Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật vềhỗ trợcủa Nhà nước đối với doanh nghiệp  nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay

Ở  ẦU

  1. í h ấp th ết  ủa v ệ    h ê   ứu đề tà

Trong nền kinh tếcủacác nƣớc trên thế giới, DNNVV là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế. Loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, tăng  thu nhập cho ngƣời lao  động, giúp huy

động các nguồn lực xã hội cho đầu tƣ phát triển, xóa đói giảm  nghèo… Cùng với đó, thực tiễn đã cho thấy những doanh nghiệp khổnglồ, hoạt độngxuyên quốc gia hiện nayđềuđƣợcphát triểntừcác doanh nghiệp nhỏ và vừa.  Ví dụ: Apple.Inc thành lập ngày 01/4/1976  là một doanh nghiệp, có trụ sở chính là một gara để xeở Los Altos, California, Mỹvới các thành viên là Steve Wozniak, Steve Jobs và Ronald Wayne [102]. Hiện nay, Apple Incđãphát triển thành doanh nghiệp có tổng tài sản 365,725tỉ đô la Mỹ(USD) với 132,000  nhân viên hoạt động trên toàn thếgiới với nhữngsảnphẩm công nghệ thông tin đƣợc ƣa chuộng hàng đầu thế giới

nhƣ Iphone, Ipad, Macbook… [93]; Alibaba là doanh nghiệp do Jack Ma cùng 17

ngƣời bạnthành lập năm 1999 với số vốn ban đầu 60.000 USD tại một cănhộ nhỏtại Hàng Châu, Trung Quốc đến nay đã phát triển thành doanh nghiệp có giá trị vốn hoá hơn 500tỷđô la Mỹ, hơn 36.000 nhân viên và hoạtđộngtrên toàn thế giới

[98];… Điều này càng cho thấy DNNVV là có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào.

Cũng nhƣ các nƣớc trên thế giới ở nƣớc ta hiện nay, DNNVV đang có sựphát triển nhanh vềsốlƣợng, chiếm sốlƣợnglớn và đãcó đóng góp to lớn đối với sựphát triển kinh tế,xã hội của đất nƣớc. Cụthể, theo số liệu thống kê thì: “Khu vực doanh nghiệp quy  mô siêu nhỏ và nhỏcó số lƣợng doanh nghiệp chiếm tỷlệcao nhất. Tại thời điểm31/12/2018 có 382.444 doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, chiếm 62,6% số doanh nghiệp cả nƣớc, tăng 7,4% so với cùng thời điểm năm 2017; có 189.879 doanh nghiệp quy  mô nhỏ, chiếm  31,1%, tăng 13%; có 21.306 doanh nghiệp quy mô vừa, chiếm 3,5%; tăng 6,1%;  có 17.008 doanh nghiệp quy mô lớn, chỉ chiếm 2,8%, tăng 5,0% so với cùng thời điểm năm 2017” [81]. Đây chính là kết quảtất yếu củathực hiệnđƣờng lối Đổi Mớido Đảng ta lãnh đạo với quan điểm chủ yếu là phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa nhiều thành phần, trong đó, khuyến khích “Phát triển kinhtế tƣnhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sựtrở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng định

hƣớng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng caođời sống củanhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảmquốc phòng, an ninh, sớmđƣa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo

hƣớng hiện đại”[5]. Và đặc biệt trong đó Đảng đã nhận thức sớm vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của DNVVN đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc nênđã có quan điểm chỉ đạo đúng đắn, vì vậy mà DNNVV có đƣợc sự phát triển cả vềchất và về lƣợng, cụ thể: “Phát huy  phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” [5].

Cần phải nhấn mạnh, việc Nhànƣớc hỗ trợcác nguồn lực cho DNNVV phát triển là phù hợp với phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN một trong những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay [25]. Nền kinh tế thị trƣờng với định XHCN đòihỏi sựtham gia của Nhà nƣớc XHCN vớimột mứcđộ tích cực và năng động nhất định. Về lý luận, điều này phù hợp với các quan điểm kinh tế tân cổ điển, đả phá những quan điểm truyền thống đòi hỏi một nhà nƣớc tối thiểu trong quản lý kinh tế. Về mặt thực tiễn,  cuộc khủng hoảng tiền tệ bùng nổ ở Mỹ năm 2008 đã gây ra những hậu quả bi thảm về kinh tế – xã hội cho nhiều quốc gia tƣ bản chủ nghĩa, buộc các quốc gia này phải áp dụng nhiều biện pháp can thiệp sâu vào nền kinh tế ở những mức độ khác nhau [76]. Tất cả những điều này thể hiện sựphi lý của những học thuyết phó thác toàn bộ nền kinh tế vào “bàn tay vô hình”

[52], tin tƣởng vào một “thị trƣờng tựdo” tuyệt đối.Từrất sớm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, nền kinh tế mà nƣớc ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nƣớc. Kiên trì tƣ tƣởng đó, tại Đại hội X, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải “bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [20].

Thể chế hoá đƣờng lối của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã đƣợc ban hành nhƣNghị định số90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ vềtrợgiúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định số 56/2009/NĐ-CP này 30/6/2006 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệpnhỏvà vừa; Thông tƣliên tịch số 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 13/8/2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tƣ, Bộ Tài chính về trợ giúp đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực cho các DNNVV…để triển khai công táchỗ trợ DNNVV phát triển. Điều nàyđã góp phần làm  cho DNNVV không chỉ phát triển về sốlƣợng mà còn phát triển về cả chất lƣợngvới hiệu quả kinh doanh cao, trong đó có không ít DNNVV đã phát triển thành những doanh nghiệp lớn, nhƣ: Tập đoàn Hoà Phát là doanh nghiệp thành lập tháng 11/1982, khởi đầucủadoanh nghiệp này  chuyên buôn bán các loại máy xây dựng

nhƣng đã vƣơn lên trở thành doanh nghiệp hoạt động đa ngành (xây dựng, nội thất,

vật tải, sản xuất thép…) với 11 Công ty thành viên, ƣớc tính tổng tài sản 100.000 tỷđồng[61]; Tân Hiệp Phát là doanh nghiệp thành lập năm  1994 (tiền thân là Phân

xƣởng nƣớcgiải khát Bến Thành) là một doanh nghiệp nhỏ nhƣng đã vƣơn lên trởthành tập đoàn nƣớc giải khát hàng đầu Việt Nam và cạnh tranh ngang tầm với các

tập đoàn nƣớc giải khát quốc tế tại Việt Nam  (Cocacola, Pepsi, URC…) [91]… Đặc biệt, từ quá trình tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam trong 15 năm đầu thế kỉ XXI, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017đã đƣợc ban hành, đây là một bƣớc tiến quan trọng hoàn thiện khung chính sách pháp luậtvềhỗ trợ DNNVV ở Việt Nam sẽ tạo cơ sở cho công táchỗ trợDNNVV

đƣợc thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả và DNNVV sẽ có điềukiện thuận lợi hơn nữa để phát triển.

Đất nƣớc ta đã bƣớc vào giai đoạn phát triển kinh tế, xã hộimớivới vị thế, hoàn cảnh “Đất nƣớc ta chƣa bao giờ cóđƣợc cơ đồ,tiềm lực, vị thế và uy tín nhƣngày nay” [83], mục tiêu phát triển kinh tế tƣ nhân đóng góp cho nền kinh tế đất

nƣớc đƣợc đặt ra với những con số cụ thể: “Chú trọng nâng cao chất lƣợng, hiệu quả kinh doanh trong khu vực kinh tế tƣ nhân.Phấn đấu đếnnăm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030,

có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp… Tốc độ tăng trƣởng của kinh tế tƣ nhân cao hơn

tốc độtăng trƣởng chungcủanền kinhtế. Phấn đấutăng tỉ trọng đóng gópcủakhu vực kinh tế tƣ nhân vào GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng

55%, đến năm 2030 khoảng 60 – 65%” [5]… Để đạtđƣợc những mục tiêu này, thìchắc chắn phải có số lƣợng lớnDNNVV mới sẽ tiếp tục gia nhập thị trƣờng  cũng

nhƣ DNNVV phải hoạt động kinh doanh mộtcách năng động, hiệu quả. Điều nàyđặt ra yêu cầu phải có động lực thúc đẩy phong trào khởi nghiệp phát triển một cách mạnh mẽ để có thêm DNNVV mới gia nhập thị trƣờng và phải có đƣợc môi trƣờng kinh doanh lành mạnh, DNNVV phải đƣợc tạo điều kiện thuận lợi nhất để phát

triển… Những yêu cầu này tóm chung lại là pháp luật về hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối với DNVVN phải phù hợp với thực tiễn nhu cầu của DNNVV [87].

Tính đến thời điểm hiện nay, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã có hơn 02 năm thi hành, về cơ bản Luật cũng nhƣ các văn  bản quy phạm pháp luật có liên quan đã chứng tỏ đƣợc vai trò của mình trong việc tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các biện pháp hỗtrợcủaNhà nƣớcđể phát triển DNNVV. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam đã đƣợc xây dựng tƣơng đối hoàn thiện, tạo ra hành lang pháp lý tƣơng đối hoànchỉnh về hỗ trợcho DNNVV, xác lậpnguyên tắc và quyđịnh cụ thể các hoạt động hỗ trợ cho DNNVV, cũng nhƣ ghi nhận trách nhiệm  của các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phƣơng cấptỉnh, cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan trong công tác hỗ trợ DNNVV. Tuy nhiên, bên cạnh những ƣu điểm, những thành tựu đãđạt đƣợc, pháp luật vềhỗ trợDNNVV tạiViệt Nam  vẫn còn tồntại không ít hạn chế, khiếm  khuyết.  Các biện pháphỗ trợ DNNVV dù đƣợc xây dựng và quy định

tƣơng đối toàn diện, nhƣng vẫn còn nặng về hình thức, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của các DNNVV. Mặt khác, trách nhiệm thực hiện hoạt động hỗ trợ DNNVV đƣợc

quy địnhcó sựtham gia của rất nhiều cơ quan, ban, bộ, ngành v.v…, dẫn đến dàn trải, thiếu tính thống nhất, tính hệ thống, dẫn đến khó đạt đƣợc hiệu quả hỗtrợmong muốn [3].

Tóm lại, xuất phát từ những lý do trên,từviệc nhận thức đƣợc vị trí, vai trò đặc biệt của DNNVVđối vớisựphát triển kinh tế, xãhộicủa đất nƣớc để đạtmục tiêu “dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”mà Đảngđã đặtra; tầm quan trọng đặc biệt của sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV; những bất cập, hạn chếcủa pháp luật hiện hành cần thiết có những sửa đổi, bổ sung để cósựphùhợp với thực tiễn, yêucầuhỗ trợ DNNVV.Để sựhỗ trợ này thật sựhiệu quả, trở thành động lực thúcđẩy sựphát triểncủaDNNVV ở nƣớc ta vềcảsố lƣợngvà chất

lƣợng…Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam  hiện nay” làm  luận án tiến sĩ, với mong muốn nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp phần làm rõ những vấn đề lýluận về hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối với các DNNVV ở Việt Nam, cũng nhƣ đánh giá đƣợc thực trạng pháp luật vềhỗ trợcủa Nhà nƣớc đốivớicác DNNVV trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, luận án sẽ làm sáng tỏ những định hƣớngvà đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV ở Việt Nam trong tƣơng lai.

  1. ụ đí h   h ê   ứu

Luận án “Pháp luật vềhỗ trợcủa Nhà nước đối với doanh nghiệp  nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay” đƣợc thực hiện với các mục đích nghiên cứu sau đây:

– Góp phần bổsung, hoàn thiện cơ sởlý luận vềDNNVV và sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV.

– Phân tích, đánh giá những kết quảđã đạt đƣợc và những vƣớng mắc, bất cập tồn tại của các quy định pháp luật hiện hành về và sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV.

– Đề xuất đƣợc những định hƣớng, giải pháp  nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV và các giải pháp góp phần nâng cao hiệuquảthi hành các quyđịnh pháp luật vềvà sựhỗ trợ của Nhà

nƣớc đối với DNNVV thực tiễn. 3.  h ệm vụ   h ê   ứu

Để đạt đƣợc cácmụcđích nghiên cứu đã nêu ở trên thì tác giả đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu của luận án nhƣ sau:

– Tập trung phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa, về hỗtrợcủa Nhànƣớc đốivới doanh nghiệp nhỏ và vừa nhƣ: khái niệm, vai

trò DNNVV…; Khái niệm, sự cần thiếtcủasựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với doanh

nghiệp nhỏ và vừa…

– Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc

đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhƣ: khái niệm; nội dung chủ yếu; nguyên tắc… của pháp luật về sựsựhỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

– Phân tích, làm rõ quá trình ra đời và phát triển của pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV ở Việt Nam.

– Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành về hỗ trợcủaNhà nƣớc đối với DNNVV.

– Phân tích làm rõ định hƣớng hoàn thiện quy định pháp luật vàđềxuất các giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật hiện hành về hỗ trợcủaNhà nƣớc đối với DNNVV và các giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hỗ trợcủaNhà nƣớc đối với DNNVV.

  1. Phạm v và đố tượ     h ê   ứu

4.1. Phạm vi nghiên cứu

Với đềtài “Pháp luật về hỗ trợcủa Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ vàvừa ở Việt Nam hiện nay” thì luận án có phạm vi nghiên cứu nhƣ sau:

– Về phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng vềcác quyđịnh pháp luật về hỗtrợcủaNhà nƣớcđối với DNNVVởViệt Nam.

– Về phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đếnsựhỗ trợ củaNhànƣớc đối với DNNVVở Việt Namtừnăm  2001 đến thờiđiểm hiện tại.

– Về phạm vi văn bản quy phạm pháp luật: Luận án nghiên cứu các quy định pháp luật liên quanđến sựhỗtrợcủaNhà nƣớc đốivớiDNNVV ở Việt Nam đƣợc quyđịnh trong Hiến pháp, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Luật Quản lýngoại thƣơng; Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Đầu tƣ… và các văn bản quy định

chi tiết Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Luật Đầu tƣ…

4.2. Đối tượng nghiên cứu

Với đềtài “Pháp luật về hỗ trợcủa Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ vàvừa ở Việt Nam hiện nay” thì luận án có đối tƣợng nghiên cứu nhƣ sau:

– Đƣờng lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nƣớc về phát triển kinh tếtƣ nhân, vềhỗtrợcủaNhà nƣớc đốivới sựphát triển DNNVV  trong giaiđoạn hiện nay.

– Các quy định pháp luật đã hết hiệu lực thi hành về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV.

– Các quy định pháp luật hiện hành về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV, bao gồm: quy định pháp luật về hỗ trợ tín dụng; quy định pháp luật về hỗ trợ thông tin, tƣ vấn và pháp lý; quy định pháp luật về hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; quy

định pháp luật về hỗ trợ mặt bằng sản xuất…

– Thực tiễn thi hành các quyđịnh pháp luật hiện hànhvềhỗtrợcủaNhà

nƣớc đối vớiDNNVV.

  1. Phươ ph p h ê   ứu

Luận án “Pháp luật vềhỗ trợcủa Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam  hiện nay”  đƣợc thực hiện dựa trên việc sử dụng chủ  yếu phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx-Lenin. Đây là

phƣơng pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án,đểđƣa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm tính khách quan, chân thực.

Trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án sửdụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể trong quá trình nghiên cứu: đó là

phƣơng pháp tiếpcậnhệ thống đa ngành, liên ngành (kinh tế,luật học, lịch sử, chính trị); phƣơng pháp phân tích, tổng hợp; phƣơng pháp luật học so sánh; phƣơng pháp xã hội học pháp luật. Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, luận án kết hợp chặt chẽ giữa các phƣơng pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộnội dung luận án.

Tuỳthuộc vào đối tƣợng nghiên cứu của từng chƣơng, tác giảlại sửdụng linh hoạt các phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau đểlàm  rõ các vấn đề, nội dung của chƣơng đó, cụ thể:

Phần tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài: Luận án chủ yếu sửdụng phƣơng pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong nƣớc cũng nhƣ trên thế giới về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV. Trên cơsở đó xác định những nội dung cần tiếp tục đƣợc làm rõ trong luận án.

– Chƣơng 1: Luận án sửdụng chủ yếu phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, phƣơng pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (kinh tế, luật học, chính trị); phƣơng pháp luật học so sánh; phƣơng pháp xã hội học pháp luật đƣa ra những vấn đề lý luận cơ bản về hỗ trợ và vai trò hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV, nhữngyếu tốtác động đến sự hỗ trợ của Nhà nƣớc.

– Chƣơng 2: Luận ánsửdụng chủ yếuphƣơng pháp phân tích tổng hợp,

phƣơng pháp thống kê và phƣơng pháp luật học so sánh để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hànhvềhỗ trợ củaNhànƣớc đối vớiDNNVV; xác định tiêu chí và các nguyên tắc hỗ trợ DNNVV, đƣa ra những nhận xét, đánh giá cơ bản về thực tiễn áp dụng pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV ở Việt Nam.

– Chƣơng 3: Luận án sửdụng phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, phƣơng pháp hệ thống, phƣơng phápđối chiếu xác định địnhhƣớngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

  1. hữ đó    óp mớ   ủa  u n án

Luận án có nhiều đóng góp mới cả trên phƣơng diện lý luận và thực tiễn,cụthể:

– Luận án đã phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về DNNVV và sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV, xác định các nguyên tắc, nội dung hỗ trợ DNNVV đảm bảo sự bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế;

– Luận án làm rõ những vấnđề lý luận và thực trạng pháp luật về hỗ trợDNNVV tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những kết quả và hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật về hỗ trợ DNNVV; đồng thời xác định nguyên nhân của những bất cập, hạn chếđó;

– Luận án đềxuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ DNNVV trong công tác xây  dựng pháp luật và thực thi pháp luật trong giai đoạn hiện nay;

Vớinhững đóng góp trên, luận án có thể đƣợc ứng dụng trong thực tiễn xây dựng chính sách, sửa đổi bổ sung các quyđịnh của pháp luật hiện hành về hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV. Đồng thời, luận án cũng đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị, phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và họctậppháp luậtvềhỗ trợ DNNVV trong các cơ sở đào tạo luật họcở bậc đại học và sau đại học.

  1. Kết ấu ủa  u n án

Ngoài phần Mở đầu, Phần tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đềtài, Danhmụctài liệu tham khảo,Kếtluận, luận ánđƣợckết cấu thành gồm 03 chƣơng:

Chƣơng 1. Những vấnđề lý luận về hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối vớidoanh nghiệp nhỏ và vừa và pháp luật về hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối với doanh nghiệpnhỏvà vừa;

Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay;

Chƣơng 3. Định hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảhoạt động hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.

PHẦ  Ổ G QU    Ì H HÌ H  GHIÊ   ỨU VÀ    SỞ  Ý  HUYẾ 

 Ủ   Ề  ÀI

  1. ổ qua  tì h hì h   h ê   ứu

1.1. Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án

1.1.1.     h  g   g   h  ghi     i         ý                     h           h 

  i   i     h  ghi  h       

1.2. Đánh giá, kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án và những vấn đề trọng tâm tiếp theo mà Luận án thực hiện

1.2.1. M t s   nh  n xét

Từ quá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về hỗtrợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV có liên quan đến đềtài, tác giảnhận thấy hoạt động nghiên cứu của các học giả đã đạt đƣợc các kết quả cơ bản sau:

1.2.1.1. V   h   g  h    ghi    

Trong các công trình nghiên cứu đã công bố, có thể thấy đƣợc hầu hết các tác giả đều sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ sau:

Th  h   phƣơng pháp luận khoa học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lêninđƣợc sửdụng xuyên suốt để giải quyết các vấn đề về lý luận và thực tiễn của sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối vớiDNNVV ở Việt Nam và cũng nhƣ ở trên thế giới.

Th  h i các phƣơng pháp thu thập, phân tíchsố liệu, xửlý thông tin, chắt lọc thông tin, trong đó, từ thông tin xã hội đến thông tin các bài báo, bài viết, các quan

điểm của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật…Phƣơng pháp này làm cho các

lập luận, phân tích trong các nghiên cứu đã công bố xoay quanh DNNVV mang tính thực tiễn, cụ thể, sinh động, thuyết phục hơn.

Th   các phƣơng pháp tổng hợp, phân tích, bình luận, thống kê cũng đƣợc áp dụng xuyên  suốt trong các công trình nghiên cứuđể đƣa ra những đánh giá về quan điểm, cách  tiếp cận, nhìn nhận vấn đề cần nghiên  cứu, làm rõ.  Đây là những

phƣơng pháp chính đƣợc nhiều tác giả sửdụng nhất khi nghiên cứu các vấn đề về doanh nghiệp nói chung  và DNNVV nói riêng, sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV. Với các phƣơng pháp nghiên cứu này,  các công trình nghiên cứu đã đạt

đƣợc thành công khi giải quyết thấu đáo, thuyết phục những nội dung, mục tiêu màcác tác giả hƣớng tới.

Th  đối với các nghiên cứu do các tác giả nƣớc ngoài thực hiện, phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sửdụng bao gồmphƣơng pháp định lƣợng, phƣơng pháp khảo sát thực tiễn, phƣơng pháp phỏng vấn ngƣời dân và chuyên gia, phƣơng pháp SWOT (phân tích điểmmạnh, điểmyếu, cơ hội, thách thức  của đối tƣợng nghiên cứu)… Bởi vậy, các số liệu thu thập đƣợc ở dạng sơ cấpvềtình hình hoạt động của doanh nghiệp, mức độ hài lòng của DNNVV đối với những chính sách, những mong muốn cải thiện về chính sách, pháp luật của DNNVV có độ tin cậy cao và các nhận định, bình luận sát với thực tiễn.

1.2 1 2  V    i    g  ghi     

Mặc dù tiếp cận theo các cách thức khác nhau với những nội dung khác nhau vềDNNVV và sựhỗ trợ củaNhà nƣớc đối với DNNVV nhƣngvềcơ bảnthì các công trình nghiên cứu đã công bốđều thểhiện đƣợcquan điểm của các tác giả vềvấn đề cầnnghiên cứu, bình luận. Đốivớinội dung của những công trình nghiên cứu đã đƣợctập hợp, hệ thống hoá ở trên, có thể thấy một số vấn đề nổi bật sau đây:

Th nh t, đã triển khai  rất nhiều cách tiếp cận ởcác góc độkhác nhau (triết học, kinh tế, góc độ pháp lý, góc độ xã hội học, v.v…) về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV. Mặc dù đƣợc nghiên cứu ở nhiều giác độ tiếp cận, nhiều mức độ khác nhau (đề xuất khung lý thuyết khái quát, hay các quan điểm pháp lý giải quyết từng vấn đề cụ thể), các tác giả đều khẳng định: hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV làmột trong những nội dung cơ bản của pháp luật về doanh nghiệp, là một yêu cầu tất yếu của đời sốngxã hội. Sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với cộng đồng doanh nghiệp nói chung, với DNNVV nói riêng đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Th hai, nhiều nghiên cứu quan tâm đến việc xác định các tiêu chí của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là câu hỏi nghiên cứu rất quan trọng, vì để có thể cung cấp sự hỗ trợ tốt nhất cho DNNVV, Nhà nƣớc cần có hình dung đầy đủ, xác định đƣợc các DNNVV và đặc điểm của DNNVV. Việc xác định doanh nghiệp nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng nhƣ việc phân loại các DNNVV là cơ sở quan trọng để xây dựng khung pháp lýđồng bộ, thống nhất. Điều chỉnh của pháp luật phải vừa đảm bảo cho DNNVV có cơ hội phát huy các thế mạnh của mình trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng với các loại doanh nghiệp lớn, đồng thời đảm bảo mối quan hệ giữa các DNNVV với nhau trong nền kinh tế thị trƣờng. Mối quan hệ đó tạo ra sự kết dính nhằm hƣớng tới sự phát triển nền kinh tế quốc dân toàn diện, bền vững và có trọng tâm trọng điểm.

Th ba, các tác giảđều cho rằng: hỗtrợcủa Nhà nƣớcđối với DNNVV mang tính chính trị pháp lý và có một lịch sử phát triển lâu dài. Sự hỗ trợ của Nhà

nƣớc đối với DNNVV thể hiện trách nhiệm vàvai trò “bà đỡ thể chế” của Nhà nƣớcđối với doanh nghiệp thông qua việc xây dựng, ban hành và bảo đảm thực thi hiệu quảcủa sựhỗtrợấyđối với doanh nghiệp trong thực tiễn. Tuy nhiên, cũng nhấn mạnh rằng: doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng không chỉ trông chờ hayỷ lại vàosự hỗ trợ từ phía Nhà nƣớc hay Chính phủ mà cần phải hoạch định chiến

lƣợc, kế hoạch phát triển kinh doanh một cách minh bạch, hiệu quả; tận dụng tối đa và phát huy sự hỗ trợ của Nhà nƣớc vì mục tiêu phát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia.

Th , từ các góc độ tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, các tác giả đều cho rằng: hỗ trợ  của Nhà nƣớc đối với DNNVV  là cơ sở, nền tảng và là một nội dung quan trọng trong việc  xây  dựng thành công nền kinh tếthịtrƣờng định hƣớng XHCN và Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Nhà nƣớc pháp quyền XHCNđòi hỏikhi áp dụng sựhỗtrợcủaNhà nƣớc đối vớiDNNVV  phải đảmbảocông

minh, công bằng, dân chủ và có hiệu quả. Sự hỗ trợ đó không tạo ra những rào cản pháp lý hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, những cũng không đƣợc

tạo ra sự “phân biệt đối xử” giữa các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các DNNVV với các doanh nghiệp có quy mô lớn hay tiềm năng kinh tế hùng hậu. Pháp luật hỗtrợ DNNVV của Nhà nƣớc phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp với Nhà

nƣớc và giữa các doanh nghiệp với nhau, góp phầnđảm bảoquyền tựdo kinh doanh hƣớngtới một xã hội ổn định và phát triển.Đâylà những mục tiêu, định

hƣớng quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV.

Th  ă  các công trình nghiên cứu đã phác họa đƣợc bức tranh tổng thể vềquá trình gia nhập thị trƣờng, thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng trong nền kinh tế của nƣớc ta hiện nay. Thông qua bức tranh tổng thểnày, có thểthấy rõ vịtrí, vai trò của DNNVV trong nền kinh tếvà thông qua sự so sánh với doanh nghiệp lớn có thể thấy rõ những điểm yếu, khó khăn

26

mà DNNVV gặp phải từkhi gia nhập thịtrƣờng đến lúc tiến hành sản xuất kinh doanh rất cần phải có sựhỗtrợcủa Nhà nƣớc đểcó nền tảng ban đầu vững chắc mới có thểtồn tại, phát triển trong sựcạnh tranh khốc liệt của nền kinh tếthị

trƣờng.

Th sáu, các công trình nghiên cứu đã làm rõ thực tiễn quá trình thực hiện, kết quảđạt đƣợc và những tồn tại, hạn chếcủa sựhỗtrợcủa Nhànƣớc đối với DNNVV trong thời gian qua. Có thểkhẳng định, sựhỗtrợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV đã tạo động lực mạnh mẽ cho DNNVV phát triển với việc tháo gỡ kịp thời những khó khăn, rào cản phát sinh trong thực tiễn.Đặc biệt, sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV ở một số lĩnh vực, một số phƣơng diện quan trọng và cần thiết đối

với DNNVV nhƣ: hỗ trợ DNNVV tiếp cận vốn, hỗ trợ DNNVV về nhân lực… bƣớc đầu đã đƣợc cáccông trình nghiên cứu phân tích làm sáng tỏ.

Th b y, đã có những giải pháp về mặt kinh tế, kỹ thuật, quản lý có tính khoa học và có tính khả thi cao đƣợc đề xuất nhằm góp phần phát triển DNNVVở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Các giải pháp nhằm nâng  cao hiệu quảsựhỗtrợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV bƣớc đầu đã đƣợc quan tâm nghiên cứu, nhấn mạnh tầm quan trọng và đặt trong tổng thể giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của DNNVV về cả số lƣợng và chất lƣợng.

Th tám, các công trình nghiên cứu đã công bố có sự chú trọng đến sự phát triển của DNNVV trong phạm  vi địa bàn các địa phƣơng trên cảnƣớc. Cầnphải nhìn nhận rằng, ở mỗi địa phƣơngnƣớcta lại có nhữnglợithế và hạn chế về điều kiện kinhtế, xã hội ảnh hƣởng tới sựphát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, đểđảm bảo các quy định pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV phát huy hiệu quả, thì những quy định pháp luật đó phải xuất phát từ tình hình thực tiễn kinh tế, xãhội, cũng nhƣ thế mạnh của từng địa phƣơng, từng vùng, miền. Do đó, trong hệ thống những quyđịnhpháp luật vềhỗ trợ của Nhà nƣớc đốivớiDNNVV, ngoài những quy định pháp luật chung, còn cần có những quy định pháp luật cụ thể, phù hợp với phong tục, tập quán địa phƣơng nhằm khai thác triệt để lợi thế của cộngđồng doanh nghiệp tại địa phƣơng. Có thể nói các công trình nghiên cứu này là một nguồn tài liệu quý báu, để tác giả luận án tiến sĩ có cách nhìn tổng thể hơn trong tiếp cận về sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV. Vì vậy, trong phạm vi luận án tiến

27

sĩ, khi phân tích, luận giải hay đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV, tác giả sẽ cân nhắc tới những yếu tố nhƣ điều kiện của địa phƣơng, vùng miền nhằm đảm bảo hƣớng tới sự đồng bộ, hiệu quả.

1.2.1.3 Nh     ng n i dung tr ng tâm ti p theo mà Lu    n án th  c hi n

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những quan điểm, tƣ tƣởng vàmột số vấn đề lýthuyết từ các công trình khoa học trong và ngoài nƣớc, trong phạm vi luận án tiến sĩ, tác giả sẽ tiếp tục tập trung giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV, mà các tác giả trƣớc đây bỏ ngỏ, hoặc đã đƣợc tiếp cận nhƣng ở mức độ chƣa sâu trong các công trình nghiên cứu, bao gồm các vấn đềsau đây:

Th nh t, luận án tiếp tục tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận một cáchđầy đủ, có tính chuyên sâu, có tính hệ thống về DNNVV với các nội dung nhƣ: khái niệm DNNVV, tiêu chí phân loại DNNVV, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế

nƣớc ta hiện nay….; nghiên cứu một cách chuyên sâu, có tính hệ thống về sự hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối DNNVV với các nội dung nhƣ: khái niệm về sự hỗ trợ của Nhà

nƣớc đối DNNVV, sựcần thiết hỗtrợcủa Nhà nƣớc đối DNNVV ởnƣớc ta hiện

nay…; Nghiên cứu một cách chuyên sâu, có  hệ thống các quy phạm pháp luật của Việt Nam về sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV với các nội dung nhƣ: khái niệm pháp luật về sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV, sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với sựhỗtrợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV, nội dung và

nguyên tắc của pháp luật về sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV…

Th       hai, việc nghiên cứu vềsựhỗtrợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV cần

đƣợc đặt trong mối tƣơng quan với các quyđịnh pháp luật vềchính  sách khuyến khích đầu tƣ, kinh doanh đối với các doanh nghiệp lớn. Thông qua đó, luận án thực hiện nghiên cứu tiếp  cận và khẳng định vai trò của hỗtrợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV không tạo ra rào cản pháp lý haysựphân biệt đối xửgiữa các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng. Các quy định pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tƣ, kinh doanh cần đồng bộ, thống nhất, minh bạch và hiệu quả, không tạo ra nguy cơ dẫn đến sự chi phối độc quyền hay mang tính lợi ích của một nhóm thiểu sốcác doanh nghiệp,  các cá nhân. Đâychính là yêu cầucủa thực tếkhách quan

28

trong định hƣớng xây dựng và phát triển nền kinhtế thị trƣờng định hƣớngXHCN ở Việt Nam hiện nay.

Th ba, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về sự hỗtrợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV. Sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV không chỉ cần đƣợc ghi nhận về mặt hình thức trong hệ thống pháp luật Việt Nam, mà còn cần phảiđƣợc đảmbảo thực hiện hiệuquảtrong đời sống kinhtế,xã hội. Do đó, một trong những nội dung tác giả sẽ tập trung tiếp tục làm sáng tỏ đó chính là các yếutốtác động và chi phối tớiquá trình thực thi sựhỗtrợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV; phân tích, ghi nhận những kết quả đãđạt đƣợc cũng nhƣphát hiện những hạn chếcủa việc  thực  hiện pháp  luậtvềhỗtrợcủaNhà nƣớc đối với DNNVV. Đồng thời, luận án cũng sẽnghiên cứu, nhận  diện  những nguyên nhân của sựyếu kém hay bất cập, đã làm cản trở, suy giảm hiệu quả vai trò hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV. Vì vậy, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật sự hỗ trợ của Nhànƣớc đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế, truyền thống pháp lý của Việt Nam là cơ sở, nền tảng đƣa ra quan điểm và giải pháp hoàn thiện thể chế, thiết chế về sự hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV trong giai đoạn hiện nay.

Th , việc nghiên cứu pháp luật về sự hỗtrợcủa Nhànƣớcđối với DNNVV sẽ đƣợc thực hiện một cách đầy đủ, có hệ thống với các nội dung pháp luật hiện hành quy định về sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV mà không chỉ dừngởviệc  nghiên cứu sựhỗtrợcủa Nhà nƣớcđối với DNNVV  trong một lĩnh vực,

phƣơng diện hoặc tại một địa phƣơng cụ thể.

Tóm lại, tính đến thời điểm hiện tại (năm 2020), chƣa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, đầyđủ, hệthống vềpháp luật vềsựhỗtrợcủa Nhà

nƣớc đối với DNNVVởViệt Nam. Vì vậy,rấtcần có một công trình nghiên cứu độc lập, đầy đủ, có hệ thốngvề vấn đề trên.

  1. ơ sở lý thuyết của đề tài 2.1. Lý thuyết nghiên cứu

Luận án “Pháp luật vềhỗ trợ của Nhà nướcđối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay” đƣợc thực hiện dựa trên các lý thuyết cơ bản sau đây:

– Lý thuyết về Nhà nƣớc và pháp luậtcủa chủnghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh nhằm giải quyết một cách chuyên sâu, khoa học, có tính hệ thống về

29

những vấn đề lý luận về sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV, thực trạng quyđịnh pháp luật về sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV, các giải pháp hoàn thiện quyđịnhpháp luật hiện hành về sựhỗtrợcủa Nhà nƣớcđối với DNNVV và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật về sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV.

– Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh là lý thuyết nền tảng để phát triển nền kinh tế thị trƣờng nói chung vànềnkinhtế thịtrƣờng định hƣớng XHCN ở nƣớc ta nói riêng. Với quyền tự do kinh doanh thì cánhân, tổ chức đƣợc tựdo gia nhập thị

trƣờng, tự do lựa chọn hình thức tổ chức doanh nghiệp, tự do lựa chọn ngành nghềkinh doanh (trừ những ngành nghề kinh doanh có điều kiện hoặc những ngành nghề

mà pháp luật cấm), đƣợc tựdo giao kết hợp đồng… Trong đó, sựthành lập, gia nhập thị trƣờng tiến hành sảnxuất kinh doanh của DNNVV là một biểu hiện của quyền tựdo kinh doanh. Đồng thời, pháp luật về sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV cũng là một trong những biểu hiện và là công cụcủa Nhà nƣớc để quyền

tựdo kinh doanh của cá nhân, tổ chức đã ghi nhận trong Hiến pháp đƣợc hiện thực hoá.

– Lý thuyết kinh tế học là lý thuyết về  cách thức mà cá nhân và xã hội lựa chọn việcsửdụng nguồn lực khan hiếm của mình nhƣ thế nào. Đối vớidoanh nghiệp làsựkhan hiếm về vốn, thiếu lao động trìnhđộ cao, máy  móc, trang thiết

bị…Đối DNNVV thì mức độ khan hiếm càng lớn hơn. Lý thuyết kinh tế họcđƣợc sửdụng xuyên suốt trong luận án nhằm đánh giá các quy định pháp luật liên quanđến sựhỗtrợcủa Nhà nƣớc đối với DNNVV để giải quyết những nhu cầu cấp thiết (khan hiếm) nhƣ: hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ mặt bằng

sản xuất; hỗ trợ mở rộng thị trƣờng… đã thực sựgiúp đỡ DNNVVvƣợt qua khókhăn, có đƣợc điều kiện để tồn tại, phát triển sản xuất kinh doanh hay chƣa?  Làm thế nào để những sựhỗ trợ có hạn của Nhà nƣớc đối với DNNVVđƣợc sửdụng

hiệu quả…. Đồngthời, lý thuyết kinh tế học là cơ sở để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV khi triển khai hỗ trợdoanh nghiệp đạt đƣợc mục tiêu nhƣ mong muốn mà có thể đúng, đủ, tiết kiệm.

– Lý thuyết “pháttriển bền vững”: “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sựkết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt củasựphát triển,

30

gồm: phát triển kinhtế(nền tảng là tăng trƣởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trƣờng (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sửdụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) [65]. Trong luận án, lý thuyết “phát triển bền vững” đƣợc sửdụng xuyên suốt trong luận án để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối vớiDNNVV và trên cơ sở lý thuyết “phát triển bền vững” để đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật vềsựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Luận án đƣợc triển khai với những câu hỏi nghiên cứu sau đây:

Th   h   DNNVV là gì?Vị trí, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam  hiện nay  thế nào?  Tại sao Nhà nƣớc cần phải có sựhỗ trợ đối với DNNVV trong giai đoạn hiện nay? Pháp luật về sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV là gì? Tại sao phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV?  Nội dung, nguyên tắc của pháp luật về sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV là nhƣ thế nào?

Th  h i nộidung của pháp luật hiện hànhvềsựhỗ trợ của Nhànƣớc đốivới DNNVV gồm những quy định nào? Thực tiễn thi hành các quy định này ra sao,đã đạt đƣợc những kết quả thế nào, những quy định nào chƣa phát huy đƣợc hiệu quảvà nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng nào?

Th      hoàn thiện các quyđịnhpháp luật hiện hành vềsựhỗ trợ của Nhà

nƣớc đối với DNNVV  cần phải thực hiện trên những định hƣớng nào và giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành nhƣ thế nào?  Để nâng cao hiệu quả thi hành quyđịnhpháp luật về sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV cần phải thực hiện những giải pháp cơ bản nào?

2.3. Các giả thuyết nghiên cứu

Từnhững câu hỏi nghiên cứu đã nêu ở trên, luận án đặt ra những giả thuyết nghiên cứu sau đây:

Th  h   hiện nay các vấn đề lý luận về pháp luật hỗ trợ của Nhànƣớc đối với DNNVVđãđƣợc quan tâm  nghiên cứu với nhiều nội dung và khía cạnh. Tuy

31

nhiên, vấn đề này vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu một cách đầy đủ, tổng thể; chƣa đánh giá đƣợc những yếu tốchi phối, ảnh hƣởng đến pháp luật vềhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV; chƣa đánh giá, phân tích đƣợc sự tác động của việc hội nhập quốc

tế tác động đến pháp luật về hỗ trợ củaNhànƣớc đốivới DNNVV. Do đó, rất cần phải có một nghiên cứu mang tính chuyên sâu, đầy đủ, có hệ thốngđểxây dựng nền tảng lý luận trong việc thiết lập các quyđịnh về hỗ trợ của Nhànƣớc đối với DNNVV; phân tích một cách rõ ràng các yếu tố chi phối, ảnh hƣởng đến pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV  cũng nhƣ đánh giá sựtác động củaviệc hội nhập quốc tế đến pháp luật trong lĩnh vực này. Đây chính là cơ sở để việc xây dựng và hoàn thiện vềpháp luật hỗ trợcủa Nhà nƣớc đốivới DNNVVđƣợc thực hiện một cách khoa học, hiệu quả cao khi triển khai thi hành.

Th h i các quy định của pháp luật về hỗ trợcủa Nhà nƣớc đối vớiDNNVVđã có, tồn tại ở mộtsố văn bản quy phạm pháp luật vàđãđềcập đếnnhững vấn đềvề hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVVmộtcách khá đầy đủ. Tuy nhiên, cũng cónhiều quyđịnh chƣa phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội trong nƣớc cũng nhƣthông lệ quốc tế; hiệu quả của các vănbảnquy phạm pháp luật hiện hành về hỗ trợ của Nhànƣớc đối với DNNVV trong thực tiễn chƣa cao và còn thiếu những thiết chế cần thiết cho việc thực hiện hiệu quả những hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV. Do vậy, sẽ tìm ra đƣợc những hạn chế, bất cập trong những quy định của pháp luật về hỗ trợ củaNhà nƣớc đối vớiDNNVV dựa trên những phân tích về tiềnđề kinh tế, xã hội và thông lệ quốc tế.

Th ba, hiện nay các đãcó sựquan tâm đến việc đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về sựhỗtrợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV.  Tuy nhiên, cácđịnh hƣớngvà giải pháp mang tính đầy đủ, hợp lý, cụ thể và có tính đồng bộ, khả thi để sửa đổi, bổ sung, khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV là chƣa có. Dođó,cần phải có sựnghiêncứu đểđƣa ra đƣợc các định hƣớng và giải pháp mang tính đầy đủ, hợp lý, cụ thể và có tính đồng bộ, khả thi để hoàn thiện pháp luật về sự hỗ trợ của Nhà

nƣớc đối vớiDNNVV.

32

 

Kết  u   phầ  tổ   qua  tì h hì h   h ê ứu và  ơ sở  ý thuyết  ủa đề tà

 

 

Trong phạm vi trình bàyở trên, từviệc tiếp cận, nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoài nƣớc về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với các DNNVV, tác giảrút ra một số kết luận chủ yếu sau:

Th   h  hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật trên phƣơng diện vĩ mô và vi mô. Việc ghi nhận và bảođảm thực hiện hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đời sống xã hội,  yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật minh bạch, đồng bộ và hiệu quả;đồngthời xuất phát từyêu cầu của  việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN và xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN.

Th  h i, sựhỗ trợcủaNhà nƣớc có vai trò lớn trongđời sống cộng đồng doanh nghiệp. Vì vậy, hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV đƣợc các tác giả trong và ngoài nƣớc tiếp cậnở các góc độ khác nhau từgóc độkinh tế, góc độ pháp lý, góc độ chính trị vềhỗtrợ của Nhà nƣớc đốivới DNNVV. Các tác giả đều khẳng định: việc tiếp cận, nghiên cứu về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV là một yêu cầu cấp thiết và khách quan trong việc hƣớng tới một xã hội công bằng, không tạo ra các rào cản hay sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể, giữa các doanh nghiệp.

Th   , các  nghiên cứu đã công bốđãkhông chỉ dừng lạiở việcnhận diện doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn xác định rõ vai trò của sựhỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV, cũng nhƣ các yếu tố tác động đến việc đảm bảo thực thi vấn đề này trong các giai đoạn lịch sử. Đồng thời có khá nhiều công trình khoa học phân tích những nội dung chủ yếu của pháp luật vềhỗ trợ của Nhà nƣớcđốivới DNNVV, chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện nay. Một trong những nội dung đáng chú ý đƣợccác họcgiả quan tâm nghiên cứu đó là bƣớcđầu đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp  luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV trong một số lĩnh vực, một số phƣơng diện hoặc ở một số địa phƣơng.

Th  ,thực tếcho thấy: mặcdù đã đƣợchệ thống hóa và quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhƣng các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam chƣa thực sự đúng trọng tâm, trọng điểm. Điều này khiến cho  nguồn lực của

33

DNNVV bị phân tán, dàn trải và chƣa phát huyđƣợc hiệu quả hoạt động kinh doanh. Xuất pháttừnhững lý do đó, kế thừa những kết quả từ các công trình khoa học đã công bố và tiếp tục nghiên cứu chuyênsâu, đầy đủ,có hệthống phápluật vềhỗ trợ của Nhà nƣớc đối vớiDNNVV ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.Hƣớngtới mộthệ thống pháp luật minh bạch và hiệu quảđể thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của DNNVV.

34

 

 HƯ  G 1. NHỮNG VẤ Ề LÝ LUẬN VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA NHÀ

 ƯỚ   ỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ PHÁP LUẬT VỀ SỰ

HỖ TRỢ CỦ      HÀ  ƯỚ  ỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

 

 

1.1. Lý lu nvềdoanh nghiệp nhỏvà vừa,vềsựhỗtrợcủa Nhà  ướ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

1 1 1 1    h  gh      h  ghi p nh   và v a

Trƣớc khi đi vào phân tích các chính sáchhỗtrợcủa Nhà nƣớcđối với DNNVV, thì cần phải làm  rõ nội hàm  của khái niệm  DNNVV, chỉra những đặc

trƣng của loại hình doanh nghiệp nàyđểphân biệt với các doanh nghiệp lớn. Một cách dễ hiểu, DNNVV đƣợc xác định thông qua quy mô. Nhƣng quy mô nhỏ và vừa của doanh nghiệp đƣợc xây dựng dựa trên những tiêu chí nào? Đó là vấn đề mà luận án tiến sĩ sẽ làm rõ.

Hiện nay, doanh nghiệp nhỏvà vừa (DNVVN) là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế. Loại hình doanh nghiệp này đóng vai tròquan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, giúp huy động các

nguồn lực xã hộichođầu tƣ phát triển,  xóa đói giảm nghèo, v.v…  Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ Việt Nam (VINASME), có đến 96% doanh nghiệp đăng ký ở Việt Nam là DNNVV. Khối DNNVV tạo ra đến 40% tổng sản phẩm quốc nội,

tạo ra hơn 1 triệu việc  làm mới mỗi năm, mang lại lợi ích đặc biệt  cho nguồn laođộng chƣa qua đào tạo(vốn chiếm phần lớn trong cơ cấu lao động ởViệt Nam). Trong thời gian tới, khối DNNVV vẫn là động cơ chạy chính cho cỗ máy cái mang tên“nềnkinhtếViệt Nam”. Đặc biệt  khi Việt Namđã tham gia đàm phán, kí kết nhiều hiệp định thƣơng mại tự do (FTA), nhất là các hiệp định thƣơng mại tự do thếhệ mới với các đối tác quốc tế, thì vai trò của khối DNNVV lại càng trở nên quan trọng [56]. 

Nhiều chuyên gia chính sách kinh tế và pháp luật của Việt Nam cho rằng, khái niệm  doanh nghiệp nhỏvà vừa (DNNVV) đƣợc du nhập từbên ngoài vào Việt Nam. Vấn đềtiêu chí xác định doanh nghiệp vừa, nhỏvà siêu nhỏđã trởthành trung tâm  của nhiều cuộc tranh luận vềsựphát triển của khu vực này trong nhiều

35

năm qua. Thông thƣờng, DNNVV đƣợc xác định thông qua các tiêu chí về số nhân công, vốnđăng kí, doanh thu, v.v… Các tiêu chí này thayđổitheo từng quốc gia,

từng chƣơng  trình phát triển  khác nhau. Việc xác định khái niệm  DNNVV có ýnghĩa trong việc tìm racác đối tƣợngthuộc diện DNNVV đƣợc hƣởng các chế độ, chính sách pháp luật về ƣu đãi, hỗ trợ phát triển của Nhà nƣớc.

Doanh  nghiệp nhỏ và  vừa  (DNNVV)  hay SMEs  (Small  and Medium Enterprises) nói chung là loại doanh nghiệp có số lao động hay doanhsố ở một giới hạn nào đó. Khái niệm DNNVV hay  SMEs đƣợc dùng phổbiến ởHoa Kỳ, ởcác

nƣớc thuộc Cộng đồng Châu Âu, và ở các tổ chức quốc tế nhƣ Ngân hàng Thế giới (World Bank), Liên Hiệp Quốc (United Nation), Tổchức Thƣơng  mại Thếgiới

(WTO), v.v…

Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (World Bank), doanh nghiệp siêu nhỏ làdoanh nghiệp có sốlƣợng lao động dƣới 10 ngƣời, doanh nghiệp nhỏcó sốlƣợng lao động từ 10 đến dƣới 50 ngƣời, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.

Các nƣớc thuộc Cộng đồng Châu Âu có cách định nghĩa riêng phù hợp với điều kiện kinh tế – xã  hội của quốc gia: Ví dụ ở Đức thì SMEs đƣợc định nghĩa làdoanh nghiệp có số lao động dƣới 500 ngƣời, trong khi đó ở Bỉ là 100 ngƣời. Tuy nhiên hiện nay  việc định nghĩavềSMEs củaLiên minh Châu Âu (EU) cụthể, rõ ràng hơn. Doanh nghiệp có dƣới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, ngƣợc lại doanh nghiệp có trên 250 lao động đƣợc xác định là doanh nghiệp vừa. Trong khi đóở Mỹthì doanh nghiệp có dƣới 100 lao động là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp dƣới 500 lao động là doanh nghiệp vừa.

Một cách chung nhất, có thể hiểu rằng DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏbé vềvốn, laođộng hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏvà vừa có thểchia thành ba loại căn cứvào quy  mô, đó là: Doanh nghiệp siêu nhỏ(micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.

Nhƣ vậy, có thểnhận  thấy  rằng: Các khái niệmvềDNNVV đƣợctiếp cận, nghiên cứu ở các góc độ khác nhau về kinh tế, pháp lý, xã hội, nhƣng việc xác định DNNVV chủ yếu đƣợc xác định dựa theo các tiêu chí nhất định nhƣ: tiêu chí về lao động, tiêu chí về vốn, và tiêu chí về lĩnh vực kinh doanh.

36

ỞViệt Nam, vấn đềđịnh nghĩa vềDNNVVđã có nhiều thayđổi,theo thời gian lịch sử và cách thức nhìn nhận về loại hình doanh nghiệp này. Tại Công văn số681/CP-KTN ban hành ngày 20/06/1998 đã đƣa ra định nghĩa doanh nghiệp nhỏ vàvừa là doanh nghiệp có số công nhân dƣới 200 ngƣời, số vốn kinh doanh dƣới 5 tỷđồng (tƣơng đƣơng 378.000 USD – theo tỉ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn). Tiêu chí này đƣợc đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung, tổng quát nhất về các DNNVV ở Việt Nam, và chủ yếu đó là quy ƣớc hành chính phục vụcho việc hoạch định pháp luật hỗtrợcác DNNVV. Trên thực tếtiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏvà cực nhỏ; nhƣng ngày 20/06/1998 vẫn đƣợc coi là mốc thời gian quan trọng, vì đây đƣợc coi là thời điểm xuất hiện văn bản hƣớng dẫn đầu tiên về DNNVV ở Việt Nam. Mặc dù đây chỉ là một công văn hành chính, mà chƣa phải văn  bản quy  phạm  pháp luật chính thức,

nhƣng cách hiểu vềDNNVV trong Công văn số681 có thểcoi là khuôn mẫu đầu tiên trong hình dung về DNNVV ở Việt Nam, để phục vụ việc xây dựng chính sách pháp luật về hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV.

Nghịđịnh số90/2001/NĐ-CP  ngày  23/11/2001 củaChínhphủvềtrợgiúp Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã chính thức đƣa ra định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa

nhƣ sau: “D   h  ghi p nh   và v                            s n xu   i h     h c l            ă g

ký kinh doanh theo pháp lu   t hi n hành, có v     ă g  ý  h  g 10 ỷ       ng hoặc

s  g     g  h h  g  ă   h  g  300  g  i”  Nghịđịnh này  áp dụngđối với các doanh nghiệp vừa và nhỏbao gồm: (i) các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (năm 1999); (ii) các doanh nghiệp thành lập và hoạt độngtheo Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc (1995); (iii) các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã (1996); (iv) các hộkinh doanh cá thểđăng kýtheo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/2/2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh. Cũng theo Nghị định này, các doanh nghiệp cực nhỏ đƣợc quy định là có từ1 đến 9 nhân công, doanh nghiệp có từ10 đến 49 nhân công đƣợc coi là doanh nghiệp nhỏ.

Đến năm 2009, Nghịđịnh 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ

đƣợc ban hành, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/08/2009 và thay thế Nghị định số90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh

37

nghiệp nhỏ và vừa. Điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP,địnhnghĩa về doanh nghiệp

nhỏ và vừa đƣợc quy định cụ thể nhƣ sau: “Doanh nghi p nh  và v                            kinh

    h     ă g  ý  i h     h  he     nh pháp lu            c chia thành ba c p: siêu

nh   , nh  , v a theo quy mô t ng ngu n v n (t   ng ngu  n v            g      g   ng tài

s                           nh trong b  g    i k   toán c a doanh nghi p) hoặc s   ng

   h       ă  ( ng ngu  n v            i    h   i  )

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chính thức đƣợc kì họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIV thông qua tại phiên họp sáng ngày 12/6/2017. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực thi hành  từ ngày 01/01/2018 đã đề cập một cách toàn  diện đến doanh nghiệp nhỏ và vừa và chính sách của Nhà nƣớc để hỗ trợ DNNVV. Tại Điều 4 Luật Hỗ  trợ doanh nghiệp nhỏ  và vừa quy định: Doanh nghiệp nhỏ và  vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số laođộng tham  gia bảo hiểm  xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và đáp ứng một trong hai tiêu chí:

  1. Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;
  2. Tổng doanh thu của năm trƣớc liền kề không quá 300 tỷ đồng.

Nhƣ vậy, DNNVV bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏvàdoanh nghiệp vừa. Các loại hình DNNVV đƣợc xác định vừa theo các tiêu chí về số

ngƣời lao động đóng bảo hiểm  xã hội, vừa theo tổng nguồn vốn hoặc tổng doanh thu.

Mặt khác, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏvà doanh nghiệp vừa

đƣợc xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thƣơng mại và dịch vụ.

Vấn đề phânloại doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, và doanh nghiệp vừa đƣợc quy định cụ thể tại  Chƣơng  II  Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Thủ tƣớng Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợdoanh nghiệp nhỏ và vừa. Cụ thể, điều 6 của Nghị định 39/2018/NĐ-CP quy định:

Doanh nghi p siêu nh trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm  nghiệp, thủy sản vàlĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại,

38

dịch vụcó sốlao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10

ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.

Doanh nghi p nh trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm  nghiệp,  thủy  sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ có sốlao độngtham  gia bảohiểm  xã hội bình quân năm  không quá 50 ngƣời và tổng doanh thu củanăm  không quá 100 tỷđồng hoặc tổng nguồnvốnkhông quá 50 tỷđồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật.

Doanh nghi p v a trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy  sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏtheo quyđịnh củapháp luật. Doanh nghiệp vừatrong lĩnh vực

thƣơng mại, dịch vụ có số laođộngtham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷđồng, nhƣng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định của pháp luật.

Có thểthấy:  So với các Nghịđịnh trƣớc đâyvềtrợgiúp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã đƣa ra bộ tiêu chí xác địnhDNNVV khá hoàn chỉnh  và toàn  diện. Không những vậy, Nghịđịnh 39/2018/NĐ-CP còn cung cấp các tiêu chí để phân loại các loại hình doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, và doanh nghiệp vừa trong các ngành kinh tếkhác nhau. Cách phân loại nàyđảmbảo cụthể, phù hợp với thực tiễn nền kinh tếViệt Nam, giúp cho công tác hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với DNNVV đƣợc kịp thời và sát với đối tƣợng hỗ trợ.

1 1 1 2   ặ   i m c    a doanh nghi p nh và v   a

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp  trong nền kinhtế thịtrƣờng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa với tƣ cách là mộtdoanh nghiệp, dođó DNNVV mang

39

những đặc điểmchung của doanh nghiệp. DNNVV là tổchức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [69, Khoản 7 Điều 4]. Bên cạnh đó, DNNVV mang những đặc điểm riêng thể hiện bản chất pháp lý của nó.

Th   h  , DNNVV có quy mô vốn nhỏ và số lƣợng lao động ít.

Tiêu chí về quy mô nhỏ và sốlƣợnglao động ít là những tiêu chí quan trọngđể nhận diện đó có phải là DNNVV hay  không? Tuy  nhiên, sựphân loại doanh nghiệp theo quy mô hay số lao động thƣờng chỉ mang tính tƣơng đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: trình độ phát triển kinh tế của một nƣớc: trình độ phát triển càng cao thì chỉ số các tiêu chí càng tăng lên. Ví dụ nhƣ một doanh nghiệp có 400 lao động đóng bảo hiểm xã hội ở Việt Nam không đƣợc coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhƣng lại đƣợc tính là SMEs ởCHLBĐức. Ở một số nƣớc có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về laođộng,vốn để phân loại doanh nghiệp vừa vànhỏ sẽthấp hơn so với các nƣớc phát triển. Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của

từng ngành, có ngành sử dụng nhiều laođộngnhƣ dệt, may, có ngànhsửdụng ít laođộng nhƣng nhiều vốn nhƣ hoá chất, điện… Do đó cần tính đến tính chất này để có sựso sánh đối chứng trong phân loại các SMEs giữa các ngành với nhau. Trong các

nƣớc APEC tiêuchí đƣợc sửdụng phổ biến nhất là số lao động. Còn một số tiêu chíkhác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nƣớc.

Tại Việt Nam, theo quyđịnh của Nghị định56/2009/NĐ-CP  việc xácđịnh doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa chủ yếu theo tiêu chí tổng vốn và số lao động trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ có tổng vốn từ 10-20 tỷ đồng trở xuống và số lao động từ trên 10 ngƣời đến 200 ngƣời, Doanh nghiệp vừa có tổng nguồn vốn

từtrên 10tỷ đồng đến 100 tỷ đồngvới số laođộng từtrên 50 đến 300 ngƣời. So với Nghị định 90/2001/NĐ-CP thì mức vốn của doanh nghiệp đƣợc quyđịnh ở Nghịđịnh 56/2009/NĐ-CP đã tăng lên gấp 10 lần. Nguyên nhân của sự thay đổi này là do tác động từkinh tế – xã hộicủa đất nƣớc,sau 8 năm kể từ khi ban hành Nghịđịnh 90/2001/NĐ-CP, kinh tế Việt Nam đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc, các doanh nghiệp lớn mạnh không ngừng. Do vậy, nếu vẫn giữmức quyđịnhvốn nhƣ Nghịđịnh cũ thì không phù hợp với tình hình phát triển chung của doanh nghiệp Việt Nam  vàsẽ khó hỗtrợtích cực cho các DNNVV. Trong tƣơng lai khi nền kinh tế

40

tiếp tục phát triển, các quy định này cũng sẽ thay đổi theo để đáp ứng kịp thời yêu cầu của tình hình mới.

Tuy nhiên, theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (HTDNNVV) xác định DNNVV là doanh nghiệp có số lao động tham giabảohiểm xã hội bình quân không quá 200 ngƣời/năm. Đồng thời đáp ứng một trong hai tiêu chí về vốn: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc Tổng doanh thu của năm

trƣớc liền kề không quá 300 tỷ đồng [71].

Tài sản hay vốn có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hƣớng sử dụng chỉ số này). Đối với tiêu chí số ngƣời laođộng đóng bảo hiểm xã hội (không quá 200 ngƣời) là tiêu chí “cứng”, còn tiêu chívề vốn hay doanh thu mang tính “mở”. Kết quả nghiên cứu chothấy, với đặc điểm về mức vốn, sửdụng ít lao động sẽ mang lại những lợi thế cho DNNVV trong vấnđề đầutƣ vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi rocao. Các doanh  nghiệp loại này có mức vốn đầu tƣnhỏ, sửdụng ít lao động nên sẵn sàng gánh chịu rủi ro trong kinh doanh nếu cần thiết. Trong trƣờng hợpthất bại thì cũng khôngbịthiệt hại nặng nề nhƣ các doanh nghiệp lớn, có thể làmlại từđầu đƣợc. Bên cạnh đó các DNNVV có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mônên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt. Họ phải dựa vào lợi nhuận thu đƣợc từ các hoạt động kinh doanh mạo hiểm.

Tuy nhiên, cũng xuất phát từđặc điểm vềvốn thấp  và số lƣợng lao động  ít mà các DNNVV hạn chế trong việc tiếp cận với nguồn tín dụng, nguồn vốn xã hội.Điều này rất dễ thấy và nó ảnh hƣởng rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển của các DNNVV. Do tài sản cầm cố, thế chấp ít nên các DNNVV rất khó vay đƣợc các khoản vay lớn từ các tổ chức tín dụng và các quỹ tín dụng. Trong khi đó phần

lớn các DNNVV đều rất hạn chế về vốn tự có vì vậy nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh là rất lớn và việc hình thành một nguồn vốn cho khu vực doanh nghiệp này là yêu cầu cấp thiết. Bên cạnh đó, do nguồn vốn ít nên các chủ DNNVV khôngđủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những ngƣời  lao động có tay nghề cao. Bản thân ngƣời lao động không thƣờng xuyên đƣợc đào tạo,đào tạo lại do kinh phí  hạn hẹp vì vậy trình độ tay nghề và kỹ năng  của ngƣời lao

41

động trong DNNVV thấp [29].

Theo kết quả khảo sát tại 1.200 doanh nghiệp Việt Nam của Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Đức (GTZ), năm 2008, chỉ có khoảng 0,1% doanh thu hằng năm của DN đƣợc dành cho đổimớicông nghệ. Tại thànhphốHồ Chí Minh, Ban Quản lý các KCN-KCX (Heppza) đã phối hợp với Sở Khoa học & Công nghệthành phố HCM tiến hành khảo sát công nghệ của các DN tại các KCN-KCX tại thànhphốHồ Chí Minh cho thấysố DN có trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu chiếm đa số. Trong số 429 DN đƣợc kháo sát thì có chỉ có 3 DN trong tổng số các DN đƣợc khảo sát đạt trình độ tiên tiến chiếm tỷ lệ 1%. Tƣơng tựnhƣ vậy tại các KCN-KCX các DN đạt trình độ công nghệ tiên tiến chỉ chiếm số lƣợng rất khiếm tốn, khoảng 2% ở các  KCN Vĩnh Lộc và  Tân Tạo,  1% ở KCN Tân Bình.Kếtquả khảo sát cũng cho thấy,  có đến 10% các DN tại các KCN-KCX  nói trên mua lại thiết bị với giá trị kỹthuật chỉ còn dƣới 50%  [63]. Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ khá khó khăn hoặc chƣa thực sựquan tâm đầu tƣ đúng mức cho việc đổi mới công nghệ.

Th  h i  DNNVV đƣợc tổ chức dƣới nhiều hình thức khác nhau.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp là những doanh nghiệp đƣợc thành lập để thực hiện ý tƣởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trƣởng nhanh. Khởi nghiệp (startup) cũng có nghĩa là tạo ra giá trị có lợi cho con ngƣời cho xã hội hoặc nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của công ty, cho ngƣời lao động, cho cộng đồng và Nhà nƣớc[21]. Khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trƣởng kinh tế và dƣới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội. Khởi nghiệp có thể hiểu một ngƣờivừa là nhân viên vừa là ông chủ hoặc cao hơn cóthể tựthành lập doanh nghiệp riêng cho mình rồi tuyển nhân viên vào cùng làm. Vì vậy khởi nghiệp cũng chính là bạn bắt đầu làm chủ. Và khởi nghiệp cũng chính là một công việc kinh doanh của bạn vì nó liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và bán ra thị trƣờng để bạn có thu nhập. Chính vì vậyngƣời ta thƣờng gọi là khởi nghiệp kinh doanh. Doanh nghiệp mới sáng lập hoặc trong những  giaiđoạn đầuphát triển. Không cóđộdài thời giancụ thể nàođể xác định khi nào thì doanh nghiệp hết đƣợc gọi là khởi nghiệp, trừ khi doanh nghiệp không còn coi mình là khởi nghiệp nữa. Thực tế cho

42

thấy, nhiều công ty startup không sáng chế ở khía cạnh sản phẩm, mà sử dụng các sáng chế khác: điều chỉnh những công nghệ hiện tại cho mục đích mới, đặt ra một mô hình kinh doanh mới để mở ra các giá trị trƣớc đây chƣa đƣợc tìm ra, hoặc thậm chí mang sản phẩm hay dịch vụ đến một địa điểm mới hoặc nhóm khách hàng trƣớcđâychƣa đƣợc phục vụ. Trong tất cả các trƣờng hợp này, sựsáng tạo đổi mới là chìa khóa đƣa đến thành công cho công ty [6].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam  hiện nay
Pháp luật về hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *