Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh

Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ởmọiquốc gia trênthếgiới, trẻem luôn là mộtđốitượngđược sựquan tâm đặc biệt của xã hội vì trẻ em chính là tương laicủa đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nhân tố quyết định sựthành công, phát triển và phồn vinh của nước nhà. Theo quy định tại Điều 1 Côngước Quốc tếvềquyềntrẻemđã được LiênHợpquốc thông qua năm 1989 (CRC) thì trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật áp dụng đối vớitrẻemđóquyđịnhtuổi thành niênsớmhơn. Ởđộtuổi này thìtrẻem chưa có sự phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, bị hạn chếvề trình độ nhận thức cũng như về kinh nghiệm sống, thiếu những điều kiện vềbảnlĩnhtựlập, khảnăngtựkiềmchếchưa cao nêndễbịkích động, lôi kéo vào những hoạt động phạm tội. Do đó, pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia đều có những quy định riêng phù hợp với đặc điểm về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em để xử lý hành vi phạm tội của họ, giúp họ được cải tạo, giáo dục để trở thành người có ích cho xã hội.

Bên cạnh đó, các chuẩn mực chung trong quản lý tư phápđốivớitrẻem còn được quy định trong các điều ước quốc tế như: Quy tắc tối thiểu phổbiếncủaLiênHợpquốcvềviệc áp dụng pháp luậtđốivớiNCTN (Quy tắc Bắc Kinh), Hướng dẫn Riyadh của Liên Hợp quốc về việc phòng ngừa NCTN phạm tội (Hướng dẫn Riyadh), Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc

về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do (Quy tắc 1990)… Những quy định tại các Điều ước nêu trên nhằm đảm bảo cho việc truy cứu trách nhiệm hình sựđối vớiNCTN khôngchỉdựatrên tính chất và mức độcủa hành vi vi phạm pháp luật mà còn phải dựa trên hoàn cảnh cá nhânngười phạm tội để thúc đẩy sự phục hồi và hòa nhập xã hội của họ.

1

Quyđịnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay cũng phùhợpvới quy định của cácĐiều ước nêutrên. Pháp luật hình sự Việt Nam có sự phân biệt giữa trẻ em và NCTN, theo đó trẻ em là người dưới 16 tuổi còn NCTN làngườidưới18 tuổi. Vì vậy, các quyđịnhvềtrẻem phạmtộitheo các Điều ước quốc tếtươngứngvớicác quyđịnhvềNCTN phạmtộitheo pháp luật Việt Nam. Việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với NCTN phạm tội được quyđịnhtại BLHS 1999 (sửa đổi, bổsung năm 2009); BLTTHS năm 2003 vàmộtsốvăn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số01/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một sốđiều của BLHS, Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSNDTC- TANDTC- BCA- BTP- BLĐTBXHhướngdẫnthi hànhmộtsốquyđịnhcủa BLTTHS

đốivớingườitham giatốtụng là NCTN… Tuy nhiên, những quyđịnhnày vẫn chưa thật sự hoàn chỉnh nên dẫn đến thực trạng là tình hình tội phạm do NCTN thực hiện diễn biến ngày càng phức tạp. Vấn đề NCTN phạm tội trong giaiđoạnhiện nay khôngchỉgia tăngvềsốlượngmà tính chất và mức độnguy hiểm cũng ngày càng tăng cao, đặc biệt là ở các đô thị lớn như TPHCM.

Từ khi xoá bỏ cơ chế hành chính bao cấp và tham gia vào nền kinh tếthị trường, nước ta đã có những bước tiến vượt bậc trên tất cả các mặt của đời sống kinhtế- xã hội. Nềnkinhtếphát triển mạnhmẽđã tạora ngày càng nhiều của cải cho xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân ngày một nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó, mặt trái của nền kinh tế thịtrường đã dẫn đến nhiều hệ lụy xấu cho xã hội và một trong những hệ lụy xấu đó là sự gia tăng và diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm do NCTN thực hiện tại địa bàn những đô thị lớn, nhất là tại TPHCM.

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị lớn nhất của cả nước, giữ vai trò đầu tàu trong sự phát triển trên tất cảmọilĩnh vực của Việt Nam. Bên cạnhmặttích cực đó, tình hình an ninh trật tự tại TPHCM cũng diễn biến rất phức tạp với sự gia tăng của các loại tội

2

phạm mà đặc biệt là tội phạm do NCTN thực hiện, gâyảnh hưởng xấu đến sựphát triển của thành phố. Hàng năm, sốvụphạmtộido NCTN thực hiện chiếm khoảng 35,6% tổng số vụ phạm pháp hình sự xảy ra tại địa bàn này. Từngày 01/10/2006 đếnngày 30/4/2007, NCTN gây ra 1.165/2.476vụphạm pháp hình sự [71, tr.2]. Có những khoảng thời gian ngắn, trên địa bàn TPHCM xảy ra hàng ngàn vụ phạm pháp hình sự, trong đó có tới gần 37% làdo NCTN thực hiện [71, tr.5]. Theo thông tin được đưa ra tại Hội nghị góp ý“DựánhỗtrợNCTN vi phạm pháp luật giaiđoạn2013-2016” doSởLaođộng-Thương binh và Xã hội TPHCM phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tổchức ngày 16/4/2013 thì trong năm 2012, trênđịa bàn TPHCM xảy ra hơn 5.000 vụ phạm pháp hình sự, bắt 4.679 đối tượng (chiếm 26,13%), trong đó NCTN là 1.223 đối tượng. Tuy tổng số vụ phạm pháp hình sự và tổng số NCTN phạm tội không nhiều như những nămtrước đâynhưng tính chất nguy hiểm và mức độ nghiêm trọng ngày càng cao hơn. Nếu trước đâyNCTN thường phạmtộiít nghiêm trọng như trộmcắptài sản, cốýgây

thương tích… với tính chất đơn lẻ, thủ đoạn đơn giản, suy nghĩ bồng bột thìhiện nay, tội phạm do NCTN thực hiện đã chuyển sang hình thức băng nhóm, tập thể với tính chất của hành vi phạm tội ngày càng nghiêm trọng hơn như:

giết người, hiếp dâm, cướp tài sản, các tội phạm về ma túy…;

Nghiên cứu tình hình tội phạm do NCTN thực hiện tại địa bàn TPHCM trong thời gian qua cóthểrút ra nhiều nguyên nhândẫnđếnthực trạng nêu trên. Đócó thể là nguyên nhân xuất phát từ phía gia đình và nhà trường khi chưa coi trọng vấn đề giáo dục con cái, giáo dục học sinh, nhất là giáodục vềđạo đức, lối sống. Đó cóthể là do NCTN chịu ảnh hưởng của văn hóa phẩm

độc hại hay công tác quản lý nhà nước về trật tự xã hội còn bị buông lỏng…;Đa số bị can, bị cáo là NCTN không nhận thức đầy đủ về tính nguy hiểm và hậuquảnghiêm trọng của hành vi mình gâyra…vàmộttrongsốnhững

nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó chính là sự bất cập trong việc quyết định hình phạt đối với NCTN.

Dựa trên số liệu về kết quả thụ lý và giải quyết án của TAND TPHCM, từ năm 2007 đến năm 2014, TAND các cấp tại TPHCM đã xét xử 6235 bị cáo là NCTN phạm tội [71]. Trong số những vụ án do NCTN phạm tội mà TAND

TPHCM đã xét xử, phần lớn là những vụ án liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu như: cướp tài sản, cướp giật tài sản hay trộm cắp tài sản… Tuy nhiên, vẫncó nhữngvụánđặc biệt nghiêm trọng, xâm phạmđếntính mạng con ngườinhưvụán Trịnh Hoài Thanh vàđồngbọnvì xích míchnhỏnhặtđã thực hiện hành vi giết người. Khi thực hiện hành vi thìbịcáo Trịnh Hoài Thanh chỉ mới 15 tuổi nên bị tuyên phạt 12 năm tù. Ngoài ra, còn nhiều vụ án xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của trẻ em như vụ án Võ Thành Công và Tô Minh Vương thực hiện hành vi hiếp dâmtrẻem. Do haibịcáo chỉ17 tuổi khi thực hiện hành vi nêncảhaichỉbịtuyên phạt là 08 năm tù. Trên cơ sở nghiên cứu các bản án do TAND các cấp tại TPHCM xét xử trong giai đoạn 2007 đến 2014; và cho đến nay, có thể nhận thấy quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn quyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạm tội còn rất nhiều bất cập, cụ thể như sau:

– Các quy định của BLHS hiện hành năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có nhiềuđiểmmớichưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích chính thức, thực tiễn xétxửcó nhiềuđiểmchưa đượctổng kết, hướngdẫn, nếukhông giải thích hoặc hướng dẫncụthểthì việc áp dụnggặpnhiều khókhăn;

– Trongsốcác hình phạt khôngtước tựdo áp dụngđốivớiNCTN phạm tội, có hình phạt chưa thực sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu giáo dục của đối tượng này như: hình phạt cảnh cáothể hiện sựkhiển trách công khaicủaNhànước đốivớingườiphạm tội. KhiHộiđồng xétxửtuyên án xong, cũng có nghĩa rằng hình phạtđượcthi hành xong. Vì

4

không có cơ chế theo dõi, hỗ trợ NCTN phạm tội thực sự nhận thức được lỗi lầmmình gây ra, cho nên không phải lúc nào hình phạt cảnh cáo cũng phát huy hiệu quả. Mộttrong những nguyên nhân làm NCTN phạmtộitái phạm chính là vì luật thiếu cơ chếhỗtrợgiúp những NCTN phạmtộinhận thức được lỗi lầm của mình để khắc phục các nguyên nhân, điều kiện phạm tội của mình. Hình phạt tiền áp dụngđốivớiNCTN phạmtộicũng là vấnđềcần được cân nhắc lại. Hình phạt này đánh vàolợiíchvậtchấtcủangườiphạm tội, nhưng phần lớn NCTN phạm tội đều không có tài sản và chưa nhận thức đầyđủ vềgiá trị củađồngtiền. Do vậy, việc áp dụng hình phạt tiềnđốivới đối tượng này dường như là không hợp lý;

– Chế tài pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội còn nặng về giam giữ. Cụ thể, trong số 6 chế tài áp dụng đối với NCTN phạm tội, chỉ có hai chếtài có thể áp dụng đối với NCTN phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Đólà đưa vào trường giáo dưỡng hoặc tù có thời hạn. Cả hai chế tài nàyđều tước tự do của người phạm tội. Đối với NCTN phạm tội từ đủ 16 tuổi trở lên, mặc dù 2/3 trên tổng số sáu chế tài luật quy định là chế tài không tước tự do (biện pháp tư pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn và hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cảitạokhông giam giữ), thực tếviệc áp dụng các chếtài này có nhiều hạn chế vì chính hiệu quả giáo dục, phục hồi thấp của các chế tài đó; có lẽ cũng mộtphần cũng vì lý do nàyđã khiếnHộiđồngxétxửngần ngại áp dụng trong thực tiễn.

– Việc áp dụng hình phạt cảnh cáo, cảitạokhông giamgiữđốivới người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi hiện nay còn có những ýkiến khác nhau: có ý kiến cho rằng, không áp dụng hình phạt cảnh cáo và cải tạo không giam giữ đối với những bị cáo này vì theo quy định tại Điều 29 của BLHS thì hình phạt “cảnhcáođược áp dụngđốivớingườiphạmtộiít

nghiêmtrọng…”; khoản 1Điều31 của BLHS quyđịnhhình phạt “cảitạo

không giam giữ được áp dụng … đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc

phạmtộinghiêmtrọng…”. Mặtkhác, tại khoản 2Điều69 của BLHS cũng quyđịnhnguyêntắcxửlýđốivớiNCTN phạmtộilà họcóthểđược miễn trách nhiệm hình sự nếu họ phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng,

gâyhạikhônglớn…Nhữngngườicóýkiến này hiểucụmtừ“phạmtộiít nghiêmtrọng”hoặc “phạmtộinghiêmtrọng”ởđâylà tộiphạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng có mức hình phạt như quy định tại khoản 2Điều 8 của BLHS, mà căn cứ vào Khoản 2 Điều 12 của BLHS thì NCTN từđủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạmrấtnghiêm trọng docốýhoặc tộiphạmđặc biệt nghiêm trọng. Nhưvậy, họkhôngbịtruycứutrách nhiệm hìnhsựđốivớitộiphạm ít nghiêm trọng, tộiphạm nghiêm trọng hoặc tộiphạmrấtnghiêm trọng do vôýnên không được áp dụng hình phạt cảnh cáo hoặc cải tạo không giam giữ đối với những bị cáo này và như vậy hình phạt cảnh cáo hoặc cải tạo không giamgiữchỉđược áp dụngđốivớingườitừđủ16 tuổitrởlên. Tuy nhiên, cũng cóýkiến cho rằng, có thể áp dụng hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giamgiữ đối vớiNCTN phạmtội từđủ14 tuổiđếndưới16 tuổi vìcầnphải hiểucụmtừ“phạm tội ít nghiêmtrọng” hoặc “phạm tội nghiêmtrọng” quy định tại Điều 29 và Điều 31 của BLHS là tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội mà NCTN đã thực hiện chứ không phải là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tộiphạm nghiêm trọng như quyđịnhtạiĐiều8củaBLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

– Bộ luật hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 09/12/2015 nhưng đến nay chưa chính thức có hiệu lực. Việc thi hành các nội dung của BLHS năm 2015 cólợicho NCTN phạmtộivừaáp dụng Nghị quyết 109/ NQ-QH13, vừa áp dụng Nghị quyết 144/NQ-QH13, vừa áp dụng Nghị quyết 01/2106/ NQ- HĐTP của HộiđồngThẩm phán Tòa án nhân dântốicao nhưng vẫn chưa đầy đủ dẫn đến gặp nhiều khó khăn và vướng mắc.

Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh
Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh

– Chưa có đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao chuyên về NCTN phạm tộitiến hànhtốtụng, dẫnđếnviệc quyếtđịnhhình phạt không phùhợpvới

các đặc điểm tâm sinh lý của NCTN…;

Những bất cập nêu trênđã ảnhhưởng nhiềuđếnviệc quyết định hình phạtđốivớiNCTN phạmtộitạiTPHCM trong thời gian qua, dẫnđếntình trạng quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, không phù hợp với chính sách hìnhsựcủa Đảngvà Nhà nước ta nói chung, chính sách hìnhsựcủa Đảng và Nhà nước ta về NCTN phạm tội nói riêng.

VấnđềNCTN phạmtộilàmộttrong nhữngvấnđềđangđượcĐảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm vì NCTN chính là tương laicủa đất nước. Hiện nay, tuy đã có một số công trình nghiên cứu, một số bàiviết đề cập đến vấn đềNCTN phạmtộinhưngvẫnchưa cómộtcông trình nghiên cứu ởcấpđộTiến sĩ, nghiêncứumộtcách cóhệthống, toàn diện và sâu sắc vềvấnđềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộitrênmộtđịa bàncụthểnhưTPHCM. Từđóđã dẫnđếnthực trạng là nhữngbấtcậpphát sinhtừviệc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội trên địa bàn TPHCM vẫn chưađược phân tích và làm rõ cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Theo các số liệu thống kê về diễn biến và thực trạng tình hình tội phạm thìtỷlệNCTN phạmtộitrênđịa bàn TPHCM gia tăngvớitốc độcao, tính chất nguy hiểm của hành vi ngày càng nghiêm trọng hơn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên.

Đề ánthành lập Tòa gia đình và NCTN của Tòa án nhân dân tối caođãđược Quốc hội phê chuẩn khi thông qua Luật tổchức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã được Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của Tòa Gia đình vàngười chưa thành niên chưa thật sự đápứng được yêucầu. Nhiều trường hợp quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM trong thời gian qua hoặc là quá nặng, hoặc là quá nhẹ dẫn đến việc cải tạo, giáo dục NCTN không

7

thật sự hiệu quả, khiến cho tình hình tội phạm do NCTN thực hiện tại TPHCM diễn biến ngày càng phức tạp hơn. Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể và sâu sắc về vấn đề “Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh” . Chính vì vậy, tác giả chọn đây là đề tài nghiên cứu của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

Luận án xác định mục đích nghiên cứu là đề ra các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hìnhsựvề quyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạm tội cũng như đưa ra những giải pháp nhằm đẩmbảovà nâng cao hiệuquảhoạt độngquyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Đểđạt được mục đích đã nêu trên, các nhiệm vụ nghiêncứucủa luận án được xác định cụ thể như sau:

– Nghiêncứucóhệthống nhằm làm rõ cơ sởlý luậnvềNCTN phạm tội, về quyết định hình phạt và cơ sở lý luận của việc ban hành các quy định về việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội;

– Nghiêncứuso sánhmộtsốquyđịnhvềNCTN phạmtộitrong cácĐiều ước quốc tế và pháp luật hình sự một số nước trên thế giới, những vấn đề pháp lý nảy sinh và từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam;

– Phân tích thực trạng quyđịnhpháp luật hìnhsựhiện hànhvềquyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội;

– Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật hìnhsựhiện hànhvềquyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM, qua đó nêu rõ những bất cập, hạnchếvà nguyên nhân của nhữngbấtcập,hạnchếđógắnliền với những đặc trưng riêng của địa bàn này;

– Phân tích, so sánh, đánh giá xu hướng vận động của pháp luật hình sựvề quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội hiện nay trên thế giới, từ đó

8

đưa ra định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội trong giaiđoạn sắp tới;

– Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp, kiến nghị đảm bảo cho hoạt độngquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộitạiTPHCM đúng pháp luật, phù hợp với các nguyên tắc xử lý NCTN vi phạm pháp luật của cácđiều ước Quốc tế. Từđó,nâng cao hiệuquảhoạtđộngquyếtđịnhhình phạtđối với NCTN phạm tội trên cả nước.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án

– Lý luận về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội

– Một số nét tổng quan về sự điều chỉnh của pháp luật một số quốc gia và Điều ước quốc tế, pháp luật trong nước về NCTN phạm tội và quyết định hình phạt;

– Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay về quyết định hình phạtđốivớiNCTN phạm tội. Thực tiễn áp dụng các quyđịnhnày tại TPHCM hiện nay.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung, đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về NCTN phạm tộivà quyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộivà thực tiễn quyếtđịnh hình phạt đối với NCTN phạm tội;

– Về thời gian, đề tài nghiên cứu việc áp dụng quy định pháp luật hình sựViệt Namvềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộitừnăm 2000đến nay;

–Vềkhông gian, đề tàinghiêncứuthực tiễn quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội tại địa bàn TPHCM.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Tác giảxây dựng và hoàn thiện luận án dựa trên phương pháp luận biện chứng duyvậtđược cungcấpbởiHọc thuyết Mác – Lê Nin, phương

9

pháp luận nàyđápứng được yêucầu xem xét đối tượng nghiên cứu trong môi trường vật chất mà nó tồn tại, từ đó đánh giá vấn đề từ những yếu tố quy định chúng.

Phương pháp luận này dựa trên một số quan điểm tiếp cận cụ thể:

– Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chủtrương, đường lối của Đảng về chính sách hình sự gắn liền với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủnghĩa trongsựnghiệp xây dựngchủnghĩa xã hội thời kỳ đổi mới;

– Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách bảo vệ con người, bảovệquyền và cáclợiích của NCTN phạm tội, chính sách tái hòa nhập cộng đồng đối với NCTN phạm tội trong giai đoạn hiện nay;

Chỉ thị số 20- CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, trong đó có yêu cầu:“Xây dựng và tổ chức thực hiện cóhiệu quả các chương trình, đề án chăm sóc, giáo dụng và bảo vệ trẻ em…; tổchức thực hiệntốtCôngước LiênHợpquốc vềquyềntrẻem và các Côngước, Điều ước Quốc tế khác có liên quan mà Nhà nước Việt Nam ký kết hoặc tham gia…”

– Các lý thuyếtvềphát triển tâm sinh lýtrẻem như: Thuyết xã hội- tâm lý của Erick Erikson và thuyếtvềsựphát triểncủatrẻem của Jean Piaget. Những lý thuyết này giúp chongườinghiêncứunắmbắtrõ các giaiđoạnphát triển của NCTN, nhữngđặc điểmvềtâm lý, thểchất của NCTN, trên cơ sở này đưa ra được những luận điểm đảm bảo tính khoa học cho việc hoàn thiện quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành liên quanđến việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội.

* Các phương pháp nghiên cứu cụ thể sử dụng trong luận án

Để làmrõ các vấn đề cần nghiên cứu, luận án được nghiên cứu trên cơsởphương pháp luận là chủnghĩa duyvậtbiện chứng và chủnghĩa duy vật

10

lịch sử. Đây là phương pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận án để đánh giá khách quan về việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM.

Theo đó, luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

Phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát, phương

pháp lịchsửcụthể…Đểhoàn thành mục đích nghiêncứuthì cósựkếthợp giữa các phương pháp trong từng phần của luận án, phương pháp phân tích và

tổng hợp là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong luận án. Đối với mỗi chương có thể nêu ra phương pháp nghiên cứu chủ đạo như sau:

– Chương 2, tác giảsửdụngchủyếuphương pháp lịchsửcụthể, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháphệthống các thông tintừcác công trìnhđã được côngbốtrong và ngoàinước đểtạonềnkiến thức chung và giải quyết triệt để cơ sở lý luận của đề tài này.

Bên cạnh đó, tác giả dùng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháphệthống, luật học so sánhđểkhẳngđịnhnhững quyđịnhvềNCTN phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, chỉ ra được những vấn đề pháp lý cần học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế, đưa ra những vấn đề gợi mở cho Việt Nam.

– Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp hệ thống, tổng hợp và phân tích để đánh giá các quy định về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội trong Bộ luật Hình sự. Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê và xã hội học pháp luật để xem xét về tình hình tội phạm do NCTN thực hiện trênđịa bàn TPHCM và thực trạng quyếtđịnhhình phạtđốivới NCTN phạmtộitrênđịa bàn này nhằm đánh giá và phát hiện những thành công và những hạn chế cần khắc phục.

Tác giả còn sử dụng phương pháp hệ thống và phương pháp phân tích và tổnghợpđểchỉra nhữngmặthạnchế, bấtcậpvà đánh giá hiệuquảcủa

11

việc áp dụng quyđịnhpháp luật hìnhsựvềquyếtđịnhhình phạtđốivới NCTN phạm tội tại TPHCM.

– Chương 4, tác giảsửdụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống để đề ra phương hướng cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội. Thêm vào đó, có kết hợpvới phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, phương pháp hệ thống để đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả trong việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM.

* Về hướng tiếp cận của luận án

– Trên cơsở tập hợp, hệ thống ở mức đầy đủ nhất cóthể các công trình liên quanđếnvấnđềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộiđã được công bố, luận ánsẽkếthừa có chọnlọccác kếtquảnghiêncứuđó. Từđó, đưa ra những quan niệm của mình về vấn đề nghiên cứu.

– Bên cạnh việc phân tích các quyđịnhhiện hành của pháp luật liên quanđếnvấnđềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạm tội, luận án còn nêu lên thực trạng áp dụng quyđịnh về quyếtđịnhhìnhphạt đối vớiNCTN phạmtộitạiTPHCM. Từđó, luận ánchỉra những thành công cũng nhưnhữnghạnchế, bấtcậptrong quá trình thực thi quyđịnhpháp luật hìnhsựViệt Namvềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộitạiTPHCM đểlàm tiền đề cho những đề xuất, kiến nghị.

– Trên cơ sở phương hướng đề ra, luận án đưa ra các giải pháp cụ thểnhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả trong việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạmtộitạiTPHCM, góp phần ngăn ngừa tình hìnhtộiphạm do NCTN thực hiện trên địa bàn này.

5. Những điểm mới của luận án

– Luận án đã góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm NCTN và khái niệm NCTN phạm tội trên cơ sở phân tích quy định của các Điều ước quốc tế cũng như quy định pháp luật hình sự Việt Nam.

12

– Luận ánđãphân tích rõ nhữngvấnđềlý luận chungvềquyếtđịnh hình phạt cũng như quy định pháp luật hình sự hiện hành về quyết định hình phạtđốivớiNCTN phạm tội. Từđótác giả đã đưa ra khái niệm quyếtđịnh hình phạtđốivớiNCTN phạmtộiphù hợp; so sánh chính sách hìnhsựcủa Việt Namvớimộtsốnước trênthếgiớivềquyếtđịnhhình phạtđốivới NCTN phạm tội.

– Luận ánđã phân tích rõ các thôngsốvềdiễn biến của tình hình tội phạm do NCTN thực hiệntạiTPHCM; xác địnhnhững thành côngđãđạt được cũng như những vướng mắc còn tồn tại qua việc đánh giá về thực tiễn quyết định hình phạt của TAND TPHCM đối với NCTN phạm tội; đồng thời xácđịnhnhững nguyên nhânbấtcậpcòntồntạitrong thực tiễn quyếtđịnh hình phạt của TAND TPHCM đối với NCTN phạm tội.

– Luận án nêu ra những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội và các giải pháp khác nhằm đảm bảo, nâng cao hiệuquảcủa hoạtđộngquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộitại TPHCM. Tác giảtiếp tục đềxuất những giải phápmớihướngdẫnáp dụng nguyên tắc có lợi khi quyết định hình hạt đối với NCTN phạm tội khi Bộ luật hình sự 2015 và Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã công bố nhưng chưa chính thức có hiệu lực pháp luật.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Đâylà công trình chuyên khảo ở cấp luận án tiến sĩ nghiên cứu về hoạt động quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM. Công trình đãnghiêncứucác vấnđềlý luậnvềNCTN phạm tội, quyđịnhcủa pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội; phân tích, đánh giáthực tiễn của hoạt động quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội do Tòaán nhân dân cáccấpthực hiệntạiTPHCM và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

13

Luận án đóng góp khiêmtốnvềmặtkhoa học trong việc giải quyết nhữngvấnđềlý luận và thực tiễn liên quanđếnviệc bảođảmcác quyền và

lợiíchđốivớiNCTN phạm tội, góp phần nâng cao hiệuquảthực thi các quyền và lợi ích này trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Luận án là mộttài liệu tham khảo có giá trịtrong hoạtđộnglậppháp hình sự, trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự khi xét xử NCTN phạm tội cũng như trong học tập và nghiên cứu về khoa học pháp lý hình sự.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận thì luận án bao gồm 04 chương sau:

– Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài.

– Chương 2: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sựvề quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

– Chương 3: Khái quát tình hìnhngườichưa thành niên phạmtộivà thực tiễn quyếtđịnhhình phạtđốivớingườichưa thành niên phạmtộitại thành phố Hồ Chí Minh.

– Chương 4: Đảm bảo và nâng cao hiệu quả hoạt động quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh.

14

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong khoa học pháp lýnước ta cũng như khoa học pháp lý quốc tế, vấn đề quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt đối với NCTN phạmtộinói riêngđã được các tác giảnghiêncứutừnhiều góc độvớicác mức độ khác nhau.

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Qua nghiêncứucác công trìnhvềquyếtđịnhhình phạt nói chung vàquyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội nói riêng ở nước ngoài và trong nước như đã đề cập ở trên, tác giả có một số nhận xét, đánh giá về các kết quảnghiên cứu như sau:

1.2.1. Những thành tựu trong nghiên cứu mà Luận án kế thừa, tiếp tục phát triển

Các công trình nghiêncứuđã đềcậpvà phân tích cơsởlý luận cũng như cơ sởthực tiễn của việc quyđịnhtrườnghợpquyếtđịnhhình phạtđối vớiNCTN phạmtộithànhmộttrườnghợpquyếtđịnhhình phạtđặc biệt, giảmnhẹhơn sovớitrườnghợpngườiđã thành niên phạm tội. Khái niệm chung về NCTN và NCTN phạm tội cũng đã được các công trình nghiên cứu đưa ra và phân tích, sự khác biệt về các đặc điểm tâm, sinh lý giữa NCTN vàngười đã thành niên cũng đã được các công trình nghiên cứu chỉ rõ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định hình phạt áp dụng đối với NCTN sẽ nhẹ hơn so với trường hợp thông thường. Đây là cơ sở xuất phátđiểm đểtác giả luận án tiếp tục đi sâu phân tích cơ sở lý luận về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội.

Thông qua việc nghiêncứucác công trìnhđãgiúpngườinghiên cứu khái quát được toàn cảnh hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước vềvấnđề quyếtđịnhhình phạt nói chung cũng như quyết định hìnhphạt đối

23

với NCTN nói riêng. Trên cơ sở này tác giả luận giải, làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễnvềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN hiện nay, từđóđưara những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Namvề vấn đề này.

Việc nghiên cứu các công trình của các học giả quốc tế giúp tác giả cóđược mộtcái nhìn bao quátvềvấnđềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN trênthếgiới, từđótiếpcậnvấnđềnàyởViệt Namdướigóc nhìn đa chiều trên nền tảng của luật học so sánh. Các hệ thống pháp luật trên thế giới, các hệthống pháp luật quốc gia tiếp nhậnvấnđềquyếtđịnhhình phạtđốivới NCTN từ pháp luật quốc tế như Công ước CRC, Quy tắc Bắc Kinh,… nhưngđã cócác cách giải quyết khác nhau phù hợp với thực tiễn của từng quốc gia, trong từng giaiđoạnphát triển, từđógiúp cho tác giảtránhđược việc nhìn nhận vấn đề một cách phiến diện.

Các công trình nghiên cứu trong nước đã đề cập và phân tích các quyđịnhpháp luật hìnhsựhiện hànhvềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộinhư: căncứquyếtđịnhhình phạt, nguyên tắc áp dụng hình phạt… Đồng thời, các công trình đã nêu ra những bất cập của qui định pháp luật hiện hành khi áp dụng trên thực tế và đưa ra kiến nghị hoàn thiện Trên cơ sở các nghiên cứu này, tác giả tiếp tục phân tích sâu, đưa ra những bình luận, nhận định khoa học riêng của mình về vấn đề quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội nhằm để tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật hình sự hiện hành, góp phần bảo vệ quyền lợi cho NCTN phạm tội.

1.2.2. Những vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc chưa được giải quyết thấu đáo cần phải tiếp tục nghiên cứu

Qua các công trình nghiêncứuđã được công bố cho thấy việc nghiên cứu về quyết định hìnhphạt đối vớiNCTN phạm tội vẫn còn tồn tạimột sốvấn đề sau:

Các công trìnhđãđưara và phân tích nhữngvấnđềlý luận chungvềNCTN và trách nhiệm hình sự đối với NCTN. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một

24

số vấn đề quan trọng liên quan đến NCTN đang có sự tranh luận như độ tuổi tối thiểu của NCTN phạm tội, đặc điểm về thể chất và tinh thần với khả năng chịu hình phạt… nhưng vẫn chưa được công trình nghiên cứu phân tích rõ.

Nhiều công trìnhđã nêu ra được nhữngbấtcậptrong quyđịnhpháp luật hìnhsựhiện hànhvềvấnđềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạm tội. Tuy nhiên, các công trình nàyphần lớn chỉ đềcập đếnmộthoặcmộtsốbất cập của luật thực định nhưng chưa đi sâu vào phân tích rõ ràng và cụ thểcác bất cập đó; chưa luận giải và đề xuất được những giải pháp cụ thể và toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam. Có thể thấy phần lớn các công trình khoa học pháp lý về vấn đề này được công bố dưới hình thức các bài viếtđược đăng trên các tạpchí khoa học chuyên ngành luật hoặc tham luận trong các Hội thảo quốc gia và quốc tế. Do đó các công trình vẫn chưa thểgiải quyếtmộtcách thỏa đáng, hệthốngtấtcảcácvấnđềpháp lý liên quanđến vấn đề này.

Chưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến việc quyết định hình phạt đối vớiNCTN phạmtộitạiTPHCM. Đâylà đô thị lớnnhất Việt Nam,đứng đầu trênmọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục. Tuy nhiên, tình hình an ninh trậttựtrênđịa bàn này diễn biếnrấtphức tạpvớisốlượngtội phạm cao nhất nước, trong đó có tội phạm do NCTN thực hiện. Tình hình tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn này cónhững đặc điểmriêng biệt so vớicác địa bàn khác. Vì vậy, những nguyên nhândẫnđếnviệc quyếtđịnh hình phạtđốivớiNCTN phạmtộichưa thậtsựhợplýsẽcó những nguyên nhânđặc thùchỉcóởđịabàn TPHCM, không cóởcác địa bàn khác. Đồng thời, có những giải pháp nhằm nâng cao hiệuquảcủa việc quyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộichỉcóthểáp dụngtạiđịa bàn TPHCM chứkhôngthểáp dụng chung chocảnước. Hầuhếtcác công trình nghiên cứu hiện nay chỉ đưa ra những đề xuất, kiến nghị áp dụng chung trong phạm vi cả

25

nước;nếuáp dụng nhữngđềxuất, kiến nghịđótrênđịa bàn TPHCM thìsẽkhông đạt được hiệu quả cao vì đặc điểm riêng biệt của địa bàn này.

Hiện nay, chưa có công trình khoa học ở cấp độ tiến sĩ nào nghiên cứu,đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận của quyết địnhhình phạtđốivớiNCTN phạm tội; thực trạng quyđịnhpháp luật hiện hànhvềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạm tội; thực tiễn quyếtđịnh hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM; đánh giá những bất cập khi áp dụng trên thực tếvà trên cơ sởđó, đềxuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM. Chính vìvậy, việc tiếp tục nghiêncứuvấnđềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạm tội ở góc độ lý luận, đánh giá thực trạng, dự báo và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệuquảquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạmtộitại TPHCM là cần thiết và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nàođã thực hiện trước đây.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Qua các công trình nghiêncứuđã được công bố cho thấy việc nghiên cứu về quyết định hìnhphạt đối vớiNCTN phạm tội vẫn còn tồn tạimột sốvấn đề sau:

– Các công trình đã đưa ra và phân tích những vấn đề lý luận chung vềNCTN phạmtộinhưngvẫncònmộtsốvấn đềquan trọng liên quanđến NCTN đang có sự tranh luận như độ tuổi tối thiểu của NCTN phạm tội, đặc điểm về thể chất và tinh thần với khả năng chịu hình phạt, ai là người có thẩm quyền quyếtđịnhbiện pháp thaythếxửlý hìnhsựđốivớiNCTN phạm tội nhưng vẫn chưa được công trình nghiên cứu phân tích rõ.

– Nhiều công trình đã nêu ra được những bất cập trong quy định pháp luật hìnhsựhiện hànhvềvấnđềquyếtđịnhhình phạtđốivớiNCTN phạm tộinhưngchỉđề cậpđếnmột hoặc mộtsốbấtcậpcủa luật thực định nhưng chưa đi sâu vào phân tích rõ ràng và cụ thể các bất cập đó; chưa luận giải và

26

đề xuất được những giải pháp cụ thể và toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.

– Chưa có công trình nghiêncứunào liên quanđếnviệc quyếtđịnh hình phạt đối với NCTN phạm tội tại TPHCM. Tình hình tội phạm do NCTN thực hiện trênđịa bàn này có nhữngđặc điểmriêng biệt sovớicác địa bàn khác. Vì vậy, những nguyên nhân dẫn đến việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội chưa thật sự hợp lý sẽ có những nguyên nhân đặc thù chỉ cóởđịa bàn TPHCM, không cóởcác địabàn khác. Đồngthời, có những giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả của việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội chỉ có thể áp dụng tại địa bàn TPHCM chứ không thể áp dụng chung cho cả nước. Hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay chỉ đưa ra nhữngđềxuất, kiến nghị áp dụng chung trong phạm vicảnước;nếuáp dụng những đề xuất, kiến nghị đó trên địa bàn TPHCM thì sẽ không đạt được hiệu quả cao vì đặc điểm riêng biệt của địa bàn này.

Do đó, trong công trình này, tác giảsẽnghiêncứuvấnđềquyếtđịnh hìnhphạt đốivớiNCTN phạmtội ở gócđộ lýluận, đánh giá thực trạng, dựbáo và đềxuất những giải pháp nâng cao hiệuquảquyếtđịnhhình phạtđối với NCTN phạm tội tại TPHCM nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích của đối tượng này.

27

CHƢƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

HÌNH SỰ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI

NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

2.1. Những vấn đềlý luận vềquyết định hình phạt đốivớingƣời

chƣa thành niên phạm tội

2.1.1. Khái niệm chung về người chưa thành niên phạm tội 2.1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên

Người chưa thành niên là một đối tượng đặc biệt, được các quốc gia trên thếgiới nói chung và Việt Nam nói riênghếtsứcquan tâm chăm sóc và bảo vệ. Nghiên cứu khái niệm NCTN là nghiên cứu về phạm vi các đối tượng được coi là NCTN trong quy định pháp luật quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam hiện hành. Những quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như văn bản pháp luật Việt Nam đã căn cứ vào sự phát triển về thể chất và tinh thần của con người theo độ tuổi để lấy độ tuổi làm ranh giới xác định NCTN và người đã thành niên. Độ tuổi được coi là NCTN sẽ được xác định theo hai phạm vi, gồm phạm vi pháp luật quốc tế và phạm vi pháp luật Việt Nam.

-Thứnhất, trong phạm vi pháp luật quốc tếthìđộtuổiđược coi làNCTN được quy định trong các văn bản sau đây:

+ Tại Quy tắc 2.1 mục a của Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc vềbảovệNCTNbịtước quyềntựdo thông qua ngày 14/12/1990 cóquy định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do củaNCTN“. Theo quyđịnhtrong Quy tắc này thì NCTNđược xác địnhlàngười dưới 18 tuổi;

+ TronghướngdẫnRiyadh của LiênHợpQuốc vềviệc phòng ngừa NCTN phạm tội (Hướng dẫn Riyadh) năm 1990, tuy các quy định không nêu

28

ra mộtcách cụthể vềkhái niệm NCTN nhưng cũng đã thể hiện rõ tư tưởng “NCTN là những người dưới 18 tuổi”;

+ Điều1 Côngước quốc tếvềquyềntrẻemđược ĐạihộiđồngLiên Hợpquốc thông qua ngày 20/11/1989 cũng xác địnhđộtuổiđược coi là trẻem khi quyđịnh:”Trẻem có nghĩa làngườidưới18 tuổi, trừtrường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.

Từcác vănbảnnêu trên, cóthểxác định:khái niệm NCTN và khái niệmtrẻem trong quyđịnhpháp luật quốc tếhiện nay cósựđồngnhất với nhau – đều người dưới 18 tuổi; đối với người ở độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên thìđược coi là ngườiđã thành niên và đồngthời cũng không còn là trẻem. Tuy nhiên, đốivớicác quốc gia khác nhau thì việc xác địnhđộtuổi cho NCTN còn tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống văn hóa,

lịch sử cũng như các yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nên Côngước quốc tếvềquyềntrẻemvẫnđểngỏcho các quốc gia thành viên của Côngước quyềnxác định độ tuổithành niênsớmhơn mốc 18 tuổi nhưng phải được quy định trong pháp luật của quốc gia đó.

– Thứ hai, ở phạm vi pháp luật Việt Nam thì độ tuổi được coi là NCTNđược quy định trong nhiều văn bản khác nhau, cụ thể như sau:

+ Theo quyđịnhcủapháp luật dânsựthì việc xác địnhđộtuổiđược coi là NCTNđượcphảidựavàoĐiều18 BLDS 2005: “Ngườichưađủ18 tuổi là NCTN“;

+ Trong pháp luật lao động, độ tuổi của NCTN được quy định tại Điều 161 BLLĐ 2012: “Ngườilaođộngchưa thành niên làngườilaođộngdưới 18 tuổi“;

+ Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành thì việc xác định độtuổi của NCTN phải căn cứ vào Điều 68 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Dựa vào quy định tại Điều luật này thì NCTN phạm tội là người dưới 18 tuổi.Bộluật hìnhsựnăm 2015đã thaythếcụmtừ“người chưa thành

29

niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi” và về nội dung độ tuổi không thayđổi so với BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Dựa vào các quy định nêu trên, có thể thấy được: các văn bản pháp luật Việt Nam cũng căn cứ vào độ tuổi để xác định ranh giới giữa người đã thành niên và NCTN nhưng vẫn có sự khác biệt giữa quy định của BLHS, BLDS vàBLLĐ trong cách thức phânđịnhranh giới này khi BLDS sửdụngcụmtừ“chưađủ”còn BLLĐ và BLHS dùngtừ“dưới”. Tuy nhiên, trong quyđịnh của các vănbảnđã nêu thìngườiđã thành niênđềuđượcxác địnhlà người tròn 18 tuổi và đủ ngày, đủ tháng còn NCTN là người chưa tròn 18 tuổi. Nhưvậy, việc xác định độ tuổi của NCTN theo quy định của pháp luật Việt Nam có sự đồng nhất với các văn bản pháp luật quốc tế.

Bên cạnh đó, khái niệm trẻ em trong quy định của pháp luật Việt Nam

lại không đồng nhất với khái niệmtrẻem trong Côngước quốc tếvề quyền trẻ em của Liên Hợp quốc. Theo quy định tại Điều 1 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” trong khi Côngước này quyđịnh”Trẻem có nghĩa làngườidưới18tuổi”. Tuy nhiên, việc quyđịnhtrẻem là ngườicóđộtuổidưới16 của pháp luật Việt Nam không trái với quy định của Công ước về quyền trẻ em vì Công ước đểngỏcho các quốc gia thành viên quyền xác địnhđộtuổi thành niên sớm hơn mốc 18 tuổi như phân tích ở trên.

Như vậy, theo quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam thì khái niệm NCTN và khái niệm trẻ em là hoàn toàn khác biệt khi xác định NCTN là người chưađủ 18 tuổi còn trẻ em là người chưa đủ 16 tuổi. Sự tồn tại của hai khái niệm khác nhau như trên có thể gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền của NCTN. Trong quy định pháp luật quốc tế thì khái niệm NCTN và trẻ em là đồng nhất nên việc bảo vệ NCTN sẽ thực hiện theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 của LiênHợpquốc còn việc bảovệNCTN theo pháp luật Việt Nam thì vẫn chưa có một văn bản riêng biệt. Hiện nay, các quy định về bảo

30

vệquyềnlợicủa NCTNđược ghi nhậnmộtcáchtậptrung vàođốitượng NCTN dưới 16 tuổi bằng các quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem năm 2004. Trong khi đó, việc bảovệquyềnlợicụthểcủanhững NCTNtừđủ16 tuổiđếnchưa đủ18 tuổi chưa được ghi nhận chính thức trong bất kỳ văn bản luật riêng biệt nào.

Từ những quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế và các văn bản pháp luật Việt Nam nêu trên, cóthểđưara địnhnghĩa vềNCTN như sau:

Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi.

2.1.1.2. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sựViệt Nam

Theo quy định tại Điều 68 BLHS thì “Người chưa thành niên từ đủ 14

tuổiđếndưới18 tuổi phạmtộiphải chịu trách nhiệm hìnhsự…”.Như vậy, theo pháp luật hình sự Việt Nam thì NCTN phạm tội là một phạm trù pháp lýbao gồm những người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, không phảimọitrườnghợpNCTNtừđủ14 tuổiđến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi bị BLHS cấm đều phải chịu trách nhiệm hình sự mà còn phụ thuộc vào mức độ nhận thức của họ tại thời điểm thực hiện tội phạm. Do đó, trên cơ sở phân định mức độ nhận thức của NCTN mà Điều 12 BLHS quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Căncứvào quyđịnhnêu trên, NCTN phạmtộichỉbaogồmcác đối tượng ở hai nhóm tuổi sau:

31

– Người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm, bất kể đó là loại tội phạm gì và được thực hiện với bất kỳ lỗi gì;

– Người từđủ14đếnchưa đủ16 tuổi thực hiệntộiphạmrấtnghiêm trọngvớilỗicốýhoặc tộiphạmđặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp này, nếu NCTN thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm rất nghiêm trọng thì họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi tội phạm đó được thực hiện với lỗi cố ý. Nếu họ thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng nhưng với lỗi vô ý thì sẽ không bị coi là có tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp tội phạm mà người từ đủ 14 đến chưa đủ 16 tuổi thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự cho dù tội phạm đó được thực hiện với lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý.

Do đó, nếuNCTN thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộinhưng không thuộc hai trường hợp sauđâythìhọkhông phải là người phạmtộivìchưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

– Trường hợp 1: Tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi chưa đủ 14 tuổi;

– Trường hợp 2: Tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi. Tuy nhiên, hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện chỉ là:

 Tội phạm ít nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý;

 Tội phạm nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý;

 Tội phạm rất nghiêm trọng với lỗi vô ý.

Từ những quy định nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về NCTN phạm tội như sau: Ngườichưa thành niên phạm tội theo quy định củaBLHS làngười từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sựvà thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.

32

Như vậy, tuổi chịu trách nhiệm hìnhsựlà dấuhiệubắtbuộc khi xácđịnh trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội. Mộtngườichưađủtuổi theo quyđịnhtạiĐiều12 BLHS thìngườiđókhông thể trở thành chủ thể của tội phạm và đương nhiên họ không phải chịu trách nhiệm hìnhsự.Bên cạnh đó, việc xác địnhchính xác tuổi còn nhằm giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đúng các chính sách, chủ trương, nguyên tắc và đường lối xử lý hình sự đối với NCTN phạm tội. Theo hướng dẫntạiNghị quyết 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của TANDTC thì cách xácđịnh tuổi theo qui định của luật hình sự là tính theo tuổi tròn, tuổi đủ, nghĩa làphải đủ ngày, đủ tháng. Chẳng hạn như một người thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm người đó đạt độ tuổi là 17 tuổi 11 tháng 28 ngàythì vẫn được coi là người chưa đủ 18 tuổi và người đó vẫn là NCTN.

Việc xác định tuổi của người thực hiện tội phạm sẽ căn cứ trên những giấy tờ ghi nhận ngày sinh của họ có giá trị pháp lý như: giấy khai sinh, giấy

chứng sinh, giấy chứng minh nhân dân, sổđăng kýhộkhẩu… của họ. Tuy nhiên, trên thực tếcó những trườnghợpkhông xác địnhđượcngày, tháng, năm sinh của ngườithực hiệntộiphạm vì những lý do khách quan nhưhọkhông có giấy khai sinh, không có giấy tờ tùy thân… gây nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hànhtốtụng trong việc giải quyếtvụán. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp và Bộlao động, thương binh và xã hộiđã ban hành Thông tư liên tịchsố01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 về hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là NCTN, trong đó có hướng dẫn về việc tính tuổi của người phạmtộilà NCTN. Theo quyđịnhtạiThông tư liên tịchsố01/2011/TTLT- VKSNDTC- TANDTC- BCA- BTP- BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ tính như sau:

33

– Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong thángđóthìlấyngày cuối cùng của thángđólàm ngày sinh của người phạm tội;

– Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xácđịnh được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của quý đó làm ngày sinh của người phạm tội;

-Nếuxác địnhđượccụthểnửa đầunăm hay nửa cuối năm, nhưng không xác địnhđượcngày, tháng nào trong nửa đầunăm hay nửa cuối năm thìlấyngày 30 tháng 6 hoặc 31 tháng 12 tươngứngcủa nămđólàm ngày sinh của người phạm tội;

– Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm sinh đó làm ngày sinh của người phạm tội.

Trong trườnghợpđặc biệt, nếukhông xác địnhđượcnăm sinh của người phạm tội thì tiến hành trưng cầu giám định để xác định tuổi của người phạm tội.

Những quy định nêu trên của Thông tư liên tịch số 01/2011 đã được luật hóa trong BLHS năm 2015.

Như vậy, căn cứ vào quy định của Thông tư liên tịch số01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH thì việc xác định tuổi của người thực hiện tội phạmđược thực hiện theo nguyên tắc suy đoán có lợi cho họ. Nguyên tắc này xuất phát từ các quy định của BLTTHS khi xácđịnh:“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố

tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vôtội”[54, tr.03] và “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa

cóbảnánkếttộicủaTòa ánđãcó hiệu lực pháp luật” [54, tr.04]. Do đó, trong trườnghợpcác cơ quan tiến hànhtốtụng không xác địnhđược chính xác ngày, tháng, năm sinh của người thực hiện tội phạm thì các cơ quan này

34

xác địnhtuổi theo nguyên tắc suy đoán có lợi, tức xác địnhmức tuổi thấp nhất cho họ.

2.1.2. Đặc điểm cơ bản của người chưa thành niên phạm tội

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Hồ Chí Minh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *