,tựdo cạnh tranh (Wettbewerbsfreiheit)đượcthểhiện ởhai khía cạnh, đó là: tự do trong việc quyết định các hành vi cạnh tranh mà không có sự chi phối, ép buộc của chủ thể khác, tự do đổi mới (Wettbewerb im Parallelprozess), vàtựdo trong việclựachọn đốitácvớitư cách là cácchủthểtham giathịtrường khác (Wettbewerb im Austauschprozess)14. Cạnh tranh là một quá trình mà ở đó các chủthểvớinănglựccạnh tranh khác nhauđềuđượchưởngthànhquảtương xứng với những gì mà mình có. Thị trường sẽ đóng vai trò như một bàn tay vô hình điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường và cho cả xã hội. Sự can thiệp của nhà nước vào quá trình vận hành của thị trường của cạnh tranh là không cần thiết. Trong bối cảnh như vậy, nhà nước chỉ nên đóng vài trò là thiết chế bảo vệ chung, bảo vệ sự ổn định, an toàn của xã hội, duy trì công lý và chống lại sự xâm lăng từ bên ngoài. Trường phái kinh tếhọc Áo có những điểm khác với nhiều nghiên cứu hiện thời. Chẳng hạn, theo trường phái này khi thị trường có tồn tại doanh nghiệp độc quyền thìđộc quyền không xóa bỏ cạnh tranh mà chỉ làm thay đổi phương thức cạnh tranh. Tuy nhiên, nó nhìn nhận vấn đề cạnh tranh trong thế giới hiện thực với những điều kiện tồn tại thực tế của quan hệ thị trường.
14 Hoppmann, Erich: Zum Problem einer wirtschaftspolitisch praktikablen Definition des Wettbewerbs, in:
H.K. Schneider (Hrsg.), Grundlagen der Wettbewerbspolitik, Schriften des Vereins für Socialpolitik, N.F. 48, Berlin 1968, S. 9 ff, 14 ff.
Sự phát triển của lý thuyết về sự tự do cạnh tranh đặt trong bối cảnh kinhtếthị trường là cơ sở cốt lõi cho việc nghiên cứu các hành vi hạn chế cạnh tranh và pháp luật về xử lý hành vi hạn chê cạnh tranh. Tự do cạnh tranh và tự do khế ước hay tựdo hợp đồng là một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế, điều tiết thị trường. Do đó, tất cả những hành vi can thiệp vào môi trường tự do
cạnh tranh, bóp méo, triệt tiêu cạnh tranh đều cần phải được loại bỏ. Các hành vi hạn chếcạnh tranh là những hành vi làm giảm, sai lệch và cản trởcạnh tranh trên thịtrường cần được xử lý bằng những biện pháp thích hợp. Việc xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh thể hiện vai trò của Nhà nước trong điều tiết cạnh tranh bằng pháp luật cạnh tranh. Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước là hình thức cạnh tranh được can thiệp bằng các chính sách cạnh tranh của nhànước để điều tiết,hướng các quan hệcạnh tranhvận động vàphát triển theo một trật tự nhất định, bảo đảm tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng
Thứ hai, Quan điểm cạnh tranh theo lý thuyết tổ chức ngành (The Theory of Industrial Organization)15 và sự xuất hiện cơ quan cạnh tranh tranh.
Tổ chức ngành là một khái niệm được đề cập khi xem xét sự vận hành của thịtrường và của ngành trong điều kiện các hãng cạnh tranh lẫn nhau16. Lý thuyết về tổchức ngành là một cách tiếp cận mới, hiện đại dựa trên cơ sở kinh tế học vi mô đểphân tích mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành với độc quyền nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa cạnh tranh, hiệu quả và cấu trúc ngành. Từ đầu thếkỷ trước, các nhà kinh tế học phương Tây thuộc trào lưu mới – chủ nghĩa hiện thực đã tập trung nghiên cứu các điều kiện thực tế mà doanh nghiệp độc quyền (thường làđộc quyền nhóm) có thể tồn tại, các nguồn thông tin mới và tác dụng của chúng trong thực tế. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu chi phí sản xuất, quy mô của hình thức tổ chức kinh doanh cũng là những nội quan dung quan trọng được giải quyết. Trào lưu nàyđược coi là cơ sở cho việc xuất hiện và phát triển lý thuyết về cạnh tranh theo tổ chức ngành. Nếu Trường phái kinh tế học tân cổ điển lấy cạnh tranh hoàn hảo làmtiền đềnghiên cứu, theo đó sự tự điểu chỉnh của cơ chế thị trường và bàn tay vô hình có thểgiữ cho chi phí bình quân ở mức thấp nhất, thì quan điểm về tổ chức ngành đi sâu vào cạnh tranh không hoàn hảo dẫn đến đòi hỏi phải tái cấu trúc ngành do yêu cầu vềnăng suất cũng như phân bổ, sửdụng tài nguyên một cách tối ưu nhất (Allocative Efficiency). Sự phát triển quan điểm cạnh tranh theo lý thuyết về tổ chức ngành được
15 Tăng Văn Nghĩa, Pháp luật cạnh tranh (giáo trình), NXB Giáo Dục, Hà Nội 2013.
16 Cabral, Introduction to Industrial Organization, the MIT Press Cambridge, Massachusetts, London 2000, p 3.
đánh dấu bằng một số tác phẩm về cạnh tranh mang tính độc quyền (Monopolistic Competition) và cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition) được công bốthời kỳđó. Có thểthấy những công trình tiêu biểu như Tirole với The Theory of Industrial Organization17, Cabral với Introduction to Industrial Organization18.
Trong những biến động của thị trường, tổ chức ngành luôn luôn được cấu trúc lại do xuất hiện những hình thức tổ chức kinh doanh mới để đảm bảo cạnh tranh diễn ra một cách hiệu quả nhất. Nhu cầu đổi mới hình thức tổ chức kinh doanh dẫn đến doanh
nghiệp tăng quy mô, tăng mức độ tích tụ tư bản, sápnhập… sẽ làmcho cấu trúc của ngành bị thayđổi.Điều này có thể thấy khi một doanh nghiệp mở rộng phạm vi, quy mô để khai thác tính kinh tế theo quy mô (Economies of Scale) nhằm giảm chi phí sản xuất bình quân để tạo ra một mức giá cạnh tranh của hàng hóa/dịch vụ. Kết hợp hay sáp nhập với nhau để hình thành những chủ thể mới có khả năng giảm chi phí sản xuất bình quân tới một mức tối đa cũng ảnh hưởng đến cơ cấu thị trường. Quan điểm cạnh tranh về tổ chức ngành dựa trên mức độ tập trung để đánh giá cấu trúc ngành. Khi tập trung được nguồn lực, doanh nghiệp có điều kiện để khai thác tính kinh tế theo quy mô nhằm giảm chi phí sản xuất bình quân. Tính kinh tế theo quy mô đóng vai trò lớn việc giảm chi phí nên lợi thế cạnh tranh chỉ thuộc về một số ít những doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả ở mức chi phí bình quân thấp nhất. Khi một số doanh nghiệp tăng quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp sẽ mở rộng được thị phần, từ đósẽ dẫn đến cấu trúc thị trường bị thayđổi.Điều này làm cho mức độ cạnh tranh bị suy giảm khi các hãng là đối thủ cạnh tranh trực tiếp sáp nhập với nhau.
Việc xuất hiện ngày càng nhiều độc quyền trên thị trường sẽ khiến quyền lực thịtrường tập trung vào một số chủ thể nhất định. Các chủ thể này có khả năng chi phối toàn bộ nền kinh tế và tác động đến chính trị. Do đó trong cuốn,“The institutional structure of antitrust enforcement”, tác giả Daniel A. Crane đã cho rằng nguồn gốc của sự ra đời cơ quan cạnh tranh tại Hoa Kỳ là nhằm giảm đi sự tập trung quyền lực trong bộ máy chính trị và sự ảnh hưởng của độc quyền trong nền kinh tế.19 Và do đó,đây phải là cơ quan có tính “độc lập” cao, “minh bạch” trong hoạt động và có những phản ứng nhanh nhạy với thị trường. Cơ quan cạnh tranh có tính đặc thù riêng, không
17 Tirole, Jean, The Theory of Industrial Organization, the MIT Press Cambridge, Massachusetts, London 1998.
18 Cabral, Luís M.B., Introduction to Industrial Organization, the MIT Press Cambridge, Massachusetts, London 2000.
19 Daniel A. Crane,“The institutional structure of antitrust enforcement” Oxford University press, 2011, page 10
giống như cơ quan hành pháp chỉ thực hiện sứ mệnh quản lý nhà nước về kinh tế, cũng không giống như cơ quan “tư pháp” chỉ có chức năng xét xử những vụ việc đãxảy ra. Cơ quan cạnh tranh vừa phải là cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh, vừa phải có tính dự đoán đối với những ảnh hưởng của hành vi hạn chế cạnh tranh đối với thị trường. Cơ quan này không chỉ đưa ra quyết định xử phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm mà còn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục lại thị trường tự do cạnh tranh cho chủ thể kinh doanh. Tính độc lập của cơ quan cạnh tranh cũng thể hiện ở chỗ, cơ quan này thậm chí có thể xem xét cả các hành vi làm cản trở, can thiệp vào môi trường cạnh tranh của các cơ quan nhà nước khác. Việc thành lập cơ quan cạnh tranh trong hệ thống cơ quan thực thi pháp luật là rất cần thiết và có những đặc trưng nhất định.
Thứ ba, lý thuyết về việc đánh giá tác động của hành vi hạn chế cạnh tranh trước khi đưa ra quyết định cấm. Pháp luật cạnh tranh kiểm soát các hành vi hạn chếcạnh tranh, nhưng không phải mọi hành vi hạn chế cạnh tranh đều bị cấm. Do đó pháp luật cạnh tranh cần có các nguyên tắc để xác định nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh nào phải bị cấm. Trong pháp luật cạnh tranh của Mỹ (antitrust law), nguyên tắc lập luận hợp lý (rules of reason) và nguyên tắc vi phạm mặc nhiên (perse rules) đã được hình thành thông qua các án lệ của Tòa án Tối cao Mỹ (US Supreme Court) nhằm xác định các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nào là vi phạm pháp luật cạnh tranh và bịcấm. Nguyên tắc vi phạm mặc nhiên khẳng định nếu một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh một cách rõ ràng thông qua bản chất cũng như ảnh hưởng của nó mà không cần phải có các phân tích chi tiết về các đặc thù của nó để khẳng định tính bất hợp pháp thì thỏa thuận đó vi phạm pháp luật cạnh tranh một cách mặc nhiên (illegal perse). Nguyên tắc lập luận hợp lý được áp dụng nếu ảnh hưởng đến cạnh tranh của thỏa thuận đó chỉ cóthể được đánhgiá thông qua việc phân tích các đặc điểm riêng biệt của loại hình kinh doanh (tình hình của ngành kinh doanh trước và sau khi có hạn chếcạnh tranh, bản chất vàảnh hưởngcủa hạn chế cạnh tranh, lịch sử của hạn chế cạnh tranh và lý do áp dụng các hạn chế như vậy. Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam. Theo đó, có những hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm mặc nhiên, ngược lại có những hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm có điều kiện và có thể cho hưởng miễn trừ.
Thứ tư, các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là định hướng cơ bản và quan trọng nhất trong việc đưa ra các nhóm giải pháp nhằm tăng cường khả
năng thực thi pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh trên thực tế. Nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủnghĩa lấy kinhtếNhà nước làm chủđạo đang từng bước có những chuyển biến mạnh mẽ, thể hiện ở việc thúc đẩy vai trò của kinh tế tưnhân, hạn chế tối đa những ngành, lĩnh vực độc quyền nhànước,cải cách thể chế dân chủ, nhằm xây dựng môi trường cạnh tranh công bằng bình đẳng, lành mạnh, hấp dẫn và thu hút đầu tư. Tất cả những chủ chương, chính sách này đều tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế hay các quy định pháp luật, trong đó có pháp luật cạnh tranh. Vai trò của pháp luật cạnh tranh và đặc biệt là pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ngày càng được nâng cao và trở thành một trong những chế định pháp luật quan trọng đối với mọi chủ thể trong nền kinh tế.
4.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi 1: Tại sao phảixửlý các hành vi hạn chế cạnh tranh? Việc xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh mang lại lợi ích gì cho sự phát triển kinh tế?
Giả thuyết nghiên cứu: Các hành vi hạn chế cạnh tranh mang lại những hậu quả bất lợi cho sự phát triển kinh tế nói chung. Các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm luôn gây tác động hoặc có thể gây tácđộnghạn chế cạnh tranh trên thị trường. Pháp luật xửlý các hành vihạn chếcạnh tranh thể hiện rõ nhất vai trò của Nhà nước trongđiều tiếtcạnh tranh.Việc xửlý các hành vi phản cạnh tranh trên thị trường sẽ mang
lại môi trường cạnh tranh công bằng bình đằng cho các doanh nghiệp trên thị trường, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng tới xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh trên thực tế?
Giả thuyết nghiên cứu: Trong quá trình phát triển kinh tế, các nhà nghiên cứu Phương Tây luôn đặt ra mối quan hệ biện chứng giữa cạnh tranh và phát triển kinh tế. Theo đó cạnh tranhlà động lực của sựphát triển kinh tế, ngược lại kinh tế càng phát triển thì ở đó môi trường cạnh tranh càng thuận lợi, công bằng và lành mạnh. Vậy nên việcxửlý các hành vihạnchế cạnh tranh cũng không nằm ngoài sự tác động của các yếu tố về sựphát triển kinh tế, yếu tố thị trường trong nền kinh tế. Ngoài ra còn có thểkể tớicác yếu tố khác như thể chế quản lý nhà nước, chính sách phát triển
trong từng giai đoạn…
Câu hỏi 3: Cần thiết xây dựng một mô hình cơ quan cạnh tranh mới tại Việt Nam? Việc xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh mới có làm thay đổi trình tựthủtục xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh?
Giả thuyết nghiên cứu: Mô hình cơ quan cạnh tranh có tínhđộclập là giả thuyết nghiên cứu của tất cả các quốc gia khi ban hành đạo luật về cạnh tranh hay
chống độc quyền. Ở Việt Nam, việc xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh mới cótính độc lập và đảm bảo thực thi tốt các quy định của luật cạnh tranh là hết sức cần thiết. Bởi mô hình cơ quan cạnh tranh như hiện nay không đảm bảo được các tiêu chí về tính độc lập, minh bạch và cả nguồnlực đểphát triển. Việc xây dựng mô hình cơquan cạnh tranh mới có thể sẽ làm thay đổi trình tựthủ tục xửlý vụ việc hạn chế cạnh tranh về mặt hình thức. Tuy nhiên bản chất của quá trình tố tụng cạnh tranh sẽ không thay đổi, vẫn phải đảm bảo những đặc trưng riêng có của loại hình tố tụng này.
Câu hỏi 4: Chế tài xử lý đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh là một chế tài đặc biệt?
Giả thuyết nghiên cứu: Chế tài xử lý hành chính đối với hành vi hạn chế cạnh tranh làmộtchếtài đặc biệt bởi nóđượcthực hiện bởimộtcơ quan hành chính nhưng lại theo thủ tục tư pháp. Chế tài xử lý hành chính đối với hành vi hạn chế cạnh tranh
cũng khác với các chế tài xử phạt vi phạm hành chính khác ở chỗ mức phạt đối với hành vi hạn chế cạnh tranh thường được tính theo % doanh thu, do đó mức xử phạt thường rất cao. Quyết định xử phạt hành chính được thực hiện theo quy trình tố tụng cạnh tranh, khác với quy trình ra quyết định xử phạt hành chính thông thường.
4.3. Hướng tiếp cận của luận án
Trên cơ sở tiếp thu các học thuyết và quan điểm của các công trình nghiên cứu khoa học, bằng việc đặt ra các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, tác giả luận án tiếp tục giải quyết những vấn đề pháp lý về xử lý hành vi hành vi hạn chế cạnh tranh theo hướngnhư sau:
– Làm rõ bản chất pháp lý cuả các hành vi hạn chế cạnh tranh. Trong đó nêu bậtđược các hành vi bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền. Đây là những hành vi xâm hạitới trật tựkinh tế, môi trường cạnh tranh vàảnhhưởng tớingườitiêu dùng.Từđóthấyđượcnhucầu tấtyếucủa việc xử lý các hành vi này.
– Cũng do các hành vi này xâm hại tới lợi ích chung của các đối thủ cạnh tranh, của người tiêu dùng và làm ảnh hướng xấu tới môi trường cạnh tranh nói chung, dođó cần có sựcan thiệp nhanh chóng, hiệuquả từphía cơ quan công quyền bằng các trình tự thủ tục của luật công.
– Từđó tác giả luận án hướng tới việc phân tích về cơ quan tham gia xử lý, trình
tựtủ tục xửlý, chế tài xử lýđối vớicác hành vi hạn chế cạnh tranh trong các văn bản quy định pháp luật. Phân tích được những điểm mới về hình thức xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm xử lý hành chính, xử lý hình sựvà xửlý bằng biện pháp kiệnđòi bồi thường thiệt hại dân sự.
– Bằng việc đánh giá một cách khách quan các quy định pháp luật hiện hành về xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh, tác giả luận án cũng chỉ ra những bất cập còn tồn
tại, khẳng định tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện pháp luậtvề xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh.
– Ngoài ra tác giả luận án cũng chú ý hướng tiếp cận nghiên cứu pháp luật của một số nướctrên thế giới về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, đặt trong bối cảnh của Việt Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm phù hợp.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH
1.1. Những vấn đề lý luận về hành vi hạn chế cạnh tranh 1.1.1. Khái niệm hành vi hạn chế cạnh tranh
Dưới góc độ pháp lý, theo tác giả Garner trong từ điển Black’s Law thì hạn chếcạnh tranh (restrain of trade) được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa thông thường, hạn chế cạnh tranh là sự giới hạn trong kinh doanh hoặc nghề nghiệp chuyên nghiệp. Nghĩa thứ hai, hạn chế cạnh tranh (antitrust) là thỏa thuận của hai hay nhiều chủ thể hoặc sựkết hợp giữa các chủ thể nhằm loại bỏ cạnh tranh, tạo ra vị thế độc quyền, tăng giágiả
tạo hoặc các hành vi làm bất lợi tới thị trường tự do cạnh tranh. Các hành vihạn chếcạnh tranh thường là hành vi bị cấm theo quy định pháp luật, theo nguyên tắc hợp lýcó xét tới lợi ích của các bên và lợi ích công cộng.20
Tương tự như vậy, trong cuốn từ điển “The Australian legal dictionary” tác giả Marantelli và Tikotin có đưa ra định nghĩa về hành vi hạn chế cạnh tranh như sau:
“Hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm các thỏa thuận,khế ước,hợp đồng hoặc các hành vi khác nhằm giảm hoặc triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường”21. Ngoài ra, tại Mục B đoạn 1 Bộ quy tắc đồng thuận đa phương và kiểm soát các hành vi hạn chếkinh doanh được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc phê chuẩn ngày 22 tháng 4 năm 1980 có đềcậpđếnhành vi hạn chếkinh doanh, đó là “Những hành vi hay ứng xửcủa doanh nghiệp thông qua sự sáp nhập hay lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hạn chế khả năng tiếp cận thị trường hay tạo ra các sức ép cạnh tranh quá mức gây ra hay sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến thương mại quốc tế đặc biệt là thương mại của những nước đang phát triển và sựphát triển kinhtếcủa nhữngnước này bởi những thỏa thuận hay dàn xếp chính thức, phi chính thức, hoặc bằng văn bản hay không bằng văn bản giữa các doanh nghiệp có cùng lợi thế thị trường.”
Về mặt quy định pháp luật, pháp luật cạnh tranh các nước trên thế giới nhưLuật chống độc quyền của Hoa Kỳ, Luật Cạnh tranh Canada, Luật Chống độc quyền tư nhân và duy trì cạnh tranh lành mạnh của Nhật Bản, Luật Thương mại lành mạnh và những quy định độc quyền của Hàn Quốc,… đều có quyđịnhvề kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, hầu hết pháp luật cạnh tranh các nước lại không đưa
20 Bryan A. Garner, 2014, Black’s Law Dictionary 10th Edition, West Group, trang 2097
21 The Australian legal dictionary – Từ điển pháp lý Australia, Nhà xuất bản Edward Arnold, (Australia) năm 1985
ra một khái niệm chung về hành vi này mà chỉ nêu trong mục đích ban hành nhữngđạo luật này là nhằm tạo môi trường kinh doanh tự do lành mạnh công bằng thông qua việc cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinhtế22. Điều này cũng phù hợp với khuyến nghị mà Tổ chức thương mại mà phát triển Liên hợp quốc đưa ra. Cụ thể, trong Luật mẫu vềcạnh tranh, UNCTAD cũng không đưa ra khái niệm hành vi hạn chế cạnh tranh mà ghi rõ mục đích, mục tiêu của luật là “nhằm kiểm soát hay xóa bỏ thỏa thuận hạn chếcạnh tranh giữa các doanh nghiệp, việc sáp nhập, mua lại và hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh trên thị trường, làm cản trở khả năng gia nhập thị trường và cản trở khảnăng cạnh tranh một cách không hợp lý, làm phương hại đến sự phát triển kinh tế, thương mại trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế.”23
Ở Việt Nam, ngay cả khi pháp luật cạnh tranh chưa được ban hành, tác giả Đặng Vũ Huân, trong luận án tiến sỹ của mình về “Pháp luật về kiểm soát độc quyền vàchống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” cho rằng: pháp luật cạnh tranh sẽbao gồm hai chế định độc lập đó là pháp luật về kiểm soát độc quyền và pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh24. Và mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể, song tác giả cũng nhấn mạnh chế định pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền sẽ bao gồm tập hợp các quy định pháp luật thể hiện sự can thiệp của Nhà nước nhằm kiểm soát, giới hạn hoặc cấm đoán tất cả các thỏa thuận, liên kết dẫn đến sựhạn chế hoặc triệt tiêu cạnh tranh; giám sát các chủ thể có vị trí thống lĩnh thị trường:
ngăn cản không cho các chủ thể này lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chếcạnh tranh. Luật Cạnh tranh Việt Nam được ban hành lần đầu tiên năm 2004 cũng đãđưa ra khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh như sau: “Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi nhằm làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường bao gồm thỏa thuận hạn chếcạnh tranh, lạm dụng vịtrí thống lĩnh vịtrí độc quyền và tập trung kinh tế”25. Tuy nhiên, đến Luật Cạnh tranh 2018 sửa đổi, các nhà làm luật Việt Nam lại đưa ra một cách tiếp cận mới về hành vi hạn chế cạnh tranh như sau: “Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chếcạnh tranh, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chếcạnh tranh, lạm dụng vịtríthống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền”26 So sánh khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh được từ điển Black’s Law hay những tài liệu khác đưa ra nhưđã
22 Bộ Thương mại, (2001)Luật vềcạnh tranh và chống độc quyền của một sốnước vàvùng lãnh thổ trên thế giới
23 Tổ chức Thương mại và phát triển LiênHợpquốc UNTACD (2003),Luật mẫu vềcạnh tranh, Trang 12 24Đặng VũHuân, TLĐD, Tr 20
25 Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 26 Khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018
phân tích ở trên, có thể thấy khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh của Luật Cạnh tranh 2018 hẹp hơn so với cách tiếp cận thông thường. Tuy nhiên, dù được định nghĩa theo cách nào, thì điểm chung nổi bật của hành vi hạn chế cạnh tranh là những hành vi làm suy giảm hoặc triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường, hành vi này có tính chất nguy hại lớn tới thị trường nên cần được pháp luật xử lý.
1.1.2. Đặc điểm của hành vi hạn chế cạnh tranh
Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh
Chủ thể chủ yếu thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh là các chủ thể kinh doanh. Các chủ thể kinh doanh này có thể là doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc là cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường. Chỉ khi tham gia vào thị trường với vai trò nhà sản xuất, cung cấp, phân phối sản phẩm thì họ mới cạnh tranh với cácđối thủ của mình, từ đó thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh. Câu hỏi đặt ra là các chủ thể này có nhất thiết phải cùng một thị trường liên quan hay không? Về mặt lý thuyết, thị trường liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịchvụ cóthể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả trong khu vực địa lý cụ thể. Các hành vi hành vi hạn chế cạnh tranh phải được đặt trong một thị trường liên quan cụthể. Tuy nhiên, các chủ thể tham gia thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh lại không nhất thiết phải hoạt động trên cùng một thị trường liên quan. Bởi có thể xuất hiện liên kết giữa các chủ thể nằm ở các cấp độ khác nhau của thị trường (liên kết dọc), ví dụnhư liên kết giữa nhà sản xuất và nhà phân phối. Các chủ thể này thậm chí không phải là đối thủ cạnh tranh của nhau trên thị trường mà còn làđối táccủa nhau. Tuy nhiên, những liên kết này vẫncókhảnăng làm ảnhhưởngtớicạnh tranh trênthịtrường, ảnh hưởng tới các đối thủ cạnh tranh khác không tham gia liên kết. Do đó, chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ cần là các chủ thể kinh doanh trên thị trường, không nhất thiết phải là các chủ thể hoạt động trên cùng một thị trường liên quan.27
Trong một số trường hợp đặc biệt, các chủ thể như “hiệp hội ngành nghề” hay cơ quan Nhà nước cũng có thể trở thành chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. Đây là những trường hợp mà hiệp hội ngành nghề đóng vai trò “chủ mưu” lôi kéo các doanh nghiệp tham gia thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh như thỏa thuận hạn chếcạnh tranh. Trên thực tế, trong quá trình xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm ở Việt Nam, có rất nhiều những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được tiến hành dưới
27 Đại học Luật Hà Nội, (2018) Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công an nhân dân
sự chủ trì của các Hiệp hội28. Tuy nhiên khi xử lý các hành vi vi phạm này, Hiệp hội không được nhắc đến với vai trò của chủ thể chịu trách nhiệm hay bị xử phạt theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, còn phải nhắc tới đối tượng chủ thể là cơ quan Nhànước. Cơ quan quản lý nhà nước luôn có quyền lực hành chính,đó cóthể coi là một trong những sức mạnh thị trường đáng kể tạo nên sự phân biệt đối xử, hạn chế cạnh tranh, hạn chế gia nhập thị trường của các chủ thể kinh doanh. Dođó cơquan Nhànước cũng có thể trở thành chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. Ngay tại Điều 6 của Luật Cạnh tranh 2004, các nhà làm luật Việt Nam đã đưa ra quy định cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước. Cụ thể là những hành vi mang tính chất phân biệt đối xử nhằm cản trở cạnh tranh trên thị trường. Đến Luật cạnh tranh 2018, các nhà làm luật thậm chí còn mở rộng chủ thể bị cấm không chỉ bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả các tổ chưc cá nhân cung cấp thông tin, vận động, kêu gọi, ép buộc hoặc tổ chức để doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh29. Tuy nhiên, việc xử lý các cơ quan nhà nước khi thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh
lại rất phức tạp vì liên quan đến hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia. Trong suốt những năm thực thi Luật Cạnh tranh 2004, nay là Luật Cạnh tranh 2018, cơ quan thực thi Luật cạnh tranh vẫn luôn gặp vướng mắc trong việc áp dụng quy định cấm đối với các cơ quan quản lý nhà nước khi các cơ quan này thực hiện hành vi cản trở cạnh tranh trên thị trường. Một phần do tính “độc lập” của cơ quan cạnh tranh còn chưa cao, việc thực thi luật cạnh tranh còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do pháp luật mới chỉ có quy định cấm đối với các hành vi phản cạnh tranh của cơ quan Nhà nước mà chưa quy định chế tài xử lý đối với các hành vi cản trở cạnh tranh của đối tượng chủ thể này.
Thứ hai,đặc điểm vềmặt hành vi, các hành vi hạn chế cạnh tranh làm suy giảm, triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường.
Cạnh tranh trong nền kinh tế được thừa nhận là yếu tố đảm bảo cho việc duy trì tính năngđộng vàhiệu quả của nền kinh tế. Cạnh tranh lành mạnh và bìnhđẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ chế thị trường, thúc đẩy sựphát triển khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất, nâng cao lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên, khi sự cạnh tranh lành mạnh này có sự can thiệp của các hành vi hạn chế cạnh tranh mức độ cạnh tranh sẽ bị suy giảm, lúc này thị trường không còn vận động một cách tự nhiên theo quy luật vốn có mà chịu sự kiểm soát của một hoặc
28Vụviệc Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của 19 doanh nghiệpbảohiểm Việt Nam năm 2008 được tiến hành thông qua Hội nghị thường niên các CEO ngành bảo hiểm do Hiệphội bảohiểm Việt Namtổchức.
29Điều8 Luật Cạnh tranh 2018.
một số chủ thể nhất định, do đó nó sẽ làm giảm, sai lệch và triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường. Đây cũng là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của hành vi hạn chế cạnh tranh. Như đã phân tích ở phần khái niệm, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi có phạm vi tác động rất lớn, làm suy giảm, triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường. Trong khi đó, cạnh tranh là động lực đểphát triển kinh tế, thúc đẩysản xuất kinh doanh, mang lại nhiều lợi ích cho xã hội. Có thể nói một nền kinh tế vững mạnh, cótiềm năng là nền kinh tế có sức cạnh tranh cao30. Các hành vi hạn chế cạnh tranh có thể tác động trực tiếp làm triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường, ví dụ hành vi thỏa thuận ấn định giá sẽ xóa bỏ đi sự cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp, từ đó làm ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh trong việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra những hành vi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp cũng gây tác động hạn chếcạnh tranh tranh, gián tiếp xóabỏ sự cạnhtranh giữa các chủ thể kinh doanh, tạo ra các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường, có nguy cơ gây ảnh hưởng tới cạnh tranh trên thị trường.
Thứ ba, đặc điểm về mặt hậu quả của hành vi hạn chế cạnh tranh
Hành vi hạn chế cạnh tranh đi ngược lại với quy luật thị trường, gây hại tới lợi ích của đối thủ cạnh tranh, của người tiêu dùng và lợi ích công cộng. Như đã phân tích, khi các hành vi hạn chế cạnh tranh được thực hiện, sự cạnh tranh trênthị trường sẽkhông còn diễn ra theo quy luật tự nhiên mà đã bị ảnh hưởng bởi sự kiểm soát của một hoặcmộtsốchủthểkinh doanh, dođóhành vi này là đingượclạivớiquy luậtthịtrường. Trong quá trình thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, các chủ thể này cùng nhau “câu kết” hay thực hiện những thủ đoạn tinh vi để làm suy giảm sự cạnh tranhtừđối thủ, nâng vị thế của mình và thu lợi bất chính. Những hành vi này được thực hiện với mục tiêu thu lợi nhuận một cách bất chính, làm thiệt hại tới lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và nền kinh tế nói chung. Pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh
tranh vì vậy sử dụng quyền lực nhà nước – quyền lực “công” can thiệp vào các quan hệ mang tính chất “tư” nhằm bảo vệ các lợi ích công cộng, lợi ích của người tiêu dùng.
Từ những phân tích nêu trên, tác giả luận án có thể khái quát về hành vi hạn chếcạnh tranh như sau: “Hạn chế cạnh tranh là hành vi do các chủ thể kinh doanh tiến hành, gây tác động hoặc có khả năng gây tác động đến cạnh trạnh tranh trên thị trường, làm cản trở, suy giảm, triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường, thường bao gồm các dạng hành vi như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, hay
sáp nhập, mua bán nhằm mục đích thâu tóm thị trường…”.
30 Nguyễn Thị Dung (Chủ biên), Luật kinh tế chuyên khảo, Chương XIII – Pháp luật về cạnh tranh (tác giả Phạm Phương Thảo), Nxb Chính trị quốc gia.
1.1.3. Phân loại hành vi hạn chế cạnh tranh
Có rất nhiều cách thức để phân loại các nhóm dạng hành vi hạn chế cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh của mỗi quốc gia có thể đưa ra nhiều cách thức phân loại khác nhau. Trong đó có hai cách thức phân loại điển hình như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào tác động bất lợi của hành vi gây ra đối với môi trường cạnh tranh, thông thường pháp luật cạnh tranh của đa số các quốc gia trên thế giới đều đề cập đến các dạng hành vi cơ bản sau: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay hành vi thương mại không công bằng (Unfair trade hoặc Competition deloyale) thường không được nhắc tới với mục tiêu “hạn chế cạnh tranh” mà thường là các hành vi mang tính chất “gian lận”31 thương mại, làm ảnh hưởng tới đối thủcạnh tranh hay quyền lợi của người tiêu dùng, có thể quy định trong pháp luật cạnh tranh hoặc các pháp luật chuyên ngành khác.
Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam cũng tiếp cận theo hướng này. Theođó tại Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định: “Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thịtrường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinhtế”. Có thể nói đây cũng là xu hướng ban hành Luật Cạnh tranh của các nước trên thế giới, và trong khu vực. Cụthể, đạo luật Sherman năm 1890 của Hoa Kỳ không điều chỉnh việc sáp nhập giữa các doanh nghiệp nên dẫn đến nhiều doanh nghiệp đã sáp nhập với nhau để cùng ấn định giá bán hàng hóa, dịch vụ. Do đó, năm 1914 đạo luật Clayton được ban hành nhằm mở rộng quy định chống độc quyền của đạo luật Sherman trong việc ngăn cản các hành vi sáp nhập của các doanh nghiệp có khả năng gây hạn chế cạnh tranh.Đạo luật Clayton sau đó được sửa đổi bởi đạo luật Robinson – Patman năm 1936, đạo luật
Celler – Kefauver 1956, đạo luật Hart – Scott – Rodino năm 197632. Nhưvậy đạo luật chống độc quyền của Hoa Kỳkiểm soát cảba dạng hành vi là thỏa thuận hạn chếcạnh tranh, lạm dụng vị trí độc quyền và kiểm soát tập trung kinh tế. Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Úc cũng quyđịnhhành vi hạn chếcạnh tranh bao gồm những hành vi như thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, số lượng khối lượng hàng hóa và thỏa thuận tẩy chay đồng loạt; hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh để ngăn cản doanh nghiệp gia nhập thị trường hoặc cạnh tranh trên thị
31Đạoluật FTC của Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ “gian lận” (Deceptive) để chỉ những hành vi này
32Đặng VũHuân (2002)- Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
trường; bán dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; phân biệt giá cảgiữa các hàng hóa cùng loại, và hành vi sáp nhập, hợp nhất phản cạnh tranh. Theo sốliệu khảo sát về luật cạnh tranh của 22 quốc gia Châu Á, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể không được điều chỉnh trong luật cạnh tranh, nhưng các dạng hành vi như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền và
kiểm soát tập trung kinh tế (kiểm soát sáp nhập, hợp nhất…) thì đều được điều chỉnh trong luật cạnh tranh của các quốc gia này33.
Thứ hai, mặc dù nhắc tới mục tiêu “hạn chế cạnh tranh” là nhắc tới các dạng hành vi như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay cũng có quan điểm cho rằng nếu căn cứ vào thái độ của nhànước đối với cácnhóm hành vi này, hành vi hạn chế cạnh tranh cóthể chỉ bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền mà không bao gồm pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế. Sở dĩ như vậy là do pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế có những đặc trưng riêng biệt. Nhưđã phân tích, nếu như hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền là những hành vi luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ hạn chế cạnh tranh và thái độ của nhà nước đối với hai nhóm hành vi này là “nghiêm cấm” trừ những trường hợp đặc biệt. Trong khiđóđối với hành vi tập trung kinh tế, bản chất của hành vi này không phải là hành vi luôn tiềm ẩn nguy cơ hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Tập trung kinhtế cóthể mang lại những tác động tích cực đến nền kinh tế. Vì vậy thái độ của nhà nước đối với hành vi này là nhằm mục tiêu “kiểm soát” chứ không phải ngăn cấm tuyệt đối. Khác với hành vi hạn chế cạnh tranh còn lại như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế không hướng tới việc tìm hành vi vi phạm để xử lý mà đặt mục tiêu kiểm soát được càng nhiều các thương vụ tập trung kinh tế càng tốt34. Theo đó, các quyđịnhpháp luật cạnh tranh sẽ nhằm hạn chế tác động tiêu cực của tập trung kinh tế trên thị trường mà không phải theo hướng tìm hành vi để cấm. Do đó, quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế sẽ được tách riêng ra so với hai nhóm hành vi còn lại là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị tríđộc quyền.
Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam theo quan điểm thứ hai, khi cho rằng tập trung kinh tế không thuộc nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh. Cụ thể, theo khoản 2
33 OECD (2018), Competition Law in Asia-Pacific: A Guide to Selected Jurisdictions
34 Phạm Phương Thảo, Kiểm soát tập trung kinh tế trên thị trường bán lẻ theo quy định Luật cạnh tranh Việt Nam, Tạp chí Dân chủ pháp luật, số tháng 9 (306) năm 2017
Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018: “Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền”. Như vậy quy định về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh cũng chỉ bao gồm pháp luật xửlý đối với hai dạng hành vi là thỏa thuận hạn chế cạnh và lạm dụng vị trí thống lĩnh, vịtrí độc quyền. Còn đối với tập trung kinh tế, pháp luật hướng tới “kiểm soát” nhiều hơn là “xử lý vi phạm”. Cách tiếp cận này làm thay đổi cơ bản các quy định pháp luật liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, trong đó có pháp luật về xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh. Nhìn ở mặt tích cực, việc tách tập trung kinh tế ra khỏi nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh, sẽ giúp đánh giá hành vi này một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Theođó, tập trung kinh tế không phải chỉ có mục tiêu “hạn chế cạnh tranh” mà còn có rất nhiều những tác động giúp thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy cần phải khuyến khích những tác động tích cực của tập trung kinh tế và kiểm soát những tác động hạn chế của nóđối với thị trường.
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành đạo luật chống độc quyền với tên gọi là đạo luật Sherman (Sherman Antitrust Act, do Nghị sĩ Sherman của bang Ohio xây dựng) được Hạ viện Mỹ thông qua ngày 20/6/1890 và Tổng thống Harrison ký công bố ngày 2/7/189035. Đây là một đạo luật liên bang rađời do sự đấu tranh của những người nông dân và các doanh nghiệp nhỏ nhằm cấm các hành vi thông đồng (bao gồm các thỏa thuận ấn định giá và phân chia thị trường) của các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường (còn gọi là các tờ- rớt) để hạn chế cạnh tranh gây tổn hại tới những người nông dân, những doanh nghiệp nhỏ và người tiêu dùng36. Tuy nhiên, khi mới ra đời, các nhà kinh tế, chính trị, giới luật sư ở Hoa Kỳđều đánhgiá không cao về đạo luật này. Trong suốt một thập kỷ đầu,đạo luật dường như được sử dụng rất ít. Rất nhiều người cho rằng, Nghị viện đã chọn mô hình chống hạn chế cạnh tranh chưa phù hợp, thay vào đó nên thông qua một mô hình quản lýcạnh tranh trực tiếp37. Thậm chí, có cả trường phái đối nghịch với đạo luật chống hợp tác này của liên bang (incorporation federal) do giáo sư Thacher của đại học luật Yale khởi xướng. Ông cho rằng những hành vi gian lận trong hợp tác hay hành vi hạn chế
35 http: en.wiki/Sherman_Antitrust_act
36Đặng VũHuân (2002)- Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội tr 38, 39
37 Lawrence Friedman, A history of American law 1990 (2th Edition, 1985)
cạnh tranh chỉ gây ra ảnh hưởng tới những chủ thể tham gia mà không ảnh hưởng tới lợi ích công cộng38. Tuy nhiên, từ sau sự kiện năm 1899 “Chicago Confernence on Trusts” đã dẫn tới một làn sóng lớn kêu gọi kiểm soát các doanh nghiệp độc quyền vì những nguy cơ gây ra từ những thỏa thuận bất hợp pháp làm ảnh hưởng tới cạnh tranh trên thị trường39. Trường phái Chicago sau đó với quan điểm phát triển chính sách chống độc quyền nổi bật đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả. Theo quan điểm của đại diện trường phái Chicago thì mục tiêu duy nhất của chính sách chống độc quyền là bảo vệ tối đa phúc lợi người tiêu dùng và chính phủ ban hành luật chống độc quyền của Hoa Kỳ với một và chỉ một mục tiêu duy nhất này40. Như vậy hành vi hạn chếcạnh tranh ra đời từ khi xuất hiện những doanh nghiệp có sức mạnh thị trường (các tơ -rớt), những doanh nghiệp này đủ sức chi phối toàn bộ thị trường. Sức mạnh của sự hợp tác giữa các doanh nghiệp này là điều không thể phủ nhận, nhưng cùng với sựhợp tác đó là rất nhiều những hệ lụy xảy ra cho nền kinh tế và ảnh hưởng tới lợi ích của người tiêu dùng. Đạo luật Sherman của Hoa Kỳ không điều chỉnh việc sáp nhập giữa các doanh nghiệp nên dẫn đến nhiều doanh nghiệp đã sáp nhập với nhauđể cùngấn địnhgiá bán hàng hóa, dịch vụ. Năm 1914 đạo luật Clayton được ban hành nhằm mở rộng quy định chống độc quyền của đạo luật Sherman trong việc ngăn cản các hành vi sáp nhập của các doanh nghiệp có khả năng gây hạn chế cạnh tranh. Đạo luật Clayton sau đóđược sửa đổi bởiđạo luật Robinson – Patman năm 1936, đạo luật
Celler – Kefauver 1956, đạo luật Hart – Scott – Rodino năm 1976. Những quyđịnh về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh trong các đạo luật nói trên của Mỹ đã ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia phương Tây cũng như các quốc gia khác41.
Ở Liên minh châu Âu, luật cạnh tranh được nhìn nhận dưới hai cấp độ khác nhau: Luật của quốc gia và Luật của cộng đồng châu Âu. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử về pháp luật cạnh tranh châu Âu thì Đức là quốc gia có nhữngquy định kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh sớm hơn so với các quốc gia khác trong khu vực. Với nền công nghiệp hóa ngày càng tăng vào những năm 70 của thế kỉ 19, việc hình thành các thỏa thuận nhằm hạn chế trong cạnh tranh (còn được hiểu là các-ten) cũng xuất hiện. Câu hỏi đặt ra đối với nền kinh tế Đức lúc này là liệu sự hình thành và phát triển các thỏa thuận trong cạnh tranh này có mâu thuẫn với sự tự do và phát triển của nền kinh tế hay không. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, tại Đức các thỏa
38 Thomas Thacher, Federal control of corporations, 14, Yale Law Journal, 301 (1905)
39 Martin J Skalar, The corporate reconstruction of American Capitalism, 1890- 1916: The market, the law
and politics 203 – 28 (1988)
40 Nguyễn Lan Anh (2019), Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Tr 24
41Đặng VũHuân (2002), TLĐD
thuận hạn chế cạnh tranh được thừa nhận chính thức bởi chính phủ. Vì có quan điểm cho rằng chính các các – ten sẽ là phương thức để quản lý thị trường một cách hiệu quả. Tuy nhiên, năm 1923 Đức ban hành luật chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm kiềm chế lạm phát, bởi lo ngại rằng những thỏa thuận về giá giữa các công ty sẽ làm cho giá cả leo thang. Tiếp đó, sau một thời gian dài tranh cãi giữa trường phái bảo vệ tự do kinh doanh và trường phái cần phải có luật cạnh tranhđể điều tiết cạnh tranh, năm 1957, Luật chống hạn chế cạnh tranh được ban hành để kiểm soát hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, luật này đến nay vẫn còn hiệu lực. Từ khi Bộ luật kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh năm 1958 có hiệu lực, bộ luật đã được sửa đổi sáu lần, một mặt xóa bỏ sự không cân xứng giữa sự ngăn cấm tương đối nghiêm ngặt những thỏa thuận cạnh tranh theo chiều ngang và những thỏa thuận cạnh tranh theo chiều dọc, mặt khác thông qua việc ban hành các quy định kiểm soát sự sáp nhập nhằm hạn chế sự lạm dụng về quyền lực thị trường, hình thành vị thế độc quyền doanh nghiệp cũng như thích ứngmột cách hài hòa với luật của Liên minh Châu Âu 42.
Ngày nay, việc bảo vệ quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh đều được các quốc gia quan tâm, đặc biệt là để bảo đảm cấu trúc thị trường, bảo vệ cơ chếcạnh tranh, vì thế pháp luật điều chỉnh hạn chế cạnh tranh có xu hướng phát triển mạnh hơn được xem là nền tảng của pháp luật cạnh tranh. Việt Nam cũng là một trong những nền kinh tế chịu ảnh hưởng của xu thế chung này. Trước đây, khi Việt Nam trong thời kỳ kinhtế kế hoạchhóa tập trung, sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh
tế là một trong những lý do không cho cạnh tranh tồn tại. Nhà nước là chủ thể duy nhất trên thị trường nắm từ khâu sản xuất cho đến phân phối, hay nói cách khác nhà nước độc quyền mọi lĩnh vực. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các hành vi phản cạnh tranh xuất phát từ độc quyền là hợp pháp và không bị nghiêm cấm. Tuy nhiên từ sau năm 1986, thực hiện chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và nhà nước ta, nền kinh tế đất nước chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chếthị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó hình thành nên các điều kiện để cạnh tranh tồn tại và phát triển. Bởi vậy, các quy định của pháp luật liên quan đến cạnh tranh cũng đã dần dần được hình thành nhằm bảo đảm nền kinh tế vận hành theo các nguyên tắc cơ bản của cơ chế thị trường, trên cơ sở tôn trọng quyền tự do kinh doanh, quyền được hoạt động trong môi trường kinh doanh bình đẳng.Những nguyên tắc cơ bản nhất cho sự vận hành nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước được thể hiện trước hết trong Hiến pháp
42 Nguyễn Lan Anh (2019), TLĐD
2013. Hiến pháp đã quyđịnhmột số vấn đề mang tính nguyên tắc làmtiền đề bảo vệ, duy trì cạnh tranh trong nền kinh tế. Đó là, khẳng định sự tồn tại của nền kinh tế thịtrường, định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo (Điều 51), khẳng định quyền tự do
kinh doanh của mọi chủ thể (Điều 33)… Sau hơn ba mươi năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển nhưng cùng với đó là những hành vi phản cạnh tranh xuất hiện ngày càng nhiều. Kinh tế thị trường tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt, khiến các doanh nghiệp muốn tồn tại, buộc phải thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm bóc lột người tiêu dùng. Thêm vào đó các doanh nghiệp cũng biết lợi dụng các kẽ hở của pháp luật, của cơ chế độc quyền nhà nước nhằm bóp méo, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Có thể khẳngđịnh đâykhông những là cơ sởcho sự xuất hiện, tồn tại mà còn ngày càng phát triển của nhóm dạng hành vi hạn chếcạnh tranh, đặt ra thách thức lớn cho các nhà quản lý kinh tế trong việc kiểm soát, ngăn chặn tác động hạn chế cạnh tranh của những hành vi như vậy. Ngay trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng đã chỉ ra: “Với tư cách là lực lượng bảo vệ công lý và lẽ phải, Nhà nước và pháp luật chỉ có thể can thiệp vào sự tự do khi hành vi của một nhóm người là nguy cơ đe dọa sự tự do, quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Khi sự liên kết của các doanh nghiệp tạo ra khả năng xâm hại lợi ích của doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng và của thị trường, pháp luật cần có các biện pháp để ngăn chặn và trừng phạt”43. Sự chỉ đạo về mặt chính trị cho thấy Đảng tađã nhận thức đúng đắn được vai trò của cạnh tranh trong điều tiết kinh tế thị trường, cũng như vai trò của pháp luật điều chỉnh cạnh tranh. Đây cũng chính là là lịch sử hình thành và cơ sở kinh tế, xã hội cho sự tồn tại của pháp luật điều chỉnh hành vihạn chếcạnh tranh ở Việt Nam.
1.2.2. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật nhằm xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
Nhìn chung, các hành vi hạn chế cạnh tranh gây ra tác động tiêu cực tới thịtrường và ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng, do đó, các hành vi này cần phải được xử lý bằng một hệ thống chế tài nghiêm khắc của pháp luật. Quyđịnhpháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh vừa mang tính răn đeđối với các chủ thể vi phạm, vừa giúp bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnhtừ đótạo động lực cho phát triển kinh tế.
Thứ nhất, xuất phát từ hậu quả nghiêm trọng do hành vi hạn chế cạnh tranh gây ra đối với các chủ thể trên thị trường
43Đảng Cộng sảnViệt Nam: Văn kiệnĐại hội đại biểu toànquốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr96
(i) Tác động đến môi trường cạnh tranh và sự phát triển kinh tế
Trong một nền kinh tế, luôn có các doanh nghiệp có quy mô lớn nhỏ khác nhau, trong đó doanh nghiệp lớn luôn có xu hướng hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Khiđã có quyền lực thịtrường trong tay, doanh nghiệp sẽtìm cách thu lợi nhuận độc quyền bằng cách tăng giá của sản phẩm. Khi đó những quy luật cơ bản của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị sẽ bị làm sai lệch. Dođó để bảo vệ thị trường, Nhà nước cần ban hành pháp luật cạnh tranh để điều tiết cạnh tranh trên thịtrường44.Như vậy luật cạnh tranh giúp bảo vệ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, đồng thời thúc đẩy quá trình cạnh tranh tạo môi trường cạnh tranh công bằng và là động lực phát triển kinh tế. Ngay từ thế kỷ XVIII nhà kinh tế học Adam Smith đãkhẳng định cạnh tranh là “bàn tay vô hình” điều tiết sự phát triển và cơ cấu của nền kinh tế.45. Không có cạnh tranh sẽkhông có sựphát triển, do đó việc duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh chính là giúp cho nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, lýthuyết cạnh tranh của Adam Smith lại chỉ ra khái niệm về tự do cạnh tranh kinh điển được hiểu làmột môi trường cạnh tranh tự do của các chủ thể kinhtế mà ở đókhông có sự tham gia chi phối của nhà nước và hình thái độc quyền xuất hiện chỉ khi có sựcan thiệp trái pháp luật đối với quá trình tự do cạnh tranh này. Những hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường cần phải bị nghiêm cấm nhằm tạo ra môi trường tự do cạnh tranh, tự do phát triển. Bên cạnh đó, những hành vi như thỏa thuận hạn chếcông nghệ, hạn chếđầu tư hay lạm dụng vịtrí thống lĩnh vịtrí độc
quyền để giới hạn thị trường… là những hành vi làm suy giảm nghiêm trọng sự phát triển công nghệ, phát triển kinh tế. Những hành vi như vậy cần phải bị nghiêm cấm và đặt ra các quy định pháp luật xử lý nghiêm khắc.
(ii) Tác động đến đối thủ cạnh tranh
Học thuyết về cạnh tranh thường đưa ra hai luồng quan điểm đó là: pháp luật cạnh tranh giúp bảo vệ đối thủ cạnh tranh hay bảo vệ quá trình cạnh tranh trên thịtrường. Tuy nhiên theo quan điểm của tác giả cũng như đa số các nhà nghiên cứu pháp luật cạnh tranh khác, thì luật cạnh tranh nhằm bảo vệ cả đối thủ cạnh tranh lẫn quá trình cạnh tranh46. Trước tiên nói đến bảo vệ đối thủ cạnh tranh, thường là những doanh nghiệp nhỏ trên thị trường. Luật cạnh tranh sẽ giúp những doanh nghiệp này có cơ hội được cạnh tranh công bằngvớicác đối thủkhác trên thị trường để phát triển
44 NguyễnHữuHuyên (2004), Luật Cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, NXB Tư pháp, Tr15 45 Adam Smith: Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997.
46 Richard Whish & David Bailey, “Competition law” nhà xuất bản Oxford University Press, tái bảnlầnthứ 7, năm 2012, nguyên văn: “Competition law should be concern with competitor as well as the process of competition”
doanh nghiệp và thành công. Những đối thủ cạnh tranh lớn sẽ không thể dựa vào vịtrí thống lĩnh hay ví tríđộc quyền củamìnhđể dễ dàngloại bỏ hếtcác đối thủ cạnh tranh tiềm năng trên thị trường. Bởi hành vi loại bỏ đối thủ cạnh tranh nhằm duy trìvị thế trên thị trường là một trong những hành vi tuyệt đối nghiêm cấm và có chế tài xửlý nghiêm khắc. Tương tự đối với các nhóm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới hoặc thỏa
thuận loại bỏ các doanh nghiệp ra khỏi thị trường… cũng có thể làm ảnh hưởng tới các doanh nghiệp khác trên thị trường. Những doanh nghiệp này cần được bảo vệ nhưcác đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Như vậy, thông qua việc bảovệ các đối thủcạnh tranh, pháp luật cạnh tranh sẽ giúp duy trì được quá trình cạnh tranh trên thị trường. Hay nói cách khác là duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng, trung thực, lành mạnh. Đây cũng chính là cơ sở lý luận cho sự tồn tại của các quy định pháp luật về xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh. Mục tiêu của pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là đưa ra các biện pháp xử phạt nghiêm khắc mang tính răn đe nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm kể trên.
(iii) Tác động tới người tiêu dùng
Richard Whish và David Bailey trong cuốn “Competition law”47 cho rằng, một trong những mục tiêu đầu tiên của luật cạnh tranh nói chung và pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nói riêng đó là nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Những hành vi hạn chế cạnh tranh, đơn cử như hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa dịch vụ hay
lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để tăng giá bán hàng hóa dịch vụ sẽ làmảnh hưởngtrực tiếp tới đối tượnglà người tiêu dùng. Người tiêu dùng sẽ không có cơhộilựa chọn mức giá cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, mà thay vào đó các doanh nghiệp này cùng nhau thỏa thuận nhằm bóclộtngười tiêu dùng. Hành vi này có mức độ nguy hiểm không kém so với các hành vi được quy định trong luật hình sự. Bởi thực chất đây chính là hành vi“trộm cắp, móc túi” của nhiều người, là những người tiêu dùngyếuthếtrong xã hội. Dođó mụctiêu đầu tiên mà pháp luật cạnh tranh hướng tới cũng là cơ sở lý luận cho việc xử lý hành vihạn chếcạnh tranh đó là nhằmbảo vệngười tiêu dùng, bảovệnhững lợi ích công cộng. Ngay cả những hành vi như “bán hàng dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh”,ban đầu có thể là hành vi có lợi cho người tiêu dùng, vì người tiêu dùng có thể tiêu dùng hàng hóa dịch vụ với giá thấp hơn giá thành sản xuất. Tuy nhiên mục tiêu cuối cùng, vẫn lànhằm để loại bỏđối thủ cạnh tranh, thống lĩnh thị trường và quay trở lại tăng giá, bóc lột người tiêu
47 Richard Whish & David Bailey (2012), “Competition law”, Oxford University Press, 7th Edition, at 20 – 23
dùng. Do đó, các hành vi hạn chế cạnh tranh luôn là những hành vi đã đang hoặc có thể sẽ làm ảnh hưởng tới lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích công cộng. Những hành vi này vì vậy cần có các quy định pháp luật xử lý nghiêm khắc. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến luật cạnh tranh thuộc lĩnhvực “luật công”vì mục tiêu ban hành luật lànhằm để bảo vệ lợi íchcông cộng, lợi ích của người tiêu dùng. Ngoài ra việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh còn giúp thu lại nguồn lợi nhuận không chính đáng từ việc “bóc lột” người tiêu dùng, từ đó làm cơ sở để bù đắp những tổn thất mà người tiêu dùng và xã hội đã phải gánh chịu từ hành vi phản cạnh tranh của các chủ thểkinh doanh trên thị trường.
Thứ hai, xuất phát từ mục đích răn đe, ngăn ngừa các hành vi hạn chế cạnh tranh có thể xảy ra trong tương lai.
Như đã nêu trên, các hành vi hạn chế cạnh tranh gây ra tác động tiêu cực tới thị trường cạnh tranh và ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp và NTD. Bên cạnh đó, ý thức thực hiện pháp luật của các chủ thể kinh doanh còn thấp, vì mục tiêu lợi nhuận mà bất chấp vi phạm pháp luật. Hơn nữa, các hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung, đặc biệt là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thường được các doanh nghiệp câu kết “ngầm”, thỏa thuận bí mật, do đó rất khó để phát hiện và xử lý. Do vậy, cần có một hệ thống pháp luật đủ mạnh, đủ chắc để xử lý các hành vi vi phạm này. Các quyđịnh pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ là sự trừng phạt đối với những chủ thể kinh doanh vi phạm pháp luật cạnh tranh, bên cạnhđócũng mang tính răn đeđối với các doanh nghiệp khác, góp phần ngăn ngừa những vi phạm có thể xảy ra, đảm bảo môitrường cạnh tranh lành mạnh, quyền, lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp và NTD được bảo vệ.
Thứ ba, xuất phát từ mục đích thực thi quyền lực Nhà nước.
Như đã phân tích ở trên, hành vi hạn chế cạnh tranh xâm hại tới trật tự kinh tế, gây phương hại tới thị trường và người tiêu dùng, do đó cần phải được xử lý bằng các chế tài của luật công. Với vai trò là cơ quan quản lý, Nhà nước dùng quyền lực công của mình để xây dựng và đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cảcác doanh nghiệp. Với mục đích này, Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh, kiểm soát các chủ thể kinh doanh khi thực hiện hoạt động vì lợi nhuận trên thị trường, bên cạnh đó,để đảm bảo một môitrường cạnh tranh công bằng, các hành vi vi phạm cần phải được xử lý, và để làm được điều này, cần có các quyđịnh về xử lý hành vi vi phạm nói chung và xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nói riêng. Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là độc lập và khác biệt với các quy định pháp luật khác. Điều này thể hiện ở chỗ, việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh đòi hỏi phải cực kì nhanh chóng, hiệu quả, có đánh giá tác động môi trường cạnh tranh
trước và sau khi xử lý. Do đó, cách thức xử lý và chế tài xử lý đối với hành vi hạn chế cạnh tranh không giống với chế tài xử phạt hành chính thông thường. Chế tài hình sự cũng chỉ nhằm nâng cao tính răn đe trong xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, hay chế tài dân sự cũng chỉ phát sinh sau khi đã có quyết định xử lý hành vi vi phạm. Việc xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh cần đặc biệt tuân thủ nguyên tắc nhanh chóng, khách quan, và tập trung quyền lực cho cơ quan cạnh tranh. Ngoài ra, việc xử lý vi phạm cũng nhằm mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc khôi phục lại tổn thất của nền kinh tế từ những hành vi vi phạp pháp luật về cạnh tranh.
1.2.3. Khái niệm pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
Xử lý vi phạm pháp luật nói chung là xem xét, quyết định áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật48. Về mặt lý luận, hiện nay giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội mới chỉ đưa ra khái niệm về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý. Theo đó “Trách nhiệm pháp lí là sự bắt buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu nhữnghậu quảpháp lý bất lợi, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước, được pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật bị áp dụng những biện pháp cưỡng chếđượcpháp luật quyđịnh”.49 Trách nhiệm pháp lý có nhiều loại, thông thường chúng được chia thành trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân
sự, trách nhiệm kỉ luật…Như vậy nếu xem việc thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là một dạng vi phạm pháp luật, thì pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh liệu sẽ bao gồm những loại trách nhiệm pháp lý nào?
Liên quan đến kháiniệm “xử lývi phạm”, giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội, cũng đưa ra khái niệm xử phạt vi phạm hành chính như sau: “ Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác đối với các tổchức cá nhân vi phạm hành chính”. Tuy nhiên như đã đề cập ở trên, trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm về hạn chế cạnh tranh có nội hàm rộng hơn sovới “xửphạt vi phạm hành chính” vì xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu đề cập tới trách nhiệm hành chính.
Bên cạnh khái niệm trách nhiệm pháp lý, trong luật học còn sử dụng khái niệm có liên quan đó là “chế tài”. Chế tài là một trong ba bộ phận cấu thành một quy phạm
48 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, NXB Từ điền bách khoa – NXb Tư pháp, Hà Nội, 2006, Tr 875
49 Đại học Luật Hà Nội, (2015) Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Tr 216
pháp luật.“Chếtài làbộphận xácđịnhcác hình thức trách nhiệm pháp lý khi cóhành vi vi phạm với những quy tắc xử sự chung được ghi trong phần quy định vàgiảđịnh của quy phạm pháp luật” 50. Căn cứ vào tính chất của các nhóm quan hệ xã hội được phápluật điều chỉnh mà chế tài lại bao gồm nhiều hình thức như chế tài hành
chính, chế tài dân sự, chế tài hình sự… Bởi vậy, tương ứng với các loại trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự áp dụng với các chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh đó là các hình thức chế tài hành chính, chế tài dân sựhay chế tài hình sự. Nhắc tới trách nhiệm là nhấn mạnh tới chủ thể phải chịu trách nhiệm, phải chịu các chế tài. Còn chế tài chính là các hình thức, xử lý và làhậu quảbất lợi mà chủ thể vi phạm phải chịu trách nhiệm. Khi phát hiện những hành vi hạn chế cạnh tranh có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh thì chủ thể có thẩm quyền xử lý sẽ đưa ra các chế tài xử lý đối với các hành vi này. Chủ thể thực hiện hành vi phản cạnh tranh sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi mà mình gây ra. Hậu quả pháp lý bất lợi của hành vi vi phạm phápluật vềhạn chế cạnh tranhphụthuộc vào chủ thể thực hiện hành vi cũng như mức độ xâm phạm của hành vi đó. Cần nhận diện hành vi vi phạm pháp hạn chế cạnh tranh một cách chính xác, hợp lý mới có thể áp dụng các biện pháp chế tài một cách hiệu quả, đảm bảo công bằng cũng nhưnghiêm minh của pháp luật. Áp dụng biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật hạn chế cạnh tranh một cách có hiệu quả ngoài mục đích xử lý hành vi vi phạm pháp luật còn nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể, răn đe các chủ thể khác để họ biết kiềm chế, không thực hiện các hành vi phản cạnh tranh xâm hại tới các đối thủ cạnh tranh nói riêng và ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh nói chung.
Từ những phân tích trên, tác giả luận án có thể khái quát về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh như sau: “Xử lýhành vi hạn chế cạnh tranh là hoạt động của cácchủthể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp chế tài đối với các tổ chức cá nhân vi phạm theo trình tự thủ tục luật định.Xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh có những yêu cầu và đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh thường được tiến hành bởi cơ quanđặc biệt vừa mang tính “hành pháp” vừa mang tính “tư pháp”
Như đã phân tích, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi làm ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh nói chung, dođóhành vi này cần phải xửlý và giải quyết “nhanh chóng” để kịp phản ứng với thị trường. Những hành vi hạn chế cạnh tranh có
50 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, NXB Từ điền bách khoa – NXb Tư pháp, Hà Nội, 2006, Tr131
thể chỉ tác động tới thị trường trong một thời điểm nhất định, đòi hỏi cơ quan chức năng phải lập tức vào cuộc xử lý dứt điểm. Ví dụ, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền nhằm ngăn cản sự gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới chỉbịxửlý khi doanh nghiệp đã và đang có vịtrí độc quyền. Nếu như sau đó doanh nghiệp bị suy giảm sức cạnh tranh, không còn giữ được vị thế của mình thì việc xem xét hành vi không còn ý nghĩa nữa. Điều này lý giải tại sao, tố tụng cạnh tranh luôn là một loại tố tụng đặc thù vì thường được tiến hành bới một cơ quan quản lý cạnh
tranh – cơ quan có chức năng quản lý hành chính Nhà nước. Nhưng khi xem xét xửlý vụ việc thì lại được tiến hành theo thủ tục xét xử của cơ quan tư pháp. Việc xử lýhành vi hạn chế cạnh tranh phải được tiến hành bởi một cơ quan có phản ứng nhanh nhạy với thị trường, do đó cơ quan thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước sẽ rất phù hợp. Cơ quan này thường xuyên tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích thị trường, tìm và phát hiện hành vi vi phạm, nhưng đồng thời đánh giá được tác động của hành vi vi phạm đến thị trường. Tuy nhiên khi xem xét xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, cần phải thực hiện xử lý theo trình tự xét xử tư pháp vì hành vi nàyảnhhưởngtới môi trường cạnh tranh nói chung, ảnh hưởng tới lợi ích chung, lợi ích công cộng, dođó cơ quan quản lý nhà nước sẽ phải đại diện cho lợi ích công để truy tố, xét xử các chủ thể kinh doanh trên thị trường theo một trình tự thủ tục chặt chẽ. Việc xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh như vậy phản ánh tư duy pháp lý và quản lý kinh tế của các nhà làm luật. Điều này, rất cần thiết và đặc biệt quan trọng bởi một trong nhữngđặc điểm của pháp luật cạnh tranh đó là có tính “mềm dẻo”, xử lý các hành vi phản cạnh tranh, nhưng không can thiệp một cách thô bạo hay bóp méo thị trường.
Thứ hai, xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh chủ yếu được quy định trong luật cạnh tranh như một trình tự thủ tục đặc biệt.
Cũng giống như phá sản là một thủ tục thanh toán nợ đặc biệt được quy định riêng trong luật phá sản. Xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm được quy định trong luật cạnh tranh như một trìnhtự thủ tục đặc biệt. Đâycũng là đặc trưng thường thấy của pháp luật cạnh tranh, khi vừa có quy định nội dung về các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm lại vừa có quy định hình thức về xử lý các hành vi hạn chế canh tranh này. Việc xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh bằng các chế tài khác nhau, ngoài ra vẫn được quy định trong pháp luật chuyên ngành hay các luật hình thức khác như bộluật tố tụng dân sự hay tố tụng hình sự. Tuy nhiên, việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh cần tập trung, nhấn mạnh những nội dung được quy định trong luật cạnh tranh. Theo đó pháp luật cạnh tranh của mỗi quốc gia thường xây dựng riêng cho mình một cơ chế và trình tự thủ tục xử lý phù hợp đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh bị
cấm. Trình tự thủ tục này không giống với xử phạt vi phạm hành chính đơn thuần. Bởi quyết định xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh thường được đưa ra bởi một hội đồng cạnh tranh, quyết định mang tính tập thể, Ngay cả việc khiếu nại hay khởi kiện ra tòaán đối với quyết định xử lý này cũng được quy định trong luật cạnh tranh theo một cơ chế đặc biệt.
Thứ ba, việc áp dụng các chế tài trong xử lý hành vi hạn chế cạnh mang tính linh hoạt và mềm dẻo.
Pháp luật cạnh tranh nói chung thường đặt racác điều khoản mở để từ đó xácđịnh các hành vi phản cạnh tranh. Bởi cạnh tranh chính là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thương trường nên rất đa dạng, phong phú. Có những hành vi ởthời điểm này được xác định là gây ảnh hưởng xấu tới môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng ở một thời điểm, hoàn cảnh khác thì hành vi đó lại không xâm hại đến lợi ích công và không đáng bị ngăn cản. Do đó, xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh cũng phải đặt ra tính linh hoạt và mềm dẻo. Ngay như mức phạt đối với hành vi hạn chếcạnh tranh, Luật cạnh tranh 2018 quy định mức phạt tối đa lên đến 10% doanh thu của doanh nghiệm vi phạm trên thị trường liên quan, trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm. Việc quy định mức phạt trong khoảng từ 01 -10% doanh thu là một biên độ rất rộng, điều này thể hiện tính mềm dẻo trong quy định về chế tài xử phạt đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh. Cơ quan cạnh tranh sẽ tùy vào mức độ vi phạm của hành vi để quyết định mức tiền phạt. Có những hành vi yêucầu chếtài xửlý rất nghiêm khắc đểcòn mang tính răn đe các chủthểcạnh tranh trên thịtrường. Tuy nhiên cũng có những hành vi vi phạm chỉ cần dừng lại ở mức cảnh cáođối với chủ thể vi phạm. Có những hành vi vi phạm chế tài xử lý chỉ cần có các biện pháp xử phạt chính, nhưng cũng có những hành vi vi phạm còn phải kèm theo các biện pháp xử phạt bổ sung như thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật, phươngtiện được sử dụngđể vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.
Từ việc phân tích khái niệm, các yêu cầu, đặc trưng của xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh có thể khái quát pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh như sau : Pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là tập hợp những quy phạm pháp luật cạnh tranh liên quan đến hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp chế tài đối với các tổchức cá nhân có hành vi vi phạm hạn chế cạnh tranh, theo trình tự thủ tục luật định. Pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là một chế định quan trọng của pháp luật về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung.
Pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh được áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh trái quy định pháp luật. Các hành vi hạn chế canh tranh trái với quy định pháp luật chính là cơ sở để tiến hành hoạt độngxửlý vi phạm. Căn cứđể ápdụng chế tài xử lý hành vihạnchế cạnh tranh là khi có hành vi vi phạm và có lỗi. Phápluật xửlý hành vi hạn chế cạnh tranhchỉđược áp dụng khi xácđịnhđược hành vi vi phạm trên thực tế và chủ thể thực hiện cố tình thực hiện vì mục đích phản cạnh tranh. Đây là hai yếu tố cơ bản làm căn cứ cho việc áp dụng pháp luật vềxửlý vi phạm nói chung. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật cạnh tranh, trong một số trường hợp, chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm nhưng được hưởng miễntrừthì không bị áp dụng chế tài xử lý. Chủ thể thực hiện hành vi hạn chếcạnh tranh có thể là doanh nghiệp hoặc các cá nhân cụ thể có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. Trong một số trường hợp các hiệp hội cũng là chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm.
Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh quy định nhiều hình thức chế tài khác nhau, được áp dụng bởi các chủ thể có thẩm quyền. Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh baogồmchế tài hành chính, chế tài dân sự và chế tài hình sự. Các biện pháp chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranh thường bao gồm phạt tiền đối với doanh nghiệp, cá nhân, phạt tù đối với cá nhân, và bồi thường thiệt hại… Cụ thể, chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh có thể được xem xét không chỉ bao gồm chế tài xử phạt vi phạm trong luật cạnh tranh mà còn có thể quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác. Có thểkể đến nhưchếtài hìnhsựđượcquyđịnhtrong luật hình sự về tội phạm liên quan đến cạnh tranh. Thậm chí nếu như hành vi này gây thiệt hại tới các chủ thể cạnh tranh trực tiếp trên thị trường thì các chủ thể này cũng có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo chế tài dân sự. Vì dụ như hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh có thể dẫn đến việc loại bỏ các doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường. Như vậy nếu chỉ áp dụng chế tài là phạt vi phạm hoặc phạt tù cá nhân vi phạm có thể chưa giải quyết được mong muốn của chủ thể bị xâm phạm. Những doanh nghiệp đang kinh doanh trên thị trường, bị buộc phải rút lui có thểmuốn một khoản tiền bồi thường thiệt hại hơn là chỉ là khoản tiền phạt mang về cho ngân sách nhà nước hoặc có tính răn đe với các chủ thể khác trên thị trường.51
Cũng chính vì có thể áp dụng các chế tài xử phạt khác nhau, nên cơ quan cóthẩm quyền áp dụng các chế tài này cũng khác nhau. Các loại chế tài hình sự, chế tài dân sự được áp dụng bởi cơ quan xét xử là Tòa án. Trong khi đó chế tài phạt vi phạm
51 William M. Landes, “Optimal Sanctions for Antitrust Violations,” Tạp chí University of Chicago Law Review số 652 (1983)
được ápdụng bởi cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới đều quy định cơ quan quản lý cạnh tranh là cơ quan chủ yếu áp dụng các chế tài xử lý đối với hành vi hạn chế cạnh tranh. Đây cũng là một đặc điểm khiến chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh mang tính đặc biệt. Bởi chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh không mang bản chất của “chế tài hành chính” đơn thuần, mức xử lý vi phạm theo chế tài cạnh tranh thường căn cứ theo % doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan, mà không ấn định một mức phạt cụ thể như các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính thông thường. Ngoài ra, cơ quan cạnh tranh là cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm cũng không mang đặc điểm của cơ quan quản lý hành chính nhà nước và thủ tục tiến hành ra quyết định xửlý vi phạm cũng không giống với thủtục ban hành quyết định xửphạt vi phạm hành chính.
1.2.4. Nội dung cơ bản của pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
Việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứvào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp chế tài đối với các tổ chức cá nhân vi phạm theo trình tự thủ tục luật định.
Thứ nhất, nội dung cơ bản pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh đề cập đến trước tiên là xác định các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật hiện hành. Pháp luật xửlý hành vi hạn chếcạnh tranh hướng tới những hành vi hạn chế cạnh tranh có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh. Không phải hành vi hạn chế cạnh tranh nào cũng trái pháp luật, cho nên chỉ những hành vi hạn chế cạnh tranh có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh (hành vi bị cấm thực hiện, không được miễn trừ, gây thiệt hại nghiêm trọng tới môi trường kinh doanh, mất cân bằng cạnh tranh trên thị trường) mới là đối tượng điều chỉnh của chế định pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh đặt ra các nguyên tắc áp dụng trong xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Theo đó, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Như vậy có thể thấy phápluật về xử lýđối với hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm gồm ba hình thức xử lý chính là hình thức xử lý hành chính, hình thức xử lý hình sự và hình thức xử lý kiện đòi bồi thường thiệt hại dân sự. Hành vi hạn chế cạnh tranh mang lại rất nhiều những hậu quả bất lợi không chỉ tới môi trường cạnh tranh nói chung mà cònảnh hưởngtới lợi ích của cácđối thủ cạnhtranh
hay lợi ích chung của tất cả người tiêu dùng. Do đó, khi xem xét xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh, chúng ta cần đặt trong một tổng thể mới có thể xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm một cách triệt để và hiệu quả nhất. Về mối liên hệ giữa các chế tài xử lý này, có thể thấy các chế tàixử lýhành vi hạn chế cạnh tranh có mối liên hệ mật thiết với nhau. Có thể áp dụng song song các chế tài như chế tài xử phạt vi phạm hành chính và chế tài buộc bồi thường thiệt hại, hoặc chế tài hình sự và chế tài buộc bồi thường thiệt hại. Về nguyên tắc, một hành vi vi phạm chỉ có thể bị xử lý một lần, do đó chế tài xử phạt vi phạm hành chính và chế tài hình sự thường không áp dụng cùng nhau. Trong quá trình điều tra, khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, điều tra viên vụ việc cạnh tranh phải báo cáo Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh xem xét, kiến nghịChủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chuyển một phần hoặc toàn bộ hồ sơ liên quan đến dấu hiệu của tội phạm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật52.
Ngoài ra trong nguyên tắc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh cũng cần phải nhắc tới nguyên tắc áp dụng giữa luật chung và luật chuyên ngành. Cụ thể trong mối liênhệvới các luật khác, khi nào Luật Cạnh tranh là luật chung và khi nào Luật Cạnh tranh làluật chuyên ngành. Nguyên tắc Luật Cạnh tranh luôn được ưu tiên áp dụng cần phải đặt trong mối quan hệ xem giữa Luật Cạnh tranh và luật chuyên ngành như thế nào. Bởi hiện nay theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018, trường hợp luật khác có quyđịnh về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinhtế,hành vi cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quyđịnh của Luật Cạnh tranh thì áp dụng quyđịnh của luật đó.
Thứ ba, về căn cứ xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Luận án không đi theo cấu trúc về các hình thức xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là hình thức xử lý hành chính, hình thức xử lý hình sự và hình thức kiện đòi bồi thường thiệt hại dân sự. Do đó trong nội dung về căncứ xử lýhành vi hạn chế cạnh tranh, tác giả luận án cũng chỉ phân tích căn cứ xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung bao gồm ba (03)yếu tố cơ bản đó là có hành vi vi phạm, có lỗi của chủ thể thực hiện và có hậu quả gây tác động hoặc cóthể gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, khi phân tíchcụ thể
từng chế tài xử lý hành vi vi phạm, tác giả luận án sẽ chỉ rõ các căn cứ để áp dụng từng loại chế tài, đặc biệt là chế tài hình sự và chế tài kiện đòi bồi thường thiệt hại dân sự.
Thứ tư, về cơ quan có thẩm quyền xử lý. Như đã phân tích về bản chất pháp lýcủa hành vi hạn chế cạnh tranh, đó là xâm hại tới trật tự kinh tế nên cần có sự can thiệp nhanh chóng, hiệu quả từ phía cơ quan công quyền là cơ quan cạnh tranh. Vì vậy, tác
52Điều85 Luật Cạnh tranh 2018
giả luận án dành phần lớn để phân tích cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh hiện hành của Việt Nam là Ủy ban cạnh tranh quốc gia. Đánh giá về mô hình Ủy ban canh tranh quốc gia hiện nay như thế nào, cần phải xây dựng mô hình này trong tương lai phù hợp với những điều kiện về kinh tế xã hội ở Việt Nam. Thách thức trong việc xây dựng mô hình cơ quan công quyền đủ mạnh nhằm thực thi Luật cạnh tranh trong thời gian tới. Ngoài ra, ở Việt Nam cũng có quy định về các cơ quan tiến
hành tố tụng cạnh tranh khác như Tòa án, các cơ quan quản lý chuyên ngành… Mối quan hệ của các cơ quan này với Ủy ban cạnh tranh quốc gia trong quá trình xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là vấn đề mà quy định pháp luật thực định gần như bỏ ngỏ. Do đó, về mặt lýluận, tác giả luận án cần đặt ra vấn đề nàyđể đưa racác giải pháp hoàn thiện ở Chương 3.
Thứ năm, khiđềcập tới pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh như một hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụngđối với chủthể thực hiện hành vi phản cạnh tranh trên thị trường, không thể không nhắc tới các quy định pháp luật về trình tự thủ tục xử lý vi phạm. Bởi thực chất đây là những quy định không thể tách rời, chúng ta chỉ có thể xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh khi xác định được cơ quan có thẩm quyền xử lý, trình
tự thủ tục xử lý. Mỗi biện pháp chế tài xử lý lại có những đặc trưng riêng, có trìnhtựthủ tục áp dụng khác nhau. Do đó, sẽ là thiếu sót nếu chỉ phân tích các biện pháp xửlý bằng chế tài hành chính, chế tài hình sự hay chế tài dân sự mà không gắn với cách thức và phương pháp áp dụng. Dù được thực hiện theo biện pháp chế tài nào, về cơbản trình tự thủ tục xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ bao gồm các bước cơ bản nhưđiều tra, xem xét giải quyết vụ việc, khiếu nại và giải quyết khiếu nại… Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của Luận án, nội dung cơ bản mà tác giả phân tích ở phần trình tự thủ tục sẽ chỉ tập trung về tố tụng cạnh tranh đặc thù mà không phân tích trình
tự thủ tục tố tụng dân sự hay tố tụng hình sự hay các thủ tục tố tụng đặc biệt khác.
Thứsáu, về các chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, như đã phân tích, “chế tài xử lý đối với hành vi hạn chế cạnh tranh là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi phản cạnh tranh trên thị trường. Các chế tài cơ bản hay được nhắc tới đó là chế tài dân sự, chế tài hình sự và chế tài hành chính. Hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng đối với các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm có thểlà một trong các hình thức chế tài kể trên hoặc tổng hợp các chế tài đó. Hiện nay trong các tài liệu mà tác giả nghiên cứu, cũng chưa thấy đề cập tới khái niệm chế tài cạnh tranh, mà chỉ nhắc tới chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Thuật ngữ chế tài được pháp luật của các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ sử
dụng phổ biến là “penalty”hoặc “sanaction”. Trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam, nhìn chung cũngchỉ đề cập tới vấn đề xử lý viphạm pháp luật cạnh tranh mà không nhắc tới nội dung cụ thể của các chế tài xử lý. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, nội dung của chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là các biện pháp xử lý vi phạm đối với hành vi hạn chế cạnh tranh. Các nội dungcơ bản được đề cập đến đó làchủ thểbị áp dụng chế tài (chủ thể thực hiện hành vi vi phạm), căn cứ áp dụng chế tài và các biện pháp chế tài. Trong đó các biện pháp chế tài bao gồm các biện phát xử phạt chính như cảnh cáo, phạt tiền, phạt tù; các biện pháp xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc
phục hậu quả hay buộc bồi thường thiệt hại… Các biện pháp chế tài này không chỉđược quy định trong pháp luật cạnh tranh mà còn được quy định trong pháp luật chuyên ngành khác.
Ngoài ra, tác giả luận án cũng tập trung phân tích thực tiễn xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Đánh giá những kết quảđạt được và chỉra những bất cập còn tồn tại trong xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc phân tích các nguyên nhân tạo ra sự bất cập, tác giả luận án cũng đã dày công trong nghiên cứu kinh nghiệmtừcác quốc gia trên thế giới nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam giúp xử lý có hiệu quả, triệt để đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh. Việc xử lý tốt các hành vi hạn chế cạnh tranh cũng góp phần thúc đẩy và tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế.
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc ban hành và xây dựng các quy định pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
Thứ nhất, điều kiện kinh tế xã hội làm ảnh hưởng tới việc ban hành và xây dựng pháp luật cạnh tranh nói chung và xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nói riêng.
Yếu tố kinhtế xãhội được hiểu là tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, hệ thống các chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng trong thực tế. Khi nền kinh tế xã hội phát triển, đời sống vật chất tinh thần được cải thiện, hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tự giác, tích cực, đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực thi pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật của các tầng lớp xã hội. Ngược lại, nền kinh tế chậm phát triển, đời sống người dân còn khó khăn, tình
trạng thất nghiệp… là nguyên do dẫn tới những tệ nạn, vi phạm pháp luật, hay nói cách khác, sẽ gây ra cản trở cho việc thực thi pháp luật. Có thể thấy, yếu tố kinh tế lànền tảng của sự nhận thức và thực hiện pháp luật, là yếu tố tác động mạnh mẽ đến
việc áp dụng pháp luật. Pháp luật cạnh tranh lại là quy định pháp luật chịu ảnh hưởng rất nhiều từ điều kiện kinh tế xã hội. Điều này lý giải tại sao pháp luật kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh ra đời rất muộn vào khoảng cuối thế kỷ XIX, gắn với sự hình
thành của tư bản độc quyền và sự lũng đoạn của tư bản độc quyền. Pháp luật kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trường đã phát triện và đạt được mức độtập trung hóa nhất định, sựtích tụtư bản tăng lên, có thểphát sinh những trung tâm quyền lực thị trường, hình thành các tập đoàn tư bản độc quyền vàchủ nghĩa độc quyền ra đời lũng đoạn thị trường53. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành đạo luật chống độc quyền với tên gọi là đạo luật Sherman (1890). Năm 1914 đạo luật Clayton được ban hành nhằm mở rộng quy định chống độc quyền của đạo luật Sherman trong việc ngăn cản các hành vi sáp nhập của các doanh nghiệp có khả năng gây hạn chế cạnh tranh54.
Trong khi đó, Việt Nam hiện nay vẫn đang từng bước đi theo cơ chế kinhtếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế kinh tế này có những mặt tích cực như thúc đẩy sựsáng tạo, đổi mới, giúp tạo lập được môi trường cạnh tranh. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng Việt Nam chưa có được một nền kinhtế thị trường đầy đủ, chúng ta vẫn đang đặt mục tiêu “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường” trong các chiến lược phát triển kinh tế. Bản chất cốt lõi của nền kinh tế thị trường là sự bìnhđẳng giữa các thành phần, các khu vực kinh tế. Trong khi đó, vấn đề độc quyền ởnước ta còn đang là một thách thức rất lớn đặc biệt là độc quyền nhà nước. Cóthểnói, khi mà nền kinh tế chưa thực sự “thị trường”, các thành phần kinh tế chưa thực sự bình đẳng thì việc ban hành, xây dựng pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh vẫn chưa được quan tâm đúng mức và gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác thực thi. Thực tiễn cho thấy sau hơn mười bốn năm thực thi ở Việt Nam, Luật cạnh tranh 2004 đã phát huy được vai trò trong việc tạo lập, duy trì và đảm bảo một môi trường kinh doanh bình đẳng và lành mạnh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, quá trình thực thi luật cạnh tranh ởViệt Nam nói chung, xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nói riêng cũng gặp phải nhiều khó khăn do bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là yếu tố về điều kiện kinh tế xã hội.
Thứ hai, chính sách cạnh tranh cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh.
Theo đó, chính sách cạnh tranh là tổng thể các biện pháp, công cụ vĩ mô của nhà nước nhằm đảm bảo tự do cạnh tranh và điều tiết cạnh tranh trong nền kinh tế,
53 Đại học Luật Hà Nội, (2018) Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công an nhân dân, Tr46 54 https://vi.wikipedia.org/Luat chong doc quyen tai Hoa Ky
duy trì môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng phù hợp với lợi ích chung của xãhội55. Chính sách cạnh tranh được ban hành với mục tiêu chủ yếu là để duy trì và phát huy cạnh tranh như một phương thức để phân bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường đồng thời tạo điều kiện để người tiêu dùng được cung ứng đầy đủ hàng hóa với chất lượng tốt nhất vàgiá cả rẻ nhất. Luật cạnh tranh chỉ là một bộ phận của chính sách cạnh tranh và chỉ là một bước hướng tới việc hình thành chính sách cạnh tranh. Đặt ra ngoài tổng thể của chính sách cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh sẽ không cóhiệu quả đối với việc điều tiết cạnh tranh. Do đó chính sách cạnh tranh trong từng thời kỳ sẽ ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng và ban hành khung pháp lý về xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh. Luật Cạnh tranh 2004 không có quy định về chính sách cạnh tranh, nhưng đến Luật Cạnh tranh 2018 chúng ta đã quy định tại Điều 6 Chính sách của Nhà nước về cạnh tranh. Trong đó, ngoài những mục tiêu chung như tạo lập duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, bình đẳng, minh bạch, pháp luật cạnh tranh cũng nhấn mạnh đến mục tiêu “Tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao hiệu quảkinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dung; Tạo điều kiện để xã hội, người tiêu dùng tham gia quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật về cạnh tranh”. Như vậy, ở giai đoạn này chính sách cạnh tranh của Việt Nam đã nhấn mạnh đến mục tiêu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và mong muốn người tiêu dùng giám sát việc thực thi pháp luật cạnh tranh, hay nói cách khác mục tiêu thực hiện chính sách cạnh tranh là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội. Trong giai đoạn này việc phát hiện và xử lýcác hành vi hạn chế cạnh tranh không chỉ thuộc về ý chí chủ quan của các cơquan thực thi pháp luật cạnh tranh. Thay vào đó Nhà nước sẽ đề cao việc tuyên truyền
phổ biến pháp luật cạnh tranhđến cộng đồngdoanh nghiệp, người tiêu dùng…đểchính những những chủ thể này sẽ đóng vai trò giám sát và thực thi pháp luật cạnh tranh nói chung cũng như xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nói riêng.
Thứ ba, trình độ lập pháp và hệ thống pháp luật là một trong những yếu tố cơbản ảnh hưởng tớiviệc ban hành và xây dựng các quy định pháp luậtvề xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh.
Trong quá trình xây dựng Luật Cạnh tranh 2018 cũng như những quy định pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, ban soạn thảo luật đã gặp rất nhiều những khó khăn vướng mắc, và một trong số đó là do những mâu thuẫn chồng chéo
55 Trường Đại học Ngoại thương, giáo trình luật cạnh tranh (Tăng Văn Nghĩa), NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr29; Tài liệu của khóa học : Đàotạochuyên sâu Luật và chính sách cạnh tranh ngày 21-24/9/2010 tại
Hạ Long – Việt Nam
trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Nhìn chung, các hành vi hạn chế vàxửlý các hành vi này đã được quyđịnhtại Luật cạnh tranh và luật chuyên ngành, bước đầu cho thấy các vấn đề về cạnh tranh được chú trọng trong công tác xây dựng pháp luật và quản lý trên thực tế. Tuy nhiên, trong số những luật chuyên ngành có chứa đựng các quy phạm, điều khoản hoặc nội dung về cạnh tranh đã được rà soát chỉ có một tỉ lệ nhỏ là đảm bảo được sự tương thích, phù hợp và thống nhất với các quy định của pháp luật cạnh tranh. Hơn nữa sự thống nhất cũng mới chỉ dừng lại ở cấp độ quanđiểm lập pháp hoặc ở các quy định mang tính nguyên tắc chứ chưa đạt tới sự tương thích, phù hợp và thống nhất giữa các nội dung quy định chi tiết cụ thể. Kết quả ràsoát giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật chuyên ngành đã cho thấy sự mâu thuẫn và sựchồng chéo của các quy định trong những văn bản này cũng khá đặc thù và phức tạp. Theo đó, pháp luật chuyên ngành hầu như không dẫn chiếu đến pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh trong các ngành, lĩnh vực cụ thể. Không chỉ vậy, nhiều pháp luật chuyên ngành có xây dựng những điều khoản quy định và điều chỉnh đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh với sự khác biệt khá lớn vềnội dung như cấu thành hành vi, thẩm quyền xử lý, hình thức và mức độ xử lý… Điều này dẫn tới có khá nhiều chồng chéo và thậm chí cả những lỗ hổng hay khoảng cách pháp lý giữa pháp luật cạnh tranh và các pháp luật chuyên ngành về các quy định liên quan đến cạnh tranh. Ngay như trong quy định pháp luật về hình sự, Bộ luật hình sựnăm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đã lần đầu tiên quy định về chế tài hình sự đối với pháp nhân, điều này mở ra một trong những trangmới về xử lýcác chủ thể vi phạm trong đó có pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, dosựkhông tương thích trong cách quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh giữa Luật Cạnh tranh và Bộ luật hình sự, dẫn đến những mâu thuẫn trong xử lý vi phạm liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.
Thứ tư, tập quán kinh doanh và ý thức chấp hành pháp luật kiểm soát hành vìhạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Tập quán kinh doanh và ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể kinh doanh là một trong những yếu tố ảnh hướng tới không chỉ việc xây dựng, ban hành màcảthực thi pháp luật vềxửlý hành vi hạn chếcạnh tranh. Việt Nam và các quốc gia Châu Á nói chung thường có tập quán kinh doanh theo kiểu “cộng đồng” các doanh nghiệp. Điều này cũng lý giải vì sao các “Hiệp hội ngành nghề hay hiệp hội ngành hàng” có vai trò rất lớn trong cộng đồng các doanh nghiệp. Chính do tập quán, thói quen và tâm lý kinh doanh như vậy, cho nên pháp luật cạnh tranh là một trong những quy phạm pháp luật mà các doanh nghiệp đều không muốn được ban hành và áp dụng,
bởi cho rằng quy định pháp luật này không mang lại lợi ích trong kinh doanh. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật là một trong những yếu tố mang tính khách quan, ảnh hưởng căn bản tới xây dựng và thực thi pháp luật về chế tài xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh. Việc các doanh nghiệp không nắm được các quy định pháp luật hạn chếcạnh tranh dẫn tới tính trạng vi phạm pháp luật diễn ra khá phổ biến, trong khi đónguồn lực của cơ quan cạnh tranh lại hết sức hạn chế. Điều này dẫn đến thực trạng là, có những hành vi hạn chế cạnh tranh diễn ra rất nhiều trên thực tế, nhưng lại chưa bao giờbịxửlý bởi cơ quan cạnh tranh. Ngược lại, có những trường hợp doanh nghiệp đã hiểu rõ về quy định pháp luật hạn chế cạnh tranh, nhưng lại cố tình tìm cách vi phạm những quy định đó. Đây mới thực sựlà những trường hợp gây ảnh hưởng rất lớn tới môi trường cạnh tranh cần phải được phát hiện, điều tra và xử lý. Như vậy việc vi phạm hay không vi phạm quy định pháp luật cạnh tranh nói chung,ảnh hưởng rất nhiều từ ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp đã hiểu rõ được quy định pháp luật, cũng như có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh những quy định pháp luật đó thì năng lực thực thi pháp luật của cơ quan cạnh tranh sẽ được nâng cao hơn. Việc áp dụng các chế tài xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh cũng rõ ràng và đạt hiệu quả hơn.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Là chương khởi đầu mang nền móng then chốt để triển khai các nội dung còn
lại, Chương 1 của luận án đã dày công nghiên cứu các vấn đề lý luận về hành vi hạn chế cạnh tranh và pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Cụ thể:
Một là, tác giả đã nhận diện và phân loại được hành vi hạn chế cạnh tranh cũng như cơ sở kinh tế, xã hội của việc tồn tại hành vi hạn chế cạnh tranh. Hành vi hạn chếcạnh tranh được phân loại theo hai cách thức. Thứ nhất, căn cứ vào tác động bất lợi của hành vi gây ra đối với môi trường cạnh tranh, đa phần pháp luật các quốc gia trên thế giới đều đề cập tới các dạng hành vi hạn chế cạnh tranh cơ bản như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Thứ hai, căn cứ vào bản chất của hành vi cũng như thái đổ của nhà nước đối với các nhóm hành vi này, tập trung kinh tế sẽ được tách ra khỏi nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh. Cụ thể, theo quan điểm của Luật cạnh tranh 2018, hành vi hạn chế cạnh tranh là những hành vi là hành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường và lạm dụng vị trí độc quyền. Kiểm soát tập trung kinh tế được xem là một trong những mảng riêng được tách ra khỏi quy định pháp luật về xử lý hành vi hạn
chế cạnh tranh. Nguyên nhân là bởi mục đích của kiểm soát tập trung kinh tế không chỉ nhằm tìm kiếm hành vi vi phạm để xử lý. Trong khi đó các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền luôn đặt cơ quan thực thi trước thách thức phải xử lý triệt đểnhững hành vi vi phạm, nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
Hai là, Tác giả luận án cũng đã cố gắng để làm rõ và đưa ra kháiniệm về xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh cũng như pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Từ việc phân tích lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh cho thấy nhu cầu điều chỉnh pháp luật nhằm xử lý hành vi hạn chếcạnh tranh là một nhu cầu tất yếu. Tuy nhiên việc xây dựng khái niệm pháp luật vềxử lý hành vi hạn chế cạnh tranh cũng đặt ra rất nhiều thách thức. Việc xây dựng khái niệm pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh phải đi từ phân tích khái niệm vi phạm pháp luật, cho đến khái niệm xử lý vi phạm và chế tài xử lý vi phạm. Theo đó, tác giả luận án cũng đã đưa ra được khái niệm về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh như sau: “xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp chế tài đối với các tổ chức cá nhân vi phạm theo trình tự thủ tục luật định”. Xửlý hành vi hạn chế cạnh tranh có những yêu cầu và đặc trưng cơ bản như thườngđược tiến hành bởi cơ quan vừa mang tính hành pháp pháp vừa mang tính tư pháp, theo trình tự thủ tục tố tụngđặc biệt vàcác chế tài luôn mang tính mềm dẻo, linh hoạt. Pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là tập hợp những quy phạm pháp luật cạnh tranh liên quan đến việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là một chế định quan trọng của pháp luật về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung.
Ba là, tác giả luận án đã đi sâu, luận giải vấn đề tại sao cần phải xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng và ban hành pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh trước hết xuất phát từ hậu quả nghiêm trọng do hành vi hạn chế cạnh tranh gây ra đối với môi trường cạnh tranh, đối với người tiêu dùng và các chủ thể kinh doanh trên cùng thị trường. Việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh nhằm mục đích răn đe, ngăn ngừa các các hành vi hạn chế cạnh tranh có thể xảy ra trong tương lại đồng thời nhằm đảm bảo thực thi quyền lực của cơ quan nhà nước. Bên cạnhđó,có rất nhiều yếu tốảnh hưởngtới việc ban hành và xây dựng khung pháp lý nhằm xử lý hành vihạn chếcạnh tranh như những yếu tố điều kiện kinh tế xã hội, chính sách cạnh tranh của Nhà
nước trong từng thời kỳ, trình độ lập pháp, ý thức và tập quán kinh doanh của các chủ
thể kinh doanh trên thị trường…
Bốn là, tác giả luận án đã khu trú được phạm vi nghiên cứu của Đề tài luận án, là những nội dung cơ bản của pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh, đồng thời nghiên cứu tìm hiểu về pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới liên quanđến nội dung này. Theođó,pháp luật xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm: việc xác định các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm, nguyên tắc áp dụng trong xử lý hành vi hạn chế chế cạnh tranh và các hình thức xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Trongđó các hình thức xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh là nội dung cơ bản và quan trọng nhất. Các hình thức xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm những quy định pháp luật về căn cứ xử lý, cơ quan có thẩm quyền xử lý, trình tự thủ tục áp dụng và các chếtài xử lý. Đây chính là cơ sở lý luận vững chắc cho những nghiên cứu tiếp theo trong phần quy định pháp luật thực định cũng như đánh giá và tìm giải pháp cho các vấn đề pháp lý có liên quan đến xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh./.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI
HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
2.1.1. Các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam 2.1.1.1. Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh (HCCT) được nhìn nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏsức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa cácđối thủ cạnh tranh. Khoản 1 Điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hànhđộngphối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh56. Theo Luật Cạnh tranh 2018, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh57. Đồng thời liệt kê các dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018. So với Luật Cạnh tranh 2004 trước đây, Luật Cạnh tranh 2018 đã liệt kê các dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo hướng mở, nhằm mở rộng phạm vi của các dạng hành vi này. Tuy nhiên không phải tất cả các dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nêu trên đều bị cấm. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này cũng chỉ bị cấm nếu rơi vào các trường hợp quy định tại Điều 12 Luật Cạnh tranh 2018. Theo đó, các hành vi quy định tại khoản 4, 5, 6 Điều 11 bao gồm: thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịchvụ;thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham giathịtrường hoặc phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏkhỏi thịtrường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận, là những hành vi bị cấm tuyệt đối, không kể doanh nghiệp thực hiện hành vi có cùng thị trường liên quan hay không. Sởdĩ những hành vi này bị cấm tuyệt đối là do hậu quả bất lợi của hành vi gây ra đối với môi trường cạnh tranh. Những hành vi bị cấm tuyệt đối luôn hàm chứa tính bất lợi và gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.
56 Khái niệm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Nguồn: http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=374&CateID=1 57 Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018
Ngoài ra, Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018 còn phân loại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo chiều ngang và các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo chiều dọc. Cụ thể, các hành vi quyđịnhtại khoản 1,2,3 Điều 11 bao gồm: thỏa thuận ấn địnhgiá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Các thỏa thuận này sẽ mặc nhiên bị cấm nếu như doanh nghiệp thực hiện hành vi hoạt động trên cùng thị trường liên quan, tức chỉ bị cấm nếu là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang là sự thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trong cùng cấp độ của chuỗi quá trình sản xuất kinh doanh. Đây được xem là các “hardcore-cartel” do có tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường một cách nghiêm trọng. Ngược lại nếu các hành vi này là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc, tức là sự thỏa thuận diễn ra giữa các doanh nghiệp ở các cấp độ khác nhau của chuỗi quá trình sản xuất kinh doanh sẽchỉ bị cấm nếu như gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.
Những dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn lại bao gồm: Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện kýkếthợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịchvụcho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận; Thỏa thuận hạn chếthịtrường tiêuthụsản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận, dù là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang hay thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc sẽ chỉ bị cấm nếu gây tác động hoặc có khả năng gây tácđộng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường58. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh căn cứ vào nhiều yếu tố. Ngoài ra các hành vi thỏa thuận không bị cấm tuyệt đối, tức là không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018 sẽ có thể được hưởng miễn trừ có thời hạn nếu có lợi cho người tiêu dùng và đáp ứng các điều kiện luật định. Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được hưởng miễn trừ sẽ không bị xử lý với tư cách là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Có thể nói, so với Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018 đã điều chỉnh cách tiếp cận kiểm soát thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo hướng kết hợp tư duy kinh
58 Các thỏa thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 12 Luật Cạnh tranh 2018
tế và tư duy pháp lý, phù hợp với thực tiễn cạnh tranh trên thị trường và thông lệ quốc tế, nâng cao hiệu quả thực thi. Luật Cạnh tranh 2018 không tiếp cận kiểm soát thoảthuận hạn chế cạnh tranh chỉ dựa vào tiêu chí thị phần như trước, mà kiểm soát hành vi trên cơ sở bản chất, tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của hành vi. Việc đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ dựa trên các yếu tố như thị phần, rào cản gia nhập thị trường, năng lực công nghệ, cơsở hạ tầng
thiết yếu, các yếu tố đặc thù ngành…59
Mặc dù không sửdụng thuậtngữ“thỏa thuận theo chiều ngang” hay “thỏa thuận theo chiều dọc”, nhưng với việc xác định cấm dựa theo các chủ thể thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có cùng thị trường liên quan hay không, Luật Cạnh tranh 2018 đã mở rộng phạm vi các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị kiểm soát, bao gồm cả các thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang và chiều dọc. Ngoải ra quy định cấm mặc nhiên đối với những hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang như thoả thuận ấn định giá, phân chia thị trường, kiểm soát sản lượng là một trong những điểm mới nổi bật của Luật Cạnh tranh 2018. Pháp luật cạnh tranh trên thế giới thường sử dụng thuật ngữ “hardcore -cartel” để chỉ những thỏa thuận hạn chếcạnh tranh theo chiều ngang gây ảnhhưởng nghiêm trọng tới thịtrường. Trong cuốn Competition Law, tác giả Richar Whish và David Bailey cũng đã chỉ ra rằng, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang như thỏa thuận về giá, phân chia thị trường, hạn chế sản xuất, và thông đồng trong đấu thầu là những mục tiêuđiều chỉnh chính của hệ thống pháp luật cạnh tranh. Những thỏa thuận này thường bịcấm bởi hệ thống pháp luật cạnh trạnh của tất cả các nước và phải chịu một chế tài nghiêm khắc60. Pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu cũng chỉ ra các vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh điển hình về “hardcore -cartel” bao gồm thỏa thuận ấn định giá, gian lận thầu, hạn chếsản lượng hoặc sản ngạch, phân chia thịtrường61. Pháp luật cạnh tranh của Hoa Kỳ lại phân chia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ra thành các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối theo nguyên tắc “per se illegal” và những thỏa thuận hạn chế cạnh tranhbị cấm cóđiều kiện theo nguyên tắc hợp lý“rule of reason”. Trong đó những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối theo nguyên tắc mặc nhiên cấm thường được đề cập bao gồm thỏa thuận ấn định giá đầu ra hoặc đầu vào; thông đồng trong đấu thầu, thỏa thuận phân chia thị trường. Theo đó
59 Quy định cụthể tại Điều13 Luật Cạnh tranh 2018 và đượchướng dẫn cụthể tại Nghị định chính phủ về hướng dẫn thi hành chi tiết một sốđiềucủa Luật Cạnh tranh 2018.
60 Richar Whish & David Bailey, Competition Law, Oxford University Press, Page 513
61 Mutrap & VCCI, Hành vi hạn chế cạnh tranh, một sốvụ việc điểnhình của Châu Âu, Trang 18
tòa án sẽ tuyên bố những thỏa thuận này là bất hợp pháp mà không cần phải chứng minh hậu quả của nó62. Như vậy có thể thấy pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã có sựkế thừa và kết hợp một cách chọn lọc những quy định của thông lệ quốc tế về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Luật Cạnh tranh 2018 vẫn giữ những hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối như ở Luật Cạnh tranh 2004 là những hành vi quyđịnh tại khoản 4,5,6 Điều 11, đồng thời quy định về các dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang bị cấm tuyệt đối bao gồm các thỏa thuận quy định tại khoản 1,2,3 Điều 11. Những quy định này sẽ góp phần giúp cơ quan cạnh tranh Việt Nam kiểm soát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên thực tế một cách có hiệu quả hơn.
2.1.1.2. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Pháp luật về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam

