Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Trong bối cảnh hoàn thiện thể chế kinh tế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộngởtất cảcác lĩnh vực, những điều kiện tích cực thúc đẩysựphát triển mạnh mẽcủa nền kinh tế thị trường được tạo ra ngày càng nhiều. Các yếu tố của nền kinh tế thị trường đãtác động trực tiếp, có hiệu quả đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người, ngân sách nhà nước đầu tư cho việc phát triển cơ sở hạ tầng không ngừng tăng lên, các hoạt động phúc lợixã hội đã bắt đầu được quan tâm và đầu tư đúng mức, các hình thức đầu tưnước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng vềcảquy mô và lĩnh vực hoạt động, chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của người dân đã được cải thiện rõ rệt vànâng lên một cách đáng kể.
Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển kinh tế – xã hội cũng đã để lại không ít những hệ lụy, tạo ra lực cản đối với sự phát triển xã hội nói chung. Đó là sự phát sinh, gia tăng của các hiện tượng xã hội tiêu cực và các loại tội phạm, trong đó tội tham ô tài sản. Đây làmối đáng lo ngại đối với Đảng, Nhà nước ta và là vấn đề gây nhiều bức xúc trong nhân dân. Tâm lý hưởng thụvà muốn làm giàu nhanh chóng hoặc tâm lý muốn có chức vụ, quyền hạn để làm giàu đã ăn sâu trong tâm trí một bộ phận cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn. Bên cạnh đó, sự lỏng lẻo trong quản lý kinh tế, những hạn chế, bất cập trong hệthống văn bản pháp luật nói chung và văn bản vềquản lý kinhtếnói riêng cũng lànguyên nhân làm gia tăng loại tội phạm này.
Trong những năm gần đây, tội tham ô tài sản có chiều hướng gia tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc và ởnhiều lĩnh vực, trong đó xảyra phổbiến hơn cảởcác lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công, đầu tư xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng, quản lý đất đai, các loại tài nguyên khác và ngày càng nghiêm trọng cả về tính chất và mức độ; nhiều đối tượngphạm tội là người từng giữ chức vụ cao trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước; nhiều hành vi tham ô tài sản xảy ra trong thời gian dài mới được pháthiện, xử lý. Do tính đặc thù của tội tham ô tài sản là xâm hại nhiều khách thể cùng một lúc nên các hành vi tham ô không chỉ gây ra những thiệt hại nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng về tài sản của nhà nước mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dânđối với những người thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước.
Theo thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao thì trong thời gian từnăm 2010 đến năm 2019, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xửsơ thẩm 2485 vụ/
4635bịcáo vềtộitham ô tàisản1. Trong khi đó, cũng trong thời gian này Tòa án nhân dân các cấp đãxétxử4203 vụ/ 8156 bịcáo thuộc nhóm tội tham nhũng2. Như vậy, tội tham ô tài sản được đưa ra xét xử chiếm 59,1% về số vụ và 56,8% số bị cáo của nhóm tội phạm tham nhũng được đưa ra xét xử sơ thẩm.
Phòng ngừa tội thamôtài sảntrong thời gian qua đã được quan tâm, chú trọng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên kết quảđạt được chưa cao, những hạn chế của hoạt động phòng ngừa chưa được quan tâm khắc phục kịp thời, một số nội dung, biện pháp phòng ngừa không còn phù hợp với yêu cầu thực tế nhưng chưa được đổi mới cho thích ứng, các vụ án tham ô tài sản với hậu quả đặc biệt nghiêm trọng vẫn xảy ra ởcác bộ, ngành, các địa phương trên cả nước, tạo ra những khó khăn, thách thức không nhỏđối với các cơ quan thực hiện chức năng phòng ngừa loại tội phạm này. Do vậy, việc phòng ngừa tội tham ô tài sản nhằm từng bước đẩy lùi loại tội phạm này là một yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, việc nghiên cứu tình hình tội tham ô tài sản cũng như xác định những nguyên nhân của tội phạm nàyđể từ đó tìmra những biện pháp phòng ngừa thiết thực, hiệu quả lại chưa được quan tâm một cách thỏa đáng, nên thực tế cũng làm hạn chế hiệu quả của việc phòng ngừa loại tội phạm này. Xuất pháttừ đòi hỏi cả về lýluận và thực tiễn, nghiên cứu sinhđãlựa chọn đềtài: “Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Việc nghiên cứu đề tài “Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” là nhằm đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới.
Để đạt được mục đích này, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứnhất, đánh giá tình hìnhcủatội tham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn2010- 2019.
Thứ hai, phân tích, giải thích nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giaiđoạn 2010-2019.
1 Số liệu được tổng hợp từ thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao trong khoảng thời gian 10 năm từ 2010-2019.
2 Số liệu được tổng hợp từ thống kê xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao trong khoảng thời gian 10 năm từ 2010-2019.
Thứ ba, dự báo tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới; đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quảphòng ngừa tội tham ô tài sản ởViệt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài “Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” hướng tới các đối tượng nghiên cứu sau:
Tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam; Nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam;
Các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam;
Vềphạm vi nghiên cứu:Đềtài nghiên cứu từgóc độtội phạmhọctội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn 10 năm từ 2010-2019.
4. Cơ sởlý thuyết, câu hỏinghiên cứu, giảthuyết nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý thuyết
Cơ sở lý thuyết của luận án là lý luận về tội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Cụthểlà lý luận vềtình hình tội tham ô tài sản, lý luận vềnguyên nhân làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản, lý luận về dự báo tình hình tội tham ô tài sản, lý luận về các biện pháp phòng ngừa tội tham ô tài sản.
4.2. Câu hỏi nghiên cứu
Đểđưa rađược những biện pháp hữuhiệu phòng ngừa tội tham ô tài sản ởViệt Nam trong thời gian tới, luận án đứng trước một số câu hỏi cần thiết phải trả lời sau:
1. Thực trạng về mức độ, thực trạng về tính chất của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 như thế nào?
2. Diễn biến của tội tham ô ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 như thế nào?
3. Nhữngyếutốnào làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010-2019; cơ chế tác động của những yếu tố đó?
4. Các biện pháp cần được áp dụng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới?
4.3. Giả thuyết nghiên cứu
Với cách hiểu giả thuyết nghiên cứu là luận điểm cần chứng minh, tác giả luận án xác định giả thuyết nghiên cứu của luận án như sau: Trong những năm gần đây tham ô tài sản là loại tội phạm ngày càng gia tăng vềsốlượngvà tính chất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng về hậu quả; xảy ra ở nhiều ngành, lĩnh vực đặc biệt là các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tếnhà nước; sốvụán đồng phạm,sốtiền chiếmđoạt đặc biệt lớn ngày càng
phổ biến; thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi; số vụ án có hành vi phạm tội diễn ra trong thời gian dài ngày càng nhiều, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sự lãnhđạo của Đảng, hiệu quảquản lý kinh tế, xã hộicủa Nhà nước. Trước thực trạng đó, việc tìm ra những nguyên nhân của tội tham ô tài sản và đề xuất các biện pháp hạn chế việc phát sinh
tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới là hết sức cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tình hình tội tham ô tài sản ởnước ta trong giai đoạn 2010-2019, tác giảluận án xác định các nhómyếutốtiêu cựcđược coi là nguyên nhân làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ởViệt Nam trong những năm vừa qua, các nguyên nhân đó là:
Những hạn chếtrong tổchức, quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công, quản lý đất đai, hoạtđộngngân hàng, tín dụng, hoạt động đầutư, xây dựng; những hạn chếtrong công tác cánbộliên quan đến bổ nhiệm, sử dụng, quản lý và đánh giá cán bộ; những hạn chế trong hoạt động phát hiện, xử lý tội tham ô tài sản; những hạn chế trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật; những đặc điểm tâm lý tiêu cực của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơquan, tổ chức, đơn vị kinh tế. Việc xác định các nhóm nguyên nhân của tội tham ô tài sản chính là nội dung trảlời cho câu hỏi nghiên cứu: Những yếu tốnào làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong những năm vừa qua. Trên cơ sở giải thích các nhóm nguyên nhân, phân tích cơ chế tác động của các nguyên nhân, tác giả đề xuất các nhóm biện pháp tương ứng nhằm làm hạn chế hoặc có thể loại trừ các yếu tố tiêu cực làm phát sinh hành vi phạm tội, góp phần nâng cao hiệuquảphòng ngừa loại tội phạm này trong thời gian tới.
4.4. Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Luận án tiếp cận và nghiên cứu tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn 10 năm 2010-2019 là những hiện tượng xã hộitiêu cực, xácđịnhvà giải thích những hiện tượng, sự việc từ xã hội và người phạm tội có tác động làm phát sinh tội tham ô tài sản lànguyên nhân của tội phạm tham ô tài sản trong giai đoạn 10 năm đó; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quảphòng ngừa tội tham ô tài sản ởViệt Nam trong thời gian tới với ý nghĩa là hoạt động của hệ thống các chủ thể xã hội khác nhau.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận
Luận án được tác giả thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về chống và phòng ngừa tham nhũng, trong đó có tham ô tài sản.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, với mỗi đối tượng nghiên cứu cụthể, cần sửdụng loại nghiên cứu có chức năng phù hợp đểđạt được mục đích nghiên cứu. Chẳng hạn như sử dụng nghiên cứu mô tả để làm rõ tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019; nghiên cứu giải thích để xác định nguyên nhân của tội tham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010-2019; nghiên cứu dựbáo đểdựbáo tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới; nghiên cứu giải pháp để thiết lập các biện pháp phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam.
Đểthực hiện các loại nghiên cứu này, các phương pháp nghiên cứu cụthểthích hợp sẽđượclựa chọn và sửdụng là các phương pháp nghiên cứucụthểthuộc nhóm phương pháp tiếp cận, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữliệu, phương pháp xử lý dữ liệu và phương pháp kiểm chứng giả thuyết, cụ thể:
– Thuộc nhóm phương pháp tiếpcận(đểthu thập dữliệu): các phương pháp tiếp cận cụ thể được lựa chọn và sử dụng nhưphương pháp tiếp cận định lượng; phương pháp tiếp cận tổng thể và phương pháp tiếp cận bộ phận. Sử dụng phương pháp tiếp cận định lượng là xác định cách mô tả, đánh giá tình hình tội tham ô tài sản thông qua các đặc điểm về lượng, có nghĩa là thông qua các thông số về số vụ, số người phạm tội, thông số về cơcấu của tội phạm, thông số về diễn biến của tội phạm. Sử dụng phương pháp tiếp cận tổng thể và phương pháptiếp cận bộ phận là để xác địnhcách đánh giá tình hình tội tham ô tài sản không những thông qua các thông số tổng thể về các vụ án tham ô tài sản bị xét xử sơthẩm trong giai đoạn nghiên cứu, mà còn thông qua các thông số khác được khai thác từmột bộ phận của tổng thể các vụ án tham ô nêu trên. Phương pháp tiếp cận bộ phận sẽ thểhiện trong cách đánh giá đặc điểm về chất của tội tham ô tài sản thông qua các thông sốvề cơ cấu của tội phạm mà chủ yếu được khai thác từ bộ phận tội thamô tài sản được lựa chọn. Việc sử dụng phương pháp tiếp cận bộ phận đã quy định việc sử dụng phương pháp chọn mẫu.
– Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản được lựa chọn, sử dụng trong việc đánh giá tình hình tội tham ô tài sản trong giai đoạn nghiên cứu. Do số liệu thống kê của các cơ quan tiến hành tố tụng về tội tham ô tài sản chưa đầy đủ để nghiên cứu, đánh giávề cơ cấu của tội tham ô tài sản theo các tiêu chí khác nhau như theo loại tội phạm, loại và mức hình phạt đã được áp dụng đối với người bị kết án, hình thức thực hiện tội phạm, thủ
đoạn phạm tội…và dữ liệu thống kêchính thức cũng khôngđủ để giải thíchnguyên nhân của tội phạm, nên NCS sẽ sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản để tự thu thập dữ liệu khác qua việc phân tích các dữ liệu trong bộ phận các bản án hình sự sơ thẩm về tội tham ô tài sản được lựa chọn. Cụ thể, NCS dự kiến lựa chọn ngẫu nhiên 585 bản án
hình sự sơ thẩm về tội tham ô tài sản từ năm 2010-2019 ở 45 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình, Hà Nam, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang, PhúThọ, Hà Giang, Yên Bái, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Nam Định, Lâm Đồng, Bình Thuận, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đồng Nai, Ninh Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, Hưng Yên, Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang.
– Đối với nhóm phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích thứ cấp dữliệu và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi sẽ được sử dụng để làm rõ tình hình của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019, cụ thể:
+ Phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu: Thực chất đây phương pháp tái tạo dữ
liệu có sẵn thông qua việc phân tích, khai thác các dữliệu gốc, sẵn có như các sốliệu thống kê, các bản án xét xử sơ thẩm. Cụ thể là thu thập các số liệu thống kê khởi tố, truy
tố, xét xử sơ thẩm của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao. Các số liệu này được sử dụng để nghiên cứu đánh giá tình hình tội tham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010-2019; số liệu thống kê xét xử sơ thẩm về số vụ và người phạm tội tham ô tài sản kết hợp với số liệu thống kêdân số được dùng để xác định chỉ số của tội tham ô tài sản.
– Đối với nhóm phương phápxử lýdữ liệu: Phương pháp xử lý dữ liệu cụ thể được sử dụng trong luận án là phương pháp thống kê mô tả. Phương pháp này được sử dụng đểxử lý dữ liệu địnhlượng là các dữ liệu dưới dạng số liệu phục vụ cho việc mô tả tình hình
tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019. Các đại lượng thống kê được sử dụng là số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình được biểu thị dưới dạng bảng số liệu và biểuđồ thích hợp để mô tả, đánh giá tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.
– Đối với nhóm phương pháp kiểm chứng giả thuyết: Phương pháp kiểm chứng giảthuyết cụ thể được lựa chọn và sử dụng trong Luận án là phương pháp chứng minh trực tiếp giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng để phục vụ cho việc kết luận,đánh giá về tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019; kết luận, giải thích vềnguyên nhân của tội tham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010-2019, đưa ra những dự báo về tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới cũng như việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội tham ô tài sản tương ứng với các nguyên nhân của tội phạm sẽ được xácđịnh đều có cơ sở, minh chứng là các dữ liệu thực tiễn thể hiện kết
quả nghiên cứu về tình hình tội tham ô tài sản. Việc thực hiện phương pháp này cònđểđáp ứngyêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa các chương của Luận án, đảm bảo sức thuyết phục của các kết quả nghiên cứu.
Ngoài ra, một số phương pháp nghiên cứu khác cũng được sử dụng kết hợp với các phương pháp nêu trên trong việc giải quyết các nộidungcủađềtài,đó là phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án đóng góp cho sự phát triển chung của lý luận
về tội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, diễn biến của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 sẽ xác định, giải thích những yếu tốtiêu cực được cho là nguyên nhân làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Các biện pháp phòng ngừa được đưa ra góp phần làm hạn chếviệc phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới.
Luận án cũng là nguồn tư liệu có ý nghĩa đểcá nhân, tổchức tham khảo, nghiên cứu trong quá trình phòng ngừa tội tham ô tài sản trong cơ quan hoặc địa phương mình sinh sống, làm việc.Đồng thời cũng là nguồn tham khảo trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy về phòng ngừa tội phạm nói chung.
PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quanđến nhữngnội dung cơ bản của đề tài luận án “Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, NCS nhận thấy: mặc dù những công trình đó được các tác giả triển khai nghiên cứu với những cấp độ vàmục tiêu khác nhau, nhưng về cơ bản nội dung của các công trình nghiên cứu về đấu tranh phòng, chống các tội phạm về tham nhũng nói chung và tham ô tài sản nói riêng đều đề cập đến những vấn đề sau:
1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam
1.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quanđến tình hình tội tham ô tài sản ởViệt Nam
1.1.3. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam
1.1.4. Các công trình nghiên cứuliên quanđến biện pháp nâng cao hiệu quảphòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới
1.2. Tình hình nghiên cứu của nước ngoài liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu, tìm hiểu một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến vấn đề phòng ngừa hoặc chống tội tham ô tài sản, NCS thấy các tác giả đã làm rõ một sốvấn đề sau:
1.2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguyên nhân của tội tham ô tài sản
1.2.2. Các công trình nghiên cứuliên quan đếnbiện pháp phòng ngừa hoặc phòng chống tội tham ô tài sản
2. Đánh giá tình hình nghiên cứu 2.1. Những vấn đề luận án kế thừa
Đối với cơ sở lý luận về phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam
Mặc dù các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về phòng ngừa tội thamô tài sản ởViệt Nam ở các phương diện và cấp độ khác nhau, nhưng về cơ bản các công trình nghiên cứu nêu trên đã đạt được những kết quả như sau:
– Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam vềbản chấtcủatham nhũng nói chung, tham ôtài sản nói riêng; mục đíchcủahoạtđộng phòng, chống tham nhũng trong đó có tham ô tài sản đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
– Với việc phân tích làm rõ các dấu hiệu, đặc điểmđặc thùvềcác dạng hành vi khách quan, chủ thể, động cơ, mục đích, thủ đoạn của các tội phạm tham nhũng, trong đócó tham ô tài sản, làm cơ sở có thể vận dụng để đưa ra các biện pháp phòngngừa đối với nhóm tội phạm về tham nhũng.
– Trên cơ sởphân tích làm rõ các nội dung, mục tiêu, trách nhiệm,chủthểcủa quản lý nhà nước đối với hoạt động phòng, chống tham nhũng, các công trình nghiên cứu tạo cơ sởcần thiết đểđưa ra các biện pháp, kiến nghịđối với việc nâng cao hiệu quảphòng ngừa tội tham ô tài sản ở nước ta.

– Trên cơ sởphân tích những tác động củaviệc thực thi Công ước quốctếvềphòng, chống tham nhũng đối với hiệu quảhoạt động phòng, chống tham nhũng ởViệt Nam, có thể vận dụng để đánh giá tình hình của các tội phạm tham nhũng nói chung vàtham ô tài sản nói riêng.
-Từnhững cách thức thực hiện các hoạt động phòng, chống tham nhũng nói chung, tham ô tài sản nói riêng, các công trình nghiên cứu đã tạo ra những tiền đề cần
thiết để đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản.
Đối với tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam
Khi nghiên cứu về tình hình các tội phạm về tham nhũng, ở các mức độ khác nhau, các công trìnhđãkhái quát được mức độ, cơcấu, tính chất của tội phạm cũng như diễn biến của nó; đưa ra được một số nhận định, đánh giá khá sát hợp với tình hình, làm căn cứcho việc xác định nguyên nhân và đề xuất những biện pháp phòng ngừa các tội phạm vềtham nhũng. Mặc dù nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau về tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, nhưng các công trình nghiên cứu nêu trên đã làm rõ được một số nội dung cơ bản của tình hình tội tham ô tài sản, đó là:
Mô tảnhững thông sốthống kê vềtình hình của tội tham ô tài sản ởViệt Nam trong thời gian gần 10 năm, từ2005 đến 6 tháng đầu năm 2014, trong đó: khởi tố1800 vụ/3518 bị can về tội tham ô tài sản; truy tố 1661 vụ/ 3560 bị can; xét xử sơ thẩm 1518 vụ/3002 bị cáo. Từ đó, rút ra những nhận xét về diễn biến, quy mô, tính chất, thủ đoạn, hậu quả của tội tham ô tài sản ở Việt Nam những năm vừa qua.
Phân tích và đưa ra những khâu thuộc các lĩnh vực hay xảy ra tham ô tài sản như:
đầu tư, xây dựng cơ bản; tài chính, ngân hàng; thực hiện chính sách xã hội; quản lý đất
đai; y tế, giáo dục…
Mô tả số liệu thống kê các tội phạm tham nhũng được khởi tố, truy tố, xét xử trong thời gian 5 năm từ 2007 đến 2011; làm rõ cơ cấu tội phạm về tham nhũng và đi đến khẳng định, đánh giátỷlệtội tham ô tàisảntrong đó: trung bình mỗinăm, tội tham ô tài sản chiếm 52,64% số vụ án và 50,23% số bị can trong nhóm tội phạm tham nhũng được khởi tố.
Mô tảsốliệu thống kê các tội phạm tham nhũng được khởi tốtrong khoảng thời gian 6 năm từ 2001-2006; làm rõ cơ cấu tội phạm về tham nhũng để đi đến khẳngđịnh sốvụ án và bị can về tội tham ô tài sản chiếm tỷ lệ chủ yếu.
Phân tích đặc điểm tình hình các tội phạm vềtham nhũng có yếu tốnước ngoài, trong đó tham ô tài sản là loại tội phổ biến trong nhóm tội về tham nhũng.
Đối với nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam
Nghiên cứu vềnguyên nhân của các tội phạmvềtham nhũng, các công trình đã tiếp cận ở mức độ tổngthể và bộ phận, làm rõ từng nhóm nguyên nhân của các tội phạm về tham nhũng nói chung và tội tham ô tài sản nói riêng, như nguyên nhân thuộc về chính sách pháp luật, nguyên nhân từ phía người phạm tội, nguyên nhân từ sự lỏng lẻo trong tổchức và quản lý kinh tế, nguyên nhân từ hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Trên cơ sở phân tích sự tương tác giữa các yếu tố xã hội tiêu cực dẫn đến việc phát sinh, gia tăng các tội phạm về tham nhũng nói chung, tham ô tài sản nói riêng, các công trình nghiên cứu đã chỉra được những nguyên nhân của các tội phạmvềtham nhũng, trong đó tham ô tài sản là phổ biến, đó là:
Nêu và phân tích những nguyên nhân tác động từ bên ngoài vào Việt Nam như: sựbiến động mạnh mẽ về chính trị, kinh tế trên thế giới; sự lũng đoạn của các tập đoàn kinh tế; sự tồn tại của các xã hội thiếu dân chủ, nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu.
Nêu và phân tích những nguyên nhân tác động trực tiếp đếnsựgia tăng các tội phạm về tham nhũng, mà tham ô tài sản là phổ biến, đó là:
+ Những yếu kémvềlãnh đạo, chỉđạo đối với hoạtđộng phòng, chống tham nhũng;
+ Những hạn chế trong xây dựng cơ chế, chính sách quản lý kinh tế; + Những hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật;
+ Những hạn chế trong công tác tổ chức cán bộ;
+ Những hạn chế trong cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế; + Sự báo động về vấn đề đạo đức của cán bộ, công chức;
+ Sự chuyển đổi, rối loạn các thiết chế xã hội;
+ Sự thiếu minh bạch về thông tin, tài sản, thu nhập;
+ Sự thiếu thốn, lạc hậu về công cụ, phương tiện phát hiện, xử lý tham nhũng.
Đối với các biện pháp nâng cao hiệu quảphòng ngừa tộitham ôtài sản ởViệt Nam
Khi nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phòng ngừa các tội phạm về tham nhũng nói chung và tham ô tài sản nói riêng, về cơ bản các công trình đã căn cứ vào tình hình tội phạm, nguyên nhân của tội phạm, từ đó đề xuất các biện pháp gắn với từng lĩnh vực, ảnh hưởng đến hành vi của người phạm tội. Các biện pháp có thểkểđến như: Hoàn thiện chính sách pháp luật vềquản lý kinh tế, siết chặt hoạt động tổchức và quản lý kinh tếthông qua sựđổi mới vềhình thức, cách thức cho phù hợp với những đặc điểmđặc thùcủa nềnkinh tế. Kết quảnghiên cứu của các công trình khôngchỉcung cấp cho NCS nhiều thông tin, số liệu, nhận định có ý nghĩa trực tiếp đối với việc nghiên cứu về phòng
ngừa tội tham ô tài sản, mà còn gợi mởviệc nghiên cứu tiếp tục vấn đềđểgiải quyết những yêu cầu do thực tiễn khách quan đặt ra.
2.2. Những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc khi nghiên cứu có nhiều quanđiểm khác nhau
Đối với cơ sở lý luận về phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu còn dàn trải đối với tính chất, đặc điểm của cả nhóm
tội phạm về tham nhũng, những nội dung chưa được làm rõ trong công trình nghiên cứu là: phân tích những đặc điểmđặc thù vềdạng hành vi, chủthể,động cơ, mục đích, thủđoạn cụ thể của tội tham ô tài sản; nội dung, trách nhiệm, chủ thể của quản lý nhà nước đối với hoạt độngphòng, chống tội tham ô tài sản; cách thức thực hiện các hoạt động phòng ngừa tội tham ô tài sản ởViệt Nam. Đó là những vần đềmà NCS phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện Luận án của mình.
Về tình hình của tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
– Trong các công trình nghiên cứu được nêu ở trên, có 3 công trình nghiên cứu đềcập đến tình hình các tội phạm tham nhũng, trong đó có tham ô tài sản ở Việt Nam trong khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, những sốliệu đó vừa đượccác tác giảcập nhật cách đâynhiều năm, không còn tính kịpthời, vừa lại là sốliệu chung cho tất cảcác tội phạm về tham nhũng nên không phù hợp với việc nghiên cứu đề tài mà NCS đã lựa chọn; do đó, cần thiết phải có những số liệu cụ thể, kịp thời để phục vụ cho việc nghiên cứu đềtài phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
– Hầu hết các công trình nghiên cứu chỉtập trung phân tích, đánh giá thực trạng của hoạt độngphòng, chống tham nhũng nói chung, tham ô tài sản nói riêng, mà chưa tập trung nghiên cứu thực trạng về mức độ và thực trạng về tính chất của tội tham ô tài sản,để làm cơ sở đánh giá tình hình của tội tham ô tài sản trong giai đoạn hiện nay.
– Trong các công trình nghiên cứu nêu trên, chỉ có 2 công trình nghiên cứu đề cập đến diễn biến của các tội phạm tham nhũng nói chung, mà chưa đề cập đến diễn biến cụthể của tội tham ô tài sản, để trên cơ sở đó có thể đưa ra những dự báo về tình hình của loại tội phạm này.
– Khi nghiên cứu cụ thể từng nội dung, các công trình chưa đáp ứng được một sốvấn đề lý luận có tình nền tảng, nhiều vấn đề thực tiễn chưa được làm sáng tỏ như:
Việc đánh giá tình hình các tội phạm về tham nhũng, trongđó có tham ô tài sản, các công trình mới chỉtập trung đánh giá thực trạng (chủ yếu mô tảvềlượng) hoặcchỉđánh giá về tội phạm rõ mà không đánh giá về tội phạm ẩn. Hơn nữa, những đánh giá đólại chung cho cả nhóm tội phạm, mà chưa có những đánh giá cụ thể đối với tội tham ô tài
sản. Đó là cách tiếp cận chưa toàn diện, nên chưa làm rõ được bức tranh tổng thể về tình hình tội phạm tại một thời điểm xác định và một không gian nhất định.
Việc cập nhật tình hình tội tham ô tài sản một cách thường xuyên cùng các nguyên nhân tác động và sự biến đổi của chính các nguyên nhân đó trong những năm gần đây cóý nghĩa rất quan trọng để đưa ra các biện pháp phòng ngừa.
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu tình hình tội tham ô tài sản đều chưa có điều kiện cập nhật các thông tin có tính thời sự và mang tính tổng thể, nên nhiều biện pháp phòng ngừa được đưa ra sẽbịlỗi thời khi tình hình tội phạm thayđổi, bởi lẽ, vềnguyên tắc các biện pháp phòng ngừa không bám sát tình hình tội phạm thì hiển nhiên sẽbị lạc hậu khi tình hình tội phạm có những thay đổi nhất định.
Về nguyên nhân làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay
Mặc dù các công trình đã khái quát và làm rõ được một số nguyên nhân làm phát sinh nhóm tội phạm tham nhũng, trong đó có tội tham ô tài sản, song quan niệm về các nhóm nguyên nhân lại chưa thống nhất, chưa làm rõ được cơ chế tác động giữa các nhân tốlà nguyên nhânvớihành vi phạm tội. Nhiều nguyên nhân được đềcập còn chung chung, chưa cụ thể, chưa quan tâm để cập nhật kịp thời những nguyên nhân mới phát sinh trong thực tế.Hơn nữa, nhiều nguyên nhân mà các công trình nghiên cứu đưa ra lại lànguyên nhân của những tồntại,hạnchếtrong hoạtđộngđấutranh phòng, chống tham nhũng nói chung, mà không phải là những nguyên nhân trực tiếp tác động đến tình hình của tội tham ô tài sản.
Do đó, để đề xuất được những biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng, hiệu quảhoạt động phòng ngừa tội tham ô tài sản, thì việc xác định rõ những nguyên nhân trực tiếp tác động đến tình hình của loại tội phạm này là hết sức cần thiết và sẽ được NCS tiếp tục hoàn thiện ở Luận án của mình.
Về những biện pháp phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới
Các công trình đã đưa ra khá nhiều biện pháp phòng ngừa đối với nhóm tội phạm vềtham nhũng nói chung vàtộitham ôtài sản tàisảnnói riêng. Tuy nhiên, nhiều biện pháp còn chung chung, nặng về khẩu hiệu chính trị, còn hạn chế tính khả thi; có biện pháp không liên quan đến tình hình tội phạm và nguyên nhân tội phạm; còn ít quan tâm đến các biện pháp mang tính kỹ thuật và cụ thể; những lập luận đưa ra để chứng minh lý do lựa chọn biện pháp và khả năng áp dụng biện pháp đó chưa được quan tâm.
2.3. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu – Cơ sở lý luận về phòng ngừa tội tham ô tài sản
Phân tích làm rõ những đặc điểm đặc thù về dạng hành vi, chủ thể, động cơ, mục đích, thủ đoạn cụ thể của tội tham ô tài sản; nội dung, trách nhiệm, chủ thể của quản lýnhà nước đối với hoạt động phòng, chống tội tham ô tài sản; cách thức thực hiện các hoạt động phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam.
– Đánh giá tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019
Thứ nhất, đánh giá thực trạng về mức độ của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giaiđoạn 2010-2019: Để làm rõ vấn đề này, cần phải xác định rõ các thông số sau: tổng số vụvà số người phạm tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian 10 năm từ 2010- 2019 làbao nhiêu; số vụ và số người phạm tội tham ô tài sản trung bình năm như thế nào; chỉ số
tội phạm cao hay thấp; so sánh mứcđộcủa tội tham ô tài sảnvớimức độcủa các tội thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng và với tổng số tội phạm nói chung; mức độ ẩn của tội tham ô tài sản như thế nào so với tội phạm rõ.
Thứhai, đánh giá thực trạng vềtính chất củatội thamôtài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010-2019: Để có thể rút ra được những nhận xét nhất định về tính chất của tội tham ô tài sản, cần phải xem xét cơ cấu của tội tham ô tài sản theo những tiêu thức nào để làm rõ những đặc điểmvềtính chất của loại tội phạm này. Việc nghiên cứu cơ cấu của tội tham ô tài sảntheo những tiêu thức khác nhau có ý nghĩa gì đốivới việc đánh giá thực trạng về tính chất của loại tội phạm này trong giai đoạn nghiên cứu của đề tài.
Thứba, phân tích diễn biến của tội tham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010- 2019: Để nắm được diễn biến của tội tham ô tài sản trong giai đoạn nghiên cứu, trước hết cần xác định rõ diễn biến về mức độ của tội tham ô tài sản ở nước ta trong giai đoạn này, so sánh với diễn biến của các tội thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng; đồng thời xácđịnh diễn biến về tính chất của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 theo một sốtiêu thức nhất định như loại tội phạm; loại và mức hình phạt đãáp dụng đối với người bịkết án; hình thức thực hiện tội phạm (là phạm tội riêng lẻ hay đồng phạm); địa bàn thực hiện tội phạm (theo địa giới hành chính); thủđoạn phạm tội; lĩnh vực xảyra tội phạm;động cơ phạm tội.
– Xác định, giải thích nguyên nhân của tộitham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010 – 2019
Nguyên nhân của tội tham ô tài sản được xác định qua sự tương tác giữa các yếu tốtiêu cực, cơ chếtác động giữa các yếu tốtiêu cực làm phát sinh tội phạm. Theo đó, nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn này có thể là những yếu tốtiêu cực nào? Chẳng hạn liên quan đến các yếu tốnhư: chính sách, pháp luật; tổchức, quản lý nhà nước, trong hoạt động tuyên truyền, phổbiến pháp luật; những tồn tại, hạn
chế trong hoạt động phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người phạm tội tham ô tài sản; từ phía người phạm tội; từ phía nạn nhân.
– Dự báo tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam từ nay cho đến 2030 vàđề xuất các biện pháp phòng ngừa tội tham ô tài sản ở nước ta
Các biện pháp được đềxuất là gì, có tác dụng nhưthếnào đối với việc hạn chếhoặc loại trừ sự tác động của các thành tố tạo thành nguyên nhân làm phát sinh, phát triển tội tham ô tài sản ở Việt Nam?
Nhìn chung, trong những năm gần đây, phòng ngừa các tội phạmvềtham nhũng nói chung và tội tham ô tài sản nói riêng không chỉ được sự quan tâm của các chủ thể cótrách nhiệm phòng ngừa, mà còn nhận đượcsựquan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các công trình nghiên cứu đềuđềcậpđếnphòng, chống các tội phạm về tham nhũng nói chung, chưa có công trình nào tiếp cận, nghiên cứu phòng ngừa tội thamôtài sản dưới góc độlà một loại tội phạmđộc lập, đượctách ra từnhóm tội phạm về tham nhũng. Trong các công trình khoa học đã được công bố, hầu hết đều nghiên cứu về cơ sở lýluận, tình hình tội phạm, các yếu tố được coi là nguyên nhân phát sinh tội phạm, biện pháp phòng ngừa các tội phạm về tham nhũng nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu riêng về tội tham ô tài sản dưới góc độ tội phạm học. Trên cơ sở hệ thống, đánh giácác công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, luận ánđã chỉrõ những vấnđềcó liên quan đến đề tài mà luận án kế thừa và tiếp tục phát triển, những vấn đề còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau và những vấn đềchưađược đềcập đến mà luận án cần tậptrung giải quyết.
PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH TỘI THAM Ô TÀI SẢN Ở VIỆT NAM GIAIĐOẠN 2010-2019
1.1. Vấn đề chung về tình hình tội phạm
Khi nghiên cứu một nhóm tội hoặc một tội phạm cụ thể dưới góc độ tội phạm học, tình hình tội phạm là nội dung nghiên cứu quan trọng, là cơ sở để định hướng phòng ngừa tội phạm. Trên cơ sởnghiên cứu các yếu tốhợp thành của tình hình tội phạm bao gồm thực trạng của tội phạm và diễn biến của tội phạm sẽ đánh giá được tình hình tội phạm, từđó có biện pháp phòng ngừa tương ứng, hạn chế sự phát sinh, gia tăng tội phạm trên thực tế. Với tính chất đó, việc có cách hiểu đúng và thống nhất về khái niệm tình hình tội phạm là cần thiết, vì khi có khái niệm phản ánh đúng bản chất của tình hình tội phạm thì mới xác định chính xác, đầy đủ những bộ phận hợp thành của tình hình tội phạm; và việc phân tích, đánh giá những bộphận hợp thành đó là cơ sởđểxác địnhnguyên nhân làm phát sinh tội phạm. Tuy nhiên, cho đến thời điểmhiện nay, các cơ sởđào tạo, nghiên cứu ởnước ta vẫn còn nhiều quan điểmkhác nhauvềkhái niệm tình hình tội phạm, các quan điểmkhác nhau đó được thểhiện trong các công trình nghiên cứu như giáo trình, sách chuyên khảo, cụ thể là:
Tại giáo trình tội phạm học của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, khái niệm tình hình tội phạm được các tác giả đưa ra thông qua việc phân tích các thuộc tính,đặc điểm của tình hình tội phạm, theo đó,tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp, thayđổi theo quá trình lịch sử, tiêu cực và nguy hiểm cao trong xã hội, được hình thành từ một thể thống nhất các tội phạm cụ thể, tồn tại trong một không gian, thời gian xác định3.
Tại cuốn “Tội phạm học, luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” các tác giả
lại cho rằng: Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội pháp lý tiêu cực, được thay đổi vềmặtlịch sử, mang tính giaicấpbao gồm tổng thểthống nhất các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong khoảng thời gian nhất định4.
3 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình tội phạm học, NXBHồng Đức,Hà Nội, tr 23.
2 Viện Nhà nước và Pháp luật (1994), Tội phạm học, luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trịquốc gia, Hà Nội, tr.14.
Theo giáo trình tội phạm học của Đại học Huế thì tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội, pháp lý- hình sự được thayđổi vềmặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định vàtrong khoảng thời gian nhất định 5.
Theo giáo trình tội phạm học của Đại học quốc gia Hà Nội thì tình trạng tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực mang thuộc tính xã hội, thường xuyên thayđổi, giai cấp, pháp luật hình sự và được phản ánh bằng toàn bộ tình hình, cơ cấu, diễn biến của tổngthểcác loại hoặc một loại tội phạm đã xảy ra trong khoảng thời gian nhất định và trong một phạm vi nhất định6.
Theo giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội thì tình hình tộiphạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình
lịch sửđược thểhiện ởtổng hợp các tộiphạm cụthểđã xảyra trong xã hội và trong khoảng thời gian nhất định7.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Yêm thì tình hình tội phạm là toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn biến của các tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảyra trongmộtlĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc toàn thế giới trong một khoảng thời gian nhất định8.
Theo giáo trình tội phạm học năm 2012 của trường Đại học Luật Hà Nội, tình hình
tội phạm là thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định9.
Khácvớicác quan điểm trên, GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng: tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm hoặc nhóm tội phạm hoặc một loại tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian xác định.10
Theo từ điển tiếng việt, tình hìnhđược hiểu là tổngthể nói chung những sự kiện, hiện tượng có quan hệ với nhau, diễn ra trong một không gian, thời gian nàođócho thấy một tình trạng hoặc xu thế phát triển của sự vật.11 Nếu nói tội phạm là hiện tượng xã hội
5 Trường Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa (1999), Giáo trình tội phạm học, NXB Giáo dục, tr 58. 6 Đại học quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình tội phạm học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr 60.
7Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình tội phạm học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.91.
8 Nguyễn Xuân Yêm (2001), Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.24. 9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình tội phạm học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 100.
10 Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm và cấu thành tội phạm, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 252. 11 Viện ngôn ngữ học (2000), Từ điển tiếng việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 996.
tiêu cực, thì tình hình tội phạm chính là trạng thái, xu thếvận động của hiện tượng đótrong một không gian, thời gian nhất định. Điều đó có nghĩa tình hình tội phạm không phải là bất biến, mà ngược lại, nó luôn trong trạng thái vận động theo các xu hướng khác nhau và luôn được gắn với một không gian, thời gian cụ thể. Chính vì vậy, một khái niệm được coi là đầyđủ, bao quát vềtình hình tộiphạm phải là khái niệm không chỉnêu bật được vấn đề cốt lõi là xu thế vận động của tội phạm trong một không gian, thời gian nhất định, mà còn phải thể hiện được các nội dung hợp thànhlà những đặc điểm về lượng vàđặc điểm về chất của tình hình tội phạm. Với yêu cầu đó, NCS nhận thấy quan điểm của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa đã phản ánh đúng bản chất của tình hình tội phạm, đủ cơ sở đểphân biệt giữa hiện tượng xã hội tiêu cực là tội phạm với bức tranh tổng thể của các hiện tượng xã hội tiêu cực là tình hình tội phạm. Còn lại quan điểm của một số tác giả khác vìđã có sự đồng nhất giữa tội phạm và tình hình tội phạm, nên chưa phản ánh được đầy đủbản chất của tình hình tội phạm cũng như chưa đề cập rõ các nội dung hợp thành của tình hình tội phạm. Chính vì lẽđó, NCS hoàn toàn đồng tình và sẽvậndụng quan điểmcủa GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa về tình hình tội phạm trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án của mình. Theo đó, tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam được hiểu là trạng thái, xuthếvận động của tội tham ô tài sản trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian nghiên cứu là 10 năm, từ năm 2010 đến năm 2019. Tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam được thểhiện thông qua các nội dung hợp thành là thực trạng (bao gồm thực trạng vềmức độ vàthực trạng về tính chất) và diễn biến (bao gồm diễn biến về mức độ và diễn biến về tính chất) của loại tội phạm này trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2019.
1.2. Thực trạng của tội tham ô tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế của tội phạm trong đơn vị không gian
và thời gian nhất định12. Theo đó, thực trạng của tội tham ô tài sản ởViệt Nam trong khoảng thời gian 10 năm, từnăm 2010 đến năm 2019 là tình trạng thực tếcủa loại tội phạm này,được đánh giá qua các thôngsốđịnh lượngvà các thông sốđịnhtính. Thực chất, đó chính là việc đánh giá thực trạng về mức độ và đánh giá thực trạng về tính chất của tội tham ô tài sản ở nước ta trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2019.
1.2.1. Thực trạng về mức độ của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010- 2019
12 Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm và cấu thành tội phạm, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 271.
Thực trạng vềmức độcủa tội tham ô tài sản ởViệt Nam trong giai đoạn từnăm 2010-2019 được phản ánh qua tổng số vụ tham ô tài sản và tổng số người thực hiện hành vi phạm tội tham ô tài sản trên thực tế. Tội tham ô tài sản đã xảy ra trên thực tế bao gồm cảsốvụ, sốngười phạm tội đã được phát hiện, xửlý và sốvụ, sốngười phạm tội chưađược pháthiện,xử lý. Để đánhgiá được mức độ của tội tham ô tài sản cần làm rõ mức độvề tội phạm rõ và mức độ về tội phạm ẩn của loại tội phạm này ở nước ta trong thời gian từnăm 2010 đếnnăm 2019. Hay nói khác đi, việc nêu và phân tích các thông sốvềtội phạm rõ và đánh giá ở mức độ tương đối vềtội phạm ẩn của tội tham ô tài sản là cơ sởcần thiết để đánh giá một cách đầy đủ thực trạng về mức độ của tội tham ô tài sản.
Để có cơsở đánh giá và đưa ra kết luận tương đối chính xác về thực trạng của tội tham ô tài sản ở Việt Nam, tácgiả đãsử dụng số liệu thống kê chính thức về hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các số liệu thống kê từ 585 bản án hình sự sơ thẩm xét xử về tội tham ô tài sản trong giai đoạn 2010-2019 ở 45
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, được tác giả lựa chọn ngẫu nhiên.
1.2.1.1. Mức độ tội phạm rõ
Mức độ tội phạm rõ của tội tham ô tài sản được phản ánh qua tổng số vụ và tổng sốngười phạm tội tham ô tài sản đã được phát hiện và xửlý, bao gồmcảsốvụán và sốngười phạm tội đã được xét xử.
Theo sốliệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong thời giantừnăm 2010đến năm 2019, tổng số vụ án và số người phạm tội tham ô tài sản ở Việt Nam đã được xét xử sơ thẩm là 2.485 vụ/ 4.635người phạm tội, cụ thể như sau:
Bảng số 1.1: Tổng số vụ và số người phạm tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019
| Giai đoạn 2010-2019 | ||
| Vụ | Người phạm tội | |
| Tổng | 2485 | 4635 |
| TB/năm | 248 | 463 |
(Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao)
Để làmrõ hơn thực trạng về mức độ thông qua số vụ và số người bị xét xử về tội tham ô tài sản giai đoạn 2010-2019, chúng ta so sánh thôngsốnày với thông sốtươngứng của giai đoạn 10 năm về trước là từ năm 2000-2009. Theo số liệu thống kê của Tòaán nhân dân tối cao, trong thời gian 10 năm từ năm 2000 đến năm 2009, Tòa án nhân dân
các cấp trên toàn quốc đã xét xử 1765 vụ/ 2968 người phạm tội, trung bình mỗi năm Tòaán nhân dân các cấp đã xét xử khoảng 176 vụ tham ô tài sản với 296 người phạm tội.
Bảng số 1.2: Tổng số vụ và số người phạm tội tham ô tài sản giai đoạn 2010-2019 so với số vụ và số người phạm tội tham ô tài sản giai đoạn 2000-2009
| Giai đoạn 2000-2009 (1) | Giai đoạn 2010-2019 (2) | Tỷ lệ (%) (2) so với (1) | ||||
| Vụ | Người phạm tội | Vụ | Người phạm tội | Vụ | Người phạm tội | |
| Tổng | 1765 | 2968 | 2485 | 4635 | 140,8 | 156,2 |
| TB năm | 176 | 296 | 248 | 463 | 140,9 | 156,4 |
(Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao)
Biểu đồ số 1.1: Số vụ và số người phạm tội tham ô tài sản giai đoạn 2010-2019 so với số vụ và số người phạm tội tham ô tài sản giai đoạn 2000-2009
5000 4000 3000
4635
2485
2968
2000 1000
1765
Giai đoạn 2000-2009 Giai đoạn 2010-2019
Số vụ Số người phạm
0
tội
Nhìn vào biểu đồ minh họa cho sự so sánh giữa số vụ và số người phạm tội tham ôtài sản giai đoạn 2010-2019 với giai đoạn 10 năm về trước là từ năm 2000-2009 ta thấy:
Hầu hết các năm của giai đoạn nghiên cứu đều có số vụ phạm tội tham ô tài sản cao hơn so với 10 năm về trước, trung bình năm cao hơn 40,9%; số người phạm tội tham ô tài sản trong những năm của giai đoạn nghiên cứu cũng cao hơn nhiều so với 10 năm trước,tỷ lệtrung bình năm cao hơn 56,4%. Điều đó phản ánh tội tham ô tài sản giai đoạn 2010-2019 có mức độ nghiêm trọng cao hơn nhiều so với 10 năm của giai đoạn trước.
Để có cơ sở đánh giá tình hình tội phạm một cách tương đối chính xác, thì việc sửdụng thông số về chỉ số tội phạm cũng như chỉ số người phạm tội là cần thiết. Chỉ số tội phạm của tội tham ô tài sản được tính theo tỷ lệ số vụ tham ô tài sản trên 100.000 dân; chỉ
số người phạm tội của tội tham ô tài sản được tính theo tỷ lệ số người phạm tội tham ô tài sản trên 100.000 dân. Bảng số liệu và biểu đồ dưới đây cho chúng ta thấy được mức độphổ biến của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019.
Bảng số 1.3: Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội của tội tham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010-2019
| Năm | Vụ | Người phạm tội | Dân số | Chỉ số TP/100.000 dân | Chỉ số người PT/100.000 dân |
| 2010 | 258 | 417 | 86.932.500 | 0,29 | 0,48 |
| 2011 | 253 | 428 | 87.840.000 | 0,28 | 0,49 |
| 2012 | 202 | 411 | 88.772.900 | 0,23 | 0,46 |
| 2013 | 214 | 442 | 89.708.900 | 0,24 | 0,49 |
| 2014 | 265 | 466 | 90.728.900 | 0,29 | 0,51 |
| 2015 | 197 | 399 | 91.710.000 | 0,21 | 0,43 |
| 2016 | 186 | 393 | 93.421.835 | 0,19 | 0,42 |
| 2017 | 318 | 517 | 94.970.597 | 0,33 | 0,54 |
| 2018 | 329 | 615 | 95.540.000 | 0,34 | 0,64 |
| 2019 | 363 | 625 | 96.208.984 | 0,37 | 0,65 |
| TB | 248 | 463 | 90.570.742 | 0,27 | 0,51 |
(Nguồn: Tổng cục Thông kê; Tòa án nhân dân tối cao)
Từ bảngsố liệu về chỉ số tội phạm vàchỉ số người phạm tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019, ta thấy: Chỉ số tội phạm ở mức độ khá thấp, trung bình năm là 0,27; trong khi đó, chỉ số người phạm tội lại ở mức cao hơn, trung bình năm là 0,51.
Để thấy rõ hơn mức độ phổ biến của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010- 2019, có thểso sánh chỉsốtội phạm và chỉsốngười phạm tội củatội tham ô tài sản ởViệt Nam trong giai đoạn này với giai đoạn 2000-2009. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê thì trong cảgiaiđoạn2000-2009, dânsốViệt Nam tính trung bình là
78.325.608 người; trong khi đó, theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong giai đoạn từ 2000-2009, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử 1765 vụ/ 2968 người phạm tội tham ô tài sản; như vậy, chỉ số tội phạm giai đoạn này là 0,22 vàchỉ số người phạm tội ởgiai đoạn này là 0,38.
Bảng số 1.4 So sánh chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội giai đoạn 2010- 2019 với 10 năm về trước
| Giai đoạn 2010-2019 (1) | Giai đoạn 2000-2009 (2) | Tỷ lệ (1) so với (2) | |
| Chỉ số tội phạm | 0,27 | 0,22 | + 122% |
| Chỉ số người phạm tội | 0,51 | 0,38 | + 134% |
(Nguồn: Tổng cục Thông kê; Tòa án nhân dân tối cao)
Biểu đồ 1.2: So sánh chỉ số tội phạm, chỉ số người phạm tội của tội tham ô tài sản
giai đoạn 2010-2019 với giai đoạn 2000-2009
0.6
0.5
0.4 0,27
0.3
0,51
0,38
0,22
Giai đoạn 2010-2019
0.2 Giai đoạn 2000-2009
0.1
0
Chỉsố tộiphạm Chỉsố ngườiPT
So sánh chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai
đoạn 2010 –2019 vớigiai đoạn 2000 –2009, ta thấy: Vềchỉsốtội phạm ởgiai đoạn nghiên cứu cao hơn chỉsốtộiphạm của giai đoạn trước (122%);chỉsốngườiphạm tội của giai đoạn nghiên cứu cao hơn nhiều so với giai đoạn trước đó 10 năm (134%). Như
vậy, so sánh chỉ số tội phạm của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2019 với
giai đoạn 2000 –2009 cũng cho thấy mức độnghiêm trọng của tội tham ô tài sản giaiđoạn 2010-2019 cao hơn so với 10 năm của giai đoạn trước.
Ngoài ra, để làm rõ hơn thực trạng về mức độ tội phạm rõ của tội tham ô tài sản ởViệt Nam giai đoạn 2010-2019, có thể so sánh số vụ, số người phạm tội tham ô tài sản với tổng số vụ, số người phạm tội của nhóm tội phạm tham nhũng thuộc Mục A Chương XXI Bộ luật hình sự năm 1999 và Mục 1 Chương XXIII Bộ luật hình sự năm 2015
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1 Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

35
37
38
