Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nềnkinh tế nước ta đang có nhiều chuyển biến sâu sắc vàngày càng hội nhập sâu, rộng vào cộng đồngquốc tế, việc dỡ bỏ dần những quyđịnh củaphápluật về bảo hộ các tổchức kinh tế trong nước theo lộ trình hội nhập quốc tế đã và đang tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến mọi hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của các tổ chức trong nước. Làtổchức tài chính trung gian, các NHTM trong nước cũng đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
Lịch sửhình thành và phát triển của ngân hàng cho thấy NHTM rađời gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nền sản xuất xã hội. Với chức năng trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò kết nối giữa bên có vốn nhàn rỗi gửitại ngân hàng với bên thiếu vốn – có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, dự án đầu tư hoặc phương án phục vụ đời sống.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng luôn đóng một vai trò quan trọng đểphát triển sản xuất, kinh doanh: điều chuyển vốn từ nơi dư thừa (tổ chức kinh doanh tiền tệ hoặc hàng hóa, dịch vụ) đến nơi thiếu vốn (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cần vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống). Tín dụng là một phạm trùkinh tế thể hiện mối quan hệ giữa bên cho vay với bên đi vay, trong đó bên cho vay có trách nhiệm chuyển giao quyền sở hữu tiền hoặc hàng hóa, dịch vụ cho vay cho bên đi vay trong một thời gian nhất định; bên đi vay có nghĩavụ hoàn trả sốtiền hoặc giá trị hàng hóa, dịch vụ đã vay, có hoặc không có kèm theo một khoản lãi nhất định.
Theotừđiển thuật ngữ Hán Nôm, chữ “tín” là tin, chữ “dụng” là dùng. Nhưvậy, “tín dụng” là việc một người (bên cấp tín dụng) tin vào khả năng và uy tín của người khác (bên hưởng tín dụng) mà chuyển giao vốn của mình cho ngườiđósửdụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi (nếu có). Cho nên, nhiều trường hợp bên cho vay cấp tín dụng cho bên đi vay trên cơ sở tính hiệu quả, khả thi của dự án mà không yêu cầu có tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của
1
bên thứ ba. Trong quan hệ kinh doanh – thương mại, tín dụng được thể hiện dưới hai hình thức: tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng. Nếu như tín dụng ngân hàng luôn gắn liền vớiđối tượng làtiền mà theo đó bên thừa vốn cho bên thiếu vốn vay với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi thì tín dụng thương mại thường gắn liền vớiđối tượng làhàng hóa, dịch vụ, theo đó một bên (gọi là bên bán – bên cấp tín dụng) cấp tín dụng cho người khác (gọi là bên mua – bên hưởng tín dụng) bằng cách“bán chịu”hàng hóa, dịch vụ cho bên mua với cam kết sẽ đòi tiền của bên mua sau một thời hạn nhất định. Trên thực tế, tín dụng thương mại thường được thực hiện dưới hình thức bán hàng hóa, dịch vụtrả tiền sau hoặc trả chậm, trả dần.Ở Việt Nam, trong những năm qua, tín dụng ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế và là nguồn vốn quan trọng để các doanh nghiệp phát triển, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Pháp luật hiện hành nghiêm cấm các cá nhân, tổ chức không phải là TCTD thực hiện hoạt động ngân hàng (trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán
lại chứng khoán của công ty chứng khoán). Cấp tín dụng là một nghiệp vụ của hoạtđộngngân hàng mà theo đó TCTD thỏa thuận để tổ chức, cá nhân khácđượcsửdụng nguồn vốn của mình trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác [26, Điều 4]. Các hình thức tín dụng khác (tín dụng thương mại hoặc tín dụng giữa các cá nhân, hộ gia đìnhvớinhau theo
quy định của Bộ luật Dân sự…)chỉchiếmmộttỷ lệnhỏ(tính theo giá trị giao dịch) trongnềnkinh tế. Cho nên, trong những năm qua, Chính phủ và NHNN đã sử dụng hệ thống NHTM (thông qua các chính sách tiền tệ) để điều hành thị trường tiềntệphù hợpvới mụctiêu phát triển kinhtế- xãhộitrong từng thờikỳ.Điềunàyđãđược chứng minh qua việchỗtrợlãi suất cho vay phát triểnsảnxuất kinh doanh (Chính phủhỗtrợlãi suất cho cácđốitượngvayvốnsảnxuất thông quavốnvaytạicác NHTM) trongbốicảnhxảyra khủng hoảng tài chính – tiềntệvà suy thoái kinhtế toàn cầu năm 2008, thị trường bất độngsản “đóng băng”trong các năm qua (gói tín dụng 30.000 tỷ đồng hỗ trợ cho thị trường bất động sản)… Việc Chính phủ dành các gói tíndụng hỗtrợlãi suất được áp dụng chocác đối tượngvay vốn và mục đích vay
2
xácđịnhnhằm thực hiện cácmụctiêu kinhtế,chínhtrị- xãhộitrong từng thờikỳ
(như kiềmchế lạmphát,ổn địnhkinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội…).
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và những năm đầu mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các NHTM Việt Nam chưa quen và chưa coi trọng hình thức pháp lý của việc cấp tín dụng cho khách hàng. Nhiều ngân hàng cấp vốn vay cho khách hàng mà không cần ký hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng tín dụng được ký kết với nội dung mang tính chất đại khái, không đầyđủ, chặt chẽ. Do đó, khi khách hàng không trảđược nợ vayđến hạnvà có tranh chấp xảyra, ngân hàng không đủ cơ sở, chứngcứđể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình hoặc để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết buộc khách hàng hoàn trảvốn vay cho mình (bao gồm cả gốc và lãi). Lúc đó, ngân hàng mới nhận ra ý nghĩa và tầm quan trọng của hợp đồng tín dụng.
Việc cho vay được thực hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng tín dụng – một sựthỏa thuận giữa ngân hàngvớikhách hàng nhằm xác lập quyền và nghĩavụcụ thể của các bên trong quá trình vay, sử dụng và thanh toán vốn vay theo quy định của pháp luật về tín dụng ngân hàng. Với ý nghĩa đó, hợp đồng tín dụng ngân hàng là hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng ngân hàng phản ánh sựthỏa thuận trực tiếp giữa các bên trong việc xác lập quan hệtín dụng. Xuất phát từvai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế và bảo đảm an toàn củahoạt động ngân hàng cũng nhưhệ thống các TCTD, pháp luật Việt Nam và các nước trên thế giới đều quan tâm xây dựng một chế định hợp đồng tín dụng chuẩn mực và chặt chẽ. Cùng với sựhoàn thiện của pháp luật nước ta về ngân hàng và những bàihọc từthực tiễn hoạt động ngân hàng theo cơ chế thị trường, các NHTM đã nhận thức được những rủi ro tiềm ẩn khi cho vay không xác lập hợp đồng tín dụng hoặc xác lập hợp đồng tín dụng nhưng chưa thực sựchú trọng đến nội dung của hợp đồng. Vì vậy, pháp luật yêucầuviệc vay vốn ngân hàng phải được lập thànhhợpđồngtín dụng có các nội dung cơ bản phù hợp với quy định của NHNN.
Trong thời kỳmở cửavà hội nhập, Đảng ta đã có quan điểm rất cụ thể, rõràng để phát triển lĩnh vực tài chính ngân hàng, cụ thể: “Cơ cấu lại hệ thống ngân
3
hàng. Phân biệt chức năng của Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại Nhà nước, chức năng cho vay của ngân hàng chính sách với chức năng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại. Bảo đảm quyền tự chủ vàtự chịu trách nhiệm của ngân hàng thương mại trong kinh doanh. Giúp đỡ và thúc đẩy các tổ chức tín dụng trong nước nâng cao năng lực quản lý và trìnhđộ nghiệp vụ, có khả năng cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài theo cam kết của nước ta gắn với quốc tế. Gắn cải cách ngân hàng với cải cách doanh nghiệp nhà nước.Sắp xếp lại các ngân hàng cổ phần, xử lý các ngân hàng yếu kém. Đưa hoạtđộng củaquỹ tín dụng nhân dân đi đúng hướng và bảo đảm an toàn” [3, tr.104]. Kể
từkhi Việt Nam mở cửa lĩnh vực ngân hàng cho đến nay, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn là bộ phận quan trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Nhận thấythịtrường Việt Nam có nhiều tiềm năng, nên ngaytừđầu những năm 90 khi Việt Nam bắt đầu mở cửa, các ngân hàng nước ngoàiđã hiện diện ởViệt Nam dưới các hình thức pháp lý được pháp luật Việt Nam cho phép. Thời kỳđầu, các ngân hàng nước ngoài được hoạt động ở Việt Nam dưới hai hình thức: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh. Đến năm 2004, Luật các TCTD sửa đổi cho phép ngân hàng nước ngoài được hiện diện thương mại ở Việt Nam dưới một hình thức nữa, đó là ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Vớisựxuất hiện thêm một loại hình ngân hàng mới này, các ngân hàng nước ngoài hoạt động ởViệt Nam đã làm tăng tính hấp dẫn, phong phú cho thị trường tài chính Việt Nam vàtạo động lực cạnh tranh cho các NHTM trong nước. Tuy nhiên, tiềm lực tài chính, năng lực quản trị và công nghệ của các NHTM trong nước còn hạn chế, chưa đủđiều kiệnvà khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài ngay tại Việt Nam,
nên nước ta đã không mở cửa ngay toàn diện lĩnh lực ngân hàng đối với ngân hàng nước ngoài thông qua những hạn chế pháp lý. Vì vậy, dù cùng cung cấp vốn vay cho các tổ chức, cá nhân tại Việt Nam nhưng sau khi mở cửa, pháp luật Việt Namđã có những quy định riêng, đặc thù áp dụng đối với các NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam theo lộ trình phù hợp với đặc điểm thực tế của Việt Nam và cam
4
kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế. Với thế mạnh về công nghệ, vốn vàphương thức quản trị hiện đại, tiên tiến, NHTM có vốn đầutưnước ngoài ở Việt Nam có lợi thế hơn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng thương mại trong nướcđể mở rộng hoạt độngcho vay và chiếm lĩnh thị phần tín dụng ngân hàng ở Việt Nam. Trong những năm qua, hoạtđộng cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam không chỉ ngày càng mở rộng, tăng về quy mô, số lượng mà chất lượng tín dụng cũng luôn được duy trì ở mức an toàn (nợ xấu ở mức khoảng ≤1%), thấp hơn nhiều so với các ngân hàng thương mại trong nước.
Những phân tích trên đây là cơ sở của sự lựa chọn vấnđề“Pháp luật về cho vay của ngân hàng thƣơng mại có vốn đầutƣ nƣớcngoài ở Việt Nam”làm đềtài cho luận án tiến sĩ luật học này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài, thực trạng pháp luật vềcho vay của NHTM cóvốn đầutư nước ngoài ở Việt Nam và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về cho vay của NHTM cóvốnđầu tưnước ngoài ở Việt Nam, luậnán đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án có nhiệm vụ cụ thể như sau:
– Làm rõ những vấnđềlý luận pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài như: khái niệm, đặc điểm của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài; quyđịnh pháp luật củamộtsố nước trên thế giới về cho vay của NHTMcó vốn đầu tưnước ngoài;
– Làm rõ cấu trúc pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài; các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài.
– Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật vềhoạt động cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam, đồng thời
5
phát hiện những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về cho vay của NHTM cóvốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam;
– Nêu định hướng và đưa ra các giải phápcụ thể, đồngbộđể hoàn thiện pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam được đề cập trong luận án là một khái niệm tổng hợp dùng để chỉ
tổng thể các quy phạm pháp luật khác nhau điều chỉnh các quan hệ cấp tín dụng của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Namdưới hình thức cho vayđối với tổchức, cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết theo quy định. Trên cơ sởđó,luận án xác định đối tượng nghiên cứu là các quyđịnh của pháp luậtvề cho vaycủaNHTM có vốn đầutưnước ngoài ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong những năm gần đây. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của luận án còn bao gồm cácsựkiện pháp lý, quan hệ pháp luật phát sinh từthực tiễn và tư liệu thựctếliên quan đến hoạt động cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Là công trình nghiên cứu luật học, luận án này chỉ tiếp cận vấn đề “Pháp luậtvề cho vay của ngân hàng thương mạicó vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam” dưới góc độ hoạt động cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Luận án không nghiên cứu toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động cho vay của các NHTM ở Việt Nam và hình thức đầu tư gián tiếp, hoạt động kinh doanh dưới hình thức khác của ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam (nhưđầu tưgóp vốn, mua cổ phần trong các ngân hàng Việt Nam, thành lập
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam, cho ngân hàng Việt Nam vay vốn…) mà chỉ tập trung vào việc làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý liên quan đến các quyđịnhcủa pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của loại hình NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam (bao gồmngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài).
6
4. Những đóng góp mới của luận án
Với mục đích, phạm vi và nhiệmvụ đã đề ra, luận án có một số đóng góp mới như sau:
– Luận án là công trình nghiên cứu khoahọcđầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các quyđịnh củapháp luật về hoạt động cho vay của NHTM cóvốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam (bao gồm cả hai loại hình ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài).
– Luận án phân tích, xác định và làm rõ khái niệm, bản chất pháp lý, đặc điểm về hoạt động cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
– Luậnán đãchỉrõcấutrúc pháp luật cho vaycủaNHTM cóvốnđầutưnước ngoài, từ nghiên cứu đó đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam; phát hiện những bất cập, hạn chế của pháp luậtthực địnhvề cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ởViệt Nam.
– Luận án đưa ra các kiến nghị chi tiết, cụ thể để hoàn thiện pháp luật về cho vay của NHTM cóvốnđầu tưnước ngoài ở Việt Nam trên cơsởcác kết quả nghiên cứu của luận án và kế thừa, phát triển có chọn lọc các nghiên cứu, tổng kết có liên quan cả trong nước và nước ngoài, đồng thời phù hợp với bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu, rộng vào kinh tế thế giới.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Trước tình hình nghiên cứu pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam, có thể coi luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về hoạt động cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nhìn dưới góc độ pháp luật. Những kết luận và đề xuất, kiến nghị mà luận án nêu ra đều có cơ sở khoa học và thực tiễn góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của NHTM có vốnđầu tưnước ngoài ởViệt Nam. Hơn nữa, những vấn đề nghiên cứu của luận án sẽ tạo tư liệu tham khảo quýbáu cho các cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng và đầu tưnước ngoài ở Việt
7
Nam, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng Việt Nam có thể nhận diện bức tranh toàn cảnh pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay ởmột mức độ nhất định.
Tác giả hy vọng luận án sẽ góp phần tạo ra một cách nhìn toàn diện, sâu sắc, khoa học và thực tiễn hơn pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầutưnước ngoài ở Việt Nam. Bên cạnh đó, bằng việc phân tích, đánh giá một cách có hệ thống các quyđịnh hiện hành của pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam, luận án đưa ra những giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật vềcho vay của NHTM cóvốn đầutư nước ngoàiở ViệtNam nhằm bảo đảm tính thực thi pháp luật về cho vay của TCTDđốivớikhách hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phầnmởđầu,kếtluận và tài liệu tham khảo, luận ánđượcbốcục như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mạicó vốn đầu tư nước ngoài
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về cho vay của ngân hàng thươngmạicó vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Chương 4:Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
KẾT LUẬN
Những công trình của tác giả liên quan đến luận án đã được công bốDanh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
8
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu
Khi nghiên cứu hoạt động cho vay và pháp luật về cho vay của NHTM cóvốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam, nghiên cứu sinh sử dụng một số cơ sở lý thuyếtđiển hình như: học thuyết Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật; lý thuyết về quan hệ pháp luật, lý thuyết về hợp đồng; lý thuyếtvề quyền tựdo kinh doanh; lý thuyết về hoạt động cho vay của NHTM.
16
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Luận án được triển khai với các câu hỏi nghiên cứu như sau:
– Về khía cạnh lý luận
1. Cho vay là gì? Cho vay có những đặc điểm đặc trưng thế nào so với cho vay thương mại (hay còn gọi là tín dụng thương mại)? Cho vay có những thể loại nào?
2. NHTM có vốn đầu tư nước ngoài là gì? Đặc điểm của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài? Cấu trúc pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài là gì? Các bộ phận cấu thành cấu trúc pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài? Hợp đồng tín dụng ngân hàng là gì ? Hợp đồng tín dụng ngân hàng có vai trò gì đối với các chủ thể tham gia và đối với nền kinh tế ? Các chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng ngân hàng chịu những rủi ro như thế nào ?
3. Pháp luật về cho vay của NHTMđược hiểu nhưthế nào? Pháp luật về cho vay của NHTM có những đặc điểm gì?Nộidung của pháp luật về cho vay của NHTM gồm các quy định nào? Những yếu tố nào chi phối/ảnh hưởng đến pháp luật về cho vay của NHTM?
– Về khía cạnh thực trạng pháp luật
4. Quá trình phát triển của pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoàiở ViệtNam thể hiện quanộidung các văn bản quy phạm pháp luật nhưthế nào? Các văn bản quy phạm pháp luật nào hiện đang điều chỉnh hoạt động cho vay của NHTM có vốnđầu tưnước ngoài ở Việt Nam? Nội dung của các quy định hiện hành về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam? Những bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay là gì?
– Về giải pháp hoàn thiện
5. Những yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện pháp luật? Những giải pháp cụthể nào để hoàn thiện pháp luật về cho vay của NHTM có vốnđầu tưnước ngoài ởViệt Nam hiện nay?
1.2.3. Giả thuyết nghiên cứu
Luận án được triển khai với các giả thuyết nghiên cứu như sau:

1. Hiện chưa có công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách toàn diện vàđầyđủphápluật vềcho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoàiở Việt Nam (bao gồm cả ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài). Các vấn đề lý luận về cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ởViệt Nam vừa thiếu, vừa chưađược hệ thống hoá đầyđủ.Khái niệm về hợp đồng tín dụng ngân hàng chưa được định nghĩa, quy định trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào mà mới chỉquyđịnhvề nộidungchủyếucủa hợpđồng tín dụng. Chưa có khái niệmcụ thể về hợp đồng tín dụng, nên còn có các ý kiến khác nhau về bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng, cósựnhầm lẫn giữa hợp đồng cho vay vốn ngân hàng với hợp đồng cho vay khác (thương mại, dân sự).
2. Khoa học pháp lý Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống lý luận khoa học củapháp luật về cho vay của NHTM. Chưa có nghiên cứu cụ thể về đối tượngáp dụng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật về cho vay của NHTM. Đặc điểm và nội dung của pháp luật về cho vay của NHTM vẫn chưa được làm rõ.
3. Các quy định pháp luật về cho vay của NHTM còn chưa hoàn chỉnh, chưađáp ứng được yêu cầucủa thực tiễn. Một sốquyđịnh hiện hành của pháp luật vềcho vay của NHTM chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có tính hệ thống đánh giá thực trạng pháp luật về cho vay của NHTM.
4. Hiện vẫn còn thiếu các công trình khoa học đưa ra các giải pháp đầyđủ, có tính thực tiễn cao để sửa đổi, bổ sung, khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về cho vay của NHTM.
1.2.4. Kết quả dự kiến đạt được
1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống lý luận pháp luật về cho vay của NHTM, cụ thể như sau:
– Xây dựng khái niệmvề NHTM có vốn đầu tưnước ngoài, qua đó làm rõcác đặc điểm đặc trưng của nó, phân biệt được NHTM có vốn đầu tư nước ngoài với NHTM khác.
Bên cạnh đó, luận án đã chỉ rõ hơn, khoa học hơn về cấu trúc pháp luật cho
18
vay của NHTM có vốnđầu tưnước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài.
– Xác định và làm rõ khái niệm, bản chất pháp lý, đặc điểm về hoạt động cho vay của NHTM có vốnđầu tưnước ngoài ở Việt Nam. Làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng, các chủ thể tham gia quan hệ vay vốn ngân hàng, quy trình cho vay và các biện pháp thu hồi nợ vay.
– Hoàn thiện lý luận pháp luật về cho vay của NHTM thông qua việc làm rõkhái nhiệm, đặc điểm của pháp luật về cho vay của NHTM; xác định nội dung của pháp luật về cho vay của NHTM.
2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của phápluật vềcho vay của NHTM.
– Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay.
– Phân tích thực trạng của các bộ phận chính trong nội dung pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam, trong đótập trung vào những hạn chế, bất cập trong các quy định hiện hành của pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trong quá trình phân tích, đánh giá có sự so sánh với lý luận, thông lệ quốc tế và pháp luật của một số nước khác để có được những nhận định khách quan, khoa học.
3. Đề xuất các giải pháp có căn cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
– Xác định rõ những yêu cầu đặt ra khi hoàn thiện pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam; đó là: phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội và hệ thống ngân hàng; đápứng được các tiêu chí hoàn thiện pháp luật bảo đảmtính đồng bộ, tính toàn diện, tính thống nhất, tính phù hợp, tính khả thi của hệ thống pháp luật.
– Đề xuất các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về cho vay của NHTM cóvốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam trên cơ sở giải quyết những bất cập, hạn chế
19
được phát hiện tại phần nghiên cứu thực trạng pháp luật trước đó. Ngoài ra, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.
1.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệmvụ nghiên cứu, dưới góc độ khái quát, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu đề tài. Đối với từng nội dung nghiên cứu cụ thể, nghiên cứu sinh sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích kết hợp với bình luận, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, so sánh, chứng minh.
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khoa học sau đây:
i) Phương pháp phân tích kết hợp với bình luận được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam;
ii) Phương pháp tổng hợp lý luận và thực tiễn nhằm vận dụng kiến thức lýluận vào thực tiễn làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu, khái quát hóa thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hoạt động cho vay của NHTM cóvốnđầu tư nước ngoài ở Việt Nam để kiến nghị hoàn thiện pháp luật;
iii) Phương pháp so sánh đượcáp dụng để tìm ra mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạtđộng cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam,đồng thời tìm những điểm khác biệt và giống nhau giữa quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam với pháp luật nước khác trên thế giới.
Phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử được sử dụng trong quá trình nghiên cứu lý luận, trong việc xây dựng các luận điểmtại từng nội dung của luậnán. Thông qua việc phân tích, tổng hợp và áp dụng lôgíc học, luận án xây dựng khái niệm hoặc phân tích các quan điểm được đưa ra.
Phương pháp so sánh luật học được áp dụng phổ biến trong quá trình nghiên cứu nội dung của đề tài. Nội dung so sánh chủ yếu bao gồm so sánh quy định hiện
20
hành của pháp luật Việt Nam với tậpquán quốc tế và pháp luật của một sốnước khác trên thế giới.
Ngoài ra, luận án còn được thực hiện dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lôgíc và lịch sử, phương pháp so sánh và chứng minh; kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà luận án đặt ra.
21
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
1. Đề tài “Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam” làcông trình khoa học pháp lý có tính mới, thể hiện việc nghiên cứu một cách chuyên biêt , trực diện, toàn diện và có hệ thống pháp luật vềcho vay của NHTM có vốn đầu tưnướcngoài ở Việt Nam. Đề tài được thực hiện trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu và quan điểmtại các công trình khoa học trong nước và nước ngoài đã công bố; đồng thời nghiên cứu khoa học vềlý luận và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
2. Đến nay, mặc dù có một số công trình khoa học trong nước và nước ngoàiđã nghiên cứu một hoặc một số khía cạnh pháp lý có liên quan đến đề tài và có giá trị tham khảo nhưng còn một số hạn chế sau:
– Đối với lý luận pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoàiở Việt Nam: các kết quả nghiên cứu tại những công trình đã công bố còn thiếu hệthống, một sốkhái niệm cơ bản còn thiếu hoặc chưa được xây dựng dựa trên đặcđiểm, bản chất pháp lý về hoạt động cho vay của NHTM.
– Đối với thực trạng áp dụng pháp luật về cho vay của NHTM có vốn đầu tưnước ngoàiở Việt Nam: các kết quả nghiên cứu còn chưa cụthể, trực diện, toàn diện và có tính hệ thống về hoạt động cho vay của NHTM có vốn đầu tư nước ngoàiở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
– Đối vớicác đềxuất hoàn thiện pháp luậtvềcho vay của NHTM cóvốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam: các đề xuất tại các kết quả nghiên cứu trước đâycòn thiếu cụ thể hoặc đã lỗi thời, bất cập so với pháp luật hiện nay.
3. Từ những đánh giá về kết quả nghiên cứu tại các công trình khoahọc đã công bố, nghiên cứu sinh đã xác định rõ những vấn đề mà luận án cần giải quyết, cóđịnh hướngnghiên cứu rõ ràng tạicác Chương tiếp theo nhằmđạt được mụctiêu nghiên cứu của đề tài.
22
Chƣơng 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
2.1. Khái quát về ngân hàng thƣơng mại có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 2.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài
NHTM có vốn đầu tưnước ngoài là loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài hoạt động kinh doanh ngân hàng và là một loại hình ngân hàng (loại hình tổ chức tín dụng) được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quyđịnhcủa pháp luật. NHTM ra đời, hoạt động và phát triển trong những điều kiện
lịch sử, kinh tế- xã hội nhất định. Lịch sử ra đời và phát triển của NHTM gắn liền với sựtồn tại của nền sản xuất hàng hoá, lưu thông hàng hoá và quá trình quốc tếhoá nền kinh tế thế giới.
Tiền tệ là mộtphạm trù kinhtế-lịchsử, là sản phẩm của nền kinhtế hàng hoá. Quá trình phát triển của tiền tệ diễn ra từnhững hình thái vật chất như vàng,
tiền đến những hình thái “phi vật chất” như thẻ thanh toán, tiền điện tử… Sự ra đời của tiềntệ làmộtquá trình bắt đầu từviệc đổi hàng hoá trực tiếp (H-H) chuyển thành lưu thông hàng hoá (H-T-H). Cùngvới sựchuyển biến từ trao đổi hàng hoátrực tiếp sang lưu thông hàng hoá, nền kinh tế hàng hoá đã phát triển lên một trìnhđộ mới cao hơn về chất và xuất hiện tín dụng thương mại. Trong phương thức sản xuất hàng hoá, tín dụng thương mại là cho vay bằng hàng hoá, là thực hiện việc bán sản phẩm từngườicó hàng hoá,sảnphẩm sang người mua, trong số tiền phải hoàn trả lại bao gồmcảkhoản thù lao về việc sử dụng tưbản và sựrủiro có thể xảy ra trước khi đến kỳ hạn trả [1, tr.489]. Tín dụng thương mại ra đời và phát triển từ lưu thông hàng hoá giản đơn thông qua phạm trù mua bán chịu mà theo đó người mua phải viết giấy nhận nợ và cam kết trả tiền cho người bán sau một thời gian nhất địnhđược hai bên thỏa thuận. Giấy nhận nợ và cam kết trả nợ này được gọi là kỳ phiếu thương mại hay gọi chung là thương phiếu, với nội dung kinh tếcơ bản ở chỗ:
những người có kỳphiếu khi có nhu cầuvềtiền thông thường muốn thu tiềnvềtrước hạn ghi trên kỳ phiếu đó. Như một quy luật củanềnkinh tế thị trường và phản
23
ánh đúng quan hệ cung cầu, một tầng lớp người giàu có xuất hiện và sẵn sàng cho vay đối với người mua hàng để thanh toán cho người bán hàng, tức là có sự ra đời của tín dụng ngân hàng.
Tiền tệ rađờiđãđáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế,mởrộng các hoạt động giao lưu hàng hoá. Trên cơ sở này, các ngân hàng đã ra đời với nhiệmvụ chủyếulàđi vay và cho vay. Như vậy, “một mặt, ngân hàng là sự tập trung tư bản tiền tệ của nhữngngườicó tiền cho vay, mặtkhác, nó làsựtậptrung cácngườiđi vay” [1, tr.488]. Điều này vừa phản ánh thuộc tính cơ bản nhất của hoạt động ngân hàng, vừa phản ánh bản chất của ngân hàng với tư cách là một tổ chức trung gian tài chính.
Ngày nay, hệ thống NHTM là một bộ phận không tách rời và tồn tại tất yếu trong đời sống kinh tế xã hội. Trình độ phát triển hệ thống ngân hàng của một quốc gia phản ánh trìnhđộ phát triển kinh tế của nước đó. Các thông tin liên quan đến hoạt động ngân hàng là mối quan tâm hàngđầu của Chính phủ, của các doanh nghiệp và của tầng lớp dân cư. Hình thức sơ khai của NHTM xuất hiện từ trước khi có chủ nghĩa tư bản, cùng với thời gian, hình thức này ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng yêucầu ngày càng cao của xã hội và khách hàng.
NHTM đượcbiết đếnnhư làmộttrung gian tài chính, mộttổ chức kinh doanh tiền tệ. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, mọi hoạt động của ngân hàng đều có sự chỉ đạo thực hiện của Nhà nước, hệ thống ngân hàng tồn tại vàhoạt động dưới hình thức là hệ thống ngân hàng một cấp, trong đó Nhà nước vừa làcơ quan quản lý, vừa là cơ quan kinh doanh tiền tệ. Các NHTMhoạt độngtheochỉtiêu pháp lệnh do Nhànước đề ra, nên vị trí của các NHTM thường ở ngoài quy trình sản xuất và ít có tác động đến sản xuất. Tuy nhiên, sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của NHTM đã triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của các NHTM dẫn đến năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh không cao và việc Nhànước trực tiếp kinh doanh tiền tệ đã không bảo đảm được tính khách quan, làm sai lệnh định hướng kinh tế vĩ mô, đi ngược lại xu hướng của thời đại.
Ngaytừlúc mới rađời, ngân hàngđã tồn tạidưới hình thức ngân hàng kýthác (nhận tiền gửi) và không có sựphân biệt giữa ký thác ngắn hạn hay dài hạn.
24
Hoạt động của ngân hàng được xem là có tính chất tổng hợp, thực hiện mọi việc
như nhận tiền gửi, cho vay, góp vốn… Do vậy, mặc dù có những điểm khác nhau nhưng pháp luật của đa số các nước đều nhấn mạnh đến tính chất chung này. Chẳng hạn, ở Mỹ,NHTM được xem như là trung gian giữa các đơn vị thừa tiền (surplus spending units) và đơn vị thiếu tiền (deficit spending units). Pháp luật của Mỹ cũng quy định NHTM là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so vớibấtkỳ mộttổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế [24, tr.7]. Thổ Nhĩ Kỳ có quan niệm tương tự khi xác định NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn được thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác [12, tr.76]. Đạo luật ngân hàng của Pháp ngày 03/06/1942 cũng địnhnghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghềnghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác, những khoản tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, nghiệp vụ tín dụng hay nghiệp vụ tài chính”.Điều1 Luật vềngân hàng và hoạt động ngân hàngcủaLiên bang Nga năm 1990 quy định “Ngân hàng là
tổ chức kinh doanh, là một pháp nhân trên cơ sở giấy phép do Ngân hàng Trungương Nga cấp có quyền huy động tiền từ các pháp nhân, cá nhân và nhân danh mình cho vay số tiền này với điều kiện hoàn trả, có lãi, theo thời gian và có thể thực hiện những nghiệp vụ ngân hàng khác”. Pháp luật Liên bang Nga quy định một tổ chức tín dụng là ngân hàng khi nó thực hiện ít nhất hai nghiệp vụ ngân hàng: nhận tiền gửi và cấp tín dụng. Điều 1 Luật vềngành tín dụng Đức năm 1992 quyđịnh “Những tổ chức tín dụng là những doanh nghiệp thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng, nếu phạm vi hoạt động các nghiệp vụ này đòi hỏi phải có một cơ cấu tổ chức theo phương thức thương mại”.
Như vậy, có thể thấy hoạt động của NHTM bao gồmhai nghiệp vụquan trọng là nhận tiền gửi của công chúng và dùng nó vào việc cấp tín dụng nhằm mụcđích sinh lời. Vai trò trung gian củaNHTM thể hiện trên hai phương diện: trung gian giữa ngân hàng trung ương với công chúng và trung gian giữa người gửi tiền với người vay tiền.
25
Ở Việt Nam, trước năm 1990,chỉcó một ngân hàng duy nhất là NHNN. Thời kỳ này, NHNN vừa thực hiện chức năng phát hành tiền, quản lý nhà nước vềhoạt động ngân hàng (trong đócó tín dụng), vừa trực tiếp cho vayđối với các tổ chức kinh tế. Khi nước ta xoá bỏ cơ chế bao cấp để chuyển sang nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hộichủ nghĩa thì việc NHNN cho vay theo chỉtiêu, mệnh lệnh hành chính không còn phù hợp nữa. Do vậy, NHTM chỉ thực sựra đời và hoạt động kinh doanh một cách độc lập theo đúng nghĩa của nó vào đầu những năm 1990 khi Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xãtín dụng và công ty cho thuê tài chính được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 23/05/1990. Kể từ đó, mô hình tổ chức của hệ thống ngân hàng Việt Nam mới được
tổ chức thành hai cấp: NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, các NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụngân hàng.
Ngay sau khi Việt Nam mở cửa và 2 Pháp lệnh ngân hàng nêu trênđược Hộiđồng Nhà nước thông qua, các nhà đầu tư nước ngoài đã tìm hiểu cơ hội đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng để thành lập ngân hàng liên doanh hoặc mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam. Từđó các quy định của pháp luật về tổchức và hoạt động của NHTM có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dần dần định hình và từng bước được hoàn thiện. Đến năm 1997, Luật các TCTD được Quốc hội thông qua cho phép nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn thêm một hình thức đầu tư nữa là ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Luật các TCTD năm 2010 kế thừa quyđịnh nêu trên của Luật các TCTD năm 1997, theo đócho phép TCTD nước ngoàiđược thành lập NHTM hoạt động ở Việt Nam dưới hình thức ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Do vậy, loại hình NHTM do TCTDnước ngoài thành lập và hoạt động ở Việt Nam dưới hai hình thức: ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
Như vậy, NHTM là loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, xuất hiện ởViệt Nam cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế từ vận hành theo cơ chế kinh tếkế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, xoá bỏ độc quyền Nhà nước trong kinh doanh ngân hàng. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có
26
loại hình ngân hàng có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành và phát triển trên nền tảng tưtưởnglà mở cửa và hội nhập quốc tế. Do vậy, NHTM có vốn đầutưnước ngoài là loại hình NHTM (một tổ chức kinh doanh tiền tệ) cómộtphần hoặc toàn bộ vốn điều lệ thuộc sở hữu của TCTD nước ngoài, được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạtđộngkinh doanh khác có liên quan theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận.
2.1.2. Đặc điểm của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài NHTM có vốn đầutưnước ngoài là NHTMđược thành lập và hoạt động
theo quy định của pháp luật nước sở tại, có một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ thuộc sở hữu của ngân hàng nước ngoài. Sựhiện diện của ngân hàng nước ngoài ở mỗi quốc gia đóng góp nhiều nhân tố tích cực cho sự phát triển kinh tế của quốc gia đó. Xuất phát từ những hoàn cảnh kinh tế- xã hội của các nước khác nhau mà sựđiều chỉnh của pháp luật đối với các ngân hàng nước ngoài ở mỗi nước cũng khác nhau (sựra đời, hoạt động và phát triển của các ngân hàng nước ngoài ở mỗi quốc gia có
những tính đặc thù riêng biệt). Nhìn chung, NHTM có vốn đầu tưnước ngoài có một số đặc điểm nhưsau:
Thứ nhất, về hình thức pháp lý:Từnhững năm 1970, 1980mộtsố ngân hàng từcác nước phát triển nhưMỹvà Châu Âu bắt đầu mở rộng hoạt động ra quốc tếvới mục đích tăng lợi nhuận để trở thành những ngân hàng toàn cầu và cũng là đểphân tán rủi ro trong nước của họ. Đến những năm 1990 và sau cuộc khủng hoảng
tài chính ở Châu Á, hoạt động ngân hàngđược quốc tế hoá mạnh mẽ hơn để từđó đánh dấusựrađời vàphát triển của NHTM 100% vốn nước ngoài. Theo thời gian, sựhiện diện của các NHTM 100% vốn nước ngoài ngày càng gia tăng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Đông Âu. Đâylà kết quả của xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá tài chính và sự phát triển của nền kinh tế thế giới [24, tr.7].
Ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài lần đầutiên xuất hiện ở Châu Á vào những năm 1950. Ở Indonesia, ngân hàng liên doanh với nước ngoài được thành lập đầu tiên vào những năm 1953 là ngân hàng PT Bank Perdania. Trong thời kỳđầu những năm 1953 đến cuối những năm 1960 và những năm 1970, do mới giànhđượcđộclập, hệthống ngân hàng còn yếu kém,
27
nên Chính phủ Indonesia cho phép các ngân hàng nước ngoài vào hoạt động tại Indonesia dưới một hình thức duy nhất là ngân hàng liên doanh trên cơ sở cùng góp vốn liên doanh giữa các ngân hàng nước ngoài và NHTM trong nước với tỷ lệ vốn góp khá chênh lệch: NHTM Indonesia góp 20%, còn ngân hàng nước ngoài góp 80% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh. Trong giai đoạn này, Chính phủIndonesia áp dụng nhiều chính sách ưu đãi (miễn/giảm thuế, chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng, cải cách thủtụchành chính, cam kết không quốc hữu hóa .v.v..) nhằm khuyến khích sựhiện diện của các ngân hàng nước ngoài tại Indonesia, góp phần thu hút vốn nước ngoài tạo đòn bẩyphát triển kinh tếtrong nước. Từđầu những năm 1970 đến cuối những năm 1980 và đến nay, nền kinh tế Indonesia đãphát triển, các NHTM trong nước ngày càng phát triển về cả quy mô và chất lượng dịch vụ, đáp ứng được nhu cầu dịch vụ ngân hàng của nền kinh tế, nên Chính phủIndonesia thực hiện chính sách hạn chế thành lập các ngân hàng liên doanh. Ngược
lại với xu hướng “thu hẹp dần” của Indonesia, Chính phủTrung Quốc áp dụng chính sách “mở rộng dần” để thu hút ngân hàng nước ngoài vào hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc. Ngân hàng liên doanh với nước ngoài xuất hiện tại Trung Quốc cùng với công cuộc mở cửa và được đánh dấu bằng Bộ luật Đầu tư và Hợp tác giữa Trung Quốc và nước ngoài ngày 01/07/1979. Để khuyến khích các ngân hàng nước ngoài hoạtđộng tại Trung Quốc, ngaytừgiai đoạn đầu mới mở cửa, Chính phủ Trung Quốc đã cho phép các ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạtđộng dướinhiều hình thức khác nhau như: ngân hàng nước ngoài độc lập 100% vốn
nước ngoài; chi nhánh ngân hàng nước ngoài; ngân hàng liên doanh… Ngân hàng liên doanhvớinước ngoài được thành lập tại Trung Quốc là liên doanh giữa ngân hàng thương mại Trung Quốc có khả năng tài chính tốt với ngân hàng nước ngoài lớn, có uy tín trên thị trường quốc tế. Khác với Indonesia, Trung Quốc luôn đề cao vai trò NHTM nội địa trong ngân hàng liên doanh. Chính phủ Trung Quốc cho phép ngân hàng liên doanh được mở rộng dần mạng lưới và địa bàn hoạtđộng củamình tương ứng với sự phát triển của các NHTM trong nước và sự hoàn thiện của chính sách tiền tệ [5, tr.15-tr.17].
28
Ở Úc, việc ngân hàng nước ngoài hoạt động ngân hàng dưới hình thức công ty con 100%vốnnướcngoài, chi nhánh hoặc liên doanhvớimộtngân hàng trong nước tại quốc gia này phải cósựcho phép của RBA (theo Đạo luật Ngân hàng Úc). Ngân hàng nước ngoài có thể hoạtđộng ngân hàng ở Úc mà không cần cấp phép bởi RBA bằng cách thành lập một văn phòng đại diện. Cho đến nay,sựhiện diện của các ngân hàng nước ngoài ở Úc chủ yếu dưới hình thức công ty con 100% vốn từcác ngân hàng mẹ ở nước ngoài, điển hình như: HSBC Bank Australia, Bank of
Cyprus Australia Limited, Beirut Hellenic Bank và Citibank Australia …. Ngoài ra, có một số lượngnhỏ ngân hàngnước ngoài hoạt động tạiÚc dướihình thức chi nhánh [43].
Ở Hoa Kỳ, Năm 2007, các ngân hàng nước ngoài hoạt động thông qua các chi nhánh và các đại lý hoạt động thương mại quốc tế, chẳng hạn như cho vay liên ngân hàng, tài chính thương mại và cho vay doanh nghiệp cũng như hoạt động trong thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Các tổ chức ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Hoa Kỳdưới sáu hình thức chính: Văn phòng đại diện, đại lý, chi nhánh, công ty con 100% vốn nước ngoài, tổ chức được thành lập, hoạt động theo Luật Edge vàHiệp định ngân hàng quốc tế, các công ty cho vay thương mại [44].
Xuất phát từ chính sách và mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực ngân hàng, pháp luật nước ta quy định rõ tài sản hợp pháp của nhà đầu tưnước ngoài không bị quốc hữu hoá hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Nhànước Việt Nam cam kết và bảo đảm chuyển tài sản (vốn đầu tư ban đầu, lợi nhuận
được chia, lãi…) của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài sau khi đã thực hiện đầyđủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật. Với sựcam kết và bảo đảm của Nhà nước bằng quy định trongcác đạoluật, ngân hàng nước ngoài có cơ sở pháp lý để yên tâm và tin tưởng hơn về môi trường đầu tưởViệt Nam khi chuyển vốn vào Việt Nam đểđầu tư, thành lập ngân hàng thương mại. Kể từkhi mở cửa thu hútđầu nước ngoài vào lĩnh vực ngân hàng đếnnay, NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được thành lập và hoạt động dưới hai hình thức: ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
Ngân hàng liên doanh là NHTM được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp
29
của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồngliên doanh; làpháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Ngân hàng liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nhưng không quá 05 thành viên, trong đó một thành viên và người có liên quan không được sở hữu vượt quá 50% vốn điều lệ [13, Điều 2].
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài là NHTM được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của TCTD nước ngoài; là pháp nhân Việt Nam, cótrụ sở chính tại Việt Nam. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chủsở hữu là một ngân hàng nước ngoài hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu 50% vốn điều lệ [13, Điều 2].
Là pháp nhân Việt Nam, NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam phải hoạt động tuân thủquyđịnhcủapháp luật Việt Nam. Do vậy, về nguyên tắc, NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ như NHTM trong nước. Tuy nhiên, với điều kiện thực tếvà đặc thù của Việt Nam, pháp luật nước ta đã có những hạn chế nhất định đối với các NHTM có vốn đầu tư nước ngoàiở Việt Nam trong giaiđoạn đầu mở cửa, hộinhập và từng bước dỡbỏ những hạn chế đótheo lộ trình phù hợpvớicamkết quốc tế. Vềmặttổ chức, NHTM có vốnđầu tưnước ngoài ở Việt Nam chỉ được thành lập và tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này cho phép xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của nhà đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện đầu tư tại Việt Nam. Quy mô quyền hạn và trách nhiệm của nhà đầu tư nước ngoài trong việc điều hành, quản lý kinh doanh phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp trong NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Do có phần sở hữu tài sản của người nước ngoài, thường là các TCTD nước ngoài lớn (tập đoàn tài chính đa năng), nên các quyết định của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi ý chí của chủ sở hữu – các nhà đầu tưnước ngoài. Tỷlệ phần vốn góp của bên nước ngoài càng cao thì hoạt động của NHTM có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam chịu ảnh hưởng củacác yếu tố bên ngoài càng lớn. Cho nên, mục tiêu quản lý của Nhà nước Việt Nam đối với NHTM
30
có vốn đầu tưnước ngoài ở Việt Nam không chỉ phục vụ lợi ích của các nhà đầu tưnước ngoài mà còn mang lại lợi ích chính đáng cho Bên Việt Nam và Nhà nước Việt Nam.
Thứ hai, về phạm vi hoạt động: NHTM có vốn đầu tư nước ngoàiđược thực hiện các hoạtđộngngân hàng tươngtựnhư ngân hàng của nước sở tại, tùy theo chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực ngân hàng của mỗi quốc gia vàhệ thống pháp luật của quốc gia đó. Đối với một số hoạt động ngân hàng đòi hỏi cósựcho phép của Ngân hàng Trung ương thì NHTM có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy phép của Ngân hàng Trung ương để thực hiện hoạt động ngân hàng đó. Ngoài ra, pháp luật của mỗi quốc gia có thể đặt ra các hạn chế đối với hoạtđộng của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài.
Luật ngân hàng của Pháp năm 1984 quy định “Tổ chức tín dụng là pháp nhân thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng một cách thường xuyên và mang tính chất nghềnghiệp”. Các nghiệpvụ ngân hàng mà tổ chức tín dụng thực hiện bao gồm: nhận tiền gửi của các cá nhân và pháp nhân, cấp tín dụng và cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác mang tính bổ trợ cho các hoạtđộng ngân hàng nêu trên.
Điều 2 Luật các tổ chức tài chính và ngân hàng năm 1989 của Malaysia quyđịnh ngân hàng là mộtpháp nhân thực hiện hoạt động kinh doanh ngân hàng, bao gồm nhận tiền gửi, thanh toán, cung cấp tài chính .v.v..
Theo quyđịnhcủa pháp luật Hoa Kỳ, ngân hàng được phép của Chính phủliên bang hoặc Chính phủ bang đượcthực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh ngân hàng. Ngân hàng Mỹ thực hiện các hoạt động ngân hàng bán lẻ và ngân hàng thương mại, các hoạt động tài chính nhưng chủ yếu là nhận tiền gửi và cấp tín dụng [24, tr.12 – tr.16].
ChínhphủTrung Quốc và ChínhphủIndonesiađịnhhướng các ngân hàng liên doanh vào lĩnh vực mà nền kinh tế quốc dân đang cần và các NHTM trong nước chưa đủ điều kiệnthực hiện, đặc biệt là các hoạt động mang lại nhiều lợi ích kinh tế như hoạt động cấp tín dụng bằng ngoại tệ, thanh toán xuất – nhập khẩu, huy động vốn
ngoạitệgiárẻtừcácđịnhchếtài chínhnướcngoài…Tuy nhiên,chủtrương cho
31
phép thành lập các ngân hàng liên doanh, biện pháp quảnlý và sự điềuchỉnh các quyđịnh trong quá trình quản lý ở hai quốc gia này là khác nhau. Với mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, chiến lược phát triển kinh tế mở cửa hướng ngoại ngay sau khi giànhđược độc lập, Chính phủIndonesia đã áp dụng nhiều chính sách để khuyến khích các ngân hàng nước ngoài thànhlậpngân hàng liên doanh tại quốc gia này, như: không quy định vốn điều lệtốithiểu, cho phép ngân hàng nước ngoài được liên doanh với mọi loại hình ngân hàng tại Indonesia, ngân hàng liên doanh được chuyển 100% lợi
nhuận ra nước ngoài mà không phảichịu thuế…Mặcdù khuyến khích việc thành lập các ngân hàng liên doanh song Chính phủ Indonesia cũng có chính sách quản lý các ngân hàng liên doanh khá chặt chẽ, không quy địnhmức vốn điều lệ tối thiểunhưng yêu cầu ngân hàng liên doanh phải có mức vốn điềulệđủbù đắp rủiro; chỉ cho phép ngân hàng trong nước liên doanh với ngân hàng nước ngoài có quy mô lớn, có uy tín trên thế giới.Đểbảo đảmviệc quản lýtốtcác ngân hàng liên doanh, ChínhphủIndonesiachỉcho phép thành lập ngân hàng liên doanh tạithủđô Jakata nhằm tăng cường việc đáp ứng các dịch vụ ngân hàng cho các trung tâm kinh tế thương mại và định hướngngân hàng liên doanh vào các hoạtđộngđối ngoại, tăng cường các hoạt
động thanh toán xuất nhập khẩu, chuyển tiền….KhácvớiIndonesia, ChínhphủTrung Quốc quyđịnhmứcvốnđiềulệkhá cao cho các ngân hàng liên doanh (30 triệu USD), nên ngay sau khi được thành lập, các ngân hàng này có tiềm lực tài chính mạnhđểtham gia các hoạt động ngân hàng được phép. Các ngân hàng liên doanh ở Trung quốcđượctham gia hoạtđộngtrên các thịtrường liên ngân hàng,thịtrường hối đoái, các hoạt động chiết khấu và tái chiết khấu với Ngân hàng Trung ương Trung Quốc. Pháp luật Trung Quốc cũng có nhiều quy định chi tiết và chặt chẽ đối với các ngân hàng liên doanh như: phải ký quỹ dự trữ bắt buộc với một tỷ lệ nhất định trên số vốn huy động của mình; không được huy động vốn trong nước vượt quá 40% tổng số
vốn huy động .v.v…[5, tr.86 – tr.89].
Ở Việt Nam, NHTM có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác của NHTM. Những nghiệp vụ cụthể của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài được quy định trong Giấy phép hoạt động của từng Ngân hàng. Đối tượng khách hàng được cung cấp dịch vụ và giao dịch với
32
NHTM có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ là các khách hàng có trụ sở, hoạt động
tại Việt Nam mà còncả những khách hàng có trụ sở ở nước ngoài, hoạt động tại Việt Nam hoặc các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc NHTM có vốn đầu tưnước ngoài cung cấp dịch vụ và thực hiện hoạt động nghiệp vụ ở Việt Nam và ở nước ngoài phải phù hợp với các hoạt động nghiệp vụđược quyđịnh trong Giấy phép hoạt động (huyđộng vốn, cấp tín dụng, thanh
toán…) và phải tuân thủ quy định của pháp luật (như giớihạn cấptín dụng đối với một khách hàng và/hoặc người có liên quan, đối tượng cho vay bằng ngoại tệ, hoạt
động nghiệp vụ phải được đăng ký hoặc đượcchấp thuận của NHNN…).
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

