Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa

Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết củađềtài

Quần đảoHoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa), chiếm diện tích khoảng 15.000 km2 [21],từ kinh tuyến 1110 đến1130 Đông, từ vĩ tuyến 15045’đến 17015’Bắc [173], cách bờ đảo Hải Nam (Trung Quốc) 156 hải lý [21, tr.29], cách đảo Lý Sơn (Việt Nam) 123 hải lý [83]. Quần đảo có 32 đơn vịđịa lý đã được đặt tên, trong đó16 đảo (island), 6đá (reef) còn lại là bãi cạn, cồn cát, trong đócó một đảo mang tên Hoàng Sa (Pattle Island) (xem thêm Phụ lục 1).

Quần đảoTrường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) cách quần đảo Hoàng Savề phía Nam 350 hảilý [83], chiếm diện tích khoảngtừ 160.000 km2 đến 180.000 km2, trải rộng từ kinh tuyến 111030’ đến 117020’ Đông, từ vĩtuyến 6050’đến 120 Bắc [54, tr. 7]. Quầnđảo có ít nhất 137 đơnvị địalýđược đặttên, trong đócó mộtđảonhỏ gọi là Trường Sa, cách Phan Thiết (Việt Nam) 280 hải lý,đảo Hải Nam (Trung Quốc) 580 hải lý, đảoPalawan (Philippines) 310 hải lý, Đài Loan 900 hải lý [173] (xem thêm Phụ lục 1).

Hai quầnđảoHoàng Sa, Trường Sa cóvị trí chiếnlượcvề an ninh, quốc phòng, cùng với các vùng biển xung quanh chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú (xem thêmPhụ lục4) là một trong những yếu tố làm cho cuộc tranh chấp thêm quyết liệt. Hiện nay, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) đang yêu sách chủ quyền hoàn toàn đối với hai quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam; Brunei, Malaysia, Philippines có yêu sách một phần đốiquần đảo Trường Sa. Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm giữ. Trên quần đảo Trường Sa, Trung Quốc còn chiếm giữ 11đá,Đài Loan (Trung Quốc) đang chiếm giữ 01 đảo và 01 bãi đá, Malaysia chiếm 11 đá, Philippines chiếm 06 đảo và 5 đá, Việt Nam đang quản lý trên thựctế

1

06 đảo và 31 đá. Trừ Brunei, cácbên đềuthiết lập các căn cứ quân sự, di dân và củng cố các vị trí chiếm đóng (xem thêmPhụ lục2&3). Sức nóng của cuộc tranh chấp luôn tiềmẩn nguy cơ xungđột giữa các quốc gia có liên quan trong khu vực, đe dọa đến chủquyền quốc gia Việt Nam, cũng như an ninh khu vực và hòa bình thế giới.

Trong thế giới văn minh, quan hệ giữa các quốc gia không thể theo luật của kẻ mạnh, không thể dùng vũ lực áp đảo công lý. Pháp luật quốc tế là một trong những công cụ hữu hiệu nhất tạo ra sự bình đẳng thựcsựgiữa các quốc gia bất kể lớnhay nhỏ và duy trì trậttựthếgiới tốt nhất như Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định.

Cuộc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã trở thành tâm điểm chú ý của thế giới, kéo theo sự quan tâm nghiên cứu của một số nhà khoa học, nhưng những kếtquả nghiêncứuđó còn một sốmặtcầnphải được làm rõ thêm, mở rộng nghiên cứu thêm (như trình bày tại Chương 1 của Luận án).

Vì vậy, việc nghiêncứuđề tài “Phápluật quốctếvà việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa” là nhu cầu khoa học pháp lý,đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn cuộc tranh chấp đặt ra.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiêncứu

Về mục đích, việc nghiên cứu nhằm làm sâu sắc thêm một sốvấnđề lý luận pháp luật quốc tế về xác lập chủ quyền lãnh thổ và giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Trên nền tảng cơ sở pháp lýđểđánh giá luận cứ của các bên trong cuộc tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đề xuất một sốgiải pháp hợp thêmsứcmạnh đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Namđối với hai quần đảo bị nước ngoài tranh chấp.

Để đạt được mục đíchđề ra, các nhiệmvụ nghiên cứu được xác định như sau:

2

Thứ nhất, nghiên cứu hệ thống cơ sở pháp luật quốc tế về xác lậpchủquyền lãnh thổ liên quan đến luận cứ chủ quyền của các bên đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Thứ hai,đứng trên cơ sởpháp luật quốc tếđểđánh giá việc xác lập, thực thi chủquyền của Việt Nam, của các bên yêu sách chủquyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Thứ ba, vận dụng phương thức hòa bình giải quyết các tranh chấp trong luật quốc tếvào việcđấutranhbảovệchủquyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

3. Phạm vi nghiêncứu

Luận án nghiên cứu từ góc độ pháp luật quốc tế về vấn đề chủ quyền và giải pháp góp phần đấutranh bảo vệchủquyền củaViệt Nam trên hai quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa.Dưới gócđộcủa khoa học pháp lý,vấnđề được tiếp cận từ hai nhóm là luật nội dung và luật hình thức. Cụ thể:

Về luật nội dung, đó là cơ sở pháp luật quốc tế điều chỉnh hành vi tạo ra quyền và nghĩavụ của chủ thểtrong việc xác lập và thực thi chủ quyền lãnhthổquốc gia.Đâylà vấn đềrộng, bao gồmcác nguyên tắc, quy phạm pháp luật, học thuyết pháp lý chứa đựng trong các nguồn pháp luật khác nhau:

điều ước, tập quán, án lệ, học thuyết, nghị quyết của các tổ chức quốc tế, hành vi pháp lý của quốc gia. Trong khuôn khổ của luận án, tác giả xin được lựa chọn nghiên cứu những cơ sởpháp luật cơ bản và trực tiếp nhấtđiềuchỉnh vấn đề liên quan đến việc xác lập, thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa(đề cậptại Chương 2). Rút ra các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế về xác lập, thực thi chủ quyền lãnh thổ, kết hợpvới nguyên tắc luật đươngđại, thời điểmkết tinh tranh chấp để soi rọi vào hành vi thực tế của các bên trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Do góc độtiếpcậncủa đề tàitừkhoa học chuyên ngành pháp lý và phải giải quyết nhiều sự kiện mang tính lịch sử,

3

thuộc chuyên ngành khoa học lịch sử cho nên tác giả xin được lấy cơsở thực

tế thông qua kết quảnghiên cứu lịch sửđã công bố.Vì vậytrong nội dung luận án có căn cứ vào nhiều tài liệu được rút ra từ kết luận của các nhà sử họcđáng tin cậy (đề cập tại Chương 3).

Về luật hình thức, gồm các nguyên tắc, quy định của pháp luậtquốc tếđiều chỉnh về thủ tục, phương thức, cơ chế giải quyết tranh chấpquốc tếnói chung và trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ nói riêng. Nói cách khác,đólà cách thức làmthếnàođể biết ai đúng, ai sai. Trong khuôn khổ luận án này, tác giả nghiên cứu những đặc điểm cơ bản nhất về thủ tục, thẩm quyền của các thiết chế giải quyết tranh chấp, phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế có khả năng vận dụng trong thực tiễn cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo bị tranh chấp.Những đặcđiểmđó được thểhiện thông qua phân tích, so sánh những vấnđềliên quan đến lựa chọn giải pháp, những thuận lợi và hạn chế của từng giải pháp pháp lý cụ thể (đề cập tại Chương 4). Tác giả không có điều kiện nghiên cứu trọn vẹn hệ giải pháp hay kịchbảnhoàn chỉnh cho cuộcđấu tranh bảo vệ chủ quyền quần đảoHoàng Sa, Trường Sa mà chỉ giới hạn trong một số giải pháp về mặt pháp lý tiêu biểu nhất, bởi vì đây là vấn đề quốc gia, liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành khác: chính trị, quan hệ quốc tế, quốc phòng, kinh tế, khoa học công nghệ biển v.v… Tuy nhiên, tác giả có sơ lược nhận xét về sựphối hợptrong các giải pháp pháp lý và liên hệ đến các lĩnh vựcliên quan với ý nghĩa nhằm tạo điều kiện cho giải pháp đấu tranh pháp lý hiệu quả hơn.

Hiện nay cùng với tranh chấp về chủquyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, còn có tranh chấp các vùng biển và thềm lục địatrong khu vực Biển Đông. Tuy nhiên trong khuôn khổ luận án này, tác giả xinchỉđề cập vềnhữngvấnđềcó liên quan đến chủquyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa,

4

không nghiên cứu về tranh chấp các vùng biển, thềm lụcđịa vàcác giải pháp về phân định biển.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận ánsửdụng các phương pháp duyvậtbiện chứng, các đánh giá đều tôn trọng sự thật khách quan, quan điểm đánh giá có tính toàn diện và lịch sử. Bên cạnh đó có sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánhđể làm rõ những nội dung mà nhiệm vụ nghiên cứu của luận án đặt ra.

Đặc biệt, do những sự kiện diễn ra trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trải dài theo các thời kỳlịch sử,cho nên luận ánsử dụng phương pháp tiếp cận lịch sử, nghiên cứu pháp luật quốc tế trong tiến trình lịch sử phát triển của nó (xác lập bằng vũ lực, chuyển nhượng, chiếm hữu thật sự). Từ đó xác định những quy phạmlạchậu, những tiêu chuẩn pháp luật đang có hiệu lựctheo nguyên tắc luật đươngđại (intertemporal law) làm sángtỏhiệu lựcpháp lý của hành vi chủ quyền lãnh thổ; đồng thời xác định thời điểmkếttinh tranh chấp (critical date) để nhìn nhận tính hợp pháp hay bất hợp pháp của các bên tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trước thờiđiểmtranh chấp kết tinh, sau thời điểmnày, mọi hành vi củngcố vị trí chiếm đóng không mang

lại danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ.

Thêm nữa, luận án sử dụng phương pháp phân tích pháp lý. Các sự kiện lịch sử, hành vi đơn phương của cácbên, đặc biệt đối với cơ sở luận cứvề danh nghĩa lịch sử được phân tích, đánh giá theo các yếu tố cấu thành của quanhệpháp luật(đốitượng, chủ thể, hành vi, cách thức chiếm hữu),đồng thời quy chiếu theo tiêu chuẩn khác của pháp luật (như estoppel, luật đương đại, thời điểm kếttinh tranh chấp, kế thừa lãnh thổ). Bằng phương pháp này,đã làm rõbảnchất pháp lý, tính hợp phápđốivớicác hành vi chủ quyền lãnh thổcủaViệt Nam, tính bất hợp pháp củacác yêu sách của nước khác trong việc tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa (được đề cập ở tiểu mục 3.1.2.1 hoặc 3.5.1 của Chương 3).

5

Luận án cũngsử dụng phương pháp so sánh và phản biện pháp lý. Luận cứ, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia được so sánh với nhau vàđược đối chiếu với tiêu chuẩn, các cơ sở pháp lý khác nhau. Không chỉ dừng lạiở so sánh luận cứ của bên nào vững chắc, tin cậy hơn, mà ngay cả khẳngđịnhluận cứ củaViệt Nam là thuyết phục thì luận ánvẫnđánh giámộtsốđiểmcầnphải được củngcố (được đềcậptại trang 103-104 và phần kiến nghị). Phương pháp này đưa ra cách tiếp cận đa chiều làm sâu sắc thêm những nội dung nghiên cứu đặt ra.

5. Đóng góp của luận án:

Luận án tập hợp đầy đủhơn những luận điểm, giải thích chính thức của các bên yêu sách chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Luận án hệ thống khá toàn diện cơ sở pháp lý, luận giải sâu sắc thêm tiêu chuẩn của nguyên tắc chiếmhữuthật sự,một trong những nguyên tắc quan trọng trong luậncứ chủquyền của Việt Namđối với quần đảoHoàng Sa, Trường Sa; nghiên cứubổ sunghệ cơ sở pháp lýđiều chỉnh vấnđề xác

lập chủ quyền lãnh thổ, như luật đương đại (intertemporal law), thờiđiểm kết tinh tranh chấp (critical date), kế thừa quốc gia, danh nghĩa xuất phát từ tính kề cận địa lý, nguyêntắckéo dài tự nhiên củathềm lục địa.

Luận án trình bày vấn đề dưới góc nhìn mới, đó là không phân tích các luận cứ danh nghĩa lịchsửvà chứng minh bằng cácsựkiện theo trình tự thời gian nhưmột sốnghiên cứu trước, mà phân tích theo các yếu tốcấuthành của quan hệ pháp luật (đối tượng, chủ thể, hành vi, cách thức xác lập chủ quyền);đồng thời đánh giá luận cứ của các bêndưới đa dạng hệ cơ sở pháp lý khác nhau.Từ đó gópphần khẳng định sâu sắc tính hợp pháp chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bác bỏ yêu sách phi lý của nướckhác.

6

Kếtquả nghiên cứu khẳng định bằng chứng pháp lý của Việt Nam vững chắc nhất so với bằng chứng không tin cậy của các bên yêu sách, nhưng cần thiết phải tiếptục được củng cố, giảiquyết một số tồn tại về mặtpháp lý dựa trên các cơ sở khoa học lịch sử, địa lý, địa chất. Đây cũng là điểm tiếp cận của luận án mà một số nghiên cứu đã công bố trước đây chưa thực sự quan tâm.

Luận án cố gắng phân chia một bước luận cứ xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa.

Luận án đềxuất các giải pháp tiêu biểu về mặt pháp lý và tương đối cụ thể, góp phần vào cuộcđấutranhbảovệchủquyền quầnđảoHoàng Sa, Trường Sa. Ngoài ra còn liên hệ với một số vấn đề khác như quan hệ quốc tế, kinhtế,quốc phòng vớiýnghĩahỗ trợcác giải pháp pháp lý vàtạonên một mặt trận đấu tranh có hiệu quả cao.

Kếtquả nghiên cứu góp phần tuyên truyền, vận dụng vào thực tiễn của cuộc đấu tranhbảovệ chủ quyền của Việt Nam trên quầnđảoHoàng Sa, Trường Sa và góp một phần hữu ích trong việc giảng dạy luật quốc tế.

6. Kết cấu của luận án:

Ngoài phần mở đầu,kếtluận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận ánđược kết cấuvới 4 chương.

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứuvấn đề quần đảoHoàng Sa, Trường Sa.

Chương này đánh giá cơ bản nhữngđiểm đã đạt được và điểmcần làm rõ thêm các kết quả của nghiên cứu trong và ngoàinước về vấnđề chủ quyền và việc giải quyết tranh chấp chủ quyền hai quần đảoHoàng Sa, Trường Sađể từ đóđề ra phương hướng nghiên cứu của luận án.

Chương 2. Pháp luật quốctế vềxác lậpchủ quyền lãnhthổliên quan đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa
Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa

Nội dung Chương 2 nghiên cứu tổng quan cơ sở pháp luật quốc tếvề xác lập chủquyền lãnhthổtrong phạm vi liên quan đếnvấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Kết quả nghiên cứu của Chương 2 làm cơ sởpháp lý trong việc đánh giá luậncứcủacác bên trong cuộc tranh chấp chủ quyền hai quần đảo này.

Chương 3.Luận cứ củacác bên yêu sách và chủ quyềncủaViệt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ góc độ pháp luật quốctế.

Nội dung Chương 3 tổng hợp, phân tích quan điểm, luận cứ chính thức của các bên tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đánh giá trên cơsởpháp luật quốc tế. Khẳng định tínhhợppháp chủquyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bác bỏ yêu sách của các nước khác. Trên cơ sở nghiên cứu, đối chiếu với pháp luật đương đại, chỉ ramột sốkhiếm khuyết trong kết quả nghiên cứu tư liệu làm bằng chứng của Việt Nam hiện có, từ đó kiến nghị một số việc cần làm để khắc phục.

Chương 4. Mộtsố giảipháp góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Trên cơsởso sánh, đánh giá vai trò,đặcđiểmcác phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế,vấn đềbảo lưu thủ tục giải quyết tranh chấp, tác giả đề xuất giải pháp về pháp lý và một số kiến nghị góp phần thiết thực vào công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

8

Chương 1

TỔNG QUANVỀTÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤNĐỀQUẦN ĐẢO

HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

Những năm gần đây,số lượngbài viết vềcuộc tranh chấp Biển Đông côngbốngày càng nhiều trên các sách báo và các trang mạng internet (như nghiencuubiendong.vn, biengioilanhtho.gov.vn, biendong.net, hoangsa.org, hoangsa.danang.gov.vn). Đặc biệt, sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan Haiyang 981 trái phép trên vùng đặc quyền kinhtế,thềmlụcđịa củaViệt Nam,bồi lấp đá GạcMa, Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Huy Gơ thì nhiều diễnđànkhoa học, cuộc hội thảo quốctếdiễn ra rộng khắp trong và ngoài nước, công bố những quanđiểm rấtphong phú về vấn đề Biển Đông, trong đó có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cho đến nay số lượng bài, sách viết về các vấn đề trên Biển Đông rất lớn về số lượng và phong phú vềquan điểm. Dưới đây xinđược chắtlọcmột số bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất liên quan đến đề tài nghiên cứu.

1.1. Tình hình nghiên cứu vấn đềquầnđảoHoàng Sa, Trường Sa trong và ngoàinước

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoàinước

1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu vấnđềquần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

1.2.1. Đốivớicác nghiêncứuvề chủ quyền

16

1.2.2. Đốivớicác nghiêncứuvề giảipháp giải quyết tranh chấp

1.3. Phương hướng nghiên cứu vấn đề quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hiện nay

Trước pháp luật,mộthành vi chỉ có thểlà hợppháp hoặc phi pháp, nhưng thực tế sự giải thích của mỗi bên trong cuộc tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lại khác nhau, đối lập nhau dẫn đến tồn tại những tranh cãi pháp lý dai dẳng. Ai đúng, ai sai và giải quyết như thế nào cho công bằng phảidựatrên cơ sở của pháp luật. Thực trạng trên cần triển khai vấn đềnghiên cứu như sau:

Trước hết, nghiên cứu hệ cơ sở pháp luật quốc tế về chủ quyền lãnh thổ liên quan đếnvấn đềquần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cụ thể như:

Cácđiều ước quốc tế điều chỉnhphương thức, nội dung xác lập và thực thi chủ quyền của quốc gia. Ví dụ: Hiến chương của Liên hợp quốc, Công ước củaLiên hợp quốcvềluật biển. Các điều ước quốc tếđa phương hoặc song

20

phương trực tiếp liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nhưHòa ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre) 1884 giữa Pháp và triều đìnhHuếchứađựng quy định về sựbảo hộ của Pháp, Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946 về việc công nhậnchủquyền của Việt Nam, Hiệpđịnh Geneva 1954 phân

chia giới tuyến quânsựvà quản lý tạmthời hai miền Nam–Bắcliên quan đến trách nhiệm quản lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Các tập quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật liênquan đến vấn đềxác lập chủ quyền lãnh thổ, trong đó hạt nhân là nguyên tắc chiếm hữu thật sự có giá trịkhẳng địnhdanh nghĩa chủ quyền lịch sử.Đồngthời nghiên cứu những vấn đề khác liên quan đến thực thi chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đó là:

vấn đề kế thừaquốc gia, tính liên tục chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa;vấnđề chưhầumà Trung Quốc biện luận đểphản bác chủquyền của Việt Nam; học thuyết estoppel; nguyên tắc về sự kéo dài tự nhiên của thềm lục địa haymộtsốluận điểmcủa Philippinesvềcấu trúc các bãi ngầm thuộc lãnh thổ quốc gia có thềm lục địa; giá trị của những tấm bản đồ mà Trung Quốc dẫn chiếu.

Các bản án của tòa án, quyếtđịnh củatrọng tài quốc tếchứa đựng những nội dung làm sáng tỏ nhữngvấn đềpháp lý về chủ quyền trên hai quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa, chẳng hạn như vụ đảoPalmas,đảoMinquiers và Ecre’hous, Thềm lục địa Biển Bắc, Eo biển Corfu.

Các nghị quyết của tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế. Ví dụ nghị quyết của Đại Hội đồng Liên hợp quốc, Hội luật gia quốc tế.

Hành vi pháp lý đơnphương của quốc gia và pháp luật quốc gia liên quanđến các hoạt độngthực thi chủ quyềnquần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như trách nhiệm của các quốc gia có liên quan. Ví dụ tuyên bố tại Hội nghị San Fransisco 1951 của Thủ tướng Trần Văn Hữu, các sách trắng, tuyên bố ngoại giao và các hoạt động thực tiễn khác của các bên.

21

Các luận án, sách, báo, tạp chí pháp luật quốc tế chứa đựng những luận điểmcủa các chuyên gia pháp lý hàng đầu trong lĩnh vực luật quốc tế trong vàngoài nước,điển hình như các công trình củaTiến sỹNguyễn Bá Diến, Nguyễn Hồng Thao, Lê Thành Khê, Hoàng Trọng Lập, Trần Công Trục, Monique Chemillier Gendreau, Christopher C. Joyner, Mark J. Valencia, Dale L. Bennett, Marwyn S. Samuels và nhiều nhà khoa học luật quốc tế khác.

Tiếp theo,từnhững cơ sở pháp luật quốctế,chiếu rọi vào các tư liệu lịch sử, các hành vi thực tế của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; các hoạt độngcủa các bên tranh chấp; so sánh, phân tích, đánh giáđể khẳngđịnh chủ quyền hợp pháp của Việt Nam và bác bỏ yêu sách chủ quyền phi lý của các nước khác.

Đối với vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thìdữ liệu lịchsử hếtsức quan trọng, là cơsở thựctếđể khẳng định chủ quyền của Việt Nam. Số lượng tài liệu lịch sử khá nhiều, thể hiện trong các văn bản chính sử như Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Nhất Thống Chí, Châu bản triều Nguyễn, kể cả trong các tài liệu tin cậy của các cá nhân đương thời biên soạn như Phủ Biên Tạp Lục, Lịch triều Hiến chương Loại chí; một số tài liệu nước ngoài có liên quan, chẳng hạn: The modern part of an Universal History, London (1759), An historical account of the Embassy to the Emperor of China”, London (1797), An NamĐạiQuốc HọaĐồ củagiám mục Taberd (1838), một số tài liệu của nhà nước Trung Quốc đương thời, các bản đồ của nhà Minh, Thanh. Các dữ liệu lịch sử được đánh giá bằng pháp luật quốc tế, chuyển hóa các tư liệu lịch sử dưới dạng luận cứ pháp lý để nâng cao giá trị chứng minh.

Điềuquan trọng nữa,cầntập hợpđầyđủ những luậncứ,giải thích chính thức của Trung Quốc và các nước khác về cơ sở yêu sách chủ quyền đối với quần đảo tranh chấp,từ đóquy chiếu trong các nguyên tắc, quy phạm của

22

pháp luật quốc tế, chỉ rõ những điểm phi lý. Chẳng hạn luận điểm của Trung Quốc rằng danh nghĩa phát hiện trước tiên về quần đảo Tây Sa và Nam Sa có đáp ứngtiêu chuẩncủanguyên tắc luật đươngđạihay không; hay các hoạtđộng khảo sát, đo đạc,tuần tra mà Trung Quốc viện dẫn liệu có phản ánh ý chí và mục đích xác lập chủquyền lãnh thổ; luận điểmcủa Philippines, Malaysia, Brunei đốivới quần đảo TrườngSa dựa trên tính kề cận địa lý, xác lập các vùng biển và thềm lục địa theo Công ước luật biển hoặc kế thừa từ cácđiều ước quốc tếcó cơ sở pháp lý xác đáng hay không.

Cuối cùng, từ các phương thức hòa bình giải quyết các tranh chấp trong luật quốc tế, vận dụng vào trường hợp tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đề xuất một số giải pháp phù hợp với tình hình và điều kiện của Việt Nam góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Trong cuộcđấu tranh bảo vệ chủquyền trên hai quần đảoHoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam có nhiều lựa chọn các cách thức giải quyết tranh chấp quốc tếđãđược quyđịnh trong Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước luật biển, Hiến chương ASEAN, cáchiệp địnhsong phương khác. Mỗi giải pháp, xét trong điều kiện Việt Nam, thực trạng cuộc tranh chấp có ưu thế và hạn chế riêng. Do tính phức tạp của cuộc tranh chấp đa phương, động cơ quyết liệt của các bên tranh chấp nên thật khó để có giải pháp duy nhất nào giải quyếtđược vấn đề quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Song, dù khó khăn bao nhiêu thì việc vận dụng pháp luật quốc tế để đấu tranh bảo vệ chủ quyền trong điều kiện của Việt Namđápứng yêu cầutrước mắt, cũng như lâu dài là yêu cầuthực tiễn hiện nay.

1.4. Kết luậnvềchương 1

Việc nghiêncứuvấnđề chủ quyền quần đảoHoàng Sa, Trường Sađược quan tâm cả trong và ngoài nước. Nhìn chung các công trình nghiên cứu

23

của Việt Nam và một số nhà luật học nước ngoài đãgóp phần làm sángtỏnhững khía cạnh pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Namđối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu ở Việt Namdướigócđộkhoa học pháp lý về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không nhiều so với việc nghiên cứu của Trung Quốc, chỉ có 02 luận án chuyên ngành luật họcchọn đối tượngriêng vềchủquyền quần đảoHoàng Sa, Trường Sa (Vụ các quầnđảo Hoàng sa và Trường Satrướcluật quốctếcủaLê Thành Khê thực hiện năm

1971 và Tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa và luật pháp quốc tếcủaHoàng Trọng Lập thực hiện năm 1996). Cònlạiđasốnghiêncứu vấnđềBiển Đông nói chung. Một số nghiên cứu của tác giả nước ngoài hoài nghi vềchủ quyềncủaViệt Namđốivới quần đảoHoàng Sa, Trường Sa. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung, củng cố, làm vững chắc thêm luận cứ pháp lý chủquyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và xóa tan mọi hoài nghi không đáng cóvềvấnđềnày. Ngoài racầnkhông ngừng tậphợpthêm, làm đầy đủ những luận cứ chính thức của các nước yêu sách, quy chiếu trong các nguyên tắc, quy phạm của pháp luật quốc tế và bác bỏ yêu sách phi lý đó.

Phương hướng triển khai nghiên cứu tiếp theo bao gồm những nội dung sau:

1) Nghiên cứu hệ cơ sở pháp luậtquốc tếliên quan đến vấn đề xác lập và thực thi chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đó là các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc pháp luật, bản án, quyết định của tòa án và trọng tài quốc tế, nghị quyếtcủa tổ chứcquốc tế và hội nghị quốc tế, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia và pháp luật quốc gia, luận án, sách, báo,

tạpchí pháp luật quốc tế chứa đựng những luận điểm pháp lý của các chuyên gia trong lĩnh vực luật quốc tế trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

24

2) Từ hệ thống cơ sở pháp luật quốc tế đã nêu, quy chiếu vào các hành vi thựctếcủanhànướcViệt Nam trong việc xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; làm sáng tỏ các luậncứcủa các bên để khẳng định sâu sắc thêm chủ quyền chính nghĩa của Việt Nam và bác bỏ yêu sách phi lý củacácnước tranh chấp chủ quyền hai quần đảocủaViệt Nam.

3) Vận dụng các phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp trong luật quốc tế để đề xuất giải pháp góp phần đấutranh bảo vệ chủquyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa phù hợp với pháp luật quốc tế.

25

Chương 2

PHÁP LUẬTQUỐC TẾVỀ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔLIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

Xác lập chủ quyền lãnh thổ quốc gia là việc quốc gia chiếm hữu, thiết lậpvà thực thi chủ quyền trên một vùng không gian địa lý, mở rộng ranh giới

địa lý lãnh thổ của mình theo những phương thức nhất định phù hợp với pháp luật quốctế.Luật quốc tế điều chỉnh hành vi xác lập chủ quyền lãnh thổ quốc gia bao gồm hệ thống các nguyên tắc, quy phạm được thể hiện dưới dạng điều ước quốc tế, tậpquán quốc tếlà chủ yếu, ngoài rađược bổtrợbằng các phương tiện pháp lý khác như các án lệ, học thuyết pháp lý, nghị quyếtcủa tổ chứcquốc tếhay hội nghị quốc tế, thông qua hành vi pháp lý đơn phương vàpháp luật củaquốc gia có liên quan đến việc chiếm hữu, thực thi chủquyền của quốc gia trên vùng lãnh thổ nhấtđịnh.

Việc phân chia cơ sở pháp luật quốc tế dựa trên các hình thức thể hiện của pháp luật ở đây mang tính tương đối vì thựctếtrong quá trình phát triển, các hình thức chuyển hóa cho nhau, mộtsốnộidung tập quán, học thuyết pháp lýđã được cácchủ thểthừa nhận trong văn bản điều ước, được tổ chức quốc tế ghi nhận thành nghị quyết, chẳng hạnnhư vấn đề luật đươngđại, nguyêntắccấm sựdụng vũ lực. Như đã nêu trong phần phạm vi nghiên cứu, do hệ thống cơ sở pháp luật về chủ quyền lãnh thổ khá rộng, trong khuôn khổ của luận án, tác giả xin được lựa chọn nghiên cứu những vấn đề cơ bản, trực tiếp nhất điều chỉnh việc xác lập và thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cụ thể là:

2.1.Điềuướcquốctế

Điềuước quốc tếnói chung chỉ có hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết hoặc gia nhập. Khi gia nhập điềuước quốc tế, trừnội dung bảo lưu, quốc

26

gia chấp nhận sự ràng buộc đối với các nội dung còn lại, baogồmcác nguyên tắc, các quy định của điều ước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp giátrị của

điều ước vượt ra khỏi phạm vi các thành viên, được cácchủ thểkhác coi như khuônmẫuứng xử trong quan hệ quốc tế, đặc biệt đối với điều ước nhiều bên, có tính khu vực hoặc toàn cầu.

Trong số những điều ước quốc tế có ý nghĩa quantrọng đốivới vấn đềchủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có Hiến chương liên hợp quốc (1945), Côngước của Liên hợp quốc vềluật biển (1982), Côngước Viên (1978) về kếthừa quốc gia. Mộtsố điều ước liên quan trực tiếpđếnchủ quyền quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa như Hiệpước Paris (1898) giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha, Hiệp ước Patenôtre (1884) giữa Việt Namvà Pháp, Hiệp định Geneva (1954) về giải quyết chiến tranh Đông Dương.

Công ước 1982 của Liên hợp quốc về luật biển (gọi tắt là Công ước luật biển) là một điềuước quốctếđa phương mà các quốc gia tranh chấp chủ quyền quần đảoHoàng Sa, Trường Sa đềulà thành viên [180], có nhiều nội dung liên quan đếnvấn đề chủ quyền quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa đáng chú ý là:

Thứ nhất, Côngước luật biển quyđịnhmột sốđặc quyền đối với các quốc gia ven biển. Đó là quyền mở rộng chủ quyền, quyền chủ quyền ra vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụcđịa.Tuy nhiên, các quyền này của quốc gia hoàn toàn không được xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ đã được xác lập bởi nước khác. Ví dụ việc hoạch định ranh giới lãnh hảigiữa các quốc gia không đượcáp dụng trong trườnghợptồntại những danh nghĩa lịch sử [69, Điều 15].

Thứ hai, Công ước luật biển đưa ra các khái niệm“thềm lục địa”, “đảo” và quy định chế độ pháp lý đối với đảo.

27

Khái niệm thềmlụcđịatrong Côngướcluật biển nêu rõ các bộ phận cấuthành của nó gồm “đáy biển” và “lòng đất dưới đáy biển” bên ngoài lãnh hảicủa quốc gia, nằm trên“toàn bộ phầnkéo dài tự nhiên” của lãnhthổ đất liền ra biển. Tức là vùng đất không phải là phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền thì không đápứngtiêu chuẩn pháp lýđốivới thềm lục địa,không thuộc về thềm lục địa.

Khái niệm đảo [69, Điều 121] được diễn giải gồm 3yếu tốcầnvà đủ:

vùng đất tựnhiên, có nước bao bọc và ở trên mặtnước khi thủy triều lên. Trước hết,đảophảiđược hiểu là một vùngđất tựnhiên, cócấutrúcgắntự nhiênvớiđáy biển, không chịu tác động của yếu tố còn người. Nghĩa là loại trừ công trình nhân tạo. Đảo phải có nước bao bọc và luôn cao hơn mặtnước khi thủy triều lên.Mứcnước thủy triều lên là tiêu chuẩnđể đánh giá chiều cao, phần nổi lên củađảo.Nếukhông đạt được tiêu chuẩn này thì không được coi là đảo.Tiêu chuẩn thủy triều lên theo diễn đạt của Điều121 phải hiểu rằng trong bất kểmùa nào, vùngđất tự nhiên có nước bao bọc phải ở trên mứcthủy triều cao nhất mới được coilà đảo.

Khi hộitụđủ3yếutốnêu trên,đồng thời đápứngđược điềukiện “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” thì đảo được hưởng quy chế đầy đủ, đốixử ngang bằng như lãnh thổ đất liền, tức làcó lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùngđặc quyền kinhtế và thềmlụcđịa; và nếu khôngđáp ứng được điều kiện nàythì đảo không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềmlụcđịa[69, Điều121]. Vấn đềở đâylà tiêu chuẩncụ thểđể xácđịnh“thích hợp cho con người đến ở” và “cho một đờisống kinh tếriêng” như thế nào. Do điều luật không quyđịnh cụ thểcác tiêu chuẩn này nênđãgây ra nhiều cách hiểu chưa thống nhất. Điều kiện thích hợp cho con ngườiđến ở ápdụng cho quá khứ, hiện tại hay trong tương lai. Điều kiện thích hợp cho một đời sống kinh tế riêng là đời sống kinh tế của chính đảo đó hay bao

28

gồm các vùng tài nguyên bao quanh. Với hỗ trợ của giao thông hàng hải, hàng không và khoa học kỹ thuật ngày nay, người ta có đủ khả năng đáp ứng nhu cầusinh sống tiện nghi cho con người tại bấtcứhòn đảo nào thì có được coi là đáp ứngtiêu chuẩn thích hợp cho con người đến ởhay không. TiếnsỹYann Huei Song cho rằng các đảo như Phú Lâm, Thị Tứ, Ba Bình, Hoa Lau, Trường Sa có quân đội, dân thường sinh sống, có đường bay, bưu điện, trạm xá (…) được coi là thích hợp cho con người đến ở nên có quyền có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa [126]. Vandyke cho rằng phải xem xétcảmối quan hệ với tài nguyên xung quanh đảo và có một lượng người sinh sống ổn định, chẳng hạn 50 người là đủ số lượng thích hợp [62, tr.44-46]. Nhưng tiến sỹ Nguyễn Bá Diến và Mark Valencia quan điểm điều kiện về “đời sống kinh tế riêng” phải do tự bản thân đảo đó [44, tr.206] và “người đến ở” phải là dân cư chứ không phải quân đội và những người gác hải đăng [75, tr.34].Từ đó suy ra về nguyên gốclịch sử, địalý, khi chưa có sự can thiệp gia cố của các quốc gia, các đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa không thích hợp cho con người đến ở nên chỉ có vùng nước nội thủy, lãnh hải 12 hải lý, không có vùngđặc quyền kinh tếvà thềm lục địa[42, tr. 161].

Ngày nay, một số đảo,đá thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được các quốc gia củng cố,mở mang kết cấu hạ tầng và hỗ trợ các dịchvụ nhằm

tạolậpcộngđồngdân cư sinh sống lâu dài.Đâylà vấn đề thách thức trong giải thích và áp dụng những quy định của Công ước luật biển. Tác giả đồng ý với cách giải thíchđiềukiện “thích hợp cho con người đến ở” hoặc “cho một đời sống kinh tếriêng” phải xuất phát từchính bản thân hònđảo,tức phải xuất phát từ yếu tố tự nhiên đã ban phát cho chính hòn đảo, đời sống của cộng đồng dân cư chủyếu dựatrên những nguồn lợi tự nhiên từ hònđảo và đáp ứngmục đíchtạodựng một xã hội ổnđịnh,lâu dài trên đảo.Vậndụng vào cácđảo thuộcquần đảoHoàng Sa, Trường Sa, nơi có điều kiện tự nhiên khắc

29

nghiệt, các công trình dân sinh và đời sống trên đảo nhận được sự hỗ trợ chủ yếu từ đất liềncho nên không được coi có điều kiện thích hợp cho con ngườiđến ở hoặc cho một đời sống kinh tếriêng theo nguyên nghĩa củaĐiều 121 Công ước luật biển. Các đảo đó không được hưởng quy chế đầy đủcủa đảo, không có vùng đặc quyền kinh tếvà thềmlụcđịa.Nếu công nhận một đời sống kinh tế và cácđiềukiện nhân tạo, không dựa trên điềukiện tựnhiên vốn cócủa đảo đó thì sẽ dẫn đếntình trạng các quốc gia đua nhau tạo ra các công trình nhân tạo, hỗ trợ đời sống trên đảo nhằm hợp thức hóa điều kiện đểmởrộng lãnh thổ ra các vùng biển và thềm lục địa của đảo, hiện thực tham vọng xâm chiếm các vùng biển rộng lớnxung quanh là không đúng với quyđịnh của Công ước luật biển.

Thứ ba, Công ước luật biểnđưara khái niệm“quần đảo”,đólà một tổng thể các đảo,kểcả các bộ phận của cácđảo,các vùng nước tiếp liền vàcác thành phầntự nhiên khác có liên quan với nhau đếnmức“tạothànhvề

thực chất một thể thống nhấtvề địa lý, kinh tế và chính trị”,hayđược“coi như thế về mặtlịch sử”[69,Điều46].Điều luật không giải thíchcụ thể thế nào là “đến mức” mối liên kết củacác cấu trúc địa lý tự nhiên tạo thành quầnđảo mà quy định có tính định tính. Đó là tính thống nhất và phụ thuộc của tất cả các bộphận cấu tạo nên quần đảo trên cácmặtđịalý, kinh tế,chính trị hoặcsựtồntại củadanh nghĩa lịch sử. Có quan điểmnêu ra một khái niệm mới đó làphải coi quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là “vùng đảo” [44, tr.346- 347].Vềvấn đề này, tácgiảthấy rằng xét về lịchsử,thực tếchiếm hữu vàthực thi chủ quyền của các nhà nước Việt Nam từthếkỷ XVII chođếnngày nay trên haiquần đảo đã được định danhlà quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, phải coi đó là “danh nghĩa lịch sử”. Các công trình nghiên cứu, các trích dẫn của các học giả trong và ngoài nước, các phát biểu của các nhà chính trị, văn bản pháp luật quốc gia đềuđịnhdanh là “quần đảo” Hoàng Sa, Trường Sa. Vì

30

vậy, về phương diện pháp lý, định danh quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hoàn toàn phùhợpvớikhái niệmđược nêu trongĐiều 46 Công ướcluật biển “được coinhư thế về mặt lịch sử”. Tuy nhiên,về mặtkhoa họctựnhiên, cho đến nay chưa thấy công bố dữ liệu nào dựa trên việc khảo sát kỹ lưỡng địa lý,địachất quần đảo Trường Sa, chưa có thông tin chính xác về mối liênhệ tự nhiên giữa các đảo,đá,bãi ngầm hợp thành quần đảođể xácđịnhtrên thực địa phạm vicủa quần đảonày.

2.2. Tập quánquốc tế

Tập quán quốc tế được hình thành trong thực tiễn, là kết quả củacác hành vi ổn định, lặp đi lặplạivà được các chủ thể luật quốc tế thừa nhận làluật [119, tr. 28]. Có những tập quán ra đời, tồn tại và chấm dứt trong một giai đoạnnhấtđịnh và tậpquánvề xác lậpchủ quyền lãnh thổ quốc gia cũng có đặc điểm như vậy, cho nên hành vi xác lập chủ quyền lãnh thổ quốc giacầnđược xem xétkếthợp với thời điểm lịch sử tồn tại của tập quán, đáp ứng tiêu chuẩn của luật đương đại. Lịch sử từng ghi nhận những tập quán xác lập chủquyền lãnh thổ như sau:

Một là xác lập lãnh thổ do tác động của tự nhiên. Phương thức này cónhiều tên gọi khác nhau như “thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên” [65], [43], “thụ đắc bằng mở mang, phát triển” [55], “sự bồi thêm” [32, tr. 67]. Tuy nhiên các học giả đều thống nhất nội dung phương thức này là việc một quốc gia thực hiện quyền mởrộng ranh giới địa lý lãnh thổ đãcó củamình bằng chiếm hữu vùng đấtđược bồi đắp tựnhiên vào lãnh thổchính. Quốc gia hưởng thụlãnh thổ do bồi đắp tựnhiên không được xâm phạmchủquyền lãnhthổ củaquốc gia khác.

Hai là xác lập lãnh thổ thông qua việc chuyển nhượng, dâng tặng. Đây là phương thức xác lập lãnh thổ mà các quốc gia chuyển giao lãnh thổ một cách hòa bình cho nhau. Theo quan niệm trong học thuyết tài vật, được hình

31

thành trong thời kỳ phong kiến, lãnh thổ quốc gia thuộc quyền sở hữu của nhà nước, đứng đầu là một vị vua. Tất cả đất đai, thậm trí dân chúng đều đặt dưới quyền quyếtđịnh củangười đứng đầu nhà nước. Trong trường hợp này, “lãnh thổ có thể trở thành vật được đem trao đổi, mua bán, thừa kế, vật cầu hôn, cầu hòa” [119, tr.161]. Lịch sử Việt Nam từng ghi nhận hình thức dâng tặng lãnh thổ năm BínhNgọ(1306): vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Chế Mân đemđất Châu Ô và Châu Lý làmvậtdẫn cưới.Sau đó,châu Ô đổithành Châu Thuận, Châu Lýđổi thành Châu Hóa. Nhân dân thường gọi chung là Thuận Hóa [33, tr. 117]. Tây Ban Nha nhượng lạiPhilippines cho Hoa Kỳ theo Hiệp ước ngày 10/12/1898 [186]. Nước Mỹmua lãnh thổ Lousiana từ Pháp năm 1803 và mua Floridatừ Tây Ban Nha năm 1819 [35]. Việc chuyển nhượng, dâng tặng mang tính tự nguyện, thường thông qua một khế ước,khác với phương thức xâm chiếm bằng vũ lực, cótínhcưỡngbức.

Tuy nhiên, ngày nay lãnh thổ không còn là tài sản riêng của người đứng đầu nhà nước, việc thayđổi lãnhthổphải phù hợpvới nguyêntắctôn trọng quyền tự quyết của dân tộc, phải do cộng đồng dân tộc vùng lãnh thổ đó quyếtđịnh và theo thể thức mà pháp luật quốc gia đó quy định như trưng cầu ý dân và phê chuẩn bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ba là xác lập lãnh thổ bằng việc xâm chiếm. Đây là phương thức trong đó quốc gia này sử dụng vũ lựcđể đoạtlấylãnh thổ của một quốc gia khác. Trong những thờikỳ đầulịch sử thếgiới từng diễn ra nhiều cuộc chinh phạt, xâm chiếm lãnh thổ của nhau và được thừa nhận trong tập quán quốc tế. Ngày nay, luậtquốc tếhiện đại không thừa nhận phương thức xâm chiếm lãnh thổ. Nghị Quyếtsố26/25 (1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên

tắc cơ bản của luật pháp quốc tếđã quy định: “Lãnh thổcủamột quốc gia không phảilà đối tượng thụ đắc từ kết quả của việcđe dọa hoặc sử dụng vũ

32

lực. Một lãnh thổ được thụ đắc từcác mối đe dọa hoặc sử dụng vũ lực thì không được công nhận là hợp pháp [146, Điều 1].

Bốnlà xác lập lãnh thổ theo thời hiệu. Là phương thức xác lập lãnh thổdựa trênsự chiếmhữuthựctế một cách liên tục và hòa bình trong một thời gian dàiđối với mộtvùng lãnh thổmà không có sự phảnđốicủa quốc gia khác.Đặcđiểmcủa phương thức này là việc xáclậplãnhthổdựatrên các hànhđộng thực tếcủa quốc gia một cách công khai, liên tụctrong một thời gian dài mà không có sự phản đối của quốc gia khác. Thời gianđó dài bao nhiêu thì pháp luật quốc tế chưa quyđịnhchung cho mọi trường hợp. Đối tượng xác lập chủ quyền lãnh thổ có thể là một vùng lãnh thổ vô chủ, có thể làmột vùng đất có nguồn gốc không xácđịnh.Các chuyên gia pháp lý cho rằng ngày nay luật pháp quốc tế hiện đại đãkhông chấp nhận việc xác lậpchủ quyền lãnh thổ theo thời hiệu [43], [65], không thể để tình trạng lợi dụng thời hiệu đểbiện minh cho hành động xâm lược.

Năm là xác lập lãnh thổ dựa trên quyền chiếm hữu, là “hành động của một quốc gia nhằm mục đích thiếtlậpvà thực hiện quyềnlựccủamình trên một lãnh thổvốnkhông phải bộ phậncủa lãnh thổquốc giavới ýnghĩa thụ đắc lãnh thổ đó”[119, tr.165]. Chiếm hữu là hành động đoạtlấylàm của riêng. Hành độngnày có đượccông nhận hay không phụthuộc vào quyền năng của chủ thể và tính hợp pháp của hành vi chiếmhữu. Từ rất sớmcác nhàluật học cổLa Mã đãquan tâmđến hành vi chiếm hữu. Sự chiếmhữu được xác lập bởi hai yêu tốcơ bản: yếu tốvậtchất (corpus) và yếu tốtâm lý

(animus) [117, tr. 20-21]. Yếutố vật chất còn hiểu là yếu tố khách quan, là việc thực hiện trên thực tế các hành vi quyền năng đối với tài sản. Yếu tố tâm lý làyếu tốchủ quan, là thái độ tâm lý thể hiện cách cư xử phù hợp với các quyền năngđối vớitài sản. Từ đó suy ra rằng: Chiếm hữu lãnh thổ là hành

33

động của một quốc gia thiết lập và thực hiện chủ quyền trên một lãnh thổ mới với ý chí làm chủ lãnh thổ đó.

Phương thức xác lập chủ quyền lãnhthổ dựatrên quyền chiếm hữu có quá trình hình thành và hoàn thiện trong nhiều thếkỷ, đượcchia ra nhiều thời kỳ như sau:

Thời kỳ từ thế kỷ XV trở về trước, thế giới vẫn còn chấp nhận việc xâm chiếm lãnh thổ của nhau bằng vũ lực, theo luật của kẻ mạnh.

Thếkỷ XV đánhdấubằng các Sắclệnhcủacácvị Giáo Hoàng phân chia các vùng lãnh thổ mà Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha khám phá. Do Tây Ban Nha và BồĐàoNha là những cườngquốc hàng hải thời đóđã dẫn đầu trong việc thám hiểm, tìm kiếm các vùng đất xa nềnvăn minh phương Tây, Thiên chúa giáo với quanđiểmtấtcả đấtđai thuộcvềChúa mà đạidiện làGiáo Hoàng, người có quyền quyết định việc truyền đạo và sử dụng đấtđai,đã quyếtđịnhphân chiathếgiới. Lịch sử còn ghi nhận nhiều sắc lệnh phân chia thế giới của Giáo Hoàng. Ví dụ: Sắc lệnh năm 1155củaGiáo Hoàng Adrian IV đã trao quyền cho Henry II “chinh phục dân chúng bằng pháp luật và tiêu diệt thói vôđạo(…)bảovệ các quyền củacác Giáohội” tại Ireland (xem thêm Phụ lục 5).

Thời kỳ xác lập lãnh thổ dựa trên quyền phát hiện. Do cách phân chia thế giới theo các sắc lệnh của Giáo Hoàng mới chỉ mang lại quyềnlợicho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đã gạt quyền lợi các quốc gia khác ở châu Âu sang một bên. Pháp, Anh, Hà Lan cũng phát triển các đội tầu đi khắp thế giớiđể tìm kiếm châu báu và thuộcđịa;đãtham gia vào việc đòi hỏi quyền lợi. Trong các cuộc hành trình, thủy thủ có thể đổ bộlên vùngđất hoặc có thể nhìn qua ống nhòm một vùng đất và ghi lại trong hải trình và quốc gia coiđólà sở hữu của mình. Lúc này xuất hiện quanđiểm ưutiên quyền phát hiện đầu tiên, quốc gia đầu tiên phát hiện ra vùng đất vô chủ thì có quyền sở hữu,gọi

34

là“thuyếtquyền phát hiện” [65] hay “quyền khám phá” [32]. Song, trên thực tế việc phát hiện chưa bao giờ đem lại cho quốc gia một chủ quyền lãnhthổ[65].

Thờikỳxác lậplãnh thổ dựa trên quyền chiếm hữu tượng trưng. Bởi việc phát hiện vùngđấtkhông thôi sẽ rấtkhó xác định giátrịpháp lý nên người ta bổ sung bằng nguyên tắc chiếm hữu tượng trưng. Quốc gia phát hiện vùng đất mới phải thực hiện một số hành vi mang tính tượng trưng, phải để lại dấu vết của họ. Ví dụ như đặt một dấu hiệu chủ quyền,cột cờ,thực hiện các nghi lễ quốc gia, đưa ra một tuyên bố. Các nhà nghiên cứu gọi đó là “thuyết quyền chiếmhữutượngtrưng” [65] hay “chiếmcứhình thức” [118, tr.186], “khám phá với sự chiếm đóng giả định” [105]. Nhưng các hành động chiếm hữutượngtrưng này có hạnchếbởi vì các dấu hiệuchủquyền không chịuđựng được thửthách của thời gian; khó xác định phạm vi không gian chủ quyền. Thêmnữacó thể có những quốc gia khác cốý hoặc vô tình “phát hiện” vùng đất đã được chiếmhữu tượng trưng trước đó, gây nên tranh chấp và rất khó để xác định do dấu vết không toàn vẹn.

Thời kỳ xác lập lãnh thổ dựa trên quyền chiếm hữu thật sự.

Sự phát triển của công nghiệp kéo theo nhu cầu thuộc địa và thị trường ngày càng gay gắt. Trong quá trình giải quyết các mâu thuẫn thị phần lãnh thổ, pháp luật xuất hiện những đòi hỏi mới, chặt chẽ hơn, hoàn thiện hơn, theo đó lãnh thổ mới được xác lập phải đảmbảohình thức, cách thức nhất định,đặc biệtphải đảmbảo yếu tố thựcsự.Đến giai đoạn này, các tiêu chuẩn tiến bộ về xáclập lãnh thổ dựa trên quyền chiếmhữu thực sựđược ghi nhận trong một sốđiềuước quốctế(Địnhước Berlin ngày 26/02/1885 [207,Điều 34, 35], Côngước Saint German ngày 10/9/1919 [137, Điều 10, 13]). Các điều ước quốc tế nêu trên được các cường quốc ký kết để giải quyết về vùng duyên

35

hảiChâu Phi thời kỳ đó, không mang tính toàn cầu và nay không còn hiệu lực pháp luật và chođếnnay chưa thấy một điều ước quốc tế nàotậphợp hóa những tiêu chuẩn pháp lý về chiếm hữu thậtsựnhưng sự ủng hộ giới luật gia quốc tế(Tuyênbố của Việnluật quốc tế Laussane ngày 07/9/1888 [140, Điều 1]), cũng như thực tế giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán quốc tế (như vụ đảoPalmas 1928, Clipperton 1931, Đông Greenland 1933,vụMinquiers và Ecréhous 1953, vụ Pulau Ligitan and Pulau Sipadan 1998, vụ Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge 2003) đãlàm cho những tiêu chuẩnvềxáclậplãnh thổdựa trên quyền chiếm hữu thật sự trở nên hoàn thiện, phổ biến và sống động trong đời sống quốc tế. Đến nay, xác

lậplãnh thổ dựa trên quyền chiếm hữu thật sự (còn gọi là chiếm cứ hữu hiệu [79, tr. 45], [118, tr.187]) trở thành một trong những cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đánh giá luận cứ chủ quyền lịch sử quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nội dung nguyên tắc này xinđượclàm rõ tại mục 2.3.1.

Tóm lại, lịch sử từng thừa nhậntậpquán xác lập chủ quyền lãnh thổ thông qua các phương thức như: xác lập do tácđộng của tự nhiên, việc chuyển nhượng, dâng tặng, việc xâm chiếm, theo thời hiệu hoặc dựatrên quyền phát hiện, quyền chiếm hữu tượng trưng, quyền chiếm hữu thật sự. Các phương thức đócó sự thayđổi cùng vớisự phát triểncủaluật quốctế.Cónhững phương thức không còn phù hợp và không được chấp nhận ngày nay, ví dụ phương thức chiến tranh xâm lược, dâng tặng, thời hiệu. Nhưng lãnh thổđược xác lập dựa trên cơ sở quyền chiếm hữu thậtsự vẫncòn nguyên hiệu lực cho đến ngày nay. Quá trình xác lập chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa diễn ra trong thời gian dài trong lịch sử nên cơ sở pháp luật tập quán rất quan trọng trong việc đánh giá tính hợp pháp các hành vi chủ quyền của Việt Nam và tính phi lý của các bên yêu sách.

36

2.3. Nguyên tắc của pháp luậtquốc tế

Trong hệ thống các nguyên tắc của luật quốc tếcó những nguyên tắc pháp luật chung, có những nguyên tắc riêng của ngành luật. Hiện nay các nhà khoa học pháp lý chưa thống nhất một khái niệm chính thứcvềnguyên tắc pháp luật chung nhưng đa số cho rằng đó là những nguyên tắc được áp dụng cho cảluật quốctế và luật quốc gia. Chẳng hạnnhư nguyêntắckhông thểchuyển nhượng vượt quá những gì mình có đã được Trọng tài áp dụng trong vụ đảoPalmas 1928, hay nguyên tắc gây thiệt hạithì phải bồi thường, luật chuyên ngành phải phù hợp với luật chung, luật ban hành sau thay thế luật ban hành trước.

Liên quan trựctiếp đếnvấnđề chủ quyền quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa có một sốnguyên tắc quan trọng như nguyêntắcchiếm hữu thật sự, nguyêntắccấm sử dụng vũ lực.

2.3.1. Nguyên tắc chiếm hữu thật sự

Thông qua việc nghiên cứu một số điều ước quốc tế, quan điểm của các luật gia và các phán quyếtcủacơ quan tài phán quốc tế cho thấy những điểm cơ bản của nguyên tắc chiếm hữu thật sự (đối tượng chiếm hữu, chủ thể chiếm hữu và cách thức chiếm hữu) như sau:

Một là về đối tượng chiếm hữu.Đối tượng chiếm hữulà vấn đề đầu tiên được xem xét, quốc gia chiếmhữuphảithểhiện rõ ràng tính xác định vùng lãnh thổ mình chiếm hữu. Tính xác định vùng lãnh thổ chiếm hữu, ví dụ như tên gọi, vị trí, phạm vi không gianđịalý, số lượng các đảo, đá, bãi ngầm phải nhất quán, rõ ràng. Đối tượng chiếmhữuphải là vùng đất vô chủ xéttạithờiđiểmchiếm hữu, tức là vùng đất không thuộc chủ quyền của bất cứ một quốc gia nào. Vùng đất vô chủ là vùng đất thuộc một trong bốn trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, vùng đất không có người lui tới. Trường hợp này, vùng đất tự nhiên khi được chiếm hữu là hoang vu, xa lạ và không có người

37

sinh sống, vô chủ theo đúng nghĩa đen của nó. Nói vùng đất ở đây là quy nạpước lệ,có thểlà đấtđai, các đảovà nhất định là chưa thuộc chủ quyền của một quốc gia nào.

Trường hợp thứ hai, vùng đất có dân cư thường xuyên sinh sống nhưng được coi là vô chủ. Trong trường hợp này, khái niệm“chủ” dùng để chỉ chủ thể của luật quốc tế. Thời bấy giờ, các nước văn minh chỉ thừa nhận tư cách nhà nướcnàođạtđược những tiêu chuẩn tổchức nhànước nhưhọ,các tổ chứccộng đồngxã hội khác đều bị coi là man di, lạc hậu, cần phải khai phávăn minh và không phải nhà nước có chủ quyền. Lý luận đó đã thúc đẩy các nước phương Tây“tự đặt mình trong giảthuyết khẳng định một chủ quyền mới” từ đó sửdụng vũ lực để xâm chiếm thuộc địa, như nhận xét của nghiên cứu Monique Chemillier Gendreau [77, tr. 70], Nguyễn Bá Diến [43] vàTừ Đặng Minh Thu [105, tr. 28]. Những khẳng định đó đúng trên thực tế lịch sử, trên những vùng lãnh thổ bịxâm chiếm làm thuộc địa có cộngđồng dân cư bản địa sinh sống,mộttổchức cai quản, có thủ lĩnh, hoàng tửđứngđầuvàluật lệriêng nhưng không được các quốc gia phương Tây coi là nhà nước độc

lậptheo tiêu chuẩn phương Tây. Dân chúng bị gạt sang một bên và lãnhthổcủa họ bị coi là vật vô chủ (res nullius).

Trường hợp thứ ba là vùngđấtkhông có cư dân sinh sống thường xuyên nhưngvẫncó người lui tới. Monique Chemillier Gendreau cho rằng các cuộc lui tới củamột sốdân hoạt động theo mùa không mang lại tính chất một đất có người ở [77, tr. 71]. Trên thế giới không ít vùng đất dođiều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hoặc không đủlớn cho việc sinh sống thường xuyên,chỉcó những người dân chài, người săn bắt qua lại theo mùa, nghỉ lại trong kỳsăn bắt cũng khôngđược coi là có người ở,coi là vùng đất vôchủ(terra nullius).

38

Trường hợp thứ tư, lãnh thổ bị bỏ rơi. Việc bỏ rơi chỉ có hiệu lực nếu mấtđồng thời animus domini (chủýsởhữu) và corpus domini (vật thể sở hữu), nghĩa là không những một nước không còn thi hành chủ quyền đối với lãnh thổ, mà cònthực sựcó ý đồ bỏ rơi lãnh thổ đó [105, tr. 28]. Ở đây, lãnh thổ đã từng thuộc chủquyền của một quốc gia nhưng quốc giađó đã từbỏ nên trở thành vô chủ. Để một vùng đất coi là lãnh thổ bị bỏ rơi phảiđảmbảođủhai điều kiện: vậtchất và tinh thần.Điều kiện vềmặtvật chất thểhiệnở các hành vi khách quan, hay các hoạt động thực thi chủ quyền. Thông thường một quốc gia thi hành nhiều hoạt động có tổ chức quyền lực, từ chính trị, kinh

tế, văn hóa nhằm quản lý, khai thác nguồn lợi và giải quyết các mối quan hệtrong cộng đồng dân cư, thực thi quyền tài phán và ngăn cản sự xâm phạmtừquốc gia khác. Trong trường hợpbỏrơi, quốc gia chấmdứthẳn các hànhđộng chủquyền, lãnh thổ rơi vào trạng thái không người quản lý.Điều kiện về mặttinh thần,tứcý thứcchủquancủaquốc giatừbỏ vùng lãnh thổđó, quốc gia cóthểtuyênbố việc từ bỏ lãnh thổ, hoặc im lặng, không phản đối ngay cả khi xuất hiện hoạt động xâm phạm lãnh thổ,mặcdù trong điều kiện bình thường, không có sự ép buộc nào. Cần phân biệt trường hợp do lâm vào hoàn cảnh chiến tranh, hoặc một hoàn cảnh thực tế khác làm cho việc quản trị lãnh thổ yếu ớt, gián đoạn một thời gian, quốc gia chưathể thực hiện đầy đủcác hành động chủ quyền, nhưng không có ý thức từ bỏ lãnh thổ thì không coi làbỏ rơi lãnh thổ.Để xác địnhlãnh thổ bịbỏrơi cần cảhai điều kiện trên. Nếuchỉ đảmbảo mộttrong haiđiềukiện thì chưa thể khẳng định quốc giatừ bỏ lãnh thổ, chỉ là sự gián đoạn trong thực thi chủ quyền hoặcmộtsựkém cỏi trong quản trị lãnh thổ.

Đối với vấnđềchủquyền quần đảoHoàng Sa, Trường Sa, có những giai đoạn chiến tranh mà nhà nước Việt Nam chưa thể tiến hành trên thựctế

39

các hoạt độngkhai thác, chiếm đóng, nhưng vẫn đưa vào bảnđồ,duy trì ý thức chiếm hữu hai quần đảo nên không phải là từ bỏ lãnh thổ.

Hai là về chủ thể chiếmhữu. Chủ thể chiếm hữu lãnh thổ được xem xét trên hai nội dung tư cách và hành vicủachủ thể.

Xét về tư cách chủ thể. Nguyên tắc chiếm hữu thật sự chỉ thừa nhận nhànước mới có tư cách chiếmhữulãnh thổ; hành vi nhân danh cá nhân không được pháp luật quốctếcông nhận. Tuyên bố Laussane 1888 ghi nhận điều kiện chủ thể chiếm hữu lãnhthổ phải “dướidanh nghĩa chính phủ” [140, Điều 1.a]. Trọng tài Max Huber nhận xét rằng chủquyền lãnh thổ đòi hỏi độc quyền hành xử của mộtquốc gia [186]. Tòa công lý quốc tế cho rằng hoạtđộng của các cá nhân không thể được xem như có hiệu lựcnếukhông trên cơ sở các quy định chính thức hoặc thuộc thẩm quyền của chính phủ [157]. Các chuyên gia pháp lý cũng cho rằng các hành động do các tư nhân thực hiện vàkhông cóđược một sự tiếp sức tứckhắc của các nhà chức trách [77, tr.75], ngaycả trong trườnghợpcó người dân của một nước đến khai thác, qua lại

trao đổi buôn bán… trên một vùng đất, điều đó cũng không phải đại diện cho nhà nước [43], càng không đại diện của cả cộng đồng dân tộc.

Theo Công ước Montevideo năm 1933 thì dân tộc là một trong ba bộphận cấu thành quốc gia, và chính cộng đồng dân tộc lập nên một nhà nước có Chính phủ làm đạidiệnđể quảntrị lãnh thổ. Vì thế chủ quyền quốc gia gắn với nhà nước.Nhưng nhà nước không phải là thựcthểtự nhiên nhân, nhànước hoạt động thông qua những con người thừa hành công vụ của nhà nước. Nghĩa là nhà nước thực thi quyền lực trên lãnh thổ phải thông qua các tổ chức của con người do nhà nướclậpra làm nhiệmvụ,trong phạm vi quyền hạn được giao và nhân danh nhà nước, mang quyền lực nhà nước. Nguyên tắcchỉnhà nước mới chiếm hữu lãnh thổ khác với các hoạt động thông thường của người dân. Khi mà trên thế giớivẫntồn tại những vùng đất vô chủ hoặc trong

40

điều kiện quản lý yếu kém của nhà nướcnào đóthì việc các cư dân làm ăn sinh sống ở những vùng lân cận thường xuyên qua lại, săn bắt, khai thác một vùng đất chưađược quản lý chặt chẽ là bình thường. Hoạt độngcủa người dân khác với người thừa hành nhiệmvụnhànướcở chỗ không mang quyền

lực nhà nước, không nhân danh nhà nước.

Trong trường hợp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, việc người dân đến khai thác sản vật, nhân danh cá nhân để tuyên bốchiếmhữumà khôngđại diện cho nhà nướcthì không mang lại danh nghĩa chủ quyền lãnh thổquốc gia.

Hành vi của chủ thể phải thống nhất về mặt khách quan và ý thức chủ quan. Mặt khách quan là sự thểhiện ra bên ngoài của ý thứcchủquan, phải xuất phát từ ý thức chiếm hữu lãnh thổ của quốc gia chiếm hữu. Đây là vấn đềphân biệt giữa việc phát hiện và việc chiếm hữu.Nếuchỉ đơnthuần là phát hiện, chủ thể chỉ ghi nhận về mặtđịadanh,địa lývề vùng đất được pháthiện thì chưađủ để đánhgiá ý thức chiếmhữu. Điều đóchỉ nói lên rằng chủ thể đã

từng đến, có nhận biếtvề vùng đất đómà thôi. Ý muốn chiếmhữulãnh thổ phảiđược thể hiện nhất quán và chắc chắn thông qua các hànhđộng chiếm hữu có hiệu quả mang đặc trưng của nhà nước. Từ thế kỷ XIX, phương thức chiếmhữulãnh thổ thật sự đòi hỏi đồng thời với việc phát hiện vùng đất vô chủ, nhà nước phải có ý thức chiếm hữu thật sự thông qua các hành động thực

tế. Định ước Berlin 1885 quy định quốc gia phải đảm bảo duy trì một quyền

lựcquốc gia “thíchhợp” trên vùng chiếm đóng [207,Điều 35]. Tuyênbố 1888 của Viện luật quốc tếnêu rõ hànhđộngchiếm hữu được hoàn thành bằng việc thiết lập một quyền lực với những biện pháp “thíchhợp” để duy trìtrật tựvà đảmbảothực hiện thường xuyên quyền lực nhà nước đó trong ranh giới lãnh thổ đã chiếm đóng [140,Điều1]. Côngước Saint German 1919 khẳng định nghĩa vụ của quốc gia chiếm hữu phải duy trì các “quyền công lý,

41

lựclượng cảnh sát có đủ khả năng bảo vệ người, tài sản, tự do thương mại vàquá cảnh khi cần” [137, Điều 10].

Các quyđịnhcủa pháp luật không địnhlượng hànhđộng thực thi chủ quyền quốc gia bao gồm những gì mà chỉ định tính trên cơ sở hiệu quả quản trị lãnh thổ. Thật khó để có một tập hợp chung cho tiêu chí thế nào là “thích hợp”,biểu hiện bằng những hànhđộng chủ quyền nào.Điều này tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lý, dân cư, năng lực của quốc gia tại lãnh thổ chiếm hữu, miễn là đạt được yêu cầucủa quản trị lãnh thổ. Vídụ một vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, xa xôi, hẻo lánh, ít người lui tới thì không nhất thiết phải lậpbộmáy chính quyền thường trực hay duy trì quyền lực thường xuyên, việc định biên vào một địa giới hành chính nhà nước cũng có thể coi là “thích hợp”,miễn sao khẳngđịnhý chíchủquyền. Khác với vùngđất có đông dân cư,cầnphảitổchứcbộ máy quản trị, thực hiện chức năng hành pháp và tư pháp,đảmbảo an ninh cho con người, tàisảnvà các hoạt động kinh tế, xã hội diễn ra bình thường.

Ba là vềcách thức chiếm hữu. Cách thức mà quốc gia hành xử trên vùng đất chiếm hữu là một trong những điều kiện quan trọng mà nguyên tắc chiếm hữu thật sự yêu cầu, theo đó quốc gia chiếm hữu phải duy trì các hành động chủ quyền một cách liên tục, hòa bình và công khai.

Tính chất liên tục thể hiện các hành vi chủ quyền không có giánđoạn về mặtthời gian. Yêu cầu này có quan hệ với vấn đề từ bỏ lãnh thổ. Nếu có gián đoạn về hành vi nhưng không có ý chí chủ tâm từ bỏ thì không coi là từ bỏ lãnh thổ. Trong tính liên tục được chấp nhận có gián đoạn nhất định trong phạm vi thời gian và không gian trên vùng lãnh thổchiếm hữu, không nhất thiết hành vi chủ quyền phải thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Max Huber cho rằng sự gián đoạn khác với việc duy trì quyềnlựccần thiết tuỳ vào khu vực có vàkhông có người, hoặc bởi các vùng biển khơi [186].

42

Tính chất hoà bình của chiếm hữu lãnh thổ cũng là một trong các yêu cầutrong nguyên tắc chiếm hữu thật sự. Sau thời kỳ chiến tranh lãnh thổ đẫm máu, thế giới loài người đãnhận thức đầyđủgiá trị của hòa bình. Không muốn thảm họa chiến tranh thêm nữa, thế giới đã nhất trí rằng lãnh thổ quốc gia là bất khả xâm phạm. Quốc gia khác không được sử dụng hay đe dọa bằng vũ lực đểxâm lấn, tước đoạt chủ quyền lãnh thổ củanướckhác.

Tính công khai. Nguyên tắc chiếmhữu thật sựyêu cầu quốc gia tìm ra vùng đất mới phải công khai hành động chiếm hữu của mình; có thông báo tới cácnước để các nước đãchiếm đóng trước cóđiều kiện đốichiếu, khi có chồng lấnthì thực hiện quyền phản đối[140,Điều1], [207,Điều34]. Việc thông báo chính là một bước của sự công khai hóa chủ ý chiếm hữu lãnh thổ, thể hiện tính minh bạch trong việc xác lập chủ quyền. Khi không có sự phản đối của quốc gia nào có nghĩa là lãnh thổ không có tranh chấp và vùng đất đó thựcsựđược coi là vô chủ ở thời điểm chiếm hữu. Trọng tài Max Huber quanđiểmrằng “nhà nước nào bí mật thực hiện trên lãnh thổ có người ở trong một thời gian dài sẽ không được chấp nhận” [186]. Thực tế một nhà nước xuất bản các văn kiện chính thức như bản đồ, sách, hoặc có những hoạt động thiết lập cơ quan quản trị lãnh thổ, thu thuế… trong một thời gian dài thì phải được công nhận việc công khai chủ quyền trên vùng đất mình chiếm hữu.

Thực tế nguyên tắc chiếm hữu thựcsự đãđược các quan tòa làm cho sống động thông qua việc vận dụng một cách linh hoạt vào hoàn cảnh và địa lý, dân cư trên vùngđất tranh chấp. Trong vụ đảo Palmas (Hà Lan/Mỹ năm 1928), Trọng tài đánh giá việc phát hiện ra hòn đảo trước tiên mà không thực thi quyền lực nhà nước thì khôngđược công nhận chủ quyền, việc thực thi chủ quyền đối với vùng đất chiếmhữuphải thựctếvà đảmbảo tính liên tục trong thời gian dài,mặcdù trongđócó những khoảng trống nhất định do hoàn cảnh địa lý [186]. Trong vụ đảo Clipperton (Mexico/Pháp năm 1931) tại

43

Trọng tài thường trực quốc tế [212] và vụ Đông Greenland (Na Uy kiện Đan Mạch năm 1933) tại Tòa thường trực quốc tế của Hội quốc liên, Tòa vận dụng nguyên tắc chiếmhữuthật sựtrongđiều kiện lãnhthổkhông có dân cư thường xuyên sinh sống, không đòi hỏinhà nước phải thực hiện quyền lực chiếm hữu một cáchđầyđủ, thường xuyên màchỉcần đảmbảoyếu tố hòa bình.

Trong các trường hợp tranh chấp lãnh thổ, các bên thường cố gắng dẫn ra nhiều nhất có thể các bằng chứng phong phú chứng minh việc thực hiện các hành động chủ quyền. Cơ quan tài phán phải đánh giá, so sánh, đối chiếu xem bằng chứng của bên nào có sức nặng hơn, đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật thì được công nhận. Trongvụ tranh chấp nhómđảo Minquiers vàEcréhous (1953), cả Anh và Phápđềuđưara các bằng chứng lịch sử. Do nước Anh có những hành động thực thi chủ quyềnthực tế(thực thi quyền tài phán, thu thuế bất động sản, lập trạm hải quan, thống kê dân số) nên đã thắng nước Pháp, chỉ tiến hành đặtphao phía ngoài các bãiđá ngầmvớimụcđích bảođảm an toàn hàng hải hơn là thực thi ý chí xác lậpchủquyền. Tương tự, trong vụ đảoPulau Ligitan and Pulau Sipadan (Indonesia/Malaysia năm 1998); Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge (Malaysia/Singapore năm 2003) tại Tòa công lý quốc tế, hai bênđều đưara nhiều luận cứ để chứng minh các hành động thực thi chủ quyền của mình nên Tòa xem xét bên nào có bằng chứngđầyđủ hơn, thuyết phục hơn thì được công nhận quyền sở hữu đối với vùng lãnh thổ đó.

Kinh nghiệm trên cho thấy để bảovệ chủquyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam cần đưarađầyđủcác bằng chứngthểhiện hành vi thực tế nhân danh nhà nước xáclậpvà thực thi có hiệuquảchủquyền trên các quầnđảonày trong suốt chiều dài lịchsửtừkhi xác lậpchođến nay.

44

Tóm lại:Ở vàothếkỷXIX, một quốc gia chiếm hữu lãnh thổđược côngnhận khi đáp ứng đầy đủtiêu chuẩn của nguyên tắc chiếmhữuthật sự,đó là: (1) Đối tượng chiếm hữu phải cụ thể, được xác định rõ ràng và là vùng đấtvô chủ tại thời điểm chiếm hữu. (2) Chủthểchiếm hữu phải là nhà nước, thể hiện ý chí chiếm hữu và hành vi thực tế làm chủ lãnh thổ một cách thật sự. (3) Cách thức chiếm hữu lãnh thổ phải công khai, liên lục và hòa bình. Trong hoàn cảnh cụ thể, việc thực thi chủ quyền lãnh thổ có thể giánđoạn nhất định về thời gian và không gian nhưng vẫn thể hiện ý muốn chiếm hữu lãnh thổ thìkhông coi là từ bỏ lãnh thổ. Nguyên tắc chiếm hữuthật sựlà một trong những cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đánh giá luận cứ chủ quyền của các bên tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

2.3.2. Nguyêntắc cấm sửdụng vũ lực

Cấmsửdụng vũ lực là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, theo đó pháp luật cấm sử dụng vũ lực trong việc chiếm hữu lãnh thổ và giải quyết các tranh chấp quốc tế, bao gồm cả tranh chấp lãnh thổ. Nguyên

tắcđược ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và một sốđiềuước quốc tế khác.Ví dụ: Côngước La Haye 1899 và 1907 dù chưa quyđịnh cấmsử dụng vũ lựcnhưng đã khuyến khích các cường quốc nỗlựcgiải quyết bất đồng bằng biện pháp hoà bình [161], [162, Điều 1, 2]. Hiến chương của Hội Quốc Liên ghi nhận nguyên tắc sử dụng các biện pháp trung gian thay vì vũ lựcđể giải quyết những bất đồng [167,Điều 12]. Hiệp địnhKellogg-Briand Pact 1928 mạnh mẽlên án hành độngsử dụng chiến tranh để giải quyết bất đồng quốc tế[205]. Công ước luật biển 1982 cũng quy định cơ chế hoà bình giải quyết các tranh chấp liên quan đến thực thi Công ước.

Trong vấn đề lãnh thổ, Nghị quyết số 2625(1970) ngày 24/10/1970 củaĐạihội đồng Liên hợp quốc quy định “không một sự chiếm hữu lãnh thổ nào bằng đe doạ hay sử dụng vũ lực được công nhận là hợp pháp” [146, Điều 1].

45

Suy rộng ratấtcảnhững hành vi vũ lực chiếm đóng của nước ngoài trên các đảo thuộc quầnđảoHoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng những điều cấm của pháp luật quốc tế.

2.4.Án lệ

Điểm d Điều 38 Quy chế Toà án công lý quốc tế ghi nhận án lệ (bản án, quyết định xét xử) là một trong những phương tiện bổ trợđể xác định cáctiêu chuẩn pháp lý. Theo quy định của pháp luật, bản án, quyết định xét xử chỉ có hiệu lực đối với các bên tranh chấp và bên liên quan. Tuy nhiên, án lệ có giá trị thực tiễn cao,đólà kết quả củaáp dụng và giải thích các quy phạm, nguyên tắc pháp luật quốc tế vào đời sống. Một số phán quyết của cơ quan tài phán đã làm sáng tỏ những luận điểm có giá trị trong đánh giá yêu sách của các bênđối vớiquầnđảoHoàng Sa, Trường Sa như danh nghĩa chiếm hữu thật sự,danh nghĩa kề cận, giá trị của bản đồ, vấn đềchư hầu(vận dụng tại Chương 3).

2.4.1. Vấnđề danh nghĩa chiếm hữu thật sự,danh nghĩa dựa trên quyền phát hiện trước tiên và chiếm hữu tượng trưng

Nghiêncứumột số án lệthấy luận cứdanh nghĩa chiếmhữuthật sự luôn thắng danh nghĩa dựa trên quyền phát hiện trước tiên. Ở thế kỷ XIX, khi nguyêntắc chiếm hữu thật sự đượccông nhận rộng rãi thì danh nghĩa dựa trên quyền phát hiện trước tiên không có giá trị. Quốc gia sau khi phát hiện vùng đất mới mà không thực thi các hành động chủquyền một cách thựcsựtrên vùng đất đó thì chưađáp ứngtiêu chuẩn pháp luật thời kỳ này. Trong vụ đảo Palmas, Trọng tài Max Huber nhận xét rằng việc phát hiện chỉ là một danh nghĩa ban đầu (inchoate title): “Từ thế kỷ XIX, một danh nghĩa khám phá ban đầu phải đượchoàn tất trong một khoảng thời gian hợplý bằng việc chiếmđóng hữu hiệu trên khu vực tuyên bố đã phát hiện” [186]. Trọng tài công nhận Tây Ban Nha là người đầutiên phát hiện đảo Palmas nhưng không duy trì

46

được chủquyền chođến thờiđiểmchuyển nhượng đảoPalmas cho Hoa Kỳnăm 1898. Danh nghĩadựatrên quyền phát hiện trước tiên chưađủcơ sở pháplý để mạnglạichủ quyền, mà cần phải duy trì liên tục trên thực tế quyền

lựcthích hợp trên hònđảo đượcphát hiện. Trọng tài đã so sánh các bằng chứng về thực thi quyền lực giữa Tây Ban Nha và Hà Lan. Bằng chứng cho thấy Hà Lan đã thực thi chủ quyền một cách hoà bình, liên tục bằng các hành

động như phát cờ, quốc hiệu, lậpbản đồ, tổ chứchành chính, thu thuế… thể hiện việc quản lý hữu hiệu đối với đảo Palmas nên thắng danh nghĩa phát hiện của Tây Ban Nha.

Trong phán quyếtvụtranh chấp các đảo Minquiers và Ecréhous năm 1953 giữa Pháp và Anh [154], Tòa công lý quốc tếđã so sánh cơ sở thực tế quản trịcác đảocủa chính quyền Anh gồm các hoạt động thu thuếbấtđộng sản, điều tra dân số,đặtcác trạm hải quan, giải quyết các vụ án hình sự, cho thấy hành động thực thi chủ quyềncủaAnh là thực sự. So vớiPháp chỉđặt một số phao ngoài bãi đá ngầm nhằm chủ yếu bảo đảm an toàn hàng hải hơn là thực thi chủ quyền. Vì vậy, Toà đã công nhận các đảo tranh chấp thuộc vềnướcAnh.

Trong phán quyết ngày 19/11/2012vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và hàng hải giữa Nicaragua và Colombia [160], Tòa Công lý quốc tế xác định Colombia đã thực thi có hiệu quả các hoạt động như xây dựng pháp luật, hoạt động kinh tế, xây dựng công trình công cộng, thực thi pháp luật, thăm viếng hải quân, các hoạt động tìm kiếm cứu nạn và đại diện lãnh sự, diễn ra liên tục trong nhiều thập kỷmà không gặp bất kỳphản đối nào từ Nicaragua; trong khi vắng bóng hành vichủquyền của Nicaragua. Kếtquảlà Tòa công nhận Colombia có chủ quyền đối với các đảoAlburquerque, Bajo Nuevo, East- Southeast Cays, Quitasueño, Roncador, Serrana and Serranilla.

47

Thực tiễn pháp lý qua các ví dụ trên đã chỉ ra rằng từ thế kỷ XIX, việc phát hiện một vùng đất vô chủ mới chỉ tạo ra danh nghĩa ban đầu, chưađủ đểtạodanh nghĩa chủquyền. Quốc gia phát hiện vùngđất mới nếu không cóhành động duy trì chủ quyền một cách thích hợp thì chủ quyền thuộc về quốc

gia khác dù có mặt sau nhưng đáp ứng tiêu chuẩn của nguyên tắc chiếm hữu thật sự.Trong quá trình xác lập chủquyền lãnh thổ, các hành động thực thi chủ quyền phải liên tục, hòa bình và thật sự mới tạo ra danh nghĩa lãnh thổ.

2.4.2. Vấn đề danh nghĩa kề cận (contiguity)

Trong vụđảo Palmas, Hoa Kỳđã lập luận rằng Palmastạothành một phần địalý của quần đảo Philippines và xuất phát từ nguyên tắc kề cận. Trọng tài đã bác bỏ dứt khoát rằng trong luật quốc tế không có quy định và không có tiền lệnào về nguyên tắc kề cận địa lý [186]. Một trườnghợp nữathấy trong vụtranh chấp Thềmlụcđịa Biển Bắc(1969), Toà án công lý quốctế nhấn mạnhrằng “thềm lục địacủabất kỳ nhà nước nào phải là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của nó” [155]. Sự kéo dài tự nhiênthềm lục địamang lại danh nghĩa chủ quyền chứ không phải tính kề cận, ngay cả khi một vùng đấtởgần lãnh thổ của quốc gia khác, cũng không thể được chấp nhận thuộc quốc gia này một khi nó không đápứng điềukiện “phần kéo dài tự nhiên” đã nêu. Trên thế giới, lãnh thổ của một quốc gia không nhất thiết phải liền kề nhau, ví dụ bang Alaska, Hawai tách rời các bang khác củaHoa Kỳ.Thực tiễn trên khẳng địnhquần đảoHoàng Sa, Trường Sa dùđược viện lẽcó khoảng cách gần đất liền một bên hơn bên kiathì đềukhông có cơ sở pháp lý để mang lại chủ quyền cho bên đó.

2.4.3. Vấn đề danh nghĩa bản đồ

Trong các ánlệ,giá trịcủa bản đồ là vấn đềphức tạp, được đánh giákhác nhau. Tại một số bảnán, bằng chứngbảnđồ thường không nhiềusức

48

nặng pháp lý, nhất là khi chúng không thể hiện sự tin cậyvề nguồn gốc vàthông tin địa lý. Trong vụ đảo Palmas,cảHoa Kỳ và Hà Lan đã đưa ra tổng cộng 53 tấm bản đồ để chứng minh cho luận điểm của mình. Nhưng cácbảnđồ cónhững mâu thuẫn về định danh đảo Palmas, nên không được Trọng tài chấp nhận:“Chỉ cóthể với sự thận trọng cao nhất đối với cáctấm bảnđồ mới có thể cân nhắc đến việc quyếtđịnh câu trả lời về chủ quyền đảonhư Palmas” [186]. Theo Trọng tài bản đồphải đạt được giátrịchứng minh khi hội tụđủ các điều kiện: điều kiện đầu tiên đối với bản đồ dùng làm bằng chứng pháp lý là “độ chính xác địa lý”. Tiếp theobản đồ phảichỉ ra được chính xác sự phân

chia biên giới lãnh thổ: “Bất kỳ tấm bản đồ nào không chỉ ra một cách chính xác sự phân chiavềchính trị các vùng lãnh thổ,đặc biệt làđối với đảo Palmas,thì phải đượcloại bỏ ngay lập tức” [186]. Khi bản đồ được vẽ trên cơ sở thông tin chính xác,đảmbảo kỹ thuật, phù hợp với chứng cứ khác thì có giá trị nhất định.TrongvụđềnPreah Vihear (1962), các chuyên viên của

Pháp và Ủy ban hỗn hợp Pháp – Thái Lan đã vẽ 11 bản đồ trong năm 1907 vàchuyển cho Chính phủ Thái năm 1908, trong đó có 1tấm bảnđồ vẽ đền Preah Vihear thuộc lãnh thổCampuchia. Thái Lan cho rằng bảnđồ không do Ủy ban thiết lập (vì đã giải thể mà không kịp thông qua), cũng chưa hề được phía Thái Lan công nhận nên không có giátrị bắtbuộc; ngoài rabản đồ vẽ đường biên giới không phù hợp với đường phân thủy. Tòa công lý quốc tế cho rằng bản đồ đãchuyển cho Thái Lan và Thái Lan không có phản ứng nào vềcác

tấmbản đồ trong nhiều năm nên không thể phủnhận nó. Trường hợp này phán quyết chấp nhậnbảnđồ,nhưng không hoàn toàn mà thực chất là áp dụng estoppel, sự im lặng của Thái Lan, không phản đối tấmbản đồtrong một thời gian dài từ năm 1908.

Nhìn chung bản đồ có giá trị làm bằng chứng phải đạt độ chính xác cao các thông tin về địa lý. Việc vẽ ra phải thể hiện tính chính xác địa lý, dựa trên

49

các thông tin đo đạc chu đáo và cuối cùng phải thể hiện rõ ràng về chủ quyền lãnh thổ. Giá trị chứng minhcủa bản đồ cònphụ thuộc vào chúng có phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác hay không. Hiện nay, cónhiều bản đồ về quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa, tuy nhiêncần phải được đánh giá và chỉ đượccông nhận khi đápứng đầy đủ tiêu chuẩnpháp lý này.

2.4.4. Vấn đề chư hầu mang tính hình thức

Chư hầuchỉ sự áp đặtsựthống trị về chính trị, kinh tếcủa một nhà nước lên nước khác, buộc nước kia phục tùng và phụ thuộc vàonước mình. Trong nhà nước phong kiến,“đế” là tước hiệu cao nhất của nhà nước độc lập, nước chư hầu được có tước thấp hơn, cao nhất cũng chỉ là “vương”. Chư hầu cóthể được nhận đất đaido nước chủ ban tặng và phải thực hiện nghĩavụ với nước chủ dướicác hình thức như triều kiến, cống nạp,điềuquân đội phục vụnước chủ. Quanhệ chư hầu biểu hiện ở những mứcđộ khác nhau, có thể lệthuộc hoàn toàn, chư hầu thực chất:đólà trườnghợpnước chủthiết lập bộ máy cai trị,bổ nhiệm các chức vương, công hầu, can thiệp việcđối nội,đối ngoại, quản trị lãnh thổ nước chư hầu như một bộ phận cát cứ. Nhưng quan hệchư hầu cũng có thể mang tính hình thức,có sự độc lậpvềđối nội, đối ngoại,

tự tổ chứcbộmáy quan lại và quản trị đấtnước.Trong pháp luật quốc tế, quanhệ chưhầumang tính hình thức không có giá trị manglạichủ quyền lãnh thổ. Thực tiễnvụđảo Minquiers và Ecréhous (1953), Chính phủ Pháp cho rằng các Công tước xứ Normandy từng là chư hầu của Pháp, do Anh nhận vùng đất này làđất tấn phong và các côngtước xứ Normandy (William Longsword và những người kế vị) đãthuần phục các vị vua Pháp nhưng không đượcTòa chấp nhận bởi quan hệ giữa hai bênđượcđánh giá làchỉmang tính tượng trưng, hình thức [154]. Vấn đề này sẽ được quay trở lại khi phân tích luận cứ của Trung Quốc tranh cãi đối với Việt Nam.

50

2.5.Họcthuyết pháp lý

Học thuyết pháp lýđược coi là mộttrong những phương tiện bổ trợ trong luật quốc tế. Đó là những tư tưởng, quan điểm của các chuyên gia pháp lý hàngđầu về luật quốctế,đượcphổbiến trong các công trình nghiên cứu của các tác giả, là những kiến giảiđể một mặtlàm sáng tỏ nội dung quy phạm pháp luật quốc tế, mặt khác tác động tích cực đến nhận thức, hành vi ứng xử của các chủ thể. Trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ, có nhiều luận giải của các chuyên gia pháplý vềnhững vấn đề của pháp luật như quychếpháp lýcủađảo,vấn đề từ bỏlãnh thổ, tính liên tục về chủ quyền lãnh thổ, vấn đề kế thừa quốc gia, hay luật đương đại, thời điểm kết tinh tranh chấp, estoppel.

2.5.1. Luật đương đại (Intertemporal law).

Luật đương đại là một học thuyết đòi hỏi cách hiểu hoặc đánh giá hiệu lựcpháp lý của hành vi quá khứ trong ánh sáng của luật pháp quốc tế tại thờiđiểmxảyra hành vi đó[165]. Năm 1975, tạiphiên họp thứ 11, các luật gia của Viện luật quốc tế Laussane đã thông qua một nghị quyết nêu rõ: bấtcứsựkiện, hành động hoặc tình huống nào phải được đánh giá trong ánh sáng của các quy tắc pháp luật cùng thời với nó [204]. Oxford Dictionary of Law (2009) giải nghĩa rằngđể đánh giásự tồn tại của một quyền, ví dụ một tuyên bố lãnh thổ“không chỉ dựatrên pháp luật có hiệu lựctại thờiđiểmquyềnđược tạo ra, mà còn dựatrên luật pháp quốc tế áp dụng đốivới sựduy trì quyền đó [141, tr. 297]. Thực tiễn đời sống pháp lý, học thuyếtluật đương đại đã đượcáp dụng trong vụ đảo Palmas để đánh giá pháp luật tại thời điểm nhànướcxác lập và thực thi chủ quyền “chứ không phải pháp luật tại thời điểm phát sinh tranh chấp hoặcđược giải quyết”[186].

Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ có thể diễn ra trong một thờiđiểm (nếu bằng phương thức xâm chiếm, chuyển nhượng hay dâng tặng) nhưng cũng có thể kéo dài trong hàng thế kỷ.Pháp luật quốc tếcũngđược hình

51

thành và phát triển, hoàn thiện dần theo thời gian, đòi hỏiviệc xác lập chủ quyền lãnh thổ phảiđáp ứngtheo những tiêu chuẩn mới. Nói cách khác, mọi hành động tạo ra chủ quyền lãnh thổ phải phù hợp với pháp luật tại thời điểm quyền đó được tạora. Ở vào giai đoạn nhà nước Việt Nam xác lập chủ quyềnđối với quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa, nguyên tắc chiếmhữusựthật hình thành, đòi hỏi quốc gia sau khi phát hiện lãnh thổ mới, phải chiếm đóng liên

tục và thực sự. Nói rộng ra, ngày nay một nhà nước cóđưara hàng trăm tài liệuvề sự phát hiện quầnđảoHoàng Sa, Trường Sa mà không thể hiện việc duy trì quyền chiếmhữuthì không đáp ứngyêu cầucủanguyên tắcchiếm hữu thật sự, không mang lại danh nghĩa chủ quyền.

2.5.2. Thời điểm kết tinh tranh chấp (critical date).

Theotừđiểnpháp luật của ĐạihọcOxford, thời điểmkếttinh tranh chấp là ngày mà các tranh chấp giữa hai bên tới hạn và các hành động sau đó không được xácđịnh hiệu lực[171, tr.158], những gì họ làm sau đó không cải thiện được vịtrí pháp lý [127, tr. 35]. Các định nghĩa này chỉ ra ý nghĩa của thời điểmkếttinh tranh chấp hơn là giải thích thế nào là kết tinh. Có ý kiến giải thích thời điểmkếttinh được xác địnhvào “thời điểmcó một yêu sách chính thức được đưa ra” hoặc thời điểm “chiếm đóng lãnh thổ tranh chấp”[77, tr.128].

Theo nghĩa chung nhất, thời điểm kết tinh tranh chấp được hiểu là một mốc thời gian mà các hành vi đơn phương của các bên trước đó gặp nhau tạo ra những xung đột, tranh cãi giữa các bên. Kể từthời điểm kếttinh tranh chấp trở vềtrước, các hành vi sẽ được soi sáng trên cơ sở nguyên tắc luật đương đại,từ đó kết luận được hành vi của bên nào đáp ứngtiêu chuẩn của pháp luật. Sau thời điểm này, hành vi của các bên không có hiệu lực pháp lý. Ví dụnhưng hoạt động cảitạođá trên các quần đảo tranh chấp diễn ra sau thời điểm kếttinh tranh chấp không có giá trị pháp lý đối với việc xác lậpchủ quyền

52

lãnh thổ. Tuy nhiên,đối với nguyên tắc chiếm hữu thậtsự,hành vi pháp lý diễn ra sau thời điểm kết tinh tranh chấp có giá trị khi xác định xem có vấn đềbỏ rơi lãnh thổ hay không.

Thời điểm kếttinh tranh chấp là vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn và cơ quan tài phán là người quyết định chính thức trong vụ việc cụ thểthời điểmnào kết tinh tranh chấp. Thực tế vậndụng vào vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được giải thích khác nhau (xem Phụ lục 19). Trong vấn đề chủ quyền quần đảoHoàng Sa, Trường Sa, do có nhiều bên tham gia vào cuộc tranh chấp, hành động các bên diễn ra hàng thế kỷ nênvấnđề thời điểm kếttinh tranh chấp phải đặt trong mối quan hệ cụ thể, với từng bên cụ thể.

2.5.3. Estoppel

Estoppel là một học thuyếtvề sự nhấtquán trong ứng xử và hành động. Nói cách khác một quốc gia phải nhất quán trong ứng xử và không được bác bỏ một thực tếđã được chính quốc gia này thừa nhậntrướcđó.Các dạng estoppel có thể là đơn phương chấp nhận một tình huống, khẳng định một sự kiện hoặc không phản ứng (tức im lặng) khi một quyền bị xâm phạm mặc dùýthứcđược đầyđủ về quyền của mình. Thực tiễn pháp lý áp dụng estoppel trong vụ Đông Greenland (1933), Tòa thường trực quốc tế coi sự im lặng của Na uy đã củng cố danh nghĩa chủ quyền cho Đan Mạch: “chủ quyền của Đan Mạch đã thể hiện từlâu trong một loạt tài liệu quốc tế và các sắclệnh đã được nhiều nước liên quan biết, và chưa bao giờ có một phản đối nào được đưa ra” [153]. Trong vụ ngư trường Nauy (Anh/Nauy 1951) Tòa công lý quốc tế cho rằng sự im lặng của Anh trong 60 năm được coi như sự mặc nhiên thừa nhận đường cơ sở thẳng của Nauy.Ýnghĩa của estoppelsẽ được phân tích trong luận cứ chủ quyền của Việt Nam tại Chương 3 và giải pháp tại Chương 4 liên

53

quan đến tình huống Philippines khởi kiện Trung Quốc ra Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước luật biển.

2.6. Nghị quyết của tổ chức quốctếvà hội nghị quốctế

Một sốnghị quyếtcủacác tổ chức quốctếvà tuyên bốcủa hội nghịquốc tếlà một trong những văn bản pháp lý có ý nghĩa trong xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia cuộc tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Thông thường các nghị quyết của tổ chức liên chính phủ được đánh giá cao, ví dụ Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số 26/25(1970) ngày 24/10/1970 về các nguyên tắc của Luật quốc tế. Liên quan trực tiếp đếnvấn đề chủ quyền lãnh thổquầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa có một số tuyên bố củacác hội nghị quốc tế,ví dụ Tuyên bốCairo 1943 vàPostdam 1945 về việc Nhật Bản trao trả các đảo ở Thái Bình Dương, Tuyên bố Laussane 1888 của Hội luật gia quốc tế về điều kiện chiếm hữu lãnh thổ. Vấn đềnày được đềcập trong các nội dung cụ thể có liên quan của luận án.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa Pháp luật quốc tế và việc giải quyết tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *